Sunday, June 30, 2013

TRẦN TRUNG ĐẠO * NELSON MANDELA

“Bước đường dài đến tự do” của Nelson Mandela


Trần Trung Đạo (Danlambao) - Theo kết quả thăm dò của công ty tư vấn Reputation Institute được công bố vào tháng Chính năm 2011, Nelson Mandela được chọn là lãnh tụ được yêu mến nhất, kính trọng nhất, thán phục nhất và tin tưởng nhất thế giới. Tổng thống Mỹ Barack Obama đứng hạng thứ 14, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đứng hạng thứ 27, Thủ tướng Anh David Cameron đứng hạng thứ 34.
Nhân loại yêu chuộng tự do, dân chủ và hòa bình kính phục Nelson Mandela không phải chỉ vì ông yêu nước, yêu tự do, can đảm ở tù suốt 27 năm dài lao động khổ sai nhưng quan trọng hơn ông không dùng sự khổ đau chịu đựng của riêng mình làm thước đo cho chiều dài tương lai của đất nước Nam Phi và không đặt đôi gánh nặng quá khứ hận thù lên trên đôi vai của các thế hệ Nam Phi mai sau. Thay vào đó, Nelson Mandela đã dùng đức tính bao dung, kiên nhẫn, khôn ngoan, biết nhìn ra thấy rộng để vực dậy một đất nước bi phân hóa bởi màu da, chủng tộc, xã hội giáo dục, kinh tế chính trị và cả văn hóa lịch sử kéo dài hơn 300 năm từ thời nô lệ, thuộc địa cho đến thời kỳ Nam Phi độc lập.
Con người cũng như đất nước, giá trị được thẩm định không phải ở sự chịu đựng nhưng ở chỗ biết vượt qua. Một con người bình thường phải vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt để tiến thân, một dân tộc chỉ có thể đuổi kịp đà tiến của nhân loại nếu dân tộc đó vượt qua được những bất hạnh của chính mình và vận động được sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Một câu nói nổi tiếng của Nelson Mandela về hòa giải “Hòa giải thật sự không đơn giản chỉ là việc quên đi quá khứ”. Nelson Mandela được kính trọng không phải vì ông quên đi quá khứ nhưng nhờ ông đã sống rất trọn vẹn trong quá khứ, đã chiêm nghiệm và chuyển hóa những hào quang và chịu đựng, thành công và thất bại, hy vọng và tuyệt vọng của quá khứ thành nhựa nguyên, nhựa luyện cho những hàng cây xanh tốt tươi và hy vọng của tương lai Cộng Hòa Nam Phi.
Hãy tưởng tượng, Nelson Mandela, người bị tù hơn 27 năm và đã có thời gian chọn lựa phương pháp đấu tranh bằng võ lực, không chủ trương hòa giải mà nhất định trả thù cho bằng được thiểu số da trắng một thời đã áp đặt những chính sách bất công, phân biệt chủng tộc lên trên số phận của đa số người da đen rồi nước Cộng hòa Nam Phi ngày nay liệu có thể là quốc gia ổn định và phát triển hay không?
Chắc chắn là không.
Hãy tưởng tượng, công việc đầu tiên của tổng thống Nelson Mandela không phải là việc thành lập Ủy Ban Hòa Giải và Sự Thật mà là lập một danh sách mấy trăm ngàn viên chức chính quyền Nam Phi đã có liên hệ ít nhiều đến việc đàn áp các phong trào chống phân biệt chủng tộc để rồi sau đó tống giam họ trong các trại tù tận vùng núi rừng KwaZulu-Natal xa xôi hiểm trở, bắt thiểu số da trắng phải giao nộp nhà cửa, tài sản, đày sang các vùng kinh tế mới ở miền Northern Cape hoang vu để trả thù cho những cực hình đày đọa mà dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc của chính quyền da trắng Nam Phi thì liệu hòa giải dân tộc có thật sự đến cho quốc gia này hay không?
Chắc chắn là không.
Rất nhiều tác phẩm viết về Nelson Mandela và một số tác phẩm khác trích từ các cuộc phỏng vấn ông, nhưng Bước đường dài đến tự do (Long walk to freedom) là tác phẩm cho chính ông chấp bút từ những năm 1970 khi còn bị tù ở đảo Robben, ngoài Cape Town, Nam Phi. Phần lớn các chi tiết trong bài viết này cũng được trích dẫn từ hồi ký dày hơn sáu trăm trang Bước đường dài đến tự do của Nelson Mandela.
Nelson Mandela ra đời ngày 18 tháng 7 năm 1918 tại Mvezo, một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Mbashe thuộc quận Umtata, thủ phủ của Transkei, một trong những khu vực lớn nhất của Nam Phi. Ông được đặt tên là Rolihlahla. Theo ngôn ngữ Xhosa, Rolihlahla có nghĩa “kéo một cành cây xuống” nhưng chính xác hơn có nghĩa là “kẻ gây rối”. Cha của ông, Gadla Henry Mphakanyiswa, cai quản khu vực Mvezo và cũng là một cố vấn của vua bộ lạc Thembu. Mandela kế thừa không những cá tính mà cả vóc dáng cao và thẳng của cha ông ta. Cha của Mandela có bốn vợ, và bà Nosekeni Fanny, mẹ của Mandela là vợ thứ ba. Theo cách gọi trong gia đình, vợ thứ nhất được gọi là Vợ Cả, Vợ Phía Tay Phải (mẹ của Mandela), Vợ Phía Tay Trái, và Vợ Chăm Sóc Gia Đình. Mandela là con lớn của mẹ ông nhưng lại là con trai nhỏ nhất trong số bốn anh em cùng cha khác mẹ.
Khi còn nhỏ Mandela chịu phép rửa tội theo đạo Tin Lành phái Methodist Church. Khi đi học, cô giáo Mdinggane thêm tên Nelson vào tên gia đình đặt. Từ đó, ông được gọi là Nelson Rolihlahla Dalibhunga Mandela. Năm Mandela lên 9 tuổi, cha ông qua đời vì bịnh phổi. Nelson Mandela được Jongintaba Dalindyebo, người kế tục chức vụ của cha ông, nhận làm con nuôi. Sau lễ cắt bao quy đầu vào năm ông 16 tuổi, Nelson Mandela được đưa vào trường trung học nội trú Clarkebury.
Năm 1937 khi vào tuổi 19, Nelson Mandela theo học đại học Healdtown, Fort Beaufort. Giống như Clarkebury, Healdtown là một trường đạo Tin Lành thuộc phái Methodist Church và là trường đại học nội trú duy nhất dành cho người da đen. Sinh viên da đen ưu tú từ khắp Nam Phi theo học tại đây. Một biến cố tinh thần đã xảy ra cho Nelson Mandela vào năm cuối tại Healdtown là buổi viếng thăm trường của nhà thơ lớn Krune Mqhayi, người dân tộc Xhosa. Lần đầu tiên trong đời Nelson Mandela xúc động lắng nghe một nhà thơ lên tiếng phê bình chính sách phân biệt chủng tộc của chính quyền da trắng một cách công khai với sự hiện diện của viện trưởng và toàn ban giảng huấn trường, rất đông trong số họ là da trắng.
Năm 1960, Nelson Mandela theo học tại đại học University College of Fort Hare. Đây là trường đại học nội trú da đen lớn nhất ở Nam Phi. Mandela hy vọng sẽ tốt nghiệp Cử Nhân tại trường này. Ông được bầu vào Hội Đồng Sinh Viên và tức khắc trở thành một lãnh tụ sinh viên tranh đấu cho các quyền lợi sinh viên. Trong một lần xung đột với ban lãnh đạo trường về tiêu chuẩn thực phẩm dành cho sinh viên, Nelson Mandela từ chức khỏi hội đồng sinh viên. Viện trưởng viện đại học tức giận trục xuất ông khỏi trường cho đến cuối niên khóa.
Mandela trở lại nhà nhưng chỉ để biết tin cha nuôi đang chuẩn bị cưới vợ cho mình. Mandela không muốn và cùng người anh nuôi bỏ trốn sang Johannesburg. Tại đây, Mandela tiếp tục học hàm thụ các lớp còn lại của hệ cử nhân và chính thức tốt nghiệp tại Fort Hare vào năm 1942. Năm 1943, Nelson Mandela theo học cử nhân luật tại trường đại học Witwatersrand với ý định trở thành một luật sư.
Chàng thanh niên Nelson Mandela là một người đàn ông cứng rắn nhưng cũng rất đa cảm. Mandela yêu nhiều người. Trong thời gian trú trại khu Alexandra thuộc thành phố Johannesburg, Mandela gặp Ellen Nkabinde, cô bạn luôn có nụ cười tươi, làm nghề dạy học mà Mandela quen biết khi cả hai còn ở Healdtown. Họ yêu nhau. Khu Alexandra đông đúc và chật hẹp, cặp tình nhân đang yêu không biết đi đâu ngoài việc ngồi ngắm những vì sao trên nền trời vào ban đêm. Dù sao, Ellen mang đến cho Mandela tình yêu, sự ủng hộ, niềm tin và hy vọng trong lúc anh ta đang lạc lõng giữa thành phố Alexandra còn xa lạ. Rất tiếc chỉ vài tháng sau Ellen rời thành phố mang theo mối tình đầu của Mandela.
Sau khi Ellen đi, Mandela lại yêu một người con gái khác. Nàng tên là Didi, xinh nhất trong năm người con gái của gia đình Xhosa mà Mandela đang trọ. Cuộc tình rồi cũng không đi đến đâu vì Didi không thật sự để mắt xanh đến anh chàng Mandela đa cảm đang trọ trong nhà mình. Nhưng lần thứ ba thì khác. Trái tim Mandela hướng về phía người con gái trẻ đẹp đang theo học nghề y tá tại Johannesburg tên là Evelyn Mase. Cha mẹ Evelyn chết sớm và cô sống với người anh. Vài tháng sau khi yêu nhau, Mandela hỏi cưới. Evelyn là vợ đầu của Nelson Mandela cho đến năm 1958.
Nelson Mandela bắt đầu tham gia các hoạt động của tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) gọi tắt là ANC vào năm 1942 và cuộc đời hoạt động của ông từ đó được chính trị hóa. Như ông ta giải thích trong Bước đường dài đến tự do: “Thật khó để xác định thời điểm nào tôi bị chính trị hóa khi tôi biết mình đã dành cả cuộc đời trong cuộc đấu tranh giải phóng. Làm một người Phi trong xã hội Nam Phi có nghĩa là bạn được chính trị hóa từ lúc mới ra đời, dù bạn có thừa nhận điều đó hay không. Một hài nhi ra đời trong bịnh viên chỉ dành cho da đen. Đưa về nhà trên xe bus chỉ dành cho da đen. Nếu may mắn được đi học cũng chỉ học trường dành cho da đen. Khi cô hay cậu đó lớn lên cũng chỉ làm những công việc người da đen phải làm và mướn một căn nhà để ở cũng chỉ được ở trong khu da đen”.
Nhắc lại, ANC được thành lập vào ngày 8 tháng Giêng năm 1912 tại Bloemfontein để đấu tranh cho quyền của người da đen Nam Phi do nhà biên khảo John Dube và nhà thơ Sol Plaatje sáng lập. Chủ tịch đầu tiên của tổ chức là John Dube. Trong suốt hơn 70 năm tranh đấu, ANC đã trở thành đảng chính trị chiếm đa số trong cuộc bầu cử năm 1994 và trong cuộc bầu cử năm 2009, ANC chiếm đến gần 66 phần trăm trong tổng số cử tri đi bầu. Nhiều người ảnh hưởng đến quan điểm chính trị của Nelson Mandela đối với tổ chức ANC nhưng như chính Mandela thừa nhận, ảnh hưởng nhất phải là Walter Sisulu vì đức tính cương quyết, có lý có tình, thực tế và tận tụy của ông ta. Walter tin tưởng ANC là phương tiện cần thiết để thay đổi Nam Phi, là nơi gìn giữ của khát vọng của tầng lớp da đen bị trị tại Nam Phi. Mandela cũng tin tưởng sâu xa điều đó.
Sau khi gia nhập, Mandela trở thành một thành viên tích cực của phong trào chống phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Năm 1943, Nelson Mandela là một trong những thành viên sáng lập của Liên Đoàn Thanh Niên ANC nhằm đưa cuộc đấu tranh vào quần chúng, tổng hợp sức mạnh của giới nông dân ở nông thôn và tầng lớp công nhân tại các thành phố. Nelson Mandela cho rằng các hình thức thư thỉnh nguyện, cầu xin giới lãnh đạo da trắng không phải là hình thức đấu tranh thích hợp nhưng phải đánh trực tiếp vào quyền lợi của chúng qua các hình thức tẩy chay, đình công bãi thị, bất hợp tác với giới cầm quyền. Mặc dù ban đầu gặp trở lực từ các thế hệ lãnh đạo già, các hoạt động của Liên Đoàn Thanh Niên ANC dần dần đã được trung ương ANC chấp nhận. Vai trò lãnh đạo của Nelson Mandela được chính thức hóa qua các hoạt động cương quyết của ông. Năm 1947, Mandela được bầu vào ban chấp hành ANC vùng Transvaal. Người lãnh đạo trực tiếp của ông là C.S. Ramohane, một người yêu nước và kế hoạch xuất sắc. Bản thân Ramohane không có cảm tình với Cộng Sản nhưng làm việc với họ vì ông cho rằng ông ta nên đón nhận sự ủng hộ từ mọi phía. Mandela cũng là tác giả của đề án Mandela làm tiêu chuẩn hoạt động cho cả tổ chức ANC trong đó đặt nặng vai trò chỉ đạo từ trung ương khi nhà cầm quyền da trắng đặt ANC ra ngoài vòng pháp luật.
Chiến Dịch Thách Thức Những Luật Bất Công (Defiance Campaign of Unjust Laws) là chiến dịch có quy mô lớn của ANC đòi hủy bỏ sáu đạo luật bất công trước ngày 29 tháng Hai năm 1952 và nếu không ANC sẽ có những hoạt động ngoài hiến pháp chống chính phủ da trắng. Dĩ nhiên, chính phủ da trắng không nhượng bộ mà còn đàn áp quyết liệt. Ngày 6 tháng Tư năm 1952, hàng loạt cuộc đình công đã được thực hiện tại các thành phố lớn như Johannesburg, Pretoria, Port Alizabeth, Durban và Cape Town. Ngày 30 tháng Bảy năm 1952, Nelson Madela bị bắt cùng với hai mươi lãnh đạo ANC khác. Nelson Mandela bị kết án chín tháng tù ở nhưng sau đó được chuyển thành hai năm tù treo.
Năm 1952 cũng là năm có nhiều thay đổi trong nội bộ ANC. Albert Luthuli, một lãnh tụ có khuynh hướng đẫy mạnh các hoạt động của ANC được bầu vào chủ tịch. Mandela, trong cương vị chủ tịch khu Transvaal, là một trong bốn phụ tá của của Albert Luthuli. Nelson Mandela tiếp tục cuốn hút vào các hoạt động cho ANC cho đến ngày tháng 12 năm 1956, Nelson Mandela bị bắt lần nữa. Lần này bị truy tố với một tội nặng hơn nhiều: mưu phản. Nelson Mandela đóng tiền tại ngoại hầu tra. Phiên tòa mưu phản kéo dài hai năm đã làm Nelson Mandela kiệt quệ về mọi mặt, tình cảm gia đình tan nát và điều kiện tài chánh suy sụp. Cũng trong thời gian khó khăn này, sự khác biệt về cách sống, lý tưởng đã làm hai vợ chồng Mandela và Evelyn vốn khác biệt đã khác biệt sâu sắc hơn. Cuối cùng cả hai đã đồng ý chia tay nhau.
Một lần trên đường từ tòa về qua một ngã tư đường, Nelson Mandela chợt lưu ý một cô gái đang đứng chờ xe bus. Nét đẹp của nàng cuốn hút Mandela nhưng ông ta biết khó mà có dịp gặp lại nàng. Như mối duyên tiền định, một hôm, khi đang ngồi làm việc trong văn phòng luật sư vừa mới lo tái trang bị, Mandela gặp lại cô lần nữa. Cô gái tên là Nomzamo Winifred Madikizela, và thường được gọi tắt là Winnie. Từ đó, họ gặp nhau bất cứ khi nào có thể. Họ ăn trưa với nhau và cùng nhau đi dạo trên cánh đồng cỏ xanh giống như cánh đồng cỏ ở quê hương Transkei. Mandela chia sẻ với Winnie những hy vọng và khó khăn. Như Mandela thuật trong hồi ký “Tôi không hứa hẹn với nàng vàng bạc hay kim cương, tôi sẽ không bao giờ có khả năng tặng nàng những món quà như thế”. Winnie hiểu và chấp nhận mọi khó khăn. Vì Mandela vẫn còn trong thời gian bị truy tố, lễ cưới phải được tòa án chấp nhận. Đám cưới của Mandela và Nomzamo Winifred Madikizela được tổ chức vào ngày 14 tháng Sáu năm 1958 tại một nhà thờ nhỏ. Toàn bộ ban chấp hành trung ương ANC đã được mời nhưng một số đông, giống như Mandela đang bị truy tố nên không tham dự được. Vì không có tiền và thời gian để đưa nhau đi tuần trăng mật, đám cưới xong, chú rễ Mandela lại tiếp tục ra tòa.
Sáng 29 tháng Ba năm 1961, sau hơn bốn năm dài từ khi bị bắt, hỏi cung, ra tòa với hàng ngàn tài liệu và hàng trăm nhân chứng, chính quyền da trắng vẫn không đủ bằng chứng tin cậy để kết án ANC là tổ chức Cộng Sản. Chánh án Rumpff, một thẩm phán có lương tâm công lý, tuyên bố các bị can vô tội và được thả tức khắc.
Mandela biết việc trắng án chỉ có giá trị tạm thời, nhà cầm quyền da trắng sau nhiều năm với biết bao nhiêu tốn kém để truy tố ông chắc chắn thế nào cũng tìm bắt lại. Thay vì về nhà, Mandela quyết định lui vào hoạt động bí mật. Hầu hết các hoạt động của Nelson Mandela trong giai đoạn này được giữ kín với hành tung bất thường. Ông ẩn mình vào ban ngày và thường hoạt động vào ban đêm. Các lực lượng công an cảnh sát tung nhiều đợt lục soát để tìm bắt ông. Không những công an mà cả báo chí cũng tung phóng viên để thăm dò tung tích của Mandela. Nhiều báo phóng đại việc Mandela tránh thoát hệ thống công an trong đường tơ kẽ tóc.
Thật ra không ai biết thật sự “đường tơ kẽ tóc” đó như thế nào nếu không do chính Mandela viết trong hồi ký. Một lần khi Mandela lái xe và nhìn qua người khách đang ngồi trong xe bên trái không ai khác hơn là Đại tá Spengler, giám đốc sở an ninh Witwatersrand. Tuy Mandela hóa trang nhưng khó mà qua được đôi mắt chuyên nghiệp của Spengler. Cũng may viên đại tá có trách nhiệm lùng bắt Mandela đã không nhìn sang hướng của ông. Rất nhiều lần khác, các cảnh sát yêu nước đã tìm cách báo cho bà Winnie biết trước khi có cuộc hành quân lục soát xảy ra trong vùng Mandela đang trốn. Mandela là người tổ chức từ bóng tối cuộc tổng đình công 29 tháng Năm năm 1961 tại Nam Phi. Nhiều trăm ngàn công nhân Nam Phi chấp nhận rủi ro mất việc đã ở nhà để ủng hộ lời kêu gọi của Mandela và ANC. Tuy nhiên, sau khi đánh gía kết quả ngày đình công, Mandela cho rằng nếu phía chính phủ da trắng đàn áp thẳng tay, cuộc đình công sẽ thất bại.
Trong thời điểm khó khăn và quyết liệt đó, Mandela và nhiều lãnh đạo ANC nghĩ không có một chọn lựa nào khác hơn là con đường võ trang. Tháng Sáu năm 1961, cánh quân sự của ANC, Umkhonto we Sizwe gọi tắt là MK, được thành lập nhằm mục đích lật đổ chính quyền phân biệt chủng tộc da trắng bằng các biện pháp quân sự. ANC giao trách nhiệm thành lập, tổ chức và chỉ huy cánh quân sự cho Nelson Mandela. Như chính ông ta thú nhận “Tôi, chưa bao giờ là một người lính, chưa từng chiến đấu trong mặt trận nào, thậm chí chưa bắn một viên đạn, lại được giao trọng trách thành lập một quân đội”. Nhưng cũng từ đó, Mandela bắt đầu đọc các sách về chiến tranh du kích, sách chiến lược và chiến thuật quân sự và học rất nhanh.
Ngày 26 tháng Sáu năm 1961, Nelson Mandela, từ một địa điểm bí mật công bố qua báo chí lá thư công khai với nội dung sau:
“Tôi được báo một trát tòa bắt giữ tôi đã được phát ra, đồng thời công an cảnh sát đang lùng bắt tôi. Hội Đồng Hành Động Quốc Gia thuộc ANC đã nhận xét kỹ lưỡng và khuyến cáo tôi không nên đầu hàng. Tôi đồng ý với lời khuyên và sẽ không nộp mình cho một chính quyền mà tôi không công nhận. Bất cứ nhà chính trị chín chắn nào cũng hiểu rằng trong tình trạng hiện nay của đất nước, tìm cách làm một thánh tử đạo rẻ tiền qua việc giao nộp sinh mạng cho cảnh sát là một hành động ngây thơ và là một trọng tội. Tôi đã chọn con đường này, một con đường khó khăn và đòi hỏi nhiều rủi ro, gian khổ hơn là ngồi trong nhà tù. Tôi đã phải tự tách rời khỏi vợ con thân yêu, xa mẹ già và các chị em tôi để sống như một kẻ sống ngoài vòng pháp luật trên chính đất nước của mình. Tôi đã phải đóng cửa cơ sở làm việc, từ bỏ ngành nghề chuyên môn và sống trong đói khát như nhiều triệu đồng bào tôi… Tôi sẽ chiến đấu chống chính quyền phân biệt chủng tộc sát cánh bên các bạn trong từng phân, từng dặm cho đến chiến thắng cuối cùng. Các bạn sẽ làm gì? Đến để cùng chiến đấu với chúng tôi hay hợp tác với chính quyền để trấn áp các đòi hỏi và khát vọng của nhân dân Nam Phi? Các bạn sẽ im lặng và bàng quan mặc trước những vấn đề sống và chết của nhân dân tôi và nhân dân chúng ta? Phần tôi, tôi đã có một chọn lựa cho riêng mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi và cũng chẳng đầu hàng. Chỉ thông qua gian khổ, hy sinh và hành động quân sự, mục đích tự do mới đạt được. Đấu tranh là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu vì tự do cho đến những ngày cuối của đời mình.”
Sau khi công khai phát động cuộc đấu tranh võ trang, tháng 10 năm 1961, Nelson Mandela di chuyển vào nông trại Liliesleaf ở Rivonia, vùng ngoại ô phía bắc Johannesburg. Nông trại được xem là tổng hành dinh của MK. Nelson Mandela mang tên mới là David Motsamayi, một người giữ nhà do chủ phái đến chăm sóc nhà cửa đất đai. Sau Mandela, các chỉ huy vùng của MK lần lượt đến nông trại. MK cũng xoay xở khéo léo để Winnie và các con đến thăm Mandela vào vài cuối tuần. Cấu trúc tổ chức của MK cũng tương tự như ANC, gồm bộ chỉ huy trung ương và các địa phương. Hàng ngàn truyền đơn được rải khắp các thành phố lớn để công bố ngày ra đời của MK.
Tháng Hai năm 1962, Nelson Mandela bí mật xuất ngoại đại diện cho cả ANC lẫn MK tại hội nghị của Phong Trào Tự Do Liên Phi cho Đông, Trung và Nam Phi Châu, gọi tắt là PAFMECSA được tổ chức tại thủ đô Addis Ababa thuộc Ethiopia. Tổ chức này là tiền thân của Tổ Chức Đoàn Kết Châu Phi hiện nay. Đây là một hội nghị vô cùng quan trọng vì là lần đầu tiên ANC có cơ hội kêu gọi sự yểm trợ trực tiếp của các quốc gia Phi Châu trong cuộc đấu tranh võ trang chống chính phủ da trắng Nam Phi. Trong dịp này, Mandela thăm viếng và kêu gọi viện trợ từ các quốc gia Phi Châu như Egypt, Lybia, Tunisia, Ghana, Algeria, Morocco, Mali, Guinea, Sierra Leone, Liberia, Senegal. Tuy cùng một Phi Châu nhưng không phải quốc gia nào cũng nhiệt tình ủng hộ. Một số lãnh đạo quốc gia viện trợ năm ngàn bảng Anh và cũng có một số quốc gia không tặng đồng nào. Trước khi lên đường trở lại Nam Phi, Nelson Mandela tham dự khóa huấn luyện quân sự tám tuần lễ tại Ethiopia. Trong thời gian Mandela ra nước ngoài, các cuộc đánh phá do MK chủ trương diễn ra tại nhiều nơi ở Nam Phi. ANC yêu cầu Mandela thu ngắn thời gian thụ huấn quân sự để về nước.
Tuy nhiên vài hôm sau khi trở lại Nam Phi, Nelson Mandela bị bắt vào ngày 5 tháng Tám năm 1962. Lần này, Nelson Mandela bị kết án 5 năm vì hai tội sách động công nhân đình công và xuất ngoại bất hợp pháp. Mendela bị đưa đến nhà tù Pretoria Local.
Thời gian ngắn sau đó, tổng hành dinh của MK tại nông trại ở Rivonia bị khám phá, lục soát và nhiều tài liệu quan trọng bị tịch thu. Phần lớn các cấp chỉ huy trung ương của MK cũng lần lượt bị bắt. Một số ít may mắn thoát được nhưng đã phải lưu vong sang các quốc gia Phi Châu. Trong lúc đang bị tù, Nelson Mandela lại bị truy tố với một tội nặng hơn trong phiên tòa được báo chí gọi “Chính phủ chống lại Bộ Chỉ Huy Quốc Gia Tối Cao và những người khác”. Mandela là bị cáo đầu tiên trong danh sách nên phiên tòa còn được gọi là “chính phủ chống lại Nelson Mandela và những người khác”. Phiên tòa kéo dài gần hai năm. Khắp thế giới bùng lên phong trào ủng hộ Mandela. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc yêu cầu chính quyền Nam Phi ân xá. Sinh viên đại học London bầu Nelson Mandela làm chủ tịch sinh viên dù vắng mặt bởi vì Mandela vẫn còn là sinh viên hàm thụ khoa Luật của đại học London và vừa hoàn tất kỳ thi cuối khóa hai ngày trước ngày tuyên án.
Đêm trước đó, Mandela và các bạn đã quyết định dù bản án nặng đến đâu hay thậm chí có tử hình đi nữa, cũng không kháng án. Theo lời Mandela giải thích với các luật sư bào chữa, kháng án chỉ làm giảm giá trị đạo đức của lý tưởng mà họ đã và đang đeo đuổi, kháng án cũng có nghĩa là phải giải thích khác hơn và từ chối những hành động chính nghĩa mình đã làm. Mandela tin nếu bản án do tòa quyết định là tử hình, chắc chắn sẽ có một phong trào quần chúng mạnh mẽ đứng lên phản đối, ông không muốn làm nhẹ tinh thần của cuộc đấu tranh đó. Như Mandela viết, “không có sự hy sinh nào có thể gọi là quá to lớn trong cuộc đấu tranh vì tự do”. Mandela còn chuẩn bị cả câu nói cuối cùng trường hợp chánh án De Wet hỏi ông sau khi nghe tuyên đọc án tử hình: “Tôi chuẩn bị chết trong niềm tin vững chắc rằng cái chết của tôi sẽ là niềm khát vọng cho lý tưởng mà tôi đang dâng hiến cuộc đời mình”.
Ngày 12 tháng Sáu năm 1964, ngoại trừ hai người, một được miễn tố và một nhẹ tội, Nelson Mandela và các bạn còn lại bị kết án chung thân. Kết án xong, nửa đêm ngày hôm sau, Mandela và 6 thành viên lãnh đạo của MK bị đưa đến nhà tù Robben Island, tương tự như đảo Alcatraz ngoài vịnh San Francisco của Mỹ, trong một máy bay quân sự bí mật với các lực lượng công an cảnh sát vây kín từ nơi tạm giam đến phi trường. Xà lim của Mandela rộng khoảng 1.8 mét. Mỗi phòng có một tấm bảng giấy ghi tên và số tù. Bảng của Mandela ghi là “N Mandela 466/64”. Năm đó Mandela 46 tuổi. Mandela dành hơn 100 trang trong hồi ký để mô tả đời sống vô cùng khắc nghiệt trong suốt 17 năm dài tại nhà tù Robben Island, nơi đó mỗi ngày ông phải đập đá dưới cơn nắng cháy da và ban đêm ngủ trong xà lim mới dựng còn rất ẩm thấp. Đó cũng là thời gian Mandela bị nhiễm vi trùng lao.
Sau 21 năm qua hai trại tù, từ Robben đến Pollsmoor với tất cả gian lao và chịu đựng, trong một lần khám bịnh thường lệ, bác sĩ khám phá tiền tuyến liệt của Mandela bị sưng to và cần phải được giải phẫu. Nhưng sau khi giải phẫu xong, viên điều hành trại tù, Thiếu tướng Munro, đưa Mandela đến một phòng giam khang trang nhiều so với phòng giam mà ông ta sống trước đó. Tuy không nói ra, Mandela biết chính quyền da trắng đã có ý thăm dò phản ứng của ông về cách đối xử mới của chính quyền.
Trong suốt cuộc đời tranh đấu từ khi gia nhập ANC, Nelson Mandela đã chọn nhiều phương pháp đấu tranh, trong đó có bất bạo động và cả bạo động. Tuy nhiên, sau nhiều năm suy tư về con đường đất nước đã trải qua và hy vọng nào còn đang chờ trước mặt, Mandela đã thay đổi phương pháp đấu tranh. Ông kết luận “Sự thay đổi, tôi quyết định, không phải chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội… Tôi đắn đo từ lâu về việc bắt đầu nói chuyện với phía chính phủ. Tôi kết luận thời gian đã đến khi cuộc đấu tranh sẽ thuận lợi hơn nếu được đẫy mạnh qua phương cách đàm phán. Nếu chúng ta không bắt đầu đàm phán sớm, cả hai bên phải lao vào đêm tối của áp bức, bạo động và chiến tranh.”
Nelson Mandela viết trong hồi ký “Sự thay đổi, tôi quyết định, không phải chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội… Tôi đắn đo từ lâu về việc bắt đầu nói chuyện với phía chính phủ. Tôi kết luận thời gian đã đến và cuộc đấu tranh sẽ thuận lợi hơn khi cần được đẫy mạnh qua đàm phán. Nếu chúng ta không bắt đầu đàm phán sớm, cả hai bên phải lao vào đêm tối của áp bức, bạo động và chiến tranh.”
Mandela nhìn lại cuộc đấu tranh của ANC trong suốt 70 năm, rất nhiều thường dân vô tội đã bị giết nhưng chính quyền phân biệt chủng tộc da trắng vẫn nhất định không nhường bước. Thật là vô nghĩa nếu cuộc đấu tranh võ trang tiếp tục và mỗi ngày nhiều mạng sống bị cướp mất đi. Không ít các hoạt động của MMK là hành động khủng bố. Tuy nhiên, một bên nào muốn dừng lại cũng không phải là chuyện dễ dàng. Nhà cầm quyền da trắng đã nhiều lần khẳng định ANC và MK là những tổ chức khủng bố Cộng Sản trong lúc ANC cũng không kém phần quyết liệt khi cho rằng chính phủ Nam Phi là chỉ là một chính quyền phát-xít, phân biệt chủng tộc và do đó sẽ không có gì để đàm phán với họ cho đến khi nào họ công nhận ANC. Về phần nội bộ ANC, việc thông tin giữa Mandela và các lãnh đạo trung ương của ANC cũng rất khó khăn vì một số đang bị tù, một số khác đang lưu vong và số còn lại hoạt động bí mật rải rác khắp nơi.
Nelson Mandela cuối cùng chọn một giải pháp, đó là tự quyết định cách giải quyết vấn đề một mình và tuyệt đối không cho ai, kể cả các thành viên ANC đang bị tù chung biết. Nếu thành công sẽ có lợi cho đất nước và nếu thất bại chỉ một mình ông ta chịu trách nhiệm. ANC có thể cho rằng vì Mandela không tiếp cận với thực tế và đầy đủ thông tin nên đã có những quyết định không đúng với đường lối của ANC.
Vài tuần sau khi về phòng giam mới, Mandela viết thư cho bộ trưởng tư pháp Nam Phi Kobie Coetsee và đề nghị thảo luận về những vấn đề cần thảo luận. Đầu năm 1986, Mandela tiếp đón một phái đoàn bảy thành viên đại diện nhiều quốc gia thăm viếng Nam Phi để tìm hiểu sự thật. Phái đoàn do Tướng Olusegun Obasanjo, cựu tổng thống Nigeria và cựu ngoại trưởng Úc Malcolm Fraser cầm đầu. Tại buổi gặp gỡ, Nelson Mandela lần nữa đưa ra chủ trương đối thoại nhưng nhấn mạnh đó là việc đối thoại giữa ANC và chính phủ chứ không phải riêng ông ta và chính phủ. Mandela khẳng định với phái đoàn quốc tế rằng ông là một người Quốc Gia Nam Phi chứ không phải là Cộng Sản. Mặc dù có làm việc với nhiều đảng viên Cộng Sản, Mandela từ lâu đã quan niệm rằng cuộc đấu tranh của ANC chống chính quyền da trắng là cuộc đấu chống kỳ thị chủng tộc chứ không phải là cuộc đấu tranh giai cấp hay đấu tranh vì lý do kinh tế như đảng Cộng Sản Nam Phi lý luận. Tuy chưa tuyên bố công khai từ bỏ phương tiện võ trang, Mandela thừa nhận rằng bạo động không bao giờ có thể là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Nam Phi. Trong buổi hội kiến với phái đoàn quốc tế, Mandela cũng đòi hỏi phía nhà cầm quyền da trắng phải bày tỏ thiện chí trước bằng cách giải tỏa vòng vây công an cảnh sát khỏi các thôn ấp da đen. Nếu làm được như vậy, ông tin phía ANC cũng sẽ đáp ứng bằng cách hạn chế các cuộc tấn công để làm tiền đề cho đàm phán. Mandela cho phái đoàn biết việc trao trả tự do cho bản thân ông trước áp lực quốc tế đang phát động không giải quyết được vấn đề tranh chấp tại Nam Phi.
Trong năm 1987, Tổng thống Nam Phi Botha thành lập một ủy ban bí mật trong đó có bộ trưởng tư pháp Kobie Coetsee có trách nhiệm đàm phán riêng với Nelson Mandela. Các buổi thảo luận bí mật diễn ra nhiều lần giữa Mandela và ủy ban tổng thống. Vào thời điểm quan trọng này, Nelson Mandela xét thấy cần phải hội ý với các lãnh đạo MK đang bị tù với ông và hiện đang bị giam giữ ở tầng trên. Ông gặp riêng từng người và tất cả đều không chống đối phương pháp đàm phán nhưng đồng thời cũng không tin tưởng hoàn toàn nơi thiện chí của nhà cầm quyền da trắng. Ngoài ra, Oliver Tambo, lãnh tụ của ANC đang hoạt động bên ngoài đã biết về sự đối thoại đang diễn ra giữa Mandela và chính quyền, và đã đặt ra cho Mandela nhiều câu hỏi. Để các lãnh đạo ANC bên ngoài an tâm, trong một tin nhắn bí mật cho Oliver Tambo, Mandela xác định việc đàm phán thật sự chỉ diễn ra giữa ANC và chính quyền da trắng chứ không phải giữa ông ta và chính quyền da trắng.
Ngày 4 tháng Bảy năm 1989, Nelson Mandela bí mật được đưa đi gặp tổng thống Nam Phi P. W. Botha tại dinh tổng thống vào lúc 5:30 sáng. Trong buổi hội kiến ngắn chưa đầy 30 phút, Nelson Mandela yêu cầu tổng thống Botha trả tự do cho tất cả tù chính trị Nam Phi trong đó có cả ông. Tổng thống Botha từ chối. Tuy nhiên, không đầy một tháng sau, Botha từ chức tổng thống Cộng Hòa Nam Phi và quyền lãnh đạo quốc gia được trao qua de Klerk. Tháng mười cùng năm, de Klerk tuyên bố trao trả tự do cho bảy lãnh tụ cao cấp của ANC.
Tháng Chạp cùng năm, tổng thống de Klerk mời Mandela hội kiến. Trong dịp này, Nelson Mandela nhắc lại các đòi hỏi tiên quyết trong đó bao gồm việc hủy bỏ luật ngăn cấm ANC hoạt động, trả tự do cho tất cả tù chính trị còn lại, hủy bỏ luật tình trạng khẩn cấp quốc gia, cho phép các lãnh tụ đảng phái chính trị đang lưu vong trở về nước. Mandela lưu ý tổng thống de Klerk, nếu chính phủ Nam Phi không làm được những điều đó, một mai khi được trả tự do, Nelson Mandela tại tiếp tục tranh đấu như trước và chẳng lẽ chính phủ da trắng lại bắt giam, kết án và tù đày ông như hai mươi bảy năm trước đó hay sao.
Ngày 2 tháng Giêng năm 1990, Tổng thống F. W. de Klert trong diễn văn lịch sử đọc trước quốc hội Nam Phi tuyên bố hủy bỏ chính sách phân biệt chủng tộc và đặt nền tảng cho cải cách dân chủ tại Nam Phi. Nói chung, tổng thống de Klerk đã thực hiện hầu hết các điều khoản do Mandela yêu cầu trong lần gặp gỡ trước đó. Lần đầu tiên trong 30 năm, hình ảnh và các lời tuyên bố của Nelson Mandela được công khai trưng bày trong dân chúng.
Ngày 10 tháng Giêng sau đó, de Klerk mời Nelson Mandela gặp lần nữa và thông báo chính phủ sẽ đưa ông về lại Johannesburg và trao trả tự do cho ông tại đó vào ngày hôm sau. Nelson Mandela từ chối việc được trả tự do tại Johannesburg và cũng không muốn được trả sớm như vậy. Trong suốt 27 năm tranh đấu để được tự do, không bên nào nghĩ cuối cùng việc trả tự do ở đâu lại trở thành vấn đề tranh cãi. Cả Mandela lẫn nhà cầm quyền cũng không ngờ có một ngày bên chính phủ muốn thả tự do cho tù nhân Mandela nhưng chính tù nhân Mandela lại muốn ở thêm một tuần lễ nữa. Cuối phiên họp, mỗi bên nhượng bộ một phần. Nelson Mandela sẽ ra khỏi cổng nhà tù ông đang ở nhưng không thể ở lại thêm ngày nào khác.
Lúc 3:30 chiều ngày 11 tháng Giêng năm 1990, Nelson Mandela bước ra khỏi cổng nhà tù cuối cùng Victor Verster giữa rừng người đang hân hoan chờ đợi.

TRẦN KỲ TRUNG * NELSON MANDELA

Nelson Madela - Chữ "Nhân" lớn nhất thời đại

Trần Kỳ Trung 
Một con người bị kẻ thù của mình giam hãm hơn hai mươi bảy năm trời. Hai mươi bảy năm trời bị tù đày, vẫn không rời bỏ lý tưởng của mình: “ Những người da đen phải được bình đẳng với người da trắng”. Bây giờ đó là một điều quá ư là bình thường, thế mà biết bao thế hệ của người da đen phải đánh đổi bằng nước mắt và máu. Như Nelson Madela, đã hy sinh hết cả sự nghiệp, hạnh phúc riêng tư… để quyết giành lại cho người da đen ở Nam Phi nói riêng, cả châu Phi nói chung điều “ bình thường” đó.

 Khi được tự do, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của nước Cộng Hòa Nam Phi, Nelson Madela có quyền trả thù “thiểu số” da trắng đã từng đày đọa ông, có quyền “ban phát”  lợi lộc cho những  những người da đen là đồng hương của ông, rồi ông có thể giành cho gia đình những “đặc ân” mà ông cảm thấy mình rất xứng đáng được hưởng!!!
       Không đúng sao, chúng ta hãy nhìn lại một số cuộc đấu tranh võ trang  được nhân danh “của những lực lượng tiến bộ nhất thời đại” lãnh đạo  có “ lý luận khoa học” soi sáng chỉ đường. Khi cuộc đấu tranh giành chính quyền đó thành công thì như thế nào? Không nói đâu xa, tháng 4 / 1975 khi Khơ me đỏ giành được chính quyền ở Căm Phu Chia, một cuộc trả thù vô cùng tàn bạo của một “ lực lượng cách mạng tiến bộ” dìm cả một dân tộc vào biển máu. Rồi như Trung Quốc khi đảng cộng sản giành được chính quyền ở đại lục năm 1949, nhiều cuộc “ đấu tố địa chủ” dã man đã diễn ra,  mà thực chất đây là sự trả thù hèn mạt của một tầng lớp trí thức mang tư tưởng nông dân với tầng lớp trí thức, tư sản có đầu óc, có địa  vị, biết làm ăn kinh tế… Nhiều cuộc cách mạng không phải riêng Căm Phu Chia hay Trung Quốc, mà ở một số nước khác!!! cũng có hiện tượng tương tự, khác chăng chỉ về thời gian, hậu quả, nhưng bản chất là một, để lại những di hại cho đời sau, không biết bao giờ mới hết. Rồi những kẻ đứng đầu, ví như Mao Trạch Đông của đảng cộng sản Trung Quốc, hay như Pôn Pốt của đảng nhân dân cách mạng Căm Phu Chia gần như là một “ thiên tử” làm tình, làm tội nhân dân mà không sợ luật pháp, không ai ở trong nước dám lên án !!!
       Nhưng với Nelson Madela hoàn toàn ngược lại, khi được trả tự do, với sự ủng hộ của lực lượng tiến bộ trong và ngoài nước, thông qua một cuộc phổ thông đầu phiếu thực sự dân chủ, ông trở thành tổng thống. Với đường lối tiến bộ, ông đưa nước Cộng hòa Nam Phi thành một nước cộng hòa dân chủ. Trong những năm đầu tiên trên cương vị Tổng thống, chúng ta thấy ở nước cộng hòa Nam Phi,  không hề có những cuộc trả thù như cho đi “ cải tạo” hay như có sự phân biệt đối xử đối với những người đã từng có vị trí lãnh đạo trong chính quyền cũ của người da trắng. Dưới sự lãnh đạo Nelson Madela,  tổng thống da đen đầu tiên của nước Cộng hòa Nam Phi, mọi người, mọi giai cấp đều bình đẳng như nhau trong cuộc bầu cử không phân biệt màu da, giàu, nghèo… Mọi người, cùng tất cả các đảng phái được bày tỏ chính kiến không có sự trả thù, bài xích… Nelson Madela đặc biệt quan tâm đến đời sống của người nghèo khổ, bất kể người đó là da đen hay da trắng bằng những chính sách hợp lòng dân. Ông ủng hộ hòa bình, hòa giải không riêng cho cộng hòa Nam Phi, rộng ra cả châu Phi. Nelson Madela vĩ đại ở một chữ “tâm” rất lớn là không tham quyền cố vị, không nhân danh bằng những lời “ ngoa ngôn” để giữ bằng được quyền lực của mình. Nelson Madela chỉ làm tổng thống một nhiệm kỳ ( 1994 -1999) rồi nhường chức đó cho một người khác, do nhân dân lựa chọn thông qua một cuộc bầu cử tự do, dân chủ. Nelson Madela trở về với cuộc sống bình dị,  dành tất cả thời gian còn lại, vơi uy tín của mình để làm từ thiện, lãnh đạo phong trào không liên kết, chống áp bức, bất công, hòa giải những cuộc xung đột đẫm máu… Cả châu Phi biết ơn ông. Đặc biệt, Nelson Madela không phép bất cứ kẻ nào, dù đó là người thân thiết ruột thịt lợi dụng uy tín, vị trí của ông để làm bậy, thu vén cá nhân, làm ảnh hưởng xấu đến đảng cầm quyền. Nên thế, người vợ đã từng “đồng cam cộng khổ” khi ông bị tù đầy, sau này đã có những việc làm xấu, nhân dân, đảng viên của đảng cầm quyền lên án, Nelson Madela cương quyết li dị, thông báo rõ cho toàn dân biết… 
        Thế giới không nhiều lãnh tụ như Nelson Madela.
         Nelson Madela không cần xưng tụng là “lãnh tụ thiên tài”, “ người cha của dân tộc”, cũng không bắt nhân dân hàng ngày phải giơ khẩu hiệu “ muôn năm”…Nhưng với đức độ, tài năng , nghị lực lớn, bất chấp tuổi cao, bệnh tật Nelson Madela quyết thực hiện bằng được một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, bạo lực,  các dân tộc sống trong tình nhân ái. Ông cũng không lên án chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản mà hết lòng ủng hộ bất cứ một nhà nước, hay chế độ nào lo được cho dân, xóa được bất công,  đói nghèo, có một chế độ dân chủ thực sự bảo đảm quyền sống của người dân…
           Nên thế, Nelson Madela, là là biểu tượng của hòa bình, tên của ông được cả thế giới, không còn phân biệt chủng tộc, chính kiến, tôn giáo… đều ca ngợi. Ngày sinh của ông ( 18/7/1918) được Liên Hợp Quốc chọn là ngày Nelson Madela.
         Một con người đã nhận được tất cả những danh hiệu, giải thưởng cao quý nhất của các tổ chức lớn trên thế giới trao tặng.
        Một con người được cả một châu Phi gọi là “ Cha” với tất cả sự biết ơn và ngưỡng mộ.
        Một con người, trong những ngày này, làm nhòa đi chuyến thăm của tổng thống Mỹ đến Nam Phi, chỉ vì một nguyên nhân rất đơn giản: nhân dân cả nước Cộng hòa Nam Phi nói riêng, thế giới nói chung đang lo bệnh tình của Nelson Madela.
        Nelson Madela, tên ông không thuộc về nhân dân của nước Cộng hòa Nam Phi, mà thuộc về thời đại, thuộc về thế giới.
Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
       

DÂN LÀM BÁO * TÙ NHÂN Z30 NỔI LOẠN

Tù nhân Z30A nổi dậy, bắt giám thị làm 'con tin'

Thượng tá Hồ Phi Thắng, giám thị trại giam Xuân Lộc đang bị các tù nhân nổi dậy giữ làm 'con tin'
Danlambao - Nguồn tin thân cận vừa gửi đến Danlambao cho biết: Khoảng 8 giờ sáng nay, 30/06/2013, các tù nhân tại trại giam Xuân Lộc (Đồng Nai) đã đồng loạt nổi dậy để phản đối chế độ lao tù CS khắc nghiệt. Cuộc phản kháng bùng phát tại phân trại số 1 (K1) với sự tham gia của 1000 tù nhân. Sau khi làm chủ hoàn toàn phân trại, các tù nhân đã phá cửa và bắt giữ một viên thượng tá - giám thị làm 'con tin'.
Trại giam Xuân Lộc còn được gọi là trại Z30A, đây là nơi hiện đang giam giữ nhiều tù nhân lương tâm tại Việt Nam như anh Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Việt Khang... Trước đó, anh Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải từng bị đày ải tại đây trong suốt thời gian dài.
Được biết, cuộc nổi dậy bắt đầu bùng phát tại phân trại số 1 thuộc trại giam Xuân Lộc. Nguyên nhân cuộc nổi dậy bắt nguồn từ việc anh em tù nhân thường xuyên bị cán bộ đánh đập, chế độ ăn uống bị cắt xén, trong khi bị bắt lao động cực nhọc...
Hiện nay, một viên thượng tá CA tên Hồ Phi Thắng, giám thị trại giam Xuân Lộc đã bị tù nhân giữ lại làm 'con tin' phía bên trong. 
Cho đến thời điểm này, các tù nhân vẫn đang làm chủ tình hình phía bên trong trại, lực lượng công an đã được huy động mỗi lúc một đông nhưng vẫn chưa thể xâm nhập vào.
Các tù nhân kêu gọi sự lên tiếng kịp thời của truyền thông cũng như dư luận, nhằm tránh xảy ra cuộc đàn áp khốc liệt của CA như các vụ nổi dậy trước.
Ông Nguyễn Bắc Truyển, một cựu tù nhân lương tâm từng bị giam giữ tại Xuân Lộc cho biết thêm: Phân trại số 1 - Trại giam Xuân Lộc là nơi tù nhân nổi dậy. Toàn bộ trại giam Xuân Lộc có 6 phân trại. Phân trại số 1 gọi là phân trại trung tâm. Mỗi phân trại khoảng 1.000 tù nhân. Phân trại 1, có khoảng 10 tù nhân lương tâm. Đây là phân trại có chế độ giam giữ hà khắc nhất trong các phân trại.
Thông tin tiếp theo vụ việc sẽ được cập nhật trên Danlambao

TIN TỨC GẦN XA



Tù nhân nổi dậy ở trại giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Các phạm nhân xếp hàng nhập trại, sau giờ lao động tại trại giam Xuân Lộc
Các phạm nhân xếp hàng nhập trại, sau giờ lao động tại trại giam Xuân Lộc (2007, ảnh minh họa)
Courtesy Vietnamnet
Nghe bài này
Một vụ nổi dậy của tù nhân chính trị tại phân trại 1, trại tù Z30A ở Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai diễn ra sáng ngày hôm nay 30 tháng 6 năm 2013.
Nổi dậy cướp điện thoại báo ra ngoài
Thông tin từ cuộc gọi của điện thoại mang số 962467908 được chuyển ra ngoài cho biết một số tù nhân chính trị đang thụ án tại phân trại 1 của trại Z30A Xuân Lộc bắt giám thị có tên Hồ Phi Thắng làm con tin. Mục đích được nói nhằm phản đối việc đánh đập tù nhân và phần ăn bị cắt xén…
Chúng tôi nhiều lần gọi điện vào số điện thoại vừa nói từ lúc 11:30 sáng đến lúc 1 giờ chiều, nội dung cuộc gọi như sau:
Gia Minh: Có phải ông Hồ Phi Thắng không?
Trả lời: đang bận ăn cơm, chốc nữa gọi lại sẽ nói; 30 phút nữa gọi lại.
Theo như hẹn đúng 30 phút sau chúng tôi gọi lại nhưng máy đã bị cắt không thể liên lạc được.
Trong số những người tù chính trị đang bị giam tại phân trại 1, trại tù Z30 A Xuân Lộc, Đồng Nai, có ông Nguyễn Ngọc Cường bị kết án về tội rải truyền đơn chống Nhà Nước.
Người con của ông là Nguyễn Ngọc Trường Thi cũng từng bị giam tại đó ba tháng, cho biết nay ông bố là Nguyễn Ngọc Cường cũng ở đó với sáu tù chính trị khác trong đó có ông Trần Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Việt Khang…
Tháng vừa rồi gia đình có đi thăm và biết bố đang bị nhốt chung với các anh em tù chính trị, gồm 6 người, trong một khu khoảng 100 mét vuông. Trong đó có những người là Trần Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Việt Khang…
Cựu tù nhân chính trị Lê Thăng Long, người từng bị đưa ra xét xử trong cùng vụ án với ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung cho biết bản thân ông nhận được thông tin từ máy điện thoại mang số 962467908 về cuộc nổi dậy vào sáng ngày 30 tháng 6 vừa như sau:
Khoảng 11 giờ 30 tôi nhận được một cuộc điện thoại từ phân trại 1, trại giam Xuân Lộc gọi ra. Anh em trong đó thông báo cho tôi biết tình hình của trại giam: lúc khoảng 7-8 giờ sáng nay, anh em tù nhân đã nổi dậy và bắt giữ ông giám thị của Z30A, Hồ Phi Thắng. Nguyên nhân là việc đối đãi trong tù không được tốt; đặc biệt là đánh đập tù nhân, cắt xén khẩu phần ăn của tù nhân, cũng như không đáp ứng những yêu cầu chính đáng của anh em tù nhân.
Khoảng 11 giờ 30 tôi nhận được một cuộc điện thoại từ phân trại 1, trại giam Xuân Lộc gọi ra. Anh em trong đó thông báo cho tôi biết tình hình của trại giam: lúc khoảng 7-8 giờ sáng nay, anh em tù nhân đã nổi dậy và bắt giữ ông giám thị của Z30A, Hồ Phi Thắng
Ông Lê Thăng Long
Phân trại 1, tức K1 của trại giam Z30A trại giam Xuân Lộc là nơi có một số tù nhân lương tâm đặc biệt như ông Trần Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Việt Khang, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng…
Cho đến lúc 11:30 và sau đó anh em trong đó vẫn làm chủ tình hình và giữ ông Hồ Phi Thắng.
Khu trại có mấy lớp tường và hàng rào xung quanh, biệt lập.
Theo kinh nghiệm ở những cuộc nổi dậy tương tự ở những trại khác, nếu lực lượng bên ngoài không dùng bạo lực thường họ đàm phán để trao đổi về các yêu sách của anh em tù nhân và sau đó diễn ra các bước tiếp theo để hai bên có những thỏa thuận, đáp ứng yêu cầu anh em tù nhân.
Khắc nghiệt với tù chính trị
Ông này cũng trình bày lại tình hình điều kiện nhà tù khi ông bị giam:
Khi tôi ở trại tạm giam điều kiện tương đối khắc nghiệt hơn. Đặc biệt trong thời gian đầu tôi không được tiếp xúc gì với gia đình hết. yêu cầu gặp luật sư cũng không được. Đó là những quyền căn bản nhưng không được đáp ứng; người ta lấy lý do vì an ninh quốc gia. Nhưng theo tôi đây là việc sử dụng những điều luật về an ninh quốc gia mơ hồ để hạn chế quyền của công dân. Những tù nhân chính trị khác cũng bị trường hợp này. Trong thời gian này còn bị gây sức ép rất nhiều như mớn cung, ép cung. Như trường hợp anh Thức họ nhốt vào xà lim kín khiến anh ngộp thở và sắp nguy hiểm đến tính mạng.
Khi vào tù thì cũng có những khắc nghiệt như yêu cầu phải nhận tội thì mới được điều kiện thăm nuôi của gia đình, hay giảm án…
Ông Lê Thăng Long cũng nhắc lại một trường hợp các tù nhân nổi dậy ở Trại giam A2 của Bộ Công An tại Khánh Hòa hồi ngày 28 tháng tư năm ngoái. Một số tù nhân sau vụ nổi dậy đó bị chuyển về trại Z30 A Xuân Lộc và kể lại cho ông này.
Xin được nhắc lại tại trại giam Z30A Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là nơi từng giam giữ những tên tuổi như blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hài, Tạ Phong Tần trước khi bị chuyển ra bắc.
Ý kiến (0)

Khai quật một ngôi mộ cổ tại Peru

CỠ CHỮ
Các nhà khảo cổ Peru đã khai quật một ngôi mộ cổ với những báu vật và xác ướp phụ nữ cách đây khoảng 1.200 năm.

Việc khám phá tại phía bắc Lima có thể soi sáng về đế quốc Wari, đã cai trị vùng Andes trước khi nền văn minh Inca tốt hơn nổi lên.

Hàng chục bộ xương được tìm thấy trong mộ, gồm cả 57 xác ướp phụ nữ.

Những xác ướp này được tìm thấy trong tư thế ngồi và được biết là vợ hay tùy thiếp của một thành viên ưu tú trong đế quốc Wari.

Các phụ nữ được chôn với nữ trang, đồ sứ đẹp và những vật khác, như là chén bát và kim.

Bộ Văn hóa Peru cho biết công việc khai quật tại địa điểm này sẽ vẫn tiếp tục, và trong một vài tháng sẽ loan báo kết quả của việc khai quật.
 http://www.voatiengviet.com/content/khai-quat-mo-co-peru/1692014.html

NGÀNH MAI * GÁNH HÁT PHỤNG HẢO


http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/traditional-music-062913-nm-06282013171724.html

MẶC LÂM * NHỮNG BÀI THƠ YÊU NƯỚC

Những bài thơ yêu nước được sáng tác trong tù

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-06-29
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
le-quoc-quan-305
 
 
Luật sư Lê Quốc Quân tham gia biểu tình chống Trung Quốc hôm 8 tháng 7 năm 2012 tại Hà Nội.
AFP


Việt Nam có lẽ là đất nước có những bài thơ yêu nước được sáng tác trong tù nhiều nhất so với nền văn học thế giới. Nhà tù thời đại nào cũng là nơi giúp người hoạt động cách mạng có cơ hội suy nghĩ, gợi nhớ và nuôi duỡng ngọn lửa yêu nước bên trong bốn bức tường câm nín của trại giam. Bóng tối nhà tù kỳ diệu thay lại làm bùng vỡ ánh sáng trên dòng thơ của những con tim chói chang niềm tin vào ngày mai tốt đẹp hơn cho đất nước, xã hội. Nguyễn Chí Thiện là một điển hình như thế.


Nếu thơ của Nguyễn Chí Thiện bay ra ngoài Việt Nam một cách khó khăn với nhiều câu hỏi về tính xác thực của tác giả thì những bài thơ yêu nước trong nhà tù hôm nay lại tiếp cận được với người đọc, người nghe nhanh chóng và căn cước của tác giả không ai có thể nghi ngờ, ngay cả khi tác giả những bài thơ ấy còn ngồi trong bốn bức tường tăm tối của nhà tù chờ ngày ra tòa xét xử.
Trường hợp thứ hai rơi vào luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân, đang bị giam giữ tại nhà giam Hỏa Lò Hà Nội.

Nằm trong trại giam người luật sư ấy làm nên những câu thơ bén và âm ỉ cháy trong lòng người được đọc nó. Lê Quốc Quân làm thơ không để nổi tiếng vì với ông sự nổi tiếng từ thơ có lẽ là điều khôi hài vì con đường dẫn tới công lý, sự thật mà ông đang đi còn lắm chông gai. Thơ không thể thay thế chiếc giày êm ái mà chỉ bằng niềm tin vào tổ quốc mới có thể giúp ông vượt qua con đường khổ nạn.
Cảm hứng đến với thơ của ông không bằng cái lay động của gió, của cỏ cây hay tình tự của những yêu đương thường thấy. Thơ của ông quằn quại với sóng nước Biển Đông cùng những giòng máu đỏ mà quê hương đang chảy. Những giòng máu bất kể từ ngư dân hay người chiến sĩ, đối với tác giả, đều mặn như nhau và từ cái mặn nồng tươi rói ấy Lê Quốc Quân sáng bừng ra tình yêu nước tự nhiên của một công dân đối với non sông của mình.

Ngồi trong tù, Quân nghe rất rõ tiếng vỗ uất ức của những ngọn sóng Việt Nam. Cái âm thanh ấy làm thành thơ, thành hơi thở nặng nhọc của người tù Hỏa Lò vào ngày 25 tháng 3 năm 2013, cùng lúc Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng Tập Cận Bình và chiếc tàu của ngư dân Việt bị Trung Quốc bắn cháy cabin!

Hỏa lò vọng sóng Biển Đông

Đọc vội trên ngay báo Nhân Dân của Đảng đủ làm dậy sóng lòng tôi.
Đêm nay!
Sóng biển đông uất ức vỗ vào nghềnh đá
Tha thiết gọi tên anh tên tôi.
Đêm nay!
Có đôi tay bất lực ghì vào song sắt
Da diết gọi Hoàng Sa-Trường Sa
Âm vang mãi của sóng giọng của người tù
Rơi vào khoảng không vô vọng!
Lũ giặc cướp tung hoành trên biển đông
Chúng lập tam sa xây nhà tù trên đảo.
Bắn giết hải quân cầm tù ngư phủ
Chúng cắt thông tin xua bình minh trên biển
Xô đổ cả hoàng hôn duyên hải
Đem đêm tối kinh hồn cho vợ con xóm nhỏ.
Biển đảo ta đây!
Tổ quốc ta đây, bao đời ông cha gìn giữ sao chỉ phản đối nước đôi?
Bởi lãnh đạo bị bao vây tứ phía
Chúng lấy học thuyết Tam vô làm vòng kim cô cầm tù não bộ.
Chúng lấy đại cục, phân mảnh lòng người.
Chia chác tài nguyên cướp con cá biển trong bữa cơm chiều con trẻ việt.
Chúng lấy tình môi-răng, căng mình giữ ghế tham quyền cố vị, vơ vét tài nguyên, bỏ đói cả tương lai dân tộc.
Ôi! Tây nguyên, biên giới, cà mau, thanh hóa
Vũng áng, thái bình nhan nhản dấu chân tàu
Hoa quả, gia cầm đồ dùng thức uống
Văn hóa phi trường, tràn ngập tiếng hoa.
Quê hương tôi đã mất thật rồi ư?
Không?
Sóng đã nổi từ trong ngục tối
Nơi anh em nhắm mắt biểu tình
Và lắng nghe tiếng đồng bào cùng bước
Hào khí đông A ngập tràn khóe mắt
Tiếng hô vạng dội một góc trời
Đứng lên đi như ông cha từng đã quét sạch bóng thù nước Việt vững ngàn thu!

 
Hoả Lò ngày 25 tháng 3 năm 2013

 
Trong cái nhà tù nổi tiếng ấy, người cha Lê Quốc Quân không thể không chạnh thương đối với những đứa con bé bỏng của mình. An,Thái, và Việt là tên gọi thương yêu, là nìêm tin của người cha vào tương lai của gia đình cũng như những ước mơ thầm kín thể hiện qua cái tên của từng mái đầu nhỏ bé, trong bài An Thái Việt ông nhắn nhủ:

Có tên khắc khoải trong tim óc
Dẫu rất bình yên An-Thái-Việt
Có đêm thao thức lòng đau tức
Ai nghĩ về ai nước mắt nhòa

An Hà năm nay lên lớp 6
Cha chưa về được để dạy thêm
Nghe lời bà dặn ngoan con nhé
Học giỏi chơi vui giúp mẹ Hiền

Thái Hà con ơi Cha nhớ lắm
Không biết bây giờ ai đón đưa
Nhớ khi cha con cùng đến lớp
Hay chốn vườn quê mãi sức đùa

Việt Hà con ơi cha vẫn thấy
Đôi chân công chính đang tập bước
Dẫu sớm đau thương có sá gì
Trên đường thiên lí bóng con đi

Cuộc đời vẫn thế đầy giông bão
Các con gắng sức trước gian lao
Giờ hãy ngủ đi bình an nhé !
Mai sớm cùng cha đón bình minh

Hỏa lò, xuân Q T


Người tù sống nhờ vào bạn tù. Họ chia sẻ cho nhau từng hạt cơm, miếng giẻ cũng như các mẩu chuyện vui buồn. Lê Quốc Quân chia sẻ cái nhìn, niềm trăn trở của nhà thơ về một vấn đề lớn hơn mà khó một người tù hình sự nào để ý tới: Vấn đề tự do dân chủ. Trong bài Tặng người bạn tù ông viết:

Bài thơ này tôi viết tặng anh
Người bạn tù chung manh chiếu rách
Sau song sắt đêm chúng mình tâm sự
Anh có nghe quá khứ vinh quang
Của nước Việt ngàn năm trung dũng
Khi giặc già lăm le bờ cõi
Hội nghị Diên hồng ông cha quyết đánh
Bến Bình than tướng trẻ bóp nát cam
Đại cáo bình Ngô vang dội trời nam
Bỗng tiền nhân như ngọc sáng dọi về

Tôi kể anh nghe hiện tại đau thương
Thời một đảng úp trùm toàn dân tộc
Nhân dân lầm than đói khổ đủ đường
Độc lập đó còn tự do không có
Tham nhũng thành quốc nạn tràn lan
Quyền tự do dân chủ không còn
Người tranh đấu bị giam vào ngục tối

Ta kể nhau nghe về tương lai tươi đẹp
Của Việt Nam trong hòa nhập toàn cầu
Dân chủ có mà nhân quyền cũng có
Và tự do cho tất cả mọi người
Đến lúc đó nước Việt của chúng ta
Không thua kém láng giềng xung quanh
Mà từ hôm nay đến đó còn xa
Còn nhiều việc chúng ta cần làm nốt
Chúng mình cùng gánh vác nghe anh!



Le-quoc-quan-anhbasam-250.jpg
Luật sư Lê Quốc Quân, anh Paulus Lê Sơn cùng một số người khác bị bắt giam khi đang đứng bên ngoài Tòa án Hà Nội hôm xử TS luật Cù Huy Hà Vũ 04-04-2011. Courtesy Anhbasam.

Là một luật sư, Lê Quốc Quân hiểu rõ thế nào là luật pháp. Hiểu rõ và tin tưởng vào những gì mình được học, được bồi dưỡng kiến thức tại nước ngoài. Người luật sư ấy tiếc thay lại không chịu bẻ mình uốn theo những gì mà tòa án Việt Nam muốn với những bản án bỏ túi xử theo chỉ thị chứ không theo pháp luật. Là một luật sư trẻ và mang nhiều hoài bão, Lê Quốc Quân dùng kíên thức luật pháp của mình để lên tiếng chống lại những sai trái của hệ thống tư pháp Việt Nam, hệ quả là cả hệ thống quay ngược lại tấn công ông và cuối cùng thì ông bị tước đi mảnh bằng mà bao nhiêu năm từng theo đuổi.
Những gai góc bất công trong chế độ không thể làm cho người tù Lê Quốc Quân khuất phục mà ngược lại chúng làm ông lớn lên, cứng cáp hơn trứơc những thử thách mà hệ thống tư pháp cộng sản muốn ông nhận lãnh.

Chí người ngục sỹ

Lúc lặng lẽ ngồi trong ngục tối
Là khi ta mưu sự cơ đồ
Đôi mắt nhắm mà lòng cuộn sóng
Chí bừng lên vang dội trăm miền
Ý chí ta vực thẳm núi cao
Trải rộng khắp bình nguyên đại mạc
Chí là hướng lung linh tâm bão
Bão lòng người thổi giữa nhân gian
Chí là hoa nở trong máu đỏ
Máu anh hùng chảy mãi thiên thu
Chí đã chín lòng ta đã quyết
Quyết đứng lên tranh đấu một phen
Vì nhân dân cơ cực bần hàn
Ý chí đó ngàn đời không đổi

Hỏa lò 4/2013


Không ít người cho rằng luật sư Lê Quốc Quân bị bắt vì chống Trung Quốc. Nếu nghĩ thật cặn kẽ, có người Việt Nam hiểu biết lịch sử nào mà lại không chống Trung Quốc, hay nói đúng hơn là chống tư tưởng Đại hán, bá quyền. Lê Quốc Quân có chống Trung Quốc cũng không phải là một ngoại lệ. Trước khi bị bắt ông đã có những bài thơ hùng tráng như bài Tổ Quốc Gọi Tên do chính ông tự đọc sau đây:

Đêm qua tôi nghe tổ quốc gọi tên mình.
Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa vang dội vào ghềnh đá
Tiếng tổ quốc vọng về từ biển cả
Nên bão tố dập dồn chăng lưới bủa vây
Tổ quốc của tôi. Tổ quốc của tôi
Bốn ngàn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ, thắp lên ngọn đuốc hòa bình
Bao người đã ngã, máu của người nhuộm mặn sóng biển đông
Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình, chúng ngang nhiên chia cắt tôi và tổ quốc
Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước
Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau
Sóng chập vào bình yên dẫn lối những con tàu
Sóng cuộn đỏ máu những người đã mất
Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc
Chín muơi triệu môi người thao thức tiếng Việt Nam
Chín muơi triệu người lấy thân mình che tổ quốc linh thiêng
Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố
Ngọn đuốc hòa bình trên tay rực lửa
Tôi lắng nghe tổ quốc gọi tên mình.


Người tù trẻ tuổi và đầy chí khí ấy sẽ ra tòa vào ngày 9 tháng Bảy này. Hầu như những người biết chuyện đều nhìn vào cái ngày xử án ấy với tâm lý chờ đợi một diễn biến khác với vụ xử của blogger nổi tiếng Điếu Cày với cùng tội danh trốn thuế. Lê Quốc Quân rất kinh nghiệm đối với chính quyền Việt Nam khi đã chuẩn bị sẵn cho mình tư thế trước tòa và tư thế trước công luận. Ông gửi một thư ngỏ ghi âm tiếng nói của mình để tránh trước những đòn thù dưới thắt lưng mà chính quyền có thể dành cho ông nếu không thể kết án ông một cách hợp pháp.

Thư ngỏ

Là một công dân Việt Nam luôn tha thiết với sự lớn mạnh của đất nước và dân tộc mình, tôi tin rằng chỉ có tự do dân chủ mới giải phóng con người đem lại sức mạnh Việt Nam phát triển.
Là một luật sư bất đồng chính kiến tôi có thể gặp những khó khăn hoặc bị tù đày. Bởi vậy tôi viết thư ngỏ này trình bày những điều phòng sau khi mình không được tự do thì sẽ có nhiều thông tin không chính xác.
Thứ nhất, với sự hiểu biết về pháp luật của mình tôi khẳng định rằng những hoạt động tranh đấu, những bài viết, những lời nói của mình là tốt đẹp và hoàn toàn vô tội theo pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Thứ hai, tôi không hoạt động vì quyền lợi của quốc gia nào khác ngoài tổ quốc Việt Nam. Tôi hoạt động để góp phần xây dựng xã hội dân sự. Tạo phong trào dân sự rộng rãi nhằm thực hiện nguyện vọng của nhân dân, thông qua cơ chế dân chủ và bằng phương pháp bất bạo động.
Thứ ba, tôi đã nhiều lần bày tỏ quan điểm và lập trường của mình về những vấn đề tự do dân chủ và nhân quyền. Tôi nỗ lực tối đa để bảo vệ nó trong mọi hoàn cảnh, tuy nhiên, nếu khi tôi không còn được tự do mà có những thông tin đi ngược lại với lý tuởng đấu tranh của mình thì cần được coi là không phản ảnh đúng với ý chí và lý trí của tôi. Những chứng cứ đó là hoàn toàn vô giá trị.

Thứ , tôi xin đón nhận mọi khó khăn như những món quà mà tổ quốc đã trao tặng cho mình. Tôi chịu trách nhiệm cá nhân về những hành vi của mình. Tôi sẵn sàng xin lỗi về những thiếu sót, nếu có, đối với anh em bạn bè. Nhưng việc sử dụng các hành vi của tôi để buộc tội, hoặc làm bằng chứng chống lại bất cứ ai đều là vô hiệu. Tôi phủ nhận hoàn toàn mọi bằng chứng liên quan làm phương hại đến các anh em khác đang tranh dấu vì một Việt Nam đổi mới, dân chủ, phát triển và giàu mạnh.
Cá nhân tôi luôn tin vào khát vọng và nỗ lực của chính nhân dân Việt Nam. Tôi tin rằng một ngày không xa chúng ta sẽ có được tự do dân chủ thực sự. Mọi người dân Việt Nam đều có thể bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai. Có quyền mưu cầu hạnh phúc và thành công ngay trên chính quê hương Việt Nam yêu dấu này.
Trân trọng kính thư.
Tôi, luật sư Lê Quốc Quân xin cám ơn.


Những ngày gần đây Luật sư Quân đã gặp khá nhiều sách nhiễu trong nhà tù nhưng với ông có lẽ những sách nhiễu ấy không thề sánh bằng tình cảm người thương yêu ông dành cho một con người ái quốc. Vợ ông kể lại những diễn tiến mới nhất khi luật sư của ông kể lại cho bà biết ông sẽ tịch cốc một tuần lễ để tỏ lòng biết ơn những người thương yêu ủng hộ ông, bà nói:
Hiện tại anh Quân vẫn trong điều kiện khắc nghiệt trong tù vì bị phân biệt đối xử. Tin mới nhất hôm nay do luật sư cho biết anh Quân quyết định sẽ tịnh cốc từ ngày 23 tới ngày 30 tháng 6, anh sẽ chỉ uống nước và không phải là tuyệt thực, anh tịnh cốc thì chỉ uống nước lọc. Anh muốn chia sẻ với những người đang gặp khó khăn và muốn thực sự bày tỏ lòng cám ơn với mọi người đã ủng hộ, lên tiếng cho anh và cho gia đình.
Người tù nhân dũng cảm ấy đã chọn cho mình một hướng đi trung thực, không phản lại với công lý, với lương tâm và nhất là lòng ái quốc của một kẻ sĩ. Thơ của ông diễn tả tâm trạng khắc khoải của một người đi làm cách mạng, cuộc cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh như những người dân Nghệ An quê hương ông từng làm.


TRỌNG NGHĨA * MỸ VÀ ĐÔNG NAM Á

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cần trấn an các nước Đông Nam Á

Trọng Nghĩa
RFI – Chủ nhật 30 Tháng Sáu 2013

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trả lời báo chí sau khi gặp chủ tịch Palestine Mahmoud Abbas tại Cisjordanie ngày 30/06/2013.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trả lời báo chí sau khi gặp chủ tịch Palestine Mahmoud Abbas tại Cisjordanie ngày 30/06/2013.
Reuters
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry sẽ có mặt tại Brunei từ ngày mai, 01/07/2013 để tham gia các cuộc họp của khối ASEAN. Theo giới phân tích, một trong những nhiệm vụ của ông Kerry là làm sao trấn an các đồng minh Đông Nam Á về quyết tâm can dự vào khu vực của Hoa Kỳ. Các mối lo ngại về sự lơ là của Mỹ đang tăng trở lại trong vùng, vì từ ngày nhậm chức đến nay, tân Ngoại trưởng Mỹ có dấu hiệu dành ưu tiên nhiều hơn cho hồ sơ Trung Đông.
Thật vậy, ông Kerry đã viếng thăm Trung Đông năm lần trong những tháng qua, trong lúc chuyến đến Brunei lần này của ông chỉ là chuyến thăm châu Á thứ hai từ ngày nhậm chức hồi tháng Hai. Còn đối với Đông Nam Á thì đây là lần đầu tiên mà ông ghé trong cương vị Ngoại trưởng Mỹ, chuyến thăm châu Á của ông hồi tháng Tư vừa qua chỉ đưa ông đến ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc mà thôi.

Ngay cả nhân chuyến ghé thủ đô Brunei Bandar Seri Bagawan lần này, giới quan sát cho là ông Kerry cũng dành toàn tâm toàn ý của cho Đông Nam Á, vì Brunei chỉ là một chặng dừng trong một vòng công du lớn hơn, đã đưa Ngoại trưởng Mỹ qua vùng Trung Cận Đông, mà các hồ sơ nóng đã buộc ông phải trì hoãn việc đến Brunei cho đến tận hôm nay.

Thái độ của đương kim Ngoại trưởng Mỹ hoàn toàn khác với sự quan tâm rõ nét đến châu Á và Đông Nam Á của người tiền nhiệm Hillary Clinton. Bà là Ngoại trưởng Hoa Kỳ đầu tiên đã đến thăm toàn bộ 10 thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á, mà các phụ tá của bà cho là đã bị chính quyền George W. Bush bỏ rơi trước đó, vì quá bận tâm với cuộc chiến ở Irak và Afghanistan.
Theo AFP, Ngoại trưởng Kerry đã bác bỏ các lập luận cho rằng ông lơ là châu Á, cho biết là ông có kế hoạch đi thăm – trong “một thời gian ngắn sắp tới đây” – hai nước Indonesia và Việt Nam. Ông cũng tuyên bố hoàn toàn tin tưởng vào chính sách “xoay trục” qua châu Á của Tổng thống Barack Obama. Theo ông, Mỹ luôn luôn có khả năng “đối phó cùng một lúc với hơn một cuộc khủng hoảng tại hơn một nơi trên hành tinh”.


Theo hãng tin Pháp AFP, khi trả lời đài Tiếng nói Hoa Kỳ VOA, ông Kerry từng xác định : “Mọi người không nên nghĩ rằng, bởi vì chúng ta đang cố gắng mang lại hòa bình cho một khu vực đã trải qua 30 năm xung đột và xung khắc, mà chúng ta không thể chú ý đến những vấn đề khác”.
Dẫu sao thì các nhà ngoại giao và một số nhà phân tích đã lên tiếng lo ngại rằng Hoa Kỳ đang quay về các ưu tiên xưa cũ, sau khi bà Hillary Clinton – vốn rất tự hào về mối quan tâm của mình đối với Châu Á – rời bỏ chức Ngoại trưởng.


Một quan chức Mỹ cao cấp thừa nhận rằng các quốc gia châu Á đã tỏ ý hoài nghi về quyết tâm can dự vào Châu Á của Hoa Kỳ sau khi bà Clinton ra đi. Tuy nhiên, nhân vật này cho rằng sự quan tâm của Mỹ đối với châu Á giờ đây đi vào thực chất, chứ không còn dừng lại ở mức tượng trưng, cụ thể là Washington đang đẩy mạnh chi tiêu cho các dự án tại khu vực châu Á bất chấp việc ngân sách đang bị xiết chặt.
Viên chức này lưu ý rằng trong những tháng gần đây, Tổng thống Obama đã nghênh tiếp tại Washington nhiều lãnh đạo châu Á như Thủ tướng Nhật Bản, Tổng thống Hàn Quốc, Thủ tướng Singapore, Quốc vương Brunei và Tổng thống Miến Điện – lần đầu tiên từ nửa thế kỷ nay.
Trả lời hãng tin Pháp AFP, viên chức xin giấu tên này cho biết là các nước châu Á vốn đã tỏ ý quan ngại cách nay vài tháng, thì hiện đang đòi Mỹ “đặt lên bàn những cái cụ thể chứ không còn đơn thuần mời ngồi vào bàn” như trước đây.

Trong tình hình như kể trên, nhất cử nhất động, từng lời lẽ của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại Brunei trong hai ngày 01-02/07 sẽ được mổ xẻ phân tích, để xem thực trạng cũng như triển vọng của mối quan tâm của Hoa Kỳ đến châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, trong tương quan với đà bành trướng của Trung Quốc.
Theo AFP, ông Ernie Bower, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS tại Washington, nhận định là các quốc gia Đông Nam Á phần lớn hoan nghênh chuyến thăm mới đây của ông Kerry qua Ấn Độ, nước đang tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong khu vực vào lúc Trung Quốc đang vươn lên.

Tuy nhiên ông Bower đã đặc biệt tỏ ý quan ngại trước sự chậm trễ của một chuyến viếng thăm Indonesia, mà cả ông Obama lẫn bà Clinton đều xác định là một ưu tiên hàng đầu do quá trình chuyển đổi nhanh chóng trên đường dân chủ và tính chất ôn hòa của đạo Hồi trên đất nước này.
*****
Nguồn:
http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130630-ngoai-truong-my-john-kerry-can-tran-an-cac-
 nuoc-dong-nam-a



Philippines tố cáo Trung Quốc đe dọa hòa bình trên Biển Đông

Các Ngoại trưởng ASEAN nắm tay nhau thể hiện sự đoàn kết tại cuộc họp ở Brunei ngày 30/06/2013.
Các Ngoại trưởng ASEAN nắm tay nhau thể hiện sự đoàn kết tại cuộc họp ở Brunei ngày 30/06/2013.
Reuters

Trọng Nghĩa
Trong một bản thông cáo công bố ngay tại Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN ở Brunei vào hôm nay, 30/06/2013, Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario đã nêu đích danh Trung Quốc là nguy cơ cho nền hòa bình trong khu vực. Theo người đứng đầu ngành ngoại giao Philippines, mối đe dọa đến từ sự hiện diện ngày càng gia tăng của các lực lượng cả quân sự lẫn bán quân sự của Trung Quốc tại vùng Biển Đông.

Thông cáo của chính quyền Philippines nói rõ : « Ông Del Rosario hôm nay (30/06/2013) đã bày tỏ thái độ quan ngại sâu sắc về tình trạng quân sự hóa ngày càng gia tăng trên Biển Đông ». Theo ông Del Rosario, đã có sự hiện diện « ồ ạt của tàu quân sự và bán quân sự Trung Quốc » tại hai nhóm đảo thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines là bãi Scarborough Shoal và bãi đá ngầm Second Thomas Shoal.
Ngoại trưởng Philippines cho rằng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại các nhóm đảo này là « những đe dọa đối với nỗ lực duy trì hòa bình và ổn định trên biển trong khu vực ».
Ông Del Rosario không đi sâu vào chi tiết về các hành động quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng nhấn mạnh rằng các hành động đó đã vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC năm 2002, theo đó các bên tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này đã cam kết không thực hiện bất kỳ hành động nào có thể làm tình hình thêm căng thẳng.
Cáo buộc mạnh mẽ của Ngoại trưởng Philippines được đưa ra đúng một hôm sau khi báo chí Trung Quốc lớn tiếng đe dọa các nước Đông Nam Á có thái độ kiên quyết nhất chống lại các hành vi bá quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Vào hôm qua, truyền thông nhà nước Trung Quốc – cụ thể là Nhân dân Nhật báo - đã không ngần ngại cảnh cáo rằng « nếu Philippines tiếp tục thách thức Trung Quốc…, một đòn phản công (từ phía Trung Quốc) sẽ khó có thể tránh khỏi ».
Vào hôm nay, Ngoại trưởng Del Rosario đã lên tiếng cảnh báo về các luận điệu như vậy. Ông nói : « Những tuyên bố đề cập đến biện pháp phản công là vô trách nhiệm. Chúng tôi lên án mọi đe dọa sử dụng vũ lực. Chúng tôi lên án hành vi đó. Và chúng tôi tiếp tục theo đuổi biện pháp giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. »

About these ads