Sontrung's Blog (Sơn Trung)

Saturday, July 30, 2011

TINH THẦN NÔ LỆ

Đà Lạt: Xây "Vạn Lý Trường Thành" trong khu du lịch
Tác giả: Trần Trung Sơn



Liệu có phải đây là "hội chứng" do xem qúa nhiều phim ảnh Trung Quốc, nên người ta "a dua" một cách mù quáng không... Nhưng những nhà quản lý chính quyền, quản lý văn hóa du lịch ở Đà Lạt, chả lẽ cũng lại ngây thơ đến nỗi cũng "nhiễm bệnh" như thế?

"Vạn Lý Trường Thành Đà Lạt"

Một người bạn của tôi khi đến Khu du lịch Đồi Mộng Mơ (Thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng) đã vội vàng gọi điện thông báo cho tôi một tin thật sửng sốt: Trong khu du lịch Đồi Mộng Mơ người ta xây hẳn một đoạn Vạn Lý Trường Thành dài mấy trăm mét làm "điểm nhấn"(?). Có cả một đội quân tượng về lính của Tần Thủy Hoàng ở đó nữa.


Nghe xong, tôi thấy bàng hoàng, bán tín bán nghi và quyết trực tiếp đến "hiện trường" để xác minh sự thật.

Đến khu du lịch Đồi Mộng Mơ nổi tiếng của Đà Lạt, tôi thật sự bất ngờ với khung cảnh và những gì người ta xây dựng nơi đây. Điều đầu tiền đập vào mắt khiến tôi bắt đầu tin lời anh bạn thông báo: Tấm bảng ngay cổng vào liệt kê các hạng mục tham quan trong khu du lịch, trong đó dòng thứ ba từ trên xuống ghi rõ ràng: Vạn Lý Trường Thành.

Đi sâu vào phía sau khu du lịch, tham quan qua một vài hạng mục đại loại như cây Vĩnh hằng, nhà cổ, bàn xoay, vườn thú lạ... thì đến một lối đi được xây dựng chắc chắn bằng bậc tam cấp, hai bên được xây thành cao theo đúng "bản sao" Vạn Lý Trường Thành.

Tường thành này là công trình xây dựng đồ sộ nhất. Nhìn sơ cũng có thể thấy ý đồ của những nhà quản lý khu du lịch là muốn xây dựng "tường thành" này làm "điểm nhấn" cho toàn bộ khu du lịch.

"Vạn Lý Trường Thành Đà Lạt" được xây dựng khá dài, khoảng 300m, uốn lượn, vắt vẻo từ ngọn đồi bên này, sang đến ngọn đồi bên kia của toàn khu. Ở hai đầu "trường thành" cũng được xây dựng cổng thành hẳn hoi, có hình vuông, mỗi bề khoảng 3m, cao hơn tường thành. Bên trên cổng thành còn có hai tượng lính kiểu cổ xưa của Trung Quốc đứng canh thành với giáo mác trong tay.

Đi từ phía thành bên trái khu du lịch xuống dưới hẻm núi, nơi có lối dẫn tới làng văn hóa dân tộc, nơi trưng bày các lọai công cụ, đồ gốm, rượu cần, nhạc cụ của người dân tộc ở vùng cao nguyên xung quanh đỉnh Langbiang, thì tấm bảng ghi "làng văn hóa dân tộc" lại được gắn trên cổng của "Vạn Lý Trường Thành".

Bất ngờ hơn, bởi nơi một cái cổng cạnh đó nữa, người ta khắc dòng chữ nổi tiếng khắp thế giới: "Bất đáo Trường Thành phi hảo hán". Đây đích thị là ý muốn "dựng" Vạn Lý Trường Thành giữa cao nguyên Đà Lạt chứ không phải là nhầm lẫn nữa.




Cách cái cổng có dòng chữ "Bất đáo..." ấy vài bước chân, giữa một đám cỏ bên cạnh Trường Thành là một nhóm quân tượng được dựng nên, với hình hài, áo mão, vũ khí trong tay. Đặc biệt là "cái thần" trên khuôn mặt của những quân tượng này như đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu để "giữ" thành vậy.

Dẫn đầu đội quân ấy có hẳn một tay tướng chỉ huy đàng hoàng. Tất cả có bề ngoài như đội quân của Tần Thủy Hoàng từng được dựng trong phim ảnh Trung Quốc. Điều đáng nói là tất cả "Trường Thành, "toán lính" này nằm sát bên 1 nhà trưng bày và 1 sân khẩu biểu diễn cồng chiêng. Nơi mà khu du lịch vẫn thường tổ chức cho du khách khi có yêu cầu.

Khi bếp lửa bập bùng với tiềng cồng chiêng của núi rừng vang lên ở đây, thì những "tượng lính" nằm bên cạnh có thể "canh giữ" cho cuộc vui ấy?

Thật là lạ. 1 công trình văn hóa nằm trong 1 khu du lịch nổi tiếng, được xây dựng đã nhiều năm, được các cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng phê duyệt hẳn hoi, lại "ngoại lai" đến mức... đáng kinh ngạc như thế?

Hội chứng bắt chước hay tâm lý "vong bản"?

Ai cũng biết, 1 công trình văn hóa du lịch cho cộng đồng, điều trên hết nó phải mang tính giáo dục- giáo dục thẩm mỹ, giáo dục về cội nguồn lịch sử, văn hóa dân tộc... cho bất cứ ai đến thăm, vui chơi, nhất là với thế hệ con cháu chúng ta.

Cái điều quá đỗi đơn giản ấy lại được những người "giàu trí tuệ" dựng lên đây một công trình "Trường Thành" hoàn toàn của Trung Quốc. Thử hỏi những ai là "tác giả" của công trình ngoại lai này, và muốn giáo dục điều gì cho mọi người?

Liệu có phải đây là "hội chứng" do xem qua nhiều phim ảnh Trung Quốc, nên người ta "a dua" một cách mù quáng không? Hội chứng a dua kiểu ấy chỉ có thể chấp nhận được nếu đó là trẻ con. Hay như các chị em phụ nữ ta thường "hâm mộ" các tài tử điển trai trêm phim ảnh xứ Hàn.

Nhưng những nhà quản lý chính quyền, quản lý văn hóa du lịch ở Đà Lạt, chả lẽ cũng lại ngây thơ đến nỗi cũng "nhiễm bệnh" như thế?

Thật đau lòng và xấu hổ. Đứng xem đoạn "Vạn Lý Trường Thành Đà Lạt" 1 lúc, tôi đã chứng kiến hàng trăm người, từ già trẻ, lớn bé thi nhau đứng ở mọi góc độ của "trường thành" này để chụp hình lưu niệm.

Có người còn cho trẻ con khoác lên mình những bộ đồng phục, mũ mão của "Hoàng Châu Cách Cách" ngay tại quầy phục vụ của khu du lịch bên cạnh, để đứng lên "cổng thành" chụp hình lưu niệm nữa. Thật tội nghiệp cho khách du lịch.
Họ chỉ biết những đọan tường thành, cổng thành, quân tượng, những bộ đồng phục đỏ đỏ, vàng vàng ấy "đẹp" thì chụp thôi. Họ đâu có tội gì? Tội là của những người đã "dựng" lên cái công trình "ngoại lai" này, trong khi thành, lũy của bao nhiều triều đại kiêu hùng của ông cha ta thì họ không xây nổi một mét.

Hay đó chính là 1 công trình văn hóa du lịch, một sáng kiến mang tâm lý "vong bản" đáng xấu hổ !

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-29-da-lat-xay-van-ly-truong-thanh-trong-khu-du-lich-
http://diendanctm.blogspot.com/2011/07/troi-oi-la-troi.html



Nguy cơ bị diệt vong của một quốc gia ?
nguyễn văn tuấn - song chi




http://www.israelnationalnews.com/Tolaim/ResizeImg.aspx?save=1&source=album&album=99&image=1440&a=377&b=1000

Câu hỏi thuộc loại “đao to búa lớn” này thật ra rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tôi “lượm” bài dưới đây của Song Chi và thấy có nhiều ý rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Bài viết hơi dài, nên tôi xin phép tác giả chỉ trích những ý mà tôi thấy tâm đắc.

Nhân đọc bài này tôi nhớ đến một bài của Vũ Minh Khương vào năm ngoái trên Tuần Việt Nam. Trong bài “Việt Nam : chặt cầu để tiến lên” Vũ Minh Khương cũng bàn về những yếu tố và điều kiện cho một sự suy vi của một quốc gia. TS Khương viết:

“Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:


1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào các làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.”

Thử đối chiếu với tình hình hiện nay, không ai có chút quan tâm đến đất nước mà không lo ngại. Và, cũng đồng cảm với Song Chi và Vũ Minh Khương.
NVT
====

Khi nào một quốc gia bị diệt vong, một dân tộc bị mất nước?

Song Chi – Trong bài “Những suy nghĩ từ sự kiện bộ phim “Lý Công Uẩn-đường đến thành Thăng Long” tôi có viết rằng ở Việt Nam sự lệ thuộc về văn hóa nước ngoài, đâu phải đến bây giờ mới xảy ra. Tuy nhiên, bài viết nói trên chủ yếu chỉ đề cập đến lĩnh vực phim ảnh, cụ thể là sự ảnh hưởng từ phim truyền hìnhTrung Quốc và cả Hàn Quốc đối với phim truyền hình Việt Nam . Song, phim ảnh chỉ là một lĩnh vực rất nhỏ trong đời sống mọi mặt của một quốc gia, thực tế là hiện nay, sau 65 năm dài, Việt Nam đang bị ảnh hưởng, phụ thuộc về mọi mặt từ phía nước láng giềng Trung Quốc.

LỆ THUỘC TRUNG QUỐC VỀ MỌI MẶT

Về kinh tế,
cán cân thương mại giữa Việt Nam-Trung Quốc quá chênh lệch, (mọi người có thể dễ dàng vào google để tìm hiểu những thông tin chính xác về vấn đề này), nhập siêu từ Trung Quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam, hàng hóa Việt Nam xuất sang Trung Quốc thường là hàng thô, hoặc rau quả tươi sống, kim ngạch xuất khẩu thấp còn khi nhập về lại nhập những thứ như sắt thép, phân bón, vật tư nông nghiệp, hóa chất, vải sợi …, giá cao dẫn đến tổng kim ngạch nhập khẩu cao…Không chỉ những loại hàng hóa “nặng” tiền như vừa kể mà cái gì do Trung Quốc làm ra cũng có mặt ở Việt Nam, từ hũ xì dầu, gói bột nêm, rau quả tươi, đồ chơi trẻ em… cho tới cây tăm tre cũng có, tuồn qua Việt Nam bằng đủ mọi con đường từ chính thức đến buôn lậu, từ thành thị đến vùng quê hẻo lánh…góp phần làm cho đời sống của các doanh nghiệp nhỏ và bà con nông dân Việt nam thêm khó khăn.

Trong lĩnh vực đấu thầu
th
ì Trung Quốc luôn luôn bỏ giá thầu thấp, lại biết chi “hoa hồng” rất đậm nên rất nhiều công trình lớn, trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất…ở Việt Nam đều rơi vào tay các công ty Trung Quốc, như hầu hết các công trình xây dựng nhà máy nhiệt điện lớn từ Bắc vào Nam-từ nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả, Hải Phòng, Quảng Ninh, Duyên Hải…trong đó nhà máy nhiệt điện Vĩnh Hưng tại tỉnh Bình Thuận có tổng số vốn đầu tư đến 1,75 tỷ dollars. Và người dân cũng không quên những dự án do Trung Quốc đầu tư bị dư luận lên án dữ dội nhưng nhà nước Việt Nam vẫn cho triển khai như dự án khai thác bauxite tại Lâm Đồng hay vụ nhiều tỉnh phía Bắc cho các công ty Trung Quốc, Đài Loan thuê rừng đầu nguồn dài hạn; mới đây nhà nước Việt Nam lại còn chuẩn bị cắt đất ở vùng biên giới để làm khu kinh tế chung giữa hai nước-cụ thể là vùng đất thuộc tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam và tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, mở đường cho hàng hóa Trung quốc càng dễ dàng thâm nhập vào Việt Nam, chưa nói đến sự nguy cơ về an ninh quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ v.v…

Về văn hóa, phim Trung Quốc tràn ngập trên màn ảnh nhỏ cả nước,
(đến mức có nhiều nhà giáo dục, nhà trí thức đã phải lên tiếng lo ngại rằng trẻ em Việt Nam bây giờ nhiều khi thuộc sử Tàu hơn cả sử Việt nhờ…xem phim lịch sử, dã sử của Tàu!), sách truyện Trung Quốc đủ các thể loại võ hiệp kỳ tình, điều tra phá án, tiểu thuyết tình cảm lãng mạn nhẹ nhàng hay táo bạo về sex… tràn ngập ở các hiệu sách lớn nhỏ. Vào tháng 4.2009 nhà nước Việt Nam còn chấp thuận cho mở thí điểm Học viện Khổng tử tại Việt Nam, đây thực chất là một cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài do nhà nước Trung Quốc tài trợ nhằm mở rộng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung quốc…

Về chính trị?
Điều này thì rất nhiều nhà trí thức cho đến đảng viên cộng sản lão thành, tướng tá trong quân đội của chính quyền đều đã lên tiếng cảnh báo từ lâu, và rất nhiều lần: chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một nhà cầm quyền nào bị xỏ mũi dắt dây, bị chơi xấu, bắt nạt…bởi một nhà nước ngoại bang nặng nề trong suốt nhiều năm như thế, chưa bao giờ có một “triều đại” nào hèn hạ, khiếp nhược trước ngoại bang đến thế! Mất đất, mất đảo, mất biển…đã đành, tàu bè của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đánh chìm, ngư dân Việt Nam bị lính Trung Quốc đánh, cướp, bắt nộp tiền chuộc…nhà cầm quyền cũng chẳng dám lên tiếng mạnh, còn cấm báo chí đưa tin nhiều về những chuyện này, sinh viên học sinh biểu tình chống Trung Quốc thì bị công an đàn áp, những người viết báo, viết blog phản đối Trung quốc thì bị chính quyền gây áp lực làm cho mất việc, cuộc sống khốn đốn hoặc phải vào tù vì những tội danh ngụy tạo như tội “trốn thuế” của blogger Điếu Cày

…
Sự mất cảnh giác, l

ệ thuộc từ trong ý thức hay tinh thần nô dịch ngoại bang đã từ từ thấm vào não bộ, linh hồn của những người lãnh đạo từ trên xuống dưới, khiến họ để xảy ra hàng loạt sự việc không thể hiểu nổi, từ vụ báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam lại đưa tin “theo quan điểm của Trung Quốc” về Hoàng Sa, pano kỷ niệm ngày Quân đội nhân dân Việt Nam lại lấy hình lính Trung Quốc, trang phục mới thay đổi sau ngày 22.12.2009 của một số quân, binh chủng trong quân đội Việt Nam rất giống với quân phục của lính Trung Quốc, phim lịch sử Việt Nam lại để cho người Trung Quốc làm…, thậm chí những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam còn tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng long-Hà Nội đúng vào ngày Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa!


LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TỰ HÀO DÂN TỘC BỊ THUI CHỘT

Khi nào một quốc gia bị diệt vong, một dân tộc bị mất nước? Khi đông đảo người dân chỉ biết lo cho cuộc sống và quyền lợi của cá nhân và gia đình; khi nhà nước và những người lãnh đạo đất nước đó hèn hạ, khiếp nhược trước ngoại bang, thậm chí đã bị mua chuộc, nên chỉ nghĩ đến quyền lợi của đảng phái, của nhóm lợi ích mà không nghĩ đến vận mệnh đất nước.
Điều đó rõ ràng đang xảy ra tại Việt Nam hôm nay.
Về phía nhà nước Việt Nam , có lẽ không cần phải chứng minh nữa.
Về phía người dân, từ trước đến nay người Việt Nam vẫn tự hào rằng dân tộc mình có truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh liên tiếp chống lại các thế lực ngoại xâm để giữ vững quyền độc lập tự chủ cho quốc gia.

Song, thực tế hiện nay lại cho chúng ta thấy một sự thật đáng buồn rằng lòng yêu nước ở người Việt Nam vẫn còn nhưng không thể hiện được hết sức mạnh quật khởi của nó vì nhiều nguyên nhân: số đông người Việt đang sống trong nước do bị bưng bít thông tin, không nắm vững tình hình cũng như thực chất của mối quan hệ giữa hai nước Việt-Trung nên bàng quan, hoặc có biết mà mũ ni che tai, cho rằng chuyện chính trị, đối ngoại là chuyện của nhà nước lo, người dân chỉ lo chuyện kiếm sống cũng đã hết hơi rồi còn tâm trí đâu nghĩ đến điều gì khác; bên cạnh đó, chính sự khiếp nhược của nhà nước đã làm thui chột ngọn lửa nhiệt tình yêu nước ở người dân, khi họ bức xúc lên tiếng về những nguy cơ đến từ phương Bắc thì lập tức bị bịt miệng, cách này hay cách khác, khiến họ thêm nản lòng không còn muốn nói nữa.


Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng nước tuy nhỏ, yếu nhưng nếu lòng dân thu về một mối, quyết tâm chống lại kẻ xâm lược thì chúng ta sẽ chiến thắng, bảo toàn bờ cõi giang sơn và ngược lại. Làm nhụt chí khí, tinh thần quật cường của người dân, điều đó hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của các thế hệ lãnh đạo Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam !


Còn lòng tự hào dân tộc ở người Việt Nam?

Nếu như tinh thần yêu nước của người Việt Nam hôm nay bị chính sách hèn hạ khiếp nhược của nhà nước Việt Nam làm thui chột đi, thì đời sống xã hội và thực trạng tụt hậu, thua kém về nhiều mặt ngay cả với các nước lánh giềng nhỏ bé chung quanh đã làm cho lòng tự hào của người Việt bị tổn thương, dẫn đến nhiều hiện tượng trái nghịch đáng buồn.

Như tâm lý vọng ngoại ở rất nhiều người-cái gì của ngoại cũng tốt, từ cái tăm tre mà dán mác ngoại cũng dễ bán chạy hơn (!) cho đến làm phim cũng nhái theo phim Hàn phim Tàu, lời hát thì chen lẫn tiếng Việt và tiếng Anh, tên ca sĩ, nghệ sĩ cũng nửa Tây nửa ta mới sang…Đã có những bài báo kể những mẩu chuyện về cách ứng xử khác hẳn nhau đối với khách của các cô nhân viên trong các cửa hàng cho đến tiếp viên hàng không, khi thấy khách ngoại quốc thì nụ cười rất tươi, giọng nói dịu dàng hết mực, liên tục “sorry, thank you” mà với khách Việt thì…


Khi bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của nhân vật Đỗ Ngọc Bích xuất hiện trên báo BBC vào tháng 4.2010, đông đảo người Việt Nam từ trong và ngoài nước đã không thể không lên tiếng, bày tỏ sự phẫn nộ của mình trước những lập luận chứng tỏ một sự kém hiểu biết và một tâm thế nô dịch ngoại bang lộ liễu đến vậy ở một tác giả hoàn toàn là người Việt, sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Còn tôi, tôi chợt nghĩ không biết liệu có những ai khác suy nghĩ kiểu như cô Bích này không?


Một nhà nước tự chọn cho mình con đường đi sai lầm trong quan hệ với ngoại bang đến nỗi bây giờ khó bề rút chân ra, mối nguy mất nước đã rất lớn. Nhưng khi một dân tộc thờ ơ với vận mệnh của chính nước mình, mất đi lòng kiêu hãnh, tự hào dân tộc là nguy cơ mất nước lớn hơn gấp bội. Thật ra tôi không tin rằng trong giai đoạn trước mắt Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam . Trung Quốc cần có thêm thời gian để lớn mạnh hơn nữa, vả chăng, trong thời đại ngày nay, có rất nhiều cách để khống chế, thu lợi, “bắt hồn bắt xác” một quốc gia, một dân tộc khác mà không cần phải dùng đến chiến tranh.

Còn đến thời điểm cần dùng vũ lực, vừa để tìm chỗ luyện quân, vừa dằn mặt thế giới, chính thức lên tiếng với thế giới rằng một cường quốc quân sự mới, một đế chế lãnh đạo mới đã xuất hiện…thì với Trung Quốc, có sự chọn lựa nào dễ dàng, thuận lợi hơn Việt Nam?
Đụng đến các nước khác, từ Thái Lan nhỏ bé cho đến Nam Hàn, Nhật Bản, Nga, Ấn…đâu phải dễ chơi?

Lịch sử dường như cũng có những điềm báo của nó. Phải chăng vận nước đến ngày lao đao nên xui cho những người lãnh đạo Việt Nam mới dở khôn dở dại hết tính đến chuyện dời đô về tận chân núi Ba Vì, xây trục Thăng Long hình mũi tên bắn thẳng vào Trung tâm hành chính quốc gia (theo cách nói của Tiến sĩ kiến trúc sư Trần Trọng Hanh)…

May mà vấp phải sự phản đối quyết liệt của dư luận, nhà cầm quyền Hà Nội mới tạm lui bước nhưng ai mà biết sự tạm lui đó là bao lâu khi một ví dụ sờ sờ trước mắt: dự án xây dựng đường cao tốc Bắc Nam tốn kém, đầy phiêu lưu mới bị Quốc hội bác bỏ trong tháng 6.2010 thì nay, trong Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 của Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN lại thấy có câu“Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng đường bộ và đường sắt cao tốc Bắc-Nam”!



Lại cũng là điềm báo: nước đến ngày tàn khi “triều đình” gạt bỏ mọi lời nói phải, bắt người yêu nước vào tù còn kẻ phá hoại bất tài thì trọng dụng, việc lớn không lo chỉ lo đi bịt miệng người dân bằng mọi cách; hết ra Quyết định 97/2009/QĐ-TTg bịt miệng giới trí thức, khoa học lại ra Thông tư số 04/2010/TT-TTCP Quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nai, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo trong đó có quy định cấm khiếu nại tập thể, như vậy là bịt miệng người dân thấp cổ bị oan sai hết đường khiếu kiện; hết tìm cách chặn tường lửa, phá hoại các trang mạng “lề trái” lại bôi nhọ uy tín những cá nhân cất tiếng nói chỉ trích chế độ…

Nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/293

http://nguyenvantuan.net/online-dd/1096-nguy-co-bi-diet-vong-cua-mot-quoc-gia-


Posted by sontrung at 9:36 PM No comments:
Labels: BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186

Friday, July 29, 2011

BÙI TÍN * CÔNG AN CỘNG SẢN

Là bạn dân hay là nạn của dân

Bùi Tín viết riêng cho VOA

  • E-mail
  • In
  • Ý kiến



Công an mặc thường phục bắt giữ người biểu tình gần Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội, ngày 10/7/2011
Hình: ASSOCIATED PRESS
Công an mặc thường phục bắt giữ người biểu tình gần Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội, ngày 10/7/2011

Ở trong nước, tại mỗi cơ sở của cơ quan công an, đều có khẩu hiệu «Công an là bạn dân», nhắc nhở mỗi sỹ quan, hạ sỹ quan, nhân viên công an về đạo đức nghề nghiệp, ứng xử có văn hóa và lễ độ với người dân, không được lạm dụng quyền lực trong tay để hà hiếp, áp bức dân.

Mấy tuần lễ nay, vấn đề công an ra tay đánh đập, chửi bới rất thô tục những bà con ta trong các cuộc biểu tình, tuần hành ôn hòa chống bành trướng Trung Quốc các ngày Chủ nhật 10 và 17 tháng 7 giữa thủ đô Hà Nội đang làm xôn xao dư luận.

Trong một bức thư khẩn cấp gửi Bộ Chính trị Đảng CS và Quốc hội, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, từng là đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, năm nay hơn 90 tuổi, đã hỏi rằng phải chăng «chế độ nước ta đang trở thành một nhà nước cảnh sát?».

Vấn đề càng làm công luận thêm nhức nhối là nhiều nhà báo nghiệp dư tham dự biểu tình đã chụp được hàng trăm bức ảnh, hàng chục đoạn phim video dài 20 giây, 25 giây, ghi lại cảnh các nhân viên công an chìm và nổi, trong sắc phục công an hay thường phục, vật ngã, đánh đập, xúm nhau nắm chân tay người biểu tình «quẳng lên xe như những con lợn».

Đặc biệt có nhiều bức ảnh ghi cảnh 4 nhân viên công an kéo chân, giữ tay, ôm cổ một thanh niên biểu tình, để cho một nhân viên công an khác đứng cạnh đạp lên mặt lên ngực bằng chân đi giày. Thật không thể tưởng tượng nổi một sự đàn áp dã man, thô bạo, tàn ác như thế dưới một chế độ tự nhận là xã hội chủ nghĩa, là văn minh, tiến bộ, mang bản chất nhân dân.

Nhà văn hóa Nguyên Ngọc cũng gửi thư cho lãnh đạo và các đại biểu Quốc hội báo động về thái độ kiêu binh, tàn ác tột đỉnh của ngành công an và yêu cầu các nhân vật có trách nhiệm phải trả lời cho toàn dân về các sự kiện cực kỳ nghiêm trọng phản văn hóa này.

Một số thanh niên có tâm huyết đã cùng nhau mở cuộc điều tra cấp tốc, xác định một cựu chiến binh tên là Nguyễn Tường Thụy đã bị bốc lên xe công an, anh blogger mang bí danh Đông Hải Long Vương chính là người «bị lôi đi như con lợn và bị 4 phát đạp giày vào mặt, vào cổ và ngực». Cô Nguyễn Nguyên Bình – con tướng Nguyễn Trọng Vĩnh - cũng bị ném lên xe cùng anh Vũ Quốc Ngữ, bị đưa về trụ sở công an huyện Từ Liêm. Anh ghi lại những lời nói rất đặc biệt của các ngài tự nhận là bạn của dân, thật là «lễ độ, có văn hóa», như:

- Bắt thằng đó, nó vừa chụp hình đó! Bắt con đó, nó vừa hát to nhất!
- Đừng cho chúng đi lối này! Coi chừng thằng già kia! Kèm chặt con mụ đó!
- Bịt mồm thằng trẻ kia! Tát vỡ mồm con hát bậy!
- Gọi xe đến tống cổ cả lên xe! Hốt hết lên xe!

Khẩu khí của nhân viên nhà nước, có giáo dục, hay khẩu khí của phường lưu manh?

Và cuối cùng đã rõ tên của kẻ đạp giày vào mặt anh Long Vương là Minh, cấp bậc đại úy, đội phó đội công an, đứng cạnh đó để chỉ huy là trung tá Canh, phó chỉ huy công an quận Hoàn Kiếm.

Nhiều đơn tố cáo, thư chất vấn, kiến nghị về trách nhiệm của giám đốc công an thủ đô, tướng Nguyễn Đức Nhanh, cũng như của tướng Lê Hồng Anh, bộ trưởng công an, đã được công bố trên các blog, đòi hỏi những người có trách nhiệm của ngành công an phải trả lời rõ ràng, minh bạch cho nhân dân về các «hành động thô bạo kiểu thổ phỉ và lưu manh» trên đây,và đòi hỏi phải xử lý công minh những kẻ tàn ác vi phạm luật pháp, bôi nhọ cả ngành công an.

Để công an có thể còn là «bạn dân», không thể là «nạn cho dân», tai họa cho dân, cho nước.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Posted by sontrung at 10:44 PM No comments:
Labels: BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186

KHOA HỌC * CÂY RẮN HỔ MANG


CÂY RẮN HỔ MANG


Loại cây này có hình dáng giống như những con rắn Hổ mang ở Ấn Độ, với cái lưỡi dài ghê rợn thè lè ra bên ngoài. Darlingtonia hay còn gọi là Cobra Lily là một loại cây ăn thịt, tuy nhiên, điều làm nhiều người ngạc nhiên và thu hút sự chú ý bởi loài cây này có hình dạng giống như một con rắn với cái lưỡi dài lè ra ngoài, nhìn nó giống như những con rắn Hổ mang ở Ấn Độ.



Chiếc lưỡi’ này chính là một cái bẫy, luôn xoè ra giống như đuôi của một con cá và tiết ra một mùi hương quyến rũ để thu hút những con côn trùng. Khi con mồi sập bẫy, chúng sẽ bị hút lên phía trên đỉnh cây.








Cây Cobra Lilies không giống như những loại cây ăn thịt khác là tiết ra một loại men đặc biệt làm tê liệt và hỗ trợ cho việc tiêu hoá con mồi, mà thay vào đấy, loại cây này sẽ tiết ra một loại nước khiến con côn trùng chết chìm trong đó. Sau đó, con mồi sẽ bị phân huỷ bởi các vi khuẩn và vi sinh vật, chất dinh dưỡng sẽ được hoà quyện với nước, lúc này, cây chỉ việc hút những dung dịch bổ dưỡng để kích thích sự tăng trưởng cho mình.



Cobra Lilies là loại cây được tìm thấy ở phía Bắc California và miền nam Oregon, nước Mỹ. Chúng thường sống trên những ngọn đồi dốc, ẩm uớt. Chúng mọc thành từng cụm giống hệt như rêu. Nếu gặp điều kiện thuận lợi, cây có thể mọc cao lên đến 2,4 m.





Posted by sontrung at 7:06 PM No comments:
Labels: BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186

KHOA HỌC * TRÁI CHANH



Những điểm lợi ích của trái chanh

81.jpg


-Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư

- Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

- Tại sao chúng ta không biết gì về nó (cho dến giờ nầy)

- Bởi vì có những nhà bào chế (labo) thích bào chế ra một loại thuốc với thủ thuật hổn hợp nào đó để đem lại nhiều lơi nhuận cho họ hơn mà thôi..
- Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.


chanh


- Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)
-Nếu có thể, quí vị nên trồng một cây chanh trong vườn của quý vị
- Đã có biết bao nhiêu người chết trong lúc bí mật nầy (của trái chanh) được dấu kín để không đụng tới tiền lời hang tỹ bạc của những nhà kinh doanh ?
- Như quý vị đã biết, cây chanh thấp, lại không tốn chỗ bao nhiêu. Và được biết có nhiều loại chanh (như chanh giấy ?)



- Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau: quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v……
-Người ta cho trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu.


- Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư
- Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp xuất cao và rối loạn thần kinh


- Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là:
Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)…


- Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư
- Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch.
Viện Khoa Học và Sức Khỏe, L.L.C. 819 N. Causez Strêt, Baltimore, MD. 1201
- Hảy gởi đi khắp nơi trên thế giới-

Objet : LE CITRON...A LIRE ATTENTIVEMENT


Institut de Sciences de la santé, L.L.C. 819 N. Rue Charles Baltimore, MD 1201.

Ceci est la dernière nouveauté en médecine, effective pour contrer le cancer !!!
Lisez avec attention le message que l'on vient de m'envoyer, j'espère que vous le ferez suivre !!!

Bienfaits du citron.

Le citron (citrus) est un produit miraculeux pour tuer les cellules cancereuses.
Il est 10.000 fois plus puissant que la chimiothérapie.
Pourquoi ne sommes-nous pas au courant de cela?
Parce qu'il existe des laboratoires intéressés par la fabrication d'une version synthétique qui leur rapportera d'énormes bénéfices.


Vous pouvez désormais aider un ami qui en a besoin en lui faisant savoir que le jus de citron lui est bénéfique pour prévenir la maladie.
Son goût est agréable et il ne produit pas les horribles effets de la chimiothérapie.
Si vous en avez la possibilité, plantez un citronnier dans votre patio ou votre jardin.
Combien de personnes meurent pendant que ce secret est jalousement gardé pour ne pas porter atteinte aux bénéfices multimilionnaires de grandes corporations ?
Comme vous le savez, le citronnier est bas, n'occupe pas beaucoup d'espace et est connu pour ses variétés de citrons et de limes.


Vous pouvez consommer le fruit de manières différentes: vous pouvez manger la pulpe, la presser en jus, élaborer des boissons, sorbets, patisseries, ...
On lui attribue plusieurs vertus mais la plus intéressante est l'effet qu'elle produit sur les kystes et les tumeurs.

Cette plante est un remède prouvé contre les cancers de tous types. Certains affirment qu'elle est de grande utilité dans toutes les variantes de cancer.
On la considère aussi comme un agent anti microbien à large spectre contre les infections bactériennes et les champignons, efficace contre les parasites internes et les vers, elle régule la tension artérielle trop haute et est antidépressive, combat la tension et les désordres nerveux.


La source de cette information est fascinante: elle provient d'un des plus grands fabricants de médicaments au monde, qui affirme qu'après plus de 20 essais effectués en laboratoire depuis 1970, les extraits ont révélé que:

Il détruit les cellules malignes dans 12 types de cancer, y compris celui du côlon, du sein, de la prostate, du poumon et du pancréas...
Les composés de cet arbre ont démontré agir 10.000 fois mieux que le produit Adriamycin, une drogue chimiothérapeutte normalement utilisée dans le monde, en ralentissant la croissance des cellules du cancer.
Et ce qui est encore plus étonnant: ce type de thérapie avec l'extrait de citron détruit non seulement les cellules malignes du cancer et n'affecte pas les cellules saines.

Institut de Sciences de la Santé, L.L.C. 819 N. Causez Street, Baltimore, MD 1201

ENVOYER A TOUT LE MONDE... ! ! ! ! !


Posted by sontrung at 6:37 PM No comments:
Labels: BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186

HỒ ĐÌNH VŨ * ĐỊA DANH MIỀN NAM


Sơ lược về nguồn gốc một số địa danh miền Nam
Hồ Đình Vũ.


Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó...riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc;nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

Đất Nam Việt mà trước đây người ta còn gọi là Nam Kỳ,người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16 , 17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong.

Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai ( đồng có nhiều nai),Lộc Dã,Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại,là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623.Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên (1613-1635),đã gả Công chúa Ngọc Vạn,lệnh ái thứ 2,cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong.Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào Nam Bộ.Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài(gò trồng xoài),gần Bà Rịa đúng vào năm 1623( Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud,Paris 1926).

Cũng trong năm này một phái đoàn ngoại giao đã được cử sang Oulong để thương thuyết sự nhượng lại Sở Thuế quan Saigon.Về sau đến đời vua Réam Thip Dei Chan(1642-1659),em vua trước,vị hoàng hậu Việt Nam nói trên đã xin vua Cao Miên cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa năm 1638.

Sở dĩ vua Cao Miên đã giao hảo với nước ta và tự ý nhân nhượng một phần nào,là vì muốn cậy thế lực của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm.Như vậy chúng ta đã đến sinh cơ,lập nghiệp,khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thỏa thuận hoàn toàn của đôi bên,chứ tuyệt nhiên không phải là một sự xâm nhập.Lại nữa nhờ uy thế của chúng ta mà Cao Miên đã đối phó hiệu quả với những tham vọng của nước Xiêm và bảo toàn được nền độc lập của mình.

Nói tóm lại sự hiện diện của chúng ta từ hơn 800 năm nay tại Nam bộ rất là hợp tình,hợp lý và hợp pháp.Nói một cách khác công cuộc Nam tiến của tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,nó hiển nhiên cũng như cuộc Tây tiến của người Âu Châu tại Mỹ Quốc và cuộc Đông tiến của người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên hòa ( hòa bình ở biên cương),một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653.Khoảng đất này xưa được gọi là Đông phố đúng ra là Giãn phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau.Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố,sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên hòa thì có Hố Nai (hố sập nai),Trảng Bom( trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rải có trồng nhiều cây chum-bao hom đọc trạnh thành bom,sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra,dùng để trị phong hủi.

Phía dưới là nhà thương điên Nguyễn Văn Hoài ,một nhà bác học đã quả quyết với chúng tôi rằng trong một đời người,số giờ mà chúng ta điên cuồng cộng lại ít nhất cũng được vài năm!

Biên Hòa là quê hương của Đỗ Thành Nhân ,một trong Gia định Tam hùng.Hai người kia là Võ Tánh quê ở Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An.

Biên hòa là xứ bưởi bòng ngon ngọt có tiếng nên mới có câu ca dao :

Thủy để ngư,thiên biên nhạn
Cao khả xạ hề,đê khả điếu,
Chỉ kích nhơn tâm bất khả phòng

E sau lòng lại đổi lòng,
Nhiều tay tham bưởi chê bòng lắm anh

Chúng ta đi ngang qua trước ngọn núi Châu Thới ,cao 65m trên có ngôi chùa Hội sơn,được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19,nhờ công đức sư Khải Long:

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nghiêng chùa Châu Thới mới sai lời nguyền !

Rồi đến Thủ Đức với những hồ bơi nước suối,và những gói nem ngon lành.Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ,thủ hô lo về việc thuế má và nhơn thế bộ.Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm,Thủ Thừa,Thủ Ngữ v.v.. để nhắc lại tên mấy ông thủ bạ và thủ hộ ngày trước.Miền Thủ Đức lại nhắc cho ta hai câu đối " tréo dò" "

Xứ Thủ Đức năm canh thức đủ
Kẻ cơ thần trở lại Cần Thơ

Có lẽ vì năm canh thức đủ mà có kẻ than thân trách phận tự mình sánh với cái nem Thủ Đức lột trần :

Người ta năm chị bảy em
Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

Phía tay mặt là Gò Vấp,xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp.Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc,yểm hộ cho dân tộc Chàm.Dã sử thuật lại rằng vào đời vua Chiêm cuối cùng là Pô Romé (1627-1651),vua này muốn vừa ý một ái phi người Việt đã ra lệnh đốn cây Kraik ( vấp) cổ thụ rợp bóng nơi vườn ngự uyển.Hơn một trăm thị vệ lực lưỡng không sao hạ nổi vì vết rìu mỗi lần bổ xong thì khép lại ngay.Nhà vua tức giận cầm lấy rìu hạ xuống một nhát,tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vũng máu.Và cũng từ đó vận khí nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tạ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon,nơi mà 300 năm về trước(1674)tiền đạo quân ta lần đầu tiên đã đặt chân tới,mang theo khẩu hiệu :" Tĩnh vi nông,động vi binh".Quân ta không phải tư động mà đến,chính là do lời yêu cầu khẩn thiết của nhà đương cuộc hồi bấy giờ.

Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn có,đào sông ngòi trong vùng đất thấp và đây đó khắp nơi,xây dựng thành trì kiên cố.

Một trong những công tác quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây năm 1772,rồi đến thành trì Phan An xây năm 1790,kế đến là thành Gia Định xây năm 1836.Những thành ấy xây đắp với mấy vạn nhân công và bao nhiêu tài trí như đã ghi trong câu ngạn ngữ :

Dân đất Bắc
Đắp thành Nam:
Đông đã là đông!
Sầu Tây vòi vọi!

Chúng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon ( Sài là củi,gòn là bông gòn)chuyển sang chữ nho thành Sài-côn là củi gòn,vì chữ nôm gòn viết là Côn,như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi trong tác phẩn Gia Định Thống Chí mà hiện nay chúng còn một bản dịch ra pháp văn của ông Gabriel Aubaret.

Theo một số người khác thì Saigon có lẽ do chữ Đê Ngạn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quảng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu,dùng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên năm 1778 sau khi họ phải rời bỏ Biên hòa vì chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn,để nhờ sự bảo hộ của quân đội chúa Nguyễn đóng tại Bến Nghé.

Nguyên ủy xa hơn cả có lẽ là sự chuyển âm của một danh xưng tối cổ Preikor,có nghĩa là rừng gòn,một loại cây hiện nay còn trồng ở Thủ Đô.

Theo Ông Verdeille thì Saigon có thể là hai chữ nho :Tây Cống đọc chạnh ra,tên này ám chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đã được các vị vua phía Tây cống hiến cho ta.Ta nên lưu ý rằng tên Siagon chỉ được dùng trong các văn kiện của Pháp kể từ 1784 trở đi mà thôi

Còn danh xưng của [b] Chợ-lớn mà người Tây đọc liền lại là Cholon,nó chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tại của Sở Bưu điện Chợ-lớn kéo dài tới tận Đại Thế Giới cũ.Chợ này lập song song với chợ nhỏ hiện nay còn tồn tại với tên chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ.Về sau Chợ-lớn được dời tới Chợ-lớn mới do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng,tượng họ Quách vẫn còn ở giữa đỉnh chợ Bình Tây

Sự biến đổi địa âm dạng của địa danh Saigon đã tùy sự hiện diện liên tiếp của những người quốc tịch khác nhau như Preikor (rừng gòn),Tai- Ngon hay Thầy gòn của người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan,người phương tây dùng chữ la mã ghi là Saigon từ năm 1784.

Hồi xưa tên Saigon chỉ áp dụng cho khu vực Chợ -lớn hiện thời,còn chính Saigon bây giờ thì khi ấy là Bến Nghé (theo Trịnh Hoài Đức,theo các nhà hàng hải Âu Mỹ ,theo bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia-long thứ 14( 1815) ghi trên vùng Chợ-lớn hiện tại chỗ nhà thương Chợ-Rẫy ba chữ Saigon xứ,khoảng gần Cây Mai và Phước Lâm )Khu Saigon cao ,nằm phía Đồn Đất tức là cái đồn thâu hẹp năm 1836 sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn,chắc đã có người ở từ thời thượng cổ,chứng cớ là những khí giới và đồ dùng bằng đá mài tìm thấy khi đào móng nhà thờ Đức Bà.Khu thấp thường gọi là Bến Nghé hay bến Thành.

Bến Thành là cái tên ở gần hào thành Gia-Định,nguyên trước có cái rạch nối liền hào thành với sông Bến-Nghé và có cái chợ gọi là chợ Bền Thành.Cái rạch ấy về sau lấp đi thành Đại lộ Nguyễn Huệ và đến bây giờ có câu ca dao như sau :

Chợ Bền Thành đèn xanh đèn đỏ,
Anh nhìn cho tỏ thấy rõ đèn màu;
Lấy em anh đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em!

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con,do một tên rất cũ là Kompong Krabey ( bến trâu) đã được Việt hóa.Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thườn kêu nghé nên gọi là Bến Nghé-Trịnh hoài Đức dịch là" Ngưu-tân"Bến Nghé là cái bến sông Saigon có tên là sông Bến Nghé,cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót(theo gia-định thống chí) .Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu -hủ(Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé.Bến Nghé tức là Saigon và khi ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến Nam Bộ vậy.

Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè.Bà tên là Nguyễn Thị Canh,con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn tức Văn Trường Hầu,đẹp duyên với một ông nghè.Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành,bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được.Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu,họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè.Đến khi Tây đến đánh thành Saigon,pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l'Avalanche.

Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại.Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh,được xây nhờ công ông Lãnh binh,thời tả quân Lê Văn Duyệt.Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối,Cầu Khóm (thơm),Cầu Kho và Cầu học(giếng học).Về các công sự thì có :

Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950
Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877,hoàn thành năm 1883
Sở Bưu Điện và Tòa án cất năm 1883

Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868 với sự tham dự dông đảo của dân chúng.Thủy sư Đô Đốc De La Grandìère với sự hiện diện của kiến trúc sư Hermitte từ HongKong tới,đã đặt viên đá đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mét,trong đó đựng một hộp chì chứa nhũng đồng tiền vàng và bạc dập hình vua Napoléon III.Đức Giám mục Miche,cai quản địa phận,với một số đông con chiên,đã ban phép lành và đọc một diễn văn lời lẽ cao quý đã làm cử tọa đặc biệt chú ý.Công cuộc xây cất trên một khoảng đất rộng 14 mẫu tây đã phải dùng tới hai triệu viên gạch,và cái móng dày tới 3,5m tốn mất 2.436 thước khối đá xanh Biên Hòa.Công tác đã hoàn thành năm 1875 và người đầu tiên đến ở trong dinh đó là Thủy sư Đô Đốc Roze.Sau 84 năm Pháp thuộc,ngày 7-9-1954 Đại tướng Ely,Cao ủy Pháp đã trả dinh thự này cho Chính phủ Việt Nam thời bấy giờ.

Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền

Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927,khánh thành ngày 1-1-1929 ,bị vụ nổ nhà thuốc súng làm hư hại ngày 8-3-1946 và được hoàn lại chính phủ Việt Nam ngày 19-9-1951 thu thập tới 4.000 cổ vật đã kê thành mục lục và trình bày trong 14 gian phòng.
Vườn Cầm Thảo (Sở Thú)tương tự với rừng Vincennes ở Pháp,được lập năm 1864.Sau khi đã san bằng,việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865.Ngày 28-3-1865 nhà thực vật học Pierre đảm nhiệm việc điều khiển vườn Cầm Thảo Saigon và ngày nay nhiều giống cây ở xứ ta còn mang tên nhà bác học ấy.

Đây đó ta còn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phương như : Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu(bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858,và bến tàu nổi được hạ thủy tháng giêng năm 1866.Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.

Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux)hay là vườn Ông Thượng,xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt,nay là vườn Tao Đàn.

Dakao là biến danh của Đất Mộ(đất của lăng)

Lăng-tô là biến danh của Tân thuận,tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát(pointe des flaneurs).

Bây giờ chúng ta rời Saigon xuống đò Thủ-Thiêm qua bên kia sông xem địa phận mà chính phủ đang trù định một chương trình kiến thiết rộng lớn,để biến nơi này thành một khu vực nguy nga tráng lệ.

Con đò Thủ-Thiêm ngày xưa đã hấp dẫn một số đông những chàng trai trẻ :

Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ-Thiêm.

nhưng một ngày kia chàng trai phải ra đi trong khói lửa chiến tranh,đến khi trở về thì than ôi :

Ngày đi trăm hoa hẹn hò,
Ngày về vắng bóng con đò Thủ-Thiêm!

Từ Thủ-Thiêm chúng ta thẳng tiến đến một nơi gọi là Nhà Bè hay là Ngã Ba Sông Nhà Bè,nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cũng gọi là sông Bến Nghé.Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay còn vọng lại mấy câu hò tình tứ của cô lái miền quê:

[b]Nhà Bè nước chảy chia hai:
Ai về Gia định Đồng Nai thì về!

Rời Nhà Bè ,chúng ta trở lại Saigon để đi về miền Bà Chiểu,một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông ,chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông,vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục.Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia định,nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832),một vĩ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.

Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh.Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng,ông đã lập ra 5 cái chợ,giao cho mỗi bà cai quản một cái : Bà Rịa (Phước Lễ),Bà Chỉểu (Gia-Định),Bà Hom (Phước Lâm),Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thụân Kiều).Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân thới quê hương của Cụ Đồ Chiểu,tác giả Lục Vân Tiên,thi phẩm đầu giường của đồng bào Nam bộ là nơi bán trầu ngon có tiếng ở Miền Nam.Món trầu là đầu câu chuyện,cho nên bao nhiêu chuyện,hay dở gì cũng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cả :

Trồng trầu trồng lộn dây tiêu
Con theo hát bội mẹ liều con hư!

Từ Bà Chiểu chúng ta trở lại Saigon để rẽ về Phú Nhuận ,qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xóm Kiệu là nơi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu.Phú-Nhuận(giàu sang và thuần nhã) là nơi còn nhiều cổ tích như: Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy,mất tại cửa bể Thị Nại năm 1801.Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính,nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc.Võ Tánh là một trong Gia-Định tam hùng mà dân chúng nhắc tới trong những điệu hò giao duyên.Theo thường lệ :

Người con gái lên tiếng trước :

Nghe anh làu thông lịch sử,
Em xin hỏi thử đất Nam-Trung :
Hỏi ai Gia-Định tam hùng,
Mà ai trọn nghĩa thủy chung một lòng ?

Người con trai liền đáp lại :


Ông Tánh,Ông Nhân cùng Ông Huỳnh Đức,
Ba Ông hết sức phò nước một lòng
Nổi danh Gia-Định tam hùng:
Trọn nghĩa thủy chung có Ông Võ Tánh,
Tài cao sức mạnh,trọn nghĩa quyên sinh,
Bước lên lầu bát giác thiêu mình như không!

Vìa phía Tân Sơn hòa có Lăng Cha Cả là một cổ tích kiến trúc Việt Nam xưa nhất ở vùng Saigon.Nơi đây mai táng Đức Giám Mục Bá-Đa-Lộc,mất tại cửa Thị Nại năm 1799.

Rời khỏi ngoại ô Saigon chúng ta thuê một chiếc thuyền con về vùng Lái-Thiêu (tức là ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu) để thăm vườn trái :

Ghe anh Nhỏ mũi tráng lường
Ở trên Gia-Định xuống vườn thăm em.

Nơi đây quy tụ rất nhiều trái ngon đặc biệt như : dâu da,thơm,bòn bon,mít tố nữ,măng cụt và nhất là sầu riêng (Durion) là giống cây từ Mã-Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lá ít,trái có gai bén nhọn kinh khủng,cho nên trời chỉ cho phép nó rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi!Đồng bào Nam-bộ liệt nó vào hàng đầu trong các loài trái,vì nó có đủ năm mùi hương vị đặc biệt như quả lê Trung hoa.Những người xa lạ phải chịu nhẫn nại một thời gian mới thông cảm và khi đã thông cảm rồi thì thèm muốn như mê say,chỉ trừ anh học trò thi rớt:

Có anh thi rớt trở về
Bà con đón hỏi nhiều bề khó khăn
Sầu riêng anh chẳng buồn ăn,
Bòn bon,tố nữ anh quăng cùng đường!

Tại vùng Lái Thiêu,có một ngôi nhà thờ cổ kính xây từ thế kỷ XVIII trên ngọn đồi xinh tươi,chung quanh có nhiều lò gốm,lò sành và một trường dạy học cho trẻ em câm điếc với một phương pháp riêng biệt.

Đến Búng chúng ta không quên đi thăm chùa Phước Long ở vùng An-Sơn,có ông huề thượng thâm nho,thường ra nhiều câu đối bí hiểm cho những khách nhàn du :

Rượu áp sanh(absinthe) say chí tử

Có người đã đối lại như sau :

Bóng măng cụt mát nằm dài

Trong chùa ông huề thượng có ghi hai câu :

Cúng bình hoa,tụng pháp hoa,hoa khai kiến Phật.
Dâng nải quả,tu chánh quả,quả mãn thông Thần


(sưu tầm bài viết của ông Tân Việt Điêu trong Văn hóa nguyệt san số 33 năm 1958)

Tên gọi Saigon từ đâu?
Đây là một đề tài được các nhà nghiên cứu, học giả, Tây lẫn Ta, tốn rất nhiều thì giờ và công sức.
Cho đến nay thì có khoảng 5 giả thuyết về xuất xứ của chữ Sài Gòn, trong đó có 3 thuộc loại quan trọng hơn. Xin ghi lại 3 thuyết quan trọng hơn dưới đây:

Sài Gòn từ Thầy Ngòn (Đề Ngạn), Xi- Coón (Tây Cống):


Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 tay thực dân Pháp là Aubaret và Francis Garnier ( người bị giặc Cờ Đen phục kích chết ).Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine và Garnier,Cholen, thì người Tàu ở miền Nam, sau khi bị Tây Sơn tàn sát, đã lập nên thành phố Chợ Lớn vào năm 1778 và đặt tên cho thành phố đó là Tai-ngon hay Ti-ngan.Sau dó, người Việt bắt chước gọi theo và phát âm thành Sài Gòn.

Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì Thầy Ngòn, Xi Coón, rất giống Sài Gòn! Tuy nhiên, theo lịch sử thì không phải.

Tại sao? Vì lịch sử chứng minh rằng Saigon có trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trại ra thành Thầy Ngòn, Xi Coọn.

Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống Suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vở "Luỹ Sài Gòn"(theo Hán-Việt viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong tài liệu sử sách Việt Nam . Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nôm là "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".

Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Saigon! Thì làm gì phải đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cổng.

Sài Gòn từ Củi Gòn, Cây Gòn, Prey Kor.

Thuyết này được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự "nghe nói" như sau:

"Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn .Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận".

Pétrus-Trương Vĩnh Ký- Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et Reconnaissance X. Saigon , Imprimerie Coloniale 1885.


Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sển lại quả quyết thuyết này là "của" Trương Vĩnh Ký , mặc dù ngay sau đoạn này, TVK lại viết tiếp "Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó".

Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng Sàigòn từ "Cây Gòn" (Kai Gon) hay "Rừng Gòn" (Prey Kor) mà ra.

Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn.

Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ "rừng gòn" ở vùng Sàigòn, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả nhà bác học Trương Vĩnh Ký . Ngay vào thời của Trương Vĩnh Ký (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó Sàigòn không có phát triển hay thay đổi gì cho lắm. Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở Sàigòn.

Sài Gòn từ Prei Nokor

Đây là thuyết mà thoạt đầu khó có thể chấp nhận nhứt (về ngữ âm), nhưng hiện nay được coi như là "most likely".

Chính Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này Trong Tiểu Giáo Trình Địa Lý Nam Kỳ, ông đã công bố 1 danh sách đôi chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokọr

Trước nhất, theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623,một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor (Saigon) và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế.

Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi Rai Gon Thong (Sài Gòn Thượng) và Rai Gon Hạ (Sài Gòn Hạ).

Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng",Prei hay Brai là rừng, Nokor hay Nagara là thị trấn. Đây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế như đã nói ở trên.

Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành RAI, thành"Sài", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "Gòn".

Từ Prei Nokor …mà thành SàiGòn thì thật là …dễ sợ !

Còn sở dĩ có Saigon viết dính nhau là do các giáo sĩ Tây phương đã bỏ mất dấu và gắn liền nhau khi in. Sau khi chiếm nước ta, để khỏi đọc "sai" ra "sê" theo giọng Pháp nên Saigon được viết với hai dấu chấm trên chữ i.

Saigon …muôn thuở là Sàigòn !

Ca dao tục ngữ Sài Gòn
Saigon là Hòn ngọc Viễn Đông, là một thành phố lớn nhất Việt Nam. Những nơi như Saigon được mệnh danh là Kẻ Chợ, đã là Kẻ Chợ ắt có chợ, mà phải là ngôi chợ lớn, khách Lục tỉnh lên thăm Saigon, ra vào chợ Saigon hẳn không quên. Chợ Saigon được đồng bào Hậu Giang so sánh với ngôi chợ tỉnh nhà:

Chợ Saigon cẩn đá,
Chợ Rạch Giá cẩn xi măng.
Giã em xứ sở vuông tròn,
Anh về xứ sở không còn ra vô.

Người con gái ở đô thành tiêm nhiễm nếp sống Tây phương, chàng trai xa nàng khỏi sao thắc mắc, lo nàng ở lại chẳng vuông tròn nên phải ra vô, nàng vuông tròn chàng yên tâm về xứ sở.

Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy,
Chợ Saigon xa, chợ Mỹ cũng xa.
Viết thư thăm hết mọi nhà,
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em.

Saigon và Mỹ Tho, hai nơi cách nhau trên sáu chục cây số, nay tuy thật gần những xưa thật xa,vì phương tiện di chuyển đâu có dồi dào như nay, chàng và nàng dù đã yêu nhau, nhưng mỗi lúc tới thăm đâu có dễ dàng, đôi bên cùng bận làm ăn buôn bán, nàng ở chợ Saigon, chàng ở chợ Mỹ Tho. Nhớ nhung nhau, chỉ biết tin thư thăm hỏi, lấy giấy thay lời. Chàng yêu nàng vì duyên, vì tình, tình yêu chân thật, đâu thấy nàng giàu mà ham hoặc thấy nàng nghèo mà chê.

Chợ Saigon đèn xanh, đèn đỏ,
Anh coi không tỏ, anh ngỡ đèn tàu.
Lấy anh em đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em.

Chợ Saigon với những hàng quảng cáo đèn màu xanh đỏ, chàng trai quê lên nhầm lẫn đó là đèn tàu. Sự lầm lẫn thị giác này có thể có được, nhưng lầm về yêu đương, chàng đâu có lầm. Chàng lấy nàng đâu có kể sang giàu, vì tiền tài bao nhiêu cũng có thể hết, duy tình nghĩa mới bền lâu, như người xưa đã nói:

Theo vàng bỏ ngãi ai hơi,
Vàng thời đã hết, ngãi tôi vẫn còn.

Chính vì nghĩa mới bền lâu, nên khi xa người nghĩa, người con trai đứng ngồi không yên:

Chim quyên xuống đất tha mồi,
Tôi xa người nghĩa đứng ngồi không yên!
Giấy tây bán mấy,
Mua lấy tờ nguyên,
Làm thơ hỏi bạn tình duyên chuyện gì?

Mến thương nàng, đem nàng so sánh với các nàng Lục tỉnh, cô gái Saigon thật hơn:

Nội trong lục tỉnh Nam kỳ,
Mấy ai được nết nhu mì như em.
Hai hàng lụy ngọc ướt nhèm,
Làm sao cho đặng anh với em giao hòa.

Sự ước vọng, lòng mong mỏi của chàng là được cùng nàng giao hòa!
Chợ Saigon ngày nay ta vẫn gọi là chợ Bến Thành, nhưng Bến Thành trước đây là bến tàu và hàng ngày thường 10 giờ thì tàu đến bến này:

Mười giờ tàu lại Bến Thành,
Súp lê còi thổi bộ hành lao xao.

Sao lại mệnh danh Bến Thành? Phải chăng đây là bến của đô thành Saigon hay của Gia Định thành? Còn khách bộ hành lao xao vì muốn ngắm tàu Tây.

Anh ngồi quạt quán Bến Thành,
Nghe em có chốn anh đành quăng om!
Anh ngồi quạt quán Bà Hom,
Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.

Chàng trai ngồi quạt quán ở Bến Thành với bình trà Huế, được tin người mình thương đã có nơi chốn, chàng tỏ buồn rầu quẳng cả bình trà đi! Kể cũng đáng buồn, tưởng được cùng người thương thưởng thức bình trà (om) ngon, ngờ đâu nàng là hoa có chủ, chàng đành ôm hận, trút mối giận vào om, cái bình trà vô tội.

Nhắc đến Bến Thành, quên sao được thành Tây:

Dân đất Bắc,
Đắp thành Tây.
Đông thật là đông,
Sầu Nam vời vợi.

Câu này gồm đủ đông, tây, nam, bắc! Dân đất Bắc phải chăng những người dân miền Bắc bị đưa vào Nam làm dân phu,đắp thành cho người Tây? Số dân phu ắt nhiều lắm, Đông thật là đông. Sự đông đúc này quả là một mối sầu vời vợi cho nước Nam, cho dân Nam! Nước mất nhà tan, thân làm nô lệ, phải đi đắp thành cực khổ cho Tây để chúng dựa vào thành trì đô hộ đồng bào mình. Người miền Bắc bị đi dân phu hằng than thở:

Nhà tan nước mất ai ơi,
Cái thân nô lệ sống đời cu ly!

Người dân than thân như vậy, nhưng vẫn có bọn mũ cao áo dài hà hiếp dân để nịnh bợ quân thù! Thật đau đớn nhưng những kẻ mãi quốc cầu vinh, cõng rắn cắn gà nhà, có bao giờ chúng nghĩ đến Sầu Nam vời vợi. Và
trong khi sống đời cu ly đi đắp thành Tây, đã biết bao nhiêu người bỏ thây cùng công việc, ngày xưa đâu đã có máy móc, kỹ thuật xây dựng đắp hoàn toàn công ở sức người.

Đắp thành Tây rồi xây soái phủ cho Tây, người dân Nam trong cảnh căm hờn muốn nói không ra, đành gởi tâm tình vào ca dao tục ngữ:

Trên thượng thơ bán giấy
Dưới Thủ Ngữ treo cờ.
Kìa Ba còn đứng trơ vơ!
Nào khi núp bụi, núp bờ,
Mũi Di đánh dạo bây giờ bỏ em.

Thượng thơ, xưa chính là soái phủ miền Nam ở góc đường Tự Do và Gia Long ngày nay. Nơi ấy có bán ấn chỉ cho dân, trong Nam quen gọi là bán giấy. Thủ Ngữ là nơi thủy quân Pháp đóng,cọ dựng cột cờ. Con người ái quốc trông hai nơi này căm gan sôi ruột! Ai đã khéo đạt ra cau ca dao trên để kích thích lòng căm hờn của người dan Việt, đã nhắc đến tượng Gambotta ở vườn Tao Đàn, gọi một cách nhục nhã là Ba Tượng một người Pháp gọi là Ba,ai là dân Việt ắt thấy nhục vong quốc này. Nếu câu ca dao chỉ có ba dòng đầu có thể gợi sự
nghi ngờ của người Pháp, bởi vậy phải thêm hai hàng sau gắn vào, mượn lời tình nhân oán trách tình nhân che dấu ý kín của câu hát. Tuy đây là lời tình nhân oán trách tình nhân, nhưng cũng là lời đồng chí oán trách đồng chí, đã cùng nhau núp bụi ngồi bờ, đã cùng nhau đánh dạo ở mũi Di, vậy mà quên nhau, về đầu thú người Pháp để cầu công danh phú quý.

Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, đậng một anh lính khác, chẳng khác chi các nàng Giao chỉ sau này trong thập niên 60 cho đến năm 1975 sánh duyên cùng các chú lính Mẽo:

Saigon mũi đõ,
Gia Đinh súp lê.
Giã hiền thê ở lại lấy chồng,
Thuyền anh ra cửa bể như rồng lên mây.

Thuyền,tàu Saigon hồi đó sơn mũi đỏ để phân biệt với thuyền tàu lục tỉnh, như vậy thực dân tiện bề kiểm soát.

Thuyền anh ra cửa bể như rồng lên mây, câu này muốn nói khi anh lính Tây đã ra cửa bể rồi, anh tha hồ được tự do, đến bến mới anh tha hồ kết duyên cùng người mới.

Về các cuộc hôn nhân Việt Pháp, lúc tiễn đưa, chúng tôi đã từng nhắc tới một câu trong ca dao hôn nhân dị chủng, xin phép được nhắc lại như sau:

Còi súp lê một anh còn than thở,
Còi súp lê hai anh nức nở vắn dài.
Còi súp lê ba, tàu ra biển Bắc,
Nước mắt anh nhỏ ra, anh rút mù xoa anh chậm,
Tình nghĩa vợ chồng ngàn dặm không quên.

Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây? Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.

Saigon nơi có đô hội lớn, phố xá rộng rãi, cây cao và rậm mát:

Đường Saigon cây to bóng mát,
Đường Chợ Lớn hạt cát nhỏ dễ đi.

Đường Saigon có đúng cây to bóng mát, còn đường Chợ Lớn có lẽ trước đây với đất phù sa của đồng bằng Cửu Long, cát nhỏ dễ đi chăng!Dưới thời Pháp thuộc, đường Saigon cũng như đường Chợ Lớn đều đã rải đá và sau này tráng nhựa... Ngày nay, với thời gian đường đã hư hỏng dù rải đá hay tráng nhựa, mà chính quyền có ít chú ý tới sửa chữa, nên có thể có người than:

Đường Saigon ổ gà đi xóc,
Đường Chợ Lớn đi xóc ổ gà.

Ca dao Saigon có những câu rất ngộ nghĩnh, nhắc tới địa danh một cách khéo léo:

Chị Hươu đi chợ Đồng Nai,
Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò.

Trong bài này chúng ta bắt gặp bốn con vật ăn cỏ là Hươu, Nai, Nghé, Bò với hai địa danh là Đồng Nai, Bến Nghé.

Dưới đây là câu ca dao nhắc tới các chợ khác ngoài chợ Bến Thành:

Mẹ đi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau chợ Vải, mua trầu chợ Dinh.
Sáng mai đi chợ Gò Vấp,
Anh mua một xấp vải đem về.
Cho con hai nó cắt, con ba nó may,
Con tư nó đột, con năm nó viền.
Con sáu đơm nút, con bảy vắt khuy;
Anh bước ra đi,
Con tám núi, con chín trì,
Ớ em mười ơi!
Sao em để vậy còn gì áo anh?

Ca dao Saigon hẳn phải còn nhiều, biết tới đâu xin tỏ tường tới đó, những điều chưa biết xin nhờ sự chỉ giáo của người biết.


(Trích tác phẩm "Hương Nước Hồn Quê" – Toan Ánh )
Đầu tiên được nói đến Bà Nghè, tên gọi hồi trước của con rạch Thị Nghè quận 1 sát bên Sở thú Sài Gòn. Trong Gia Định phú do Phan Văn Thị sáng tác có câu ví ngộ nghĩnh.

Coi ngoài rạch Bà Nghè, dòng trắng hây hây tờ quyến trải,
Ngó lên giồng Ông Tố, cây xanh nghịt nghịt, lá chàm rai.
Tôi chịu thua, tìm cả trong tự điển cây "chàm rai" là cây gì, mà lá nó xanh dữ vậy.
Nội ô Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh còn có một bà cũng nổi tiếng đó là Bà Chiểu, nằm trên địa bàn phường 1, 2 và 14 thuộc quận Bình Thạnh. Khu vực này có cái chợ cùng tên Bà Chiểu tấp nập ngày đêm, chủ yếu là bán lẻ. Có câu ca dao, nghe cũng vui tai:

[b]Xe mui chiều thả chung quanh
Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi.
Có lẽ nổi tiếng nhất trong các bà là Bà Điểm. Tương truyền bà Điểm là một chủ quán nước chè vùng Tân Thới Nhứt, Hóc Môn, có 18 thôn vườn trầu, nơi đây Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định từng hoạt động (khoảng năm 1861).
Nói cho ngay, người Sài Gòn xưa hay đặt cho con rạch, chiếc cầu, một địa danh,một con đường, con hẻm một cái tên (hoặc bà hoặc ông) trước là dễ nhớ, sau là ghi lại công tích của người đó góp cho dân trong vùng; thứ nữa nhìn hình vóc của khu vực đó mà đặt.

Thí dụ: Bà Quẹo, là khu vực gồm các phường 13, 14 quận Tân Bình. Ai đi trên đường Cách mạng Tháng Tám nối liền đường Trường-Chinh lên Tây Ninh, vọt thẳng biên giới với Cam-pu-chia, có một ngã ba, nếu nhà ở hướng lộ 14 thì quẹo trái (rẽ) vào.
Hay Bà Đô, là con rạch ở phường 1, quận 5, thông từ các ao, đầm ra rạch Bến Nghé, nay bị lấp rồi. Bà Đô còn là tên chiếc cầu ở đầu đường Hàm Tử bắc qua rạch Bà Đô (còn gọi là Thị Đô). Dân chèo ghe ở Sài Gòn hồi trước, qua đây hay hát:

Kể từ chợ Sỏi trở vô
Xóm Lá là chợ, Thị Đô là cầu.
Hay như Bà Thuông, tên chiếc cầu trên kênh Tàu Hũ, từ đầu đường Tản Đà đến đầu đường Phú Định. Trong Gia Định phú có câu ví rất hay:

Giếng Bà Nhuận rạch cam tuyền, trai gái nhảy thỏa tình khát vọng Cầu Bà Thuông đường quan lộ gần xa đều phỉ chí quy lai.

Tên cầu, tên rạch, tên khu vực nào đó có từ Bà rất nhiều. Như: rạch Bà Bướm có tên từ 1902 ở phường Tân Thuận Đông, quận 7 chảy vào sông Sài Gòn, nay nằm trong khu chế xuất Tân Thuận. Sông Bà Cả Bảy chảy qua hai xã Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi dài 15 km từ ranh giới với Tây Ninh đến
sông Láng Thé. Bà Hom vừa là khu vực phường 13, 14, quận 6 giáp ranh với Tân Bình và Bình Chánh, vừa là chiếc kênh ở xã Tân Tạo. Bà Tàng, vừa là các rạch ở phường 7, quận 8, cũng là tên chiếc cầu bắc qua rạch Lào trên đường Phạm Thế Hiển. Rồi Bà Tà, Bà Lài, Bà Hồng, Bà Lát, Bà Nghiêm, Bà Chủ, Bà Tàng, Bà
Thiên, Bà Tiếng, Bà Xếp... cũng là cầu, là rạch, là tên riêng vùng đất. Như tên Bà Khắc là chiếc cầu xưa ở vùng Cầu Kho quận 1. Khắc trong tiếng Nam Bộ còn gọi là Khấc, để cầu khỏi trơn trợt.

Trong bài Cổ Gia Định phong cảnh vịnh có câu:

Trên cây Da Còm, nỡ để ông già gùi đội
Dưới đường Cầu Khắc, chi cho con trẻ lạc loài.

Chiếc cầu Bà Khắc (hay Khấc) này thời nay không còn nữa.
Nhiều tên đường cũng tên bà, như đường Bà Huyện Thanh Quan trên địa bàn phường 6, 7, 9 quận 3, hồi Pháp có tên là Rue Nouvelle, đến năm 1920 đổi thành Pierre Fladin. Năm 1955 mới có tên Bà Huyện Thanh Quan đến ngày nay.
Bà Ký là đường trên địa bàn phường 9, quận 6. Bà Lài là đường nối từ đường Phạm Văn Chí với Lò Gốm, nay tên đường mới là Đặng Thái Thân. Bà Lê Chân ở Tân Định. Năm 1906 có tên là Frostin. Đến 19-10-1955 đổi lại thành đường Bà Lê Chân. Bà Triệu nằm sau Bệnh viện Chợ Rẫy, thời Pháp có tên là Merlande. Năm 1955 mới đổi thành Bà Triệu... Chắc là còn nhiều "bà" nữa mà người viết chưa có vinh hạnh làm quen xin mọi người tìm thêm nữa.

Cũng lạ, khi đặt tên cho cái rạch, con sông, chiếc cầu, hay địa danh một vùng đất gắn với một bà nào đó, thì có cả ca dao, câu hát, câu ví dí dỏm. Nhưng, với cánh đàn ông thì thiệt là khô khan, chả thơ phú, câu vè, câu đố nào. Dù sao, có bà thì phải có ông, bởi thiếu ông nghe như trống trải trong lòng vậy.

Ở Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, địa danh mang tên năm ông sau đây, cứ nhắc tới thì cả nam, phụ, lão, ấu ai cũng rành.

Đầu sổ là Ông Lãnh. Gắn liền với Ông Lãnh là chiếc cầu. Dạ, Cầu Ông Lãnh, rồi chợ Cầu Ông Lãnh, và phường Cầu Ông Lãnh (Nói nhỏ: chỗ này hồi trước bụi đời dữ lắm nghen, nay thì đỡ nhiều rồi). Đúng là có cầu, có chợ, có phường 100%, nhưng thử hỏi cắc cớ: vậy Ông Lãnh là ai vậy, thưa bà con, thì nghe chừng ngắc ngứ lắm!Có giả thuyết cầu này do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1798 - 1866) đóng quân ở đồn Cây Mai, Thủ Thiêm và tại đình Nhơn Hòa, quận 1 gần chiếc cầu. Vả lại,năm 1885, Trương Vĩnh Ký có viết rằng chiếc cầu gỗ do ông lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh binh Thăng này, chớ không phải ai khác. Cũng có người bảo, cầu này ở cạnh một ông lãnh sự, nên đặt chết tên luôn. Nghe chừng chuyện này không thuyết phục mấy.

Hai là Ông Thượng. Người Sài Gòn trọng tuổi một chút nghe đến vườn Ông Thượng thì biết ngay là Công viên văn hóa Tao Đàn thuộc quận 1 bây giờ. Chớ hỏi bọn trẻ,chưa chắc hiểu vườn Ông Thượng ở đâu. Vả lại, Ông Thượng là tên dân gian gọi tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt những thập niên 20 và 30 của thế kỷ 19. Nghe nói, vườn Ông Thượng hồi đó hay có gánh hát đến biểu diễn, cả cải lương lẫn hát bội, và Nguyễn Đình Chiểu hồi nhỏ cũng hay đến đây coi tuồng hát bội.

Ba là Ông Tố. Giồng Ông Tố là vùng đất thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, hồi năm nẳm, ở vùng này còn nhiều cọp beo và nhiều ve lắm, nên có câu:

Coi cọp, xuống Thị Nghè
Ăn ve, lên Ông Tố.

Ve mà nướng lên ăn cũng thơm như cào cào, châu chấu vậy. Không rõ ông Trương Vĩnh Tố có làm quan chức gì, chỉ biết ông ở gần đấy và khu đất cao (gọi là giồng)có lẽ là của ông chăng?

Bốn là Ông Tạ. Là chợ mang tên một thầy thuốc nam nổi tiếng Trần Văn Bỉ (còn gọi là Tạ Thủ). Chợ Ông Tạ còn là vùng đất thuộc các phường 3, 4, 5, 7 của quận Tân Bình. Nói thêm: Dân ghiền thịt chó nghe đến chợ Ông Tạ là gợi ngay đến các hàng thịt chó nằm trên đường Cách mạng Tháng Tám treo lủng lẳng cả chục con thui vàng rực, coi bắt mắt lắm.

Năm là Ông Thìn. Cầu Ông Thìn bắc qua sông Cần Giuộc, nối hai xã Đa Phước và Quy Đức, huyện Bình Chánh trên tỉnh lộ 50. Dân gian truyền rằng Ông Thìn là tên người lái đò đưa khách sang sông. Cầu Ông Thìn được bắc dã chiến năm 1925, nay đã nâng thành cầu đúc dài 162 m.

Có cái tên ông rất nổi tiếng ở Sài Gòn này. Đó là Lăng Ông (dân thường gọi là Lăng Ông Bà Chiểu). Đây là lăng của Tả quân Lê Văn Duyệt, được xây trên khuôn viên khá rộng 18.500 m2. Nghe rằng tác giả công trình này về sau xây lăng Tự Đức ở Huế. Ngày 16-11-1988,Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Lăng Ông là di tích kiến trúc nghệ thuật. ở lăng có bốn cột gỗ chạm rồng rất đẹp ở chánh điện. Cổng tam quan có cây thốt nốt tạo vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch.

Ở Sài Gòn, còn có Chùa Ông là chùa thờ Quan Công (Quan Vân Trường) tại xã Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Đức.

Tên đường chỉ duy nhất có Ông ích Khiêm. Gắn với tên ông còn có rạch, cầu Ông Buông ở quận 6 (dài độ 2.800 m từ ngả ba rạch bến Trâu và Tân Hóa tới rạch Lò Gốm);rạch Ông Cái ở quận 2, rạch Ông Cốm, Ông Đồ ở Tân Túc, Bình Chánh, rạch Ông Điền từ đất Cần Giuộc đổ vào sông Nhà Bè, rạch Ông Đội ở quận 7, rạch Ông Mưu ở Bình Chánh; rạch Ông Nghĩa ở xã An Thới Đông, Cần Giờ từ rừng lá đến sông Lòng Tàu.

Có cầu Ông Lớn bắc qua kinh Tàu Hủ; cầu Ông Nhiêu, cầu Ông Thìn, cầu Ông Tiều...Rồi đập Ông Hiền ở xã Bình Hưng dài đến ba cây số. Về vài địa danh mang tên thảo mộc.

Ở Việt Nam có rất nhiều địa danh mang tên thảo mộc. Trong khuôn khổ bài viết nầy chúng tôi chỉ đề cập đến Gò Vấp, Củ Chi, Trảng Bàng, Giồng Trôm, Thốt Nốt và Bạc Liêu mà thôi.
GÒ VẤP
Trước năm 1975 Gò Vấp là một quận của tỉnh Gia Định gồm có 8 xã. Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10km. Đó là nơi có nhiều thành quách (An Nhơn, Hạnh Thông Tây), vườn rau cải (Hạnh Thông Tây), ruộng rau muống (Xóm Mới), vườn dừa (An Phú Đông, Bình Triệu), vườn sầu riêng, măng cụt (Nhị Bình), vườn bưởi (Thạnh Lộc) với hai xã đông dân cư và phồn thịnh về kinh tế và thương mại gần Sài Gòn: Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.
Sau năm 1975 Gò Vấp là một quận trong thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích Gò Vấp bấy giờ thu hẹp chỉ còn 20 km2. Các xã Bình Hòa, Thạnh Mỹ Tây trở thành quận Bình Thạnh, Nhị Bình, Thạnh Lộc, An Phú Đông sát nhập vào quận Hóc Môn.
Gò Vấp là quận đông dân cư. Đó là nơi có nhiều giáo đường và chùa chiền. Viện Mồ Côi và bịnh viện Cộng Hòa nằm trong quận nầy. Sau năm 1954 Gò Vấp nổi tiếng về việc sản xuất pháo (Xóm Mới).
Địa danh Gò Vấp do tên của cây vấp mà ra. Tên khoa học của cây vấp là Mesua coromandelina, Mesua ferrea, Mesua nagassanium... thuộc gia đình Clusiaceae hay Guttiferae. Loại thảo mộc nầy có nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka và các quốc gia Đông Nam Á. Người Ấn Độ gọi là nagkesa; tiếng Phạn (Sanskrit): nagakesara; Khmer: bos neak.Người Anh gọi là cobra saffron vì theo tiếng Phạn naga có nghĩa là con rắn và chữ saffron gợi lên màu vàng của cây vấp. Tiếng anh cũng gọi cây vấp là iron wood tree hay Ceylon ironwood (thiết mộc Tích Lan).
Cây vấp cao từ 15 - 20m. Gỗ màu vàng rất cứng, ngâm duới nước không bị rã mục. Lá cây vấp nhọn, thon, dài trông rất đẹp. Lá non màu đỏ bầm. Hoa to, màu trắng bốn cánh với nhụy vàng. Hoa có hương thơm. Trái có hột dùng để lấy dầu.
Gỗ cây vấp dùng để làm nhà, ngạch đường rầy xe lửa rất tốt. Dầu lấy từ hột cây vấp dùng để thắp đèn. Cây vấp là quốc mộc ở Sri Lanka (đảo Ceylon: Tích Lan), nơi cây vấp được gọi là nahar.
Người ta dùng hoa, rễ và hột cây vấp để làm thuốc trị bịnh. Hoa được dùng để trị táo bón, đau bụng, phong hủi, ho, sốt, bất lực sinh lý. Dầu dùng để trị các chứng bệnh ngoài da, trị ghẻ, tê thấp. Dầu cây vấp có nhiều ác xít béo: ác xít stearic. oleic, linoleic và arachidic. Hoa khô dùng để trị bịnh trĩ, kiết lỵ. Hoa tươi trị ngứa, kinh nguyệt, khát nước quá độ (tiêu khát; tiếu đường), ra mồ hôi. Rễ dùng để trị rắn cắn. Lõi cây vấp có nhiều xanthones: euxanthones, mesuaxanthones A, mesuaferrone B. Nhụy hoa có hai bioflavonoids: mesuaferrone A và mesuaferrone B và ác xít mesuanic. Vỏ có ferruol B và triterpenoid gutiferol.

CỦ CHI
Trước năm 1954 Củ Chi là một quận trong tỉnh Gia Định. Sau năm 1954 quận nầy nằm trong tỉnh Bình Dương một thời gian ngắn. Khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Củ Chi nằm trong tỉnh tân lập nầy. Trước năm 1975 Củ Chi có 14 xã.
Sau năm 1975 Củ Chi là một quận ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh. Quận Củ Chi nằm cách Sài Gòn 40 km. Diện tích quận Củ Chi lối 435 km2. Đa số dân đều sống bằng nghề nông và đan thúng rổ, làm vật dụng bằng mây. Củ Chi được biết đến nhiều trong chiến tranh vừa qua. Vùng nầy nằm trong vùng Tam Giác Sắt. Bộ tư lệnh Sư Đoàn 25 đóng tại đây. Sau năm 1975 tân chế độ gọi Củ Chi là Đất Thép Thành Đồng và biến Địa Đạo Củ Chi thành vùng du lịch.
Củ Chi là sinh quán của Trần Minh Tiết, Chánh Án Tối Cao Pháp Viện VNCH; Phan Văn Khải, cựu thủ tướng CHXHCNVN.
Địa danh Củ Chi phát xuất từ tên gọi của cây củ chi tức mã tiền. Cây củ chi hay mã tiền được tìm thấy nhiều ở Nam Á và Đông Nam Á. Tên khoa học của nó là Strychnos nux-vomica thuộc gia đình Loganiaceae. Người Anh gọi là poison nut (vì độc chất của mã tiền), quaker buttons, snake-wood, nux-vomica, strychnine tree. Người Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm về việc dùng mã tiền (củ chi) làm thuốc. Họ gọi mã tiền (củ chi) là kuchala. Người Trung Hoa gọi là ma qian zi.
Cây củ chi cao đến 25 m. Lá bầu như trầu. Trên lá có nhiều gân lá song song với rìa lá. Hoa nhỏ màu trắng ngà kết thành chùm. Trái tròn màu vàng cam khi chín. Gỗ trắng và cứng.
Củ chi nổi tiếng vì độc chất của nó. Nhưng độc chất đó cũng được nghiên cứu kỹ lưởng để dùng vào việc chữa trị bệnh. Nó có alkaloid strychnine rất độc. Vỏ có brucine và nhiều hợp chất độc khác. Nói chung cây củ chi có nhiều độc chất. Nhưng dùng ở liều lượng đúng, nó trở thành thuốc trị đau bụng, gây nôn, táo bón, mất ngủ, bịnh tim, thần kinh, tinh thần hồi hộp bất an, kinh nguyệt không điều hòa, bịnh hô hấp của người già, viêm vành tai ngoài gây ngứa ngáy khó chịu.
Trong y học dân gian người ta xem mã tiền như thuốc bổ tạo sự thèm ăn. Hiện nay ở Trung Hoa người ta nghiên cứu xem củ chi có thể dùng vào việc chữa trị ung thư gan hữu hiệu hay không.

TRẢNG BÀNG
Tràng Bàng là một quận trong tỉnh Tây Ninh gồm có 7 xã. Quận nầy nằm cách Sài Gòn 50 km về phía tây bắc. Quận Trảng Bàng rộng lối 340 km2. Trảng Bàng nổi tiếng với bánh canh giò heo ăn với bánh tráng phơi sương (không cần nhúng nước), rau rừng và nước mắm pha chế đặc biệt của người miền đông Nam Bộ. Năm 1972 một bức ảnh chụp một em bé trần truồng chạy ngoài quốc lộ ở Trảng Bàng sau một cuộc dội bom napalm trong một làng trong quận Trảng Bàng được giải thưởng Putlitzer.
Trảng Bàng là sinh quán của giáo sư Nguyễn Ngọc An, người sáng lập hai trường Minh Đức (Trảng Bàng) và Tân Dân (Hóc Môn). có một thời ông là tổng trưởng bộ Thông Tin và Chiêu Hồi.
Theo từ nguyên thì Trảng (savanna) là một vùng đất trống có nhiều cỏ và cây cùng một loại mọc lưa thưa. Bàng là cây bàng, một loại thảo mộc được tìm thấy nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Nam Hoa, các hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean.
Tên khoa học của cây bàng là Terminalia molucca (còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Combretaceae. Chữ molucca trong tên khoa học cho thấy nguồn gốc Molucca, Indonesia, của loại thảo mộc nầy hay ít ra nó cũng có nhiều trên đảo nầy. Người Anh gọi cây bàng là umbrella tree (vì bóng mát rộng lớn của nó), tropical almond (hạnh nhiệt đới) như người Tây Ban Nha gọi almondro de la India (hạnh Ấn Độ) Người Miến Điện gọi là badan và Khmer là pareang prang.
Cây bàng cao đến 25 m, có nhiều nhánh nên cho bóng mát rộng lớn. Lá bàng to, dày và láng. Vào mùa thu lá chuyển sang màu vàng rồi đỏ rất đẹp trước khi rụng. Trái bàng khá to, cơm dày ăn được. Hột có nhiều dầu và có mùi dễ chịu. Hột được ăn sống hay rang chín. Lá hay hoa cây bàng đều đẹp. Lá tươi hay khô đều được dùng làm thuốc nhuộm. Màu xanh chuyển sang màu vàng khi cho phèn chua và sulfate sắt vào. Gỗ cây bàng rất cứng và đẹp. Nó được dùng để cất nhà hay làm đồ mộc. Trồng cây bàng để có bóng mát, có nhiều gỗ, thanh lọc không khí, chống xâm thực ngoài bờ biển và tạo phong cảnh đẹp.
Lá, gỗ, vỏ, hột cây bàng đều được dùng làm thuốc. Sự dồi dào tannins của lá, vỏ làm cho cây bàng hữu dụng trong việc trị chứng tiêu chảy, kiết lỵ và đau nhức. Hột được dùng làm thuốc trị huyết tiện (hematuria). Ở Ấn Độ người ta dùng lá bàng trị tê thấp. Kết hợp với thuốc xức để trị ghẻ, phong hủi và các chứng bịnh về da.
Trái bàng có ác xít tannic. Tannin của lá và vỏ cây bàng có punicalagin chống oxy hóa. Những thí nghiệm gần đây vào chuột cho thấy hoạt chất lấy từ lá bàng có tác dụng bảo vệ gan.
Ngoài cây bàng vừa nói qua còn có cây bàng nước mang tên khoa học Terminalia belerica (còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Combretaceae. Đó là một loại thảo mộc miền nhiệt đới và khí hậu đại dương như cây bàng Terminalia molucca. Người Anh gọi cây bàng nước là belliric myrobalan (người Miến Điện gọi cây bàng là Balan); người Ấn Độ gọi là Bibitaki. Tiếng Sanskrit (Phạn) gọi cây bàng nước là Vibhitaki, có nghĩa là không sợ bị bịnh. Tên gọi nầy cho thấy tính năng trị liệu cao của cây bàng nước.
Cây bàng nước có sistosterols, ác xít gallic, ellagic, chebulagic, galloyl glucose và đường. Hột có ác xít oxalic, protein. Vỏ có nhiều tannins.
Trái bàng nước nhuận trường, cầm máu, trị đau cuống họng, ho, đau mắt, bịnh ngoài da, phong hủi, thủy thũng, tiêu chảy, kiết lỵ, làm cho tóc đen. Nó kháng trùng, kháng ung thư và bảo vệ gan chống nhiễm độc chất.

GIÒNG TRÔM
Trước năm 1975 Giòng Trôm là một quận của tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) với 15 xã. Sau 1975 nó vẫn là một quận của Bến Tre với diện tích lối 310 km2. Quận lỵ Giòng Trôm nằm trên bắc vĩ tuyến 10 độ 15' và đông kinh tuyến 106 độ 05'.
Giòng Trôm là một quận nông nghiệp. Đó là quận sinh quán của Cử Trị tức Phan Văn Trị (1830 - 1910), người đả kích Tôn Thọ Tường hợp tác với người Pháp vào thế kỷ XIX; tướng Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua. Tân chế độ luôn nhắc và tự hào về cuộc Đồng Khời Bến Tre xuất phát từ Cù Lao Bảo và Cù Lao Minh trong quận Giòng Trôm vào ngày 17-01-1960 mở đầu cho cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai (1960-1975).
Ở Nam Bộ có rất nhiều địa danh có chữ Giòng như Giòng Ông Tố, Giòng Gạch, Giòng Ông Khuê v.v. Giòng là vùng đất cao ít nước, Trôm là cây trôm. Có hai loại cây trôm:
1- Trôm hôi Sterculia foetida.
2- Trôm nhựa Sterculia hypochra.
Cả hai loại trôm nầy đều thuộc gia đình Sterculiaceae như cây cola, cây lười ươi hay gia đình Malvaceae như bông vải, cây gòn.
Thảo mộc thuộc gia đình Sterculiaceae đều có mùi hôi khó chịu. Theo tiếng La Tinh Stercus có nghĩa là "phân". Chử foetida trong tên khoa học của cây trôm hôi phản ảnh mùi hôi của nó. Người Anh gọi cây trôm hôi là Java olive ((ô-liu Java), Skunk tree (cây chồn hôi). Người Lào gọi là som hong.
Cây trôm hôi được tìm thấy nhiều ở Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân, Việt Nam, Ấn Độ. Ở Hoa Kỳ nó được tìm thấy ở Hawaii, Arizona. Cây trôm cao từ 15-25 m. Lá dày, dài và láng rất đẹp, cùng một cuống có 5 lá tụ lại thành hình ngôi sao. Hoa đỏ rất đẹp. Trái có vỏ dày. Bốn năm trái tụ lại tạo thành hình ngôi sao đỏ khi chín. Khi lớp vỏ cứng bên ngoài vỡ ra, bên trong có nhiều hột màu đen nhạt. Hột rất chắc và có nhiều dầu. Người ta dùng dầu trôm để thắp đèn. Hột trôm rang dùng để ăn. Gỗ trôm không cứng chắc nên không có giá trị trong ngành mộc. Nhưng cây trôm cho bóng mát và tạo cảnh đẹp cho vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới.
Hột trái trôm có ác xít sterculic, oleic, myristic, palmitic, tristerculin, tristearin, ác xít béo và glycerides. Hột trái trôm nhuận trường. Dầu trôm màu vàng nhạt có thể dùng như dầu ô-liu trong nấu nướng hay dùng để thắp đèn. Ở Cambodia người ta dùng dầu cây trôm làm mỹ phẩm. Bánh dầu dùng để trị ghẻ ngứa.
Cây trôm nhựa Stercularia hypochra có nhiều ở những vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới. Người Khmer gọi là Tlon. Tỉnh Biên Hòa là nơi có nhiều cây trôm nhựa. Hoa trôm nhựa màu vàng và có lông mịn. Trái hình trứng. Nhiều trái tụ lại thành hình ngôi sao như cây trôm hôi. Trái có vỏ ngoài rất cứng. Hột đen nhạt rất chắc. Hột có nhiều dầu. Thân cây trôm nhựa có nhiều nhựa. Khi dùng dao băm vào thân cây, nhựa tuôn ra. Nhựa đó là Gummis sterculiae hydrochae màu vàng nhạt dễ hòa tan trong nước. Khi ra không khí nhựa chuyển sang màu đen. Theo kinh nghiệm dân gian người ta dùng nhựa nầy để ăn cho mát cơ thể và để trị chứng tiêu chảy. Ở Phi Châu người ta dùng nhựa để trị tiêu chảy. Nó hữu dụng trong ngành nhuộm.

THỐT NỐT
Trước năm 1975 Thốt Nốt là một quận của tỉnh An Giang (tên cũ: Long Xuyên). Quận Thốt Nốt gồm có 9 xã. Đó là một trong những vùng nông nghiệp trù phú bên châu thổ sông Cửu Long. Thốt Nốt là quận tương đối "thái bình" trong cuộc chiến tranh vừa qua. Thốt Nốt có nhiều tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Về vị trí địa lý đó là trục giao thông bằng đường thủy quan trọng nối liền các tỉnh An Giang – Phong Dinh (Cần Thơ) – Châu Đốc – Kiến Phong.
Sau năm 1975 Thốt Nốt là một huyện trong tỉnh Cần Thơ. Huyện nầy cũng có 9 xã như trước.
Thốt Nốt âm từ chữ Thnot của người Khmer chỉ một loài thảo mộc giống như cây dừa. Nhựa của cây nầy được dùng để làm ra đường "thốt nốt" khác với đường mía.
Tên khoa học của cây thốt nốt là Borassus flabellifer thuộc gia đình Palmae (lá cọ) hay Arecaceae (dừa, cau).
Tên gọi của người Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha về thốt nốt luôn có chữ Palmyra. Palmyra là tên một thành phố cổ ở Syria gần thủ đô Damascus. Trong Thánh Kinh Do Thái thành Palmyra được biết dưới tên Tadmor.
Có phải chăng cây thốt nốt xuất phát từ Palmyra, Syria?
Hay Phi Châu như tên gọi African fan palm của người Anh?
Cây thốt nốt được tìm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, Mã Lai, Indonesia, New Guinea, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia. Có thể cây thốt nốt ở Đông Nam Á gốc Ấn Độ, nơi cây thốt nốt được gọi là TALTAR. Ở Miến Điện, Thái Lan âm Tan của chữ TAL (âm đầu của chữ taltar) được tìm thấy như tanabin (Miến) và tan-yai (Thái). Ở Mã Lai và Indonesia nơi ảnh hưởng ngôn ngữ và văn hóa của Ấn Độ rất đậm nét âm TAR (âm sau cùng của chữ taltar) được tìm thấy trong tên gọi LONTAR.
Ở Ấn Độ và Sri Lanka có nhiều đồn điền thốt nốt. Thốt nốt được xem là thiên thanh mộc vì có công dụng đa dạng. Người Việt Nam biết đến cây thốt nốt khi tiếp xúc với người Khmer vào thế kỷ XVII và XVIII.
Cây thốt nốt cao từ 20 - 25 m. Cây hao hao giống cây dừa. Tàu lá cũng hao hao giống tàu lá dừa. Tàu lá dài đến 2 - 3 m. Trái thốt nốt nhỏ chớ không to như trái dừa. Khi còn non nó có 3 cạnh vì mỗi trái có ba hột bên trong. Khi lớn trái có hình bầu dục. Cơm và hột trái thốt nốt đều ăn ngon.
Khác với cây dừa, cây thốt nốt chịu nắng hạn rất tốt. Cây có nhiều công dụng trong đời sống cư dân miền nhiệt đới và bán nhiệt đới như cây dừa vậy. Gỗ cứng màu đen đỏ, dùng làm nhà hay hàng rào. Miến Điện là quốc gia xuất cảng gỗ thôt nốt nổi tiếng. Lá thốt nốt dùng để lợp nhà, đan thúng rổ, nón, quạt hay chầm làm áo mưa. Ngày xưa người Indonesia và Khmer dùng lá thốt nốt làm giấy để khắc chữ viết để lưu văn kiện và tài liệu.
Nhựa cây thốt nốt dùng để làm đường hay cho lên men để làm ra rượu arrack hay làm giấm. Trung bình một cây thốt nốt có thể cho 350 trái mỗi năm. Mỗi cây cho 4 - 5 lít nhựa mỗi ngày suốt 200 ngày trong năm. Tàu lá phơi khô dùng để làm củi nấu nướng. Tàu lá có nhiều sợi. Người ta chẻ tàu lá tươi để làm dây cột hay bện thành dây thừng to và bền chắc.
Đường thốt nốt bổ hơn đường mía vì có nhiều glucose, sucrose, chất béo, chất sắt, chất vôi, phosphorus và sinh tố B.
Cây thốt nốt non dùng để trị kiết lỵ, làm rau. Rễ rất nhuận tiểu, lợi cho bộ hô hấp và khả năng diệt lãi trong đường ruột. Người ta đốt mo bông lấy tro để chữa bệnh gan và sưng lá lách. Vỏ cây thốt nốt sắc nước dùng để súc miệng. Nhựa lấy từ hoa thốt nốt rất bổ, nhuận tiểu, kháng khuẩn, tiêu đàm. Đường thốt nốt dùng để chữa viêm da.
Người Việt Nam trồng dừa nhưng không trồng thốt nốt và dùng đường mía chớ không dùng đường thốt nốt. Người viết bài nầy dành cho độc giả quyền suy luận để tìm hiểu cái tại sao của tiền nhân khi ở địa danh Thốt Nốt không có cây thốt nốt.

BẠC LIÊU
Bạc Liêu nằm về phía đông nam Nam Bộ cách Sài Gòn 280 cây số về phía nam. Vùng đất nầy hình thành trên bản đồ hành chánh vào năm 1735 do công lao của Mạc Thiên Tích. Vào thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, Bạc Liêu là một huyện của trấn Hà Tiên (Hà Trấn). Năm 1833 Hà Trấn được đổi thành tỉnh Hà Tiên. Dưới thời Pháp thuộc Bạc Liêu là một trong 21 tỉnh ở Nam Kỳ. Tỉnh Bạc Liêu có các quận: Giá Rai, Cà Mau, Thới Bình, Quản Long, Tân Bang, Năm Căn Đông và Tây, Vĩnh Châu. Năm 1956 quận Giá Rai sát nhập vào tỉnh Ba Xuyên (tên cũ: Sóc Trăng). Các quận còn lại nằm trong tỉnh An Xuyên.
Sau năm 1975 tỉnh An Xuyên được đổi thành tỉnh Minh Hải. Năm 1996 tỉnh Minh Hải được chia ra làm hai tỉnh:
1- Tỉnh Bạc Liêu (Bắc)
2- Tỉnh Cà Mau (Nam)
Tỉnh Bạc Liêu có 6 huyện: Đông Hải, Giá Rai, Hòa Bình, Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi. diện tích lối 2.500 km2. Đó là một tỉnh trù phú về lúa gạo, ngư sản. Bạc Liêu là nơi có nhiều người Việt gốc Hoa và người Khmer Krom sinh sống. Đó là chiếc nôi của Vọng Cổ Hoài Lang, là sinh quán của Công Tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973) nổi tiếng hào sảng nhất nước thời thuộc địa.
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.
Bạc Liêu âm từ tiếng Khmer Po-Loeuth có nghĩa là cây da to lớn. Tên khoa học của cây da là Ficus indica hay Ficus benghalensis cho thấy xuất xứ Ấn Độ và vùng Bengal của cây da.
Đó là một loại thảo mộc miền nhiệt đới và khí hậu đại dương được tìm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan, các nước Đông Nam Á, hải đảo Thái Bình Dương v.v... Cây da cao lối 25m, có nhiều nhánh nên cho bóng mát rất tốt. Gốc cây rất to. Ngoài rễ dưới đất nó còn có nhiều rễ treo trên cành và đâm thẳng xuống đất để trở thành một thân cây nhỏ khác. Những cây da cổ thụ ở Sri Lanka hay Ấn Độ có nhiều cây nhỏ bao quanh như một đám rừng vậy. Cây da cổ thụ ở Sri Lanka có 350 thân cây lớn với 3.000 cây thân nhỏ! Trong Vườn Bách Thảo Quốc Gia Kolkata ở Ấn Độ có cây da 300 tuổi và cho bóng mát trên một châu vi 1.000m. Cây da là quốc mộc của Ấn Độ. Lá cây da to, láng và dày. Trái tròn khi chín chuyển sang màu đỏ giống như trái sung. Cây da rất cần nước nên nó không thể mọc ở những vùng đất khô hạn.
Người Ấn Độ gọi cây da là bargad, banya. Nhiều nơi khác ở Ấn Độ gọi cây da là Vada. Tiếng Sanskrit gọi là bahupada. Có phải chăng chữ ĐA mà người Việt Nam gọi là âm cuối cùng của chữ VADA hay BAHUPADA? Người Anh gọi cây da là Banyan tree, Indian banya tree xuất phát từ chữ banya của Ấn Độ mà ra. Chữ banya không có nghĩa là cây cối gì cả mà có nghĩa là cửa tiệm hay thương nhân. Vì ngày xưa người Ấn Độ mở cửa tiệm dưới bóng mát của cây da để buôn bán. Ở nước ta có quán bà Bầu dưới gốc cây da nên trước năm 1954 ở Sài Gòn-Chợ Lớn có đường Da Bà Bầu (quán của bà Bầu dưới tàng cây da. Người Nam Bộ gọi là CÂYDA chớ không phải CÂY ĐA).
Y thư Ayurveda của Ấn Độ trân quí cây da. Lá, rễ, trái, rễ treo, nhựa cây da đều được dùng làm thuốc cầm máu trị xuất huyết, trĩ, binh về mật, đau âm hộ, ho, sốt, lở loét, ói mửa, viêm, phong hủi.
Nhựa được xem là bổ dưỡng, kích dục, giảm viêm, trị lâm lậu.
Rễ được dùng để trị giang mai, bịnh về mật, kiết lỵ, tiêu chảy, viêm gan.
Lá cây da lông tức lá tì bà dùng để trị ho và thủy thũng.
Ở Việt Nam dước gốc cây da thường có một cái miếu nhỏ thờ Thần. Từ đó có câu:
Thần cây da, Ma cây gạo, Cú cáo cây đề
Cây da cậy Thần
Thần cậy cây da.
Trong văn chương Việt Nam người ta thường mượn hình ảnh cây da đầu làng, cây da bến nước, cây da đầu đình để gợi tình hoài hương. Ca dao Việt Nam nói nhiều về cây da như:
Cây da cũ, con én rũ, cây da tàn,
Bao nhiêu lá rụng, em thương chàng bấy nhiêu.
Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò
Cây da bến cũ con đò khác đưa.
Cây da bến cộ còn lưa,
Con đò đã thác năm xưa tẽ rồi.
Trong chuyện cổ tích có chuyện Cây Da với Thằng Cuội tạo nguồn cảm hứng cho Lê Thương phổ nhạc. Vào thế kỷ XVIII Phạm Đình Hổ tức Chiêu Hổ (chiêu: cậu ấm, cậu chiêu, con của các tiến sĩ ngày xưa) cũng dựa vào cảm hứng nầy khi viết:
Khi nào trong thả lên cung nguyệt,
Cho cả cành đa với củ đa.
***
Dùng tên thảo mộc để đặt địa danh cho thấy tiền nhân chúng ta ý thức được tầm quan trọng của cây cỏ trong đời sống. Sự gia tăng dân số, nhu cầu xây dựng nhà cửa, các công trình lợi ích công cộng, việc phá rừng khai thác gỗ, làm củi, hầm than hay nới rộng diện tích canh tác, chiến tranh, bột hóa học khai hoang hủy hoại một số thảo mộc đáng kể trong nước. Các địa danh ghi trên không còn mang ý nghĩa ban đầu của chúng. Chiến tranh ma túy trên thế giới đua cây coca Erythroxylum coca, cây thẩu Papaver somniferum và cần sa Cannabis sativa vào nguy cơ tuyệt chủng. Nếu Jean Jacques Rousseau còn sống, ông vẫn giữ câu nói của ông:
"Tout est bien sortant de la main de l'auteur des choses. Tout dégénère entre les mains de l'homme."
Thảo mộc là sản phẩm Thiên tạo. Á phiện, cần sa, cocain là sản phẩm Nhân tạo.

Phạm Đình Lân. F.A.B.I.

Posted by sontrung at 6:27 PM No comments:
Labels: BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186
Newer Posts Older Posts Home
Subscribe to: Posts (Atom)

Sơn Trung's Blog

Văn Hóa Việt Nam - http://son-trung.blogspot.com/

Pages

  • Home

Contact us: by email

nguyengiahoi@netscape.net


sontrung@yahoo.com

Cùng tác giả

  • http://sontrung.blogspot.com/
  • http://vanhoavn.blogspot.com/
  • http://giahoithutrang.blogspot.com/

Bộ sách Văn Học Hiện Đại

  • Giới thiệu bộ sách
  • Hình bìa sách
  • Mục Lục
  • Sample1
  • Sample2
  • Sample3
  • CÁC ĐOẠN TRÍCH TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI TẬP 1
  • Video giới thiệu sách

HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE

  • HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE

Labels

  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 100 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 101 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 102 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 103 (24)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 104 (25)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 105 (23)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 106 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 107 (29)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 108 (24)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 109 (25)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 110 (21)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 111 (24)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 112 (25)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 113 (18)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 114 (22)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 115 (23)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 116 (24)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 117 (26)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 118 (28)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 119 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 120 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 121 (22)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 122 (20)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 123 (28)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 124 (27)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 125 (28)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 126 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 127 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 128 (29)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 129 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 130 (29)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 131 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 132 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 133 (23)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 134 (42)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 135 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 136 (18)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 137 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 138 (28)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 139 (29)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 140 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 141 (34)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 142 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 143 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 144 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 145 (34)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 146 (29)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 147 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 148 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 149 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 150 (35)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 151 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 152 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 153 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 154 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 155 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 156 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 157 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 158 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 159 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 160 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 161 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 162 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 163 (35)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 164 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 165 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 166 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 167 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 168 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 169 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 170 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 171 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 172 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 173 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 174 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 175 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 176 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 177 (34)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 178 (27)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 179 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 180 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 181 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 182 (35)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 183 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 184 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 185 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 186 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 187 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 188 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 189 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 190 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 191 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 192 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 193 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 194 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 195 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 196 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 197 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 198 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 199 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 200 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 201 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 202 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 203 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 204 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 205 (35)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 206 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 207 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 208 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 209 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 210 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 211 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 212 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 213 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 214 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 215 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 216 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 217 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 218 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 219 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 220 (42)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 221 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 222 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 223 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 224 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 225 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 226 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 227 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 228 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 229 (35)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 230 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 231 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 232 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 233 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 234 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 235 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 236 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 237 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 238 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 239 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 240 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 241 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 242 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 243 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 244 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 245 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 246 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 247 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 248 (34)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 249 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 250 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 251 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 252 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 253 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 254 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 255 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 256 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 257 (32)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 258 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 259 (60)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 260 (31)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 261 (33)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 262 (19)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 92 (15)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 93 (25)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 94 (24)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 95 (27)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 96 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 97 (30)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 98 (26)
  • BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 99 (30)
  • BẠCH THƯ BỘ NGOẠI GIAO CHXHCNVN NĂM 1979 (1)
  • BỘ SÁCH VĂN HỌC HIỆN ĐẠI (8)
  • HISTORY OF VIETNAMESE LITERATURE (1)
  • SƠN TRUNG THƯ TRANG (1)
  • SƠN TRUNG TRUYỆN KÝ * MÂY TRẮNG ĐẦU NON (4)
  • SƠN TRUNG TRUYỆN KÝ * RAU SAM NGOÀI VƯỜN (20)
  • SƠN TRUNG TRUYỆN KÝ * SÂN TRƯỜNG PHƯỢNG ĐỎ (19)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP (1)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP * CHÍNH TRỊ * XÃ HỘI (16)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP * SỬ HỌC (9)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP * TRIẾT HỌC * TÔN GIÁO (9)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP * VAN HOA - GIAO DUC (6)
  • SƠN TRUNG VĂN TẬP * VĂN HỌC (17)
  • TUYỂN TẬP THƠ SƠN TRUNG (4)

Blog Archive

  • ►  2013 (647)
    • ►  May (83)
    • ►  April (153)
    • ►  March (149)
    • ►  February (120)
    • ►  January (142)
  • ►  2012 (1259)
    • ►  December (126)
    • ►  November (97)
    • ►  October (106)
    • ►  September (73)
    • ►  August (107)
    • ►  July (128)
    • ►  June (100)
    • ►  May (106)
    • ►  April (87)
    • ►  March (98)
    • ►  February (99)
    • ►  January (132)
  • ▼  2011 (1102)
    • ►  December (101)
    • ►  November (97)
    • ►  October (82)
    • ►  September (82)
    • ►  August (108)
    • ▼  July (90)
      • TINH THẦN NÔ LỆ
      • BÙI TÍN * CÔNG AN CỘNG SẢN
      • KHOA HỌC * CÂY RẮN HỔ MANG
      • KHOA HỌC * TRÁI CHANH
      • HỒ ĐÌNH VŨ * ĐỊA DANH MIỀN NAM
      • BÀ MỘNG ĐIỆP
      • THI CA
      • NGUYỄN VĂN SÂM * GIỌNG NGÂM NGẬM NGÙI
      • VIỆT NAM & BIỂN ĐÔNG
      • LÀNG KIÊU KỴ
      • CHIẾN TRANH HOA VIỆT
      • THỰC PHẨM * BÁNH HỎI
      • LÊ QUẾ LÂM * BIỂN ĐÔNG
      • KHOA HỌC ĐIỆN TỬ
      • CUNG TRẦM TƯỞNG
      • THƠ TRÀO PHÚNG
      • NHỮNG TẤM HÌNH LỊCH SỬ
      • THƠ GỬI ĐIẾU CÀY
      • TRUNG QUỐC XÂM CHIẾM BIỂN ĐÔNG
      • BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC
      • PHẠM ĐÌNH TRỌNG * VĂN HÓA HÀ NỘI
      • TẠP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM SỐ 186
      • PHẠM ĐÌNH TRỌNG & ĐẢNG CỘNG SẢN
      • TRÁI CÂY MIỀN NAM
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • NGUYỄN CAO KỲ !
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • KISSINGER & TRUNG QUỐC
      • ĐẠT LAI LẠT MA
      • SỔ TAY TƯỞNG NĂNG TIÊN * MỘT KỶ NIỆM BUỒN
      • CÔNG MÚA
      • PHẠM HOÀI NAM *NHẬT BẢN & VIỆT NAM
      • TRẦN BÌNH NAM * CỘNG SẢN PHÁ HỌAI
      • ĐIẾU CÀY BỊ MẤT TAY
      • LS. LÊ THỊ CÔNG NHÂN * KÝ
      • VỀ ĐẢNG VIỆT TÂN
      • VĂN BÚT QUỐC TẾ
      • BÙI TÍN * VIET NAM & TRUNG QUỐC
      • ĐỖ TRUNG QUÂN *MỌC ĐUÔI SAM
      • TIN VIỆT NAM , TRUNG QUỐC & HOA KỲ
      • THỂ DỤC
      • LÊ DUY SAN * QUYỀN CỦA NHÂN DÂN
      • TIỂU ĐỆ * NGUYỄN PHÚ THỨ
      • TUYÊN CÁO VỀ BIỂN ĐÔNG
      • BÙI TÍN * TRUNG VIỆT
      • I HUY PHƯƠNG *CÁI ĐẦU GÀ
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • NGUYỄN QUỐC TRỤ * HIẾU CHÂN
      • HIẾU CHÂN * NHẤT LINH
      • MỸ DƯƠNG * CHUYẾN BẮC DU
      • TRẦN BÌNH NAM * PHI THUYỀN MỸ
      • HÌNH ẢNH VIỆT NAM TRONG NGÀY ĐỘC LẬP CỦA MỸ
      • TẠP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM 185
      • KHOA HỌC * CON NGƯỜI
      • GIAI CẤP VÔ SẢN
      • NGUYỄN VĂN SỞ * KINH NGHIỆM
      • TRẦN GIA PHỤNG * HỒ CHÍ MINH
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • NHẬT KÝ DƯƠNG THƯỢNG CÔN
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • CHIẾN TRANH TRUNG VIỆT
      • MỸ DƯƠNG * NƯỚC MỸ
      • KISSINGER & TRUNG QUỐC
      • DÂN TỘC VIỆT NAM CHỐNG CỘNG SẢN
      • THỰC PHẨM GIẢ
      • NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC
      • TRAN BÌNH NAM * ALASKA
      • SỔ TAY TƯỞNG NĂNG TIẾN
      • KHOA HỌC * ĐỐ NHỰA
      • TRẦN KHẢI THANH THỦY * VẾT MÃI TÊN NGƯỜI
      • VỀ NGUYỄN CHÍ THIỆN
      • TS.NGUYỄN PHÚC LIÊN * CHÍNH TRỊ VIỆT CỘNG
      • DƯƠNG THU HƯƠNG * CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
      • GIẢI PHÁP BIỂN ĐÔNG
      • PAKISTAN & MỸ
      • ARTIOM IVANOVSKI * TRUNG QUỐC
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • TRÌ HẠO ĐIỀN * VŨ KHÍ CỦA TRUNG QUỐC
      • PHẠM VĂN ĐỒNG BÁN NƯỚC
      • NGUYỄN HƯNG QUỐC * NAM & BẮC
      • JORDAN CHITTLEY * THÀNH PHỐ MA
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • MICHAEL SCHUMAN * TRUNG QUỐC
      • TẠP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM 184
      • TS VŨ DUY PHÚC * TRUNG CỘNG
      • TIN BIỂN ĐÔNG
      • PEOPLE AROUND THE WORLD
      • ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
      • KHIẾM DANH * TUỔI GIÀ
      • VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI TỰ DO
    • ►  June (100)
    • ►  May (76)
    • ►  April (69)
    • ►  March (94)
    • ►  February (81)
    • ►  January (122)
  • ►  2010 (1310)
    • ►  December (134)
    • ►  November (106)
    • ►  October (134)
    • ►  September (85)
    • ►  August (139)
    • ►  July (129)
    • ►  June (108)
    • ►  May (135)
    • ►  April (74)
    • ►  March (104)
    • ►  February (73)
    • ►  January (89)
  • ►  2009 (671)
    • ►  December (70)
    • ►  November (104)
    • ►  October (36)
    • ►  September (34)
    • ►  August (19)
    • ►  July (22)
    • ►  June (46)
    • ►  May (70)
    • ►  April (66)
    • ►  March (79)
    • ►  February (68)
    • ►  January (57)
  • ►  2008 (267)
    • ►  December (38)
    • ►  November (32)
    • ►  October (49)
    • ►  September (56)
    • ►  August (92)

Total Pageviews

Sparkline

Bravenet Hit Counter

About Me

My Photo
sontrung
Văn Hóa Việt Nam - http://son-trung.blogspot.com/
View my complete profile

Google Analytics

http://www.google.com/analytics/
Travel template. Powered by Blogger.