Saturday, May 28, 2016

CHU TẤT TIẾN * MẸ TÔI

  

MẸ TÔI

Chu Tất Tiến. 
Viết trong mùa Hiền Mẫu, 2016.


Mẹ tôi mất năm bà vừa đúng 86 tuổi. Chiều hôm ấy, bà gọi tôi, giọng rất bình tĩnh:
-Con sang xem me bị làm sao ấy. Tự dưng me đau bụng quá.
Tôi vội lái xe chạy qua nơi mẹ tôi ở, một căn phòng “share” của người ta, cách nhà tôi chừng 10 phút, gần sát nhà thờ Westminster. Mẹ tôi chọn nơi này vì bà thích được đi bộ đến nhà thờ mỗi buổi sáng mà không phải nhờ đến ai. Một phần nữa, bà muốn ở riêng, không chung đụng với bất cứ đứa con nào. Thật ra, nếu bà muốn, cũng chẳng có đứa con nào có thể ở chung với bà mà không xích mích, ngay cả tôi, thằng con út trong gia đình có 6 anh chị em, là người thương bà và lo lắng cho bà nhiều nhất. Các anh, chị tôi đều dạt ra cả, không ai dám ở chung với bà, chỉ trừ có tôi. Sau khi tôi sang Mỹ theo diện H.O., anh ba tôi, ở miền Bắc California, bảo tôi lên ở với anh, trông coi cửa hàng cho anh và ở nhà anh miễn phí, nhưng tôi từ chối cơ hội tốt đẹp đó vì muốn ở gần mẹ. Sau này, tôi cứ tiếc mãi cơ hội đó vì một người cựu tù mới tới Mỹ, lạng quạng chân ướt chân ráo, mà có việc làm ngay, một việc làm nhàn nhã, chỉ quản lý một cửa hàng bán đồ ăn “fast food”, mà lại ở nhà không mất tiền thuê hàng tháng, thì đúng là tiên, cả nhà tha hồ đi học lại, nhất định tương lai sẽ sáng lạn. Nhưng suy nghĩ mãi, tôi chọn ở chung với mẹ tôi, dù biết trước là hai mẹ con sẽ đụng nhau tơi bời, nhất là vợ tôi, tính hiền lành, nhẫn nhục, nhưng cũng đôi lần phải khóc thầm vì bà mẹ chồng cứ “nghĩ sao, nói vậy, người ơi!” nên thỉnh thoảng độp cho con dâu những câu ác liệt không tưởng tượng được.


Với tính thương mẹ, tôi gạt qua tất cả những căng thẳng mẹ chồng, con dâu, và ngay cả giữa mẹ và con út nữa, và chấp nhận những “bất trắc” rình rập trong cuộc sống chung. Thật thế, mẹ tôi là người mà một thầy bói đã nói: “bà là một người đàn ông trong thân thể đàn bà”, bà rất cứng rắn, thực tế, và nghiêm khắc đến nỗi cả 6 đứa con đều né bà, sợ bà như sợ cọp. Anh ba tôi nói: “Tao mà ở với me chỉ ba ngày là cãi nhau như điên.” Chị kế tôi “bán cái” cho tôi, chẳng bao giờ có ý kiến là ở hay không ở với mẹ. Anh cả tôi thì mất ở trong tù Cộng Sản từ lâu rồi, nhưng trước khi anh mất, hai mẹ con lục đục với nhau hoài.
Hồi đó, mẹ tôi ở một mình ở Long Khánh với cái trại nhỏ của bà, và bị ốm nặng, xuất huyết dữ dội. Tôi ở Saigon lên thăm bà về rồi dục ông anh cả tôi lên thăm bà. Anh cả tôi lừng khừng không chịu đi, vì mới có một trận xung khắc kịch liệt với bà, ngại lên gặp bà thì rồi hai mẹ con lại cãi nhau. Tôi điên tiết lên, chỉ mặt anh, gào to:
-Đ. M. Tôi và anh có liên hệ vì chung một mẹ. Nếu anh không lên thăm mẹ, tôi từ anh ra.
Rồi quay sang mấy đứa cháu đang mở to mắt nhìn ông chú chửi thề tục tĩu, tôi quát:
-Từ nay, đứa nào mà còn gọi tao bằng chú, tao đập chết.
Anh tôi thấy thằng út du đãng quá, nên vội lái xe lên thăm mẹ. Tới nơi, anh lại nói ngay với mẹ tôi:
-Con lên thăm me là vì thằng Tiến nó bảo con!
Chủ nhật sau, tôi lên thăm mẹ, bà kể lại cho tôi nghe hết. Tôi tức cười quá, nhưng cũng “tha tào” cho ông anh.
Mẹ tôi là người đàn bà độc đáo, tính tình rất đặc biệt, không giống ai. Sở dĩ như vậy, là vì bà đã trải qua một cuộc đời đầy cay đắng, khắc nghiệt. Mới mười mấy tuổi đã bị cha mẹ ép gả cho một ông Tiên Chỉ, vốn là một Thầy Đồ dậy học, góa vợ, hơn bà gần ba chục tuổi, người con cả của ông là chị lớn của tôi cũng gần bằng tuổi mẹ tôi. Bà nội tôi, một người giầu có vô địch trong làng, lại là người nổi tiếng là không hiền, coi con dâu như một cái đích để thử tính kiên nhẫn của mẹ. Mẹ tôi kể, khi anh ba tôi, lúc ấy chừng 3 tuổi bị một cái nhọt to bằng trái ổi ở trên đầu, cứ khóc lèo nhèo đòi đi theo bố tôi, bà nội tôi dùng cái vạt áo bông thật dầy cứ đập vào đầu anh tôi và mắng ầm ĩ. Cái nhọt trên đầu anh tôi bung ra, mủ máu tùm lum. Anh tôi xỉu thẳng cẳng. Bố tôi sợ con chết, giận bà nội tôi quá, nằm ngửa ra đất, đập ót xuống sàn gạch và khóc lớn:
-Mẹ giết con của con mất rồi!
Môt người lực điền trong nhà vội lấy bàn chân đỡ đầu bố tôi cho khỏi va vào gạch, mà vì bố tôi đập mạnh quá, ngón chân anh bị dập luôn. Mẹ tôi vội bế con, kêu anh xe kéo một mạch ra Hà Nội, tìm thầy thuốc. Đến một ông Lang nổi tiếng ở Hàng Buồm, ông cho một chai thuốc nhỏ, bảo cho thằng nhỏ uống một muỗng cà phê, ngày hai lần. Mẹ tôi rất tinh tế, nên nói với bố tôi là cho thử nếm một cái tăm tre xem sao đã rồi hãy uống. Bố tôi vừa cho cái tăm thấm thuốc vào miệng anh tôi chừng vài phút, anh tôi đã dẫy nẩy cả người lên, nôn ọe tùm lum. Mẹ tôi vội bế anh đi bác sĩ Tây, may mà mẹ tôi lanh trí, nếu không thì anh tôi đã ra người thiên cổ từ bé.
Với bà mẹ chồng như thế, mẹ tôi đã chịu bao cay đắng, vất vả. Nhưng với bản tính thông minh, mẹ tôi đã sống qua thời trẻ mà thành công rất lớn, làm cho gia đình tôi trở nên cực kỳ giầu có. Khi bà nội tôi muốn chia những thửa ruộng của bà cho các con, mẹ tôi chọn miếng ruộng khô khan nhất mà lại ở triền núi. Mẹ tôi kể:
-Me chọn miếng đất ấy, ở tuốt trên miền Hòa Bình sơn cước, chả ai thèm lên, vì biết là nếu mà chọn miếng tốt hơn thì các chú các thím cũng ganh, và thế nào cũng bì tị, cho rằng con cả thì cái gì cũng tốt. Rồi lại sinh chuyện!
Không ngờ miếng ruộng ấy lại là ruộng vàng! Vàng thật, không phải nói bóng. Vàng nằm đầy trên triền núi Hòa Bình ấy, nằm ngay dưới mặt đất, chẳng phải đào xới gì sâu. Thầy tôi mừng lắm, định rào dậu lại rồi thuê người gác, nhưng mẹ tôi gạt đi:
-Thầy nó cứ để tôi, tôi biết lo liệu.
Thay vì thuê người gác, mẹ tôi mở toang thửa ruộng, báo cho dân miền ấy biết là “bất cứ ai cũng có thể vào đấy đào vàng, nhưng đào xong thì bán lại cho bà” Thế là người Mường, Mán ùn ùn vào đào liên miên, nhưng cứ đến cuối ngày, thì mẹ tôi đứng chờ ở ngoài với một bị tiền, mua tất, và dĩ nhiên với một giá rẻ. Tôi hỏi mẹ tại sao mẹ lại làm vậy. Mẹ tôi cười:
-Me làm thế là có lợi hơn là thuê người làm, người gác. Này nhé, người Mán, Mường trên ấy chuyên mặc quần áo, váy, khăn đầy người, nếu thuê họ đào, thì nhất định họ sẽ dấu vàng vào khăn, vào váy, mỗi ngày một tí, rồi không lẽ cuối ngày, mình bắt họ ở truồng ra mà khám à? Còn những người gác, tội gì lại không ăn cắp? Mỗi ngày nó nuốt một miếng, thì mình hết vốn rồi! Me cho họ tự nhiên đào vàng, thì họ sẽ chẳng cần ăn cắp, sẽ không có trộm cướp rình mình mà giết, mà vì người miền núi không thích vàng, mà chỉ thích bạc, họ đeo vòng bạc đầy người, chứ không đeo vàng, me trả họ tiền, họ thích lắm, đi mua bạc. Mình lại bán bạc cho họ! Thế là cả hai bên đều có lợi!
Mẹ tôi thật là thông minh. Mỗi ngày bà chỉ mang một bị tiền, bị bạc, chất lên con ngựa của bà, rồi cầm cái gậy dài để đập rắn rết, mẹ cỡi ngựa lên núi, lấy tiền đổi vàng, bán bạc lấy tiền, chả sợ cướp bóc gì, cả làng người sơn cước còn quý mến mẹ, cho dù mẹ còn trẻ, dưới 30 tuổi, nhưng tất cả đều gọi mẹ bằng tiếng “mẹ”, và đi đâu cũng được đón tiếp nồng hậu.
Mẹ tôi rất can đảm, chẳng biết sợ là cái gì. Bà ghét mê tín, thần linh vớ vẩn. Một hôm bà rẽ vào môt nhà người Mán, ngủ qua đêm. Bà nằm trên phản, mà chân lại hướng về phía bàn thờ của người sơn cước tỉnh bơ. Bà chủ nhà cứ chắp tay vái mẹ lia lịa:
-Mẹ ơi! Nếu mẹ không thờ, thì mẹ cũng để con thờ chứ! Mẹ để chân về phía bàn thờ như vậy, ma nó về vật con chết!
Mẹ tôi “ối dào, ma với quỷ!” và mãi mới chịu rút chân về! Cỡi ngựa đi ngang qua mấy miếu thờ của họ, mẹ tôi cũng chẳng xuống ngựa, làm dân làng hãi quá, vái lấy vái để.
Tính mẹ tôi như thế đó, thẳng thắn, cương quyết, hiểu biết nhiều điều lạ và áp dụng ngay trong đời sống. Thầy tôi có mua một thửa vườn lớn để trồng mít. Vườn ở xa nhà lắm, nếu muốn lên thăm vườn, thì phải đi thuyền ngược, rồi leo núi bằng chân. Để tránh tình trạng ăn trộm mít, mẹ tôi thuê một bà Mán là phù thủy trong làng, coi sóc vườn cho bà. Bà Mán này có phù phép ma quái, thờ một ông “ma xó” ngay cửa vườn. Ông “ma xó” là một cái đầu lâu người chết vì sét đánh, bà phù thủy này đem để trong môt cái lu, rồi yểm bùa gì đó, khiến con ma này trông coi vườn cho bà. Nếu có kẻ trộm đến hái mít, thì lập tức con ma xó này đếm: “một.. hai…ba”. Nếu đếm đến 3 mà kẻ trộm không chạy, thì ma vật hộc máu ra chết liền!
Một ngày kia, khi được tin báo là mít đã chín, thầy mẹ tôi kêu mấy người làm cùng chèo thuyền lên rừng hái mít. Cả toán đến nơi, thì chưng hửng, vì bà phù thủy kia không cho hái. Bà chắp tay vái thầy tôi và nói:
-Thầy ơi! Thầy đợi con trăng ngày mai rồi hãy hái. Con còn phải cúng trăng đã.
Đâu có được! Cả toán kéo lên đây đây phải dễ mà đi về rồi lại lộn lên nữa! Thầy tôi cứ cương quyết bảo anh Mười, một người lực điền khỏe nhất đám với bắp múi nổi gồng lên ở tay chân, leo lên hái mít. “Mày cứ lên hái cho tao!”
Vừa leo lên tới chỗ quả mít to nhất, và mới chạm tay vào trái mít, bỗng anh Mười vụt tay ra, rồi té nhào xuống đất. Mọi người đổ xô đến, sợ hết hồn hết vía vì thấy anh Mười mặt mũi đỏ gay, cứ thè lưỡi ra định cắn lưỡi mình, tay chân co rút, đập tán loạn trên đất để tự tử. Mấy người lực điền phải đè anh xuống, giữ tay giữ chân anh, mà sao anh mạnh quá trời, giữ đè vậy mà anh cũng vùng lên được và chạy ào ra, phóng xuống sông! Mọi người nhào theo, vật lộn với anh làm nước tung tóe.
Bà Mán thủng thỉnh nói:
-Con đã nói rồi mà! Con đã nói rồi mà! Chưa cúng trăng, làm sao hái được?
Thầy tôi, cũng là người không biết sợ ma quỷ, quay lại, vung tay tát cho bà Mán kia một cái và quát lớn:
-Mày có giải bùa cho nó không thì bảo? Tao báo quan bắt bỏ tù mày!
Bà Mán lẳng lặng chùi má và thấy tình hình cũng găng quá, nên đòi thầy tôi phải đưa cho bà một đồng bạc thật, để bà cúng ma! Bực quá mà thầy tôi cũng phải móc túi đưa cho bà phù thủy kia một đồng bạc bằng bạc thật. Hồi đó, người Mán, Mường chỉ thích bạc để đeo toòng teng trên người, làm xà-tích bạc, dây bạc, vòng bạc cổ chân, cổ tay, và trên cổ.. Đồng bạc thật hồi đó quý lắm, dầy cui và khắc hoa văn. Được đồng bạc trên tay, bà Mán kia thắp nhang, nến và quỳ xuống vái cái lu đựng “ông ma xó”, rồi lẩm bẩm đọc thần chú gì đó…Chỉ vài giây sau, đột nhiên, anh Mười tỉnh táo lại, coi như không có chuyện gì xẩy ra….
Vậy mà mẹ tôi chẳng biết sợ là cái gì. Rồi chúng tôi về Hà Nội với căn nhà mênh mông ngay trên phố Khâm Thiên, với một cái cầu thang bằng đồng có hai cái tay nắm tròn bằng đồng sáng chói, nơi mà tôi lẫm chẫm đứng đó và chỉ tay ra ngoài cửa: “Ph…ở…ph…ở…” để chị vú chạy ra gọi ông phở gánh ngừng lại và bán cho tôi một tô phở. Một ngày kia, mẹ tôi đang ngồi trên phản gụ, một người làng cũ đến, đưa cho mẹ tôi một chai mật ong đặc và nói là quà của thầy tôi, không biết lúc đó đang ở đâu. Sau khi bị đấu tố ở làng, thầy mẹ tôi trốn được, nhưng không biết sao mà Thầy tôi không về Hà nội cùng với chúng tôi. Nghe người đưa tin xong, mẹ tôi cầm ngay chai mật ong, đập cái “chát” vào tường. Mật bắn tung tóe cả nhà, rồi mẹ tôi lẳng lặng thu xếp cho cả nhà kéo về Bùi Chu, không ở Hà Nội nữa.
Tôi nhớ, hồi đó, một buổi sớm lạnh, cả nhà tôi kéo nhau ra bến sông. Giữa những đốm sáng của các cây đèn bão lung linh, với tiếng nước va mạn thuyền róc rách, tiếng người gọi nhau ơi ới, mẹ tôi dẫn tay tôi đi trên tấm ván gỗ rung rinh dưới chân, bước vào khoang con thuyền đinh, một thứ thuyền có mui lớn và những cánh buồm to rộng. Sau khi đồ đạc chất lên rồi, thuyền nhổ neo ra khơi. Chiếc đèn bão treo trong khoang cứ lắc đi lắc lại, làm những vầng sáng thật lãng mạn chập chờn trên vách tre. Tâm tư của đứa trẻ 5,6 tuổi như tôi cứ lâng lâng theo tiếng sóng vỗ lẹt đẹt vào mạn thuyền và những vầng sáng nhòa nhạt trong khoang. Khi mặt trời lên cao, tôi leo lên nóc khoang, ngồi nhìn những đàn chim tung cánh trong nắng sớm hướng về phía mặt trời rực rỡ xa xa. Bỗng dưng, tim tôi như ngừng đập khi nhìn thấy bên bờ sông có dẫy cát vàng trải dài, một đàn ngựa đang tung tăng chạy nhẩy. Một con ngựa bỗng cất cao hai vó trước lên và hí một tiếng dài.. Tiếng hí trong sương sớm thấm vào hồn tôi, hòa vào máu tôi, và ở lại mãi cho đến hôm nay, khiến tôi muốn bật ra các câu thơ..
Về đến Bùi Chu, mẹ tôi cho dọn vào căn nhà đầu tiên của Đại Lộ Phạm Ngọc Chi, ngay sát một nghĩa địa nhỏ, rồi tới sân nhà thờ. Mẹ tôi thuê nhà ở đây làm nơi trung chuyển thuốc lào Vĩnh Bảo. Bỏ hết giang sơn lại ở Hà Nội, mẹ tôi quay sang làm đại lý thuốc lào và đi giao hàng khắp các tỉnh, Nam Định, Phủ Lý, Hưng Yên. Mẹ tôi hồi trẻ gan dạ lắm. Bà buôn đủ thứ. Lên miền ngược mua gỗ cây, cho thả xuôi theo dòng. Về tới bình nguyên, thì chặn lại, bà bán cho chủ gỗ. Có khi bà liều mạng vào vùng Việt Minh, bán đá lửa, thuốc Aspirin là những món hàng quý. Bà cho đục mái chèo ra, nhét đá lữa hay thuốc vào đó, rồi khằn lại, làm cái nghề này mất mạng như chơi.
Điều đáng kể là cũng tại Bùi Chu, tôi đã gặp ma lần đầu tiên. Hôm ấy, các anh chị tôi kéo đi xem phim chiếu ở sân nhà thờ, còn có hai mẹ con ngồi ở ngoài sân, nhìn ra bờ hồ tối thui. Đang ngồi yên lặng, chợt nghe thấy tiếng người gọi ở trong nhà: “Bán cho tôi đồng thuốc lào”. Mẹ tôi cười:
-Lại thằng nào phá đây!
Rồi mẹ tôi kéo tôi đi vào trong nhà. Cầm lấy cây đèn Hoa Kỳ vàng nhỏ, mẹ tôi đi khắp trước sau, cũng không thấy ai. Mẹ lẩm bẩm: “Quái! Thằng nào vừa nói mà đâu mất rồi?” Mẹ tôi lại đi thêm môt vòng nữa, cũng không thấy ai. Chợt, từ cây đàn ghi ta treo trên vách, bỗng bật lên mấy tiếng “từng, tưng, tưng”… Nhìn lại thấy cây đàn vẫn treo đó, mà không có người gẩy, bất chợt tôi rung người. Mẹ tôi thấy tôi sợ, liền nắm chặt bàn tay tôi, nói:
-Để me tìm ra thằng nào, me tát cho nó một cái.
Hai mẹ con đi từ nhà trên xuống nhà bếp, tới cái cầu tiêu cao.. cũng không thấy bóng người nào. Mẹ nói:
-Lạ nhỉ?
Rồi mẹ kéo tay tôi, lúc đó đã run bần bật, ra phía vườn sau có bức tường sát với nghĩa địa, có một cây cao giữa vườn, nghe nói có người treo cổ ở đó.. tới phòng tắm xây ở góc vườn.. Tại cửa phòng tắm, mẹ tôi giơ cao cây đèn vào trong và nói:
-Đây rồi! Thằng nào núp trong này thì biết tay me!
Vừa đưa cây đèn vào phía trong cửa, bất ngờ một cơn gió từ bên trong thổi ra rất mạnh. “Phù…” Cây đèn tắt phụt!
Tôi giật bắn mình, quấn ngay vào chân mẹ. Mẹ tôi lẳng lặng không nói gì, nhưng tôi cũng biết đó là.. ma, vì trong phòng tắm chẳng có bóng người nào cả! Chân tôi như ríu lại, tôi bước không nổi nữa, làm mẹ tôi phải bế tôi lên ra ngoài. Tới cửa bên ngoài rồi, mẹ nói nhó:
-Con đừng nói với đứa nào nhé! Đêm nay chúng nó lại vãi cả ra giường!
Lúc đó, miệng tôi như bị ai nhét giẻ vào nên không nói được lời nào. Đến khuya, các anh chị tôi lục tục về nhà. Tuy bị mẹ cấm, nhưng làm sao mà tôi nhịn mà không kể được. Thế là sáng hôm sau, giường chiếu nào cũng đen xì, ẩm ướt, không có đứa nào có gan mà đi tiểu ở cầu tiêu đằng sau..
Mãi đến sau khi anh cả tôi quất cho mỗi đứa một trận thê thảm thì mới hết tiểu ra giường bởi chúng tôi sợ đòn hơn sợ ma. Anh cả tôi mà đánh thì oằn người.
Trở lại chuyện mẹ khi thầy tôi mất. Một sáng lạnh, có một chiếc xe Traction đen phóng về Bùi Chu. Sau khi nói chuyện với mẹ tôi xong, thì chiếc xe lại vù đi. Mẹ tôi không nói gì, chỉ gọi anh cả tôi thu xếp lên đường về Hà Nội. Chúng tôi ở lại, ngơ ngác. Mấy ngày sau, mẹ và anh trở lại, đưa cho chúng tôi mỗi đứa một chiếc khăn đen đeo vào vòng tay, cho biết Thầy tôi, sau vụ đấu tố, đã mang bệnh nặng và chết rồi.
Từ đó, chúng tôi sống với sự bươn chải của mẹ, một tay nuôi sáu đứa con. Có những hôm, trời mưa làm bùn ngập cả đường tới trên mắt cá, mẹ tôi một tay chống gậy, một tay đỡ bao gạo trên đầu, bì bọp bước về nhà. Mùa đông lạnh quá, mẹ tôi bện một ổ rơm thật lớn cho cả nhà nằm ngủ dưới đất. Sáng dậy, đánh răng bằng muối hay bằng than đen. Thỉnh thoảng, chúng tôi phải ăn cám thay cơm. Mỗi đứa một đĩa cám, lấy thìa đẩy vào mồm và phải bịt mũi vì nếu thở mạnh, cám bay tùm lum.
Thời gian ấy, để mưu sinh, mẹ tôi làm đủ nghề. Mới hơn 30 tuổi, mà mẹ tôi trông già như bà lão. Mẹ tôi hay cho tôi đi theo những chuyến buôn hàng thật xa, có khi đi tầu thủy, có khi đi xe “ca”, loại xe ghế gỗ, đường xóc, bụi bay mù mịt. Có khi đi thuyền, hay lội bộ cả ngày luôn. Tôi còn nhớ mẹ hay làm cơm nắm, cho ăn với tôm. Ăn xong, thì dù ở trong thuyền, tầu thủy, hay xe ca, mẹ vẫn bảo tôi đọc truyện của Tự Lực Văn Đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam.. Đọc xong, mẹ cho kẹo hay cho tiền. Và như thế, văn chương, thơ phú đã thấm vào hồn tôi từ lúc nhỏ. Tôi mê nhân vật Dũng, sáng mờ sương, cầm cây đàn bước xuống thuyền trong tiếng sóng vỗ bờ. Tôi mến cô hàng sách, thích cô hàng hoa, thương cô Loan bị đầy đọa.. Từ mẹ tôi và những cuốn truyện ấy, tôi lớn lên trong văn chương và tình thương của mẹ… Cũng vì thế, mà tôi yêu mẹ nhất nhà. Tôi không thể nào quên được những buổi sáng lạnh, hai mẹ con bước đi trong sương mờ, ghé vào một cổng làng, cổng chợ nào đấy, ăn một đĩa bánh cuốn nóng hổi dưới ánh đèn leo lét. Những chuyến tầu thủy chật người, người này nằm gác đầu lên chân người kia, mẹ tôi mở gói cơm nắm ra, trong đó có kẹp một con tôm đỏ, hoặc chút ruốc.. thât tuyệt vời. Cho nên, khi lớn lên, dù mẹ tôi đánh tôi tàn bạo, đánh lần nào lần ấy phải cõng đi nhà thương, hay gọi bác sĩ khẩn cấp đến nhà chích thuốc cho tôi, lúc ấy tay đã “bắt chuồn chuồn”, nghĩa là sắp sang bên kia thế giới, tôi vẫn yêu mẹ. Có lần mẹ tôi rút ngay cái cọc sắt của chiếc giường sắt, vẫn làm nơi mắc mùng, mà cầm cả hai tay quật cây sắt nặng ấy vào người tôi làm tôi té ngửa. Có lần mẹ cầm cây gỗ 1 phân vuông, đánh tôi đến gẫy cây, mẹ chập cả hai cây làm một, đánh tiếp cho tới khi tôi bất tỉnh. Tôi vẫn yêu mẹ. Lý do những lần bị đánh ấy cũng chả có gì là ghê gớm. Hoặc tôi ham chơi về trễ, sau khi cả nhà đã đi ngủ. Hoặc tôi gian, lấy chìa khóa tủ của mẹ tôi, “chôm” tiền của mẹ, đi xem xine. Hoặc tôi đánh lộn với mấy đứa hàng xóm, bắn tên vào mắt nó, suýt mù… Lần tôi không chịu nghe lời mẹ mà đưa võng cho cô cháu cứ lè nhè đòi “chú Tiến đưa võng cơ”, mẹ tôi đánh tôi suýt chết vì nói tôi không nghe lời mà đưa võng cho cháu, mẹ rút cây kẹp sắt vẫn dùng để gắp than trong bếp, đánh tôi đến khi cây sắt đôi kia cong veo…
Đến khi tôi đã học đệ nhị rồi, mẹ vẫn đánh kinh khủng. Có gì đâu? Tôi mê học vẽ, mà học vẽ thì phải vẽ đàn bà trần truồng. Mẹ hét lên: “Đồ ma quỷ! Mày vẽ cái gì mà ma quỷ thế?”. Mẹ xé toạc bức tranh của tôi, rồi đánh túi bụi lên đầu lên cổ tôi. Tôi cũng ham học võ, tuần nào cũng học 6 buổi sáng sớm, 6 buổi tối, học một lúc bốn môn võ: Judo, Aikido, Jujitsu, và Karate. Học võ thì gẫy tay, gẫy chân là chuyện thường. Sút khớp vai, long đầu gối, rớt ngón tay, ngón chân lủng lẳng.. tôi chẳng biết sợ, vì giống tính mẹ, nhưng mẹ không chịu, mẹ xé võ phục của tôi, thấy tôi què, mẹ còn đánh tợn. Một hôm, biết tôi vẫn lén xin tiền chị Hai để đi học vẽ “cái đồ ma quỷ”, mẹ hăm tôi là sẽ đánh vào sáng hôm sau. Sáng sớm, tôi thức dậy sớm, chờ mẹ tôi đi lễ về, tôi kéo chiếc ghế đẩu, không có tựa, ra giữa nhà, và cởi áo may ô ra, ngồi đó và nói:
-Đấy, me đánh đi!
Mẹ tôi thấy tôi thách thức thì điên lên, cầm gậy phang tôi. Mẹ quất một cái, tôi đếm: “Một”, mẹ quất hai cái, tôi đếm “hai”… làm những cây gậy sau càng lúc càng nhanh, càng mạnh, lúc đầu thì quật ngang lưng, sau thì leo lên cổ, đầu.. Đến đầu, thì tôi lăn ra bất tỉnh, xùi bọt mép!
Mẹ đâu biết là tôi giống tính Mẹ mà! Tôi không biết chữ “sợ” là gì. Đêm leo rào vào nghĩa địa, cầu cơ. Ngày chui vào hầm xương người, nhặt đầu lâu ra chơi. Lúc đi học thi Tú Tài thì vào nghĩa trang Bắc Việt, kiếm ngôi mộ xây nào là của thiếu nữ, thì leo lên ngồi, học bài. Học xong, thì ôm mộ ngủ. Nếu thấy cô gái đẹp, thì làm thơ rồi đốt tặng cho hồn ma oan khuất, thương “em chết trẻ quá”… Chờ người ta tảo mộ, thì nhặt ván hòm về đẽo thành hình trái tim và cầu hồn ma lên nói chuyện chơi, có khi nói “yêu” cả ma nữa.
Học võ thì để đánh lộn tưng bừng. Mấy trận đánh lộn ở Xóm Mới, Gò Vấp, Lăng Cha Cả, một mình xông vào giữa đám dao, gậy, mã tấu mà đấm, đá, vật, quật tưng bừng để thân người bị chém ít nhất là 5 vết sẹo, có vết dao nguy hiểm vì bị đâm ngay tìm, nhưng chỉ đến lớp da ngoài thì ngừng lại.
Thế mà không bị đòn sao được! Tôi chịu đòn của mẹ tôi mà không bao giờ nói lời xin lỗi. Chứng nào tật đó. Bị đánh xong lại tái phạm. Nhưng cho đến khi tôi đỗ Tú Một, thì bỏ nhà đi bụi đời hơn một năm. Giao du với du đãng, khi không có tiền ăn, thì đi cướp giật ngoài đường. Thấy cậu ấm nào đi lạng quạng, đeo dây chuyền, hoặc gắn bút máy Pilot ở túi, là tôi xông ra, tay trái nắm lấy dây chuyền hoặc bút, tay phải dọng một cú đấm vào mặt và chửi tục: “Đ.M mày, du đãng hả?” Cậu ấm còn ngơ ngác, chưa hiểu gì đã bị tôi đạp giúi xuống đất, rồi tôi bỏ chạy thục mạng vào mấy con hẻm ngoằn ngoèo Đa Kao, có thánh cũng không rượt kịp. Cầm “chiến lợi phẩm”, tôi đi vào tiệm cầm đồ quen ở Hai bà Trưng, đổi lấy tiền đi mua bánh mì, có “may dô ne”, và ngồi ăn ở góc đường nào đó. Đêm ngủ vỉa hè, hay dưới gầm xe đò, có khi leo lên xích lô của ai để ngoài đường… Cuộc đời du đãng của tôi đầy tội lỗi, gái giếc, cờ bạc, chỉ không hút xì ke mà thôi.


Rồi cũng có ngày thay đổi. Tôi được người anh họ cho đi dậy học ngoài tỉnh, được một niên học.. Mẹ tôi nghe tin, tìm đến, khóc lóc buộc tôi về. Nhưng chỉ được vài ngày, tôi lại lẳng lặng xách túi ra đi, vừa đi, vừa nhìn lại nhà Mẹ mà khóc…Vừa nhớ mẹ, vừa thương mẹ, cũng vừa ghét mẹ vô cùng.
Và cứ thế, tình mẹ con lên lên, xuống xuống như thủy triều, nhưng khi tôi trở thành thầy giáo, rồi đi lính, biệt phái về hành chánh, rồi làm Giám Đốc một hãng tư, tôi vẫn là đứa con duy nhất lo cho mẹ. Còn các anh chị tôi chạy tản bốn phương. Ai cũng sợ các câu nói “chết cây, gẫy ngành” của mẹ.
Cuối cùng, sau khi sang Mỹ, tôi cố ở với Mẹ môt thời gian vài tháng, rồi “chứng nào tật nấy”, mẹ con lại cãi nhau, và mẹ tôi đi “share” phòng ở môt mình. Hôm đó, nghe mẹ nói đau bụng, tôi vội chở mẹ đi khám bệnh, và đau đớn khi nghe bác sĩ nói: “Cụ chỉ còn sống được 6 tháng nữa là cùng. Cụ bị ung thư dạ dầy đến giai đoạn chót”.


Tôi đưa mẹ vào bệnh viện Fountain Valley, ở đây, tôi chỉ có thể thăm mẹ vào buổi chiều sau khi đi làm về. Mấy đứa cháu con ông anh tôi cũng thay phiền vào thăm bà nội. Nhưng vì cô đơn suốt ngày, mẹ tôi muốn về Việt Nam để có người thân chăm sóc trước khi chết. Nhà tôi còn hai bà chị ở lại Việt Nam và nhiều đứa cháu họ.
Tôi tiễn mẹ ra phi trường và kiếm người đi cùng, nhờ vả họ coi chừng giùm mẹ tôi khi bay. Trong khi chờ bay, Mẹ tôi không đổi sắc, vẫn nói chuyện bình thường với con cháu. Đến khi người ta đưa mẹ vào phòng cách ly, tôi chỉ còn biết gào lên hai tiếng: “Me ơi!” cuối cùng khi bóng mẹ khuất sau cánh cửa.
Mẹ tôi mất đi, nhưng những kỷ niệm hạnh phúc của tuổi thơ bên mẹ không bao giờ tàn trong tôi. Me ơi! Con yêu me nhiều lắm, Me biết không?
 
Chu Tất Tiến.



Mẹ tôi kém Thầy tôi 30 tuổi. Thầy tôi sinh năm 1890, Mẹ tôi sinh năm 1910. Thầy tôi cưới mẹ tôi sau khi Mẹ Cả, vợ trước của Thầy tôi mất, cho nên người chị Cả cùng Cha khác Mẹ với tôi chỉ kém Mẹ tôi có vài tuổi. Mẹ tôi là người phụ nữ tuyệt vời, suốt cuộc đời làm Vợ và làm Mẹ, Mẹ tôi cư xử rất đúng mực với gia đình chồng và hay nhường nhịn các chú, thím tôi về mọi phương diện. Khi Bà Nội tôi chia ruộng vườn, nhà cửa cho Thầy tôi và các Cô, Chú tôi, mẹ tôi luôn chọn phần nào kém nhất, mặc dù Thầy tôi là anh Cả trong gia đình.
Khi tôi hỏi “tại sao Me lại chọn cái gì kém nhất?”, Mẹ tôi bảo: “Me là chị Cả nhưng lại kém tuổi hơn hết, các chú, các cô coi thường, nên Me hay nhường, kẻo họ lại nói này nói nọ!”

Vì đức tính chịu đựng và nhường nhịn như thế, Thầy tôi nể Mẹ tôi lắm, và để bà sắp xếp mọi việc trong ngoài, cai quản một dinh cơ bề thế, có thể nói là một trong những nhà giầu nhất tỉnh Hà Đông hồi đó, với hàng trăm trâu bò, một đàn gà, vịt nhiều đếm không xuể và môt chuồng ngựa, trong đó có một con dành cho môt anh lực điền chuyên ôm chúng tôi trên yên ngựa, phóng đi chơi. Nhà tôi hồi đó có nuôi một anh phu xe kéo, để kéo Thầy tôi đi đánh tổ tôm nữa. Vì nhà tôi giầu thế, nên dân làng nể mà bầu Thầy tôi làm Tiên Chỉ, tương đương với chủ tịch hội đồng làng, chẳng làm gì cả, chỉ ngồi trên trước mỗi khi có tiệc tùng, ăn nhậu. Do đó, người ta quen gọi Thầy tôi bằng “Ông Chỉ”, và Mẹ tôi là “Bà Chỉ!” Tên này được gọi mãi cho đến khi Mẹ tôi mấ


Mẹ tôi hồi xưa đó rất phục tùng gia đình chồng, nhất là chịu đựng bà Nội tôi, người mà tôi chưa hề biết mặt, chỉ nghe nói là tính nóng như lửa. Nghe kể là nhà bà tôi hồi đó có nuôi nhiều người làm lắm, mỗi khi có người làm nào kiếu ốm để nghỉ bệnh thì bà tôi mang ngay một cái bát lớn đến đầu giường người bệnh, và vén váy ngồi xuống để tè ra bát, đưa cho người bệnh uống, và bảo:
“Mày uống hết bát này là khỏi!”
Thế là người bệnh kinh hãi quá, vội chồm dậy, chạy bán sống bán chết, vừa chạy vừa gào lên:
“Thôi, con khỏi rồi, bà ơi!”. 

Bà tôi dữ tính như vậy, mà mẹ tôi chịu được, thế mới tài. Sau đó, vì Việt Minh đến, đấu tố Thầy Mẹ tôi, chút nữa thì giết cả Thầy Mẹ tôi, nhưng nhờ mấy người làm trung thành giúp cho nhà tôi trốn được, chạy về Hà Nội, mua một căn nhà lớn ở phố Khâm Thiên, hai tầng, có cầu thang bọc tay bằng đồng ở giữa nhà, tỏa ra hai bên hành lang trên lầu, đầu cầu thang bên dưới có một cục đồng to vàng bằng quả bưởi, nơi cậu ấm Út là tôi, vẫn đứng vịn vào đó, bập bẹ: “Ph..ơ.. phơ.. phở!” để chị Vú vội chạy đi kiếm cho cậu Út một chén phở ngay. 
Tưởng là mọi chuyện êm đẹp, giầu sang mãi, nhưng chỉ vì tính cương quyết của Mẹ tôi, mà một hôm, gia đình ly tán, đang giầu thành nghèo rớt mùng tơi. Tôi nhớ một hôm Mẹ tôi đang ngồi sập gụ, hút thuốc lào, thì một người làng từ xa đến, nói cái gì với Mẹ tôi đó, và đưa cho Mẹ tôi một chai mật ong rất quý, Mẹ tôi không nói gì, cầm cái chai mật ong ném vào tường “chát” một cái, mật đổ tung tóe ra nhà. Sau đó một thời gian ngắn, Mẹ tôi thu xếp đồ đạc, kéo cả nhà về Bùi Chu! Khi lớn lên tôi mới biết đó là tin ngắn không tốt về Thầy tôi, hình như là về người con trai của Thầy tôi với một bà Mán ngày xưa ấy... Giai đoạn này, thì tôi lờ mờ, lẫn lộn, vì hồi đó còn nhỏ quá, lẫn lộn giữa thời gian Thầy Mẹ tôi bị đấu tố, bị treo bản án “Nợ Máu với Nhân Dân” ở Hà Đông, rồi trốn được, chạy loạn, tản cư, rồi về Hà Nội như thế nào thì tôi không rõ, chỉ nhớ một điều là khi chạy trốn Việt Minh, Mẹ tôi địu tôi đằng sau, cột thật chặt, rồi chạy lúp xúp dưới ruộng. 
Thỉnh thoảng Mẹ lại với tay ra sau, kéo đầu tôi xuống kẻo bị trúng đạn mất đầu! Còn hai chị tôi, được môt người lực điền khỏe mạnh gánh hai bên quang gánh, chạy theo. Anh Tư tôi chống cái gậy nhỏ, chạy trước cùng với Anh Hai, Chị Ba của tôi. Thầy tôi chạy sau cùng. Mẹ tôi đôi lúc phải gào lên kêu Thầy tôi và anh Tư tôi đi xuống ruộng, an toàn hơn, vì Thầy tôi và anh Tư tôi cứ leo lên trên mặt đường mà đi lúc đó súng đạn hai bên tùm lum, súng Tây, súng Viêt Minh bắn nhau loạn cào cào… Trốn được Việt Minh và thoát cảnh bị đưa ra sân nhà để bị bắn hoặc bị chôn dưới đất cho trâu kéo cầy qua đầu, nhưng Thầy tôi lâm bệnh nặng, gần như lãng trí, đi đâu đó rồi chết ở Hà Nội. Tôi nhớ hôm đó ở Bùi Chu, chợt có một chiếc xe Traction đen tuyền lái về đậu ngay trước cửa nhà tôi, người tài xế gặp Mẹ tôi nói nhỏ gì đó làm Mẹ tôi biến sắc, gọi anh Hai tôi lại, thầm thì cái gì đó, rồi hai người vơ vội ít quần áo, lên xe đi với người kia. Mẹ tôi chỉ kịp dặn lại:
“Mấy đứa ở nhà, Me đi ít hôm rồi về!”. 

Vài ngày sau hay bao lâu thì tôi không nhớ rõ, chỉ biết Mẹ tôi và anh tôi về nhà, mặt buồn bã. Mẹ tôi bảo:
“Thầy mất rồi!”
Anh Hai tôi đưa cho mỗi đứa một cái băng tang đen đeo vào tay. Còn Mẹ tôi tự tay vòng một vòng vải đen vào cái mũ đội đầu của tôi. Tự bấy giờ, không khí gia đình nặng hẳn đi, chẳng ai nói với ai một lời. Năm 1950, Mẹ tôi dẫn cả nhà ra Hải Phòng, vì khu Bùi Chu – Phát Diệm đã bắt đầu có chiến tranh với Viêt Minh, không còn an toàn nữa. Tôi nhớ có hôm Việt Minh tấn công vào Bùi Chu, súng đạn mù trời, tôi nằm bẹp bên núi đá Đức Mẹ, ngó mấy người cầm súng chạy tới chạy lui, khiêng thương binh, khiêng xác chết giữa tiếng “cắc bọp” của mấy cây súng thời chiến tranh thứ nhất. Thỉnh thoảng có tiếng đại bác của đồn Tây gần đó vút qua đầu “vèo..èo.. ầm”. Đôi khi tôi nhìn thấy xa xa lửa nháng lên, vàng khè…

Tới Hải Phòng, Mẹ tôi thuê nhà ngay ngang hông nhà thờ lớn, muốn đi lễ chỉ cần chui qua một cái khung nhỏ đục qua tường nhà thờ là bước vào sân nhà thờ liền. Nhà tôi có một cái cổng gỗ, có khóa xích xộc xệch. Một hôm đi học về thấy cổng khóa, mà phía bên dưới có một khoảng trống nhỏ, tôi chui vào, nhưng không ngờ chỉ lọt cái đầu còn mình thì kẹt phía ngoài, tôi hoảng quá, vừa mếu máo vừa gọi người ra mở cổng. Mẹ tôi ra mở cổng, còn cốc vào đầu tôi một cái rõ đau. Ở đây môt thời gian, Mẹ tôi lại đổi nhà, thuê môt phòng phía sau môt nhà ngay mặt đường lớn. Nhà có cái cầu tiêu nổi, có mấy bậc bước lên. Phía sau tường và bên dưới là một lỗ trống cho người đến lấy phân đi tưới ruộng.
 Vì hệ thống cống rãnh ở Hải Phòng hồi đó không có nên mỗi lần mưa lớn, nước ngập ngoài đường cả nửa thước tây, vào cả trong nhà dù nhà đã xây nền cao hơn mặt đường. Lũ trẻ chúng tôi cứ chờ mưa ra nhào ra đường bơi lổn nhổn giữa những rác rưởi lềnh bềnh và .. phân người cùng những con giòi trắng muốt trôi từ thùng phân phía sau nhà ra trước. Dơ bẩn như vậy mà chúng tôi vẫn khoái cho đến khi Mẹ tôi lôi tôi về, cho mấy cái tát đỏ cả má, tôi mới ngừng bơi trên con sông đường phố.
Rồi Mẹ tôi vào trong Nam, đi buôn gì thì tôi không rõ. Chỉ biết là khi về, Mẹ tôi mang về mấy món lạ nhưng ngon tuyệt: xoài cát, xoài tượng, măng cụt, mãng cầu và một trái sầu riêng! Tôi nhớ trái sầu riêng đã được Mẹ tôi cất trong tủ, nhưng mùi của nó bay qua cả nhà bên cạnh, qua cái sân trống giữa hai nhà với nhau làm mấy người hàng xóm đi qua, ngửi ngửi:
“Nhà này đi ỉa trong phòng hay sao mà thối quá vậy?”

Chúng tôi ở Hải Phòng hai năm thì di cư. Khi đến Saigon, Mẹ tôi không đi theo mấy ông cha để về Hố Nai, hay Gia Kiệm mà dọn ngay về Bình Đông, rồi Vườn Lài, rồi Khánh Hội, vì Mẹ tôi đã từng vào Nam trước rồi, nên quen đường xá. Sau cùng, Mẹ tôi mua một căn nhà ở Trương Minh Giảng, khu Vườn Xoài. Gọi là khu Vườn Xoài nhưng có lẽ chí có mình nhà tôi mới có một cây xoài to khổng lồ trước sân, mỗi mùa có trái, xoài treo tòng teng trông vô cùng đẹp, tôi lấy dàn thung bắn xoài, bị Mẹ tôi tát cho sưng mặt lên, nên bỏ bắn thung, mà đợi Mẹ đi vắng, thì trèo lên cây ngồi ..đớp! Với tính quán xuyến, Mẹ tôi không để đất trước nhà bỏ không, Mẹ tôi trồng hoa huệ đế bán. Hoa không lên mạnh, Mẹ tôi bỏ, trồng hoa dong, có lá đo đỏ, nụ hoa vừa hồng vừa vàng, mà trong ruột hoa có sương đọng rất ngọt, tôi cứ dí miệng vào hoa, húp lấy những giọt sương đọng mà suýt xoa: “Ngọt đã đời”! 

Nghề trồng hoa không khá, Mẹ lại bỏ, chuyển sang xay bột sắn, rồi làm bánh quế…Chúng tôi phải xúm vào phụ Mẹ làm đủ thứ nhưng chẳng đi đến đâu. Rồi đến lúc gia đình gặp họa. Mẹ tôi làm nghề vay mướn, nghĩa là lấy hết tiền nhà cho vay, không đủ, thì đi bảo lãnh cho người vay. Không dè, bị một gia đình thân thiết kia bịp lừa hết tiền, Mẹ tôi tá hỏa tam tinh, phải bán nhà đi trả nợ đậy, rồi từ Vườn Xoài, chạy lên Tân Sa Châu, gần Lăng Cha Cả, rồi sau lại về Xóm Mới, nghĩa là đi xuống từ từ… Vì bị thiếu hụt, nợ nần chồng chất, mà con cái lại bỏ đi hết, chỉ còn mình tôi, nên Mẹ tôi giáng xuống đầu tôi những cơn giận qua những trận đòn thừa sống thiếu chết. 

Tôi chán nản, bỏ đi bụi đời, làm thằng du đãng, cướp giật qua ngày để sống. Đôi khi đói cả 3 ngày liền, hoa mắt, xỉu giữa đường. Một lần xỉu tại khu chợ Bàn Cờ, gần nhà anh Hai tôi. Một lần xỉu ngay mặt đường Thoại Ngọc Hầu gần ngã ba Ông Tạ. Có người tốt bụng dựng tôi lên xoa dầu cù là cho tôi tỉnh dậy để lại lang thang giữa chợ đời với đôi giầy gần bung gót. Đói và khát như thế, nhưng tôi nhất định không về với Mẹ hay anh chị vì tự ái, nhưng lại lết đến chỗ các ông anh bạn của anh Hai tôi. Biết tôi đói, các anh B., anh T., anh Th… đưa tôi đi ăn, đi xem xi nê, rồi dúi cho tôi vài trăm. Môt ông bạn anh Hai tôi là họa sĩ làm ở USIS, thấy cái mặt dài ngoằng của tôi đến, thì cười: 

“Tiến đấy à! Chờ anh chút nghe! Anh vẽ xong cái này, anh em mình đi uống cà phê!”rồi anh đưa tôi vào Câu Lạc Bộ của Mỹ, kêu cà phê cho tôi xong, thì dúi cho tôi môt nắm tiền vào túi quần. Các bạn của anh tôi rất tốt, đã giúp tôi sống qua ngày. Trên hết, hai ông anh họ của tôi, anh T. và anh Kh. đã giúp tôi vượt qua cơn khó khăn bằng những đồng tiền hiếm hoi của họ. Hai ông anh này, là thầy giáo, lương ba cọc ba đồng, nhưng có đồng nào lại dúi cho tôi, hoặc đưa tôi đi ăn bánh mì, khi nào cạn tiền, thì cho tôi ăn cháo trắng với muối ở chợ! Anh T. có cái đồng hồ vàng, dúi vào tay tôi:
“Mày đem cái này đi mà cầm tại tiệm cầm đồ. Lấy tiền ăn bánh mì!” 

Anh có một cái áo vét duy nhất, cũng nhường cho tôi và bảo tôi đi cầm luôn. Tôi cầm áo của anh mà nước mắt tuôn trào… Điều cảm động nhất là các anh khuyên nhủ tôi:
“Mày phải biết trả thù đời, nghe chưa! Mà trả thù hay hơn hết là học. Mày phải có bằng đại học thì mới sống được ở đời! Lúc đó mày tha hồ trả thù những đứa độc ác, những ai hãm hại mày..”
Tôi nghe lời các anh, và cố học. Không có tiền mua sách, tôi đến nhà bạn mượn sách và chờ đến tối, tôi ra ngoài đường, ngồi dưới đèn đường mà học như điên, kệ mẹ kiến cắn sưng mông, kệ mẹ dế cạp, giun bò vào ống quần. Tôi cứ đọc bài trong những giọt nước mắt rơi xuống ướt nhòe nhoẹt cả trang giấy. Rồi nộp đơn xin thi Thí Sinh Tự Do, không có trường cấp nào cả. Rồi đậu đạt từ từ, và đi dậy Trung Học đệ nhất cấp (lúc chưa xong bằng Đại Học), từ Saigon ra Sa Đéc… vừa làm vừa học, đời tàn tàn đi lên…
Trong khi ấy, Mẹ tôi vì nhớ tôi quá, hỏi thăm khắp nơi, và khi biết tôi dậy ở Sa Đéc, bà mò ra tới nơi, khóc lóc kêu tôi về.

Chịu không nổi với sự khóc kể của Mẹ, tôi theo bà về, nhưng chỉ được vài ngày, là Mẹ con lại hục hặc với nhau, môt buổi sớm mai, khi Mẹ còn đang ngủ, tôi lẳng lặng xách gói ra đi, vừa đi vừa ngoái lại nhìn vào căn nhà Mẹ mà khóc nức nở!
Cuộc đời vô định của tôi cũng từ từ ổn định, làm nhiều việc, từ lương thấp đến lương cao, cho đến khi cứ nghe tin Việt Cộng giật mìn thường dân, Việt Cộng pháo kích thường dân.. tôi nổi điên lên, tình nguyện nhập ngũ, nhưng không nói cho Mẹ biết. Mãi cho đến khi tôi ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức một thời gian rồi, tôi mới báo cho Mẹ hay. Mẹ tôi lên, lại khóc lặng lẽ. Tôi ôm vai Mẹ, cũng nghẹn ngào:
“Me đừng lo! Chả có gì đâu! Con đi lính vài năm rồi về thôi.”

Lời hứa này chả có giá trị gì, vì tôi đi biệt luôn. Lại tình nguyện thi tuyển sang Mỹ thụ huấn quân trường Hoa Kỳ, tốt nghiệp Thiếu Úy Lục Quân Mỹ, rồi về làm Sĩ Quan cán bộ. Được hơn 2 năm, với tính ba gai, du đãng, tôi đi tù vì tội chửi ông Thiếu Tá Sĩ Quan Tiểu Đoàn Trưởng cứ cúc cung nịnh Mỹ:
“Ông ăn c. Mỹ rồi khen nó thơm hả?”

Ông Tiểu Đoàn Trưởng nổi điên, cho hai ông Quân Cảnh lái xe díp đến bắt, tôi cũng điên tiết, rút súng ra, lên đạn, chĩa vào ông Quân Cảnh, hét lớn:
“Đ.M. đứa nào tiến gần lại, tao nổ súng, thì vợ con mày khóc hết nước mắt!”
Hai ông kia thấy súng lên đạn thiệt liền de xe cái vù, bỏ đi luôn. Tôi vác balô, súng colt lên gặp Trung Tá Liên đoàn Trưởng, trả súng, và xin ra mặt trận trong vòng 24 giờ. Ông Liên Đoàn Trưởng tốt bụng, khuyên nhủ tôi rất dịu dàng, tôi đành tuân lệnh, chui vô tù nằm chung với lính, lãnh bản án 8 ngày tù trọng cấm. Trở lại làm Sĩ Quan Cán bộ, nhưng tôi chán, nên tình nguyện xin đi học Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Làm bài thế nào lại đỗ Thủ Khoa khóa 12 Sĩ Quan Căn Bản CTCT! Trường cho nghỉ lè phè 8 ngày chờ làm lễ, nhưng vì nhớ vợ quá, nên một buổi sáng sớm tinh mơ, tôi vén rào, chui lỗ chó của Trường, (lúc đó đã mang lon Trung Úy!). chạy lẹ ra bến xe đò, dọt về Saigon thăm vợ, bất chấp Việt Cộng vẫn ra chặn đường ở đèo Blao vào buổi sáng Bẩy ngày sau, khi lên trình diện thì thấy bảng danh sách tốt nghiệp thay đổi. Tên tôi đang đứng đầu, bị giáng xuống hạng 3. Nhà văn Thiếu úy Dương Hùng Cường tức Dê Húc Càn học chung lớp với tôi, nhìn tôi lắc đầu:
“Chịu cậu thiệt! Lìều quá mạng!”

Về lại trường Thủ Đức, vì điểm tốt nghiệp khá cao, nên tôi được bổ làm Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị kiêm Trưởng ban An Ninh, kiêm Quản Lý Hội Quán Sinh Viên. Làm được 3 năm thì chán luôn đời lính quân trường, không có cơ hội lao vào mặt trận, nên lại xin thi về trường Quốc Gia Hành Chánh vừa lúc có giấy thăng thưởng lên Đại Úy. Sau khi biết chắc là đã đậu vào trường, tôi từ chối không nhận lon mới để được biệt phái. Khi tôi thực tập tại Tỉnh Gia Định xong, thì cũng là lúc Saigon đứt phim vào năm 1975.
Đi tù gần 6 năm. Mẹ tôi lên thăm có 1 lần trong trại tù. Bà không nói gì, chỉ đưa cho tôi mấy gói khoai khô, và lại khóc. 

Lúc đó, bà đã dọn về Bảo Lộc, trồng trà. Một hôm, có hai tên công an đến nhà, hoạnh họe:
“Nhà bà này có lính ngụy phải không?”
Mẹ tôi tỉnh bơ:
“Nhà tôi chả có lính ngụy nào cả!”
Hai tên công an trừng mắt:
“Tôi nghe nói bà có mấy đứa con làm lính ngụy mà!”
Mẹ tôi chỉ nhún vai:
“Tôi nói là không có lính là không có lính! Tôi chỉ đẻ ra 3 thằng con trai, đều làm Sĩ Quan Cộng Hòa cả! Nhà tôi không có mả lính ngụy!’
Mấy tên kia thấy gặp phải bà già trầu, khó nuốt, liền bỏ đi.

Một lần, bà lên phường xin giấy phép về Saigon thăm tôi lúc bấy giờ đã được trả tự do, ngồi chờ mãi mà mấy tên công an cứ đú đởn với nhau, không thèm tiếp ai hết. Bà tưng tửng nói lớn:
“Tôi chán ông Trời quá, không cho tôi trẻ lại vài chục tuổi, để tôi đẹp như mấy cô kia, thì được tiếp liền. Tôi bây giờ già rồi, nên ngồi chờ mãi mà chả có ma nào thèm để ý!”
Tên công an làm giấy tờ, nghe bà cụ nói to quá giữa đám đông, bèn sửa quần áo lại, và mời Mẹ tôi vào ngay. 

Về Saigon gặp tôi, nghe nói tôi sắp vượt biên, Mẹ tôi bảo:
“Con đưa quần áo, đồ ăn khô cho me giữ, me mang đi, không đứa nào hỏi. Con đi tay không thôi.”
Tôi nghe lời, đưa Me tôi giữ hết đồ đạc, còn vợ chồng tôi và hai đứa con đi tay không, ra Vũng Tầu. Vượt biên không thành, phải lội nước, ướt như chuột lột, vợ chồng và con cái đang lúng túng không biết làm sao mà mua vé về Saigon được, với hàng người dài ngoằng. Mẹ tôi bảo: “Để Me!”
Rồi bà tàn tàn xông lên trước hàng người rồng rắn. Một tên bộ đội thấy bà ngang ngược, liền giơ tay chặn lại:
“Này! Bà kìa! Bà quay trở lại, xếp hàng!”
Mẹ tôi trợn mắt, mắng ngay:
“Mày câm cái mồm mày đi! Biết mẹ mày là ai không?”
Tên bộ đội thấy bà mắng to quá, thì sợ, tưởng bà là một bà mẹ Bắc Kỳ 75, vội đứng im. Bà tiến thẳng tới quầy vé. Một tên cán bộ đang đứng xoát vé, thấy bà đi tới, cũng giơ tay cản và quát lớn:
“Bà này! Ra sau!”
Mẹ tôi trừng mắt nhìn thẳng vào nó, cũng quát lớn:
“Mày biết cái thân cái phận của mày đi! Câm mồm! Bà lại vả cho một cái vào mặt bây giờ!”
Tên kia nghe nói bị “vả vào mồm”, hãi quá, vội đứng nép sang một bên. Bà tỉnh bơ, chìa tiền ra cho người bán vé: “Cô bán cho tôi 5 cái vé!”

Cô bán vé cũng nghĩ là gặp tay dữ từ Bắc vào nên lập cập xé ngay 5 cái vé đưa cho bà! Thế là chúng tôi về Saigon thoải mái, nếu không có bà, chắc chúng tôi đã kẹt lại Vũng Tầu không biết đến bao giờ.
Về nhà chị tôi ở mặt tiền, ngay gần chợ Tân Bình, gặp lúc có người em họ xa bên họ hàng của Mẹ tôi, làm Đại Tá Việt Cộng và một chú em con bà Dì, làm Bác Sĩ từ Hải phòng vào chơi. Suốt bữa ăn, Mẹ tôi ngồi nghe thằng cháu Việt Cộng kể chuyện Hải phòng ưu việt như thế nào, Mẹ tôi chỉ nghe, nhưng bất ngờ, bà đứng dậy chỉ tay ra đường, về phía đối diện có những căn nhà hai tầng bề thế, mà hỏi:
“Mày có thấy Bác Hồ của mày xây được mấy căn nhà như thế kia cho dân không? Bao nhiêu năm “phỏng giái” ở ngoài Bắc, bác Hồ của mày chỉ dựng được mấy cái lều rách! Chỉ nói láo như Vẹm!”
Thằng em họ Đại Tá Việt Cộng của tôi đỏ mặt, đứng dậy và đi luôn một mạch, không bao giờ trở lại. Sau này, tôi cũng không nghe ai nhắc gì về tên này nữa. 

Mẹ tôi vốn thù Việt Minh từ khi chúng nó cướp tài sản của Bà, còn mang bà ra đấu tố chỉ vì bà giầu có. Sau 75, bất đắc dĩ, bà phải nhìn mặt chúng nó, cho nên suốt cuộc đời sau này của Bà, Mẹ tôi không bao giờ về thăm quê nhà ở Bắc. Họ hàng ở Bắc có vào thăm bà thì thăm chứ bà không hề có ý định trở lại thăm họ cho đến khi bà mất.
Ngày hôm đó, tôi đang đi làm, đột nhiên tôi thấy khó chịu quá, lòng bồn chồn như lửa đốt. Chịu không nổi, như có thần giao cách cảm, tôi nhấc điện thoại lên, gọi về Việt Nam, và hỏi ngay bà chị tôi:
“Me mất rồi phải không?”
Chị tôi nghẹn ngào:
“Me mất rồi. Hôm nay, cách đây mấy tiếng!”

Đó cũng là lúc mà tôi thấy tim tôi đập loạn, đầu óc lùng bùng. Tình mẹ con trong tôi đã mách cho tôi biết lúc bà ra đi. Đêm hôm đó, ở Westminster, đang ngủ, đột nhiên tôi thấy lạnh toát toàn thân. Tôi vùng dậy, nói lớn:
“Me về!”
Nhìn chung quanh, bóng tối vẫn đen thẫm, nhưng tôi có cảm giác là Mẹ tôi đang nhìn tôi, đứa con út ba gai khó dậy, nhưng thương Mẹ nhất nhà.. Me ơi!

Chu Tất Tiến.