Wednesday, June 29, 2011

NGUYỄN ĐỒNG DANH * BÙI DUY TÂM




Bùi Duy Tâm và Tôi

Năm 1964 ông Bùi Duy Tâm từ Mỹ trở về Sài gòn, sau khi hoàn tất học vị Tiến sĩ Y khoa và Tiến sĩ Sinh hoá (Biochemistry). Đầu tiên ông Tâm dạy tại Đại học Y khoa Sài gòn, sau đó ông ra Huế làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế cho đến cuối năm 1972.
Ông rời Huế về Saigon để làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Minh Đức.

Dạo đó tôi đang làm Hiệu trưởng một trường trung học tại Saigon, cho nên nói về nghề nghiệp, thì tôi với ông cũng là … đồng nghiệp.

Vào năm 1972 ông Tâm cho mở một trung tâm huấn luyện bóng bàn dành cho thiếu nhi trong tòa nhà khánh tiết tại Vận Động Trường Cộng Hòa Sàigòn. Tòa Đại Sứ Tây Đức viện trợ 10 bàn đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các em thiếu nhi đến tập dượt không phải trả tiền muớn bàn, mà còn được cấp banh, và nước uống. Ông Tâm cũng xin Bộ Thanh Niên biệt phái danh thủ Mai Văn Hòa và Vũ Đình Nhạc đến chỉ bảo huấn luyện cho các em.

Nhà tôi ở đường Triệu Đà (đối diện với nhà ông Trang sĩ Tấn, nguyên giáo sư trung học, nguyên Chuẩn tướng Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành Saigon). Từ nhà tôi đi bộ đến sân vận động Cộng Hoà chỉ có năm mười phút, cho nên vào những buổi chiều, tôi thường xách vợt đến đó chơi ké với các em thiếu nhi.
Từ đó tôi có dịp quen biết giáo sư Tâm, vì thỉnh thoảng sau giờ dạy tại đại học Y khoa Saigon, ông Tâm cũng thường lái xe ghé qua để theo dõi sinh hoạt trung tâm bóng bàn.

Quen biết nhau chưa được mấy năm, thì xảy ra biến cố 30 tháng 04, giáo sư Tâm và tôi không hẹn mà gặp trong trại tù cải tạo Trảng Lớn (tỉnh Tây Ninh). Chúng tôi ở trong L3/T2 tức là Trung đoàn 3 Tiểu đoàn 2. Bên kia hàng rào là Tiểu đoàn 1, có luật sư kiêm ca sĩ Khuất Duy Trác, mỗi chiều thường chỉ huy đội hợp ca Tiểu đoàn hát bè các bài nhạc cách mạng.


Bên này hàng rào, chúng tôi cũng không thiếu nhân tài. Có giáo sư Đặng thông Phong (chưởng môn Hapkido ở Việt nam), gs Vũ Đình Lục (dạy toán Võ bị Đà lạt), gs Bùi Duy Tâm (khoa trưởng Y khoa Minh Đức), Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt nam Lê Quang Uyển, hoạ sĩ Trịnh Cung Nguyễn văn Tiến, Phan Hải cháu ruột của Phan Mạch (Chủ nhiệm văn phòng Thủ tướng Phạm văn Đồng) và người bạn thân của tôi là giáo sư Phan Đình Hoài (Hoài là cháu ruột của ba ông lớn (Không dùng từ này): Lê Đức Thọ Phan Đình Khải, Mai Chí Thọ Phan Đình Đống và Đinh Đức Thiện Phan Đình Dinh).

Mấy tháng đầu trong tù, chúng tôi chỉ lo đào giếng, cắt tranh lợp nhà, xây cất hội trường và lao động trồng rau xanh. Dự tính đi học 10 ngày rồi về, mà chẳng thấy học hành gì cả.
Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, giáo sư Bùi Duy Tâm rũ tôi đi dạo chơi như thường lệ. Chúng tôi đi luồn lách giữa các vườn rau xanh. Khi chỉ còn có hai đứa, giáo sư Tâm khẻ nói: Moa sẽ về trong một hay hai tuần nữa, moa có vài lời khuyên toa



Bùi Duy Tâm khấu đầu trước lũ Việt cộng



- Thứ nhất, hãy tập nhịn ăn. Trưóc kia ăn ba bát cơm thì nay tập ăn hai bát hoặc ít hơn, bên ngoài người dân cả nước còn đói, huống chi bọn tù như mình.
- Thứ hai, hãy tập nhịn nói, vì trong tù đầy rẫy bọn ăn ten. Càng nói nhiều càng mang hoạ vào thân.
- Thứ ba, toa hãy ráng giữ gìn sức khoẻ, giữ vững tinh thần, để chờ ngày về với gia đình. Có thể toa sẽ phải học tập trong hai ba năm hay lâu hơn nữa. Hãy giữ vệ sinh để tránh bệnh tật. Ở đây mắc bệnh thì chỉ có chết.

Tôi ngạc nhiên về những thông báo của anh, làm sao anh biết anh sẽ về, làm sao anh biết tôi sẽ học tập trong vài ba năm.
Giáo sư Tâm cho biết trước ngày mất miền Nam, anh có viết một dự án xin nước Pháp tài trợ và trang bị một phòng thí nghiệm y khoa, một thư viện cho đại học Minh Đức và Pháp đã chấp thuận. Bây giờ “Cách mạng” cần anh về để làm thủ tục nhận lãnh các quà tặng này. Giáo sư Tâm cũng cho biết trong gia đình anh có một người thân làm lớn trong chính quyền mới, người này đã báo cho anh biết rõ chính sách và thời gian cải tạo “ngụy quân ngụy quyền” và cũng chính người thân này đã “đứng tên” giùm nhà cửa, xe ô tô của anh trước khi anh đi trình diện học tập.

Quả thật, đúng hai tuần sau, giáo sư Tâm xách hành trang cá nhân lên trình diện Tiểu đoàn. Anh chỉ kịp dúi cho tôi một bao thuốc tây gồm một ít thuốc cảm, thuốc ho và kiết lỵ là những thứ tối cần cho người tù cải tạo.

Ba năm sau, tôi được tạm tha trở về thành phố mang tên Bác. Tôi gặp lại giáo sư Tâm đi dạy đại học Nha Y Dược. Anh mặc áo sơ mi trắng, bỏ bên ngoài chiếc quần tây màu cứt ngựa. Anh cỡi xe đạp đến trường, vai mang xắc cốt, trông không khác gì một anh cán ngố miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Mấy năm sau, khi đã định cư ở Úc, tôi lại nghe nhiều tin giật gân về giáo sư Tâm. Anh đã định cư ở Hoa kỳ. Anh leo lên núi Mont Blanc cao hơn 4800 mét và là người Việt nam đầu tiên lên Bắc cực (có giấy chứng nhận của Cơ quan Quản lý Bắc cực). Anh còn ra vào Việt nam nhiều lần để môi giới bán giúp (Không dùng từ này) Việt nam kho đạn Long Bình. Rồi giáo sư Tâm đi biển Đồ sơn chơi với nữ văn sĩ Dương Thu Hương và bà Hương đã thu băng những lời “hàn huyên” của ông Tâm. Chính nhờ những cuồn băng này mà bà Dương thu Hương không bị (Không dùng từ này) Việt nam “thủ tiêu”.

Đến đây tôi xin mời độc giả xem trích đoạn bài văn do chính bà Dương thu Hương viết:
“Trời đã giúp tôi thành công. Trong chuyến đi chơi Sông Ðà với các ông Bùi Duy Tâm và Bùi Duy Tuấn, tôi đã mất 3 cuốn băng ghi toàn những chuyện ba hoa, hươu vượn. Nhưng vào đoạn chót của cuốn băng thứ 4 ông Tâm đã thú nhận: Anh đã cho Dương Thông rất nhiều tiền (Dương Thông là Trung tướng Công an).
Sau chuyến đi đó chừng vài ngày, họ bắt tôi . Trong thời gian ấy tôi đã kịp sao băng ghi âm ra vài bản, gửi ra 3 nước: Pháp, Tiệp và Mỹ.

Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, đặc biệt là bà Daniel Mitterand và phong trào nhân quyền thế giới, ngày 20/11 họ buộc phải thả tôi ra, sau gần 8 tháng giam giữ không xét xử. Lúc đó ông Bùi Thiện Ngộ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông Ngộ cử thiếu tá Sơn tới gặp tôi :
- Theo đúng pháp luật thì chị có quyền kiện Nhà nước. Nhưng Bộ trưởng muốn tìm một khả năng mềm dẻo hơn có lợi cho cả 2 bên.
Tôi cười . Tôi hiểu cái sự kiện tụng ở xứ sở này ra sao . Tôi yêu cầu cuộc thanh toán với Dương Thông. Bộ Nội vụ chấp thuận.

Vào mùa Xuân năm 1992, đại diện của Bộ Nội vụ là ông Bùi Quốc Huy (tức Năm Huy) - Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tiếp tôi có sự tham gia của Ðại tá Nguyễn Công Nhuận, người ký lệnh bắt và phụ trách nhóm người tra hỏi tôi trong nhà giam. Trong cuộc gặp này, tôi nói :


- Tôi hiểu rất rành rọt tôi đang chơi trò trứng chọi đá. Bởi thế, lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết của tôi . Tuy nhiên, tôi lại không ưa chết một mình. Nên tôi cũng trù liệu để sau cái chết của tôi, ít nhất cũng phải có dăm bảy đứa khác phải chết theo để tiếp tục chiến đấu dưới âm phủ, nếu không dưới đó rất buồn. Tôi có vũ khí của tôi.

Trong tay tôi có 2 cuộn băng ghi âm. Cuộn thứ nhất liên quan tới một trong những kẻ tạo dựng ra Nhà nước này, sư tổ của những người như ông. Nó tố cáo nhân cách một trong các bậc lương đống của triều đình chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân. Cuộn thứ 2, chắc ông cũng đoán được, ghi lại cuộc nói chuyện của ông Bùi Duy Tâm với tôi, trong đó ông Tâm khẳng định là đã cho ông Dương Thông rất nhiều tiền.

Đấy hẳn là món thù lao cho việc ông Dương Thông đã 2 lần cứu ông Tâm ra khỏi trại giam, thêm nữa, đón rước ông Tâm đi tới tất cả những lầu cao thềm rộng từ dinh cơ bà Nguyễn Thị Ðịnh tới Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, từ nhà riêng các vị chóp bu Nhà nước xuống tới đám quan chức kề cận, để bàn định những đại sự như bán kho vũ khí Long Bình, bán dầu thô và những nguyên liệu khác... Như vậy tôi có trong tay bằng chứng về người tiền nhiệm của ông, gương mặt tiêu biểu cho quyền lực của chế độ này.

Hai băng ghi âm đó đã được chuyển tới 3 nước: Pháp, Tiệp, Mỹ. Nếu các ông đủ lực xin cứ việc truy tìm. Nhưng tôi không tin điều ấy. Các ông không có tiền. Nhân viên sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đơn thuần là bọn buôn lậu, quay cuồng trong cơn lốc cóp nhặt đô la . Ở nước ngoài, các ông bất lực. Còn ở đây, các ông có thể tổ chức tai nạn xe máy để kẹp chết tôi, có thể đầu độc tôi, có thể làm bất cứ một điều gì khác nữa nhưng vào thời điểm tôi chết, chắc chắn phải có kẻ đồng hành. Không tức thời, nhưng sớm hay muộn cũng sẽ có. Và thêm nữa, những người thân của tôi ngoài biên giới sẽ lần lượt công bố các cuốn băng kia.


Cả 2 người đàn ông lặng thinh rồi một người mở chai nước, một người mời tôi ăn nho . Họ hỏi tôi về sức khoẻ, con cái, nhà cửa ... làm như là một cuộc tán gẫu giữa mấy người hàng xóm. Tuy nhiên, tôi chẳng phải là một đứa bé nên tôi hiểu cái thái độ người thường gọi là: đánh trống lảng... ấy . Bất cứ kẻ đạo đức giả nào cũng sợ sự thật. Tất thảy mọi quốc gia, mọi thể chế đều có bọn đạo đức giả. Nhưng chắc chắn, không ở đâu con người buộc phải trở thành đạo đức giả như ở đây, một xứ sở mang xiềng xích của 2 thể chế: Phong kiến và CS.

Trước khi về, tôi nói thêm :
Xin nhắc lại rằng, tôi đứng trước guồng máy của các ông chỉ là trứng chọi đá. Nhưng vì đã dấn thân vào cuộc chơi này, tôi bắt buộc phải học lấy vài món nghề của các ông. Vậy, các ông theo rõi tôi, tôi cũng theo rõi lại các ông. Tôi biết ông (Năm Huy) thường uống rượu ở đâu, chơi gái ở đâu . Trong hội Quý Mùi (những người sinh năm 1943) ông vẫn tụ họp với những ai và đem theo loại rượu nào. Thành thực mà nói, trên phương diện này, đôi khi trứng còn mạnh hơn đá.

Các ông rất nhiều tiền, các ông thèm khát sống, thèm uống rượu Tây, thèm chơi gái, thèm xây nhà lầu ... Tôi là kẻ phá sản, tôi không uống rượu cũng không chơi điếm, tôi có thứ sức mạnh mà sư tổ của các ông thường vẫn gọi "sức mạnh của giai cấp vô sản". Riêng về luận điểm này, tôi thấy Mác đúng. Bởi vì, nói một cách sòng phẳng, với tất cả những thèm muốn ấy các ông sợ chết hơn tôi”. (Hết trích).

Đọc qua đoạn văn trên của bà Dương thu Hương, tôi quả thật nể nang giáo sư Tâm. Từ một người tù cải tạo, anh giao du với Bộ Trưởng Công an VC. Anh dùng đô la Mỹ để mua chuộc và lèo lái cái đám lãnh tụ Bắc Bộ phủ vào quỷ đạo của anh.
Cũng may nhờ cơ duyên gặp gỡ anh, mà bà Dương thu Hương đã có được những cuồn băng ghi âm quý giá. Những cuồn băng này đã giúp bà Hương tránh được cái chết (vì tai nạn giao thông như bà Nông thị Xuân, vợ bác Hồ) và được định cư tại Pháp quốc.
Ngày xưa trong tù, giáo sư Tâm đã khuyên tôi ba điều: nhịn ăn, nhịn nói và giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay, tôi chỉ dám nhắc nhở ông Tâm một điều “tên anh là Duy Tâm, xin anh hãy cẩn trọng khi giao du với những con người Duy Vật”.

Nguyễn Đồng Danh.



NHỮNG TÊN TÔI TỚ CHO NGOẠI BANG

Ðể trả lời Bộ Nội vụ và báo công an TP Hồ Chí minh

Nhà văn Dương Thu Hương

Từ khoảng hơn một tháng nay, khởi đầu là báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là một vài báo khác dấy lên một chiến dịch thoá mạ chửi rủa tôi, nhà văn Dương Thu Hương. Với tôi, không có gì mới la Từ hơn một thập kỷ trước, tháng 4 năm 1991, khi họ bắt tôi; họ cũng đã chẳng tuyên bố trịnh trọng trên mọi phương tiện truyền thông, báo, radio, télévision... rằng tôi là gián điệp, bán tài liệu bí mật của quốc gia cho ngoại quốc, sống đồi truỵ, làm tình trên cạn dưới nước với Việt kiều Bùi Duy Tâm... Lần này, sự vu khống và bôi nhọ cũng không có gì mới lạ hơn, nó vẫn là những thủ thuật quen thuộc của Nhà Nước Cộng Sản.

Vả chăng, trong lịch sử bốn ngàn năm (Cứ tạm cho là điều đó có thật) hoặc cứ giả định một con số khiêm tốn hơn : Ba ngàn sáu trăm năm chẳng hạn, triều đình Cộng sản là triều đình duy nhất cho tới nay, dạy cho con gái con dâu vu khống bố hiếp dâm, dạy con trai chỉ vào mặt bố "đả đảo thằng bóc lột", dạy cho láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dày xéo mồ mả của nhau ... vào những năm 1953, 1954 và kéo tới mùa Xuân năm 1955.


Tất cả những ai chưa hoàn toàn quên lãng, hẳn hiểu rõ điều đọ Khi con người đã đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ của mình thì họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần như thế với tha nhân, huống chi với tôi, người đấu tranh cho chế độ dân chủ, đương nhiên tôi là kẻ thù nằm ngay trên bia ngắm của ho Một số người hỏi tôi :




- Tại sao bài báo "Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen" đã được phát tán trong nước, đưa lên internet, in ở báo ngoại kiều từ ba năm trước mà bây giờ chúng nó mới đánh cô ?

Xin thưa:

- Tôi không phải là kẻ cầm quyền nên tôi không thể trả lời đích xác động cơ hành động của họ. Nhưng theo suy đoán, việc này nhằm hai mục đích. Thứ nhất, sau đám tang Tướng quân Trần Ðộ, dư luận dấy lên một làn sóng bất bình, làn sóng này càng lan truyền rộng lớn đến cả những người còn đang bảo vệ Ðảng Cộng Sản, còn giơ tay tán thành kỷ luật anh Trần Ðộ cũng phải lên tiếng chửi rủa nhà cầm quyền là kẻ đểu cáng, táng tận lương tâm. Vì thế, việc tạo ra một cái bia mới để chuyển mục tiêu công luận, lái sự chú ý của đám đông sang hướng khác là việc họ tính đến trước tiên. Thứ hai là, sau vụ bắt Nguyễn Vũ Bình, dư luận xôn xao vì những người đấu tranh cho dân chủ ngày càng trẻ (Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn đều thuộc những thế hệ đi sau thế hệ của tôi). u Huong


Ðặc biệt là khả năng phê phán quá khứ một cách triệt để của họ (Nguyễn Vũ Bình vốn là nhà báo, biên tập viên, làm việc tại tạp chí Ðỏ nhất Việt Nam: Tạp chí Cộng Sản (Sự Thật cũ), chắc hẳn nhà cầm quyền cảm thấy những đợt sóng rung rinh xung quanh họ, họ thấy nhất thiết phải biểu thị uy thế như một hình thức Răn Ðe và họ chọn tôi để Dương oai diễu võ (chứ không Diễu võ dương oai như thông lệ ).

Bài "Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen", lẽ ra, họ phải đăng lên một cách đàng hoàng, đầy đủ rồi sau đó muốn mổ xẻ, băm vằm, chửi rủa kiểu gì cũng được... Nhưng theo thói quen trùm chăn đánh lén của chính quyền Cộng sản, họ trích đoạn, xào xáo xiêu vẹo, theo kiểu tay kéo của người dựng phim nhằm tạo nên một hiệu quả theo chủ ỵ Nhưng thôi, đòi hỏi Nhà Nước CHXHCN Việt Nam chơi đàng hoàng đúng luật biết tự trọng và liêm sỉ thì cũng hoang tưởng như tin chủ nghĩa cộng sản khoa học của ông Lênin vậy . Bây giờ, tôi xin trở lại vấn đề chính:

Ai ?...Họ là ai ?...Những tên tôi tớ cho ngoại bang?...

Trước hết chúng ta phải thẩm định danh từ : Tôi tợ Có hàng chục danh từ họ hàng gần gũi với quan niệm này, nhưng tựu trung, một ý nghĩa giản đơn mà mọi người đều hiểu rằng tôi tớ là lớp người phải thực hiện những công việc mà người trả tiền cho họ yêu cầu . Thế nên tôi tớ của chủ đất thì phải cày bừa gặt hái; ô-sin chốn thị thành phải quét dọn, cơm nước, chợ búa; bồi phòng thì phải thay ga, trải đệm, lau giường... Ðó là một lớp ngưòi cần phải kiếm sống bằng những lao động chân tay giản đơn, họ cần xã hội và xã hội cũng cần tới ho Theo nghĩa thứ hai, có tính tiêu cực (négatif) tôi tớ là loại người không được quyền nghĩ, không được quyền nói theo ý mình, nhất nhất mọi thứ phải xử sự theo ý chủ, và vì sống trong tương quan đó, họ thường có thói quen săn đón ý chủ, nịnh bợ ton hót chủ và dèm pha những đồng nghiệp - những người cạnh tranh miếng cơm với ho Nói vắn tắt: Ðối với những kẻ có tâm hồn tôi tớ, chủ là Thượng đệ Bởi Thượng đế ban phát cho họ chức tước hoặc tiền và tất thảy những thiết yếu có thể mua bán được với hai giá trị cá cược ấy .

Theo kiểu nhào trộn cả hai ý nghĩa trên, và cố lùa ghép cho vừa lòng những kẻ đã gọi tôi là Tôi tớ, thì rất có thể tôi sẽ là tôi tớ cho hai người . Một người Việt. Một người áo . Cả hai đều đã chết. Vậy tôi là tôi tớ của hai hồn ma .

Hồn ma thứ nhất, ông Dương Ðình Châu, bố tôi. Bố tôi dạy tôi là: "Con người có thể mất hết mọi thứ, kể cả mạng sống, trừ danh dự. Danh dự bao gồm tinh thần trách nhiệm, lòng chung thuỷ và sự trung thực". Bố tôi cho tôi vào cõi người năm Bính Tuất, năm nay gần sáu mươi tuổi, tôi vẫn sống trong quỹ đạo của nguyên tắc ấy . Chỉ có điều tiêu chí của nó đã được tôi thay đổi . Xưa kia, bố tôi cho rằng : "Bỏ chồng là điểm nhục gia phong..." thế nên bằng mọi cách ông bắt ép tôi phải quay về với người chồng cụ Và dù tôi đã thành nhân, đã có hai đứa con, đã thành người viết văn, đã kiếm được tiền để thêm vào nuôi ông và gia đình, bởi lương hưu của ông rất thấp, bố tôi vẫn bắt tôi quỳ gối quay mặt vào tường, rồi làm kiểm thảo đọc trước mặt ông và họ hàng... những cuộc kiểm thảo kéo dài hơn hai năm, liên miên, không mệt mỏi . Phải qua một thời gian tranh đấu quyết liệt với tất cả mọi người, tôi mới tìm thấy tiêu chí của tôi: "Sống dưới một chế độ bạo tàn ngu muội mà cam tâm ngậm miệng ăn tiền cúi đầu quỳ gối là điểm nhục gia phong, là kéo lê một sinh tồn vô nghĩa ."

Như vậy, tôi giữ nguyên nguyên tắc chỉ đạo (principe directeur) và thay đổi tiêu chí (devise). Tôi là tôi tớ 2/3 hay 1/2 theo nghĩa tôi tớ đối với bố tôi .

Hồn ma thứ hai, Karl Raimund Popper. Tôi chưa có điều kiện để đọc toàn bộ tác phẩm của ông. Tôi mới chỉ đọc hai cuốn :

- Tương lai rộng mợ (L'avenir est ouvert - Conversation au coin du feu entre Konrad Lorenz et Kert Raimund Popper) - Bản tiếng Pháp

- Biện chứng là gì ? - Tiếng Việt, dịch từ bản tiếng Nga .

Và mới đọc gần đây, nhưng ngay lập tức, tôi hiểu chúng đã cho tôi những tư tưởng cốt lõi mà bất cứ muốn làm khoa học hay nghệ thuật đều phải coi như điểm tựa:

Popper viết :

"... Chúng ta cần phải hiểu rằng chúng ta hầu như chưa biết gì hết về thế giới và về con người ..."

Và :

"... Không một lý thuyết nào có thể đóng vai trò thiết lập trật tự thế giới, chuẩn bị cho con người đi tới những sự kiện tương lai hoặc thu hút sự chú ý của chúng ta vào những sự kiện mà nếu không có lý thuyết ấy, chúng ta không thể nào học được cách quan sát chúng cả ."

Ngay tức khắc, các ý tưởng trên cho tôi thấy thảm hoạ của những ý thức hệ gieo rắc cho loài người . ở nơi nào, những hệ tư tưởng tự cho phép chúng là kim chỉ nam cho tương lai nhân loại, là thứ duy nhất đúng để dẫn dắt "con người tới một ngày mai tươi sáng "... ở đó, cuộc sống đích thực của con người phải diệt vong. Vậy, tôi có thể tự nhận là tôi rất sùng bái các ý tưởng trên. Bởi tôi nghĩ các ý tưởng đó phải xuất phát từ một ý thức trách nhiệm cao cả trước sinh mệnh của nhân quần. Và tính thận trọng, sự khiêm nhường trong các tư tưởng ấy phản chiếu một tâm hồn thánh thiện...

Thôi được, cứ cho tôi là tôi tớ của Popper, vậy những người đặt cho tôi cái biệt danh Tôi tớ ấy, đã có lúc nào tôi hỏi: Liệu họ có phải là Tôi tớ cho kẻ ngoại bang nào đó, cũng mắt xanh mũi lõ như Popper nhưng còn rậm râu hơn. Và họ đã tự nguyện làm Tôi tớ cho ngoại bang từ trước tôi rất lâu, đám Tôi tớ ngu ngơ hoặc láu cá trung thành với ông chủ râu xồm đã hơn một nửa thế kỷ, mở mồm ra là phun đầy ông Các, ông Lê nhưng trong thực tiễn thì chẳng hiểu hai ông thánh tông đồ râu xồm trán hói ấy viết gì cạ (Tiện đây, xin nói rằng ông Kiến Giang cùng Tướng quân Trần Ðộ đã nhiều lần nói chuyện với tôi về thứ Chủ nghĩa Mác-Lênin nhãn bò Levis ấy . Cả miền Bắc XHCN may lắm có chừng 5 hay 6 người đủ kiên trì và đầu óc để đọc trọn bộ các tác gia đó - trong đó, ông Kiến Giang là một. Bởi ông là một trong những người say mê CNCS và lại lãnh đạo một nhà xuất bản của Ðảng. Còn tất thảy những bộ sách đã in ra là để trang trí cho thư viện và tủ sách của các quan lớn. Xin cứ thử kiểm tra . Nhiều cuốn còn chưa rọc).

Nền văn minh chung của nhân loại là một đại lộ mênh mông, không ngừng xáo động. Bất cứ dân tộc nào không muốn bị rớt lại phía sau cũng phải tìm cách hội nhập vào đọ Tích hợp với nền văn minh chung và đồng thời gìn giữ sắc thái riêng của văn hoá dân tộc mình, ấy là hành trình tất yếu của mọi quốc gia . Tôi chỉ e rằng, có những xứ sở mà kẻ lãnh đạo cố tìm mọi cách trấn ải những lối rẽ vào đại lộ của nền văn minh chung, để giam cầm dân chúng trong sự ngu dốt lẻ loi, để nhét vào đầu họ những thứ lý thuyết lỗi thời đã bị thải vào bãi rác quá khứ, duy trì dân chúng trong sự sợ hãi, và tình trạng cô lập tinh thần, và với tất cả những yếu tố ấy, để chúng mặc sức bóc lột họ và tàn phá tài nguyên quốc gia . Không phải ngẫu nhiên mà người ta đã thống kê: ở những xứ nghèo đói, dưới các thể chế độc tài, những hầm mỏ, rừng rú, thềm đại dương... là những nơi tiềm chứa tài nguyên thường bị phá huỷ một cách có tính toán và thành hệ thống để cướp bóc vội vã những khoản tiền lớn chuyển ra nước ngoài .

Bây giờ, tôi xin trở lại chủ đề chính : Những kẻ tôi tớ.

Ðể minh hoạ cho đề tài này, tôi xin kể vắn tắt một sự kiện, bởi người Việt không ưa tư duy trừu tượng, họ thích những hình ảnh cụ thể, những chi tiết có thể cảm nhận dễ dàng

Năm 1989, Ðại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 4 diễn ra tại Hội trường Ba Ðình. Trước khi họp chính thức, có hai ngày họp thự Ngày thứ nhất họp đảng viên. Ngày thứ 2, các nhà văn ngồi nghe huấn thi Trong các bậc rường cột quốc gia lên dạy dỗ đám trí thức mặt mũi xanh xao kia, có Trung tướng Dương Thông. Như nhiều người biết ông Dương Thông là biểu tượng của quyền lực Cộng sản, của một Nhà nước công an tri Một tay ông Dương Thông tống bao nhiêu nhân mạng vào trại tù (cho cả 2 phong trào: Nhân văn giai phẩm và Xét lại cũng như những nhóm nhỏ lẻ bị tình nghi là : Không trung thành...). Một tay ông Dương Thông lên danh sách bao nhiêu văn nhân tài tử làm mouchard làm chỉ điểm cho Tổng cục 1, từ loại nhận quà hàng năm tới loại được cấp lương theo tháng và theo quý ? ... Chỉ Trời mới biết. Vào ngày đó, ông lên dạy bảo các văn nhân rất nhiều điều: Tình hình thế giới, tình hình trong nước, tinh thần cảnh giác cách mạng, sau rốt ông răn đe: Ðã có nhiều biểu hiện tha hoá trong đám văn nghệ sĩ, và chúng tôi biết đã có kẻ nhận tiền của Việt kiều . Lực lượng an ninh sẽ không dung thứ .v.v... Tới đó tai tôi ù lên vì tức giận. Tôi bảo mấy người ngồi cạnh :

- Ðứng lên hỏi lão ta xem đích danh ai là kẻ nhận tiền của Việt Kiều ? ... Lão không thể đứng trên bục mà xỉa xói cả 500 con người như vậy ... Nếu không trả lời được thì anh em ném guốc dép lên.

Tất cả đám lắc đầu quầy quậy .

Sẽ có người hỏi :

- Tại sao chính bà không đứng lên hỏi mà lại ngồi dưới xui kẻ khác?

Tôi xin đáp :

- Nếu vậy, hẳn là mọi sự đã kết thúc chóng vánh dễ dàng. Tôi sẽ đứng lên chất vấn đối đáp và trả lại miếng đòn xỉ nhục tức khắc rồi hạ hồi ra sao thì sẽ tính sau ... Nhưng tiếc thay lúc ấy tôi đang ăn bánh gateau . Tôi đói . Chúng tôi rủ nhau tán gấu qua bữa cơm trưa . Và thế là tôi đành mang bánh ngọt vào hội trường... Lúc ấy xui mọi người không được, tôi chạy ra phía sau nơi đặt thùng nước uống để chiêu miếng bánh. Xong việc chạy vào, Tướng Dương Thông đã xuống bục, lui vào phía sau hội trường.

Giờ giải lao, những nhà văn già ứa nước mắt bảo tôi :

- Chúng tôi đã đánh mất cả cuộc đời đi đánh Pháp. Ðánh bọn thực dân da trắng mũi lõ để rồi để bọn thực dân nội địa , da vàng mũi tẹt nó nhục mạ bây giợ

Những nhà văn già héo hắt ấy tôi nhớ nguyên dáng vẻ và những khuôn mặt vừa đau đớn, vừa khiếp nhược của họ tới tận bây giờ

Sau hội nghị Nhà văn, tôi tìm cách báo thụ Vô cùng khọ Tôi không biết đánh nhau, không biết bắn súng, không được dạy dỗ để trở thành thích khách. Năm 1990, tôi gặp ông Bùi Duy Tâm, do một sự tình cờ như trời xui đất khiến. ông Tâm nói với ông Trần Văn Thuỷ rằng vào ngày hai người có hẹn, ông sẽ phải tới nhà ông Dương Thông để ăn cơm, rằng gia đình ông đi Ðồ Sơn tắm biển và ông Dương Thông sẽ cho xe riêng đón họ trở về, bởi thế cái hẹn đành hoãn lại . Trong giây lát tôi hiểu ông Bùi Duy Tâm là cơ hội trời cho tôi, giúp tôi trả thù cho một đám đông bị nhục mạ - và những người gọi là trí thức XHCN thường được nếm sự nhục mạ như thế dưới mọi dạng thức, trong một chế độ mà dù tuyên bố hay lặng im họ cũng chỉ coi Trí thức như Cục cứt - theo định nghĩa của người cầm lái vĩ đại họ Mao .

Ðoạn sau là :

Trời đã giúp tôi thành công. Trong chuyến đi chơi Sông Ðà với các ông Bùi Duy Tâm và Bùi Duy Tuấn, tôi đã mất 3 cuốn băng ghi toàn những chuyện ba hoa, hươu vượn. Nhưng vào đoạn chót của cuốn băng thứ 4 ông Tâm đã thú nhận :

... ồ, Anh đã cho Dương Thông rất nhiều tiền. Anh đã cho Dương Thông rất, rất nhiều tiền...

Sau chuyến đi đó chừng vài ngày, họ bắt tôi . Trong thời gian ấy tôi đã kịp sao băng ghi âm ra vài bản, gửi ra 3 nước : Pháp, Tiệp và Mỵ

Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, đặc biệt là bà Daniel Mitterand và phong trào nhân quyền thế giới, ngày 20/11 họ buộc phải tha tôi ra, sau gần 8 tháng giam giữ không xét xự Lúc đó ông Bùi Thiện Ngộ là Bộ trưởng Bộ Nội vu Ông Ngộ cử thiếu tá Sơn tới gặp tôi :

- Theo đúng pháp luật thì chị có quyền kiện Nhà nước. Nhưng Bộ trưởng muốn tìm một khả năng mềm dẻo hơn có lợi cho cả 2 bên.

Tôi cười . Tôi hiểu cái sự kiện tụng ở xứ sở này ra sao . Tôi yêu cầu cuộc thanh toán với Dương Thông. Bộ Nội vụ chấp thuận.

Vào mùa Xuân năm 1992, đại diện của Bộ Nội vụ là ông Bùi Quốc Huy (tức Năm Huy) - Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tiếp tôi có sự tham gia của Ðại tá Nguyễn Công Nhuận, người ký lệnh bắt và phụ trách nhóm người tra hỏi tôi trong nhà giam. Trong cuộc gặp này, tôi nói :

- Tôi hiểu rất rành rọt tôi đang chơi trò trứng chọi đạ Bởi thế, lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết của tôi . Tuy nhiên, tôi lại không ưa chết một mình. Nên tôi cũng trù liệu để sau cái chết của tôi, ít nhất cũng phải có dăm bảy đứa khác phải chết theo để tiếp tục chiến đấu dưới âm phủ, nếu không dưới đó rất buồn. Tôi có vũ khí của tôi .


Trong tay tôi có 2 cuộn băng ghi âm. Cuộn thứ nhất liên quan tới một trong những kẻ tạo dựng ra Nhà nước này, sư tổ của những người như ông. Nó tố cáo nhân cách một trong các bậc lương đống của triều đình chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân. Cuốn thứ 2, chắc ông cũng đoán được, ghi lại cuộc nói chuyện của ông Bùi Duy Tâm với tôi, trong đó ông Tâm khẳng định là đã cho ông Dương Thông rất, rất nhiều tiền. ấy hẳn là món thù lao cho việc ông Dương Thông đã 2 lần cứu ông Tâm ra khỏi trại giam, thêm nữa, đón rước ông Tâm đi tới tất thảy những lầu cao thềm rộng từ dinh cơ bà Tướng Nguyễn Thị Ðịnh tới Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng, từ nhà riêng các vị chóp bu Nhà nước xuống tới đám quan chức kề cận, để bàn định những đại sự như bán kho vũ khí Long Bình, bán dầu thô và những nguyên liệu khác... Như vậy tôi có trong tay bằng chứng về người tiền nhiệm của ông, gương mặt tiêu biểu cho quyền lực của chế độ này . Hai băng ghi âm đó đã được chuyển tới 3 nước: Pháp, Tiệp, Mỵ Nếu các ông đủ lực xin cứ việc truy tìm. Nhưng tôi không tin điều ấy . Các ông không có tiền. Nhân viên sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đơn thuần là bọn buôn lậu, quay cuồng trong cơn lốc cóp nhặt đô la . ở nước ngoài, các ông bất lực. Còn ở đây, các ông có thệ Giờ các ông có thể tiếp tục tổ chức tai nạn xe máy để kẹp chết tôi, có thể đầu độc tôi, có thể làm bất cứ một điều gì khác nữa nhưng vào thời điểm tôi chết, chắc chắn phải có kẻ đồng hành. Không tức thời, nhưng sớm hay muộn cũng sẽ cọ Và thêm nữa, những người thân của tôi ngoài biên giới sẽ lần lượt công bố các cuốn băng kia .

Cả 2 người đàn ông lặng thinh rồi một người mở chai nước, một người mời tôi ăn nho . Họ hỏi tôi về sức khoẻ, con cái, nhà cửa ... làm như là một cuộc tán gẫu giữa mấy người hàng xóm. Tuy nhiên, tôi chẳng phải là một đứa bé nên tôi hiểu cái thái độ người thường gọi là: đánh trống lảng... ấy . Bất cứ kẻ đạo đức giả nào cũng sợ sự thật. Tất thảy mọi quốc gia, mọi thể chế đều có bọn đạo đức giạ Nhưng chắc chắn, không ở đâu con người buộc phải trở thành đạo đức giả như ở đây, một xứ sở mang xiềng xích của 2 thể chế : Phong kiến và Cộng sản.

Trước khi về, tôi nói thêm :

- Xin nhắc lại rằng, tôi đứng trước guồng máy của các ông chỉ là trứng chọi đạ Nhưng vì đã dấn thân vào cuộc chơi này, tôi bắt buộc phải học lấy vài món nghề của các ông. Vậy, các ông theo rõi tôi, tôi cũng theo rõi lại các ông. Tôi biết ông (Năm Huy) thường uống rượu ở đâu, chơi gái ở đâu . Trong hội Quý Mùi (những người sinh năm 1943) ông vẫn tụ họp với những ai và đem theo loại rượu nào . Thành thực mà nói, trên phương diện này, đôi khi trứng còn mạnh hơn đạ Các ông rất nhiều tiền, các ông thèm khát sống, thèm uống rượu Tây, thèm chơi gái, thèm xây nhà lầu ... Tôi là kẻ phá sản, tôi không uống rượu cũng không chơi điếm, tôi có thứ sức mạnh mà sư tổ của các ông thường vẫn gọi "sức mạnh của giai cấp vô sản". Riêng về luận điểm này, tôi thấy Mác đúng. Bởi vì, nói một cách sòng phẳng, với tất cả những thèm muốn ấy các ông sợ chết hơn tôi .

Ðó cũng là lời giã biệt. Sau đấy, tới cuộc gặp mặt giữa tôi và Dương Thông. Họ không xuất hiện nữa . Chỉ có người phục vụ mang tới một đĩa nho và mấy chai nước. Vẫn trong căn phòng 15 Trần Bình Trọng ...

Tôi không kể lại cuộc thanh toán giữa tôi với Trung tướng Dương Thông. Thực chất, đó chỉ là một trận nhục mạ kẻ vốn thường quen nhục mạ nhiều đám đông khác, một cơn giải toả tâm lỵ Với tôi, thế là ổn. Tuy nhiên, tôi ghi băng cuộc gặp gỡ đó, đem về cho vợ chồng ông Kiến Giang nghe . Ông Kiến Giang là một trong những nạn nhân của chế độ, đã ngồi tù hơn một thập kỷ vì Xét Lại ... Ông ấy cần được nghe để xoa dịu phần nào những năm tháng đau khộ Vợ ông ấy cùng cần nghe để bớt chút căm hận vào những năm tháng nuôi con một mình. Ông Dương Thông là thủ phạm trực tiếp của hàng trăm gia đình như thế, nhưng tôi không có khả năng làm công tác tuyên truyền. Sự việc dừng ở đó, vào mùa Xuân năm 1992.

Từ đó tới nay hơn một thập kỷ đã qua . Tôi vẫn được bình yên, phải chăng nhờ ơn phước của hai cuốn băng ghi âm kia ?... Dẫu sao người ta cũng phải cố vá víu tấm màn che sân khấu .

Giờ đây, thời gian đã đủ hiệu lực. Nhân dịp người ta thoá mạ tôi, gọi tôi là kẻ tự nguyện làm tôi tớ cho ngoại bang, tôi công bố sự thật thứ nhất, tôi cung cấp cho công luận một ví dụ hết sức tiêu biểu cho cái hình ảnh tôi tớ cho ngoại bang: Ông Bùi Duy Tâm tuy không mắt xanh, mũi lõ nhưng là công dân Mỹ, sống ở nước Mỹ, tiêu tiền Mỵ Với những nắm đô-la, ông Tâm đã sai khiến được Trung tướng Dương Thông làm những việc khó khăn hơn ngàn lần những công việc tôi tớ như giặt ga giường, cọ toilettes... Ông Tâm rất biết làm ông chủ và Trung tướng Dương Thông cũng là kẻ làm tôi tớ cho ngoại bang một cách hào hứng và xuất sắc.

Tuy nhiên, ở Việt Nam , không chỉ có những tên tôi tớ đơn độc, tôi tớ trên danh nghĩa cá nhân. Còn có những đám tôi tớ, thứ tôi tớ tập thể, tôi tớ bầy đàn, một thứ tôi tớ chung lưng đấu cật để làm những trọng trách tôi tợ Vì là một số đông nên những tên tuổi chen chúc trong sự chật trội, nhù nhoà, những gương mặt chồng chéo lên nhau để tạo ra một mớ hỗn độn, những hình ảnh chập trùng, xáo trộn, để tạo ra một mù mờ khối lớn - vừa hù doạ người khác vì thể tích kềnh kàng, vừa bất khả duy danh.

Lãnh đạo tập thể, làm chủ tập thể và tập thể làm chụ

Thật đúng là trò chơi chữ, đánh tráo khái niệm của kẻ gian manh.

Người dân Việt Nam hẳn đã quá đủ trải nghiệm để hiểu rằng: tập thể làm chủ có nghĩa rằng không ai làm chủ thực sự hết, không một cá nhân nào chịu trách nhiệm thực sự trước toàn thể dân chúng cũng như trước lịch sử mai sau . Bởi thế, người ta có thể nhân danh làm chủ tập thể để tàn phá tài sản quốc gia, để bán đất đai mồ mả của xứ sở, để đẻ ra những công trình vô hiệu lực nhằm hớt lấy những món tiền khổng lồ rót vào những tài khoản riêng ở các ngân hàng ngoài nước. Rồi sau đó, để cho cái tập thể làm chủ kia chịu hầu toạ Nhưng cả cái làm chủ tập thể lẫn cái tập thể làm chủ kia đều vô danh vô tính vô dạng vô hình. Chúng chỉ là thứ trò chơi chữ để đánh tráo các khái niệm, tạo ra một thứ mê cung để hù doạ đám người có chữ và lừa mị dân đen.

Vì vậy, tôi xin trở lại với lối nói dân gian, với một tính cách đậm đà bản sắc dân tộc. Người nhà quê xứ Việt có câu : "Ăn cơm muối, sờ đầu gối, nói thật "

Tôi không hay ăn muối mà ăn nước mắm và không cần phải làm dấu phép sờ đầu gối, tôi cũng có thể dễ dàng nói lên một sự thật. Một sự thật hiện diện từ 3 năm nay, khoảng trên dưới một ngàn ngày, ngự trị trong đời sống tinh thần của hơn 70 triệu người dân Việt Nam như một cơn ác mộng kéo dài, như một nỗi đau không giải thoát, như căn bệnh hiểm ác không phương cứu chữa . Ðó là cơn ác mộng - là nỗi đau phải che giấu - là nỗi nhục nhã phải ghìm nén - là mối căm thù phải nguỵ trang - của một dân tộc bị tước đoạt, một dân tộc một lần nữa chấp nhận thân phận chư hầu dâng cống đất đai cùng lãnh hải cho Vương triều phương Bắc.

Có những cái tên giờ đây vang lên trong lòng người dân như tiếng tù và âm u xa xôi của lịch sử, như tiếng gươm khua giáo động ngàn năm vọng lại: thác Bản Giốc, suối Phi Khanh, hang Pắc-bó và hàng trăm các địa danh các bản làng chạy dọc theo biên thuỳ Tổ Quốc. Bản Dốc, ấy là một danh lam. Nước Việt mai sau muốn mở mang du lịch thì phải có các danh lam. Suối Phi Khanh, ấy là con suối huyền thoại vì tương truyền nó khởi nguồn từ những dòng nước mắt ly biệt của cha con Phi Khanh - Nguyễn Trãi, một kỷ niệm được biểu tượng hoá củng cố cái lâu đài ký ức về tinh thần yêu nước của người Việt. Bây giờ, nói như ông Trần Dũng Tiến, một trong những người lính già Quyết tử quân giữ thành Hà Nội trong cuộc chiến tranh chống Pháp năm 1946: Bây giờ muốn nhìn thấy suối Phi Khanh thì phải sang Tàu ...

Vậy thì, kẻ Tôi tớ cho ngoại bang nào đã cắt đất, cắt biển của non sông (không gấm vóc mà nghèo khổ lầm than nhưng là non sông của chúng ta, xương cốt của Tổ Tiên ta đắp lên bao nhiêu tầng trên mỗi tấc đất biên thuỳ). Kẻ Tôi tớ nào đã cắt đất đai, lãnh hải để dâng lên Vương triều phương Bắc ?...

Cái tập thể làm chủ nào vậy ?

Cái tập thể làm chủ ấy bao gồm 11 hay 13 nhân mạng, 11 hay 13 súc thịt khoác complet và thắt cravate, 11 hay 13 đôi giầy đen bóng nhoáng dưới chân, 11 hay 13 khuôn mặt vuông tròn, dài ngắn, nhăn nheo hay bự mỡ, lưỡi cày hay quả trám, 11 hay 13 cái đầu đen, bạc hay hoa râm...

Một khối hình ảnh nhập nhoạng mù mờ, một khối nói cười nham nhở, một khối quan dạng lấm lét...

Một tập thể Tôi tớ cho ngoại bang.

Người Việt vốn ưa sự cụ thể, vì chưa có thói quen tư duy trừu tượng. Tôi đã làm một việc cụ thể là cung cấp cho bạn đọc 2 ví dụ về khái niệm Tôi tớ cho ngoại bang. Mai sau khi dạy dỗ con cháu chúng ta về tinh thần yêu nước, sách giáo khoa có thể cho thêm 2 ví dụ điển hình cho thời đại này :

- Một kẻ có danh tính rõ ràng là Trung tướng Dương Thông.

- Một Tập thể tôi tớ được gộp chung trong cái danh từ mơ hồ này: Bộ Chính trị - Vì những kẻ bán mình cũng phải có thứ chính trị của nọ

Người đọc có thể sẽ hỏi tôi :

- Còn cuốn băng ghi âm thứ 2, cái sự thật thứ 2 ?

Tôi xin trả lời:

- Theo quy luật chương hồi, nó còn phải ẩn mình trong bóng tối .

DUONG THU HƯƠNG

Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2002.


Tuesday, June 28, 2011

TIN BIỂN ĐÔNG



Thượng viện Mỹ ra nghị quyết về Biển Đông

Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ

Thượng viện Hoa Kỳ vừa nhất trí thông qua một nghị quyết không tán thành việc các tàu Trung Quốc sử dụng vũ lực tại Biển Đông.

Nghị quyết mang tính biểu tượng này được đồng loạt thông qua trong phiên họp hôm thứ Hai 27/06.

Tình hình căng thẳng gia tăng trong những tuần qua, khi Việt Nam và Philippines cáo giác về các vụ mà hai nước này gọi là hành động gây hấn của Trung Quốc tại khu vực.

Bản nghị quyết không mang tính ràng buộc pháp lý của Thượng viện Mỹ "không đồng tình với việc sử dụng vũ lực của tàu hải quân và tàu hải giám Trung Quốc tại Biển Đông" và kêu gọi một "tiến trình đa phương, ôn hòa để giải quyết các bất đồng".

Trung Quốc luôn chủ trương đàm phán song phương trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông với các nước liên quan và đã nhiều lần cảnh báo Hoa Kỳ nên đứng ngoài tiến trình này.

Mới đây, Trung Quốc đã nói trực tiếp với Washington rằng sự can thiệp của Mỹ ở Biển Đông có thể làm tình hình xấu thêm.

Thứ trưởng Ngoại giao Thôi Thiên Khải nói: "Tôi cho là một số quốc gia đang đùa với lửa. Và tôi hy vọng Hoa Kỳ không bị chính ngọn lửa này thiêu cháy".

Ngược lại, quan chức Hoa Kỳ nhiều lần tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia đối với tự do lưu thông hàng hải" trong khu vực.

Thượng viện Mỹ khẳng định tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động của quân đội nước này nhằm "giúp tự do lưu thông trong hải phận và trên không phận quốc tế ở Biển Đông".

Bản nghị quyết cũng "ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp lãnh thổ trên biển và kêu gọi các bên liên quan kiềm chế sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền".

Nghị quyết này do Thượng Nghị sỹ Jim Webb, chủ tịch tiểu ban châu Á-Thái Bình Dương của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, đề xướng.

Giảm nhiệt

Phát biểu sau đó, ông Webb ca ngợi bản nghị quyết là "bước phát triển quan trọng nhằm thúc đẩy giải pháp đa phương cho các tranh chấp lãnh thổ".

Ông nói: "Ngày càng nhiều các quốc gia quanh Biển Đông đang bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về việc gây hấn của Trung Quốc".

Thượng Nghị sỹ Jim Webb

Thượng Nghị sỹ Jim Webb đã đề xướng nghị quyết

Philippines và Việt Nam trong thời gian vừa qua nhiều lần chỉ trích Trung Quốc đã sử dụng tàu tuần tra để uy hiếp tàu thăm dò của các nước này, cũng như đe dọa ngư dân.

Đáp lại, Manila điều tàu chiến ra khơi và Việt Nam thao diễn hải quân, một cuộc diễn tập chung với Hoa Kỳ theo kế hoạch sẽ được tổ chức vào tháng tới.

Hôm thứ Bảy 25/06, Hoa Kỳ cũng đã kêu gọi giảm nhiệt cho xung đột Biển Đông trong cuộc gặp tham vấn lần đầu về châu Á-Thái Bình Dương giữa Mỹ và Trung Quốc.

Trong cuộc họp tại Honolulu, Hawaii, Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á-Thái Bình Dương Kurt Campbell nói: "Chúng tôi muốn căng thẳng giảm bớt".

"Chúng tôi rất quan tâm duy trì hòa bình và ổn định. Và chúng tôi đang tìm kiếm đối thoại giữa các quốc gia chủ chốt."

Ông Campbell còn nói thêm với các nhà báo sau cuộc họp kín rằng đoàn Mỹ đã nhấn mạnh rằng việc mở rộng phát triển quân sự của Trung Quốc gây quan ngại nhưng hy vọng rằng đối thoại và một sự tăng cường minh bạch sẽ giúp làm giảm các lo lắng này.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/06/110628_us_senate_scs.shtml


Việt Nam - Trung Quốc: Bùng nổ xung đột vào tháng 7?
Phan Nguyễn Việt Đăng, viết riêng choRFA từ Saigon
2011-06-27

Hạ tuần tháng 7.2011 là thời điểm căng thẳng nhất trong mối quan hệ Việt-Trung, kể từ sau cuộc chiến 1979.

AFP PHOTO

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (phải) và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trong nghi thức chào đón tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và các đối tác từ Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản tại Hà Nội ngày 12 tháng 10 năm 2010.

Cuộc đối thoại và giằng co về biển Đông đã đến điểm gút cuối cùng, được sự theo dõi của mọi giới từ trong nước đến ngoài nước. Số phận của dân tộc Việt Nam có được một bước ngoặc mới hay không cũng là phụ thuộc vào bàn cờ Việt-Trung lúc này.

Người ta có thể nhìn thấy sự dè dặt của Hà Nội trong cuộc đối thoại này, do Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng chịu trách nhiệm, bằng cách công an, báo chí đã đổi một thái độ khác trước sự giận dữ của người dân Việt Nam về chuyện lấn áp của Trung Quốc trên biển Đông.

Sáng 26 tháng 7.2011, Saigon chịu một áp lực kinh khủng của ngành an ninh. Một nhân viên an ninh giấu tên cho biết rằng "lệnh cấp trên là triệt để không để bất kỳ một người biểu tình nào được xuất hiện, dù là cầm cò đỏ sao vàng hay hình Hồ Chí Minh cũng vậy". Ngay tại Hà Nội, áp lực đó đè nặng đến mức chỉ có khoảng trên dưới 50 người đi bộ, mệt mỏi và sợ hãi và kết thúc trong khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, thậm chí cũng đã có thanh niên bị áp giải về đồn khi biểu hiện có vẻ kích động và kêu gọi người khác tham gia tuần hành.

Là bạn hay là thù?

Nhiệm vụ của Tổng bí thư CSVN Nguyễn Phú Trọng lúc này là thuyết phục Trung Quốc hãy hòa hoãn hơn nữa về việc vươn vai, thẳng cân trên biển Đông. Người dự đoán rằng Việt Nam sẽ thuyết phục Bắc Kinh kéo dài thêm thời gian lấn biển, hoặc chấp nhận cùng Việt Nam chia sẻ khai thác tài nguyên trên biển.

Hoặc là cuộc thương thuyết không thành, sẽ là một cuộc trở mặt của Việt Nam, chấp nhận cho trò diễn đi dây mới, nhưng lần này sẽ nghiêng về phương Tây nhiều hơn.

Ve vuốt Bắc Kinh, cũng trong thời gian này, ông thủ tướng "khó dạy dỗ" Nguyễn Tấn Dũng tạm thời im tiếng. Thay vào đó, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, "chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam" tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây. Và cuộc gặp này được đánh giá chung là kết thúc với nụ cười hể hả, khẳng định phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Trò 2 mặt của Trung Quốc vẫn diễn ra. một mặt thì vẫn xúc tiến thương thảo ngoại giao, nhưng một mặt thì vẫn có những ngôn ngữ hết sức chính thống, kiểu như tướng Trung Quốc Bành Quang Kiêm, phó tổng thư ký Ủy ban chính sách an ninh quốc gia, tuyên bố sẽ dạy thêm cho Việt Nam một bài học. Một cuộc hội luận ngày 22/6/2011 trên Đài Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc, với những bình luận gia tên tuổi, cũng nói rằng hiện dân Trung Quốc có đến 85% đang "nóng lòng" muốn "đập" Việt Nam một trận cho hả.

000_SAHK980504236320-250.jpg
Tàu Hải quân Trung Quốc trên Biển Đông trước đây. AFP PHOTO.
Cuộc di chuyển các quân cờ hết sức khéo léo của thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng trong việc dành lại quyền lực và uy tín đã rơi vào một tình thế độc đáo cho nước Việt Nam. Hãy chú ý rằng suốt trong quá trình từ vụ tàu Bình Minh 2 bị cắt dây cáp - được Hà Nội bật đèn xanh cho lên tiếng - Nguyễn Tấn Dũng đã nhanh chóng nhảy vào vị trí của người hô hào yêu nước vào bảo vệ chủ quyền, là mờ hẳn cả vụ tai tiếng Vinashin.

Những người theo dõi thời sự ở Việt Nam đều nhìn thấy rõ cuộc trở cờ của ông Trương Tấn Sang, sau khi bí mật tổ chức tin tức cho báo chí tấn công mạnh mẽ vào thủ tướng qua vụ Vinashin, đã sớm nhận ra rằng phải đổi phe, mới có thể tồn tại. Và cuối cùng Nguyễn Phú Trọng, lại cô đơn hơn nữa. Trọng là người được cho rằng là nhân vật thân Trung Quốc trong bộ ba Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh, đã im lặng không nó một lời nào trong đợt phản ứng của cả nước về vụ xâm lấn của Trung Quốc. Nay lại phải đảm nhiệm vai trò báo cáo tình hình nội bộ và thương thuyết về số phận của Việt Nam - Trung Quốc, cũng như số phận của chính ông.

Là bạn hay sẽ là thù, tiếp tục là chư hầu hay sẽ là đối đầu, kết quả này sẽ phải được bộc lộ trong tháng 7 này.

Số phận Trường Sa?

Nếu thất bại trong cuộc thương thuyết đầy tính hoãn binh và hứa hẹn việc cùng chia sẻ quyền lợi khai thác biển Đông, chắc chắn, một cuộc đột kích vào Trường Sa trong tháng 7 này từ phía Trung Quốc rất có thể xảy ra.

Vì sao là tháng 7? Theo nhận định của nhiều người, đó là giai đoạn mà Việt Nam vẫn còn lập lờ chưa bắt tay hẳn với Mỹ để có thể có được một vai trò là đồng minh chiến lược và được bảo vệ. Và tháng 7, là tháng mà nội bộ của Hà Nội chưa kịp xếp đặt để thanh lọc các thành phần cấp cao thân Trung Quốc, trước khi súng nổ trên biển.

Người ta vẫn nhớ câu chuyện tranh chấp đảo Falkland giữa Anh và Argentina vào tháng 4 năm 1982. Cuộc chiến chớp nhoáng kéo dài 74 ngày đó đã biến hòn đảo này thuộc quyền của Anh cho đến nay. Bắc Kinh đang giở lại lịch sử và ngấu nghiến bài học này với nỗi thèm khát dược nuốt chửng Trường Sa. Nếu có một cuộc chiến diễn ra, người ta dự đoán là khả năng chiếm đóng của Trung Quốc trong khoảng 1 tuần. Dĩ nhiên, chưa bàn đến là nỗ lực đánh trả có thật sự hết sức mình của hải quân Việt Nam, trong bối cảnh có quá nhiều quan chức cao cấp Việt Nam đang phụ thuộc quyền lợi và quyền lực vào Bắc kinh lúc này.

017_181411-250.jpg
Hải quân Việt Nam tập trận bắn đạn thật tại Trường Sa, tháng 6-2011. AFP PHOTO.

3 tấc lưỡi của ông Nguyễn Phú Trọng, theo nhận định, là rất khó thành công. Vì chưa lúc nào, Trung Quốc phải lấy biển Đông như lúc này. Đây là lúc mà "bàn thắng vàng" hết sức dễ đạt được, một khi cái lối lấp lửng của Hà Nội về việc song phương và đa phương, tiếp tục là lợi thế của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, mất Trường Sa như một cuộc chiến sòng phẳng và vạch mặt rõ kẻ thù, vẫn là đáng để xảy ra, hơn là để mất đảo, mất biển trong sự thỏa hiệp giả trá của những người cầm quyền Việt Nam trước Bắc Kinh. Đó sẽ là điều tồi tệ hơn tất cả, là một âm mưu lịch sử đầu độc, giết chết và bán rẻ một dân tộc.

Người yêu nước sẽ ra sao?

Chưa bao giờ người yêu nước, dù là những người tiếp tục ủng hộ chủ nghĩa Cộng sản cũng như những người chủ trương một chế độ tự do, đang rơi vào tình thế cheo leo nhất.

Những người yêu nước, vốn tự phát bằng bản năng của tổ tiên và lương tâm, đang bị Hà Nội lợi dụng và điều khiển vào việc họ muốn mặc cả với Bắc Kinh trong việc được và mất quyền lợi và quyền lực của riêng Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc sử dụng người yêu nước như một con cờ, lúc thì dọa dẫm Trung Quốc, lúc thì chà đạp và trấn áp khi Bắc Kinh ra lệnh, đang làm cho người dân Việt Nam mỗi lúc một tức giận, chỉ trích chính quyền Cộng sản Việt Nam nhiều hơn. Gần đây, người ta đang bắt gặp lại những từ ngữ rất quen thuộc trên các trang mạng như "Việt gian", "Ngụy quyền CSVN"... đang áp dụng cho chính chế độ hiện tại.

Trong một bản tin phát đi, như ngầm báo động, báo Dân Trí ngày 25 tháng 6.2011, cho biết rằng Trung Quốc đang mở hàng loạt các trường tình báo, nhằm tung đại trà vào các cộng đồng. Chắc chắn Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài tầm ngắm.

Năm 2007, khi Việt Nam có những cuộc biểu tình chống trung Quốc đầu tiên, nhiều nguồn tin tiết lộ rằng Việt Nam đã làm dịu cơn giận của Bắc Kinh bằng cách trao chính thức các danh sách những người biểu tình bị bắt giữ hay tình nghi. Điều này được chứng minh là sau đó, khi Trung Quốc tổ chức Olympic vào tháng 8-2008. rất nhiều người Việt cho biết họ bị ngăn cấm hoặc làm khó không cho đến Trung Quốc vì sợ sẽ tham gia biểu tình chống Olympic. Đó là những người từng bị an ninh Việt Nam bắt, thẩm vấn, sách nhiễu vì tham gia biểu tình vào tháng 12.2007.

Khi ông Võ Văn Kiệt còn sống, những người thân cận của ông nói rằng ông đã từng bác bỏ việc Trung Quốc đòi phải cho chi bộ tình báo người Hoa ở Việt Nam được quyền trang bị vũ khí và quyền bắt người trước khi thông báo cho an ninh Việt Nam. Tuy nhiên, điều này có thể đã bị phá bỏ, sau cái chết bí ẩn của ông Kiệt.

Nếu mất Trường Sa, và mất cả chủ quyền, liệu những người yêu nước sẽ còn được không gian sống an toàn ở ngay trên đất nước mình?

Phan Nguyễn Việt Đăng (Sài Gòn)

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-cn-will-conflict-in-july-06272011175915.html


Nhân sỹ Việt ra tuyên cáo về Biển Đông

Biểu tình chống Trung Quốc của người Việt tại Tokyo

Trong khi quan chức Việt-Trung họp tại Bắc Kinh, hàng chục nhân sỹ trí thức hàng đầu Việt Nam đã ký tên vào bản Tuyên cáo về 'các hành động gây hấn của Trung Quốc' ở Biển Đông.

Bản tuyên cáo khởi xướng ngày 25/06 hiện đã có hàng trăm người hưởng ứng.

Cũng hôm thứ Bảy, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn - đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam - đã có cuộc gặp với Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc về tình hình Biển Đông.

Trước đó ông Sơn cũng có hội đàm về chủ đề này với người đồng nhiệm Trung Quốc Trương Chí Quân. Hai bên thống nhất đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc".

Tình hình Biển Đông đã nóng lên một thời gian nay sau các vụ tàu Trung Quốc bị nói là cắt cáp, phá hoại thiết bị tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Tuyên cáo của các nhân sỹ trí thức, làm tại TP Hồ Chí Minh, "cực lực lên án và tố cáo" việc mà những người ký tên gọi là "gây hấn nhằm xâm chiếm Biển Đông với tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò 9 đoạn và Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam", cùng các hành động khác.

Bản tuyên cáo yêu cầu lãnh đạo Việt Nam "nhanh chóng có những biện pháp tích cực và hữu hiệu hơn nữa nhằm bảo vệ ngư dân, bảo vệ các tàu thăm dò dầu khí" và khuyến cáo rằng sự nghiệp bảo vệ đất nước "phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước".

Những người đã ký vào tuyên cáo, trong đó có những tên tuổi như nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, Giáo sư Chu Hảo, Giáo sư Tương Lai..., cũng nói "không có lý do gì để ngăn chặn các hành động yêu nước của nhân dân", bao gồm cả hoạt động biểu tình một cách ôn hòa.

Trong ngày Chủ nhật 26/06, đã có một cuộc biểu tình quy mô nhỏ của người dân ở Hà Nội để phản đối Trung Quốc. Đây là tuần thứ tư liên tiếp có biểu tình phản đối chính sách của Bắc Kinh ở trong nước.

'Báo chí thổi phồng sự việc'?

Truyền thông ở cả Việt Nam và Trung Quốc, tuy không đề cập tới cuộc biểu tình ở Hà Nội hay bản tuyên cáo nói trên, đã có tường thuật ngắn về các cuộc gặp giữa quan chức hai bên ở Bắc Kinh.

Nội dung các tường thuật này không khác nhau nhiều, tuy Thông tấn xã Việt Nam trích "thông tin báo chí chung Việt Nam-Trung Quốc", còn Tân Hoa Xã thì dẫn "thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Trung Quốc".

Báo Việt Nam nói "hai bên khẳng định... tăng cường định hướng đúng đắn dư luận".

Trong nước, Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn kinh tế, như nạn lạm phát chẳng hạn. Ngoài nước, thì Mỹ cũng không ủng hộ Việt Nam đi quá xa trong chủ đề này.

GS Dương Bảo Quân, Đại học Bắc Kinh

Thông cáo của Trung Quốc thì viết hai bên đã thống nhất "ngăn chặn các lời nói và hành động có thể làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhân dân hai nước".

Để minh họa, tờ China Daily, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ấn bản tiếng Anh, dẫn lời Giáo sư Dương Bảo Quân từ Đại học Bắc Kinh nói ở mức độ nào đó, tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) đã bị báo chí thổi phồng.

Ông Dương cho rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang rất ít, vì "trong nước, Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn kinh tế, như nạn lạm phát chẳng hạn. Ngoài nước, thì Mỹ cũng không ủng hộ Việt Nam đi quá xa trong chủ đề này".

Báo chí Trung Quốc gần đây đăng tải khá nhiều bài bình luận, phỏng vấn có tính chất chỉ trích và răn đe Việt Nam trong lĩnh vực Biển Đông.

Báo chí Việt Nam cũng có những bài đáp trả, sau khi Chủ tịch và Thủ tướng Việt Nam tuyên bố cứng rắn về "kiên định chủ quyền".

Tuy nhiên, thông tin hình ảnh về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vẫn không được đăng tải trên các phương tiện truyền thông chính thống ở trong nước.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/06/110627_biendong_declaration.shtml

Monday, June 27, 2011

TRUNG QUỐC VIỆT NAM




Đấu thầu EPC (hợp đồng trọn gói) của Trung Quốc tại Việt Nam
2011-06-27

Ngoài chuyện hàng hoá Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, Trung Quốc còn trúng thầu đến 90% những dự án đấu thầu trọn gói trên lãnh thổ Việt Nam.

Source Innov Green.

Cán bộ địa phương huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh thăm đất rừng cho Công ty Innov Green (Trung Quốc - Đài Loan) thuê.


Vậy nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng trúng thầu này của Trung Quốc. Vũ Hoàng tìm hiểu và trình bày.

Những loại hợp đồng bán nước

Hợp đồng EPC hay còn gọi là hợp đồng chìa khoá trao tay là hình thức nhà thầu đảm trách toàn bộ dự án đầu tư từ khâu thiết kế, tư vấn đầu tư xây dựng, cung cấp thiết bị cho đến khâu xây lắp và vận hành.
Nghĩa rằng, nhà đầu tư giao toàn bộ trách nhiệm từ A đến Z cho nhà thầu đảm trách. Tuy nhiên, con số 90% các gói thầu xây lắp dạng EPC lại do các công ty Trung Quốc thắng thầu tại Việt Nam không khỏi làm người ta giật mình. Và quan trọng hơn nữa, phần lớn những dự án Trung Quốc dành được lại là những dự án khai thác năng lượng, luyện kim và hoá chất.
con số 90% các gói thầu xây lắp dạng EPC lại do các công ty Trung Quốc thắng thầu tại Việt Nam không khỏi làm người ta giật mình. Và quan trọng hơn nữa, phần lớn những dự án Trung Quốc dành được lại là những dự án khai thác năng lượng, luyện kim và hoá chất.
Theo một bài báo mới đăng tải gần đây trên tờ Kinh Tế Sài Gòn cho thấy, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Pháp… cung cấp vốn ODA cho Việt Nam họ chủ yếu tập trung vào các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho Việt Nam, trong khi Trung Quốc hầu như lại chỉ tập trung vào các dự án công nghiệp năng lượng và khai thác tài nguyên khoáng sản, trong đó phải kể đến 6 nhà máy nhiệt điện, các dự án luyện kim như đồng Sin Quyền, bauxite ở Tây Nguyên đều do các công ty của Trung Quốc thực hiện. Về cơ bản, thường thì các quốc gia cấp vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thì các nhà thầu của nước đó mới được tham gia.
Về vấn đề này, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huy, đồng thời cũng là người viết nhiều cuốn sách nghiên cứu về Trung Quốc, hiện đang sinh sống tại Pháp nhận xét:

Trung Quốc tập trung khai thác tài nguyên khoáng sản ở những vùng xa xôi hẻo lánh, ở vùng sát biên giới Trung Quốc hoặc những vùng Tây Nguyên của mình chứ họ không bao giờ khai thác ở vùng đồng bằng. Ngoài


Hàng trăm công nhân Trung Quốc đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai, Lâm Đồng.
Hàng trăm công nhân Trung Quốc đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai, Lâm Đồng.
khả năng họ chiếm lĩnh gần hết cuộc đấu thầu về hạ tầng cơ sở ở Việt Nam, họ còn muốn khai thác những tài nguyên của Việt Nam như cây rừng phía Bắc Việt Nam với Lào, bô xít ở Tây Nguyên, chất lượng bô xít ở đó không cao, nhưng đó là vùng chiến lược sát biên giới Việt – Miên – Lào và sát biên giới Trung Quốc.
Ngoài khả năng họ chiếm lĩnh gần hết cuộc đấu thầu về hạ tầng cơ sở ở Việt Nam, họ còn muốn khai thác những tài nguyên của Việt Nam như cây rừng phía Bắc Việt Nam với Lào, bô xít ở Tây Nguyên, chất lượng bô xít ở đó không cao, nhưng đó là vùng chiến lược sát biên giới Việt-Miên- Lào và sát biên giới Trung Quốc.
Ông Nguyễn Văn Huy
Cũng theo lời ông Huy thì Trung Quốc không nhắm trực tiếp vào vấn đề kinh tế, mà là vì lợi ích lâu dài của họ ở vùng Đông Nam Á. Do đó Trung Quốc đầu tư vào những vùng chiến lược tại Việt Nam để đặt những cơ sở, phòng khi có bất lợi thì chính những cơ sở tại địa phương này sẽ ngay lập tức can thiệp và giải quyết.
Ngoài ra ông cũng giải thích hiện nay có sự phát triển không cân bằng giữa vùng biển phía Đông của Trung Quốc với vùng lục địa, nhằm tránh hố sâu giầu nghèo ngăn cách này, Trung Quốc phải phát triển một con đường khác từ phía Vân Nam, Quảng Tây xuống vịnh Thái Lan, nên họ tập trung vào con đường dọc phía bắc Lào, sát biên giới Việt Nam. Chính vì vậy, phía Trung Quốc tập trung nắm giữ vùng biên giới Tây Bắc và vùng Tây Nguyên của Việt Nam.

Khác biệt giữa tư nhân và nhà nước

Quay lại với câu chuyện đấu thầu, Luật đấu thầu không khống chế vấn đề xuất xứ thiết bị và công nghệ khi xét duyệt một gói thầu, mà Luật đấu thầu tập trung vào các điều kiện về hiệu quả, chất lượng công trình và nhất là giá cả. Vì thế, khi nhà thầu Trung Quốc chào thầu với một mức giá thấp nhất, thì họ dễ dàng được chấp nhận, còn chuyện thẩm định về chất lượng hay hiệu quả một dự án lại là chuyện “hạ hồi phân giải.” Giải thích về các điều kiện đấu thầu, anh Nghiêm Bá Hưng, trung tâm thông tin của Hiệp Hội Các Nhà Thầu Việt Nam cho biết:

Hiện nay khi nói về các nhà thầu Trung Quốc thì có một số vấn đề, có rất nhiều dự án về năng lượng, về điện lực là do Trung Quốc bỏ tiền ra cho vay để làm và họ cũng đưa các thiết bị máy móc của họ vào. Một điểm thứ hai cũng là lỗ hổng về mặt pháp lý, nếu mình nhớ không nhầm, vẫn đặt chế độ anh nào có giá bỏ thầu thấp nhất thì thắng. Nhưng cái đó không quy định chất lượng, hiệu quả. Nếu nói rẻ nhất thì chưa chắc
Nhà hàng Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai. Source RFVN
Nhà hàng Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai ở thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Source SGTT

đã rẻ nhất, đó cũng là lỗ hổng trong chính sách của mình.

Với những dự án lớn như năng lượng, điện lực, luyện kim…do ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái thậm chí cả những chuyện “chiến lược” như lời ông Huy nói, thì giá cả không thể là vấn đề ưu tiên hàng đầu, mà ở đây, khi duyệt thầu, yếu tố chất lượng về mặt dài hạn mới là điều kiện tiên quyết.
Cũng liên quan về các điều kiện đấu thầu dự án EPC, ông Phạm Sỹ Liêm, Phó chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết:
Nếu là chủ đầu tư tư nhân thì họ rất kỹ càng trong điều này, họ tổ chức đấu thầu nhưng trước đó họ khảo sát rất kỹ bởi vì vốn của chính họ, cho nên họ phải cẩn thận, phải cân nhắc. Còn các chủ đầu tư Nhà nước, tất nhiên nhiều người là vì lợi ích chung thôi, nhưng một số người còn nghĩ đến lợi ích riêng, cho nên có một số không được rõ ràng.
Ông Phạm Sỹ Liêm
Luật Đấu thầu chỉ đưa ra những nguyên tắc chung thôi, còn điều kiện đưa ra để đấu thầu thì do chủ đầu tư đưa ra. Chủ đầu tư mà không quan tâm đến xuất xứ, thì không yêu cầu xuất xứ, còn chủ đầu tư quan tâm đến xuất xứ thì họ yêu cầu, chứ không phải tất cả các chủ đầu tư không quan tâm đến xuất xứ cả.
Chủ đầu tư mà không đưa xuất xứ, thì thực ra, một số chủ đầu tư chủ yếu là của Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, thì chủ ý họ đã chọn nhà thầu nào rồi. Cho nên đấu thầu như vậy không minh bạch, cho nên dư luận cũng đã nhiều lần nói đến chuyện này. Nhiều khi vì tham rẻ và cũng do thiếu am hiểu về mặt kỹ thuật nên mới chấp nhận. Bây giờ qua thực tế mấy năm mới dần dần vỡ lẽ ra giá rẻ không tốt, cho nên hiệu quả kém.
Ông Phạm Sỹ Liêm cũng cho biết thêm, nếu các chủ đầu tư là các công ty tư nhân thì họ rất cẩn trọng trong việc duyệt thầu, còn với các doanh nghiệp Nhà nước thì nhiều khi không được rõ ràng, ông cho biết tiếp:

Nếu là chủ đầu tư tư nhân thì họ rất kỹ càng trong điều này, họ tổ chức đấu thầu nhưng trước đó họ khảo sát rất kỹ bởi vì vốn của chính họ, cho nên họ phải cẩn thận, phải cân nhắc. Còn các chủ đầu tư Nhà nước, tất nhiên nhiều người là vì lợi ích chung thôi, nhưng một số người còn nghĩ đến lợi ích riêng, cho nên có một số không được rõ ràng.
Ngoài hình thức cho Việt Nam vay mượn để từ đó đưa máy móc, thiết bị nhân công sang Việt Nam, nhất là khai thác ở các vùng chiến lược thì Trung Quốc còn sử dụng các mối quan hệ để có thể trúng thầu, mà người Trung Quốc gọi là “Guan xi” về chuyện này, ông Liêm nhận xét thêm:
những người quyết định, chính vì vậy tôi thấy rằng những cuộc đấu thầu ở các địa phương gần sát biên giới với Trung Quốc hoặc những vùng chiến lược của Việt Nam mình, thường thường thì các cán bộ địa phương bị Trung Quốc mua chuộc hết
Ông Phạm Sỹ Liêm
Theo những gì tôi biết, thì người Trung Quốc giao dịch theo kiểu quan hệ rất giỏi, người ta gọi là “guan xin” rất giỏi, tôi chỉ biết như vậy thôi.
Khác với các nước phương Tây đấu thầu dựa trên năng lực thực sự thì bằng các mối quan hệ, người Trung Quốc “đi cửa sau” cho những gói chào thầu của mình. Ông Nguyễn Văn Huy trình bày thêm:
Người Trung Quốc thì ngược lại họ đi thẳng đến những người lãnh đạo, những người quyết định, chính vì vậy tôi thấy rằng những cuộc đấu thầu ở các địa phương gần sát biên giới với Trung Quốc hoặc những vùng

Vườn ươm cây Bạch Đàn giống của Công ty Innov Green  ở Lạng Sơn. Source Innov Green.
Vườn ươm cây Bạch Đàn giống của Công ty Innov Green (Trung Quốc - Đài Loan) ở Lạng Sơn. Source Innov Green.
chiến lược của Việt Nam mình, thường thường thì các cán bộ địa phương bị Trung Quốc mua chuộc hết, họ tìm cách mua chuộc không phải là tìm cách bỏ phong bì cho các người đó có tiền mà làm bằng mọi cách để người đó thấy rằng họ có giá trị hoặc là khi ký hợp đồng với Trung Quốc họ được đối xử tử tế, ưu đãi hơn so với người khác. Chính vì vậy, tôi thấy khác với các nước phương Tây, họ dùng đồng tiền, uy tín và tình cảm mua chuộc các người cán bộ.


Và hệ luỵ từ những dự án EPC Trung Quốc trúng thầu sẽ là câu chuyện của việc lệ thuộc vào thiết bị vật tư, phụ tùng thay thế, họ được phép mang sang Việt Nam mọi thứ từ những con bù lon, ốc vít, đến cả những lao động phổ thông, mà hiện giờ báo chí trong nước đang lên tiếng cảnh báo. Bên cạnh đó, khi Trung Quốc độc quyền tiến hành dự án, thì việc chậm tiến độ, chèn ép công ty nội địa là chuyện chắc chắn không tránh khỏi. Hơn nữa, khi những gói thầu này Trung Quốc nắm giữ, cũng sẽ khiến tình trạng nhập siêu với Trung Quốc thêm trầm trọng hơn.
Những dự án EPC Trung Quốc trúng thầu là cả một câu chuyện dài, vừa bắt nguồn từ phía chủ quan do luật đấu thầu Việt Nam còn nhiều kẽ hở, từ phía các chủ đầu tư doanh nghiệp Nhà nước và cũng vừa bắt nguồn từ phía khách quan của Trung Quốc muốn khai thác và chiếm giữ những lĩnh vực chiến lược Việt Nam. Vì thế, chúng tôi xin trích dẫn lời T.S Nguyễn Quang A để kết thúc bài viết. Tiến Sĩ A cho rằng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân, cách làm EPC là cách làm thông dụng, chẳng có gì phàn nàn. Có lẽ cái đáng phàn nàn là ở chính chúng ta.”
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/china-epc-biding-in-vn-06272011114540.html

Theo dòng thời sự:

Nghi vấn Trung Quốc thắng thầu nhờ “đi đêm”
Tướng Trung Quốc ngạo mạn đe dọa Việt Nam

Trang web của hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc ngày 25.6 dẫn lời thiếu tướng Bành Quang Khiêm, phó tổng thư ký Ủy ban chính sách an ninh quốc gia, hội nghiên cứu khoa học chính sách Trung Quốc, ngạo mạn tuyên bố rằng Trung Quốc từng dạy Việt Nam một bài học và có thể cho Việt Nam bài học lớn hơn.

Tướng Bành Quang Khiêm "khua môi múa mép" về vấn đề Biển Đông trên một chương trình truyền hình của Trung Quốc.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc, Tướng Bành Quang Khiêm nói tranh chấp Biển Đông tồn tại từ lâu và tình hình (Biển Đông) đột nhiên căng thẳng là do Việt Nam và Philippines gần đây "liên tục khiêu khích".

Viên tướng này nói: "Trung Quốc từng dạy Việt Nam một bài học, nếu Việt Nam không chân thành sẽ còn nhận bài học lớn hơn”.

Ông Bành còn dùng những ngôn từ kích động rằng "nếu Việt Nam tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi dao, sớm muộn có ngày Việt Nam sẽ ngã trên lưỡi dao".


Trước đó, báo Văn Hối, vốn được coi là tiếng nói của Bắc Kinh ở Hong Kong ngày 18.6 cũng đã đăng bài xã luận chỉ rõ Trung Quốc phải làm tốt công tác chuẩn bị về mặt quân sự để nếu các nước liên quan khăng khăng làm theo ý mình và có hành động khiêu khích thái quá trên Biển Đông thì họ sẽ bị giáng trả mạnh mẽ.

Bài xã luận của tờ Văn Hối, cộng với phát biểu vừa qua của một quan chức cao cấp phụ trách vấn đề an ninh Trung Quốc đã thể hiện thái độ không nhất quán của một số quan chức nước này xung quanh vấn đề Biển Đông.

Trước đó, về mặt chính thức, Trung Quốc luôn cao giọng nhấn mạnh tới “hòa bình” và chỉ có một bộ phận cư dân mạng sử dụng ngôn từ mang tính chất quyết liệt như “khai chiến” trên các trang web quân sự.

Trong cuộc Đối thoại Shangri-la lần thứ 10 tại Singapore từ 3 đến 5.6, chính Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu nhấn mạnh cam kết của Trung Quốc về việc phát triển hòa bình.

Trong khi ấy, trước và sau bài phát biểu của ông Lương Quang Liệt tại Đối thoại Shangri-la, các tàu của Trung Quốc đã liên tục có những hành vi gây hấn, cắt cáp các tàu thăm dò Bình Minh 02 và Viking II của tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, trong lúc các tàu này đang khảo sát hoặc tiến hành thăm dò địa chất tại vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Sự việc tàu Trung Quốc liên tục có hành vi gây hấn tại vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng đã gây quan ngại trong giới học giả quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, hiện đang công tác tại Khoa Nhân văn và Xã hội học trường Ðại học New South Wales của Australia, cho rằng: “Hành động cắt dây cáp của Trung Quốc trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã vi phạm luật biển quốc tế và làm cho vùng biển này không còn an toàn như trước. Tàu Việt Nam đang làm việc trong vùng biển đặc quyền kinh tế mà Công ước về luật biển quốc tế đã quy định cho họ. Hành động này rõ ràng đã chấm dứt những gì lạc quan nhất mà Trung Quốc và ASEAN đã và đang thương thảo về Biển Đông.”

Còn trong cuộc hội thảo về an ninh Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ hôm 21.6 vừa qua, giáo sư Peter Dutton của Đại học Hải quân Mỹ cho rằng hiện có hai cơ chế là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC).

Ông nhấn mạnh: "UNCLOS nói rõ rằng tuyên bố về quyền tài phán của một quốc gia đối với tài nguyên phải dựa trên yếu tố địa lý của đường bờ biển. Việc Trung Quốc tuyên bố quyền tài phán trong đường chữ U, hay đường 9 khúc, mà không đề cập dù là gián tiếp đến các đặc điểm địa lý từ bờ biển hay đường cơ sở là một vi phạm căn bản luật quốc tế."

Cũng tại hội thảo này, Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain đã nêu đích danh Trung Quốc là nguyên nhân gây ra căng thẳng ở Biển Đông đồng thời khẳng định những tuyên bố chủ quyền của nước này là "không có cơ sở nào theo luật quốc tế."

Tàu Trung Quốc "diễu võ giương oai" trên biển trong mưu đồ biến Biển Đông thành ao nhà.


Tại cuộc hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” do Trung tâm Habibie của Indonesia phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ tổ chức tại Jakarta mới đây, tiến sĩ Ian Storey, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore), cho rằng những vụ việc đã và đang xảy ra cho thấy tình hình ở Biển Đông đang diễn tiến đáng quan ngại. Theo nhà nghiên cứu về an ninh hàng hải khu vực Iskander Rehman, cách hành xử của Trung Quốc “đã dẫn tới sự căng thẳng không chỉ với tàu Việt Nam mà cả các tàu của Mỹ, Nhật Bản và Philippines.”



Như thế, một cách khách quan nhất, chính Trung Quốc mới là bên khiến cho tình hình biển Đông trở nên căng thẳng, và phát biểu trên của ông Bành Quang Khiêm càng làm sai lệch bản chất của sự việc và cho thấy phía Trung Quốc luôn sẵn sàng hăm dọa dùng vũ lực với các nước láng giềng trong khu vực.

Ngược lại, trước sau như một, Việt Nam luôn khẳng định quyết tâm và lập trường của là thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước Luật Biển cũng như Tuyên bố về các ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) nhằm xây dựng khu vực Biển Đông thành khu vực hòa bình, hợp tác, hữu nghị và ổn định.

Tại Hội nghị lần thứ 21 các quốc gia thành viên Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 đã diễn ra từ ngày 13-17.6, tại New York, thứ trưởng bộ Ngoại giao, đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc Lê Lương Minh khẳng định việc gần đây Trung Quốc liên tục phá hoại hoạt động khảo sát bình thường do tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, là những hành vi có chủ ý, được tính toán kỹ, nhằm mục đích biến các vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thành khu vực tranh chấp, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm các quy định và nguyên tắc cơ bản của Công ước.

Trưởng đoàn Việt Nam cũng bác bỏ đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định đường yêu sách này hoàn toàn không có bất cứ cơ sở pháp lý quốc tế nào, đặc biệt là theo Công ước Luật Biển.

Chia sẻ quan điểm của Việt Nam, nhiều nước ASEAN đã phát biểu nhấn mạnh cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Công ước Luật Biển khi tiến hành các hoạt động trên biển; đề cao sự cần thiết của việc duy trì hòa bình, ổn định và an ninh ở khu vực Biển Đông, thực hiện đầy đủ DOC và tiến tới sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông .

Trước những hành động gây hấn tại Biển Đông của Trung quốc, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 42/2011/NĐ – CP quy định công dân được miễn nhập ngũ thời chiến. Đây có thể hiểu là lệnh Tổng động viên gián tiếp vì ngoài các đối tượng được miễn tất cả các thành phần khác không phân biệt lứa tuổi đều có thể nhập ngũ. Đây là câu trả lời đanh thép của VN đối với các thế lực thù địch: Chúng tôi sẵn sàng huy động mọi lực lượng để chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.

Ngày 13/6, Chính phủ ban hành Nghị định quy định công dân thuộc diện làm nghĩa vụ quân sự được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến, bao gồm:
1- Công dân đang đảm nhiệm vị trí chủ chốt trong các cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ địa phương đến Trung ương, tổ chức kinh tế có nhiều lao động hoặc có tác động lớn đến hoạt động kinh tế một vùng, một ngành, một lĩnh vực kinh tế đất nước; nếu công dân này nhập ngũ sẽ trực tiếp làm giảm, làm gián đoạn hoặc ngừng hoạt động của cơ quan, tổ chức đó, trực tiếp ảnh hưởng việc duy trì quản lý, hoạt động của xã hội và hoạt động của nền kinh tế đất nước.
2- Công dân nằm trong kế hoạch bảo đảm cho hoạt động quốc phòng trong thời chiến.
3- Công dân đang công tác ở các vị trí đặc biệt quan trọng như đang làm việc ở các công trình trọng điểm quốc gia, các ngành cơ yếu, vẽ, in giấy bạc, các đài, trạm khí tượng thủy văn, đèn biển, hoa tiêu, chủ nhiệm các công trình nghiên cứu cấp bộ, ngành, quốc gia, quốc tế và các vị trí quan trọng trong các ngành nghề đặc biệt khác.
4- Công dân làm việc trong các cơ quan, tổ chức đang hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn như các xã biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng dân tộc ít người được Chính phủ xác định đặc biệt khó khăn về kinh tế, xã hội.
5- Công dân được cấp có thẩm quyền công nhận có trình độ cao cấp về chuyên môn, nghiệp vụ và đang hưởng lương cao cấp về chuyên môn, nghiệp vụ đó.
6- Công dân có tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm để duy trì hoạt động của cơ quan, tổ chức lớn trong thời chiến như có tay nghề thuộc bậc cuối cùng trong thang năm bậc trở xuống hoặc hai bậc cuối cùng trong thang sáu bậc trở lên.
7- Công dân có trình độ nghiên cứu khoa học cao hoặc là nguồn để phát triển tài năng cho đất nước.
8- Công dân là con độc nhất hoặc con trai duy nhất của liệt sĩ.
Nghị định cũng nêu rõ, khi có nhu cầu cần thiết, Bộ Quốc phòng được phép điều động một số công dân có chuyên môn thuộc các đối tượng quy định nêu trên vào phục vụ trong quân đội.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/8/2011.

Hình ảnh Hải quân VN tập trận bắn đạn thật sau vụ TQ gây hấn trên biển:



Tập luyện ở Vùng 4 Hải quân.

Biên đội tàu hải quân Việt Nam.




Bộ đội tên lửa Hải quân sẵn sàng chiến đấu.




Tập luyện bảo vệ chủ quyền.


Tàu tên lửa tập luyện bắn đạn thật trên biển.


Cùng nhìn lại các cuộc chiến tranh Vệ quốc của VN trước TQ:
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3
Chiến tranh biên giới Việt-Trung.png
.
Thời gian 17 tháng 218 tháng 3 năm 1979
Địa điểm Toàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.
Kết quả Trung Quốc rút quân. Cả hai phía tuyên bố chiến thắng.
Tham chiến
Flag of the People's Republic of China.svg Giải phóng quân Trung Quốc Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy
Flag of the People's Republic of China.svg Dương Đắc Chí
Flag of the People's Republic of China.svg Hứa Thế Hữu
Flag of Vietnam.svg Văn Tiến Dũng
Flag of Vietnam.svg Đàm Quang Trung
Flag of Vietnam.svg Vũ Lập
Lực lượng
200.000-300.000+ bộ binh và 400 xe tăng từ Quân khu Côn Minh và Quảng Châu (theo Việt Nam có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến)[1]
(lực lượng của 7 quân đoàn với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị)[2]
60.000-100.000
(7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)[2]
Tổn thất
Tranh cãi, 20.000+ bị giết [3] Việt Nam tuyên bố 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng. [3]
Nguồn 2: ~13.000 chết[4]
Trung Quốc tuyên bố 6.900 chết, 15.000 bị thương[1]
Tranh cãi, 20.000 chết hay bị thương.[1]
Nguồn 2: ~8.000 chết[5]
Trung Quốc tuyên bố 30.000 chết.[3]
Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường bị thiệt mạng[1]
.
Chiến tranh Việt Nam - Trung Quốc, 1979 hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung HoaCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung xuất phát từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia và ý đồ "dạy cho Việt Nam một bài học" của Đặng Tiểu Bình, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa.

Tên gọi

Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, 1979. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989), dân gian quen gọi là Chiến tranh phản kích tự vệ trước Việt Nam (对越自卫反击战, Đối Việt tự vệ phản kích chiến). [6]
Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3. [7]

Bối cảnh

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ.[8] Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian.[9] Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.[8]


Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội.[10] Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Ông rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung.

Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973.[11] Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".[10] Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.[12]

Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam[13] và việc bị Liên Xô bao vây từ phía Bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.


Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú QuốcThổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí khí tài cũng như cố vấn quân sự. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia[14], Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam.[13]


Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng SaTrường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh kí kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước họ.[15] Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này. [16]


Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan năm 2007, cửa ải nằm tại biên giới Việt Nam-Trung quốc


Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam. Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng ở miền Nam Việt Nam, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách buộc người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc họ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ, ngược lại, Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc cho phép Hoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình.

Chính sách của Việt Nam từ năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn thuần.[17][18] Chính sách một quốc tịch bắt đầu, Hoa kiều nếu không nhập quốc tịch Việt Nam sẽ bị cho thôi việc,[17] các báo và cơ sở giáo dục tiếng Hoa cũng bị đóng cửa.[19] Từ năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc.[20] Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị.[21]



Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các quần đảo Hoàng SaTrường Sa; cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn xược của Việt Nam.[22]

Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh viện trợ kinh tế cho Việt Nam, cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.[23] Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và kí kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976.[24] Chính sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của nước này đối với các đảng cộng sản ở Đông Nam Á.[25]


Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả Campuchia cũng như Trung Quốc đều lên một đỉnh mới.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành. Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công.[26]


Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với Việt Nam.[27]


Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút bớt chuyên gia về nước[28]. Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước[28]. Tháng 11 năm 1978 Việt Nam ký "hiệp ước hữu nghị và hợp tác" với Liên Xô. Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bị cắt[28].

Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một hành động quân sự.[12]. Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt Nam bài học". [28]

Xung đột khu vực

Cùng lúc căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam. Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.[29] Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ[30].

Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978), trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự. Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.[31]


Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng cường quan hệ đối với Việt Nam. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979 từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự kiện xung đột Việt Nam Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600 triệu năm 1978 và 890 triệu năm 1979).[32]

Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc

Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc "phản công" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt chẽ biên giới của tổ quốc."[21]

Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia - một đồng minh của Trung Quốc và là một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.[33]

Theo Carl Thayer, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Trung Quốc muốn "dạy cho Việt Nam một bài học" vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ.[34]

Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía Nam của Trung Quốc. [35]. Theo phân tích của phía Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần này gồm: [36]
  • Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt-Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao BằngLào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.
  • Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị quân độc lập khác của Việt Nam.
  • Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ.
Tương quan lực lượng tham chiến
Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Trung Quốc tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến.

Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối[37] và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng SơnCao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai).

Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài lực lượng quân chính qui, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính qui phục vụ cho chiến dịch.[38], chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động[1]. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.

Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu III cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều.

Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện.[39] Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.[36] Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu. Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn nhưng rốt cục không tham gia.

Diễn biến

Các hướng tiến công của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới

Chuẩn bị

Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam.[40] Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978.[41]

Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc (khoảng 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. [42] Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979. [31]

Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia yêu hòa bình "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này".[43] Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam, tuy nhiên tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung Quốc, nếu xảy ra, sẽ không thể nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế. [44][45]


Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung-Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung-Xô, Đặng Tiểu Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam. Để cảnh báo Liên Xô và cũng nhằm ngăn chặn bị tấn công từ hai mặt, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung-Xô vào tình trạng báo động đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300.000 dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô. [46]

Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại thời điểm đó vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ chiến tranh và sẽ phản đối chiến tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu Bình chỉ một tuần trước khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của PLA sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962 với Ấn Độ, cộng với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân sự này "giới hạn về không gian và thời gian", khiến Hà Nội tin tưởng họ có khả năng cầm chân quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới. [47]

Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân tại các tỉnh biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính qui tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương. Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến leo thang. [48]

Giai đoạn 1

Mặt trận Lạng Sơn
Mặt trận Cao Bằng
5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng Trung Quốc khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh.[49][21] Cánh phía Đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao BằngĐông Khê.

Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía Tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. [50] Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.[21]


Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.[51]

Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng.[50] Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn.[52] Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây Bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở Đông Bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai. [52]


Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao,[53] có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này.[54] Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.[21]

Quân Trung Quốc đang di chuyển tại Cao Bằng. Đi đầu là xe bọc thép Kiểu 63 (K63).

Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất.[53] Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc.[51] Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn


--
Phạm Đạo - Trưởng ban BLL họ Phạm Việt Nam
Điện thoại cố định: 04.38353903, 08.54050364
di động: 090.4298388, 091.3200158
Email:
phamdao1940@gmail.com
Trang web:http://hophamvietnam.org/
http://kehe.name/