Sontrung's Blog (Sơn Trung)

Văn Hóa Việt Nam - http://son-trung.blogspot.com/

Today:

HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE

Labels

Saturday, November 7, 2009

THANH-THANH * LÊ MỘNG BẢO VÀ TÔI

**


Tôi được hân hạnh biết, quen, rồi thân với nhạc sĩ Lê Mộng Bảo từ năm tôi 14 tuổi (năm 1944 justify;" Thuở ấy, nhạc tiếng Việt mà bọn nhỏ chúng tôi thường nghe, và thường hát theo, hầu như chỉ có:

1/ Bản "Đăng Đàn Cung" của triều đình nhà Nguyễn, trỗi lên mỗi lần hoàng đế Bảo Đại đến chủ tọa lễ phát phần thưởng cho học sinh ưu tú cuối học kỳ (tại hội đường "Accueil"), hoặc các cuộc tranh tài thể thao cuối tuần (tại thể vận trường "Bảo Long"); đại khái:

"Kìa, núi vàng, bể bạc, Có sách Trời, sách Trời định phần. Một dòng ta, gầy non sông vững chặt, Đã ba nghìn sáu trăm năm, Bắc Nam gồm một Nhà: Con Hồng, cháu Lạc, Văn Minh đào tạo, Màu gấm hoa càng đượm, Rạng vẻ nòi giống Tiên Long", v.v...

2/ Bài "Dậy!" (?) (không phải "Dậy Mà Đi!") của thực dân Pháp, phổ biến rộng rãi trong các trường học cũng như tại các buổi họp đông người; đại khái: "Dậy! Dậy! Dậy! Mở mắt xem toàn Châu, Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu: Ngọn đèn thông thương ngàn dặm, Xe, tàu điện, tàu nước, tàu bay...", v.v...

3/ Bài "Đi Dạo Bờ Hồ" của thực dân Pháp, lưu hành trong giới "Khố Đỏ", "Khố Xanh", nhưng ở trong dân thỉnh thoảng cũng có người hát; đại khái: "Mình ơi, có đi bờ hồ? Cùng nhau anh em ta dạo! - Xin mình là mình đừng đi! - Cứ đi là đi mình nhé!", v.v... Về nhạc tiếng Pháp, chúng tôi phải hát những bài ca tụng thống chế Pétain, quốc trưởng bù nhìn do Đức Quốc Xã dựng lên, như "Maréchal! Nous voilà!"; đại khái: Maréchal! Nous voilà! Devant toi, the sauveur de la France, Nous jurons nos égards D'obéir et de suivre tes pas!", v.v... hoặc "Debout, Belle Jeunesse!"; đại khái: "Debout! belle jeunesse! Voici l'heure d'agir! Et voici la promesse De toujours obéir!", v.v...


Để đối lại với thể loại văn hóa lạc hậu và nô lệ ấy, nhất là từ khi có phi cơ của Mỹ đến oanh tạc thường xuyên các căn cứ quân sự của Nhật, các nỗ lực đổi mới văn hóa (trong đó có âm nhạc) đã được gấp rút gia tăng. Một trong các nhóm văn nghệ sĩ tích cực hoạt động bấy giờ là "Đoàn Văn Nghệ Quê Hương" (sân khấu và tuần báo) ở Huế. Tôi nhờ đã có thơ văn đăng trên các tạp chí "Truyền Bá" và "Tiểu Thuyết Thứ Bảy" ở Hà Nội từ năm 1943, nên được thi sĩ Phan Khắc Khoan, trưởng Đoàn, nhận vào Đoàn. Tại đây, tôi gặp Lê Mộng Bảo, Hồ Mộng Thiệp, và Quốc Dân; riêng anh Bảo là người trước đó tôi thấy làm việc ở Sở Bưu Điện trung ương. Thì ra anh là một nhạc sĩ rường cột trong Đoàn, đang tiếp sức các nhạc sĩ tân nhạc tiền phong, cống hiến thính giả Việt Nam những điệu nhạc và lời ca hùng mạnh, trẻ trung.


Tuy nhiên, phải đợi đến tháng 8 năm 1945 mới có nhạc phẩm riêng đầu tiên của Lê Mộng Bảo được chính thức phổ biến và hoan nghênh từ Bắc chí Nam; đó là bản "Không Làm Nô Lệ", cảm hứng nhiệt tình từ cuộc "Cách Mạng Mùa Thu" của toàn dân Việt Nam. * Sau năm 1947, hồi cư về Huế, tôi gặp nhạc sĩ Lê Mộng Bảo thường xuyên. Họ Lê phụ trách "Nhà Xuất Bản Tân Hoa" (về sau đổi ra là "Tinh Hoa" rồi "Tinh Hoa Miền Nam"), thực hiện đặc san "Tin Nhạc", với nội dung không chỉ về nhạc mà còn về nhiều thể loại khác. Riêng về thơ, có những bài giá trị mà tác giả ký tên là Mộng Quỳnh. Về sau tôi mới khám phá ra: thi sĩ Mộng Quỳnh cũng chính là anh (về sau anh còn ký tên là Hoa Linh Bảo nữa).


*

Tháng Tư Đen đã phủ xuống cuộc đời của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo một bức màn đen dày kín. Nhưng bức màn đen 1975 dày kín quá, họ Lê xé mãi không rách, lách mãi không ra. Nói như thi sĩ Tản Đà, nếu mỗi đời người là một "giấc mộng lớn", thì trong mỗi "giấc mộng lớn" đều có khá nhiều "giấc mộng con". Thế mà, với anh: Sở nguyện phụng dưỡng mẹ già đã không đạt thành như ước mơ! Vốn liếng gửi gắm người thân, tưởng như thoát được số phận của mấy căn phố lầu giữa trung tâm đô thành, đã không cánh mà bay! Tủi biết ngần nào khi đón tiếp bạn bè mà không đãi nổi một ly cà phê!


Hương lửa mặn nồng ngày nào, giờ đây chỉ là tro tàn bếp lạnh đêm đông! Còn lại một tấm thân gầy, nhạc sĩ Lê Mộng Bảo đi lang thang như người mất trí, một hôm bỗng bị một cái cưa từ trên lầu cao rơi xuống cưa trúng đầu mình! May nhờ thi sĩ Tô Như, bạn thân, nhà ở gần đó, chở kịp đến nhà thương, nếu không thì máu đã ra hết mà bỏ xác dọc đường rồi! Hậu quả của tai nạn ấy là đôi mắt, cửa sổ của tâm hồn, của nhạc sĩ họ Lê, ngày càng mờ đi! Trong hoàn cảnh khốn khổ ấy, Tạo Hóa lại trớ trêu đưa đẩy đến cho anh một mỹ nhân tài sắc tuyệt vời. Nàng là tri âm tri kỷ của anh, là thế giới mới của anh. Hạnh phúc bỗng như hồng ân ban xuống từ trên Trời cao... Thế nhưng, lại là chữ "nhưng" quái ác, người đẹp vốn đã cởi bỏ áo dòng, nay lại xa lìa họ Lê, mang theo qua châu Âu một giọt máu của chàng.


Từ ngày tôi ra khỏi trại "cải tạo" vào năm 1987, tuần nào tôi cũng nhận được ít nhất là một bài thơ, khá dài, của Lê Mộng Bảo, chia sẻ với tôi những nỗi niềm bi phẫn tự đáy lòng anh. Nếu như trước kia, tôi còn giữ được những băng nhạc và ấn bản đặc biệt nhạc phẩm (in hai lớp giấy dày) của anh gửi tặng tôi với chữ ký và triện son, thì tôi đã có thể đem các băng nhạc ra nghe để nhớ thương và đồng cảm với anh, qua các bản nhạc của anh với tiếng hát của Duy Khánh, Thanh Vũ, Khánh Ly, Trúc Ly, Giao Linh, Giáng Thu, Phương Dung, Trang Mỹ Dung, Hà Thanh, v.v...


Mộng riêng của anh là được gần gũi để tâm sự với nàng, nhưng cuộc tình đã dang dở giữa chừng. Mộng chung của anh là được trở lại với Âm Nhạc, nhưng tình hình chính trị cộng với bệnh hoạn và nỗi buồn riêng tư đã đẩy anh vào cơn chán ngán triền miên, biến một tay hoạt động xã hội có tinh thần Hướng Đạo cao như anh thành một nạn nhân tuyệt vọng trong một cảnh đời éo le, nên anh không còn sáng tác được gì. Do đó, thi sĩ Tô Như, bạn thân của chúng tôi, trước khi qua đời, đã đặt cho Lê Mộng Bảo cái tên "Lao Mộng Bể": lao vào mộng, mà mộng nào cũng bể (vỡ) tan! * Khi gặp lại nhau trên vùng đất Tự Do này, nghe đến cái tên nói-lái-đùa mà được xem như là điềm-ứng đó, tôi không tán đồng.

Tôi quyết góp phần hồi phục Niềm Tin Yêu Đời cho người bạn thâm niên và vong niên của mình (anh lớn hơn tôi hơn nửa giáp). Tôi cùng vợ tôi đến thăm và tạo không khí thân mật hàn gắn phần nào sự bất hòa trong gia đình anh; chúng tôi đưa anh chị Bảo đi hội chợ Tết; chúng tôi đưa anh Bảo, cùng chị Agnès, quả phụ của cố thi sĩ Hồ Mộng Thiệp, đi dự các buổi sinh hoạt văn nghệ tại San Jose. Bạn bè gần xa đều niềm nở chào hỏi anh, và anh đã trở lại thường xuyên nở một nụ cười thật tươi trên khuôn mặt hiền lành. Tôi đặt lại tên cho anh, Lê Mộng Bảo, là "Lão Mộng Bê", nghĩa là tuy già lão rồi, nhưng hãy vẫn cứ bê (ôm) các giấc mộng của mình!


Và có hiệu quả thật. Từ trong đáy hành trang, Lê Mộng Bảo đã đem ra lại những chứng tích mà anh may mắn còn giấu giữ được, những kỷ vật mà anh trân quý tự ngày xưa: một số ấn bản nhạc phẩm của anh, một số thủ bút của bạn bè, vô số hình ảnh của đa số các nam nữ nghệ sĩ tên tuổi của Việt Nam trước năm 1975 (trong đó có cả một tấm hình của tôi, Thanh-Thanh, chụp chung với Như Trị, Tô Kiều Ngân, hồi mới hai mươi!) Nhờ đó mới có bản nhạc "Tìm Lại Quê Hương", mà anh đã phổ từ thơ của Hồ Mộng Thiệp, một người bạn thân của chúng tôi, để in trong thi tập "Ngàn Năm Gởi Mây Bay" mà chị Agnès, quả phụ của cố thi sĩ họ Hồ, đã xuất bản (di cảo của chồng) trong năm 1996.

*

Có một điều lạ là Lê Mộng Bảo đã sáng tác được cả một tập nhiều trăm trang thơ, trong đó có vài bài đã được diễn ngâm trên làn sóng phát thanh ở Thung Lũng Hoa Vàng này. Anh cũng nghiên cứu, phát minh ra một cách làm thơ theo lối bói số: cứ chọn đại 4 con số, rồi tra bảng kê có sẵn, mỗi con số đưa đến 7 con số khác, rồi tra bảng kê "số đổi thành chữ", ta có ngay 4 câu thơ thất ngôn đúng niêm đúng luật đường hoàng! * Trở lại với âm nhạc, ở hải ngoại, dù sức khỏe quá yếu, anh cũng đã cố gắng sáng tác thêm được hai bản ("Đi Tìm Anh" và "Nghe Loài Chim Hát" trích từ tập nhạc chủ đề "Những Khúc Tình Ca Viết Trên Lưng Ngựa Hoang" của anh), đã được phổ biến trên "Chánh Đạo", "Việt Nam", "Mẹ Việt Nam", v.v... Anh cũng soạn lại và cho in lại thiên biên khảo công phu "Thử Nhìn Lại Các Dòng Ca Khúc Việt Nam Trước Và Sau Năm 1945 Qua Các Giai Đoạn" để lưu lại một tài liệu quý báu cho nhạc sử nước nhà.


Liên lạc lại với các bạn cũ, ôn lại quãng đời xưa, Lê Mộng Bảo vui sướng đã dự được một phần đáng kể trong quá trình và công trình khai phá cũng như quảng bá nền Tân Nhạc Việt Nam từ thuở ban đầu. Thành tích ấy đã được tái xác nhận với các lớp hậu sinh, qua nhiều báo chí hải ngoại như: "Mẹ Việt Nam" của Như Hảo ở miền bắc Cali, ký giả Trần Quốc Bảo trên "Thế Giới Nghệ Sĩ" ở miền nam Cali, nữ sĩ Vi Khuê trên "Phụ Nữ Diễn Đàn" ở Virginia, nhạc sĩ Lê Dinh trên "Nghệ Thuật" ở Montréal (Canada); ký giả Trường Kỳ trong tuyển tập "Nghệ Sĩ'" (cũng ở Canada), nhà văn Nhật Thịnh và Khuê Dung đã viết trên "Mẹ Việt Nam" và gần đây trên "Tiếng Vang" của Trần Văn ở Sacramento, v.v... cũng như qua chương trình "Văn Học Nghệ Thuật" giới thiệu "Tác Giả và Tác Phẩm" của các phối hợp viên Trái Phạm, Sơn Tuyền và Hồ Văn Cao trên đài "Tiếng Nói Hoa Kỳ"...


Những "giấc mộng con" của anh lại được anh tiếp tục "bê", dù rất khó khăn. Chương trình ca nhạc đặc biệt ngày 6 tháng 8 năm 2000 tại sân khấu "Le Petit Trianon" ở San Jose, dành để vinh danh Lê Mộng Bảo, được các nghệ sĩ thân hữu tổ chức, và khán thỉnh giả đồng hương ủng hộ nồng nhiệt, cụ thể đối với anh quả là một giấc mộng đã thành. * Trong số các lời giới thiệu nhạc Lê Mộng Bảo, anh thích nhất đoạn viết sau đây của nhà nhạc học Thế Phong, mà tôi xin trích để kết thúc mẩu chuyện phiếm này: "Không phải là không hữu lý, một khi thi triết gia Frederick Nietzche bàn về nhạc, mà cho rằng thảm kịch đã sinh ra thiên tài và nhạc tính... Nhạc Lê Mộng Bảo chịu ảnh hưởng của nhiều ca khúc Nietzche, từ Kinh Vê Đăng Ta (Vệ Đà) và Triết Phật, những khúc Krakiviak của Chopin, từ cuộc sống lưu đày tang thương của nhạc sĩ Adam Czartoryska... nên Tình Khúc của anh là những âm thanh kết tinh từ điêu linh của Dân Tộc Việt, hơn ba mươi năm không ngơi nghỉ chiến tranh, mà nhạc sĩ đã chịu đựng đến mức tột cùng..."


THANH-THANH LÊ XUÂN NHUẬN TÌNH BẠN GIỮA LÊ MỘNG BẢO VÀ THANH-THANH

Anh Lê Mộng Bảo vô cùng thân+thương, Đây là giờ phút cuối-cùng mà em cùng với mọi người đến đây để tiễn-đưa anh về cõi vĩnh-hằng. Chính lúc này là lúc mà đầu-óc em tràn-ngập bao nhiêu kỷ-niệm vui/buồn đã có với anh. Giữa chúng mình không những chỉ là tình bạn, mà còn là tình anh+em không khác chi ruột-thịt một nhà. Nhất là sau năm 1975, anh+chị Hồ Mộng Thiệp thì đã vượt biển qua Hoa-Kỳ, anh+chị Tô-Như thì bận vật lộn với sự sống hằng ngày, riêng anh thì sau khi thoát khỏi mạng lưới chính-trị lại vướng ngay vào mắc lưới ái-tình. Hoàn-cảnh của anh, anh đã trình-bày trong những bức thư và những bài thơ mà anh liên-tiếp gửi ra Nha-Trang cho em, tưởng như suốt ngày anh chỉ làm có một việc là giãi-bày tâm-sự với em. Tuy nhiên, anh còn dành nhiều thì-giờ để đi nhà thờ, tham-gia ca-đoàn, học Kinh Thánh, và... gặp người kia. Việc đó vừa là hậu-quả vừa là nguyên-nhân làm cho sự rạn nứt trở thành đổ vỡ trong gia-đình anh.

Cuối năm 1991 cho đến đầu năm 1992, vợ+chồng chúng em vào Sài-Gòn để làm thủ-tục xuất-ngoại, trực-tiếp gặp anh+chị nhiều lần, làm một nhịp cầu thông-cảm phần nào cho cả hai bên. Trong những bài thơ mà anh gửi em, đã có biết bao nhiêu lần anh viết "Nết em ơi! Nết em ơi!" Rõ thật: giận thì giận, mà thương thì thương! Cho nên chúng em rất mừng khi được anh+chị ngồi chung một bàn nâng ly chúc tiễn chúng em đi... Sau này, anh+chị qua Mỹ, tình-hình hầu như càng căng thẳng thêm.


Thế nhưng, mỗi lần vợ+chồng chúng em đến thăm vẫn được anh+chị ngồi chung tiếp chuyện chúng em, có lần đi chung cùng với chúng em, và mới đây nhất, khi nhà em qua đời, anh+chị cũng đã đi chung với nhau, cùng chị Hồ Mộng Thiệp, lên Alameda thắp nhang tiễn-biệt nhà em. Nếu giữa anh+chị và chúng em mà không có một tình thân sâu đậm thì thật khó mà có sự nhường-nhịn ấy. Em cám ơn anh+chị đã nể tình đôi bạn vong-niên, cũng như đã nể chị Hồ Mộng Thiệp, là người bảo-trợ, đón tiếp, và thu-xếp nơi ăn chốn ở lúc ban đầu khi anh+chị và cháu Tuyết mới qua đây.


Và em vẫn đều đều, mỗi lần về San Jose, chở anh, và chị Hồ Mộng Thiệp cùng với nhà em, đi dự các buổi sinh-hoạt văn nghệ. Anh kiếm để dành cho em hầu hết các loại báo-chí, có khi quá nhiều đến nỗi cả anh lẫn em cùng với cháu Tuyết phải ôm nhiều lần từ nhà ra xe; và khi có một tin-tức gì lạ thì anh gửi liền lên em, thật là chu-đáo và tận-tình. Trong chỗ bạn-bè với nhau, đã có vài người vui miệng hỏi anh về chuyện gia-đình. Anh đã mộc-mạc trả lời: "Bảo rất muốn ăn cơm nhà, nhưng vì nhà không dọn cơm, nên Bảo phải đi ăn cơm bên ngoài!" Em lại thấy rõ lòng anh trong câu nói đó: giận thì giận, mà thương thì thương! Nhưng có một kỷ-niệm mà em không thể không nhắc lên đây: Về buổi ca-nhạc chủ-đề "50 Năm Âm-Nhạc Lê Mộng Bảo" được tổ-chức tại Le Petit Trianon, San Jose, vào chiều 6 tháng 8 năm 2000, em có một bài phát-biểu, theo lời yêu-cầu của anh.


Khi nhắc đến chuyện "người đẹp vốn đã cởi bỏ áo dòng, nay lại xa lìa họ Lê, mang theo qua châu Âu một giọt máu của chàng" em có viết thêm một đoạn sau đây: "Chưa hết! Trong lúc con người tài hoa ấy, tác giả của những bản tình ca đã một thời làm xao xuyến bao nhiêu con tim, xác ở nước Mỹ này mà hồn vọng hướng Paris, đọc lại những dòng thư cũ, "Mỗi lần nhớ đến Anh, Lòng em thấy ấm áp lạ lùng...


Yêu thương con Bằng yêu thương Anh", để được an ủi và tự an ủi mình, thì bỗng vũ trụ của anh sụp đổ: Định Mệnh lại giáng xuống đời Lê Mộng Bảo một đòn oan nghiệt nữa: bên kia Đại Tây Dương, người-trong-mộng của anh đã vĩnh biệt cõi trần!" Em viết như thế là vì đã thấy trong buồng ngủ riêng của anh, có một bàn thờ, với ảnh của nàng; hỏi anh thì anh bảo là "cô ấy" đã qua đời rồi. Tôn-trọng nỗi buồn riêng-tư của anh, em không dám hỏi gì thêm. Thế nhưng trước khi em lên sân khấu, anh đã lấy bài của em, xóa bỏ đoạn ấy, và giải-thích rằng: cô ấy không chết, vì muốn cho "bả" yên tâm,

Bảo đã loan tin như thế và làm như là sự thật, để cho yên cửa yên nhà! Anh Bảo ơi! kỷ-niệm về anh thì còn rất nhiều, nhưng qua chuyện đó, em thấy rằng anh, trôi giữa đôi bờ, cũng đau lòng lắm; và em cũng dám tin thêm, nhất là trong giờ phút này, rằng chị cũng cùng tâm-trạng với anh: giận thì giận, mà thương thì thương! Em thì không có chuyện gì, đúng ra là không có tư-cách gì, để giận anh, nhưng thương anh thì thương vô cùng, anh Bảo ơi!


LÊ XUÂN NHUẬN KHÓC ANH LÊ MỘNG BẢO

Bảo ơi, đàn đã vỡ rồi!
Bao nhiêu mộng đẹp cuối đời đã tan!
Xuôi tay sạch nợ trần-gian,
Thiên-đuờng cũng được, niết-bàn cũng yên!
Nhớ xưa, từ trung (hay) cao-nguyên,
Hễ vào đô-thị (em) đến liền nhà anh.
Chị lo cơm nước ngon lành;
Các cháu sẵn dành chỗ ngủ ấm êm;
Anh lái (xe hơi) chở em đi xem
Vũ-trường, nhạc-hội, cảnh đêm Sài-thành...
Ở xa, em đã có anh
Lo giùm ấn-loát, phát-hành thơ văn;
Đại-Hội Văn-Hóa Miền Nam,
Có tay anh giúp em làm nên công

*

Thế rồi trời nổi tố giông, Gia-tài sự-nghiệp bỗng không còn gì! Anh dệt những vần sầu bi Giãi cùng em, bạn cố-tri, nỗi-niềm... Cho nên, trong cuộc lụy phiền, Gặp nhau, tài sắc đắm thuyền, níu nhau: Anh cần thuốc giảm cơn đau, Giữa ngày xưa với ngày sau rối bời... Vợ chồng em, nhỏ tuổi đời, Nhưng chân-tình vẫn góp lời can khuyên. Lòng buồn tạm gác qua bên, Anh chị đồng tiễn chúng em lên đường. Cảm-thông trong cảnh đoạn-trường, Em dành chút ít thân thương gửi về. Đến khi anh chị rời quê, Tưởng như giai-đoạn não-nề đã qua; Ai ngờ trời vẫn phong-ba! Chúng em vẫn đứng giải hòa hai bên... Và rồi, cố gắng lắng yên, Anh chị lại đã đồng lên chia buồn: Vợ em vui thỏa về nguồn, Vẫn mong anh chị được luôn thuận hòa. Bây giờ thì anh đi xa, Có nói chi nữa cũng là... hư không! Bảo ơi, thương nhớ vô cùng! Khóc anh, nuốt lệ vô lòng, Bảo ơi!...

THANH-THANH 18-10-2007

*Thi-văn-đoàn "Xây-Dựng" của Thanh-Thanh được Đại-Hội Văn-Hóa Toàn-Quốc cuối thập-niên 1950 công-nhận là một cành trong Cây Đa Văn-Hiến Việt Nam.



***


***

HIỆN THỰC XÃ HỘI VIỆT NAM

Thủ đô văn hóa của đỉnh cao trí tuệ CSVN

Cờ bạc ngang nhiên giữa trung tâm Thủ đô


Vườn hoa Con Cóc trên phố Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lúc nào cũng có hàng chục, thậm chí có lúc cả trăm người tụ họp chơi cờ bạc công khai.

Hiện tượng này diễn ra giữa ban ngày, trong một thời gian dài nhưng chưa được xử lý triệt để.

Rất nhiều người chứng kiến cảm thấy chạnh lòng trước vẻ đẹp của Thủ đô Hà Nội bị "ố" khi Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội đang đến rất gần.

Image


Gần trăm con người ngang nhiên tụ tập đánh bài bạc ngay cạnh vườn hoa Con Cóc trên phố Lý Thái Tổ, cạnh Khách sạn Metropol.
Image
Image
Image
Người đánh bạc, người chầu rìa rất tự do, thoải mái.
Image
Image
Image
Rất nhiều hình thức cờ bạc ăn tiền diễn ra tại đây.
Image

Image
Hàng nước phục vụ tại chỗ cho dân chơi, thậm chí cả cơm hộp cũng được đưa đến tận nơi.
Image
Image
Tiền được dân chơi giấu rất cẩn thận (trong giầy).



***







__._,_.___


PHAN HẠNH * VỀ TRUYỆN THẰNG RÁI CÁ

Thằng Rái Cá:
chuyện thật hay là huyền thoại?

Phan Hạnh, Toronto


Liên mạng ngày nay đã trở thành một thứ diễn đàn đầy sương mù như sàn sân khấu trình diễn được phun khói. Ai cũng có thể viết blog, lập trang blog miễn phí và trở thành một blogger, muốn viết gì thì viết, muốn đưa lên Internet bài viết của ai thì cứ tự nhiên (chứ không phải “vô tư” như ngôn ngữ thời thượng bây giờ trong nước); đưa mà không cần biết tác giả là ai và câu chuyện có xuất xứ đáng tin cậy hay không.

Trong thời gian mấy tháng qua, chắc nhiều người trong chúng ta đã có đọc từ các trang mạng Việt ngữ chuyện Thằng Rái Cá (The Otter Boy) hoặc được bạn bè thân hữu câu chuyện cảm động và hấp dẫn nầy vào hộp thư của chúng ta. Thấy một câu chuyện hay, chúng ta lại chuyển tiếp cho nhiều thân nhân bạn bè khác đọc qua email hoặc post lên diễn đàn của các nhóm thân hữu. Chúng ta đọc để thưởng thức ý tưởng nói lên tấm lòng bác ái, tinh thần hi sinh sự an nguy của cá nhân để cứu giúp người hoạn nạn. Có lẽ mục đích duy nhất của người tạo ra câu chuyện nầy cũng chỉ có thế: truyền đạt một thông điệp của sự yêu thương đồng loại.

Câu chuyện Thằng Rái Cá được tìm thấy trên các trang mạng liệt kê sau đây, có thể là còn nhiều diễn đàn và điểm lưu ký khác nữa.

1) Trang nhà: Văn Hóa Việt. Nguồn mạng:

http://www.yahoovanhoaviet.com/news/index.php?act=view&code=post&cid=23&id=37425

Tựa: “Câu chuyện của lãnh tụ và viên thuốc Penicilin”. Người kể (thay vì tên tác giả): Trần Quốc Bảo. Ngày đăng: 14 tháng Chín 2009.

2) Trang nhà Gia Ðình Ban Mê Lê Bảo Tịnh. Nguồn mạng: http://lebaotinhbmt.com/index.php?nv=News&at=article&sid=741

Ngày đăng: 04 tháng Chín 2009. Tựa “Thằng Rái Cá”. Tên tác giả: không có, chỉ ghi là Sưu Tầm (ý muốn nói tác giả nặc danh?)

3) Trang nhà: Hãy Yêu Thương Nhau. Nguồn mạng: http://hayyeuthuongnhau.org/site2008/index.php?option=com_content&task=view&id=869&Itemid=37

Ngày đăng: 30 tháng Tám 2009. Tựa: “Câu Chuyện Thần Thoại”. Tên tác giả: “Người viết sưu tầm từ Internet”

4) Trang nhà: Trường Tiểu Học Kim Ðồng Gò Vấp. Nguồn mạng:

http://www.kimdonggv.com/index.php?cid=69&news_id=2085

Ngày đăng: 28 tháng Tám 2009. Tựa: “Một Câu Chuyện Nên Ðọc”. Tên tác giả: không có, chỉ đề tên người gởi là Xuân Thu, Email : nuabonmua@gmail.com

5) Trang nhà: Ðiện Báo Ánh Dương Online. Nguồn mạng: http://siteground124.com/~anhduong/index.php?option=com_content&task=view&id=4648&Itemid=1

Ngày đăng: 27 tháng Tám 2009. Tựa: “Thằng Rái Cá”. Tên tác giả: Bùi Bảo Sơn CVA 65 (Chu Văn An 1965) www.cva646566. com

6) Trang nhà: Mẹ Maria. Nguồn mạng:

http://www.memaria.org/default.aspx?LangID=38&tabId=416&ArticleID=22753

Ngày đăng: 27 tháng Tám 2009. Tựa: “Chuyện Thật Như Thần Thoại”. Tên tác giả: Trần Quốc Bảo.

7) Trang nhà: Dũng Lạc Gọi Nắng Vào Tim. Nguồn mạng: http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=8534

Ngày đăng: không đề. Tựa: “Chuyện Thật Như Thần Thoại” (Gọi Nắng ào Tim).

Tên tác giả: Trần Quốc Bảo (sưu tầm).

8) Trang nhà: Thăng Tiến Việt Nam. Nguồn mạng:

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=4172&Itemid=311

Ngày đăng: 07 tháng Chín 2009. Tựa: “Thằng Rái Cá” Chuyện Thật Như Thần Thoại. Tên tác giả: không có.

9) Trang nhà: Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam Tại Ðức. Nguồn mạng: http://ldcg.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1217&Itemid=145

Ngày đăng: 06 tháng Chín 2009. Tựa: “Thằng Rái Cá”. Tên tác giả: Trần Quốc Bảo.

Nhìn qua chín trang mạng trên, chúng ta sẽ nhận thấy mặc dù cùng một câu chuyện với nội dung giống y hệt nhau nhưng ngay chính cái tựa và ngay cả tên tác giả cũng không đồng nhất. Ðiều nầy cho thấy rằng các trang mạng trên, theo như tình trạng chung, làm việc với một tinh thần thiếu nghiêm túc và cẩn trọng. Họ vốn là những trang mạng hội đoàn nhỏ với ngân khoản điều hành khiêm nhường, thiếu thốn và nghèo nàn về nhân sự lẫn khả năng tài chánh được điều hành bởi một hoặc vài cá nhân tự nguyện hoặc với lợi tức tượng trưng và có khi chỉ làm việc bán thời gian. Khuyết điểm, lầm lẫn, thiếu sót hay sai lệch dĩ nhiên sẽ rất dễ xảy ra. Chẳng ai có công sức hoặc thì giờ đâu để kiểm chứng xem câu chuyện ấy có thật hay không. Thế thì chuyện ấy có thật không? Ít ra có vài trang mạng đặt cho nó cái tựa “Chuyện Thật Như Thần Thoại” kia mà.

Nhưng tiếc thay đó lại không phải là một câu chuyện thật trong lịch sử. Ðó chỉ là một trong nhiều huyền thoại được con người thêu dệt dựng lên quanh nhân vật chính khách lỗi lạc Winston Churchill của nước Anh. Huyền thoại trong câu chuyện Thằng Rái Cá đã được một cơ quan thẩm quyền là Trung Tâm và Bảo Tàng Viện Churchill tại Các Phòng Hành Quân của Nội Các Chiến Tranh ở Luân Ðôn (The Churchill Centre and Museum at The Cabinet War Rooms, London) chính thức lên tiếng bác bỏ. (Nguồn mạng: http://www.winstonchurchill.org/learn/myths/myths/fleming-saved-him-from-drowning).

Trước khi đọc qua lời lên tiếng chính thức của Bảo Tàng Viện Churchill, thiết tưởng chúng ta nên đọc lại câu chuyện Thằng Rái Cá tại địa chỉ các trang mạng đã dẫn. Hoặc chúng ta có thể xem câu chuyện chưa “bị” thêm thắt râu ria, lần đầu tiên được gửi đến Viện Bảo Tàng Churchill ngày 16 tháng Sáu năm 2000 bởi một người tên Rob Burge, địa chỉ rburge@jaguar.com. như sau:

“Tên ông đó là Fleming, và ông ta là một nông dân Tô Cách Lan nghèo. Một ngày nọ trong khi làm việc trong nông trại để nuôi sống gia đình, ông nghe tiếng kêu cầu cứu của ai đó từ vũng lầy gần bên vang lại. Ông buông đồ dùng đang cầm trên tay và chạy về hướng đó. Ông thấy một cậu bé đang vùng vẫy la thét dưới vũng bùn đen ngập tới thắt lưng. Ông nông dân Fleming đã cứu cậu bé thoát khỏi cái chết từ từ và kinh khủng. Ngày hôm sau, một chiếc xe ngựa sang trọng đỗ xịt trước ngôi trại xác xơ của Fleming. Một người quí phái ăn mặc lịch lãm bước ra và tự giới thiệu mình chính là cha của cậu bé mà nông dân Fleming đã cứu sống. Nhà quí phái nói: “Ông đã cứu con tôi, vậy tôi muốn đền tiền cho ông.”

Ông nông dân Fleming xua tay khước từ và đáp: “Không! Tôi không thể nhận món tiền nầy. Ðiều tôi làm chỉ là bản năng tự nhiên chứ không phải tôi làm để mong được đền đáp.” Vừa lúc đó, con trai của người nông dân từ trong ngôi nhà tồi tàn bước ra. Nhà quí tộc hỏi: “Phải con ông đó không?” Người nông dân hãnh diện đáp: “Phải.” Nhà quí tộc nói: “Vậy tôi xin thương lượng với ông như vầy, để tôi đem con ông theo và nuôi cho cậu ăn học thành tài. Nếu cậu có tánh tình tốt giống cha cậu, sau nầy cậu sẽ trở thành một người làm cho ông hãnh diện.” Và ông đã làm đúng như thế. Cậu con của ông nông dân Fleming đã tốt nghiệp Trường Y Khoa St. Mary ở Luân Ðôn và sau đó đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Cậu bé đó chính là Alexander Fleming, cha đẻ của thuốc trụ sinh Penicillin.

Nhiều năm sau, người con trai của nhà quí tộc bị sưng phổi, và đã được cứu mạng bởi thuốc Penicillin. Còn tên của nhà quí tộc ư? Ðó chính là Randolph Churchill. Còn tên người con của ông ta? Winston Churchill.”

Và sau đây là sự thật do Viện Bảo Tàng Churchill đưa ra.

Hỏi: Có đúng là Alexander Fleming đã cứu mạng Churchill?

Ðáp: Câu chuyện cho rằng nhà bác học Alexander Fleming (hoặc cha của ông ta, tùy theo cách sắp xếp khác nhau của câu chuyện) đã cứu mạng Churchill từng lan truyền trên Internet trong thời gian qua. Ít nhất có năm mươi bức điện thư gửi về Viện Bảo Tàng nói về chuyện nầy. Nghe cảm động thật đấy, nhưng đó là chuyện hoàn toàn hư cấu. Câu chuyện đó xuất hiện trong Chương sách có tựa đề "The Power of Kindness", Sức Mạnh của Nhân Từ, phát sinh từ quyển sách Các Chương Trình Thờ Phượng Dành Cho Thiếu Nhi của hai tác giả Alice A. Bays và Elizabeth Jones Oakbery xuất bản trong thập niên 1950 bởi một cơ quan tôn giáo Hoa Kỳ. Theo hai bà tác giả nầy, Churchill được một cậu trai quê mùa tên Alex cứu khỏi chết đuối tại một hồ nhỏ ở Tô Cách Lan. Mấy năm sau đó, Churchill gọi điện thoại cho Alex bảo rằng để đền ơn, cha mẹ cậu sẽ đỡ đầu cho Alex theo học trường y. Alex tốt nghiệp hạng danh dự năm 1928 và khám phá ra rằng có loại vi khuẩn không thể phát triển trên một số mốc rau cải. Năm 1943, khi Churchill bị bệnh ở Cận Ðông, penicillin, phát minh tuyệt vời của Alex, được gửi bằng phi cơ để kịp thời cứu Churchill. Thế là Alexander Fleming một lần nữa đã cứu mạng của Winston Churchill.

Nhưng vấn đề cội rễ của câu chuyện là chứng sưng phổi của Churchill không phải được chữa khỏi bằng penicillin mà bằng thuốc M&B, tên rút gọn của thuốc sulfadiazine bào chế bởi Hãng Dược Phẩm May&Baker. Bệnh sưng phổi khá trầm trọng của Churchill là do vi khuẩn tấn công chứ không phải bị nhiễm trùng. Khỏi bệnh nhờ M&B, Churchill mừng lắm và gọi hai bác sĩ riêng của ông, tên Moran và Bedford, là M&B. Không có bằng chứng, tài liệu hay hồ sơ lưu trữ nào cho thấy ông dùng penicillin cho lần sưng phổi trong thời chiến đó cả. Mãi sau nầy gần lúc cuối đời ông có bị nhiễm trùng vài lần và có dùng thuốc trụ sinh ampicillin mà lúc bấy giờ đã trở nên khá phổ biến rồi. Theo Nhật Ký của Ðức Ông Moran (Diaries of Lord Moran, nhà xuất bản Houghton Muffin, Boston năm 1966, trang 335), bác sĩ riêng của Churchill, thì Churchill có hỏi ý kiến của Sir Alexander Fleming ngày 27 tháng Sáu năm 1946 về sự nhiễm trùng khuẩn tụ cầu; nhung Churchill không hề dùng penicillin vì khuẩn tụ cầu đề kháng loại thuốc trụ sinh nầy.

Người viết tiểu sử chính thức của Churchill là Sir Martin Gilbert kể thêm rằng sự chênh lệch về tuổi tác của Churchill và Fleming (hoặc cha của Fleming) đều không thể hỗ trợ cho các cách thuật lại khác nhau của câu chuyện. Alexander Fleming (1881-1955) trẻ hơn Churchill (1874-1965) 7 tuổi. Không có chứng liệu nào cho thấy Churchill suýt chết đuối ở Tô Cách Lan ở lứa tuổi thanh thiếu niên hay bất cứ tuổi nào khác. Và cũng không hề có chứng liệu nào nói về Ðức Ông Randolph Churchill nuôi Alexander Fleming ăn học thành bác sĩ cả. Sir Martin Gilbert, nhà nghiên cứu tiểu sử Churchill, cũng nhấn mạnh rằng suốt toàn bộ nhật ký của Moran không hề đề cập đến penicillin hay vụ cho phi cơ chở pinicillin sang Cận Ðông cho Churchill.

Alexander Fleming sinh ra trong một gia đình có 8 người con ở một vùng quê xa xôi của Tô Cách Lan. Năm14 tuổi, ông đã rời quê nhà để lên Luân Ðôn học nhờ có một người anh vừa tốt nghiệp trường y và đang hành nghề bác sĩ ở đấy. Tốt nghiệp ngành kinh doanh, ông đi làm cho hãng vận chuyển hàng hải một thời gian, đăng lính năm 1900, năm sau quay lại học y khoa, tốt nghiệp năm1906, phục vụ ngành quân y trên chiến trường nước Pháp trong thời gian Ðệ Nhất Thế Chiến. Năm 1918, chiến tranh kết thúc, ông trở về trường cũ St. Mary’s Hospital nghiên cứu và giảng dạy. Ngày 28 tháng Chín 1928, ông tìm ra penicillin.

Trở lại với câu chuyện Thằng Rái Cá nêu ở phần đầu của bài viết nầy, chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao một câu chuyện đã được thi vị hóa và huyền thoại hóa từ 60 năm trước để dạy cho trẻ con về sức mạnh của lòng tử tế, đã được tái chế biến, thêm mắm dậm muối và đưa lên xa lộ thông tin Anh ngữ từ mười năm trước, bây giờ nó lại lan truyền trên nhiều trang mạng Việt Ngữ? Có lẽ chúng ta nên có thái độ tích cực, xem đó như là một thông điệp mạnh mẽ đánh động lương tri vì lòng tử tế dường như ngày càng trở nên hiếm hoi. Và giới đọc giả chúng ta ước mong các trang mạng Việt ngữ có nhiều khả năng và phương tiện hơn để làm việc một cách cẩn thận và nghiêm túc hơn trong việc kiểm định giá trị bài vở và đưa tin chính xác.

* Phan Hạnh, Toronto.
http://www.nsvietnam.com/online/sangtac/101109-raica.html
***

NGUYỄN HUY THIỆP * VÀNG LỬA






Rầu lòng vậy... Cầm lòng vậy...
(Dân ca)


Ông Quách Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lý, huyện Đà Bắc viết thư cho tôi: “Tôi đã đọc truyện ngắn Kiếm sắc của ông kể về tổ phụ tôi là Đặng Phú Lân. Riêng chi tiết gặp Nguyễn Du không thích. Nhân vật Người trẻ tuổi trong quán trong trẻo lạ lùng, tâm hồn sạch như nước ở núi ra” không ra gì Bài hát “Tài mệnh tương đô” có ý gán cho Nguyễn Du là khéo mà không khéo vậy. Ông gắng thu xếp lên chơi, tôi sẽ cho ông xem vài tư liệu, biết đâu giúp ông có cách nhìn khác. Con gái tôi là Quách Thị Trình sẽ mời ông món canh cá nấu khế ông thích...”
Nhận được thư tôi đã lên thăm gia đình ông Quách Ngọc Minh. Những tư liệu cổ mà ông Quách Ngọc Minh gìn giữ thật độc đáo. Về Hà Nội, tôi viết truyện ngắn này. Khi viết, tôi có tự ý thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp, chỉnh lý lại các tư liệu để hợp với việc kể chuyện.
*
Năm 1802, Nguyễn Phúc ánh chiếm Thăng Long, lên ngôi vua, đặt tên hiệu là Gia Long. Bên cạnh nhà vua có vài người châu âu giúp việc. Trong số ấy có một người Pháp tên là Phrăngxoa Pơriê do chính giám mục Pi nhô đờ Bê hen (Bá Đa Lộc) tiến cử. Nhà vua thường gọi y là Phăng.


Phăng từ nhỏ đã thích phiêu lưu. Y từng tham gia cách mạng 1789, bạn với Xanh Giuýt. Năm 1794, cách mạng thất bại, Phăng trốn ra nước ngoài. Năm 1797, Phăng theo chân một tàu buôn trôi dạt dến Hội An. Người ta không rõ cuộc gặp gỡ của y với Bá Đa Lộc, chỉ biết Bá Đa Lộc có viết thư giới thiệu Phăng với vua Gia Long.

Trong tập bút ký của mình sau này, Phăng viết:

“Nhà vua là một khôí cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình. Ông đi, đứng, ra, vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần. Ông là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn. Là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường... Ông biết ông đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực. Ông biết rõ cái triều đình thiển cận do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình nghèo đói. Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nắm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người...”


Trong một chuyến đi săn ở phía Bắc kinh thành Huế, Phăng đi theo vua Gia Long. Phăng kể: Nhà vua cưỡi ngựa, lưng rất thẳng. ở giữa thiên nhiên, trông ông rạng rỡ mất đi vẻ đăm chiêu cau có hàng ngày. Ông vui vẻ vào cuộc săn hào hứng. Buổi tối, nói với tôi, ông bảo: “Khanh biết không, cái lũ chó chết ấy, chúng nó chuẩn bị cả rồi, chỗ nào trẫm đi qua thì chúng thả thú ra”. Tôi ngạc nhiên hỏi vì sao nhà vua (vốn xuất thân là một võ tướng) lại chịu được sự nhục mạ ấy.

Ông cười: “Khanh chẳng hiểu gì. Vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục”. Tôi ngồi nghe nhà vua, nhận thấy ông trải đời ghê gớm. Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh. Số phận ngẫu nhiên giao cho ông đứng trên đỉnh cao nhất, ông không dám phá vỡ bất cứ quan hệ nào làm hại đời sống cộng sinh đó, bởi phá vỡ nó, nghĩa là ngai vàng không còn đứng vững. Tôi có hỏi nhà vua về các nhà lư tưởng phương Đông. Tôi nhận thấy ông không quan tâm đến họ.

Ông bảo: “Tất cả do cay cú đời sống. Họ là quá khứ. Thời khắc đang sống, là đáng kể”. Nhà vua chăm chú ăn món gân hổ, hơn là tiếp chuyện tôi...”.


Phăng được vua Gia Long cho phép đi lại nhiều nơi, Phăng từng gặp Nguyễn Du, bấy giờ đang giữ chức tri huyện. Phăng kể:
“Trước mặt tôi là một người bé nhỏ, mặt nhàu nát vì đau khổ. Ông nổi tiếng là một nhà thơ có tài. Tôi thấy ông hoàn toàn không hiểu gì về chính trị. Trước sau, ông là một viên quan tận tụy. Ông hơn những người khác ở nhân cách nhưng nhân cách ấy có giá trị gì khi cuộc đời thực của ông xúi xó, túng kiết. Ông hoàn toàn thiếu tiện nghi. Ông không phù phiếm nhưng sự hào hoa cũng không có nốt. Đời sống tinh thần bóp nghẹt ông. Ông nói chuyện giản dị và hóm hỉnh. Trực giác tuyệt vời. Cũng như vua Gia Long, ông là một khối nguyên liệu to lớn nhưng nhẹ đồng cân hơn, hợp chất tạo thành ít hơn, độ bám của bụi bặm cũng ít hơn. Cả hai đều là những khối nguyên liệu vô giá, những vật quốc bảo”.


Phăng được Nguyễn Du dẫn đi thăm một vài nơi trong địa hạt của mình. Phăng viết:
“Ông ta (tức Nguyễn Du) có sự thông cảm sâu sắc với nhân dân. Ông yêu nhân dân mình. Ông đại diện cho nhân dân ở phần u uất nhất, trữ tình nhất nhưng cũng đáng thương nhất. Vua Gia Long không đại diện cho ai, ông chỉ chịu trách nhiệm với mình. Đấy là điều vĩ đại nhưng cũng đê tiện khủng khiếp. Nhà vua có cách nhìn thực tiễn với chính từng khắc tồn tại của bản thân mình. Nhà vua biết xót thân. Nguyễn Du thì khác, Nguyễn Du không biết xót thân.

Nguyễn Du thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc. Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Vua Gia Long hiểu điều ấy và đấy là nỗi cay đắng lớn nhất mà ông cùng cộng đồng phải chịu đựng. Nguyễn Du thì khác, ông không hiểu điều ấy.


Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du (tức nền chính trị đuơng thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau nguời ta mới thấy điều này vô nghĩa. Nguyễn Du sống dân dã, ông hồn nhiên chịu đựng sự nghèo tùng cùng nhân dân.

Ông không đứng cao hơn họ, không hưởng thụ cao hơn họ, và như thế, ông hoàn toàn không biết làm chính trị. Tất cả đời sống vật chất của ông do những hoạt động cù lần mang lại, năng suất thấp, chỉ thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu. Lòng tốt của ông là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai. Vua Gia Long thì khác. Ông khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với Tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt phục vụ cho chính bản thân mình. Ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên.


Đấy là lòng tốt lớn của nhà chính trị. Lòng tốt lớn của nhà chính trị không chỉ là làm việc thiện với một số phận đơn lẻ mà còn là sức đẩy của ông ta với khối cộng đồng. Từng phần tử trong cộng đồng do luật tự nhiên chi phối sẽ tự tồn tại, định hướng và phát triển. Không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát. Cộng đồng Việt là một cộng đồng mặc cảm. Nó nhỏ bé xiết bao bên cạnh nền văn minh Trung Hoa, một nền văn minh vừa vĩ đại, vừa bỉ ổi lại vừa tàn nhẫn...


Phăng có kể lại cho vua Gia Long ấn tượng khi gặp Nguyễn Du. Phăng viết:
“Nhà vua nghe tôi một cách lơ đãng. Tôi có cảm giác ông bị nặng tai nhưng không phải. Ông không coi Nguyễn Du ra gì, hoặc có thể ông coi Nguyễn Du là con ngựa giống tốt trong cả đàn ngựa, lợn, bò, gà mà ông chăn dắt. Ông bảo: “Trẫm có biết người ấy. Cha nó là Nguyễn Nghiễm. Anh nó là Nguyễn Khản”. Tôi thấy nhà vua hiểu sự bất lực của ông đối với đời sống nghèo khó và những trì trệ của dân tộc ông.

Ông không tin học vấn có thể cải tạo giống nòi. Điều ấy có lý. Trước hết là vật chất. Những hoạt động kinh tế cù lần chỉ đủ sức cho một dân tộc sống khắc khoải. Vấn đề ở chỗ phải đứng lên vươn mình thành một cường quốc. Làm điều đó, phải có gan chịu đụng sự va xiết trong quan hệ với cộng đông nhân loại. Thói hủ nho và thủ dâm chính trị sẽ không bao giờ tạo được những quan hệ trong sáng, lành mạnh. Sẽ đến lúc nền chính trị thế giới giống như món nộm suồng sã, khái niệm thanh khiết ở đấy vô nghĩa “.


Năm 1814, người ta phát hiện ra một nơi có vàng, Phăng xin vua Gia Long cho một số người châu âu cùng mình đi tìm kiếm. Vua Gia Long đồng ý. Phăng không để lại tư liệu nào kể về chuyến đi tìm vàng này. Tuy nhiên có một người Bồ Đào Nha tham gia đoàn tìm vàng đã viết hồi ký. Người Bồ Đào Nha này kể lại: Đoàn chúng tôi có mười một người gồm bốn người Bồ Đào Nha, một người Hà Lan, năm người Pháp và một người Việt dẫn đường. Chỉ huy chúng tôi là Phơrăngxoa Pơriê. Y là một người tàn bạo được vua Gia Long tin cậy...


Chúng tôi đi ngựa, mang theo vũ khí và những dụng cụ đãi vàng như dân tìm vàng hồi thế kỷ trước ở Bắc Mỹ. Ngay Phơrăngxoa Pơriê cũng không lường trước sự việc diễn ra. Điều ấy khiến cho chúng tôi sau này phải trả giá đắt. Đa số chúng tôi tham gia chuyến đi vì sự hiếu kỳ. Chúng tôi chuẩn bị lương thực đủ trong một tháng. Chúng tôi luồn rừng và đến nơi sau một tuần đi đường. Nơi đây là thượng nguồn một con sông lớn nằm kẹp trong thung lũng hoang vắng. Không hề thấy một bóng người qua lại.


Quạ bay hàng đàn. Trong bản đồ, Phrăngxoa Pơriê gọi đây là thung lũng Quạ. Chúng tôi cắm lều ngay trên bờ sông. Ngay ngày đầu tiên, người Hà Lan trong đoàn đã lên cơn sốt. Ông ta lên những cơn co giật khủng khiếp, người nóng như than, mặt xám lại Chúng tôi đề nghị để lại một người chăm sóc ông ta nhưng Phơrăngxoa Pơriê không nghe. Y dồn tất cả chúng tôi vào núi đào vàng và lọc quặng. Buổi tôí, khi chúng tôi trở về thì người Hà Lan đã chết. Phơrăngxoa Pơriê sai ném xác người Hà Lan xuống sông. Quạ lập tức bu đen trên thây người chết...


Mỏ vàng gần như lộ thiên. Sụ hào hứng khiến chúng tôi quên mệt nhọc. Đến ngày thứ ba, chúng tôi bị thổ dân tấn công. Chúng tôi co cụm lại. Những người thổ dân cầm dao, gậy đứng từ xa chửi rủa và dùng đá ném chúng tôi. Họ có ý muốn đuổi chúng tôi chứ không có ý gì khác. Người Việt dẫn đường đi theo chúng tôi đã biến mất ngay từ khi những người thổ dân xuát hiện. Phơrăngxoa Pơriê nói tiếng Việt rất tồi.

Y giơ cao tấm thẻ tín bài của vua Gia Long nhưng vô hiệu. Đáng lẽ chúng tôi phải rút ngay nhưng Phơrăngxoa Pơriê không kìm chế được. Y nổ súng. Một người thổ dân trúng đạn. Số còn lại chạy tán loạn. Chúng tôi đòi Phơrăngxoa Pơriê quay về nhưng y không nghe, y bắt chúng tôi tiếp tục làm việc. Vàng đã làm cho y lóa mắt và mụ mị đi. Buổi chiều khi chúng tôi quay về lều thì thấy đầu lâu của người Việt dẫn đường cắm trên cọc nhọn ngay bên cạnh đấy.

Trời nóng như thiêu, chúng tôi thấy rất nhiều quạ bay từ rừng trên, vừa bay vừa kêu những tiếng man rợ. Khoảng nửa đêm, lửa bốc cháy dữ dội xung quanh lều. Những mũi tên lẩm thuốc độc ở đâu bắn đến như mưa. Năm người trong đoàn chúng tôi chết ngay. Phơrăngxoa Pơriê mang theo số vàng đãi được mở con đường máu thoát ra. Lửa nóng quá. Trước mặt, sau lưng, trên trời, dưới đất, đâu đâu cũng thấy lửa cháy rùng rực...”


Hồi ký của người Bồ Đào Nha vô danh không viết gì thêm. Tôi, người viết chuyện này đã cất công đi tìm các thư tịch cổ và hỏí han nhiều bậc bô lão. Không có tài liệu gì và cũng không ai biết gì về thung lũng Quạ hoặc chuyện của những người châu âu thời vua Gia Long. Mọi cố gắng của tôi trong nhiều năm nay vô hiệu. Tõi hiến bạn đọc ba đoạn kết cho câu chuyện này để bạn đoc tùy ý lựa chọn.


Đoạn Kết I.
Đoàn tìm vàng còn sót lại ba người. Phăng bảo toàn nguyên vẹn số vàng đào được mang về. Vua Gia Long vui mừng vì đã tìm được mỏ vàng. Nhà vua cho khoanh vùng thung lũng Quạ và cho tiến hành khai thác mỏ. Phăng được cử trông coi việc này. Hai người châu âu sót lại trong đoàn tìm vàng cũng được mời tham gia nhưng họ từ chối. Phăng trông coi việc khai thác mỏ vàng trong hai năm. Vua Gia Long rất tin cẩn y và thường ban cho y những bổng lộc hậu hĩnh. Một hôm, người ta đưa đến cho y món ăn quý do nhà vua ban: món chim hầm bát bảo nấu rất công phu. Phăng an xong thì thấy bụng đau cồn cào dữ dội, mắt trợn ngược, máu ộc ra đầy mồm miệng. Y chết ngay trên bàn ăn. Trong một quyển sổ ghi chép còn sót lại của y, người ta đọc thấy những dòng chữ sau:
“Tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện đều là nhũng cô gắng đau đớn, nhọc lòng. Điều thiện hiếm như vàng và sau đó phải được vàng bảo đảm nữa mới có giá trị thực.
Chúng ta sống vô nghĩa, nghèo khó và đau khổ trong những lý thuyết chắp vá đầy ngụy biện; những môí bất hòa kỳ thị dân tộc và đẳng cấp; những kinh nghiệm sống của chúng ta mong manh và vụn vặt xiết bao. Đến bao giờ, hỏi đến bao giờ, trên mặt đất này xuất hiện tiến bộ?”
Đoạn Kết II
Thoát khỏi biển lửa, đoàn tìm vàng sót lại một mình Phăng. Y mang số vàng tìm đến được dinh quan sở tại. Phăng đưa tấm thẻ tín bài có dấu triện của vua Gia Long xin được che chở. Quan huyện là một vị túc nho già, biết nghề thuốc. Phăng đã dưỡng bệnh ngay tại huyện lỵ hẻo lánh này. Con gái quan huyện là Vũ Thị còn trẻ nhưng góa chồng mang lòng yêu mến y. Sau khi Phăng vể kinh đô, y được vua Gia Long ban thưởng hậu hĩnh. Nhà vua đã cho tiến hành khai thác mỏ vàng.
Lúc này ở châu âu , nền Đế chế của Napôlêông Bonapac đã sụp đổ. Châu âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng hoặc các Hoàng đế mang lại, bởi vậy họ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn. Phăng xin vua Gia Long mang theo Vũ Thị và một số vàng lớn hồi hương. Về Pháp, ông lập một ngân hàng và sống sung sướng đến già. Ông thường kể lại cho con cháu nghe về những kỷ niệm quá khứ, về những biến cố ở xứ An Nam xa xôi. Theo ông, thời kỳ ông ở An Nam mới là sự bắt đầu lịch sử của quốc gia người Việt, khi này biên giới phân định, chữ viết có gốc từ chữ La tinh phổ biến, người Việt dần thoát ra sự cầm tù đáng sợ của nền văn minh Trung Hoa, có những mối giao lưu chung với cộng đồng nhân loại.
Đoạn Kết III
Tất cả đoàn tìm vàng bị giết chết. Lính triều đình bao vây và tấn công họ chứ chẳng có thổ dân nào cả như trong hồi ký của người Bồ Đào Nha vô danh lầm tưởng. Người ta tìm được vàng giấu trong đồ đạc của những người châu âu, nó lẫn trong quần áo và ở cả trong những sổ sách ghi chép. Vua Gia Long cho xung công và sau đó cử một người trong hoàng tộc đứng ra lo việc khai thác mỏ vàng. Cuối đời, vua Gia long sống trong cung cấm, tìm cách tránh mọi tiếp xúc với bên ngoài. Nhà vua rất ghét những ai nhắc lại mối quan hệ với người này, người nọ khi nhà vua còn hàn vi, dù đấy là người Việt, người Trung Hoa hay người châu âu nào khác. Triều Nguyễn của vua Gia Long lập ra là một triều đại tệ hại. Chỉ xin lưu ý bạn đọc đây là triều đại để lại nhiều lăng.



***

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 118

Sơn Trung chủ biên





Di sản thế giới đền Abu Simbel được xây dựng trong 24 năm từ 1244 TCN đến 1224 TCN nằm gần thành phố Aswan Ai Cập.

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG
SỐ 118
Ngày 7 tháng 11 năm 2009





****

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ "TIN VUI THỜI ĐIỂM"



ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG BAY BAY


Cuộc đời mình cũng đang vụt qua mau,

Với bao đỉnh cao và tô vẽ thêm chất chồng thành tích.

Một trăm năm nữa nhìn lại con đường xưa ta đi

Cũng chỉ thấy bồng bềnh vài cụm mây trắng bay bay.

Vào tháng 11 trời trở lạnh và tối sớm, lá cây mùa thu rụng lá tơi tả để lại những cành trơ trụi. Tự nhiên người ta nghĩ tới cái chết, hay nói về đời sau, về ma quỉ, về hồn tỗ tiên, về những người qua đi mà hiển thánh. Cõi vô hình xem ra hiện hình còn rõ hơn cõi hữu hình nữa. Tự nhiên lắm.

Mạng Lưới Dũng Lạc (www.dunglac.org) đã đưa lên Tủ Sách Dũng Lạc những cuốn sách rất thế giá về lãnh vực này:

- Nhà Trừ Quỉ Kể Truyện của Lm. Gabriele Amorth,

- Ma Quỉ Trong Thế Giới Ngày Nay của Gm. Cristiani.

- Đi Tìm Kẻ Trừ Tà của Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ.

- Giải Thoát Khỏi Tà Ma của Lm. Emiliano Tardif.

THỬ ĐI GẶP MA



Có ma thật không? Tin hay không tin thì xin mời đến một trong hai ngàn ngôi nhà ma ám có địa chỉ đàng hoàng do William Hauck thu thập trên toàn nước Mỹ, và xuất bản thành cuốn Những Nơi Ma Ám: Sách Hướng Dẫn Về Ma Tới Những Nơi Xẩy Ra Những Hiện Tượng Lạ Thường Trên 50 Tiểu Bang Nước Mỹ (Haunted Places: A Ghostly Guidebook to Sites of Supernatural Phenomena in all 50 States). Ðây là những nhà ma có thật chứ không phải những nhà tạo ra để kiếm tiền trẻ em dịp Halloween.

Nguyên ở New Orleans cũng có tới cả chục ngôi nhà ma. Tại địa chỉ 1113 đường Chartres đối diện với nhà dòng Ursuline cũ, lâu lâu người ta thấy hồn tướng Beauregard đi lại điều khiển trận đánh Shiloh với quân quốc rầm rập. Ðây là địa điểm xảy ra trận đánh nhau chết nhiều người trước kia có ghi lại trong lịch sử.

Ở ngôi nhà ma số 1447 đường Constance thì thấy hai người lính nét mặt ủ rũ nhợt nhạt đi lại và hát nghêu ngao. Người ta kể lại câu chuyện về hai người lính này vốn là hai người giữ kho thời nội chiến Bắc Nam. Một hôm bị phát giác phạm tội biển thủ lớn nên phải ra tòa án quân sự lãnh án tử hình. Ðêm đó hai tên liền rủ nhau kề súng vào nhau mà bắn để cùng chết một lúc.

Hiện tượng thật lạ là ma Hermann Grima ở số nhà 820 đường St Louis không hề phá phách làm ai sợ sệt, nhưng thường tỏa mùi hoa hồng thơm dịu; trời lạnh thì sưởi ấm cho nhà. Nhưng bọn ma LaLaurie Hona ở 1140 đường Royal thì ồn ào động đạc quá sức: chúng là hồn những người nô lệ bị hành hạ trước kia chết ở đây.

Ở ngôi nhà ma Garlette-LePretre ở đường Dauphine thì thường thấy hồn của cặp vợ chồng người Thổ Nhĩ Kỳ bị giết. Và còn nhiều địa chỉ khác nữa như ma Vodoo Queen Marie Lavean ở số 1020 đường St Ann; Ma ở nghĩa địa St Louis I, St Louis II, ma ở 514 đường Chartres; ma ở 739 đường Bourbon v.v.

Mà muốn trải qua kinh nghiệm gặp ma trong tuần này thì xin đến nhà hai nhạc sĩ ở đường Magazine. Larry Jones, 38 tuổi, chơi kèn hắc tiêu và William Moore, 42 tuổi, chơi đàn dương cầm. Hai người mua ngôi nhà này từ bẩy năm qua. Ngay hôm chuyển vào nhà thì hai người đều gặp hồn ma đứng ở hành lang chào đón. Ðó là một người đàn ông trung tuổi, nét mặt rất buồn, chằm chằm nhìn vào hai người, nhưng không có tính cách đe dọa, lúc biến đi để lại mùi hoa hồng thơm dịu. Ma này vẫn thường xuyên xuất hiện trong nhà như thế nhưng không phá phách làm hại gì cả nên hai chàng nhạc sĩ sống riết rồi cũng quen. Ðược hỏi không sợ ma à, thì hai chàng trả lời tỉnh bơ rằng: thì cũng như chấp nhận được khí hậu ở New Orleans, lúc nóng lúc lạnh thất thường. Cái gì cũng quen cả thôi. Cứ coi là có một người thứ ba sống trong nhà.

LÀM SAO CHO HẾT MA ÁM?

Ma hiện hình, đôi khi hiền lành, đôi khi phá phách, đều có một mục đích là nhắc nhở một chuyện: tôi cần bạn giúp tôi! Có thể vì còn quá quyến luyến những người thân yêu hay của cải nhà cửa. Bác sĩ Kenneth McAll trong cuốn Tháo Cởi Dây Trói Buộc trong Dòng Họ (Healing the Family Tree, A Sheldon Press Book, 1982) đã cho biết một số trường hợp hồn người chết nhập vào những người thân còn sống hoặc gây ra những bệnh lạ.

Những trường hợp ma phá phách ồn ào thường là vì bị chết oan ức tức tưởi như rất nhiều truyện đã kể lại, hoặc hồn vía vẫn lẩn khuất đâu đây vì còn vướng mắc ràng buộc điều gì mà chưa được siêu thoát. Truyện một số tàu hay máy bay bị mất tích không để lại một dấu vết gì ở Tam Giác Bermuda ngoài khơi Florida vẫn là một điều huyền bí. Bác sĩ Kenneth McAll nghiên cứu nguyên nhân thì khám phá ra chi tiết đã được ghi nhận về những chiếc tàu buôn nô lệ từ Phi Châu qua Mỹ. Ðã có khoảng hai triệu người Da Ðen bị bắt đưa đi bán làm nô lệ. Phim Roots của Haley cũng kể lại chuyện này. Rất nhiều nô lệ đã bị vất xuống biển cho chết trước khi tàu vào Mỹ. Có thể vì những người nô lệ đã quá bệnh và yếu, nhưng vì một điều không ai ngờ là “những tay buôn thường thu được nhiều tiền qua bảo hiểm vì những nô lệ bị mất tích hơn là được bán trực tiếp vào Virginia” (Kenneth McAll, trang 60 sách trên).

Chính bác sĩ Kenneth McAll đã cho biết qua kinh nghiệm về 65 trường hợp trừ được ma ám qua lời cầu nguyện và thánh lễ. Ông kể về một nhà ma ám ở miền Nam nước Anh, cứ nửa đêm là có tiếng động và la hét. Ông đã áp dụng hai điều trên đây thì tự nhiên hết. Ngay trong trường hợp Tam Giác Bermuda từ ngày phát giác ra oan hồn những nô lệ bị vất xuống biển, thì đã có rất nhiều thánh lễ được dâng để xin ơn siêu thoát, và từ năm 1977 tới nay không nghe nói về những trường hợp tàu hay máy bay bị mất tích ở vùng này nữa. Linh mục dòng Biển Ðức chuyên môn về trừ quỉ là Dom Robert Petitpierre đã luôn áp dụng bốn bước rất truyền thống trong đạo Chúa để giải thoát ma ám:

Bước 1: Dùng nước thánh để xua đuổi mọi hồn ma ám ảnh trong phòng.

Bước 2: Dâng thánh lễ với ý cầu nguyện cho người chết có hồn ma đó. Trong trường hợp người chết còn quyến luyến chưa dứt bỏ được thì đây là lúc gia đình bằng lòng phó dâng để cho người đó ra đi bình an.

Bước 3: Làm phép toàn thể khu nhà và các phòng.

Bước 4: Dâng một thánh lễ kính vị thánh bổn mạng hay các thiên thần và tạ ơn Chúa, phó dâng mọi sự trong tay Chúa.

TIN VUI GỬI NGƯỜI SỢ THÀNH MA ÐÓI (CN 32B)
Dịp đầu tháng 11 ở Mỹ trẻ em có thói chơi trò Ma Ðói. Chúng hóa trang thành những con ma với hình dáng ghê sợ khủng khiếp đi từng đàn lang thang xin ăn với lời đe dọa: bị phá hoặc là cho ăn (trick or treat)!

Trò chơi này đã trở thành phổ thông đúng là một thời điểm cho tâm trạng con người ngày nay. Trong thâm tâm nhiều người mang mặc cảm tội lỗi khó được siêu thoát mà phải bị “giam hãm” thành những con ma đói. Bởi vì người ta đã phí phạm đời sống, đã chẳng chuẩn bị mang theo gì về đời sau mà xây nhà vĩnh cửu.



Nhìn kỹ và phân tích chất máu tức nét văn hóa con người thời đại, người ta ngỡ ngàng nhận ra khuynh hướng vơ vào hơn là cho ra, lo vun quén cho lợi tức gia tăng, cho những tiêu sài mua sắm. Đứa trẻ lớn lên được tạo khuôn thành “rốn vũ trụ” (self-centered) với cái khuynh hướng giáo dục xem ra hợp tâm lý là tạo tự tín (self confident). Những từ như hy sinh quên mình, cho đi... hầu như thiếu vắng trong ngôn ngữ thông thường. Và như vậy, con người càng ngày càng trở thành ích kỷ hơn ra chăng? Người ta lo thu tích vun quén vơ vào… và chờ mong người khác đáp ứng nhu cầu của mình hơn là nghĩ tới chuyện cho đi hoặc là làm một điều gì tốt đẹp cho đời.

Có thể vì "trí nhớ ngắn" dù vẫn thương xuyên chứng kiến bao đám tang, ngay cả những người chết đột ngột và còn rất trẻ, cũng vẫn chẳng nghĩ kịp tới chuyện một ngày gần đây mình cũng sẽ chết. "Con người là con vật kinh tế" mà. Chết như vậy là hết theo nghĩa duy vật và duy con vật. Ra sức mà làm cho mình và người khác ra như vậy mà lại lớn tiếng hô hoán là cổ võ văn hóa nhân bản mới lạ! Thân xác mình có thể chỉ là một bị thịt bầy nhầy những đam mê dục vọng hay những nhu cầu ăn uống của động vật tính. Cuộc sống không còn lấy một phút an tĩnh để hướng về tâm linh, mà chỉ còn biết vật lộn với những nhu cầu vật chất.

Quả thật niềm tin mình chỉ là con vật bởi khỉ mà ra hay do vật chất biến hóa mà thành thì cũng hành xử theo động vật tính đó, và tạo ra một nền văn minh và văn hóa của những động vật mang mặt người, như lời một nhà thơ nào đó:

Bốn ngàn năm ta lại là ta

Từ trong hốc đá chui ra

Vươn vai mấy cái rồi ta chui vào.

Người đàn bà góa và nghèo trong Tin Vui hôm nay đã biết "đầu tư" một trương mục đường dài, đã biết bỏ vào đó tất cả những gì mình có, để sẵn của mà nuôi hồn chứ không muốn trở thành con ma đói!

Tháng 11 là tháng dừng chân nhìn xa hơn và cao hơn lên một chút, nhìn về đời sau: tôi sẽ đi về đâu sau một quảng ngắn ngủi trên cuộc sống trần gian này? Một bia mộ trong một nghĩa trang đã khắc mấy hàng chữ tóm lược tất cả mọi sinh hoạt cuộc sống trong mấy chục năm trời xoay xở nhớn nhác thu góp tích trữ như thế này:

Những gì tôi đã tích trữ nay không còn nữa.

Những gì tôi đã mua sắm ngay người khác sài.

Những gì tôi đã cho đi nay là của tôi.

Hôm nay con ngồi nhìn lại cuộc sống của mình từ lúc vào đời. Chắc chắn có một ngày mình cũng sẽ chết. Thân xác này sẽ bị hủy hoại thối rữa trong ba ngày hay một thời gian ngắn. Mình sẽ tự hỏi: Những gì còn lại để mang theo vào thế giới bên kia mà xây cho mình một ngôi nhà vĩnh cửu có Ðấng Hằng Sống hằng ngự trị?

Cuộc sống mình càng lo bon chen vơ vét càng thêm đầy đặc đến ngột ngạt căng thẳng mà mãi không thỏa! Lúc này mới thấy cần thiết phải dừng chân dành cho mình một khoảng trống để nhìn lại chính mình mà cất lời trần tình theo lời thơ Nguyễn Trùng Khánh:

Soi gương nhìn lại chính mình

Men say đã thấm nhuộm tình đời cay

Giật mình lạ lẫm thân gầy

Ô hay có phải ta đây không kìa?

Kiếp ngắn dài, một mộ bia

Xoay vần cát bụi ngày lìa dương gian.

Dừng chân đếm túi hành trang

Những gì còn lại chuỗi vàng lời kinh.

Trần Cao Tường, Lm.

Xin vui lòng giới thiệu cho người thân Ghi danh tại địa chỉ

tinvuithoidiem@gmail.com

Mời thăm www.dunglac.org

Mạng Lưới Dũng Lạc,

góp tư liệu xây nhà Văn Hóa & Niềm Tin.

Mọi liên hệ xin gởi đến dunglac@gmail.com

hoặc andytuong@gmail.com

Xin cám ơn


***

TIN TỨC & BÌNH LUẬN CỦA ĐÀI Á CHÂU TỰ DO

Nếu Phillip Roesler còn ở Việt Nam...

2009-10-27

Truyền thông quốc tế mấy ngày hôm nay xôn xao vì tin ông Phillip Roesler, 36 tuổi, người Đức gốc Việt Nam đã được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Bộ Y Tế của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

href="file:///C:%5CDOCUME%7E1%5Clek%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtmlclip1%5C01%5Cclip_themedata.thmx" rel="themeData"> PhillipRoesler-200.jpg

Ông Phillip Roesler. Photo courtesy of Wikipedia
Tin ông được clàm B Trưởng là mt ngc nhiên ngòai d đóan ca gii phân tích ngay ti th đô Bá Linh. Cũng là mt tin làm người Vit khp nơi trên thế gii hãnh din, và làm dư lun trong nứơc xót xa.

Ngạc nhiên thú vị

Không riêng ti Bá Linh, th đô ca nước Đc, mà dư lun nhiu nơi trên thế gii, my ngày nay ngc nhiên v mt tin ngòai d đóan ca mi người, là ông Philipp Roesler, thành viên ca Đng Dân Ch T Do (FDP)- người Đc gc Vit, hin đang là b trưởng kinh tế, lao đng và giao thông ti tiu bang Niedersachsen, va đựơc b nhim đ tr thành b trưởng y tế trong tân ni các ca chính ph Cng Hòa Liên Bang Đc.

Dù đã t lâu đựơc xem là mt ngôi sao ni bt, và là nim kỳ vng ca đng Dân Ch T Do, chính ông Roesler và ngay c ni b đng cũng t ra rt ngc nhiên khi ông được c làm b trưởng y tế liên bang, vì đây là mt b hin đang đương đu vi nhiu rt khó khăn.

Gii phân tích cho rng s dĩ ông đựơc b nhim là vì trong sut thi gian thương tho rt gt gao v vic thành lp tân ni các gia các liên minh, kéo dài hơn 3 tun l, ông Philipp Roesler đã chng t kh năng ca mình bng cách luôn t ra rt thông minh, thc tế, ôn hòa, có cái nhìn thu đáo cùng tài ng khu v nhiu đ tái, nht là v y tế. Ông Roesler còn được cho là người có tài khôi hài, khéo léo xoa du được nhng căng thng trong các cuc tho lun.

Trong vai trò b trưởng y tế. tui 36, ông Phillip Roesler là người B Trưởng tr nht nước Đc, và là người B trưởng đu tiên không phi là người gc Đc, là b trưởng đu tiên người gc Á Châu, và còn là là ngừơi gc Vit Nam..

Ông Röesler sinh năm 1973 Khánh Hòa, là ông là mt đa tr sng vin m côi, và vào lúc mi có 9 tháng tui, đã được cha m nuôi đưa v Đc. Có ngun tin cũng cho rng cha m ông đã b đã b pháo kích chết và người hàng xóm đã b ông vào vin m côi ti Khánh Hòa, Nha Trang.

Niềm kiêu hãnh

Đi vi người Vit Nam sng ri rc khp nơi trên thế gii, thì câu chuyn “đa tr m côi Việt Nam thành ông B Trưởng nước Đc” là mt nim hãnh din vô biên.

Nhiu din đàn đin t đã đưa tin này vi nhng ta như: “Nim hãnh din chung ca người Vit Nam. Nhiu video clips v nhng cuc phng vn hay tin tc v ông đã được đưa lên trang mng You Tube vi nhng ta bt đu vi hai ch “Vit Nam pride” (dch là nim kiêu hãnh ca Vit Nam).

T Đc, tiến sĩ kinh tế Nguyn Ngc Hùng, phát biu:

“Ở ti Đc thì người ta kỳ th lm. Mt người tr, đng thi là mt người không phi là người Đc, mà h còn đt được đa v đó. Nhng người da trng khác cũng không đt được nhng đa v như ông Roesler này.

Ngừơi trứơc ông làm ch tch đng T Do Dân Ch tiu bang đã nói rng ông Roesler là người suy nghĩ và có li gii quyết rt nhanh. Và ông luôn luôn tìm được mt li gii quỵết tt đp nht và nhanh nht. Ông không bao gi trường hp nào c.”

Người Vit hi ngai còn quý mến ông Roesler v vic dù ông tuy đã được nuôi dưỡng như mt người Đc t nh, đã không quên ngun gc ca mình là mt người Vit Nam, và là mt nn nhân chiến tranh.

Cu đi tá CSVN, ông Bùi Tín, hin đang sng Pháp, k:

Nếu vn còn Khánh Hòa, chng bao gi anh tr thành mt trí thc được trng vng ch đng nói là có th làm B trưởng! Cơ chế Vit Nam t xưa đến nay ch cơ cu chc B trưởng cho tng lp con ông cháu cha.

Ô. Hà Văn Thịnh, Huế

“Khi ông ông Roesler tr thành mt người ni tiếng Cng Hòa Liên Bang Đc ông có d đnh tham d bui khai trương tượng đài thuyn nhân Hamburg đó. Thì s quán VN ti Berlin đã liên h vi ông, và gn như là hăm da và can ngăn thuyết phc ông y là không nên đến tham d bui khai trương đó, nhưng chính ông đã đến d, và mt tay cm lá c Đc, mt tay cm lá c VNCH mà bà con mà bà con thuyn nhân mang theo, và chp hình chung vi bà con.

Ông ta nói là s quán VN đã làm nhng cái chuyn vô duyên là đnh ép ông không d khai mc tượng đài như thế. Ri còn yêu cầu chính quyn đa phương là b cái ch ghi trên b là “thuyn nhân Vit Nam”, thế nhưng mà chính quyn đa phương h không nghe theo.”

Din đàn X-Càfe cũng có nhiu bloggers bình phm v s kin s quán VN không mun cho ông Roesler tham d bui l khánh thành tượng đài thuyn nhân ti Hamburg.

Nếu cón ở Việt Nam…

Nhưng dường như xen ln trong nim hãnh din dân tc và ni vui mng cho s thăng tiến ca ông Roeler, người ta có mt chút ngm ngùi, và nhng quan tâm sâu xa hơn.

Và ti Vit Nam, ông Hà Văn Thnh – thuc Đi hc Khoa hc Huế, trong bài có ta “Nghĩ V Phillip Roesler” được đăng trên trang mng BauxiteInfo viết:

“Nếu vn còn Khánh Hòa, hin ti ca Roesler (tm đt tên là Đc) là điu ai cũng biết: Chng bao gi anh tr thành mt trí thc được trng vng ch đng nói là có th làm B trưởng! Cơ chế Vit Nam t xưa đến nay ch cơ cu chc B trưởng cho tng lp con ông cháu cha.”

Ông Bùi Tín chia x nhn đnh ca Ông Hà Văn Thnh:

“Tôi nghĩ là nó gi cho ta rt nhiu suy nghĩ, là ch có dưới mt chế đ dân ch, dân ch thc s cơ, tài năng mi được biu l ra, và mi công dân mi được bình đng, và người ta la chn đúng là nhng nhân tài tinh hoa nht ca đt nước.

Tôi nghĩ là nếu mà ông Roesler còn Vit Nam, thì bây gi ông y còn gay go điêu đng lm. Tr m côi thì khó mà có th hc hành đựơc tn ti, và dù hc hành gii đến đâu đi na, cũng khó có th vào mt chc v cao được.”

Ông Hà Văn Thnh đt vn đ:

“Ti sao không thy lp tr đang gii giang hơn và h phi được trng dng hơn? Phi chăng vì nghĩ rng mình càng ngi trên cái ghế quyn lc lâu bao nhiêu thì bng lc còn nhiu chng đó, bt k cng đng, dân tc, tui tác, năng lc.

Mt trong nhng ni đau ln nht ca thc trng cán b ca ta hin nay là vô khi người không đ năng lc, thin đc, kém tài li giành được nhng v trí thơm tho đ tha h thao túng, trc li cá nhân.”

Nếu còn Vit Nam, thì liu ông Roesler s có cơ hi làm b trưởng không? Tiến Sĩ Nguyn Ngc Hùng phát biu:

“Nếu ông Phillip Roesler VN, không nhng ông không th tr thành B Trưởng, mà còn b cm hành ngh, và b kết án vi phm điu lut 88 ca b lut hình s là tuyên truyn chng đi nhà nứơc CHXHCNVN bi vì ông là thành viên ca đng T Do Dân Ch, ch không phi là thành viên ca đng CSVN.”

Nếu ông Phillip Roesler VN, không nhng ông không th tr thành B Trưởng, mà còn b cm hành ngh, và b kết án vi phm điu lut 88 ca b lut hình s là tuyên truyn chng đi nhà nứơc CHXHCNVN.

TS Nguyễn Ngọc Hùng

Mt người ký tên Nguyn Quang Lp viết trong din đàn X-Càfe:

“Nói tht giá nước ta có vài mươi anh như Philipp Roesler , kt lm thì năm by anh cũng được, gi nhng v trí quan trng thì đt nước mình chc s khá lên nhiu. Mt ông nhà văn nói chơi vui, nói lãnh đo nước mình không có ai đ mình gi bng thng c, toàn phi gi bng anh bng ông bng c, chán m đi.”

Theo ông Hà Văn Thnh thì s kin ông Roesler đựơc làm B Trưởng còn làm ni bt lên nim đau xót v nn giáo dc Vit Nam. Cũng trong bài “Nghĩ V Phillip Roesler”, ông viết:

“B GD-ĐT có cm thy bun không khi con nuôi, nhn ti Khánh Hòa, bng chc, “t nhiên” tr thành B trưởng ca nước Đc lng danh? Riêng tôi, đau và xót bi tôi biết chc rng trí tu người Vit Nam không kém nhưng nghèo và hèn, dt và nát bi nn giáo dc này kém ci.

Hai không ri bn không; nhng li có cánh. Vy mà, đc chép vn hoàn đc chép. Nói mà không có chế tài thì nói đ làm gì?

Tôi thy tht ti nghip cho ngài B trưởng. Khi lên chc v đó mà không được quyn thay bt kỳ ai ca cơ chế cũ, giàn khung cũ thì làm sao có th thay đi? Nếu mun có mt nn giáo dc vi hai vn Tiến sĩ tht thì làm sao có th khi 33% TS hin nay ch là giy như chính ông Bành Tiến Long, Th trưởng, đã tha nhn vi báo chí?

Thay mt cái cũ bng mt cái mi gi tưởng bng chính nhng con người kém ci c y, thin cn c y, bo th đến mc y, s mt bng lc đến chng y? Vô kh thi!”

S kin ông Phillip Roesler, 36 tui, mt người m côi không phi dân bn x đã được c làm B Trưởng B Y Tế ca nước Đc đã khiến nhiu trí thc Vit Nam suy nghĩ.

Điu gì đã ngăn cn không cho nước Vit Nam có nhng người lãnh đo tr như ông Phillip Roesler? Và phi làm gì đ tui tr Vit Nam có thc tài có đựơc cơ hi lãnh đo đt nước.?

Chúng tôi xin mượn li phát biu ca Tiến Sĩ Nguyn Ngc Hùng thay cho li kết:

“Sự kiên ca ông Roesler ti Đc đã cho biết rng Vit Nam cn phi thay đi. Ti vì trong mt chế đ đc tài, thì con ngừơi không th phát trin được như vy. Ông Roesler ông y Đc thì ông y mi đựơc phát trin như vy, còn nếu ông y Vit Nam, thì chc chn ông y không được như vy. Cái nguyên nhân ca s chm phát trin là do đc tài. Đc tài cn tr s phát trin v mi mt.”

Chương trình Câu Chuyn Hàng Tun đến đây xin tm kết thúc, Hà Giang hn gp li quý v trong chương trình kỳ ti, mong quý v đón theo dõi.

Blog Archive

Google Analytics

http://www.google.com/analytics/

Bravenet Hit Counter