Sontrung's Blog (Sơn Trung)

Văn Hóa Việt Nam - http://son-trung.blogspot.com/

Today:

HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE

Labels

Tuesday, November 24, 2009

TỘI ÁC CỦA TRUNG CỘNG

**

Việc đàn áp Pháp Luân Đại Pháp
Tuesday, November 24, 2009 9:43 PM
To:
sontrung@yahoo.com

___________________________

________________________________________

__________________________________

TRẦN THANH VÂN * HỒI KÝ

**

TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VIỆT NAM

KTS Trần Thanh Vân là người có đến 55 năm "duyên nợ" với Trung Quốc. Không ngờ chị lại có quê ngoại vốn là quê nội của tôi và trời xui đất khiến thế nào mà ngày đầu kháng chiến toàn quốc, riêng bố lên ATK còn mẹ con cô bé Vân lại dắt díu nhau chạy tuốt về Đức Thọ Hà Tĩnh để hưởng cái không khí "gạo trắng nước trong" thơ mộng những năm đầu và rước lấy tai họa vào mấy năm sau đó, khi Cải cách ruộng đất đợt 5, đợt cuối cùng và cũng là sai lầm kinh hoàng nhất, nổ ra ở đây.

Cô bé Vân nhỏ hơn tôi ít nhất cũng đến 5 tuổi và được bố vội vã trở về đưa ra Việt Bắc ngay nên không thể biết gì thêm về những chuyện "long trời lở đất" như tôi, nhưng cũng đã kịp chứng kiến cảnh ông ngoại là một thầy lang hiền lành có uy tín trong vùng và người mẹ, từ tuổi còn rất trẻ đã biến thành tiểu thư Hà Nội nên khi trở về lại quê cha là tất tả lo kêu gọi chị em thành lập tổ may áo rét cho binh sĩ, cả hai người, ông và mẹ đều bị đưa ra đấu trường. Những lởn vởn trong đầu về bàn tay can thiệp của đội quân do Bác Mao phái sang giúp chúng ta, gây ra chết chóc và làm tanh bành đất nước, bắt đầu dấy lên trong chị từ những ngày ấy.

Chị Vân cũng có cả những trải nghiệm về những ngày tháng "hữu nghị Việt Trung Xô" (tuy chị nhớ nhầm diễn ra sau CCRĐ, kỳ thực nó bắt đầu trước cơn bão ấy khá lâu và kéo dài mãi đến sau này) mà về phần tôi, không bị những cuộc đại liên hoan nhảy múa "xồn la xồn" rộn rã - ở bất kỳ nơi đâu ta sinh hoạt - mê hoặc, nhưng thú thực, một ít bài hát thuở ấy còn quyến rũ tôi đến nay về cái giai điệu du dương của chúng, nhất là về cái sức thôi thúc tuổi trẻ đắm vào giấc mơ chiến đấu cho một thế giới đại đồng:

"Ai nghe chăng tiếng kèn trên Leningrade / Ai nghe chăng tiếng hát giữa Trung Hoa / Hà Nội ơi ngày chiến thắng không xa và / Khi lúa đơm hoa cờ / Tiến quân ta về Thủ đô / Ai nghe chăng xích xiềng đang tung nơi nơi / Và ngày mai khi súng lặng nơi chiến trường / Là lúc ta lên đường đập tan sóng Thái Bình Dương...".


Chị Thanh Vân may mắn hơn tôi được sang Thượng Hải theo học ngành kiến trúc từ 1960 đến 1966, tận mắt nhìn thấy bức tranh náo loạn của Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc làm cho hàng mấy trăm triệu con người trở nên hung hăng điên dại. Còn chúng tôi, vào Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1956, chúng tôi cũng đã nhận được tiếng dội của phong trào Đại tiến vọt từ Trung Quốc dội đến, đã cùng nhau đi thu thập chảo gang và đồ sắt phế liệu để chuẩn bị mở lò luyện thép trong trường, may mà cụ Hồ đã kịp có ý kiến để những chuyện đó không xẩy ra ở Việt Nam.

Trong khóa học Ngữ văn đầu tiên sau hòa bình của mình, bên cạnh các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi lại cũng có may mắn được học với những chuyên gia lỗi lạc về văn học cổ điển Trung Quốc như GS Trương Trọng Thuần, từ Đại học Bắc Kinh cử sang, tính tình thật đôn hậu, vừa uyên thâm vừa vẽ giỏi, có thể vẽ minh họa thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị bằng phấn ngay trên bảng. Và theo các bạn cùng khóa của tôi sau ngày tốt nghiệp ít năm được chọn sang làm tu nghiệp sinh ở Trung Quốc kể lại, thì trong Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, một đêm kia, thầy Trương Trọng Thuần đã đánh bạo lần mò đến ký túc xá của đoàn học sinh Việt Nam gõ cửa rất gấp, đưa ra 2 lá thư, với giọng nghẹn trong nước mắt, nhờ học trò cũ chuyển giúp ông về nước, nhằm xin với "bên nhà" cho được sang lánh nạn ở Việt Nam. Tiếc thay thư gửi về mà không có hồi âm khiến thầy mong đỏ cả mắt, rồi chuyện gì xẩy ra đã xẩy ra: khoảng vài tuần sau cái đêm liều mạng đến gõ cửa các học trò Việt Nam, thầy đã biến mất tăm dạng, đến nay không ai biết ở đâu...

Phần thứ hai của bài viết của KTS Trần Thanh Vân là một kiến giải có tính chất dự báo về việc áp dụng lý thuyết phong thủy để nhìn xem hình thế địa mạch trái đất như một sợi dây liên thông vô hình không dứt, trong đó Việt Nam là một điểm nhấn quan trọng. Tôi không dám lạm bình vào những điều huyền vi này, bởi phong thủy là một môn học đòi hỏi phải có sự kết hợp xét đoán nhiều mặt, tinh tường, về những gì đã hiện hình trên thế núi, hình sông mạch đất, và cả những gì thuộc phạm vi tâm linh chứ chưa hiện rõ.

Tôi tuyệt nhiên không biết một chút sơ đẳng về cái học uyên áo kia trong khi chị đã có đến 19 năm đào sâu về nó. Bởi vậy, chỉ xin được giới thiệu với bạn đọc kiến giải của chị như những giả thuyết không chỉ hấp dẫn về khả năng liên tưởng sâu xa mà phía sau nó còn là một lời cảnh báo nghiêm khắc với những ai có quyền, có tiền, có đủ thứ, chỉ duy không có trái tim hoặc trái tim đã bị chia ra nhiều phần, phần lớn nhất buộc phải dâng cho kẻ khác, vì thế mắt mở to mà không hề nhìn thấy mọi hiểm họa đang rình rập tứ phía đối với giải đất cong cong hình chữ S ruột thịt của 85 triệu con dân Việt.


Và đây là lời cảnh báo của chị: hãy kịp thời tỉnh lại đi những ai đang mê muội trong tiền và quyền, vì bàn chân lũ cáo ranh mãnh đã mon men đặt lên một vài trong các tử huyệt của đất nước.

Nguyễn Huệ Chi

***

Không thể không nói


PHẦN I
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác.


Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế! Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?”


Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm” – “Cái gì? 55 năm?” – “Vâng! từ ngày còn là con bé con”. Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó.


Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết. Sự thật và trải nghiệm Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Quốc hơn tôi.


Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết. Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.


Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953 Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy.


Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào. Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội.


Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn. Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố.


Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ. Cha tôi đang ở vùng ATK (an toàn khu) của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.


Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình. Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt


Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô. Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc.


Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ. Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.


Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì. Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt.



Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ? Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”. Du học ở Trung Quốc Tuổi trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.


Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình. Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần.



Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.



Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu. Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng.


Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậy tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy.


Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn. Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh.

Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu. Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy.


Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi.

Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố. Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?” Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.



Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi. Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi.


Thời kỳ đã trưởng thành Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến. Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên. Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.


Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói. Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết.


Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi. Trung Quốc hôm nay? Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Quốc đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua.



Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào. Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở.


Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”. Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa.


Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Quốc thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi. Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó.


Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an. Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này. Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.



PHẦN II TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa.


Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch. Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc không hề được hưởng lợi.




Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich
Nước Trung Hoa hình quẻ chấn Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.


Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều.


Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009. Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin.



Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu. * Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

*

Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).


Cung điện Tây Tạng Potola


Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi? Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất.


Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn. Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết. Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á


Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin.


Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ? Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.




Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình.


LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Quốc. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó? Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt. Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt. Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng

Mô hình hàng không mẫu hạm ở Vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược. Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?

TTV

Bài do tác giả gửi trực tiếp cho Bauxite Việt Nam. HT biên tập.

Monday, November 23, 2009

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG SỐ 120

*


**

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG
Số 120

Ngày 23 tháng 11 năm 2009


PHÁP SƯ GÍÁC ĐỨC * CHÍNH LUẬN

**


Pháp Sư Giác Đức:
Phải bảo vệ Tổ Quốc, Bảo vệ Lãnh Thổ của Chúng ta!

Kính thưa quý vị và quý bạn ở quốc nội, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ kêu gọi chúng ta tẩy chay hàng hóa Trung Cộng, chống lại việc Trung Cộng muốn hán hóa và xâm lược nước Việt Nam.


Chúng tôi xin trân trọng chuyển đến quý vị quý bạn những suy nghĩ và tâm tình của Pháp Sư Giác Đức, hiện nay là Tổng Uỷ Viên Kế Hoạch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Phó Chủ Tịch Điều Hành, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.

Pháp sư Giác Đức có hai bằng Tiến sĩ ngành chính trị học (Political Science) và Á Châu học (Asian Studies) tốt nghiệp tại Hoa Kỳ. Ngài nguyên là học giả thỉnh giảng (visiting scholar) tại đại học Harvard University Hoa Kỳ, giáo sư giảng dạy tại đại học Massachusetts.


Trước năm 1975 ở miền nam Việt Nam, Pháp Sư Giác Đức giảng dạy tại Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Đà Lạt, Trường Chỉ Huy Tham Mưu và Học viện Chiến Tranh Chính Trị.

(quý vị bấm nghe âm thanh)

http://audio.freevietnews.com/20091029_phapsugiacduc.m3u

Pháp sư Giác Đức



Phải Bảo Vệ Tổ Quốc,

Bảo vệ Lãnh Thổ của Chúng ta!

Hải ngoại ngày 29 tháng 10, 2009

Kính thưa Đồng Bào Quốc Nội

và các Phật tử ở trong nước

cũng như ngoài nước,

-- Chúng tôi mượn đường dây này, để có lời kính thăm đồng bào ở trong nước và ở hải ngoại. Cũng nhân dịp này, chúng tôi muốn truyền bá một vài ý kiến.


-- Chúng tôi mượn đường dây này để ủng hộ lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ: KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA CỦA TRUNG CỘNG! Ngài là Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).

-- Đây là lời kêu gọi lần thứ hai. Lần thứ nhất, ngài kêu gọi ngưng ngay chuyện khai thác bauxite ở cao nguyên của nước ta. Vì ngài đã nhận thấy một cách rất rõ ràng cái sự nguy hiểm của bauxite, cũng như sự MẤT NƯỚC ĐÃ GẦN KỀ RỒI. Cho nên, trước thì ngài kêu gọi biểu tình tại gia.


-- Có nhiều người cho rằng biểu tình tại gia như vậy là đắp mền mà ngủ ở nhà. Xin lỗi, không phải thế đâu."Biểu tình tại gia" là xây dựng một Ý THỨC TỰ CHỦ mà ngày xưa Tổ Tiên ta đã truyền lại, như là "Nam Quốc sơn hà nam đế cư" của Lý Thường Kiệt đã đưa ra. Cái ý thức Tự Chủ đó rất cần thiết. Nếu có ý thức ấy thì bấy giờ mới tranh đấu chống ngoại xâm được!

-- Sở dĩ ngài kêu gọi vậy, tôi thấy rất đúng, là vì qua những cuốn phim thu ở bên nhà rồi chúng tôi được coi ở bên này, thì thấy 2 người thân đang nói chuyện với nhau, tự nhiên có một người thứ 3 đến, dù người thứ 3 ấy đã quen biết, nhưng mà cũng phải đổi sang ngay chuyện khác. Tại vì lúc nào cũng sợ sệt công an theo dõi mình. Do vậy cho nên, vì quá sợ sệt, chúng ta chẳng có làm được gì cả !

-- Chúng ta bày tỏ thái độ về chuyện chống lại, không cho họ khai thác Bauxite. Tức là bảo vệ lãnh thổ, Tổ Quốc, bảo vệ giống nòi. Không cho bất cứ một người nào lợi dụng lý do gì để lãnh thổ, nền văn minh, quyền Tự Chủ của nước ta.

-- Do đó cho nên "biểu tình tại gia" không phải là thái độ nhút nhát. Chính nhờ cuộc biểu tình tại gia tháng 5 "bất tuân dân sự" đó mà cả quốc tế đã biết đến lời kêu gọi của chúng ta. Vì biết đến lời kêu gọi của chúng ta, cho nên Trung Cộng đã phải khựng lại, và nhà nước Việt Nam cũng đã khựng lại. Tôi gọi là khựng lại, chứ họ không hoàn toàn bỏ đi ý định xâm lược của họ!

-- Đảng cộng sản Việt Nam đã làm tay sai và làm chi bộ cho đảng cộng sản Trung cộng. Cho nên sẵn sàng "bán nước cầu vinh". Tôi nghĩ rằng bây giờ cộng sản Việt Nam đang làm cái việc đó đó! Là vị họ sợ sệt quá đi! Họ sợ người khác chiếm mất ngôi vị của họ. Họ sợ mất quyền lợi của họ. Họ muốn dựa vào sức xâm lăng của Trung cộng, để bảo vệ những độc quyền độc tôn của họ ở trong nước. Chính vì vậy, họ trở nên phản quốc!

-- Qua cuộc kêu gọi bất tuân dân sự đó, quốc tế và quốc nội đã hưởng ứng. Chẳng thế mà cộng sản trong lúc đầu đã cấm không cho Quốc Hội của họ nói đến chữ đó. Khổ nổi là họ khựng lại thôi, chứ họ chưa chấm dứt hoàn toàn. Chúng tôi thấy một điều khác nữa, là chính đó là sự bày tỏ thái độ.

-- Bởi vì, trong một quốc gia mà tự do báo chí không có, tự do ngôn luận không có, không còn làm được một việc gì khác! Ngay cả tự do hội họp cũng không có. Không có chính quyền, cũng không có quân đội để mà trực tiếp mạnh mẽ chống lại quân xâm lăng bằng quân sự. Cho nên chúng ta chỉ còn có một thái độ. Thái độ của chúng ta là yêu cầu và nhất định chống lại, không cho khai thác bauxite.

-- Và bây giờ chúng ta chống lại việc tiêu thụ hàng hóa của Trung cộng. Tại sao chúng ta lại chống lại cái đó? Không phải dân tộc ta có một chủ nghĩa hẹp hòi, chống lại dân tộc Trung Hoa. Không! Hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam rất là thân thương với nhau đã nhiều đời nhiều kiếp, nhưng CHÚNG TA CHỐNG LẠI SỰ HÁN HOÁ!

-- Cái việc Hán hóa đó, cái việc xâm lược đó, một đế quốc Trung cộng đang bành trướng với chủ nghiã xâm lược đó, thì chúng ta thấy nó rất nguy hiểm! Chúng ta nhìn thấy cái ý đồ xâm lược của Bắc Kinh đã rất rõ ràng rồi.

-- Khi chúng ta lên tiếng như vậy, nhiều nhà trí thức phản đối như vậy, thì tòa đại sứ Trung cộng, mà tôi gọi là thái thú thời nay, đã hạ lệnh cho ra quyết nghị 97 để cấm, cấm, và cấm không cho tất cả những tổ chức khoa học tổ chức công nghệ không được có ý kiến phản biện về đường lối, về chủ trương về chính sách của đảng cộng sản !

-- Do đó cho nên họ (Trung cộng) muốn bịt miệng tất cả những người ở trong nước, để họ sẵn sàng xâm lược nước ta! Và trong khi đó đảng cộng sản Việt Nam lại tiếp tay, làm tay sai cho đế quốc xâm lược Bắc Kinh!

-- Cũng chính vì vậy, những ngày gần đây, ở trên vùng cao nguyên, chúng ta thấy những đường phố đã được viết ra bằng tiếng Hoa! Rồi những người dân Trung Hoa đến đó định cư, lập nghiệp, và ở lại đó để khai thác bauxite! Họ không cần giấy nhập cảnh hay giấy passport, hay là một cái khế ước hay điều kiện gì với Bộ Lao Động Việt Nam!


Khai thác Bauxite


-- Họ đến và họ đi như đất đai riêng của họ thôi! Và họ còn có quyền ở lại nữa, và lấy vợ Việt Nam nữa! Chúng ta nhìn thấy từ cách sinh sống của họ đang định cư trong vùng ấy, thì quả tình chúng ta thấy ý đồ xâm lược đã hiện ra rất rõ ràng rồi!

-- Bây giờ chúng ta nhìn ra các hải đảo: thì chúng ta thấy những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị cướp hẳn rồi! Gần đây có mấy con tàu chiến lớn của Trung cộng đã cập bến Hoàng Sa và Trường Sa. Rồi những cuộc không tập ở Hoàng Sa và Trường Sa đã xảy ra. Những cuộc tập nhảy dù và đổ bộ, và bảo vệ đảo cũng đã được tập.

-- Họ cho đó là những hòn đảo của họ, là biên cương của nước Trung Hoa cộng sản! Cái khẩu hiệu mà cấp chỉ huy của họ chỉ thị cho quân lính của họ ở đó được nghe, đã được công khai truyền ra bằng cửa miệng của cấp chỉ huy lính Trung Cộng ở đó, là họ phải bảo vệ lãnh thổ và biên cương của người Trung Hoa !

-- Thưa đồng bào và thưa quý vị, đó là một điều rất tủi nhục cho đất nước ta. Chúng ta không thể ngồi yên được! Chúng ta không có quân sự, chúng ta không đủ sức, và chúng ta cũng chưa xuống đường một cách công khai bởi vì chúng sẽ áp dụng ngay cái kế hoạch Thiên An Môn để đàn áp chúng ta, như đang đàn áp các nhà dân chủ Việt Nam.

-- Vì vậy chúng ta không cho chúng cơ hội để đàn áp chúng ta. Chúng ta chỉ có một thái độ, thái độ ấy không có gì nguy hiểm hết, là hễ nhìn thấy hàng hoá Trung cộng là chúng ta không mua! Từ chối không mua hàng hoá Trung cộng! Vì chính họ đã bóc lột nhân dân nước họ! Những người cùng dân tộc Trung Hoa với họ mà họ cũng không thương!

-- Biết những đồ hàng của Trung cộngkhông những có nhiều chất độc, nhiều hoá chất hại cho con nít đã đành, mà còn hại cho cả người lớn. Thậm chí gần đây, những cái đủa mà người ta ngâm vào thuốc hoá học để rồi trở thành những cái măng để bán rẻ cho chúng ta ăn! Hoặc giả là những chai xì dầu mà được làm bằng tóc người ta, nhất là tóc những bệnh nhân nan y khó trị ở trong nhà thương! Hoặc trong những xác đã chết! Mà còn lấy ra để làm thức ăn!

-- Những sự đau đớn nguy khốn như vậy! Không những vì những chất độc, hoá chất trong đồ ăn đồ chơi đồ dùng của người Trung Cộng chế ra, khổ nổi, nó còn làm cho hàng hoá Việt Nam không thể sản xuất được! Một đất nước mà không có sản xuất, một đất nước mà không có nền thương mại nền kỹ nghệ phát triển được, thì chỉ đi tiêu thụ những hàng của người khác, mà giá rất rẻ!

-- Ở Trung Quốc, thì buồn cười là có những món hàng mà chúng tôi nghiên cứu thấy, thí dụ như 9 đồng hay 9000 chẳng hạn, thì ở Việt Nam chỉ có 3 đồng, hoặc là 3000 tùy theo hối xuất. Do vậy, chúng tôi thấy họ bóc lột, hy sinh cả đời sống con nít của họ, nông phu của họ! 750 triệu nhà nông Trung Hoa đã đói khát khổ sở để sản xuất thực phẩm để họ đem đi bán rẻ, để mà bành trướng đế quốc xâm lược của họ! Và tiêu huỷ nền kinh tế của nước ta!

-- Cho nên chúng ta không thể nào hoàn toàn tin tưởng vào họ được! Chắc là quý vị còn nhớ, trước đây, họ muốn tiêu diệt rừng Quế của chúng ta ở Thanh Hóa! Họ không mua Quế mà họ đi mua rễ Quế! Họ mua rễ Quế để làm gì? Để cho chúng ta có những người tham lam ban đêm ra đào trộm rễ Quế, để chết hết rừng Quế! Như vậy rất là nguy hiểm! Có một độ, chúng ta thấy họ mua tất cả những con rắn độc, để làm gì? Để những con ấy không còn ăn chuột được nữa, và chuột phát sinh ra để phá hoại mùa màng của chúng ta!

-- Kỳ trước, chúng tôi đã thưa về sự độc hại của bauxite và chương trình họ cướp nước của chúng ta, không cần đến súng đạn trong giai đoạn đầu. Thế thì, kỳ này, chúng tôi đã thưa về việc chúng ta nên tẩy chay hàng hoá của Trung cộng.

-- Chúng tôi có một người chuyên viên, họ góp ý cho chúng tôi là mỗi hàng hoá có dán dấu điện tử (bar codes) mà nếu cọ sát vào máy computer thì nó hiện lên hàng hoá. Bên dưới cái mác computer dán hàng hoá đó có một hàng số dài. Mỗi quốc gia có 3 số đầu, làm ở quốc gia nào thì nó hiện rõ.


Nếu ba số đầu là 690, 691 or 692: Made in China
Nếu ba số đầu là 471: Made in Taiwan


-- Chúng ta không tẩy chay hàng hoá của Đài Loan. Nhìn số đó, chúng ta khó biết, nhưng những số đầu bên dưới những gạch dọc màu đen cho máy computer đo giá, những số nào mang số 690, bắt đầu bằng 691, bằng 692. Ba số ấy, Trung cộng mà muốn xuất cảng món hàng gì đem đi xuất ngoại thì bắt buộc phải để ba cái số này ở đầu. Đó là luật thương mại quốc tế. Chính vì vậy mà chúng ta biết những hàng nào là hàng Trung cộng, thì chúng ta không mua.

-- Đối với nhân dân Trung Hoa, chúng ta vẫn coi nhau như họ hàng anh em, vì nhiều người Trung Hoa đã từng đến ở nước Việt nhiều đời nhiều thế hệ và thành ra người Việt. Nhưng không phải tất cả người Việt đến từ Trung cộng. Do đó chúng tôi góp ý kiến là tẩy chay hàng hoá Trung cộng.

-- Cụ Quảng Độ thì gọi là "không dùng hàng hoá của Trung cộng", nhưng mà tôi xin đổi cho rõ ràng là: tẩy chay hàng hoá của Trung Cộng, cho đến khi nào mà Bắc Kinh từ bỏ hẳn mộng xâm lược và chiếm nước ta như đã chiếm Tây Tạng và chiếm Tân Cương!


Giải phóng Tây Tạng



-- Tổ Tiên chúng ta đã có mấy nghìn năm, thưa quý ngài và quý vị, đã có mấy nghìn năm kinh nghiệm rồi với họa xâm lăng từ Bắc Kinh!

-- Cho đến bây giờ, trước nạn nguy khốn như thế này của đất nước Việt Nam, thì có nhiều người nghĩ quá ư mơ mộng chắc rằng quốc tế họ chẳng để chúng ta chết. Đúng như vậy, quốc tế có thể không để chúng ta chết, nhưng mà chúng ta cứ chết đuối ở dưới đáy sông mà không đưa tay lên, thì ai biết mình đang chết đuối mà cứu? Nếu chúng ta chỉ cứ thụ động mà chấp nhận cái gì của đảng cộng sản Việt Nam đưa ra, chấp nhận những gì của đảng cộng sản Trung Hoa đưa ra, thì thật là nguy khốn! Không ai cứu được chúng ta cả!

-- Chúng ta cũng đừng bao giờ chờ những giải pháp hoàn toàn của quốc tế để giúp ta. Có thể có, và đã có đang có đấy, nhưng mà thực lực của chúng ta là phải có thái độ biết giữ đất nước lãnh thổ, nền văn minh, Tổ Quốc của chúng ta! Thì người khác mới cứu chúng ta được!

-- Thế chúng tôi hôm nay chỉ góp ý kiến cùng quý ngài quý vị, nhất là chúng tôi nghĩ đến các anh em thanh niên ở trong nước. Chắc chắn rằng đã qua thời kỳ hậu chiến, và các anh em đã có ý thức rõ ràng về cả một thế hệ chúng ta đang cần phải giữ gìn Tổ Quốc. Quan trọng, cẩn thận, như là giữ con ngươi ở trong con mắt vậy!












-- Vì vậy tôi đề nghị với anh em là chúng ta hãy tỉnh táo, và muôn người như một, rèn chí, để noi gương Lý Thường Kiệt, noi gương Trần Hưng Đạo, noi gương Nguyễn Trãi, và noi gương nhiều thế hệ anh hùng dân tộc. Để mà GIỮ NƯỚC. Đừng để ngày hôm nay mai một những công đức của Tổ Tiên.

-- ĐỪNG BAO GIỜ TIN VÀO NHỮNG LỜI HỨA HẸN CỦA CỘNG SẢN CẢ! Nhất định không tin! Họ cởi mở cũng chỉ là giai đoạn thôi. Chấm dứt ngay việc khai thác bauxite! Và chúng ta nhất định không dùng hàng hoá của Trung Cộng để tỏ thái độ của chúng ta!

-- Phải bảo vệ Tổ Quốc!

Bảo vệ Lãnh Thổ của chúng ta!

Chúng tôi xin cám ơn

và kính chào quý liệt vị.

Pháp Sư Giác Đức

Tổng Uỷ Viên Kế Hoạch

Văn Phòng II Viện Hóa Đạo,

Phó Chủ Tịch Điều Hành,

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.


Để yểm trợ đồng bào quốc nội đấu tranh cứu nước, giải thể chế độ Việt Cộng và đánh đuổi Trung Cộng, chúng tôi sẽ lần lượt chuyển đến quý vị và các bạn ở Việt Nam một số AUDIO chọn lọc từ Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản ở Hải Ngoại-- với những nhận định tình hình và
tâm tình
với quý đồng bào thân thương ở Việt Nam.


Kính nhờ quý vị giúp phổ biến các audio-link + các bài Tâm Tình rộng rãi cho Việt Nam qua Emails, Websites, Blogs, Paltalk, Radio, Internet, E-groups, báo chí... Trân trọng cảm tạ quý vị tiếp tay yểm trợ việc "chuyển lửa".


KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN TẠI VIỆT NAM

www.freevietnews.com/audio


Pháp Sư Giác Đức: Phải bảo vệ Tổ Quốc, Bảo vệ Lãnh Thổ của Chúng ta!
Tiến sĩ Mai Thanh Truyết: Suy nghĩ về sự kiện phi nhân bản ở Thái Hà
Hành giả Minh Hiền: Mỗi Chúng ta có trách nhiệm về sự Hưng Vong của Dân Tộc
Cờ Vàng: Đảng VC chủ trương "sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi" !
Tiến sĩ Nguyễn văn Canh: Đảng CSVN là thái thú của Trung Cộng đang thực thi đường lối của nhà Hán!
Tiến sĩ Hà văn Hải: Cộng sản Việt Nam phải bị giải thể!
Sinh Viên Yêu Nước--- audio nhạc Lê Huy Phong
Nguyễn Chí Thiện: Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị Đảng VC đáng bị treo cổ vì tội ác diệt chủng
Hòa Thượng Thích Quảng Độ: Cội Tùng Trước Gió
Nguyên Dung: Các Bạn ơi, Phải Dứt Điểm Chế Độ Này!
40 Bài Ca Sinh Hoạt vui tươi cho Thanh Thiếu Niên -- Collection01
32 Bài Ca Sinh Hoạt vui tươi cho Thanh Thiếu Niên -- Collection02
Audio Paltalk phòng "8406": Chủ Nhật 7:00pm mỗi tối giờ California
Việt Cộng ngang nhiên cướp Trường Giáo Lý Loan Lý (Huế)
Lm Phan văn Lợi: Tôn giáo trong dòng sinh mệnh Dân Tộc
Mặc Giao: Con Đường tìm Công Lý chưa kết thúc
Gs Nguyễn văn Canh: Những hành vi của Việt Cộng trái với quy định quốc tế
Ts Mai Thanh Truyết: Đồng loạt đứng lên giành lại Đất Nước Việt Nam!
Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Bài Giảng của Lm Nguyễn Văn Khải: Sự Câm Điếc về Nhân Cách và Tâm Linh
Mặc Giao: Bước đường cùng của Cộng sản Việt Nam
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận: Con có Một Tổ Quốc
Thông Bạch Vu Lan 8/2009 + Radio Phật Giáo + www.queme.net
HT Thích Thắng Hoan: Đức Phật giải phóng sự nô lệ con người
Ts Lâm Lễ Trinh: Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Cụ Nguyễn Kim Như: Cuộc đọ sức giữa giáo dân và bạo quyền Việt Cộng
Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa (audio)
Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư (Lý Thường Kiệt)
Thái bình nghi nỗ lực (Tướng Trần Quang Khải)
Chu Tất Tiến: Trận Chiến cho Công Lý và Công Bằng
Chính Khí Việt của Lý Đông A, nữ sĩ Ngân Giang diễn ngâm
Thư Chung: Đức Giám Mục Cao Đình Thuyên 17-8-2009
Lm AnPhong Trần Đức Phương: Công Lý sẽ thắng gian tà! Chí kiên cường sẽ thắng bạo lực !
Cổ ngữ: vinh danh những anh hùng anh thư dấn thân hy sinh cho Tổ Quốc và Dân tộc
Bình Ngô Đại Cáo (audio diễn ngâm)
Tiến sĩ Hà văn Hải: Hãy đòi trả Tự Do cho Lm Nguyễn Văn Lý, Ls Lê Thị Công Nhân và các chiến sĩ nhân quyền ở Việt Nam
Gs Nguyễn Thanh Liêm & Gs Lưu Trung Khảo: Chính sách giáo dục thất bại ở XHCN Việt Nam
TT Thích Giác Đẳng: Bao giờ chúng ta đứng dậy vì sự an nguy của dân tộc?
Mục sư Trần Thanh Vân: Quý vị đừng lo sợ, đừng lùi bước (29-9-2008)
Lm Nguyễn văn Khải trò chuyện thăm hỏi anh Phêrô Mai Lòng 24 tuổi
Gs Nguyễn Lý Tưởng: Tam Tòa anh hùng, đoàn kết, cương quyết, sẳn sàng tử đạo!
Lm Nguyễn Uy Sĩ: Chúng ta luôn cầu nguyện hỗ trợ quê nhà (26.9.2008)
DGM Mai Thanh Lương: Chúng Ta là những Người HỮU THẦN
Trần Phong Vũ: Tam Tòa đang đi vào những trang Sử hào hùng rực sáng !
14 audio đồng bào hải ngoại gởi tâm tình hiệp thông đồng bào Thái Hà
20 audio Paltalk yểm trợ Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam
21 AUDIO tâm tình và nhận định về sự kiện Việt Cộng bắt giam tù Linh mục Nguyễn Văn Lý cùng các chiến sĩ Khối 8406
7 audio Paltalk: Ts Nguyễn Đình Thắng + Gs Nguyễn Quốc Khải
Gs Nguyễn Lý Tưởng: Tư cách hiên ngang anh hùng của Cha Lý
HT Thích Vân Đàm: Lịch sử đã điểm!
78 năm Ngày Tang Yên Bái, tưởng niệm Nguyễn Thái Học và 12 Liệt Sĩ của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Tiến sĩ Maran Turner: FREEDOM NOW và sứ mệnh giải cứu các Tù Nhân Lương tâm
Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: Tưởng niệm Tháng Tư Đen
8 AUDIO tâm tình gởi đồng bào quốc nội --Tháng Năm 2009
Gs Lê Hồng: Hãy biểu tình, rỉ tai, biên thơ rơi, truyền bá!
Nguyên Trần: Bọn vô thần cắt xương thịt cha ông, đem dâng hiến cho kẻ thù phương bắc!
Cụ Phan Vỹ: Không còn cách nào khác hơn là phải vùng lên lật đổ đám cộng sản!
Giáo sư Nguyễn Văn Canh: Những hành vi của Việt Cộng trái với quy định quốc tế
HT Thích Chánh Lạc: Hãy cùng nhau đứng lên dẹp tan giặc cộng!
Gs Nguyễn Lý Tưởng: "Ai gieo trong đau thương, sẽ gặt trong vui mừng" !
Mặc Giao: Sức Mạnh của Tôn Giáo (Paltalk 5/24/2008)
5 audio Paltalk: Nghị Quyết 36, Văn học VN, Nhân Quyền
Lm Nguyên Thanh: Dân Việt dưới Gông Cùm Cộng Sản
Đỗ Minh Đức: Việt Nam Trong Tim Tôi
Nguyễn Chí Thiện: Tự Do Ngôn Luận là linh hồn của mọi thứ Tự Do !
Đặng Tấn Hậu: Chấm điểm các việc làm của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam
HT Thích Thiện Tâm: Tây Nguyên là Yết Hầu của Việt Nam !
Pháp sư Giác Đức: Họ là những người đốt nhà!
Mặc Giao: Kỷ niệm 30 tháng 4 để xây dựng lại Quê Hương Việt Nam
18 AUDIO Tâm Tình cùng Đồng Bào quốc nội về vấn đề Bauxite và hiểm họa Giặc Tàu Cộng tiến chiến Việt Nam và đô hộ Dân Việt
Gs Nguyễn Lý Tưởng: Chúng ta tin tưởng vào Sức Mạnh Tinh Thần !
Linh mục An Phong Trần Đức Phương: Luôn Kiên Cường giữ vững Niềm Tin và Can Đảm !
Trần Phong Vũ: Chôn Sự Thật và Công Lý là họ chôn chính Chúa chúng ta!
Cụ Phan Vỹ: Cầu Nguyện là Vũ Khi'!
14 AUDIO Tâm Tình từ đồng bào hải ngoại yểm trợ Giáo xứ THÁI HÀ
Đức Ông Phạm Xuân Thắng: Họ sống cuộc đời quả cảm và thánh thiện dường nào!
DGM Mai Thanh Lương: Hãy kiên trì hợp lời cầu nguyện với Giáo xứ Thái Hà
Học giả Vũ Hữu San: Mất Biển Ðông là Mất Nước đó !
Lm Nguyễn Uy Sĩ: Chúng ta luôn cầu nguyện hỗ trợ Quê Nhà
AUDIO Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô Khó Khăn
Các bản nhạc Sinh Hoạt Ca, Hùng Ca, Cộng Ðồng Ca
Giáo sư Lưu Trung Khảo điểm sách "Cội Tùng Trước Gió"
Trần Phong Vũ điểm sách Tô Hải: Hồi Ký của Một Thằng Hèn


***

BÙI TÍN * CHÍNH LUẬN

**

Xin Bạn chớ lầm lẫn vì nhẹ dạ

Sắp diễn ra cuộc họp mặt của người Việt ở nước ngoài với chính quyền trong nước. Trong nước quảng cáo rất là rùm beng cho cuộc họp này, sẽ có hơn 1 ngàn người tham dự, bà con khắp năm châu đổ về, bàn chuyện xây dựng đất nước, từ đây cả nước sẽ trong ngoài đại đoàn kết, chung tài chung sức, chung tiền của, chất xám xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh...

Một số bạn tôi từ Pháp, Mỹ, Úc, Đông Âu email và gọi điện cho tôi hỏi ý kiến về chuyện này. Tôi đã trả lời từng bạn một. Nay xin có ý kiến với đông đảo các bạn đã quen và chưa quen, mong sẽ có ích cho nhiều người.

Xin bạn trước hết hãy suy nghĩ bằng đầu óc tỉnh táo của chính mình.

Tại sao chính quyền độc đảng trong nước phải chờ đến năm nay 2009, - hơn 34 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, để triệu tập một cuộc họp đông đảo bà con hải ngoại về thủ đô Hànội dự cuộc họp này? Ngay từ sau 30-4-1975 đã có ý kiến có cuộc họp rộng rãi giữa đại diện nhân dân cả nước ở miền Bắc và miền Nam, giữa người Việt trong và ngoài nước, để bàn chuyện thống nhất dân tộc cả về địa lý, chính trị và tình cảm, hoà giải hoà hợp dân tộc thật sự, nhưng ý kiến xây dựng này đã bị bỏ qua. Thay vào đó là chính sách trừng phạt, tù đày, kỳ thị, phân biệt đối xử...Với những hậu quả, tổn thất kinh hoàng cho cả người bỏ nước - thuyền nhân và cho bà con trong nước. Lãng phí hơn 34 năm thời gian của toàn dân tộc, vì đâu ? Ai gây nên nông nỗi này ? Để đến nay vẫn còn chưa hòa hợp thật sự.

Chính quyền trong nước triệu tập, mời bà con hải ngoại về họp có quan điểm thật sự bình đẳng với họ hay không ? Hiến pháp hiện hành ghi rõ mọi công dân bình đẳng trước pháp luật. Hay là vẫn giữ thái độ và tâm lý kẻ cả, người thắng trận, ban ơn, vẫn theo thói trịch thượng, giảng dạy, huấn thị, rồi phân phát lời khen, ban phát bổng lộc, bằng khen, huân chương, chiêu đãi thịnh sọan, thoả mãn những ước muốn thấp hèn của con người.

Trên quan điểm bình đẳng ngay thật, nhà cầm quyền có sẵn sàng tiếp nhận chân thành những ý kiến, nhận xét, kiến nghị xây dựng của bà con ta, có trả lời ngay thật mọi câu hỏi, chất vấn, vướng mắc của mọi người hay không. Thế mới là tình anh chị em ruột thịt, nghĩa đồng bào gắn bó với nhau, tôn trọng, bình đẳng với nhau, thương yêu xây dựng cho nhau. Hay là lại che dấu, tránh né, nguỵ biện, đạo đức giả theo kiểu mờ ám, đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại.

Họ có đủ lương thiện và trung thực để trả lời minh bạch về các vụ án Tổng cục II,

Sáu Sứ, Năm Châu, về vụ án "Xét lại chống đảng", vụ tướng Chu Văn Tấn người dân tộc Tày bị đày đọa đến chết, hay rất gần đây là vụ trừng phạt những thanh niên yêu nước biểu tình hòa bình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung quốc với biểu ngữ "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt nam ", vụ bức tử Viện IDS bằng quyết định 97, cấm phản biện công khai, hay vụ đình chỉ mạng "Tia Sáng" của bộ Khoa học và công nghệ, vụ một mực khai thác Bôxít ở Tây nguyên bất chấp can ngăn của các nhà khoa học am hiểu, và quan trọng nhất là vấn đề bảo vệ từng tấc đất của Tổ tiên để lại và bảo vệ ngư dân trên lãnh hải quốc gia.

Chỉ có giải đáp những băn khoăn vướng mắc trên đây một cách rõ ràng minh bạch, nhà cầm quyền mới khôi phục được niềm tin và những kêu gọi bà con hải ngoại góp công sức và chất xám xây dựng Tổ quốc mới được đáp ứng đầy đủ.

Xin các bạn chớ lầm lẫn ở một số điểm quan trọng dưới đây :

1-/ Phải chăng đảng cộng sản hiện nay không còn như trước kia nữa; đảng này không còn chất cộng sản, đã mang chất tư bản nói chung rồi, nên chống cộng là chuyện không còn cần thiết và thích hợp. Do đó thành tích xây dựng đất nước hiện tại là rất lớn, là đúng hướng, cần ủng hộ.

Sai ! Không đúng sự thật ! Đảng CS có điều chỉnh chính sách kinh tế, có cho tư nhân kinh doanh, có khuyến khích làm giàu, dân có nhiều quyền tự do gần như dân các quốc gia láng giềng như mở công ty, buôn bán, đi lại, xuất nhập, du lịch, du học... nhưng đó chỉ là những thay đổi bộ phận. Cái cốt lõi cộng sản còn nguyên vẹn, đó là chế độ độc quyền chính trị, duy nhất một đảng, một mình một chiếu, nắm trọn cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nắm trọn các lực lượng chuyên chính là quân đội, công an, cảnh sát, nhà tù, toà án ... Biểu hiện tập trung của chế độ quyền lực độc đoán vô tận ấy là bộ chính trị đảng CS 14 người không do dân bầu, nắm trọn quyền sinh, quyền sát của cả dân tộc, của mỗi công dân.

Hai khái niệm dân chủbình đẳng là 2 khái niệm giả dối nhất, mỉa mai nhất dưới chính quyền cộng sản. Độc đóanđàn áp tuỳ tiện, coi dân chủ bình đẳng là thù địch, là nguy cơ, chính là đặc trưng cơ bản bất biến của chế độ cộng sản, từ khi đảng CS nắm chính quyền cho đến nay.

2./ Phải chăng kinh tế và đời sống nhân dân ta đang phát triển tốt đẹp ? Về kinh tế, tuy chính quyền cộng sản đề ra nhiều thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể, tư nhân, bình đẳng (!) với nhau, nhưng trên thực tế kinh tế quốc doanh vẫn nắm quyền chủ đạo, bao trùm, mặc dù phần lớn đều có vốn cực lớn, thua lỗ nặng, nợ lớn không trả nổi, trở thành một gánh nặng, một u bướu kinh niên cho nền kinh tế - tài chính quốc gia. Đến nay sau khi những tập đoàn quốc doanh đã tỏ ra yếu kém, không sinh lợi, họ lại đang lập ra những tập đoàn kinh tế tài chính khổng lồ để độc chiếm thị trường-hàng hóa-kinh doanh-xuất nhập-dịch vụ-tài chính-tiền tệ-chứng khoán. Do đó phát triển kinh tế và đời sống nhân dân còn rất xa dưới tiềm năng của đất nước. Không thể nào "ra khơi" hay "bay cao" khi kinh tế bị gò bó, ngân sách bị xà xẻo lớn, công nghệ chậm tiến, giáo dục trì trệ như hiên nay.

Không phải ngẫu nhiên mà mấy năm gần đây đoàn chuyên gia của Đại học Harvard cố vấn cho thủ tướng Hànội đã nói thẳng ra rằng đã đến lúc (tuy là quá muộn !) cần đổi mới đồng bộ, cả hệ thống chính trị, đổi mới cả nền tảng của một chế độ đã lỗi thời. Chỉ cần 2 điều quá đơn giản mà then chốt là :

- cho tư nhân làm kinh tế tự do, không hạn chế, cho tư nhân lập cả những công ty, tập đoàn lớn theo đúng pháp luật; giải thể các tập đoàn quốc doanh quan liêu, nặng nề, cổ lỗ, ăn bám, chuyên trốn thuế, nợ thuế, tham nhũng, lạc hậu ;

- cho công dân được có lá phiếu tự do chọn người thay mặt mình để cầm quyền từ cơ sở đến trung ương, trên nền tảng tự do lập hội và tự do tranh cử.

Hiến pháp hiện hành hoàn toàn cho phép 2 điều trên đây. Chính đảng CS đã khôn ngoan, phải nói là ngoan cố hạn chế các quyền ấy bằng những luật lệ vi hiến.

Tại sao 2 điều đơn giản trên đây, Thái lan đã có, Nam Dương cũng có sau nền độc tài Suharto, Philipin có được sau nền độc tài Marcos, Nam Hàn cũng dành được sau nền độc tài Pắc Chung Hy, Đài loan cũng xây dựng nền dân chủ đa đảng trong ổ định sau nền độc đoán Tưởng Giới Thạch ... mà ta thì lại thế này !!!

Xin ghi nhớ những thống kê quốc tế của Liên Hợp Quốc : Thu nhập bình quân vào loại nghèo nhất châu Á và thế giới (760 đôla/năm); quyền tự do dân chủ của người dân, đứng thứ 167 trên 176 nước; quyền tự do báo chí và tự do internet: thuộc loại 10 nước cuối cùng. Bộ chính trị có bao giờ nhận ra vì sao một dân tộc bất khuất, tinh anh, từng tự nhận là tiền phong, lại hoá ra lạc hậu, đang ở vị trí đèn đỏ của châu Á và thế giới. Người Việt nam yêu nước nào lại không tủi hổ về hiện tình đất nước, chênh lêch giàu - nghèo mở rộng, tham nhũng hoành hành, báo chí bị chăn dắt và bịt miệng, trí thức chân chính bị đàn áp vu cáo để vô hiệu hoá.

Mong các bạn đã về dự họp hay từng phân vân có nên về nước dự hay không, cũng như các bạn đang theo dõi cuộc họp " lớn " này hãy tiếp nhận vài ý kiến thô thiển nhưng chân thực và ngay thẳng của tôi, một người từng ở trong đảng CS hơn 40 năm trời, nhưng đã vỡ mộng, trở thành nhà báo tự do không một tham vọng chính trị, sống trên đất Pháp, để có thể cất tiếng nói ngay thật của mình, hầu chuyện bà con ruột thịt trong và ngoài nước, từ đó mong có ích đôi chút cho quê hương, Tổ quốc và nhân dân ta.

Xin đa tạ.

Bùi Tín Paris 20-11-2009.

**

HẠ TRI CHƯƠNG * HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

LTS

Yêu quê hương, lòng hoài hương là một đề tài chung trong văn chương thế giới. Nhất là những kẻ phải bỏ quê hương ra đi tìm tự do thì lòng hoài hương càng mạnh. Bài thơ của Hạ Tri Chương được nhiều người dịch và bình luận. Chúng tôi xin phép đưọc tập hợp vào trang này để bạn đọc thưởng thức một bài thơ hay và hiểu tâm trạng của kẻ hồi hương.

Sơn Trung
**

TIỂU SỬ HẠ TRI CHƯƠNG

Hạ Tri Chương (chữ Hán: 賀知章; 659 - 744), tự Quý Chân, khi từ quan về làng tự xưng là Cuồng khách, là nhà thơ đời Đường, người Cối Kê, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc[

Đời Đường Trung Tông, Hạ Tri Chương đỗ tiến sĩ vào năm 684, được bổ làm Thái thường bác sĩ. Trong thời Khai nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.

Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: "Ở vào thời Sơ Đường, thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái." [2] Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại 20 bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất. (WIKIPEDIA)

***

LAIQUANGNAM







Hạ Tri Chương



(賀 知 章)


1. Hạ Tri Chương là người Quảng?

Có một ông thi sĩ già tên là Chương, tên đầy đủ của ông là Hạ Tri Chương. Ông nói giọng Quảng khá nặng dù trong tiếng nói có đôi chút lơ lớ. Ông ra đi đã rất lâu, không ai biết vì lý do gì, nay cuối đời tìm về thăm quê nhà. Có ba bài thơ tường thuật chuyến về này, đời sau nay còn lưu giữ. Ông còn nhớ như in cái lần ngoái nhìn quê hương lần cuối trên bước đường “?” ; bây giờ “?” là “nửa muốn nhớ, nửa muốn quên” …

Tiễn người hoa lá vấn vương,

Đồng hoa nội cỏ ủ hương… nhớ người!






P I

Bài thứ nhất



Trở lại quê xưa …

Nội dung là bối cảnh làm động lòng của người ly khách (ông già Chương) trên bước đường trở lại quê nhà, xứ Quảng thân thương của mình, nỗi buồn xa quê đã lâu của người ly khách tự kể ở câu 1, và cuối cùng là tâm trạng của ông thay đổi theo từng phút giây đối mặt với người tưởng chừng đã quên. Bài này có lẽ do người dẫn truyện tường thuật, đang là người đồng hương thuộc thế hệ sau ông.


-o0o0-



Hồi hương ngẫu thư kỳ 1



1a) Nguyên tác



回鄉偶書其一

少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛摧1。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。


1b) Phiên âm



Hồi hương ngẫu thư kỳ 1

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiếu vấn :” khách tòng hà xứ lai”.



1c) Chú vài từ và tạm dịch nghĩa

(nntc), viết tắt của cụm “ngữ nghĩa như trong chữ …”



ngẫu (nntc) ngẫu hứng;

thư là ghi chép;

cải [改 ] là đổi, (nntc) cải thiện,cải cách ;

mấn là tóc;

tồi [摧 ] là rụng sạch, (nntc) tồi tàn;

tòng là từ đâu ra;

hà là sao, vậy.



Tạm dịch tiêu đề “Ghi chép ngẫu hứng trên đường hồi hương” .



1d) Dịch thơ quốc âm :



Hồi hương ngẫu thư

Tạm dịch :



“ghi chép ngẫu hứng khi tìm về làng xưa”.

1..Đi khá trẻ, về khá già !

2. Giọng quê nào đổi, bạc đà hơn râm.

3. Trẻ con bu lại hà rầm,

4. Rằng:“ Ông mô đến, hay lầm chỗ ni” ?

5. Hỉ .?

6. Hì! hì!.... Hì! Hì! Hì!



laiquangnam dịch



Theo người Đông phương, ai gắp được niềm hạnh phúc là những người “hạnh phúc“. Hạnh phúc đâu xa, “nó” đôi khi hiện ra trước mặt mình trong một phút giây bất chợt, khi ta trải lòng có lẽ dễ gặp hơn. Găm phiền não càng khó gặp lắm. Xin hãy xả lòng để cơ duyên có cửa “chui vào “ ...



1. Nắng hạn gặp mưa rào

2. Đất khách gặp người quen

3. Phòng hoa đêm hợp cẩn

4. Bảng vàng được đề danh



Và đây cũng là niềm hạnh phúc khác cũng theo quan niệm Phương Đông

1. Tha hương gặp đồng hương,

2. Thành đạt về cố hương .

3. Tuổi già không cô độc .



Ông già Chương đang thực hiện hai niềm hạnh phúc cuối :"Thành đạt về cố hương, & tuổi già không sống cô độc“. Người ta nói “về già ra con nít”, lòng mình mà được hồn nhiên phá chấp như con trẻ mới là chân hạnh phúc, cái làm cho mình mau xuống sắc chính là sự dằn vặt về tinh thần do bởi ngoại cảnh hay bởi chính ta.



Ý thơ từng câu :



Câu 1. Đi khá trẻ, về khá già !

Nếu đời người là khỏang cách A_B – 100 năm, lời của người ly khách kể với ta thành A_A’___B’_B, khá trẻ A’ cận dưới A, khá già B’ cận trên B -quãng cách A’__B’ gợi cho ta nghĩ đến một khoảng thời gian xa quê quá lâu. Người dịch không dùng chữ quá già, bởi quá già thì sinh lẩm cẩm, đi đứng chậm lụt, phản ứng chậm chạp, có khi lại bị nặng tai đâm ra mất vui; câu chuyện gồm ba hồi theo ông già̀ gân họ Hạ. Ông già Chương sống rất thọ, đến 85 tuổi tây, hay 86 tuổi ta, lúc ấy ông mới chịu từ giã cuộc chơi.



Câu 2. Giọng quê nào đổi, bạc đà hơn râm,

Sau khi thẩm định, người kể chuyện quả quyết : “Ông già Chương rất xịn. Ông đã giữ tốt tiếng nói của mình, một giọng Quảng khá nặng đặc trưng không sao lầm lẫn được. Đất Quảng có câu “Chưởi cha không bằng pha tiếng “. Ông ngon!. Chính vì vậy mà người dẫn truyện phán ra câu chắc nịch, "nào", Giọng quê nào đổi! (nghĩa là y chang 100%, xịn lắm đó! ).



Câu 3. Trẻ con bu lại hà rầm,

Người kể chuyện (có thể là lời tự hào của chính ông pha vói chút hài lòng), giọng người tường thuật cũng đặc sệt tiếng Quảng, ”trẻ con bu lại hà rầm”, "hà rầm" (là đông đúc, đông dầy, đông đen , ô là là… nhiều ơi là nhiều!), bu (là vây quanh, áp sát). Theo mỗi bước chân của người ly khách đâu đâu cũng là đồng hương.



Câu 4. Rằng: “ Ông mô đến hay lầm chỗ ni” ?

Đám con nít chưa biết giữ ý tứ, gọi ly khách là Ông, thay vì gọi bằng “Khách ” như người đàng ngoài, đám trẻ cùng quê, lại là nhà quê nên ”Ăn cục nói hòn”, “mô đến ?”, “chỗ ni” ; [ chú từ Quảng: mô là đâu, nơi đâu ; ni là chỗ này,]



Câu 5. Hỉ ? & Câu 6. Hì! hì!.... Hì! Hì! Hì!


“Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, Hỉ ? [ chú từ Quảng : Hỉ là làm sao, hỉ ? hàm ý làm ơn lặp lại dùm đi ]. Có lẽ ly khách hơi nặng tai, đã 84 rồi còn gì! Giọng ly khách đã khó nghe? Không biết giữa ông cháu họ đã đối đáp những gì, họ đã nói “cái chi chi” mà thấy họ cười rũ rượi. Hì! hì!.... Hì! Hì! Hì!. Có lẽ lũ trẻ tranh nhau nói, tranh nhau làm tài lanh tài khôn, con nít quê nhà thường như vậy. Thấy vui là xáp lại. Sao bọn trẻ quê Quảng mình dễ thương đến chi lạ! hồn nhiên ơi hồn nhiên !..

- Hì! hì!.... ! này của ai ? và Hì! Hì! Hì! này của ai? Tiếng cười “Hì! Hì! Hì! ” của ông cháu họ vang lên sặc trong không gian nồng mùi cỏ dại của làng mạc xứ Quảng, hòa lẫn trong tiếng xào xạc của lũy tre xanh. Họ cùng ngồi bệt xuống thảm cỏ, đúng là

Tiễn người hoa lá vấn vương,

Đồng hoa nội cỏ ủ hương… nhớ người!

Quá lâu, đến tận bây giờ mùi hương quê nhà mới chịu nhả ra để sưởi ấm lòng người ly khách.






P II
Bài thứ hai



Hạ Tri Chương

Xin kể tiếp cuộc hành trình.



Sau khi gặp đám trẻ nói trên, vài hôm sau ông đi tìm gặp ngay bè bạn lớp trước. Lớp bạn học, lớp bạn thời còn đổ nước bắt dế, thời còn xúc cá ngoài ao hay bẻ trộm mía, nhổ trộm khoai lang trên đường đi học về, tụi bạn cắc cớ hay kêu tên cha mình mỗi khi gặp mặt mình đâu đó mà mình không hề có chút giận hờn. Tâm tình trăm mối.



-o0o0-



Hồi hương ngẫu thư kỳ 2


2.1) Nguyên tác



回鄉偶書其二

離別家鄉歲月多,
近來人事少消磨。
惟有門前鏡湖水,
春風不改舊時波。


2.2.) Phiên âm



Hồi hương ngẫu thư kỳ 2

Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa,

Cận lai nhân sự bán tiêu ma.

Duy hữu môn tiền Kính Hồ thuỷ,

Xuân phong bất cải cựu thì ba.



2.3.) Chú vài từ và tạm dịch nghĩa



tuế nghĩa là năm;

cận lai là gần đây;

Kính Hồ địa danh mà ngày xưa ông đã tham gia cất công chỉ huy đào; hồ Kính nay là hồ nhân tạo được dùng để tích nước tưới ruộng vườn;

cải là thay đổi, (nntc) cải thiện ;

ba là sóng, (nntc) phong ba bão táp.



2.4 ) Dịch thơ quốc âm :

Ly hương tính đã nhiều năm,

Bạn bè chừ điểm còn dăm ba người .

Ngoài song Hồ Kính mười mươi,

Gió xuân y thuở, sóng chừ y xưa !

laiquangnam dịch



Thì ra,….”.lần ngón tay ai còn ai mất” sóng vẫn lăn lăn tăn trên mặt Kính hồ trước nhà. Cảnh vẫn “y sì” như xưa, từ ngọn gió đến con sóng lăn tăn.”Tụi bay đâu rồi! Tau nì! ”. Im lặng!. Âm thầm có một giọt lệ lăn dài trên gò má hóp.

Tôi cố sống để xem Bạn Hiền có cầm được nước mắt khi trở về thăm lại quê nhà. Tôi e bạn sẽ 1trật “dụt” [là “vuột” trong nam ] khi lặng lẽ gắp cộng rau húng Trà Quế, tay thì cầm mãi miếng bánh tráng nướng bẻ tiếng kêu dòn rụm mà mắt cứ để tận đâu đâu, trước mặt bạn một tô mì Quảng vàng rườm, trái ớt nửa xanh nửa tím, lạnh ngắt, nhạt mờ sau làn nước mắt.







P III

Bài thứ ba

Xin mời Khách thơ tiếp tục bám theo bước chân ông đến tận cuối cuộc hành trình.



Ông già Chương sau khi về quê nhà, lớp bạn cũ hoặc đã từ giã cuộc chơi vì tuổi tác hoặc đã ly tán vì thời cuộc quá nửa. Theo dòng đời, Ông cũng có nhu cầu tâm tình, nhu cầu kết bạn chơi đi qua đi lại. Ông khéo quá và hồn nhiên quá.



3.1 ) Nguyên tác



題袁氏別業

主人不相識,
偶坐為林泉。
莫謾愁沽酒,
囊中自有錢。


3.2) Phiên âm



Đề Viên thị biệt nghiệp

Chủ nhân bất tương thức

Ngẫu tọa vị lâm tuyền

Mạc mạn sầu cô tửu

Nang trung tự hữu tiền1



3.3) Chú vài từ và tạm dịch nghĩa

(nntc) viết tắt của cụm “ như ngữ nghĩa trong chữ “



Đề là ghi, là viết, (nntc) đề thơ ;

thị là họ;

Viên là họ của người trong cuộc ;

biệt, (nntc) đặc biệt;

nghiệp,(nntc) cơ nghiệp;

mạn [謾] là lừa dối (lời nói dối) [ mạn có bộ ngôn (言)] (nntc) ;

mạc là đừng;

nang là túi, (nntc) cẩm nang.



Câu 3, “Mạc mạn sầu cô tửu” hàm ý “đừng dối lòng buồn vì uống rượu chỉ có một mình mình“, hàm ý rằng đừng nói buồn vì thiếu bạn rượu, hay đang vì lý do gì khác? cho nên ông sè sẹ đề nghị góp “?”….hóm hỉnh!

Câu 4, 1Nang trung tự hữu tiền, sẵn tiền trong túi; lấy ý từ nhà thơ trong thời Lục triều, bài thơ có viết với ý “một bụng đầy văn chương không bằng một túi sẳn tiền.”. Chí lý!. Có tiền nặng túi lòng người thường rộng mở, họ vào cuộc chơi, mạnh miệng kêu loại rượu ngon nhất mà lòng chẳng hề so đo, họ không hề nghĩ trong đầu rằng ai sẽ trả "độ" này. Càng rất đúng với người ly khách trong cuộc; thì ra “Mạc mạn sầu cô tửu” là vậy sao?


3.4 ) Dịch thơ quốc âm

Đề Viên thị biệt nghiệp, xin tạm dịch nghĩa



“Đề thơ riêng tặng nhà họ Viên”

Tình ta với chú2 chửa thâm,

Ngẫu nhiên cùng ngắm suối lâm râm tình .

Buồn chi! _ uống rượu một mình,

Sẵn tiền trong túi cho mình góp vui !.



lạiquảngnam dịch



2Chú, đừng quên rằng ông già Chương đã hơn 80 (thọ 85 tuổi tây), ông già trên thất thập cổ lai hi hơn một giáp. Với ai ông cũng có thể gọi bằng “chú”, từ rất thân mật, ”chú em“, mà chẳng sợ mích lòng. Đó cũng là cách tiếp cận thân mật với lớp trẻ của người xưa.



-o0o0-



Sự thật :



1. Hạ Tri Chương là người Quảng Đông là bạn vong niên với Lý Bạch.

Bài Hồi hương ngẫu thư kì I được đem vào dạy chương trình lớp 7 bậc PTCS hiện nay nhằm quảng bá dòng thơ cổ văn Trung Quốc. Lớp 7 bây giờ là lớp đệ lục ngày xưa của học sinh miền Nam. Đó là bài chính khóa cùng với bài Tĩnh dạ tư (靜夜思) của Lý Bạch. Chương trình phổ thông hiện nay có 15 bài thơ Đường tại hai cấp lớp 7 và 10, cho cả phần chính khóa và ngoại khóa. Việt Văn Độc Bản của hai cụ Đàm Quang Thiều và Trần trọng San viết cho lớp tú tài I (lớp 11 bây giờ ) của học sinh miền Nam trước 75 chỉ giới thiệu có mỗi một bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, chỉ có dân tú tài ban C, dân văn chương nhà nòi mới được tiếp cận mà thôi, thế mới biết văn chương của lớp trẻ bây giờ được chuẩn bị “thâm lắm ”. Bản dịch Việt văn Hồi hương ngẫu thư kỳ I dành cho học sinh lớp 7 là bản dịch dưới đây do Phạm sĩ Vĩ dịch.



Bản dịch số 01

(bản dịch cho Học sinh lớp 7 phổ thông cơ sở học hiện nay là bản dịch này )



Ngẫu nhiên viết nhân lúc buổi về làng



Khi đi trẻ,lúc về già

Giọng quê vẫn thế tóc đà khác bao

Trẻ con nhìn lạ không chào,

Hỏi rằng : khách ở chỗ nào lại chơi.



Phạm sĩ Vĩ dịch



-o0o0-



Các bản dịch của các tác giả thời danh khác
Bản dịch số 02



Bài thơ khi về làng



Hồi hương, nhớ thuở trẻ ra đi

Tóc rụng nghe còn đúng tiếng quê

Gặp mặt trẻ con cười chẳng biết

Hỏi ta mới ở xứ nào về .



Bùi Khánh Đản dịch,



Bùi Khánh Đản là người dịch thơ Đường rất chuyên nghiệp và nổi tiếng ở miền Nam trước 75, trong khi cụ Trần Trọng San thì dịch nhằm phục vụ công tác dạy chữ Hán tại ĐHVK ,ĐHSP SG.



Bản dịch số 03



Về quê tự dưng viết kỳ 1

Bé đi, già mới về nhà,

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.

Trẻ con trông thấy hững hờ,

Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.



Trần Trọng Kim dịch

Cụ Trần Trọng Kim, dịch thơ đường rất sớm, hầu như cụ dịch gần trọn vẹn bản "Đường thi tam bách thủ" vào năm 1941 khi cụ dưỡng bệnh tại Singapore.



Tiểu sử Hạ Tri Chương

Hạ Tri Chương 賀知章 (659-744), tự Quý Chân, người Quảng Đông, có sách lại chép ông người Chiết giang. Ông đỗ tiến sĩ năm 698. Kiến văn rất rộng, làm quan đến chức Thái Tử Tân Khách Bí Thư Giám. Khi từ quan về nhà, ông sống đời đạo sĩ, lấy tự hiệu là Tứ Sinh Cuồng Khách.

Ngoài tài thơ văn, tiểu thuyết, còn có tài viết chữ thảo, chữ lệ rất đẹp. Tính phóng khoáng, thích uống rượu. Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, lớn hơn Lý Bạch 40 tuổi, Ông chết 86 tuổi. Nhóm thi ca của ông gồm bốn người, gọi là nhóm “Ngô Trung Tứ Sĩ“, gồm 1Hạ Tri Chương,Trương Húc,Trương nhược Hư, & Bao Dung. Trong nhóm ông có Trương nhược Hư với bài “Xuân giang hoa nguyệt dạ”, là một trong hai bài thơ Đường rất được người Nhật yêu thích, bài kia là bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị.



Phần đọc thêm :



01. Bản tiếng Anh, laiquangnam sao lục dành cho thế hệ con, cháu 1,5 ( nóivà hiểu tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt ) của Việt Nam



Bản dịch sang Anh ngữ, của Witter Bynner được dùng tại vài đại học Hoa kỳ

1. I left home young.I return old;

2. Speaking as then, but with hair grown thin;

3. And my children, meeting me, do not know me.

4. They smile and say: "Stranger, where do you come from?"



02. Xem người Tàu bình thơ của tiền nhân họ từ nguyên tác

(trích từ nguồn http://honvietquochoc.com.vn )



Đường thi đại từ điển – Giang Tô Cổ tịch xuất bản xã, 1990, tr.712 mục Hồi hương ngẫu thư, viết: “Hai bài thơ này diệu ở chỗ văn chương khinh khoái, tả người xa quê lâu ngày về rất là chân thành, tha thiết, không cần vẽ vời, tình thú dào dạt. Nhân sự tiêu mòn, Kính hồ như cũ, cảm khái vô hạn, gởi cả vào thơ, tình sâu vị đượm, thực là tác phẩm thượng thừa trong thơ thất tuyệt đời Đường. Toàn bài 1 và 2 câu cuối bài 2 đều được xưa nay truyền tụng là “giai cú” [câu đẹp ].



Đường đại danh gia thi tuyển – Hải Nam xuất bản xã, 1994, tr.67, viết “lâu năm làm khách xa quê, cảm khái tuổi già về lại quê nhà, thấm thía cái bi hoan của nhân sinh, chân thành, tha thiết động lòng người”.



Tân dịch Đường thi tam bách thủ, Tam Dân thư điếm. Đài Bắc 2005, tr.468, viết: “Tùy hứng viết ra ý tứ thơ do việc tác giả xa quê lâu năm, già về quê, kẻ sinh sau không nhận ra mình, lại gọi mình là khách đến làng, cho nên trong thơ cảm khái tự thương tuổi già…, Chỗ hay của bài thơ là bình dị, sáng rõ, dễ cảm, trong lòng ẩn chứa nỗi đau, nghìn năm sau còn làm động lòng người”.



Trung Hoa thiên cổ danh thiên tân biên, Thượng Hải, Phúc Đán đại học xuất bản xã, 2000, tr.37, viết: “Bài thơ ngữ ngôn phác thực, tự thuật sinh động, phong phú ý vị nhân tình… Nói về kỷ xảo, tuy không luyện chữ khắc ý, cũng có sự sắp xếp: thiếu tiểu và lão đại, ly và hồi, hương âm không đổi và tóc mai đã rụng là 3 tổ hợp đối tỉ (…) khiến người ta có cái cảm sâu sắc về biển dâu (thương tang). Hai câu sau của bài lấy từ trong sinh hoạt, là một bức tranh tế vi, từ trong sự vật bình thường hóa thành tuyệt xướng”.



Cổ thi hải (tập thượng). Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1992, tr. 467–468, viết: Bài thơ “thực bao hàm cả ngàn câu vạn lời về cái cảm xúc biển dâu… Trẻ con cười hỏi” đã làm dậy lên trong lòng nhà thơ bao nhiêu ý vị về quê…” Thủ pháp ngụ bi vu tiếu, ngụ thực vu hư (gửi cái bi trong cái cười, gửi cái thực trong cái hư) sức mạnh nghệ thuật thâm trầm, trăm ngàn năm nay không thời nào không làm độc giả động lòng. Hai bài này ý cảnh như đạm mà nồng”.



Đấy là mới để mắt lướt qua một vài tư liệu của Trung Hoa về bài thơ trên .



03. Lời cuối của người viết bài:

Khách thơ đọc tiếng Việt qua dòng lục bát có lẽ thấm hơn so với nguyên tác, liệu có quá chăng? Đọc lời bình của chính người Tàu, Khách thơ cảm nhận được những gì? Riêng laiquangnam chỉ mong cho đồng hương mình, nay đang là người Quảng Nam đóng vai ly khách đêm nay tại xứ người, tìm được chút hơi thở từ quê hương mang lại.

Rằng laiquangnam và bè bạn luôn thương yêu và nghĩ đến các bạn.

Ngàn dặm quê nhà.

Thân ái




-o0o0-



Ghi bên lề của người viết bài

Bài hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương là một bài xuất sắc trong dòng thơ tứ tuyệt của Đường thi, ngôn ngữ tưởng chừng như mộc mạc mà cay đắng.

Ta thử đọc lại hai câu :



Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiếu vấn :” khách tòng hà xứ lai”.



bất tương thức! chẳng hiểu gì nhau, ngậm ngùi! và Tiếu vấn, vừa hỏi vừa cười, phải nghĩ rằng các cháu nhi đồng đang vừa cười vừa hỏi, nên ta thấy lão ông không chấp nhất, lớp người cỡ thiếu niên trở lên “tiếu vấn” có mà ăn đòn. Hóm hỉnh!

Tuy nhiên, khi đọc lại nguyên tác, ta thử dùng các sách do người Việt mình dịch giới thiệu bài này ,ta gặp sự tam sao thất bổn tại câu hai

鄉音無 改 鬢毛 [?]

Hương âm vô cải mấn mao [?]



Chuyện gì vậy ?

鄉音無 改 鬢毛 [?]

Hương âm vô cải, mấn mao [?]



a) Trường hợp 1 : [?] là chữ tồi [ 摧 ] là bẻ gãy, dọn sạch.



01- Trong tập Thơ Đường I, Văn học, Hanoi, 1987, do Nam Trân chủ biên, và tập thể, thì ghi: Hương âm vô cải mấn mao [ tồi ] , nhưng rất tiếc là trong sách chỉ có bản phiên âm mà không có bản chữ Hán đi kèm. Các tư liệu sách giáo khoa của bậc THPT thì đều ghi là Hương âm vô cải mấn mao [ tồi ].



02- Tập Thơ Đường của cụ Trần Trọng Kim, NXB Tân Việt 1950 ghi là tồi [摧]. Tập này cụ TTK dịch trong những ngày lưu trú tại Singapore,1944.



03- Tập Đường thi trích tuyển của cụ Bùi Khánh Đản, được viết lại khá kỹ, NXB Văn học, 2006, có sự giúp đỡ của kiều bào hải ngoại, trong danh mục tham khảo tiếng Trung của cụ có 30 quyển, trong đó có 7 quyển thơ Đường, không biết cụ dùng bản Đường thi tam bách thủ nào ? Cụ cũng dùng chữ tồi [摧] (trang 435) như cụ Trần.



b) Trường hợp 2 : [ 催 ] là chữ thôi là thôi thúc



04- Giáo sư Đại học VKSG &ĐHSP SG, Cụ Trần Trọng San trong cả ba tập Thơ Đường, từ tập Thơ Đường (cuốn I) trong bản tái bản lần hai 1965, và cả đến lần tái bản thứ ba 1970, (thứ nhất 1957), do nhà XB Bắc Đẩu phát hành, kể cả tập Thơ Đường (biên dịch xuất xứ từ tập Poems of the T’ang Dynasty (Hoa Kỳ), do NXB Thanh hóa, 1997 (trang 44), nghĩa là 32 năm sau, Cụ vẫn viết

Hương âm vô cải mấn mao [thôi]



Thôi [催] có lẽ cụ San lấy từ sách Đường thi tam bách thủ của Sử Cúc Nhân, Hương Cảng, 1953.



c) Trường hợp 3 : [ 推 ] là chữ thôi là đẩy lên



05- Tập Đường thi tuyển dịch, nhà sách Trẻ, 1997, của Lê nguyễn Lưu, thì ghi [thôi] 推, trang 272. Lê nguyễn Lưu là nhà biên khảo cẩn thận, sách được nhà sách Trẻ của anh LNĐ, là một cử nhân VK SG, DHSPSG vốn rất kỹ tính. Họ cũng đáng được tin tưởng lắm.



d) Trường hợp 4 : [ 衰] là chữ suy



06- Bản Đường thi tam bách thủ của Hành Đường Thoái Sĩ là bản được xem như nghiêm túc nhất, bản này được các trường ĐH tại Hoa Kỳ hay tại ĐH Taiwan dùng trong việc giảng dạy thì viết [衰], đọc là suy. Suy [衰] “ngữ nghĩa như trong chữ suy vong, Suy [衰] trái với nghĩa chữ "thịnh" [盛].



Nguyên tác đúng là



回鄉偶書其一

少小離家老大迴,
鄉音無 改 鬢毛衰

兒童相見不相識,
笑問客從何處來。


Phiên âm



Hồi hương ngẫu thư kỳ 1

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao suy

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiếu vấn :” khách tòng hà xứ lai”.



07- Bạn thấy đấy, bản chữ thảo bên cạnh là bản viết tay của Cánh Sanh cư sĩ Khang hữu Vi [tức học giả Khang hữu Vi 康有为 (1858—1927) ] cũng viết là Suy (nguồn : wikipedia, sưu tập của Nantosoyo Collection, Japan).



Bản viết tay này khi ông xa quê một một thời gian dài, trốn chui trốn nhủi tại Nhật Bản để tìm đường cứu nước, ngày ông quay trở về nước là ngày cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 do Tôn Dật Tiên lãnh đạo thành công. Lúc ngồi viết lại bài thơ này của Hạ Tri Chương hẳn lòng ông cũng như ông già trong bài.







Có mâu thuẩn không khi laiquangnam theo cụ Trần Trọng Kim ?



Lý do thứ nhất về lý ,đã có một tác giả (TTK) và hai tập thể biên tập (VVH ,bè bạn của BKĐ) như đã đề cập ở trường hợp a) đã dùng chữ [ tồi ], trong đó tập thể những người biên tập lại tập sách của cụ BKĐ tôi nghĩ là nghiêm túc nhất.

Lý do thứ hai về tình, do vì laiquangnam còn nhắm đến đối tượng đang là học sinh trung học tại Việt Nam, với họ là kỷ niệm thời đi học trong trường Trung học phổ thông còn rất mới có thể hiện nay là SV … , họ đã thuộc lòng bản phiên âm này, họ đã từng phải trả bài cho cô thầy khi còn trẻ, họ vẫn nhớ như in.



Cuối cùng nhắm đến các giáo viên hiện đang đứng lớp có thể xử dụng bài này như là tài liệu tham khảo cho giáo án của mình .



Thì ra với Tàu gốc mà Thơ Tàu cũng tam sao thất bổn lắm, tùy nguồn tham khảo mà tác giả Việt Nam phiên âm. Không phải lỗi ở các vị viết sách trên, vả lại chuyện đính chính không phải là chuyện của người Việt chúng mình.



-o0o0-



Tham khảo

Ngoài các sách nêu ở trên, laiquangnam còn xử dụng :



01-Thư quán bản thảo, số 35, NJ, USA.

02- Bùi Khánh Đản, Đường thi trích dịch, nhà xuất bản Văn Học, 2006

03-Laiquangnam, Đường thi nửa chặng, bản thảo, (do laiquangnam tuyển chọn cộng thêm các bài do Khách thơ giới thiệu với, có lẽ theo Laiquangnam nó gần như đủ những bài thơ Đường tạm nghĩ là hay nhất (?) .

05- Trong quá trình viết bài này, laiquangnam có xử dụng một số tư liệu khác trên mạng internet, và hai ba năm trước đây, nếu Khách thơ đã từng đôi lần đọc bản dịch của laiquangnam trên http://www.caliweekly.com với lòng bao dung thì laiquangnam cám ơn lắm. Ngày ấy mới tập làm quen với văn giới qua sự tử tế của bè bạn ở CA, Hoa Kỳ.



Saigon, cuối tháng bảy 2009.

laiquangnam









trang laiquangnam



www.art2all.net


***


Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ '' hồi hương ngẫu thư ( ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê )
Tác giả Khuyết danh



Đến từ: viêt nam
Registration date: 20/10/2008

*


“Hồi hương ngẫu thư” là một trong hai bài thơ viết về que hương nổi tiếng của Hạ Tri Chương. Sau hơn 50 năm làm quan ở kinh đô Trường An, ông muốn tìm nguồn an ủi nơi quê nhà. Và bao nhiêu cảm xúc dồn nén khi xa quê hương cũng như bột phát lúc trở về được ông bộc lộ trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết một cách ngẫu nhiên.

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi.
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?

dịch thơ
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê không đổi, tóc đà khác bao
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
(Phạm Sĩ Vĩ dịch)


Ai mà chẳng mang trong mình thứ tình quê thiêng liêng sâu nặng. Nhất là với những người xa quê, tình cảm ấy lại càng trở nên thiết tha, day dứt. Chính vì thế, mặc dù ko phải là đề tài mới lạ, tác giả lại là người Trung Quốc nhưng “Hồi hương ngẫu thư” vẫn nói hộ tâm tình của biết bao bạn đọc Việt. Tình yêu quê hương thường trực, bản thân nhà thơ có thể bộc lộ tình cảm ấy bất cứ lúc nào. Nhưng khi Hạ Tri Chương ko chủ định viết mà lời thơ và cảm hứng dạt dào thì cái duyên cớ đã xui khiến, đã đưa đẩy tác giả cho ra đời bài thơ quả là góp phần quan trọng. Nếu ví tình cảm với quê hương của thi nhân như sợi dây đàm đã căng hết mức thì “Hồi hương ngẫu thư” chính là tiếng ngân vang kéo dài đến hơn một nghìn năm bởi cú va đập của “duyên cớ”.


Xa quê từ khi còn trẻ, cuộc đời Hạ Tri Chương là bước đường thành công trong sự nghiệp. Ông đỗ tiến sĩ, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được vua Đường Huyền Tông vị nể. Lúc từ quan về quê làm đạo sĩ ông còn được vua tặng thơ, được thái tử và các quan đưa tiễn. Trường An chắc hẳn là quê hương thứ hai thân thiết. Nhưng, con người dù sao cũng không thể chống lại quy luật tâm lí muôn đời:
Hồ tử tất như khau
Quyện điểu quy cựu lâm”
(Cáo chết tất quay đầu về núi gò
Chim mỏi tất bay về rừng cũ)
(Khuất Nguyên)

Đó là dù đi những đâu không vui hơn được ở nhà mình, dù ở phương nào, ta vẫn hương về quê hương. Cả một đời làm quan, khi tuổi cao, khi muốn được nghỉ ngơi, Hạ Tri Chương trở về quê. Thời gian năm tháng, cuộc sông nơi đô thành làm cho tóc mai rung, cho vẻ ngoài đổi thay, làm cho chàng thanh niên thuở xưa thành ông già 86 tuổi. Duy có một điều không thay đổi ấy là :giọng quê”(hương âm vô cải). Thi nhân trở về vẫn vẹn nguyên con nngười của quê hương mặc dòng đời đưa đẩy.


Lẽ thường, về thăm quê, trở lại nơi chôn rau cắt rốn, nhà thơ phải mừng vui sung sướng. Song, phải đọc tới hai câu thơ cuối, người đọc mới hiểu được cái duyên cớ xui khiến thi nhân làm thơ và khiên nhà thơ ngậm ngùi. Sự ngậm ngụi ấy xuất phat từ những đổi thay của quê hương. Bạn bè người quen chắc chẳngcòn ai, nếu có còn thì chắc cũng ai nhận ra tác giả. Đúng như vậy, đón nhà thơ là đàn em nhỏ vui vẻ cười noi và rất hiếu khách. Trớ trêu thay, không phải vẻ ngoài của tác giả làm các em không nhận ra mà làviệc trong mắt các em, tác giả trở nên hoàn toàn xa lạ.. Một vị khách ngay chính tại quê hương mình, sinh ra và lớn lên ở quê hương mà không được coi là người con của quê hương quả là một tình huống bi hài, cười ra nươc mắt.

Giọng thơ trầm tĩnh nhưng chứa đựng tình cảm dạt dào, chan chứa với quê hương. Bài thơ lay động sự đồng cảm và thấu hiểu của người đọc bởi tình huống bất ngờ trớ trêu. Phải ở vào hoàn cảnh của tac giả, chúng ta mới cảm nhận hết được sức mạnh to lớn của thời gian và sự xa cách.

http://nhoc.forum-viet.net/forum-f10/topic-t31.htm

***
CẢM TƯỞNG KHI ĐỌC HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
Tác giả khuyết danh


Một ngày nào đó, quê hương chúng ta thực sự thanh bình tự do, khắp nơi trên thế giới sẽ rộn rã người kéo nhau về thăm nơi chôn nhau cắt rún, không biết bà con có còn nhìn ra nhau.

Mới đây vài tháng một mẩu tin được đăng trên New York Times kể chuyện một giáo sư người Nhật, dạy ở Harvard, về thăm gia đình nội ngoại nơi một ngôi làng nhỏ ngoại ô Sakata. Khi xuống xe buýt ở đầu thành phố, ông ta ngơ ngác không biết phải đi về hướng nào bèn hỏi bằng tiếng Anh với người khách qua đường. Nhưng mọi người đều thờ ơ bước đi. Ông buồn quá không biết xử trí ra sao thì may có người Nhật biết chút đỉnh tiếng Anh giúp ông:

- Thưa ông, ông người nước nào?
- Cám ơn, tôi là người Nhật.
- Sao ông không biết tiếng Nhật?
- Vì tôi sinh trưởng ở New York và đây là lần đầu tiên tôi về thăm quê nhà.
- Song thân ông còn nói được tiếng Nhật?
- Đúng như thế. Cha mẹ tôi nói tiếng Nhật với nhau ở nhà và nói tiếng Mỹ với chúng tôi.
- Tại sao vậy?
- Vì cha mẹ chúng tôi bận đi làm nên cả ngày chúng tôi ở trường chỉ học và nói tiếng Mỹ thôi.
- Hiện ông là công dân Mỹ chứ?


- Sinh ra, tôi là công dân Mỹ rồi. Nhưng tất cả người Mỹ vẫn xem tôi là người Nhật, vì màu da vàng, mũi tẹt. Thực sự tôi là người Nhật, mặc dù tôi không biết tiếng Nhật.
- Tội nghiệp cho sự cô đơn của ông quá. Có điều tôi nói thật với ông, khi nãy ông hỏi những người qua lại đều không muốn trả lời ông vì họ không muốn người Nhật sử dụng tiếng ngoại quốc để nói chuyện với nhau nên họ không trả lời, chứ những người ấy đều biết tiếng Anh cả đấy chứ. Và họ nghĩ tại sao ông không cảm thấy hổ thẹn vì sao ông không biết nói tiếng mẹ đẻ.
- Cảm giác đó chính tôi cũng vừa nhận thấy mới đây... nhưng tôi còn quá đủ thì giờ để học chữ và tiếng nói của người Nhật chúng ta trong thời gian sắp tới... tôi hy vọng sẽ đạt ý nguyện.
- Tại sao ông không nghĩ cách khác khỏi tốn thì giờ nhiều hơn là tự hậu có ai hỏi lý lịch, ông nên từ chối ông không phải là người Nhật là cách hay nhất...
- Cốt tủy máu huyết tôi là người Nhật. Chính tôi có muốn sinh ra ngoài đất nước thân yêu của mình đâu. Cả thế hệ chúng tôi đâu muốn như thế, lỗi đâu phải chúng tôi... Người Mỹ không nhận tôi là người cùng chủng tộc với họ, người Nhật hất hủi xem chúng tôi là người ngoại quốc... Tôi là ai bây giờ? Hay tôi đến từ một hành tinh khác chăng?

Vài năm sau, chúng ta hy vọng không còn nhìn thấy bóng dáng một Kiều Phong đứng trên đỉnh Nhạn môn quan mà than:
“Đất trời quá mênh mông mà ta không có một mảnh đất để dung thân” !!!


***

QUỐC TẾ NHẬN QUYỀN

*
Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ Quyết Nghị về Việt Nam

Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 75 thông qua tại thủ đô Văn Hóa Âu Châu, thành phố Linz, nước Áo

Như chúng tôi đã đưa tin, Quyết Nghị về Việt Nam đã được Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 75 tại thủ đô Văn Hóa Âu Châu, thành phố Linz, nước Áo, đồng thanh biểu quyết chấp thuận. Quyết Nghị đã nhận được sự ủng hộ của 85 Trung Tâm Văn Bút (80 hiện diện và 5 ủy quyền). Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Linz 2009 là diễn đàn và tiếng nói của 200 người đại diện cho 15 ngàn nhà văn sinh hoạt trong 145 Trung Tâm Văn Bút có trụ sở trên hơn 100 nước và lãnh thổ.

Qua Quyết Nghị về Việt Nam, Hiệp Hội các Nhà Văn thế giới một lần nữa cực lực tố cáo, lên án và phản kháng chế độ cộng sản độc tài ở Việt Nam tiếp tục đàn áp những người cầm bút, nhà văn, nhà báo, những người tranh đấu để đòi hỏi Tự do, Dân chủ, bênh vực Nhân Quyền, gồm có quyền căn bản hàng đầu là quyền tự do phát biểu quan điểm. Nạn nhân là những người không chịu khuất phục bạo quyền.


Họ không muốn bị lừa dối hay mua chuộc để làm kẻ đồng lõa với tội ác áp chế bất công, tham ô nhũng lạm trên quê hương thân yêu của họ. Vì sao phải có Quyết Nghị về Việt Nam ? Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã trả lời chúng tôi: <<>năm 2008, nhà cầm quyền CS Việt Nam gia tăng đàn áp quyền tự do phát biểu quan điểm và tự do bày tỏ chính kiến bất đồng bằng cách áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự, trong đó đặc biệt là Điều 88 “Tuyên truyền chống Nhà nước” và Điều 258 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại lợi ích nhà nước”. Nhiều nhà tranh đấu cho Nhân Quyền và Công Bằng Xã Hội bị sách nhiễu, đánh đập, bắt giữ, phạt tù nặng nề hoặc câu lưu kéo dài không xét xử, như trường hợp nhà báo độc lập Phạm Thanh Nghiên.




Những hành vi phạm tội ác nghiêm trọng đó thuộc vào một chiến dịch trấn áp qui mô rộng lớn nhứt từ hơn hai mươi năm qua, đưa đến 9 bản án tù vô nhân đạo và phi pháp. Ba phiên tòa ở Hà Nội và Hải Phòng đã được tổ chức xét xử lấy lệ vì đảng CS Việt Nam đã lên án trước các nạn nhân. Thẩm phán của chế độ độc tài chỉ còn áp dụng quyết định của đảng mà thôi. Để trừng phạt các nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà dân chủ đối kháng bênh vực nhân quyền Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Văn Hùng, Ngô Quỳnh, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Túc, Trần Đức Thạch, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn. Chưa hết, không thể quên trong tháng 5 và tháng 6 có một số người tranh đấu mới bị bắt, như các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, v.v.


Ngoài ra, nhiều tác giả nhựt ký điện tử bị bắt giam ngắn hạn, dưới áp lực, đe dọa của công an, vì gia đình hoặc sự sống, phải tạm thời và miễn cưỡng không sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm của mình. Là một nhà thơ lưu vong, hội viên Văn Bút Quốc Tế, tôi ý thức rằng mình đang sống một thời kỳ mà ngôn ngữ và tác giả đang bị hiểm nguy lớn. Ngay tại Linz, Văn Bút Quốc Tế đã kết hợp chương trình làm việc của Đại Hội với một Lễ Hội Văn Chương mang tên ‘’Hãy Giải Thoát Ngôn Ngữ !’’ mà buổi khai mạc có sự hiện diện của Tổng thống Cộng Hòa Áo quốc cùng nhiều nhân vật tên tuổi cả trong lãnh vực văn hóa lẫn chính trị. Tôi hiểu rằng Văn Bút Quốc Tế không phải là một Hội Nhà Văn ‘’thuần túy’’ mà hội viên chỉ cần biết và chỉ chuyên chú viết văn làm thơ để ngâm vịnh thù tạc lẫn nhau (hoặc tôn vinh thần tượng lãnh tụ, ca tụng thành tích chế độ xã hội chủ nghĩa...theo kiểu báo ANTG/CAND muốn áp đặt). Vai trò chủ yếu và sự hiện hữu gần nửa thế kỷ qua của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn Bị Đàn Áp và Cầm Tù (International PEN CODEP/WIPC) xác định điều ấy. Lý tưởng của Văn Bút Quốc Tế bao hàm sự yêu mến văn chương và quý trọng tác giả, đồng thời sự dấn thân, cam kết bảo vệ quyền tự do phát biểu quan điểm, sáng tạo và thông tin. Văn Bút Quốc Tế không những cổ võ, thúc đẩy và phát huy văn chương, mà còn bênh vực những người bị đàn áp vì hành sử quyền tự do vừa kể, nhứt là những người cầm bút, bất kỳ chế độ nào. Văn Bút Quốc Tế cũng góp phần xây dựng cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa khác biệt, nơi nào có tranh chấp và bạo động. Văn Bút Quốc Tế còn bênh vực Quyền Ngôn Ngữ cho các dân tộc thiểu số. Trở lại Việt Nam, tôi hằng nhớ đến thân phận và cuộc tranh đấu gian lao, nhiều lúc rất cô đơn, trong bóng đêm lao hầm, ngục tù dầy đặc, của văn thi hữu, nhà báo, tu sĩ, luật sư, đồng nghiệp cùng đồng bào ở quê nhà. Họ chỉ có tấm lòng, ngòi bút và tiếng nói. Mà muốn có những quyền tự do phát biểu quan điểm, sáng tác, lập hội, tín ngưỡng, v.v, họ biết không thể chỉ van xin thì được ! Động viên sự ủng hộ tinh thần và sự giúp đỡ cụ thể, thiết thực của văn hữu ngoại quốc, nhứt là Văn Bút Quốc Tế, hết sức cần thiết và khẩn cấp.>>.


Như vậy, Bảo vệ quyền tự do phát biểu quan điểm là mục đích và trọng tâm hoạt động đối với Văn Bút Quốc Tế, song hành với sự Cổ võ, thúc đẩy và phát huy văn chương. Vì lẽ ấy, mối quan tâm hàng đầu của Hiệp Hội Thế Giới các Nhà Văn đã được thể hiện qua 11 Dự án Quyết Nghị được Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn Bị Đàn Áp và Cầm Tù duyệt xét và chuẩn y trong hai phiên họp kéo dài suốt hai ngày 19 và 20 tháng 10 năm 2009 tại Đại Hội. Được biết nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã thay mặt Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại tham gia các phiên họp vừa kể trên. Thi hữu làm việc trong Nhóm Công Tác II ‘’Trung Hoa, Việt Nam và Ba Tư’’, bên cạnh hai Nhóm Công Tác I ‘’Mỹ Châu, Cuba và Erythrée’’ và Nhóm Công Tác III ‘’Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Géorgie’’.


Sau đó, tất cả 11 Dự án Quyết Nghị đã được Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế đồng thanh công nhận và chính thức hóa trong một phiên họp khoáng đại. Các Quyết Nghị tố cáo và lên án những vụ giam cầm độc đoán nhà văn, nhà báo, nhà bênh vực nhân quyền và dân chủ đối kháng, vì sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm và thông tin, nhứt là tại Trung Hoa, Cuba, Việt Nam, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Erythrée, Géorgie, Nga và Guinée. Riêng Quyết Nghị về Thụy Điển thì kêu gọi chính phủ Thụy Điển thu hồi quyết định từ chối quyền tị nạn cho nhà thơ và nhà phê bình văn học Anisur Rahman vì nếu văn hữu bị buộc trở về nước Bangladesh, tính mạng sẽ bị hiểm nguy. Trong Quyết Nghị về Guinée, Văn Bút Quốc Tế lên án vụ quân đội đã dùng súng và lưỡi lê thảm sát hơn 150 người dân tham dự một cuộc biểu tình chính trị tại một sân vận động ở thủ đô Conakry và hành hung, dọa giết và bắt giữ các nhà báo muốn tường thuật biến cố đẩm máu đó. Trong Thông cáo báo chí sau Đại Hội, Văn Bút Quốc Tế nhấn mạnh rằng : ‘’Rất nhiều nhà văn và nhà báo bị giam cầm ở Việt Nam vì bị cáo buộc bởi những đạo luật được ban hành cốt để ‘’tội phạm hóa’’ những người có can đảm phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền.


Những đạo luật đó còn qui định những bản án phạt lên đến 20 năm tù giam áp đặt bởi những phiên tòa xét xử thấy rõ ràng bất công. Các điều kiện giam cầm trong các trại tập trung lao công cưỡng bách thật tồi tệ. Tù nhân bị từ chối quyền được chăm sóc y tế cần thiết’’. Và Văn Bút Quốc Tế thúc giục nhà cầm quyền Hà Nội bãi bỏ chế độ tổng kiểm duyệt độc đoán ở Việt Nam. 11 Quyết Nghị được thông qua tại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 75 gồm có:

1. Quyết Nghị Bênh vực Quyền Tự Do Viết hoặc Sáng tác tại các nước Mỹ Châu, do các Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Colombie, Đan Mạch, San Miguel de Allende và Vénézuéla, và Viện Mỹ Châu nói tiếng Tây Ban Nha đồng đệ trình. Trích Phần Mở Đầu Quyết Nghị: ‘’Chiếu theo Tuyên Ngôn Thế Giới Nhân Quyền và Công Ước Mỹ Châu về Nhân Quyền, mọi công dân được hưởng quyền tự do phát biểu quan điểm, quyền này bao gồm sự tự do sử dụng quyền được nói và viết, quyền tìm kiếm, tiếp nhận tin tức và trao đổi ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Tất cả những tác phẩm văn chương lớn, từ truyện giả tưởng, thi ca, kịch bản cho tới tiểu luận, biên khảo, hồi ký hoặc báo chí đều do kết quả của sự sử dụng toàn quyền tự do phát biểu quan điểm (...)’’.


2. Quyết Nghị về Trung Hoa (CHNDTH) do Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển và Văn Bút Hoa Kỳ và Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình.

3. Quyết Nghị về Cuba do Trung Tâm Văn Bút Cuba Lưu Vong đệ trình.

4. Quyết Nghị về Erythrée do Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Phần Lan và Văn Bút Kenya.

5. Quyết Nghị về Géorgie, do Trung Tâm Văn Bút Géorgie đệ trình.

6. Quyết Nghị về Guinée do Tổng Thư Ký Văn Bút Quốc Tế đệ trình.

7. Quyết Nghị về Ba Tư do hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển và Văn Bút Ba Tư lưu vong đệ trình, với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Đức và Văn Bút Basque (Euskal).

8. Quyết Nghị về Nga, do Trung Tâm Văn Bút Đức đệ trình với sự tán trợ của Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình.

9. Quyết Nghị về Thụy Điển, do Tổng Thư Ký Văn Bút Quốc Tế đệ trình. 10. Quyết Nghị về Thổ Nhĩ Kỳ, do Trung Tâm Văn Bút Đức đệ trình. 11. Quyết Nghị về Việt Nam (CHXHCNVN), do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*. (Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, thành viên Ủy Ban Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù, hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc - Genève).

Genève ngày 19 tháng 11 năm 2009 Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse Vietnamese League for Human Rights in Switzerland Những Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế đã đồng thanh chấp thuận Quyết Nghị về Việt Nam Les Centres du PEN International ont unanimement approuvé la Résolution sur le Viêt Nam Centre Algérien, Centre Egyptien, Centre Éthiopien, Centre Guinéen, Centre Marocain, Centre Sierra Leone, Centre Sud Africain, Centre Zambien. Centre Chinois de Taipei, Centre Chinois Indépendant, Centre Coréen, Centre de Melbourne. Centre de Sydney, Centre des Ecrivains Tibétains à l'Etranger, Centre Indien, Centre Japonais, Centre Néo-Zélandais, Centre Népalais, Centre Pakistanais, Centre Bengalais, Centre Mongol. Centre Albanais, Centre Allemand, Centre Anglais, Centre Autrichien, Centre Basque, Centre Belge (d'expression française), Centre Catalan, Centre Chypriote, Centre Danois, Centre des Ecrivains de l'ancienne Yougoslavie, Centre des Ecrivains d'expression allemande à l'Etranger, Centre des Ecrivains Iraniens en Exil, Centre des Pays-Bas, Centre de Trieste, Centre Ecossais, Centre Espagnol, Centre Finnois, Centre Français, Centre Galicien, Centre Grec, Centre Hongrois, Centre Irlandais, Centre Islandais, Centre Italien, Centre Kurde, Centre Letton, Centre Norvégien, Centre Polonais, Centre Palestinien, Centre Portugais, Centre Sarde, Centre Suédois, Centre Suisse Allemand, Centre Suisse Italien et Réto-romanche, Centre Suisse Romand, Centre Tchèque, Centre des Ecrivains en Exil de Londres. Centre Afghan, Centre Arménien, Centre Bosniaque, Centre Bulgare, Centre Croate, Centre des Ecrivains Hongrois en Roumanie, Centre Esperanto, Centre Kazakh, Centre Macédonien, Centre Roumain, Centre Russe, Centre Serbe, Centre Slovaque, Centre Slovène, Centre Turc, Centre Ouïghour. Centre Américain, Centre Canadien, Centre des Etats-Unis, Centre des Ecrivains Cubains en Exil, Centre Québecois, Centre des Ecrivains Vietnamiens à l'Etranger. Centre Colombien, Centre de Guadalajara, Centre de San Miguel de Allende, Centre Haiti. International PEN Centres have unanimously approved the Resolution on Viêt Nam Algerian Centre, Egyptian Centre, Ethiopian Centre, Guinean Centre, Moroccan Centre, Sierra Leone Centre, South African Centre, Zambien Centre. All-India Centre, Bangladeshi Centre, Independent Chinese Centre, Japanese Centre, Korean Centre, Melbourne Centre, Mongolian Centre, Nepalese Centre, New Zealand Centre, Pakistani Centre, Sydney Centre, Taipei Chinese Centre, Tibetan Writers Abroad Centre. Albanese Centre, Austrian Centre, Basque Centre, Belgian (Dutch-Speaking) Centre, Belgian (French-speaking) Centre, Catalan Centre, Cypriot Centre, Czech Centre, Danish Centre, English Centre, Finnish Centre, French Centre, Galician Centre, German Centre, Greek Centre, Hungarian Centre, Icelandic Centre, Iranian Writers in Exile Centre, Irish Centre, Italian Centre, Kurdish Centre, Latvian Centre, Netherlands Centre, Norwegian Centre, Palestinian Centre, Polish Centre, Portuguese Centre, Sardinian Centre, Scottish Centre, Spanish Centre, Suisse Romand Centre, Swedish Centre, Swiss German Centre, Swiss Italian and Reto-Romansh Centre, Trieste Centre, Writers from former Yugoslavia Centre, Writers in Exile German Centre, Writers in Exile London Centre. Afghan Centre, Armenian Centre, Bosnian-Herzegovina Centre, Bulgarian Centre, Croatian Centre, Esperanto Centre, Hungarian Writers in Romania Centre, Kazak Centre, Macedonian Centre, Romanian Centre, Russian Centre, Serbian Centre, Slovakian Centre, Slovene Centre, Turkish Centre, Uyghur Centre. American Centre, Canadian Centre, Cuban Writers in Exile Centre, USA Centre, Vietnamese Writers Abroad Centre, Quebecois Centre. Colombian Centre, Guadalajara Centre, Haiti Centre, San Miguel de Allende Centre. Sau đây là toàn văn Quyết Nghị về Việt Nam.

Bản tiếng Pháp và tiếng Anh do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại soạn thảo còn bản tiếng Tây Ban Nha đang được Văn Bút Quốc Tế phiên dịch. -----------------------------------------------

Quyết Nghị về Việt Nam do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*. Hội Đồng Đại Biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 75 tại Linz, Cộng hòa Áo, từ ngày 19 đến 25 tháng Mười năm 2009 Quan ngại rằng, trong khi vi phạm Điều 19 Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị (PIDCP/ICCPR), Việt Nam (CHXHCN) tiếp tục đàn áp quyền tự do phát biểu quan điểm và tự do bày tỏ chính kiến bằng cách sử dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự, trong đó đặc biệt là Điều 88 “Tuyên truyền chống Nhà nước” với những án phạt lên tới 20 năm tù giam và Điều 258 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại lợi ích nhà nước” có án phạt lên tới 7 năm tù giam; Bất bình khi các tù nhân ngôn luận và lương tâm phải thụ án tại các trại lao công cưỡng bách có các điều kiện tồi tệ.

Những tù nhân này thường bị biệt giam hoặc nhốt cùng với các tội phạm hình sự trong những phòng giam chật chội và kém vệ sinh. Một số người còn bị xâm hại về thể xác, bị hành hạ, bị mắc bệnh mãn tính và không có sự chăm sóc y tế thỏa đáng. Sau khi ra tù, những tù nhân này thường phải tiếp tục bị quản chế tại gia từ 1 đến 5 năm theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Phiền trách rằng, trong dịp trình bày bản báo cáo Khảo sát Định kỳ Toàn cầu (EPU/UPR) tại Hội Đồng Nhân Quyền vào tháng Năm 2009, Việt Nam (CHXHCN) đã từ chối nhiều Khuyến cáo từ các quốc gia khác, trong đó có việc kêu gọi bãi bỏ các điều luật mơ hồ về “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự (Điều 38, 88 và 258) và Nghị định 44 cho phép việc giam người tại gia (quản chế hành chính) mà không cần xét xử và đưa những người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần; có khuyến cáo thúc giục Việt Nam (CHXHCN) đảm bảo sự độc lập cho ngành truyền thông và mời các Đặc phái viên tới Việt Nam thường xuyên, đặc biệt các Đặc phái viên chuyên thị sát tình trạng tự do phát biểu quan điểm, tự do tôn giáo và nạn tra tấn;

Sửng sốt và công phẫn về việc chính quyền đã thực hiện một chiến dịch đàn áp mở rộng vào tháng Tám-tháng Chín năm 2008 và không ngừng sách nhiễu, hành hạ tàn nhẫn những nhà văn, nhà báo, luật sư, những người bảo vệ nhân quyền chỉ vì những người này đã thực hiện quyền được tự do phát biểu quan điểm; Lên án các thủ đoạn như quản chế tại gia, giam giữ kéo dài trước khi xử án, tuyên án tù nặng nề, xét xử không công bằng và thiếu các luật sư độc lập bào chữa cho bị cáo, cũng như không có mặt các quan sát viên độc lập. Những người có tên sau đây chỉ là một số điển hình trong những người bị bức hại:

- Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 81 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ, bị quản chế từ năm 2003. - Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên tờ báo Tự do Ngôn luận (không được thừa nhận hợp pháp), bị án 8 năm tù; ông Nguyễn Phong và ông Nguyễn Bình Thành, hai cộng tác viên, 6 và 5 năm tù. - Luật sư nhân quyền Lê Thị Công Nhân và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 và 4 năm tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu. - Phóng viên độc lập Lê Thị Kim Thu, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 18 tháng tù.

- Bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư nhân quyền Nguyễn Bắc Truyển và luật sư nhân quyền Trần Quốc Hiền, ba nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 4, 3 và 5 năm tù. - Ông Trương Quốc Huy và ông Phạm Bá Hải, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 và 5 năm tù. - Nhà báo độc lập Trương Minh Đức và nhà báo độc lập Nguyễn Văn Hải (bút hiệu nhựt ký Internet Điếu Cày), 5 năm và 2 năm 6 tháng tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu. - Nhà báo độc lập Phạm Thanh Nghiên, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị giam từ 17 tháng chín năm 2008.

Tình trạng sức khỏe rất yếu. - Nhà thơ Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà văn bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 năm tù. Sức khỏe rất yếu. - Nhà giáo Vũ Văn Hùng, nhà bảo vệ nhân quyền, 3 năm tù, bị tra tấn trong trại giam trước khi ra tòa. Sức khỏe rất yếu. - Sinh viên Ngô Quỳnh, nhà văn Phạm Văn Trội, nhà thơ Nguyễn Văn Túc và nhà thơ Trần Đức Thạch, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3, 4, 4 và 3 năm tù. - Nhà giáo Nguyễn Văn Tính, cộng tác viên của tờ báo Tổ Quốc (không được thừa nhận hợp pháp), 3 năm tù. - Ông Nguyễn Kim Nhàn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, 2 năm tù.


- Nhà thơ Nguyễn Mạnh Sơn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 năm tù. - Ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Lê Thăng Long, bà Trần Thị Thu và bà Lê Thị Thu Thu, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, bị bắt giữ vào ngày 24 tháng năm và 4 tháng sáu năm 2009. - Luật sư nhân quyền Lê Công Định, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 13 tháng sáu năm 2009. - Ông Nguyễn Tiến Trung và ông Trần Anh Kim, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 7 tháng bảy năm 2009.

Được báo động rằng một số luật sư nhân quyền đã bị gây áp lực (sách nhiễu, đe dọa) để buộc họ phải từ bỏ việc bào chữa cho những người bị ghép tội do đã phát biểu quan điểm bất đồng, trong khi nhiều luật sư nhân quyền đồng nghiệp khác vẫn còn trong tù hoặc đang bị giam giữ để điều tra. Kinh ngạc về sự kiểm duyệt nghiêm ngặt hệ thống truyền thông và Internet - biện pháp độc đoán đó đang ngăn cản xã hội hướng về sự phát huy các giá trị của một nền văn hóa vì hòa bình và nhân quyền, cản trở việc phát hiện tham nhũng và các bất công và gây khó khăn cho các cuộc tranh luận, phản biện về chính sách của nhà nước.

Thúc giục và yêu cầu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 1. Trả tự do, ngay lập tức và vô điều kiện, tất cả những người, đặc biệt những nhà văn, nhà báo, luật sư, nhà bảo vệ nhân quyền có tên trên đây, hiện đang bị giam giữ hoặc quản chế tại gia chỉ vì đã sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm một cách ôn hòa;

2. Chấm dứt ngay tất cả các tấn công, sách nhiễu, đe dọa quản chế hay bắt giữ những người có các quan điểm bất đồng hoặc những người đòi hỏi tự do tôn giáo và tôn trọng nhân quyền; 3. Bãi bỏ mọi hạn chế đối với các cựu tù nhân ngôn luận và lương tâm, kể cả những người đã phải chịu án tù chỉ vì đã thực hiện quyền tự do phát biểu quan điểm một cách ôn hòa;

4. Cải thiện điều kiện nhà tù và các trại lao công cưỡng bách, kể cả việc chấm dứt các hành động xâm hại do các tội phạm hình sự gây ra và cho phép các tù nhân bị bệnh được điều trị tại bệnh viện, được hưởng sự chăm sóc y tế thỏa đáng và tạo thuận lợi cho thân nhân của họ tới thăm;

5. Dừng ngay việc tổ chức các cuộc ‘’đấu tố’’(kiểm điểm trước dân), loại tòa án không phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế đã được định rõ trong Điều 14 của PIDCP/ICCPR; 6. Bãi bỏ mọi kiểm duyệt và đình chỉ mọi hạn chế đối với quyền tự do phát biểu quan điểm và ngôn luận, tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện, kể cả Internet và quyền tự do lập hội, tất cả những điều này đều phù hợp với các Điều 19, 21, 22 của PIDCP/ICCPR. (Hà Tản Viên chuyển dịch từ bản tiếng Anh và tiếng Pháp) -------------------------------------------------------------

*

Ghi chú : Lúc bản Dự thảo Quyết Nghị về Việt Nam sắp được đưa ra biểu quyết, đại biểu VBVNHN ngỏ lời cảm ơn Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, tác giả bản Dự thảo Quyết Nghị cùng hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche. Đồng thời, xin được ghi tên VBVNHN tán trợ Dự thảo Quyết Nghị về Việt Nam. ---------------------------------------

Résolution sur le Viet Nam soumise par le Centre PEN Suisse Romand et appuyée par le Centre PEN Suisse Alémanique et le Centre PEN Suisse Italien et Réto-romanche L'Assemblée des Délégués de PEN International, réunie à son 75e Congrès International à Linz, en Autriche, du 19 au 25 octobre 2009 Préoccupée qu’en violation de l’Article 19 du Pacte International relatif aux Droits Civils et Politiques des Nations Unies (PIDCP), le Viet Nam (RSV) continue à réprimer le droit à la liberté d‘expression et d’opinion, en appliquant des articles discutables de son Code Pénal, en particulier l’Article 88 «Propagande contre l’état » prévoyant des peines maximales de 20 ans de prison et l’Article 258 «Abus des libertés démocratiques pour porter atteinte aux intérêts de l’état» prévoyant des peines maximales de sept ans de prison;

Profondément troublée que des prisonniers d’opinion et de conscience purgent leurs peines dans des camps de travaux forcés dans des conditions déplorables. Ils sont souvent tenus au secret ou partagent des cellules insalubres ou surpeuplées avec des criminels. Certains sont victimes d’agressions physiques et de mauvais traitements, et souffrent de maladies chroniques et de la privation des soins médicaux nécessités par leur état de santé. A leur libération, les anciens prisonniers sont placés pendant un à cinq ans en détention probatoire en vertu de l'Article 38 du Code Pénal; Déplorant que durant l’Examen Périodique Universel du


Conseil des Droits de l’Homme en mai 2009, le Viet Nam (RSV) a refusé plusieurs Recommandations émises par les autres états, notamment celles réclamant l’abolition des dispositions de « sécurité nationale » du Code Pénal (Articles 38, 88 et 258) et l’Ordonnance 44 autorisant la détention administrative sans procès, et l’internement des dissidents dans des hôpitaux psychiatriques; ainsi que celles qui exhortaient le Viet Nam à garantir l’indépendance des médias et à émettre une invitation à tous les Rapporteurs Spéciaux, en particulier ceux qui s’intéressent surtout à la liberté d’expression, la liberté de religion et à la torture; Choquée et indignée par la vague de répression en août-septembre 2008 et la persécution incessante et persistante des écrivains, journalistes, juristes et défenseurs des droits de l'homme uniquement pour avoir exercé leur droit à la liberté d'expression ; Condamne la pratique de la résidence surveillée, des détentions préventives prolongées, des lourdes peines de prison, des procès injustes et de l’absence d’avocats de la défense et d'observateurs indépendants. Entre autres :

- Dang Phuc Tuê (nom religieux Vén. Thich Quang Dô), 81 ans, moine bouddhiste, poète et intellectuel en résidence surveillée depuis 2003; - Nguyên Van Ly, prêtre et rédacteur de la revue clandestine Liberté d’Opinion, huit ans de prison; Nguyên Phong et Nguyên Binh Thanh, corédacteurs, six et cinq ans de prison; - Lê Thi Công Nhân (f) et Nguyên Van Dài, avocats des droits de l'homme et cyberdissidents, trois et quatre ans de prison, en très mauvaise santé;

- Lê Thi Kim Thu (f), reporter indépendant et cyberdissidente, dix-huit mois de prison; - Lê Nguyên Sang, médecin, Nguyên Bac Truyên et Trân Quôc Hiên, avocats des droits de l'homme, cyberdissidents, quatre, trois et cinq ans de prison; - Truong Quôc Huy et Pham Ba Hai, cyberdissidents, six et cinq ans de prison; - Truong Minh Duc et Nguyên Van Hai (blogueur Diêu Cày), journalistes indépendants, cinq et deux ans et six mois de prison, en très mauvaise santé; - Pham Thanh Nghiên (f), journaliste indépendante et cyberdissidente, détenue depuis le 17 septembre 2008, en très mauvaise santé; - Nguyên Xuân Nghia, poète, écrivain et cyberdissident, six ans de prison, en très mauvaise santé;


- Vu Van Hung, enseignant et défenseur des droits de l’homme, trois ans de prison, torturé en détention, en très mauvaise santé; - Ngô Quynh et Pham Van Trôi, Nguyên Van Tuc et Trân Duc Thach, écrivains et poètes, cyberdissidents, respectivement trois, quatre, quatre et trois ans de prison; - Nguyên Van Tinh, enseignant, collaborateur à la revue clandestine la Nation, trois ans de prison; - Nguyên Kim Nhan, cyberdissident et défenseur des droits de l’homme, deux ans de prison;


- Nguyên Manh Son, poète et cyberdissident, trois ans de prison; - Trân Huynh Duy Thuc et Lê Thang Long, Trân Thi Thu (f) et Lê Thi Thu Thu (f), cyberdissidents et défenseurs des droits de l’homme, arrêtés le 24 et 4 juin 2009; - Lê Công Dinh, avocat des droits de l'homme et cyberdissident, arrêté le 13 juin 2009; - Nguyên Tiên Trung et Trân Anh Kim, cyberdissidents, arrêtés le 7 juillet 2009; Alarmée par le fait que plusieurs avocats des droits de l'homme ont fait l’objet de pressions insupportables (harcèlements, menaces) afin de renoncer à défendre des personnes accusées du délit d’opinion tandis que leurs collègues purgeaient leurs peines de prison ou se trouvaient en détention préventive; Consternée par la censure sévère des médias et de l’Internet, notamment le blocage de l’accès aux espaces publics promouvant une culture de paix et les droits de l'homme, révélant la corruption des fonctionnaires et l’injustice sociale ou débattant des politiques gouvernementales; Exhorte la République socialiste du Viet Nam à :

1. Relâcher, sans délai et sans conditions toutes les personnes, notamment les écrivains, journalistes, avocats et défenseurs des droits de l'homme susmentionnés, actuellement en prison ou en résidence surveillée pour avoir exercé de manière pacifique leur droit à la liberté d'expression; 2. cesser toute attaque, harcèlement, menaces de résidence surveillée ou de détention préventive à l’encontre de tous ceux qui professent des vues dissidentes ou qui demande la liberté de religion et le respect des droits de l'homme; 3. lever toutes les restrictions imposées sur d’anciens prisonniers d’opinion et de conscience, y compris ceux qui ont purgé leurs peines de prison pour avoir exercé leur droit à la liberté d'expression; 4. améliorer les conditions carcérales dans les prisons et les camps de travail, notamment de stopper les agressions perpétrées par des détenus de droit commun et d'autoriser les prisonniers malades à être hospitalisés, à recevoir les soins médicaux nécessités par leur état de santé et faciliter les visites de leur famille;

5. Discontinuer la pratique des tribunaux populaires qui ne sont pas en conformité avec les normes internationales sur les procès équitables stipulées dans l’Article 14 du PIDCP; 6. abolir toute la censure et de lever toutes les restrictions sur la liberté d'expression et d’opinion, la liberté de la presse, la liberté de créer et de publier, le droit à être informé par n'importe quel moyen, notamment l'Internet, et la liberté d’association, conformément aux Articles 19, 21 et 22 du PIDCP. ------------------------------------------------------------------------------------------

Resolution on Viet Nam submitted by Suisse Romand PEN Centre and seconded by Swiss German PEN Centre and Swiss Italian and Reto-Romansh PEN Centre The Assembly of Delegates of International PEN, meeting at its 75th International Congress in Linz , Austria , 19-25 October 2009 Concerned that, in violation of Article 19 of the United Nations International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), Viet Nam (SRV) continues to suppress the right to freedom of expression and opinion, through application of problematic articles of its Penal Code, in particular, Article 88 ‘’Propaganda against the State’’ providing sentences of up to 20 years in prison and Article 258 ‘‘Abusing democratic freedoms to infringe upon the State interests’’, up to seven years in prison; Deeply disturbed that prisoners of opinion and conscience serve their sentences in forced labour camps under deplorable conditions.

They are often held in solitary confinement or in crowded and insanitary cells with criminals. Some of them are victims of physical aggression and ill-treatment, suffering of chronic diseases and absence of adequate medical care. Upon release, former prisoners serve one to five more years in probationary detention, under Article 38 of Penal Code; Deploring that, during the Universal Periodic Review at the Human Rights Council in May 2009, Viet Nam (SRV) refused several Recommendations from other States including those calling for the abolition of the vague ‘‘national security’’ provisions of the Penal Code (Articles 38, 88 and 258) and Ordinance 44 authorizing administrative detention without trial and placing dissidents in psychiatric hospitals; as well as those urging Viet Nam to ensure the media’s independence and to issue a standing invitation to all Special Procedures, in particular, those scrutinising freedom of expression, freedom of religion and torture;

Shocked and indignant at the widespread crackdown in August-September 2008 and the relentless and persistent persecution of writers, journalists, lawyers and human rights defenders solely for exercising their right to freedom of expression; Condemns the on-going practice of house arrest, lengthy preventive detention, heavy prison sentences, unfair trials and lack of independent defence lawyers and observers. Among others: - Dang Phuc Tuê (religious name Ven Thich Quang Dô), 81-year-old, Buddhist monk, poet and intellectual, house arrest since 2003; - Nguyên Van Ly, priest and editor of the clandestine review Freedom of Opinion, eight years in prison; Nguyên Phong and Nguyên Binh Thanh, co-editors, six and five years in prison; - Lê Thi Công Nhân (f) and Nguyên Van Dài, human rights lawyers and cyberdissidents, three and four years in prison, in very poor health; - Lê Thi Kim Thu (f), independent reporter and cyberdissident, eighteen months in prison; - Lê Nguyên Sang, physician, Nguyên Bac Truyên and Trân Quôc Hiên, human rights lawyers, cyberdissidents, four, three and five years in prison;

- Truong Quôc Huy and Pham Ba Hai , cyberdissidents, six and five years in prison; - Truong Minh Duc and Nguyên Van Hai (blogger Diêu Cày), independent journalists, five and two years and six months in prison, in very poor health; - Pham Thanh Nghiên (f), independent journalist and cyberdissident, detained since 17 September 2008, in very poor health; - Nguyên Xuân Nghia, poet, writer and cyberdissident, six years in prison, in very poor health; - Vu Van Hung, teacher and human rights defender, three years in prison, tortured in detention, in very poor health; - Ngô Quynh and Pham Van Trôi, Nguyên Van Tuc and Trân Duc Thach, writers and poets, cyberdissidents, respectively three, four, four and three years in prison; - Nguyên Van Tinh, teacher, co-editor of the clandestine review the Nation, three years in prison; - Nguyên Kim Nhan, cyberdissident and human rights defender, two years in prison; - Nguyên Manh Son, poet and cyberdissident, three years in prison; - Trân Huynh Duy Thuc and Lê Thang Long, Trân Thi Thu (f) and Lê Thi Thu Thu (f), cyberdissidents and human rights defenders, arrested on 24 May and 4 June 2009;

- Lê Công Dinh, human rights lawyer and cyberdissident, arrested on 13 June 2009; - Nguyên Tiên Trung and Trân Anh Kim, cyberdissidents, arrested on 7 July 2009; Alarmed by the fact that some human rights lawyers have been subjected to unbearable pressures (harassment, threat) to give up the cases of persons accused of opinion offence while their fellow lawyers are serving their prison sentences or under preventive detention; Dismayed by severe censorship of media and on Internet, blocking access to public spaces that promote a culture of peace and human rights, identify administrative corruption and social injustice or debate State policies; Urges the Socialist Republic of Viet Nam to:


1. release, immediately and unconditionally, all persons, notably the above-mentioned writers, journalists, lawyers and human rights defenders, currently in prison or under house arrest for the peaceful exercise of their right to freedom of expression; 2. cease all attacks, harassment, threat of house arrest or preventive detention against all persons who hold dissenting views or who call for freedom of religion and respect of human rights; 3. lift all restrictions imposed on former prisoners of opinion and conscience, including those who have served prison terms for exercising their right of freedom of expression; 4. improve conditions in prisons and in labour camps, including an end to acts of aggression perpetrated by common criminal detainees, and allow sick prisoners to be hospitalized, to receive adequate medical care and to facilitate their family visits; 5. discontinue the practice of people’s tribunals which do not comply with international standards of fair trial set forth in Article 14 of ICCPR; 6. abolish all censorship and lift all restrictions on freedom of expression and opinion, freedom of the press, freedom to create and to publish, the right to be informed by all means including the Internet, and freedom of association, in compliance with the Articles 19, 21 and 22 of the ICCPR. * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *

Blog Archive

Google Analytics

http://www.google.com/analytics/

Bravenet Hit Counter