Friday, September 30, 2011

TẠP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM SỐ 193


SƠN TRUNG
chủ biên



Con cá sấu lớn nhất tại Phi Luật Tân


số 193
ngày 1 tháng 10 năm 2011




PHẠM TÍN AN NINH * MINH KỲ


Cái chết oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ
“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui ...

Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu ...”





Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.

Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, - dù còn ở trên quê nhà, hay tha phương khắp chốn - biết đến.


Image

Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.
Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.


Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ.


Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.

Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.

Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.

Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau được chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.


Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới được chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).


Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.


Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.

Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.


Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…
Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường.


Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.


Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang được lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:


Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:
- Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.


Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :
- Sao chân lạnh quá!
- Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.


Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).

Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường.

Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay được biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “kách mạng!”.


Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện được bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ được đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.


Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.

Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.


Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.

Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.

Bắc Âu, một ngày không có mặt trời

phạmtínanninh

KÝ TƯỞNG NĂNG TIẾN * CHUYỆN CÁI NHÀ VÀ CÁI ẤM


Chuyện Cái Nhà & Cái Ấm
Nguyễn Quang Thiều rề rề kể chuyện:
Ngày đầu tiên đến Mỹ, chúng tôi ở tạm trong ngôi nhà của một gia đình Mỹ đang đi nghỉ cuối tuần. Một người bạn của tôi lần đâu đến Mỹ đã không thể hiểu vì sao một ngôi nhà đẹp như thế, nhiều đồ đạc như thế mà không khóa cửa. Tôi đã giải thích nhưng người bạn ấy vẫn băn khoăn mãi đến gần hết chuyến đi. Trong cái đêm đầu tiên ấy, khi người bạn đi ngủ bèn mang theo cả chiếc túi sách đựng hộ chiếu và một ít tiền lên giường vì sợ đang đêm kẻ trộm mò vào nhà ăn cắp. Tôi hiểu tâm trạng ấy. Nỗi ám ảnh về những chuyện mất mát ở khách sạn hay trong chính nhà mình đã theo đuổi bạn tôi không rời.”
Trong những ngày cuối cùng ở Mỹ, một người bạn nhờ con trai tôi mua giúp một
cái ipad2 qua mạng. Một chiều đi chơi về, tôi thấy chiếc ipad2 được đóng gói cẩn thận để trên bậc cầu thang trước cửa nhà sát ngay vỉa hè khu phố. Cho dù đã bắt đầu hiểu một phần nào đó nước Mỹ nhưng bạn tôi vẫn rất bị “sốc”. Chiếc Ipad2 được đóng gói để một nơi rất dễ nhìn thấy và chỉ cách lối đi bộ một hai bước chân mà thôi. Đấy là một khu phố vắng vẻ gần như nhà nào biết nhà ấy. Nếu ai đó muốn lấy cái ipad2 kia thì chẳng khó khăn gì, chỉ cần bước ba bước và nhặt lên. Tất cả quá dễ dàng và an toàn. Nhưng không ai lấy chiếc ipad2 đó. Không ai lấy bất kỳ những gì mà những người vận chuyển hàng hóa để trước cửa nhà của khách hàng.”

“Người già đi qua không lấy. Người trẻ đi qua không lấy. Những người làm công việc vệ sinh môi trường đi qua cũng không lấy. Và có lẽ những người vô gia cư đi qua cũng không lấy.” “Lối sống ấy không phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh sống nghèo khó hay thiếu thốn… Đó là lối sống của văn hóa, luật pháp và lòng tự trọng. Đương nhiên không phải tất cả những người Mỹ sống như vậy.

Nhưng cách sống ấy là cách sống của đại đa số người Mỹ...” “Lần đầu tiên đến Mỹ cách đây 19 năm, tôi thực sự ngạc nhiên vì những ngôi nhà ở Mỹ không đóng khóa cửa. Trong mỗi ngôi nhà của họ có biết bao thứ đắt tiền. Nhưng không mấy ai lọt vào nhà người khác để lấy cắp. Có nhiều lý do. Nhưng lý do cơ bản nhất là ý thức làm người của họ cùng với sự trợ giúp cho ý thức sống ấy là luật pháp và cách quản lý xã hội....”
Nguyễn Quang Thiều
– tranh Nguyễn Hữu Khoa

Hết chuyện Mỹ, bác Thiều bắt qua chuyện Nhật:
Trong chuyến đi này, khi quá cảnh ở sân bay Narita, Tokyo, tôi đã phải mở cái thùng giấy của mình cho an ninh cửa khẩu Nhật khi họ soi thấy có một số bật lửa ga trong đó. Sau khi kiểm tra xong, họ đã tự tay dán băng dinh chiếc thùng giấy của tôi một cách cẩn thận như chính họ đang dán chiếc thùng của họ vậy.”
Chuyện lạ đường xa của bác Nguyễn Quang Thiều quả là thú vị nên đã xuất hiện trên mọi trang net, bất kể là lề trái hay lề phải. Độc giả phản hồi, bình luận rôm rả quá xá.

J.B Nguyễn Hữu Vinh
Sự kiện này, dường như, có làm cho bác Nguyễn Hữu Vinh hơi… sốt ruột! Bởi vậy, dù mấy lúc ần đây chả đi được đến đâu (ngày nào cũng chỉ loanh quanh trên mấy con đường quen thuộc của phố phường Hà Nội) bác Nguyễn Hữu Vinh vẫn cứ nhất định kể chuyện làm quà:
Mấy tuần liền ở Hà Nội không có biểu tình, nói theo ngôn ngữ Hà Nội mới, thì nắng vàng rực rỡ bên bờ hồ Hoàn Kiếm và Hà Nội, Thành phố vì hòa bình luôn bình an. Sáng nay, 18/9 cũng như mọi sáng Chủ nhật trước, tôi lại đến bờ hồ ngắm nghía cảnh quan xem có gì khác nhau ở những ngày Chủ nhật?
Chủ nhật này không giống cái chủ nhật 21/8, hôm đó quanh khu vực bờ hồ đã có đến 4 sân khấu lớn nhỏ hoạt động từ sớm. Hôm nay thì không, có lẽ các cháu gái mệt vì hôm đó ướt mưa lại do ăn mặc phong phanh sexy nên cảm lạnh chăng? Hay bố mẹ các cháu thấy hình ảnh con gái mình ăn mặc hở hang trước tượng đài tiền nhân là hỗn láo nên đã về nhà dạy bảo lại? Chưa rõ nhưng hôm nay không thấy.
Các góc phố, các ghế đá bờ hồ vẫn đầy công an, cảnh sát, an ninh, dân phòng và xuất hiện thêm nhiều thành phần khác nhau nữa. Ngoài những chiếc áo màu xanh dan trời của thanh niên Cộng sản lại xuất hiện nhiều nơi những chiếc áo màu xanh nõn chuối không biết là của tổ chức nào, có phải là cộng sản không?
Dạo quanh bờ hồ và khu vực Đại sứ quán Trung Quốc, lại vẫn công an với công an, xe công an các loại, rào sắt và bình xịt… màn màn lớp lớp, nhóm thì kê ghế ngồi vỉa hè (Không biết có xin phép vì tụ tập đông người chư? Vì lượng chiếm vỉa hè, gây cản trở giao thông này nhiều hơn 5 người theo quy định của nhà nước). Một đám thanh niên cộng sản (thông quá cái áo đang mặc) đang quét vỉa hè công viên trước tượng đài Lenin. Người đi đường ngạc nhiên ngoái lại vì đây là hiện tượng hiếm có.”
Không chỉ ngồi ngoài hè đường vì chắc không đủ chỗ, công an còn vào hẳn trong công viên ngồi tán chuyện cho đỡ buồn, khổ cho các cụ tập thể dục buổi sáng thôi. Công an ngồi ngắm thế này thì hồn vía đâu mà tập với tành...
Trước tượng đài vua Lý Thái Tổ, hai ba chiếc xe công an đang đứng đợi ai đó, một chiếc xe vòi rồng đứng ẩn mình bên đường Lê Thạch.
Nhóm mấy người tụ lại bên bờ hồ thì lập tức vây quanh là các gương mặt lạ – lạ ở đây không phải là từ lạ như tàu lạ nhà nước hay dùng, mà lạ ở đây là lạ với những người yêu nước, tuy hai cái lạ đó cũng gần giống nhau về nội dung.
Mấy người quen mặt trong các cuộc biểu tình yêu nước vừa qua đứng một lúc thì giải tán, hai xe công an cũng hết việc để làm, các tụ điểm công an cũng hết việc, dân phòng ngồi ngáp vặt cho hết buổi.”
Trong quán cafe bên cạnh Nhà hát múa rối, thấy mấy phụ nữ đang ngồi có Phương Bích và Bích Hằng, lập tức các bàn bên cạnh được tấp đầy bằng những chiếc áo công an xanh lè. Không biết những bàn đó có thu được tiền hay không? Nếu thu được, hôm nay chắc phải cảm ơn những người yêu nước vì bán hàng đột ngột đông khách.
Vòng qua bên kia bờ hồ, văn phòng báo Hà Nội mới vẫn còn treo cờ Việt Nam.
Khoảng hơn 10 h, nhận được điện thoại mời lên 102 Trấn Vũ là một quán cafe ven hồ, yên tĩnh và thoáng, một người đi biểu tình yêu nước mời anh em đến để nói lời cảm ơn vì vừa qua anh đến thăm những người biểu tình yêu nước bị bắt về đồn, thì anh lại bị bắt và giam 5 ngày vì tội gây rối trật tự công cộng do ai đó tưởng tượng ra.
Điều đáng nói là quá trình đó, bố anh mất và mọi người đến thăm viếng làm anh cảm động và hôm nay anh mời mọi người đến để nói lời cảm ơn. Ở đây, trước đến nay khi đông khách thì vẫn lấy vỉa hè làm nơi ngồi uống. Nhưng ngồi trên vỉa hè chưa được ấm chỗ thì bỗng đâu xe công an từ hai phía ập đến, dẹp trật tự. Thế rồi nhìn quanh nhung nhúc những người cầm máy quay, máy ảnh chĩa vào anh chị em đang uống cafe. Có điều là họ không dám công khai mà rình và núp như cảnh sát giao thông rình bắt người lưu thông vậy. Mọi người đều hiểu họ là ai và vì sao họ làm thế, tiếc rằng sao họ không làm đàng hoàng mà phải lén lút như thế, một người bật lên một câu chửi thề “Đ.m. sao nó hèn thế không biết”.
“Thế là anh em chia tay ra về...
Bước chân vào ngõ, chợt một hình ảnh làm tôi giật mình, đó là một cái ấm đung nước bắng bếp than tổ ong của nhà ai đó đã đặt ngay cạnh cửa ra vào, vẫn phải mang theo sợi dây xích khổng lồ, nếu không, cả ấm và nước cùng bốc hơi...”
Hà Nội, 18/9/2011
Thật là chán mớ đời cho cái bác Nguyễn Hữu Vinh nhà tôi. Chuyện bác kể nghe sao lảng xẹt! Vậy mà cũng bầy đặt “giật mình” làm chi (cho má nó khi) cha nội?
Ở Việt Nam người còn bốc hơi ào ào chứ nói chi đến cái ấm nước sôi. Chỉ trong vòng hai tháng, tháng 8 và tháng 9 năm 2011, đã có cả chục công dân Việt Nam cũng đã “bốc hơi” mất tiêu đấy thôi.
Ngoài những người được công luận nhắc đến như ông Nông Hùng Anh, ông Nguyễn Văn Mỹ, ông Nguyễn Minh Nhật và bà Tạ Phong Tần, qua bức ”thư ngỏ” (gửi đi vào ngày 2 tháng 9 vừa qua) của thân nhân của các thanh niên, sinh viên Công Giáo, người ta còn được biết thêm rằng hiện nay trong số “15 người bị bắt giữ thì chỉ có 3 người được thả. Còn lại 12 người, đích xác chỉ biết 6 người đang bị giam ở nhà tù Thanh Liệt, Hà Nội. Sáu người kia không biết chắc chắn ở đâu và sức khỏe ra sao.”
Biển đảo, núi rừng, tài sản, ngân qũi quốc gia, nhà cửa, đất đai canh tác của hàng triệu lương dân mà còn lần lượt bốc hơi hết ráo thì cái ấm nước (“dù đã đặt ngay cạnh cửa ra vào”) vẫn cứ phải quấn một sợi xích thật to vào rồi khóa lại – cho nó chắc ăn – là chuyện cũng … đúng thôi. Cẩn tắc vô áy náy chớ bộ.
Tưởng cũng nên nói thêm là sau khi kể chuyện đường xa, bác Nguyễn Quang Thiều (bỗng) thở dài đánh thượt:
“Khóa cửa nếu xét về mặt cơ học thì chỉ là hành động diễn ra trong mấy phút. Nhưng để đi đến việc không cần khóa cửa thì có lẽ người Việt Nam có ý thức về việc đó cũng phải mất 100 năm nữa mới có thể làm được…”
Cứ với cái cơ chế hiện hành thì không phải mất cả trăm năm mà chỉ cần mươi năm nữa thôi người Việt Nam sẽ phải khoá luôn mấy cái ly uống nước, dù đã cất kỹ trong nhà, chứ chả phải chỉ cái ấm không mà xong đâu. Cũng với cái chế độ ưu việt hiện tại thì giấc mơ về thế giới đại đồng – nơi mà nhà không cần khoá, mấy cái ipad2 vứt ở ngoài cửa không ai thèm nhặt – chắc phải chờ đến một kiếp (xa xôi) nào khác quá.
Tưởng Năng Tiến
9/2011

HÌNH ẢNH HUẾ


Thành phố Huế ở miền Trung


Việt Nam, cách thành phố Hà Nội 654km, xưa là kinh đô của triều Nguyễn, nay là tỉnh lỵ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thành phố Huế được bao bọc bởi huyện Hương Trà, huyện Hương Thuỷ và huyện Phú Vang, có toạ độ địa lí 107034'Đ - 16028'B.Các đơn vị hành chánh của thành phố bao gồm 24 phường là Phú Hậu, Phú Bình, Phú Hiệp, Phú Cát, Thuận Lộc, Thuận Thành, Tây Lộc, Thuận Hoà, Kim Long, Phú Hoà, Vĩ Dạ, Phú Hội, Xuân Phú, Phú Nhuận, Vĩnh Ninh, Phước Vĩnh, An Cựu, Trường An, Phú Thuận, Phường ̣Đúc, An Tây, An Đông, An Hoà, Hương Sơ và 3 xã Hương Long, Thuỷ Biều, Thuỷ Xuân.Địa hình thành phố Huế là đồng bằng vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ, có độ cao trung bình khoảng 3 - 4 m so với mực nước biển nên thường hay bị ngập lụt.

Vùng đồng bằng này tương đối bằng phẳng

trong đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp như núi Ngự Bình cao 105m, đồi Vọng Cảnh.Giao thông trong thành phố thuận lợi do có đường Quốc lộ I và đường sắt Bắc - Nam chạy qua thành phố. Các đường phố được kết cấu theo kiểu bàn cờ. Đường thuỷ có cảng Thuận An có thể cho phép tàu có tải trọng lớn ra vào. Đường hàng không có sân bay Phú Bài phục vụ nhu cầu chuyên chở hành khách nội địa.Lịch sử Thuận Hoá




Nhiều người cho rằng, tên gọi Huế là tên đọc chệch từ chữ Hoá. Vùng đất ngày trong những thế kỷ đầu công nguyên thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam thời thuộc Hán. Từ năm 192 sau CN, thuộc địa bàn nước Lâm Ấp và sau đó là vương quốc Champa kéo dài gần 12 thế kỷ. Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô - Rí. Năm sau vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị.


Vào đời Lê, vua Lê Thánh Tông đặt làm thừa tuyên Thuận Hoá, là vùng đất nằm giữa đèo Ngang và đèo Hải Vân.Phú Xuân
Năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong.




Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712-1738) phủ chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở bên tả phủ cũ, tức góc Đông Nam kinh thành Huế hiện nay.Sự nguy nga bề thế của Đô thành Phú Xuân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Đôn mô tả trong sách Phủ biên tạp lục năm 1776. Đó là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Tiếp đó, Phú Xuân là kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều Tây Sơn (1788-1801) và là kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn (1802 - 1945).Thị xã Huế - thành phố Huế
Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái chính thức ban hành dụ thành lập thị xã Huế. Ngày 12/12/1929, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định nâng cấp thị xã lên thành phố, địa giới hành chính chỉ gồm 9 phường nằm ngoài Kinh thành, từ phường đệ nhất đến phường đệ cửu, đến năm 1934 được sắp xếp thành 11 phường.





Sau Cách mạng tháng Tám, thị xã Huế bao gồm cả khu vực nội ngoại thành, là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên.Năm 1956 Ngô Đình Diệm ban hành dụ 37A cải tổ hành chính, Huế là thành phố ngang cấp với tỉnh Thừa Thiên nhưng tỉnh lỵ Thừa Thiên vẫn đặt tại Huế. Sau năm 1975, Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) gồm 18 phường, 22 xã. Năm 1989 Thừa Thiên tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên - Huế gồm 18 phường, 5 xã và hiện nay là 24 phường, 3 xã.Phong cách Huế Thiên nhiên




Huế là một vùng đất có cảnh quan thiên nhiên đẹp, không kì vĩ, không phô trương nhưng nhẹ nhàng, đằm thắm. Ở thành phố Huế nổi tiếng nhất là sông Hương. Có thể nói đây là dòng sông mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn Huế, hình thành nên tín


h cách Huế. Chính dòng sông cùng với quần thể thiên nhiên, kiến trúc hai bên bờ sông đã xác lập nên sắc thái văn hoá đậm chất tâm linh của Huế.Kiến trúc



Sông Hương - ảnh : Đào Hoa NữHuế từng một thời là kinh đô của nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Không những vậy, Huế còn là một trung tâm Phật giáo lâu đời. Những thành quách, lâu đài, lăng tẩm cổ kính, cùng với những ngôi chùa uy nghiêm nằm ẩn mình trong thiên nhiên của hai bên bờ sông Hương là những nét chính của kiến trúc Huế.


Trong cuộc sống hằng ngày, người Huế luôn hướng về thiên nhiên, gần gũi và hoà hợp với thiên nhiên, điều này được thấy rõ trong kiến trúc nhà vườn Huế. Dường như, khi xây dựng đô thị của mình, người Huế không có ý muốn chế ngự thiên nhiên mà chỉ hoà vào thiên nhiên một cách có văn hoá, để có thể tham dự hài hoà vào cuộc sống của con người.Ngày 11/12/1993, UNESCO đã chính thức công nhận quần thể di tích cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một di sản văn hoá Việt Nam được cộng đồng thế giới thừa nhận là di sản chung của nhân loại.Con người




Chiều Đầm Chuồn - Ảnh : Đào Hoa NữHuế nghèo, cuộc sống của người dân còn rất khó khăn, chủ yếu dựa vào nghề nông và các nghề thủ công truyền thống. Nhưng bù lại, người Huế rất cần mẫn và sáng tạo. Từ những cụ già, thanh niên nam nữ và cả các em bé thiếu nhi, đều miệt mài lao động. Sự sáng tạo của người Huế được thể hiện qua các sản phẩm thủ công truyền thống, các nghề chạm khắc kiến trúc nổi tiếng khắp trong ngoài, các món ăn đặc sản được nhiều người biết đến.Văn hoá Huế Lễ hội
Khó có thể kể hết những lễ hội diễn ra hằng năm ở Huế. Từ lễ hội rước Bà, điện Hòn Chén, đến lễ hội của cư dân vùng đầm phá, như lễ hội làng Chuồn. Từ những lễ thánh trong cộng đồng Thiên Chúa, đến hội hoa đăng rực rỡ trên sông Hương trong đêm Phật Đản. Sinh hoạt lễ hội của Huế có từ ngàn xưa, bắt nguồn từ những truyền thống, tập tục lâu đời, gắn bó cộng đồng trong một tâm thế thống nhất.Nhạc cung đình Huế - loại hình âm nhạc truyền thống đặc sắc ở Việt Nam



Theo sử sách để lại thì nhạc cung đình xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào đời nhà Trần (thế kỷ 14), nhưng mãi đến đời Nguyễn (cuối thế kỷ 18) nhạc cung đình mới chính thức được phổ biến và phát triển mạnh tại Cung đình Huế. Tuy được sử dụng trong cung đình, nhưng việc sáng tác và biểu diễn hầu hết đều do những nhạc sĩ, nghệ sĩ dân gian nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ triều đình. Vì vậy, nhạc cung đình tuy mang tính bác học nhưng cũng mang đầy âm hưởng các làn điệu dân gian của các miền Việt Nam. Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

o tím…

Đã gần 50 năm trôi qua, sắc tím trong tôi nhạt nhòa. Vậy mà sắc màu năm xưa lại ùa về và òa vỡ khi tôi nghe những giai điệu da diết, nhớ nhung của chương trình Thay lời muốn nói (Đài truyền hình TP.HCM) với chủ đề “Sắc tím”…





Nhạc cung đình Huế sử dụng những nhạc cụ dân tộc như đàn tam, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tỳ bà, sáo trúc, bộ gõ. Các nhạc cụ này thể hiện đầy đủ các âm vực từ tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng trầm, tiếng bổng. Nhạc cung đình Huế có hai loại là Đại nhạc và Tiểu nhạc. Dàn Đại nhạc gồm có khèn, trống, bộ gõ và có thể có thêm đàn nhị. Đại nhạc thường được dùng trong dịp Tết và những ngày lễ lớn. Dàn Tiểu nhạc gồm những nhạc cụ dùng dây tơ, sáo trúc và bộ gõ. Các dàn nhạc biểu diễn thường có kèm theo đội múa. Dàn nhạc và đội múa là cả một sự phối hợp hài hòa giữa âm nhạc, vũ điệu và màu sắc trang phục.Nhạc cung đình có nhiều thể loại khác nhau được biểu diễn trong những dịp lễ hội khác nhau.


Giao nhạc được dùng trong tế Lễ Nam Giao khi nhà Vua làm lễ tế trời đất được thực hiện ba năm một lần; Miếu nhạc được dùng trong các lễ tế miếu; Ngũ tự nhạc sử dụng trong năm lễ tế thần; Đại triều nhạc được tấu trong các lễ lớn như Lễ Vạn thọ, tiếp Sứ thần; Thường triều nhạc được tấu khi Vua lâm triều thường lệ; Đại Yến nhạc được tấu trong các buổi yến tiệc; Cung trung chi nhạc được dùng trong cung phủ; Cứu nhật nguyệt giao trung nhạc được dùng trong các dịp nguyệt thực và nhật thực; và còn bao gồm tất cả các bộ môn âm nhạc khác như nhạc thính phòng, sân khấu và múa.Ca Huế


Huế vốn là vùng dân ca nổi tiếng với những điệu hò mái nhì, mái đẩy, khoan thai, dàn trải, ngọt ngào như tâm hồn người xứ Huế, những điệu lý bay bổng, mượt mà như lý con sáo, lý hoài xuân, lý tình tang... Bên cạnh dòng âm nhạc dân gian,


Huế còn một dòng ca nhạc cung đình đầy tính trang trọng như giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc. Ca Huế nằm giữa hai dòng nhạc đó nên có những đặc trưng riêng với chất trữ tình sâu lắng làm xao động lòng người, chất chứa đủ bao niềm hỷ, nộ, ái, ố như cuộc đời người dân xứ cố đô. Người ta đến với ca Huế là để được đắm chìm trong cảm giác xao xuyến, buồn, vui đến lạ kỳ. Ca Huế - Ảnh : Đào Hoa NữCa Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán.


Cũng có những bản nhạc vừa mang âm hưởng của điệu Bắc, vừa pha phách điệu Nam như bài Tứ đại cảnh rất nổi tiếng mà nhiều ý kiến cho là tác phẩm của vua Tự Ðức (1848-1883). Bài bản ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.Ca Huế có thể được tổ chức trong một thính phòng nho nhỏ nhưng thi vị và hấp dẫn hơn cả là được nghe ca Huế trong một đêm trăng lên trên dòng Hương Giang thơ mộng.


Lúc đó tâm hồn của người nghe và cả ca sĩ cùng dàn nhạc dường như được siêu thoát trong một bầu không khí như được thăng hoa cùng trời, mây, sông, nước. Một đêm ca Huế thường bắt đầu với tiết tấu âm nhạc rộn ràng, vui tươi của điệu Bắc. Tiếp theo là những bài bản trang trọng, uy nghiêm như Long ngâm, Tứ đại cảnh... Ðêm càng về khuya, không gian càng yên tĩnh là lúc những điệu Nam Ai, Nam Bình, Tương tư khúc... cất lên với nỗi buồn thương nhưng cũng rất gợi tình. Ngày nay, do thị hiếu của người nghe các ca sĩ thường lồng vào chương trình những bài tân nhạc nhưng cũng rất dễ thương về Huế với các nhạc phẩm đầy chất Huế thật sự đi vào lòng người như Mưa trên phố Huế, Huế thương, Đêm tàn bến Ngự, Ai ra xứ Huế, Ðây thôn Vĩ Dạ....Nghệ thuật Tuồng

Nghệ thuật tuồng Huế phát triển sớm từ thế kỷ 17 dưới thời các chúa Nguyễn. Đến triều Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch và triều đình Huế đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Trong Đại Nội Huế có nhà hát Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Đường. Tại Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Đường. Thời Minh Mạng đã thành lập Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng. Thời Tự Đức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng.Videos Co Do Hue do VBS Television Canada thuc hien.

VBS TELEVISION CANADA VBS Television Canada đã post một chương trình nói về li6ch sử và mọi sinh hoạt của Huế. Cố đô Huế rất phong phú.Huế trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn bình lặng ít đổi thay như các thành phố khác.







Tuy nhiên có một điểm nhỏ làm giảm cái hay của thiên phóng sự, là người dẫn chương trình không phải người Huế nên khán thính giả mất một dịp được nghe lối nói truyền cảm, nhỏ nhẹ và rất dễ thương của giọng Huế chính thống... ...Xem rồi thấy nhớ Huế quá! Đường Chi Lăng, trường Gia Hội, Đường Huỳnh Thúc Kháng, cầu Đông Ba, sông Đông Ba .... Tôi chỉ mới coi Cố Đô Huế 1 thôi mà thấy hấp dẫn quá! . Xin chia sẻ đến quý vị coi cho vui . Xem có ai nhìn lại được cái nhà của mình ngày xưa không ? Tôi thì có nhìn được cái dốc cầu Gia Hội xuống đường Chi Lăng tới rạp xi-nê Hoàn Mỹ ...Coi đi các bạn, cho bớt nhớ! Dieu Huynh

CỐ ĐÔ HUẾ


Thursday, September 29, 2011

LS.LƯUNGUYÊNĐẠT * THƯ NGỎ



Tư Cách và Vai Trò Trí Thức Đối Diện “Thư Ngỏ”
Gửi Các Nhà Lãnh Đạo Việt Nam


TS. LS. Luu Nguyen Dat

Ngay sau khi được công bố vào ngày 21 tháng 8 năm 2011, với chữ ký của 36 vị “trí thức” đang sinh sống tại hải ngoại, “Thư Ngỏ gửi Các Nhà Lãnh Đạo Việt Nam về Hiểm Hoạ Ngoại Bang và Sức Mạnh Dân Tộc”[1] đã khơi động một số phản ứng chống đối ồ ạt.

Lý do chính là đa số người Việt hải ngoại là những tỵ nạn cộng sản, dù 36 năm đã qua, vẫn cảm thấy căn cước chung của họ bị “vi phạm” bởi hành động bất tất của những người “đồng ký tên” trên. Lý do phụ là sự công phẫn đôi khi có tính cách cá nhân, với những lời lẽ mạt sát nặng nề, khi có dịp chỉ trích giới “trí thưc”. Đôi khi sự phẫn nộ còn có tính cách dây chuyền, căn cứ vào lời lẽ bất bình của người vừa phẫn nộ.

Để có một khái niệm khách quan, sáng suốt và công bằng, chúng ta hãy vịn vào chứng cứ cụ thể để đưa ra vài nhận định bên lề, đối chiếu ngay với lá “Thư Ngỏ” trên.

MẶT NỔI THƯ NGỎ

Trước hết, tài liệu đó không phải là một “kiến nghị”, với mục đích đề xuất những ý kiến trọng đại lên cấp trên, hạ mình cầu khẩn, xin xỏ, khúm núm, như một số điện thư và những bài tham luận đã ám chỉ hay minh thị chế trách trên mạng. Trái lại tài liệu được xác định rõ rệt là một “Thư ngỏ”, công khai, không có tính cách một thư mật, giấu giếm, đi đêm.

Những thuật ngữ như “Kính gửi…Thưa quý vị…Trân trọng kính chào…” chỉ là cách thức thảo bút xã giao, lịch thiệp, mà một người thư ký trung bình cũng biết sử dụng. Những thuật ngữ này không hề ẩn ý một thái độ kính nể quá đáng hoặc khúm núm bất xứng.


Mục đích công khai của lá “Thư ngỏ” là để [a] “ủng hộ những ý kiến chính đáng của nhân sĩ, trí thức trong nước” qua bản “Tuyên cáo” ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” và [b] để “hưởng ứng bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước”.[2]


Như vậy, thiết nghĩ những mục đích trên có tính cách chân chính, xác thực, xứng đáng với ý thức dấn thấn khẩn trương của người trong cuộc, không vô cảm, không thờ ơ với vận mệnh đất nước.
Thoạt tiên, phải thấy đó là những cảm nghĩ, tư duy và quyết tâm của những người yêu nước, thương dân, dù đang bị cô lập, thất thế trong nước, ruồng bỏ nơi hải ngoại, xứ khách quê người.


Và cũng phải công nhận rằng, với những thời điểm nhiễu nhương, đổi đởi trong và ngoài nước, khi không những đồng ký tên nơi Thư ngỏ “,[3] mà còn đích danh tự nhận mình là “trí thức” thì quả thật quý vị này vừa can đảm, vừa táo bạo.

Cam đảm là dám trườn mặt đương đầu với những khó khăn, thách thức, trong khi thái độ trùm chăn, nằm yên chờ thời, hay dè dặt vô cảm có bề dễ dàng hơn và được coi là bình thường, khôn ngoan. Táo bạo ở chỗ dám thú nhận gốc gác “bất sủng” với chế độ cộng sản mà từ Mao Trạch Đông tới Hồ Chí Minh, thường bị đánh giá [về thực dụng và chất phẩm] không bằng cục phân đồng quê, hay loại phân bón made in China, vừa giả mạo, vừa rẻ mạt

NỘI DUNG BẤT TÚC, THẤT CÁCH

Vậy cai sai lầm, thất cách đầu tiên của Nhóm “Thư Ngỏ” là, tuy có thiện chí, có khả năng trí tuệ, nhưng lại dấn thân không đúng cách, đối thoại không đúng chỗ, đối diện không đúng người.

Trong khi ai ai cũng đều biết ngụy quyền cộng sản Việt Nam là con đẻ [hay con-ghẻ], cháu ngoan [hay cháu-nợ] của bạo quyền Trung Cộng; trong khi người dân biểu tình chống kẻ láng giềng tham lam, ác độc lại bị công an đảng phiệt CSVN tức khắc giải tán, đánh đập, bỏ tù; trong khi rõ rệt từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng tới nhóm hậu sinh bất khả-kính, tiếp nối tiếm quyền, minh thị bán nước, hợp doanh, làm ăn chia chác với kẻ thù dân tộc…thì Nhóm “Thư Ngỏ” lại “trân trọng” dấn thân đầu tư vào thiện chí, thiện tâm của chính lũ bán nước, phản dân, của băng đảng tội ác tày trời đó.

Không khác nào nhắm mắt đập đầu vào đá, hay tự đốt cháy như con thiêu thân khi dắt díu nhau bước vào hẻm cụt của vấn nạn, mà người Tây phương gọi là “impasse” hay “dead end”, có thể trắng trợn chuyển ngữ thành con đường-chết hay tử đạo…


Thật vậy, cái “Thư Ngỏ” đó, nêu thực sự chân chính, thì đương nhiên bị “thanh lọc”, loại bỏ tức khắc, rồi yên ngủ nơi bùn lầy nước thải. Chỉ khi nào đó là loại tài liệu hiến kế a tòng bán nước, hại dân, do mấy ngài “trí thức” dởm đề đạt thì may ra mới lọt vào mắt đỏ, mắt xanh của quý ngài “lãnh đạo” đảng phiệt CSVN bất chính [nghĩa] tại nước ta.[4] Vậy, cả dưới hai dạng — chính hay dởm — “Thư Ngỏ” như vậy đều dẫn tới tử địa xã hội chủ nghĩa.


Cái sai lầm bất túc thứ hai, cái sơ hở đáng trách của Nhóm “Thư Ngỏ” là quá tự tin, tự hào, khi tự quyết đóng khung trong vị trí độc đạo, độc diễn — “Chúng tôi, một số trí thức sinh sống tại nước ngoài” — đến nỗi mang tiếng bè nhóm quyền lực trí não siêu đẳng [“đại-trí-thức”], tự coi vượt chúng, độc nhất có ý kiến xây dựng,[5] có ưu thế dấn thân yêu nước hơn đám dân đen trong nước, hơn đám tỵ nạn cộng sản, cưỡng đày nơi hải ngoại. [6]

Nhóm “Thư Ngỏ” đã quên rằng hay không muốn thấy, ngoài con đường thảo công-văn-thơ-ngỏ, còn có rất nhiều cách xuống đường [“tới La-mã”] tới Sài-gòn, tới Hà-nội, với đầy đủ tư cách và thực tâm yêu nước, thương nòi, khi dõng dạc, kiên trì lên tiếng và hành động quy mô nhằm loại bỏ một chính thể bất nhân, phản nước, hại dân như ngụy quyền CSVN còn sót lại.


KHẢ NĂNG, TƯ CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC

Trước tiên, chúng ta hay định nghĩa rõ ràng thế nào là “trí thức”. Căn cứ vào các từ điển cổ và thông dụng ngày nay, từ kép “trí thức” bao gồm một số ý nghĩa chính đáng:


[a] tư cách, sinh hoạt liên hệ tới giới chuyên làm việc “lao động trí óc”, có “tri thức chuyên môn” cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp giao phó;
[b] trí thức cần có “tri thức”, khả năng hiểu biết nhờ học tập hoặc kinh nghiệm, có hệ thống về sự việc, hiện tượng tự nhiên hay xã hội;
[c] tầng lớp trí thức, có giáo dục khoa bảng.

Căn cứ vào cách định nghĩa theo khoản [a] và [b], người trí thức chỉ là các nhân vật xã hội lạm lụng bằng trí óc và có khả năng hiểu biết chuyên môn. Vậy họ là giới nhân viên văn phòng [white collar] song song với giới thợ thuyền làm việc tại cơ xưởng [blue collar]. Cao hơn, họ trở thành quản trị viên, giám đốc, giám thị, chuyên viên, cán sự, kỹ sư v.v. Tóm tắt, người trí thức căn bản là những người có khả năng làm việc bằng đầu óc, trí não [profession intellectuelle].

Nếu chỉ căn cứ vào khoản [b], trí thức cần có “tri thưc” [connaissance] do học vấn và kinh nghiệm tạo thành. Vậy người trí thức trước tiên phải là người hiểu biết rộng rãi, không ngu ngơ, biết tôn trọng sự thật và lẽ phải.


Riêng khoản [c] định nghĩa người “trí thức” thuộc giai cấp hay thành phần xã hội có giáo dục khoa bảng [classe intellectuelle]. Thành phần này vừa có khả năng, vừa có trách nhiệm xã hội và chuyên khoa. Họ thường là những nhà văn, tác giả, giáo chức, luật gia, bác sĩ, chuyên viên khoa học, quản trị viên. Ứng dụng khả năng với trách nhiệm, người trí thức phải có tài đức về mặt xã hội và chức nghiệp [professional ethics/social responsibilities]. Không thể chấp nhận loại trí thức, chuyên gia vô trách nhiệm, thiếu đức độ chức nghiệp. Loại trí thức-phản-trí thức này sẽ bị xã hội chê trách, ruồng bỏ, trừng phạp [đã xẩy ra nhiều vụ mất tư cách và đạo đức chuyên nghiệp, điển hình trong giới giáo chức, bác sĩ, luật sư, quản trị viên, v.v.].


Như vậy, hiện tượng “trí thức” không có gì xa lạ, biệt đãi, đáng tránh né. Họ là chúng ta, người hàng xóm, anh chị em, con cháu, họ hàng chúng ta.

Họ trước sau chỉ là những con người đáng trọng, đáng khen nếu thực sự có khả năng, có tư cách, có tài đức, có trách nhiệm. Họ là những nhân lực luôn luộn phải tự tạo, tự xét, biết tự trọng. Nếu khiếm khuyết những điều kiện cần và đủ trên, tốt hơn hết họ nên khước từ tư cách và vai trò của người trí thức trong xã hội cẩn mẫn, nhân bản.


Tối thiểu, người trí thức không thể sát nhập với lũ văn nô, nhân sĩ giả mạo, xuất thân từ những lò in bằng giả, bằng dởm, bằng đại học rừng rú, phế thải, mua bán như “đồ mã” nơi vỉa hè, xó xỉnh, hoặc thứ giấy bản loè loẹt bịt mắt thế gian.

Trong tương lai, một nhà nước chân chính tại Việt Nam phải có thái độ gương mẫu và những biện pháp hữu hiệu gạt bỏ tất cả những mảnh bằng giả mạo, lừa lọc đó, để trả lại chính danh chính nghĩa cho những vị thầy khả kính, những học trò có kiến thức, thực tài, xuất thân từ những giảng đường uy tín, được chứng nhận theo mẫu mực quốc gia, quốc tế [accredited colleges & universities].[7]


Do đó, chúng ta nên dung hoà quan niệm “trí thức” trên căn bản “tri thức”, tài đức và trách nhiệm chức nghiệp. Như vậy, hiện tượng “trí thức” sẽ trong sáng hơn, cần thiết hớn, chính đáng hơn, sau khi đã gạt bỏ mọi mặc cảm tự tôn và tự ti, mọi thù hằn ngăn cách “giai cấp xã hội”; gạt bỏ mọi đặc ân, đặc định giả tạo, tiếm quyền lố bịch; gạt bỏ hay giải toả mọi hình thức ảo tưởng, mọi tung hô ma mãnh, bịp bợm.

TẠM KẾT ĐỐI DIỆN “THƯ NGỎ”
Trong giai đoạn cứu nước và bảo tồn dân tộc Việt Nam, người trí thức đúng nghĩa phải là hình ảnh chân thực và toàn diện của mọi công dân ý thức khả năng và trách nhiệm xây dựng một nếp sống mới, có tự do, có dân chủ, có phát triển nhân bản, trong thế hoà đồng, kết sinh, tiến bộ.
Người trí thức là người cầm đuốc soi sáng, không những cho chính mình mà còn cho tha nhân. Họ là nhũng mẫu mực tài đức sẵn sàng “kết-sinh-chuyển-lực” tới đại chúng, khi toàn thể người dân cần minh mẫn, đòi hỏi sinh tồn, tự do và quyền dân tự quyết.

Do đó, người trí thức chân chính cần tạo dựng cho mình và tha nhân một môi trường sinh sống cẩn mẫn, trung thực, rộng lượng, cho phép con người suy đoán, chọn lựa cái hay, cái tốt; đồng thời tôn trọng khả năng suy nghĩ và hành động khả chấp, tương xứng, thức thời của người khác.
Riêng đối với “36 vị trí thức đồng ký tên thư ngỏ”, người viết với tư cách đồng môn, đồng nghiệp, đồng thuyền, đồng cảnh - người trong cuộc – xin ân cần và trân trọng tiếp lời:

Nếu Quý Vị thực sự yêu nước trọng dân, thực sự nhận trách nhiệm cao cả, đáng trọng của người trí thức, của người Việt tử tế, hiểu biết rộng, tự trọng và tôn trọng sự thật về hiện tình đất nước, về nguyện vọng và sứ mạng chung của 90 triệu người dân trong nước,[8] của 3 triệu người dân tại hải ngoại, thì Quý Vị ắt phải thấy rõ CSVN là nguồn gốc và động lực của mọi tai ương hủy hoại tổ quốc, đầy đọa nhân dân.

CSVN chuyển từ một thực trạng tiếm quyền tới một tổ chức quốc tế khủng bố nhân loại, cướp của, giết người, nay vỏn vẹn là một băng đảng mafia đợi ngày phá sản tập thể.


Nếu so sánh về mắt khoa học đối chiếu, chắc Quý Vị cũng phải thẩm định rằng hiện tượng cộng sản tại Trung Hoa và Việt Nam là những biến chứng của một căn bệnh nan giải, một thứ ung thư đã di căn, vô phương cứu chữa, vừa ngụy xã hội, vừa ngụy ý thức hệ, vừa vô nhân đạo đến nỗi cả Karl Marx đã phải lên tiếng chối từ: “… Je ne suis pas Marxiste”, [9] để đổi lấy mạng sống.


Vậy nếu Quý Vị thực sự không muốn “tái nhập” căn bệnh CS, ít nhất Quý Vị đừng nên công nhận [9B], vun xới, góp sức kéo dài căn bệnh hiểm nghèo đó. Nếu Quý Vị không nỡ ra tay cắt bỏ những bọc lở loét thân thể Việt Nam, ít ra Quý Vị không nên để người khác lo ngại, có cảm tưởng Quý Vị coi thường những cố gắng trị bệnh, ngăn bệnh của đa số người Việt tỵ nạn cộng sản.


Và nhất là — tối thiểu — Quý Vị cũng không nên chỉ trích những nạn nhân lịch sử, từng bị CS hành hạ, bỏ tù, hủy hại thân xác, khủng bố tinh thân, bôi nhọ danh dự, tước đoạt tài sản và mạng sống nhân bản… là “những phần tử chống cộng cực đoan…hạ cấp” [10], là những kẻ “ngoại đạo”, sai đường, lạc lối.


Nếu có dịp thảo lại “Thư Ngỏ”, mong Quý Vị điền thêm vài chữ biểu hiện mức độ “danh chính ngôn thuận” như sau: “Thư Ngỏ Cảnh Cáo Các Nhà Lãnh Đạo Việt Nam”.
Còn phần trân trọng, thiết tha, xin Quý Vị dành lại cho toàn dân. Họ mới là đối tượng thực sự của các “Thư Ngỏ, Kiến Nghị, Tuyên Cáo”. Họ mới là thành tố quyết định mọi cải tổ tốt đẹp, vững bền cho đất nước, cho chính họ.[11]


Xin Quý Vị bảo trọng thanh danh chân chính của giới trí thức Việt Nam bằng cách nuôi dưỡng chí khí phục thiện, thuần khiết, hoặc ít ra cũng có thiện tâm, thiện cảm tôn trọng những người Việt Nam tử tế, có liêm sỉ và nghị lực thực hiện nốt sứ mạng giải thể cộng sản, cứu nước, trọng dân.
Chúng ta hãy cùng nhau thực hiện chí khí đanh thép bất diệt của Nguyễn Trãi, đúc kết trong áng văn bất hủ Bình Ngô Đại cáo – “Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn. Lấy Chí Nhân Để Thay Cường Bạo.” [12]
Trân trọng,

TS.LS. Lưu Nguyễn Đạt


VŨ TRỌNG PHỤNG * BÀ LÃO LÒA

Vũ Trọng Phụng
Bà Lão Lòa

76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, một bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng đã lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn.
Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn.
Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấỵ..
Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũạ Đàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thằng cu con lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trán răn, má hóp, mắt kèm nhèm, mặc cái áo vải vá đã đến năm mười miếng mụn, đóng khố, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy đấy thôị Gạo ăn bữa mai hết rồị..
- Hôm nay được thêm mẻ lươn thì, ác quá, gặp đứa nào cũng trả rẻ, lang thang khắp chỗ, mãi đến chiều chẳng thấy ma nào hỏi lại phải bán tống bán tháo đị.. cả ếch cả cá cũng chỉ được ngót hai hàọ
Vợ nhìn chồng thở dài rồi lại nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm cái đũa cả, gắp những hột còn dính lạị Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lẩy bẩy chìa bát ra toan xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồị..! Còn đâu nữa mà chìa mãi bát rạ.. Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấỵ.. Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đớ người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng.
Mặt trời sắp lặn, còn xiên qua lũy tre xanh, tầu lá chuối mà rọi ánh sáng đỏ đó vào gian nhà. Dưới những đám mây thiên hình vạn trạng mầu cá vàng chăng dọc chăng ngang phủ kín một bầu trời, một đàn sếu xếp hàng chữ nhân bay từ Bắc về Nam, vươn cổ kêu oang oác. Trên mấy ngọn tre gió thổi ngả nghiêng, dăm ba con chèo bẻo tung tăng chuyền cành này sang càng khác, còn đua nhau hót như muốn cất giọng chào mặt trời truớc khi vào tổ.
Bà lão lòa ngồi trầm ngâm chống tay lên trán, nhân hôm ấy chiều trời êm ả, gió thổi hây hây, chim kêu xào xạc mà một mảnh đời dĩ vãng như một luồng chớp nhoáng, trong trí bà lại thấy hiện ra:
Ngoài cổng, một ông lão ăn mày lụ khụ đến ăn xin. Con vện con vàng đang nằm trong sân bỗng nhảy xổ ra cắn xa xả. Tiếng một bà ngồi trên sập gụ bên trong quát thằng nhỏ ra mắng chó, giắt ông lão ăn mày vào thết một lưng cơm.
Bác nhiêu B, vừa bị nạn hỏa, rủi đâu, vợ lại hậu sản mà chết. Trong gian nhà lụp xụp, thằng cu lớn, cái đĩ con ngồi mã la mã lệnh với thằng cu mới đẻ, cuộn tròn trong cái tã nâu, nằm ngay cùng giường cái xác mẹ nó. Tiếng ba đứa trẻ khóc như rị Cả đêm hôm trước, bố chúng nó ôm đầu mà khóc, sáng hôm sau mới bảnh mắt đã thấy đội nón ra đi, mặt trời lên đến đỉnh đầu rồi mà chưa thấy về, bụng chúng nó đói cào như muối xát. Bỗng thấy ai nói văng vẳng như tiếng bác nhiêụ Thằng cu lớn quệt nước mắt, lủi thủi bước rạ.. Quái thay! Một bà khách lạ nào miệng bỏm bẻm nhai trầu, váy sồi, áo lụa, xệ nệ trên đôi dép da cong, bước vào nhà ôm lấy thằng cu con mà kêu: tội nghiệp! Rồi thấy bà khách cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc, bác nhiêu đưa hai tay nhận lấy, dòng dòng nước mắt tạ ân.
Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...
Người nọ xô người kia, chen nhau len vàọ Có người đứng ngoài, không hiểu chuyện, tưởng họ mặc cả gà, khi kiễng chân, nghển cổ nhìn vào mới rõ. Giọng nói phều phào một bà cụ già lụ khụ:
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngaỵ..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, người trông phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con, mất đứa này còn mong đẻ đứa khác chứ để chồng chết thì rồi tất chết cả mạ con cháụ
Nước mắt chảy xuống dòng dòng, nỗi thương đưa lên nghẹn cổ, người đàn bà không nói được nữa, gục đầu xuống mặt con mà khóc nức nở.
- Nàỵ..! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác traị
Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao, giơ tay ra nhận tiền, rồi không biết nói thế nào với vị ân nhân của mình, phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ!
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:
- Này bà! Bà đừng làm sốt ruột...! Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm cháu giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải khóc...
Giọng nói day dứt mà lanh lảnh như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai, bà lão hoảng hốt trong hai con mắt lòa trợn trạo cầm nước mắt cho khỏi chảy ra, trông rõ đôi tròng trắng đảo đi đảo lạị..
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấỵ..
+
+ +
Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thằng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về. Trong bọn những người chợ búa qua lại con đường cái quan, tạt vào đường đê, thấy một bà lão lụ khụ, hổn hển thở, ngẩng đầu chìa nón kêu van, cũng đôi khi có người vứt cho một vài đồng kẽm. Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nàọ..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thằng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đị..? Bà liệu đấỵ..!
Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy nguời khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh. Trên cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi khi quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà...! như gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.
Xa xa, trong cánh đồng bát ngát một màu xanh, mấy người làm ruộng nhễ nhại mồ hôi, chẳng ai buồn nói chuyện với aị Một đàn chim vành khuyên trong bụi rậm kia đang chuyền cành này sang cành khác cũng không con nào kêu hót, kiếm ăn một cách rất lặng lẽ. Phong cảnh dường như mệt mỏị Những tiếng vang động đều bị sức nóng mặt trời át mất hẳn đị Trên con đường cái quan, thỉnh thoảng thấy tiếng một cái xe hơi như một mũi tên bay, vo vo chạy qua rồi biến mất vào trong đám bụi mù xa tít,... bốn bề im lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người dẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lạị..! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đâỵ..! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôị..
- Đã được đồng nào đâụ..? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồị..!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiềụ.. chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!
Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi, cái váy cũn cỡn để lộ hai ống chân trùng trục, đen thui, giỏ cua đeo sau lưng cũng theo nhịp từng bước mà lắc đi lắc lạị.. Về đến nhà, sung sướng thay đã thấy bác trai ngồi phì phèo thổi lửa làm cơm dưới bếp. Nghĩ thầm hẳn bố nó hôm nay được mẻ phát tài, bác ta rửa chân tay xong, vào hú hí ngay với con.
Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! để bà ấy chết quách đi cho rảnh mắt...!
Rồi hiện ra lần lượt trong trí bác những ngày trở trời trái gió, những ngày lửa hạ chang chang, ruộng khô đồng nứt, kiếm chẳng ra tiền, hai đứa bé bò nheo bò nhóc, một niêu cơm ngô chia khắp cả nhà, bụng mẹ đã chẳng được no, còn lấy đâu ra sữa nuôi con... Mà bà lão lòa kia thì, ngày kiếm được một vài xu cũng như ngày không kiếm được đồng nào, chẳng nhịn được bao giờ, cứ đến bữa là ngồi vào mâm, chìa bát ra cho thằng cu sớị Không, không! Không thể thế được...! Bà lão ấy chỉ là một bà cộ.. mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhaụ..?
- Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nàọ..? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.
Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ối trời dất ôị..! Ối trời dất ôị..!
- Chết chửạ.. làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! Ối trời dất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôị..
- Chết chửa! Kìa thằng cụ.. ẵm em dỗ đị.. dỗ đi cho nó nín đi rồi dậy đấm cho u mày một chốc... để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậỵ.. Rõ khổ chửả
Bên ngoài mấy hạt mưa bắt đầu ném vào mái tranh lộp độp rồi trời đổ cơn xuống rào ràọ Dần dần mưa càng to, gió càng mạnh, mỗi lần một luồng gió thổi trên không nghe ào ào là một lần nước đổ như trút xuống sân. Trời tối mịt. Thấy mẹ đã ngủ được yên, thằng cu bước xuống đất, phong phanh trong tấm áo vải, ra tựa cửu đứng nhìn.
Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoáng chớp nhoàng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Rồi thỉnh thoảng lại đánh "đoành" một cái, những tiếng sét vang trời đánh nhịp, hòa theo với tiếng mưa rả rích, tiếng sấm hục hặc, nổi sôị..
Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu để
Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật, nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất...
- Thế thì chắc bà chết rét mất rồị.. Còn gì nữạ..
Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đê - tình cháu đối với cô - bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáỵ Nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải sợ... dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay saọ..?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lạị
Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiếu xuống, trông lại càng tươi càng đẹp. Trên mặt đường đê, nước đóng từng vũng, những người đàn bà gồng gánh ra chợ phải xắn váy vén quần, lội bì bõm, hễ ai hơi trượt chân muốn ngã là cả bọn lại khúc khích cườị Những đám cỏ bấy lâu phơi nắng xám cả màu, sau một trận mưa rào đã trông thấy ngay cái vẻ tươi tốt. Trên mấy cây bàng, một đàn chim sâu, con ngửa cổ uống nước, con đập cánh rũ lông, kêu hót vang taị Vệ đường loáng thoáng thấy cành cây rơi rải rác...
Phong cảnh trông có vẻ khoan khoáị Cái khoan khoái của phong cảnh sau trận mưa rào cũng như cái khoan khoái của người sau khi tắm gộị
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khố, cài rổ, vác vợt ra đị.. Mon men ở dưới chân đê, lội lõm bõm qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lạị Đàn quạ vùng bay lên rồi tản mác đị.. Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống cạnh một cái xác, cái xác một người đã bị quạ mổ nát nhừ, xác bà lão lòa bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước.