Tuesday, August 31, 2010

RFA * CỘNG SẢN NGĂN CẢN LỄ VU LAN


Công an không cho cử hành lễ Vu Lan ở chùa Giác Minh, Đà Nẵng
2010-08-29

Đại lễ Vu Lan Báo hiếu rơi vào ngày Rằm tháng Bảy, tức 24 tháng 8 dương lịch, còn gọi là Ngày Xá tội Vong nhân, được cử hành qua bao đời trong truyền thống đất nước Việt Nam.

Photo courtesy of PTTPGQT

Nội bất xuất ngoại bất nhập, năm nay Công an cấm Phật tử vào chùa dự lễ Phật Đản, dù vậy HT Thích Thanh Quang quyết định vẫn tiến hành Đại lễ và đọc Thông điệp Phật Đản của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ.

Nhưng đại lễ này đã bị công an ngăn cấm tại chùa Giác Minh ở thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi tìm hỏi Hòa thượng Thích Thanh Quang, Viện chủ chùa Giác Minh, về sự kiện này và được Hòa thượng cho biết như sau.

Cô lập chùa, bắt Phật tử

Ỷ Lan: Kính chào Hòa thượng Thích Thanh Quang. Được biết vừa qua Chùa Giác Minh ở Đà Nẵng, nơi Hòa thượng trụ trì và đặt văn phòng Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng bị ngăn cấm cử hành Đại lễ Vu Lan. Xin Hòa thượng cho biết sự thể xẩy ra như thế nào?

vulan-giac-minh-200.jpg
Công an đứng trước đường hẽm vào chùa Giác Minh ngăn cấm mọi Phật tử vào tham dự Đại lễ Phật Đản. Photo courtesy of PTTPGQT.
HT Thích Thanh Quang: Dạ. A Di Đà Phật ! Thưa cô, chùa chúng tôi bị cô lập từ ngày 14 tháng bảy cho đến ngày Rằm.

Ngày 14 tháng bảy âm lịch, 7 giờ sáng Công an và các vị Dân phòng đã gác các ngõ đường, các hẽm vào chùa suốt đến 11giờ đêm ngày 14. Công an đã vào chùa kiểm tra hộ khẩu. Tất cả Tăng Ni trong chùa ra trình diện để lập biên bản.

Chúng tôi thấy thái độ của công an, những công an trẻ, cặp mắt và hành động dường như họ ăn thịt được là họ ăn thịt. Với hành động thô bạo và tàn nhẫn như thế để vào chùa kiểm tra hộ khẩu trong ngày đại lễ Vu Lan trọng đại này.

Ba giờ sáng họ đã đổ quân đầy nghẹt hết các ngã đường, trấn như không cho một Phật tử nào vô được sân. Thậm chí có hai Phật tử ở thành phố Đà Nẵng đã lọt vào cửa cổng chùa, họ chạy theo bắt rị lại giống như người bắt cướp.

Đến 7 giờ sáng, tất cả các Phật tử khắp nơi… Đại Lộc, Duy Xuyên, Tam Bình, Tam Kỳ về dự lễ Vu Lan tại chùa Giác Minh thì cấm cản không cho vô.

Ba giờ sáng họ đã đổ quân đầy nghẹt hết các ngã đường, trấn như không cho một Phật tử nào vô được sân.

HT Thích Thanh Quang

Có một số người đi đến sau như anh Hồ Đủ và thầy Thiện Phúc, Thích nữ Đồng Đăng, thầy Đồng Khá và một cô Phật tử đang ngồi chờ để làm lễ tưởng niệm ông bà tổ tiên, họ hướng về chùa Giác Minh, đột nhiên công an đuổi xua. Có một số người nữ của nhà nước đến, kẻ kéo người lôi, kẻ chửi người đập, người đánh, đánh vào tai cô Đồng Tâm sát vào dưới mặt đường chảy máu tay, máu chân và máu đầu, cô vẫn ngồi niệm Phật.

Anh Hồ Đủ thì bị xô xát, công an dùng sức mạnh bốc anh Đủ lên xe. Năm, sáu công an to mập kẻ chận đường người ôm cổ đưa đầu anh Hồ Đủ vào hầm xe với anh Nguyễn Văn Chiến, Phật tử Duy Xuyên, bốn giờ sáng đến chùa vô đến miệt bãi, và anh Phan thì bị công an đón lại chở lên đồn công an Bình Thuận.Vô đến đồn rồi mà công an thường phục vẫn đá đập anh Chiến.

Kiểm soát, trấn áp từ năm 1992

vulan-giac-minh-200-2.jpg
Công an quay phim lén chùa Giác Minh suốt ngày lễ Phật Đản. Photo courtesy of IBIB/PTTPGQT.
Ỷ Lan: Đây là lần đầu tiên xẩy ra cho Ban Đại diện Quảng Nam – Đà Nẵng phải không? Xin Hòa thượng cho biết những thiệt hại cụ thể về cuộc đàn áp lần này?

HT Thích Thanh Quang: Dạ thưa cô, đối với chùa Giác Minh không phải dịp lễ Vu Lan này mà trải qua bao nhiêu dịp lễ khác, những dịp lễ Khánh Đản tức là 15 tháng 4 âm lịch mỗi năm, Rằm tháng bảy nỗi năm chùa bị công an bao vây các ngã đường không cho tín đồ vào; và cho tất cả Tổ trưởng dân phố đi từng nhà yêu cầu những tín đồ chùa Giác Minh không được đến chùa lễ. Nếu ai đi sẽ bị trở ngại về giấy tờ. Đó là sự bao vây, kiểm soát và trấn áp chùa Giác Minh từ năm 1992 cho đến bây giờ.

những dịp lễ Khánh Đản tức là 15 tháng 4 âm lịch mỗi năm, Rằm tháng bảy nỗi năm chùa bị công an bao vây các ngã đường không cho tín đồ vào; và cho tất cả Tổ trưởng dân phố đi từng nhà yêu cầu những tín đồ chùa Giác Minh không được đến chùa lễ.

HT Thích Thanh Quang

Nhất là vấn đề khó khăn của chùa Giác Minh là hộ khẩu không cho tạm trú. Tất cả Tăng chúng đều ở đây, công an muốn vào giờ nào thì tập trung Tăng chúng ra và đòi đuổi đi không cho ở trong thành phố Đà Nẵng. Đó là một công việc làm đàn áp, tiêu diệt không cho tre tàn măng mọc, tu đạo và hành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Như Rằm tháng Bảy 2009, họ mời chúng tôi ra phường để nói về vấn đề Vu Lan. Nhưng ngược lại, họ không nói vấn đề Vu Lan, họ đem Tuyên cáo đối với Hoàng Sa và Trường Sa của tôi và anh Cầu viết ra, họ đọc, họ bắt tôi ký vô.

Tôi nói tôi không đỉnh cao trí tuệ như các ông, xin phép các ông tôi về. Có những người tín đồ vào chùa lễ Phật cũng không lọt được một người. Thậm chí đem một ít kí gạo vào họ cũng khuyên can, biểu đem nơi khác cúng chứ không cúng nơi này, vì nơi này phản động, làm chính trị.

Phát nguyện có tự do tôn giáo

vulan-giac-minh-250.jpg
Công an làm việc, hạch xách Hòa thượng Thích Thanh Quang cho đến khuya tại chùa Giác Minh – Đà Nẵng. Photo courtesy of IBIB/PTTPGQT.
Ỷ Lan: Phản ứng của chư Tăng và đồng bào Phật tử trước cuộc ngăn cấm đại lễ Vu Lan như thế nào? Hòa thượng có nghĩ tới biện pháp gì khác để ngăn ngừa trong tương lai?

HT Thích Thanh Quang: Dạ thưa cô, đối với sự ngăn cấm, trấn áp thô bạo của Công an cũng như Chính quyền, tất cả Tăng Ni cũng như đồng bào Phật tử đều phẫn uất và buồn tủi cho đất nước Việt Nam sống dưới chế độ độc tài đảng trị, đem lại sự đau khổ, mất cả sự sống của họ, mất hẳn những niềm tin của con người.

... để đưa đến đất nước được yên bình, toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải, và tất cả dân tộc Việt Nam được hưởng quyền tự do, dân chủ, quyền sống của con người.

HT Thích Thanh Quang

Qua Đại lễ Vu Lan ngày vừa qua, cuộc đàn áp trắng trợn trong ngày Vu Lan theo chính sách cố hữu của Đảng và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhằm tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Thống nhất, đồng thời cũng chống lại nền đạo lý và văn hiến của dân tộc nước nhà.

Nếu nói đến hướng đi của chúng tôi thì riêng bản thân chúng tôi cũng như Giáo hội nghĩ rằng con của Phật thì phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật. Phải làm hết sức mình với khả năng của mình theo đường hướng Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo đã dẫn dắt để đưa đến đất nước được yên bình, toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải, và tất cả dân tộc Việt Nam được hưởng quyền tự do, dân chủ, quyền sống của con người. Đó là sự phản ứng và phát nguyện, thưa cô.

Ỷ Lan: Xin cám ơn Hòa thượng Thích Thanh Quang đã dành cuộc phỏng vấn cho Đài chúng tôi.

Theo dòng thời sự:

BBC * KINH TẾ TRUNG QUỐC





Khó đoán quy mô kinh tế thực của TQ
Chợ rau quả Bắc Kinh

Chợ rau quả buổi sáng nhộn nhịp ở Bắc Kinh

Mỗi sáng, hàng trăm người đổ ra chợ rau quả ngoài trời gần sân vận động công nhân ở trung tâm Bắc Kinh.

Chợ lúc nào cũng ồn ã. Người bán hô to giá cả các mặt hàng thường được bày ra trên bàn hay các tấm trải trên mặt đất.

Tiền được trao tay tại chỗ vì trong xã hội đa số người dân vẫn dùng tiền mặt.

Làm thế nào chính phủ theo dõi được những giao dịch tài chính này?

Đây là một câu hỏi quan trọng. Các số liệu mới nói rằng Trung Quốc có thể đã vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Nhưng làm sao chúng ta biết được chuyện này? Liệu chúng ta có thể tin tưởng được các số liệu thống kê của Trung Quốc, nơi không phải lúc nào người ta cũng cởi mở và minh bạch về số liệu?

Trò chuyện với những người bán hàng ở chợ này mới thấy họ không báo cáo tất cả thu nhập cho ngành thuế.

Điều này có nghĩa là nền kinh tế Trung Quốc có thể lớn hơn những gì mà chính phủ tin.

Ông Vương Tiểu Lục từ Quỹ Cải cách Trung Quốc, thực hiện nghiên cứu về ý tưởng này. Ông nói nền kinh tế chưa lộ diện có thể ở mức khổng lồ.

Phương pháp thu thập?

Ông Vương kiểm tra kiểu thu nhập và chi tiêu trong một khảo sát với 4000 mẫu tại 19 tỉnh tại TQ.

Ông ước tính rằng năm 2008, thu nhập thực sự của các hộ gia đình thành thị TQ có thể cao hơn tới 90% so với ước tính của chính phủ.

Đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thế giới quan trọng hơn nhiều so với kích thước. Nếu xét từ góc độ đó thì Trung Quốc đã vượt Nhật từ lâu rồi

Vương Đào, UBS

Không phải mọi kinh tế gia đều tin rằng dữ liệu kinh tế của TQ là hoàn toàn không tin cậy, nhưng một số người đặt câu hỏi về các biện pháp mà người ta dùng để thu thập dữ liệu.

Bà Vương Đào, trưởng nhóm nghiên cứu kinh tế Trung Quốc cho Ngân hàng UBS, nói TQ thường dựa vào các chính quyền và doanh nghiệp địa phương báo cáo lại những gì họ thực hiện.

Bà nói: “Đôi khi, vì lợi ích của địa phương hay công ty, người ta có thể báo cáo vống lên những gì họ làm, đặc biệt nếu để sau đó lãnh đạo sẽ nhìn họ với con mắt thiện cảm”.

Ngoài ra, còn một vấn đề khác .

Việc đề nghị các doanh nghiệp báo cáo là dễ dàng hơn dưới thời Trung Quốc còn trong chế độ kế hoạch hóa tập trung. Khi đó, nền kinh tế có ít lĩnh vực hơn.

Giờ đây, họ đã mở cửa theo đường lối tư bản. Các cá nhân có thể mở doanh nghiệp và nhiều ngành có thể bùng nổ trong một thời gian ngắn. Điều này khiến cho chính phủ khó theo dõi nền kinh tế hơn.

Bà Vương nhận xét: “Chẳng hạn khi nền kinh tế bùng nổ, người ta có thể mở một nhà hàng, nhưng không ai tới đó đề nghị họ báo cáo cả.

“Đến khi kinh tế tồi tệ, nhà hàng có thể sập tiệm nhưng cũng chả ai để ý”.

Điều kiện kinh doanh

Tất cả những chuyện này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc - ở mức 8.7% trong năm ngoái - có thể là bị phóng đại, nhưng cũng có thể nền kinh tế còn lớn hơn nhiều so với những gì các ước tính đưa ra.

Rút tiền ở ngân hàng TQ

Kinh tế TQ có thể lớn hơn người ta tưởng

Kinh tế Trung Quốc có thể đã vượt qua Nhật từ cách đây vài năm.

Thu thập thống kê một cách chính xác không chỉ là công việc thuần túy học thuật, mà nó còn giúp các chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn.

Một nhóm người nữa cần các thông tin chính xác là giới buôn bán chứng khoán tư nhân tại TQ.

Họ tập trung tại các trung tâm giao dịch cổ phiếu nhỏ ở các thành phố và thị trấn trên khắp đất nước. Citic Securities có sàn giao dịch tại nơi trước đây từng là tư gia của một công chúa thời phong kiến ở Bắc Kinh.

Bà Vương Ngọc Hương đã tới đây trong gần cả thập niên để mua và bán cổ phiếu.

Bà là một trong hàng chục người về hưu mỗi ngày bỏ nhiều giờ tới đây để theo dõi các bảng điện tử trong trung tâm thông báo về những diễn biến mới nhất của các công ty.

Bà có tin vào những dữ liệu và thông tin kinh tế này không?

Bà Vương, năm nay 65 tuổi, trả lời: “Thông tin thì có cái đúng cái sai, các công ty cũng vậy. Cần phải theo dõi một doanh nghiệp trong cả một thời gian”.

Bà Vương đặc biệt thấy mệt mỏi vì các công ty quốc doanh vì chúng rất khó đoán biết.

Vậy, nếu bà Vương không tin mọi dữ liệu kinh tế của TQ, làm thế nào các kinh tế gia có thể tính toán thực sự khi nào Trung Quốc qua mặt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới?

Còn bà Vương Đào, từ ngân hàng UBS, nói có lẽ chúng ta cũng không nên quá bó buộc chỉ vào một nguồn dữ liệu này.

Bà nhận xét: “Đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thế giới quan trọng hơn nhiều so với tầm vóc. Nếu xét từ góc độ đó thì Trung Quốc đã vượt Nhật từ lâu rồi”.


Monday, August 30, 2010

BÙI TÍN * TÌNH HÌNH VIỆT NAM NGUY HIỂM

"Không thể nghi ngờ, hiểm nguy ngay trước mắt !"


Mấy tuần qua, nhiều sự kiện trong quan hệ Việt - Mỹ và Việt – Trung xảy ra, dẫn đến những phán đoán và nhận định khác nhau, có khi trái ngược nhau.

Có nhận định dễ dãi, hời hợt cho rằng tình hình đã và đang’ thay đổi dồn dập’ theo hướng chính quyền hiện nay đã dám đương đầu cứng cỏi với họa bành trướng và thực hiện một hướng mới thắt chặt quan hệ bè bạn, hợp tác về quốc phòng – an ninh với Hoa kỳ, châu Âu và Asean ; người đưa ra nhận định này còn phán đoán sẽ có nhiều thay đổi dồn dập nữa theo hướng tiến bộ, tôt đẹp và dân chủ (!). Được vậy thì tốt quá ! Nhưng …

Tôi cũng ngờ ngợ điều đó, nhưng còn thận trọng đặt dấu hỏi ‘Bẻ lái chiến lược thật chăng? ‘. Có thể đây là một động tác giả, một biện pháp tình thế, chơi trò bắt cá 2 tay, một tay vẫn liên minh ma quỷ, một tay giả liên minh với phía khác, hòng thoát búa rìu phẫn nộ của đồng bàa, của trí thức đang thức tỉnh, của sỹ quan cựu chiến binh yêu nước…

Tình hình nay đã rõ.

Một loạt hành động có thể gọi đúng tên là bán nước, là phản bội Tổ quốc của một nhóm người trong bộ máy đảng CS và trong bộ máy nhà nước đang diễn ra nhãn tiền, rõ ràng, không sao còn che dấu được. Nhóm này cực kỳ nham hiểu, xảo quyệt, đã và đang lao vào một nước cờ liều, được ăn cả, ngã về không, do mù quáng đánh giá sai tình hình, coi thường nhân dân và công luận, khinh thường ngay cái cơ chế hiện hành.

Vì sao ngay sau khi tiếp thứ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ ở Hànội, Nguyễn Chí Vịnh lại sang ngay Bắc kinh, xin gặp bộ trưởng quốc phòng Lê Quang Liệt để tường trình, thanh minh? - Rằng việc tàu quân sự Mỹ cặp bến Việt nam chỉ là thỏa thuận hình thức kỷ niệm 15 năm quan hệ ngọai giao, - rằng đây là theo yêu cầu của phía Mỹ, - rằng chỉ có quan chức điạ phương Việt nam lên thăm tàu Mỹ … Việc gì mà phải thanh minh như thế?

Nghiêm trọng hơn, Vịnh dám đưa ra chính sách 3 không, nói rõ là : Việt nam sẽ không bao giờ tham gia một liên minh quân sự nào ; Việt nam sẽ không là đồng minh quân sự của bất cứ nước nào ; Việt nam sẽ không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt nam, không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ai cho phép Vịnh, một thứ trưởng quốc phòng, không có chân trong bộ chính trị, không có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, không có chân trong đảng ủy quân sự trung ương, cũng không hề là đại biểu quốc hội, lại dám khẳng định một đường lối chính trị - ngoại giao - quốc phòng trọng đại như thế? Và đường lối này chưa hề được bàn cãi, quyết định, công bố bởi quốc hội, ngay khi quốc hội chỉ là một công cụ của đảng. Chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng ngoại giao và cả đến tổng bí thư đảng CS cũng chưa bao giờ công bố một đường lối chính trị - quốc phòng - ngọai giao mang nội dung như thế. Đằng sau Vịnh là ai? Ai cho phép Vịnh công bố điều ấy? Sao lại công bố trên đất người ta?

Lý do duy nhất chỉ có thể là Vịnh đã nói theo sự mong muốn của bọn trùm bành trướng, theo chỉ thị của nhóm tay sai bọn bành trướng, nhằm tước đi quyền lựa chọn đồng minh khi cần thiết để bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc và cuộc sống an toàn của nhân dân. Vịnh đã dâng bọn trùm bành trướng chiếc dây thừng trói chặt tay dân ta, không còn được quyền tự do hành động khi Tổ quốc lâm nguy, khi gặp quốc nạn thì đành chịu chết, không được kêu cứu ai !

Hãy nghe phản ứng của phía Trung quốc. Ngay sau khi Vịnh cúi đầu khuất phục thiên triều, Trung quốc giở ngay trò cho tầu ngầm cắm cờ dưới đáy biển Đông, ra oai cho thiên hạ biết đây là vương quốc của ta, các nguồn tài sản dầu mỏ, hơi đốt, khoáng sản, hải sản vô tận vùng này là của ta hết. Chưa thấy phản ứng gì của các nhà lãnh đạo ở Hànội. Hay cũng chỉ phản ứng chậm, lấy lệ, vuốt đuôi, nhẹ nhàng. Báo chí bị bịt mồm. Các mạng yêu nước ở nước ngoài bị phá liên tiếp. Một kiểu trói tay, bịt mồm để cho quan thầy bành trướng của chúng tha hồ hoành hành.

Trên Nhân dân Nhật báo Bắc kinh, cây bút bình luận Lý Hồng Mỹ tỏ ra ngạo mạn với lời cảnh cáo : ‘ Quan hệ Trung - Mỹ đang đi tới giai đoạn gay go, bất cứ quyết định thiếu khôn ngoan nào của Việt nam sẽ chỉ làm căng thẳng thêm khi tình hình đã tồi tệ ‘.

Bà Lê Hồng Mỹ còn chua ngoa : ‘ đu giây là nguy hiểm, nếu Việt nam thúc đẩy 2 cường quốc xung đột thì Việt nam sẽ bị thiệt hại trước hết ‘.

Đúng ngày 25-8, báo China Post ở Hồng kông đăng lời đe doạ của Khương Du người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung quốc, rằng : ‘chúng tôi cảnh cáo Việt nam và Nam Hàn đã tập trận chung với Hoa kỳ, làm vậy là không tốt cho sức khỏe của họ ‘ ngụ ý là sẽ ăn đòn, ốm đòn đấy

Khương Du còn láo xược và ngạo mạn khinh thường nhân dân ta, rằng ‘ Việt nam đang làm cho người Trung quốc không hài lòng ; Hà nội có thể đánh giá quá cao khả năng bảo vệ của Mỹ ; nếu Việt nam và Trung quốc giao chiến thì không có hàng không mẫu hạm nào của bất cứ quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh cho Việt nam ‘.

Trên đà miệt thị Việt nam, Khương Du lên giọng bĩu môi : ‘ Với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía, Việt nam hiện trong tình trạng mong manh như vỏ quả trứng ‘.

Vì sao có những lời lẽ hung hăng, xấc xược đối với nước ta đến vậy. Chỉ vì trên đất ta hiện có một nhóm lãnh đạo bạc nhược, tham nhũng, dấn thân vào con đường phản bội tổ quốc và nhân dân, nên mới bị họ khinh thị đến thế.

Vì sao họ thốt ra những lời thách thức Hoa kỳ, lên án Hoa kỳ, cảnh cáo Hoa kỳ mạnh mẽ như thế? Báo Trung quốc huênh hoang rằng Trung quốc đã đạt tổng sản lượng quốc gia lần lượt vượt Anh, vượt Đức, nay vừa vượt Nhật bản và không bao lâu nữa sẽ vượt Hoa kỳ để trở thành siêu cường số Một của thế giới ; rằng Thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Hoa (!). Nhiều học giả trong các think-tank Mỹ đã bác bỏ thẳng thừng sự ngạo mạn ấy, vì tổng sản phẩm Trung quốc lớn do dân số quá đông, rằng tính sản phẩm theo đầu người, Trung quốc chỉ bằng 1/10 của Mỹ (3.600 US$ so với 38.000 US$), khoảng cách về tiềm lực quân sự giữa 2 nước còn rất lớn, phải 12 năm nữa TQ mới gần bằng tiềm lực Hoa kỳ hiện nay, khi ấy tiềm lực Hoa kỳ đã tiến rất xa. Huống gì Trung quốc gặp hàng loạt thách thức nghiêm trọng về dân tộc, dân chủ, nhân quyền, chênh lệch giàu nghèo, khu vực, môi trường, khoa học, kỹ thuật, giáo dục …còn lạc hậu, lâu mới khắc phục được.

Vì sao phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ Robert Scher sau khi gặp thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh tại Hànội ngày 17-8 vừa qua lại tỏ ra ’ phấn khởi, lạc quan về quan hệ quân sự - chiến lược giữa 2 nước đang được thắt chặt, nâng cao với nhiều triển vọng ‘, vì

sao đại sứ Mỹ M.Michalak cũng tin rằng ‘ quan hệ quân sự mạnh mẽ giữa 2 nước sẽ đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực ‘?. Họ không thấy được rõ bản chất của con người mà họ đối thoại cùng những mưu đồ của con người ấy chăng? Hay đó là những lời xã giao thuần túy của các nhà đối ngoại? Và vì sao nữa, khi quan hệ với Việt nam và Asean đang mang nhiều triển vọng, Hoa kỳ lại không cử một đại biểu nào đến Đà nẵng để họp cuộc họp kinh tế của ASEAN mở rộng mới đây nhất?

Ở trong nước, có bạn lo ngại rằng Hoa kỳ chưa hiểu thật rõ nội tình chính trị ở Việt nam, nhất là về một nhóm từ 20 năm nay thực hiện quyết sách « nhất biên đảo » - ngả hẳn về một bên -, dưới chiêu bài ‘làm bạn với mọi nước’, thắt chặt liên minh - đồng chí anh em - đồng minh ưu tiên – quan hệ toàn diện gắn bó 16 chữ Vàng với Trung quốc, dưới chiêu bài ‘không liên minh quân sự, không đồng minh quân sự với ai’.

Hãy nghe nhà ngoại giao lão luyện Dương Danh Dy từng làm việc hơn chục năm ở Bắc kinh cho rằng hiểu cho thật rõ, thật sâu, thật đúng bản chất của chủ nghĩa Đại hán trong cái đầu các nhà lãnh đạo Trung quốc không hề đơn giản, phải là một quá trình lâu dài, quan sát, phán đoán, chiêm nghiệm mới ngộ ra được. Vì họ rất lắm mưu cực thâm, kế cực độc, với những ngón lọc lừa, đe dọa, mua chuộc khi thì tinh vi, khi thì xấc xược ra mặt, thù bạn xoay như chong chóng, thực hư hư thực đan xen, lồng vào nhau…

Hiện nay họ đang thao diễn trên đất nước ta một đại âm mưu, biến Việt nam thành một thuộc địa kiểu mới, một chư hầu kiểu mới, một tay sai kiểu mới, nhằm đi đến khống chế, khuất phục toàn vùng Đông Nam Á có nhiều nước nhỏ, tài nguyên vô tận về khoáng sản, nhiên liệu, hải sản, có đường hàng hải huyết mạch …

Cái sai lầm lớn nhất của bọn Đại hán mới và bọn tay sai là chúng luôn chủ quan, duy ý chí, tham lam, nôn nóng, nghĩ rằng phương Tây đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - tài chính và suy thoái, chính quyền B. Obama bị vướng vào chiến tranh, đây là thời cơ vùng dậy. Trong cơn say bành trướng, chúng quên khuấy lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là hãy

giấu mình, khiêm nhường trong vài chục năm, chờ cho khi có thực lực hãy khởi sự, cần ‘ nín thở qua sông’, thu nhanh khoảng cách với thiên hạ đã.

Trong cơn liều có tính toán hiện tại ở Việt nam, xem ra bọn trùm bành trướng Bắc kinh và nhóm tay sai đang tính sai, đang phán đoán sai.

Cái sai lớn nhất là bọn chúng coi thường nhân dân ta, những người công dân bình thường, nông dân, lao động, trí thức, văn nghệ sỹ, học sinh …cho rằng đa số nhân dân trong thời « đổi mới » hài lòng với cuộc sống có được cải tiến ít nhiều, không còn nghĩ gì đến việc nước, đến quốc sự, hay có nghĩ thì cũng không dám dấn thân.

Bọn chúng cũng khinh thường cái cơ chế hiện hành, do chúng đã mua chuộc được một số nhân vật cốt cán, khống chế những người còn lại. Khi cần chúng có thể gạt bỏ dễ dàng chủ tịch nước, thủ tướng, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao, các bộ trưởng, các tướng lĩnh, nếu không cúi đầu theo chúng. Vì chúng quen lộng quyền, và đàn áp.

Nguyễn Chí Vịnh không phải không có kẻ đối kháng trong quân đội. Gần 20 viên tướng trong uỷ ban trung ương đảng đều có quá trình, thành tích vượt xa Vịnh, trong khi Vịnh bị đánh giá là ‘không xứng đáng là một sỹ quan sơ cấp’, bị nhiều tướng lĩnh công khai ngăn cản ‘không được cử Vịnh đi dự Đại hội đảng toàn quân’ (sắp họp vào tháng 11 tới ) cũng như Đại hội đảng toàn quốc (tháng 1-2011). Hãy xem, dễ gì mà đại tướng Phùng Quang Thanh, đại tướng Lê Văn Dũng, đại tướng Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng Nguyễn Văn Được, thượng tướng Phan Trung Kiên cũng như các trung tướng Huỳnh Ngọc Sơn, Bùi Văn Huấn, Trương Quang Khánh, Nguyễn Khắc Nghiêm, tất cả đều có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, lại chịu để cho Vịnh vượt qua đầu mình, khi Vịnh đã bị loại dứt khoát tại cuộc họp trung ương cuối của khoá IX năm 2006, dù đã được chính tổng bí thư Nông Đức Mạnh đích thân giới thiệu.

Trong nước, các trí thức quan tâm đến việc nước, các văn nghệ sỹ có công tâm, các đảng viên cộng sản trung thực, các tướng lĩnh, sỹ quan, binh sỹ, cựu chiến binh thật lòng vì nhân dân đang tìm hiểu để xác định một vấn đề hệ trọng. Đó là có một nhóm có thể gọi là ‘nhóm tay sai của Bắc kinh’, nhóm tay trong của bọn bành trướng, nhóm tự nguyện làm chư hầu cho thiên triều, chúng gồm có những ai? Những ai là đầu sỏ, những ai là a dua, theo đóm ăn tàn, ai là cánh tay, bộ hạ tạo nên thế lực của chúng? Đã đến lúc những người yêu nước thương dân xem xét, lập hồ sơ, nhận rõ diện mạo của chúng.

Bọn bành trướng Đại Hán rât thâm, rất độc, chúng không nương nhẹ với bọn tay sai, chúng cố tình làm nhục chúng, dồn chúng vào đường cùng không chút nể nang, thương xót, vì chúng cho rằng càng ở thế cùng, chúng càng bám chân chủ. Những lời mắng mỏ trịch thượng gần đây nhất, dám cảnh cáo, đe doạ nhân dân ta, dù cho Nguyễn Chí Vịnh đã cúi mình thanh minh, chứng tỏ sự thâm độc của chủ và nỗi nhục ê chề của kẻ tôi tớ.

Thời cuộc tháng 9 và tháng 10 tới sẽ đầy những sự kiện nghiêm trọng. Đại lễ Ngàn năm Thăng long sẽ diễn ra từ 1-10 đến 10-10 ; 1-10 lại là ngày quốc khánh Trung quốc. 12-10 họp bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN mở rộng tại Hànội, có bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ và Trung quốc dự. Ngày 20-10 sẽ họp quốc hội cho đến 27-11. Chủ nhiệm Ủy ban quốc phòng – an ninh Lê Quang Bình yêu cầu sẽ nghe báo cáo về tình hình biển Đông, bị chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng gạt đi ‘vì một năm nay không có gì mới’ (!). Nhiều đại biểu tỏ rõ ý định sẽ nhấn mạnh yêu cầu này.

Các đại hội đảng của Hà nội, Sàigòn, của quân đội, ngành công an, các cơ quan trung ương …sẽ họp, cử đoàn đại biểu đi dự đại hội toàn quốc. Những hoạt động của nhóm bán mình cho quỷ dữ sẽ dần dần lộ rõ, không sao còn che dấu được. Đây là thước đo tình trạng sức khỏe của đảng CS, xem trong đảng, lực lượng khoẻ khoắn lành mạnh có tồn tại và vươn dậy ra sao, hay toàn đảng đã suy yếu đến tận cùng, không còn một sức đề kháng nào trước hiểm họa dân tộc.

Đây cũng là thước đo xem trong xã hội ta, lực lượng yêu nước, thương dân, ngay thẳng, trỗi dậy trứớc hiểm họa dân tộc sẽ thể hiện ra sao trong cơn nguy biến của Quê hương, Tổ quốc.

Tôi bỗng nghĩ đến số phận của Lũ 4 tên (Tứ Nhân Bang ) ở Trung quốc, thanh thế lên như diều trong 3 năm Cách mạng Văn hóa điên loạn, có hàng 50 vạn tay sai thân tín, thế mà sau khi ông Mao Trạch Đông chết (ngày 9-9-1976) chưa đầy tháng đã bị tóm gọn từ trên xuống dưới vào đêm 6-10-1976, dù cho Giang Thanh là vợ của Mao, là ủy viên bộ chính trị, cũng như Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn uy lực ghê gớm một thời, vẫn bị trói tay, tống giam, ra tòa và cúi đầu nhận tội với nhân dân, đất nước.

Đất nước đang lâm nguy thật sự. Sự phản bội đất nước đang diễn ra rõ ràng, nghiêm trọng.

Những người yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng, - trong đảng CS và ngoài đảng CS, trong nước và ngoài nước -, các anh chị em trí thức, văn nghệ sỹ, các nhà báo chân chính, sinh viên, học sinh, tuổi trẻ, nông dân, lao động, nhà kinh doanh tự do … hãy tìm hiểu tình hình, tìm lối ra cho đất nước.

Xin chớ ai bàng quan, thờ ơ, buông trôi thời cuộc, hãy nói lên ý nghĩ của mình và tìm ra hành động chung để cứu dân cứu nước, cũng là cứu mình vậy.

Bùi Tín Paris 28-8-2010

Friday, August 27, 2010

DƯƠNG DANH DY * TRUNG QUỐC & VIỆT NAM



RFA * TRUNG QUỐC & VIỆT NAM

Không thể thấy rõ, thấy hết… Trung Quốc ngay từ đầu
2010-08-25

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất dành riêng cho RFA của ông Dương Danh Dy, một chuyên gia về Trung Quốc, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Bắc Kinh. Mời quý vị theo dõi.

RFA PHOTO.

Từ trái sang: Cựu Tổng thống Bill Clinton, Đại sứ Việt Nam Lê Công Phụng và Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell tại lễ Kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ - Việt Nam hôm 14/07/2010 ở Washinhton DC.

Nhận thức một đất nước là một quá trình

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 năm bình thường quan hệ Việt-Mỹ, đầu tháng 7 năm 2010 vừa qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học, trao đổi ý kiến… giữa một số chính khách, cựu chính khách, học giả, sinh viên… hai nước Việt, Mỹ đã được tiến hành tại Hà Nội (có cuộc đông tới hơn 150 người).

Tôi là người may mắn được tham dự 3 cuộc và đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc trực tiếp với năm ba, học giả, người phụ trách một lĩnh vực nào đó của phía Mỹ nhưng là người Mỹ gốc Việt liên tiếp trong một số ngày. Các anh, các cháu ấy đều nói thành thạo tiếng Việt, với tôi điều này quả thật là một hạnh phúc. Trong câu chuyện riêng tư, một anh (tôi xin phép không nêu tên) đã hỏi tôi: bác nhận ra bộ mặt “bá quyền bành trướng” của những nhà lãnh đạo Trung Quốc từ lúc nào?

Tôi đã không ngần ngại nói với anh mấy điều dưới đây:

Nhận thức rõ một vấn đề, một đất nước… là một quá trình, nhưng đối với mỗi người tùy theo trình độ, hoàn cảnh ... mà có thể dài ngắn khác nhau. Đối với tôi, nhận thức Trung Quốc là một quá trình khá dài, từ tin tưởng đến chỗ từng bước từng bước thấy được một phần rồi phần lớn sự thực, và đến bây giờ vẫn chưa chưa dám nói là đã hiểu hết .

Đầu năm 1954, sau thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi được trang bị quân phục mới do nước bạn Trung Quốc cung cấp. Chúng tôi đều thích những chiếc ba lô gọn nhẹ, những đôi giày vải còn thơm mùi cao su, nhưng gây ấn tượng với tôi là chiếc bi đông nhôm đựng nước.

Trên đường hành quân trước đây, ngoài vũ khí, balô quần áo và chiếc ruột tượng đựng gạo ra, hai vật bất ly thân thời đó của chúng tôi là chiếc xẻng (để đào công sự bảo vệ mình và vũ khí) và một đoạn ống vầu vừa cồng kềnh vừa nặng dùng để đựng nước uống khi hành quân và chiến đấu (khi nào hỏng thì tạt vào rừng chặt một ống mới thay thế), nên khi nhận chiếc bi đông mới, việc đầu tiên của tôi là cắt chiếc áo len dệt mà mẹ đã gửi từ vùng địch hậu ra cho, chia làm mấy phần cho mấy anh em cùng tiểu đội để bọc chiếc bi đông đó (một sự lãng phí ghê gớm và đánh mất một kỷ niệm quí báu của người thân, nhưng tuổi trẻ là thế đó).

Sau khi có trang bị mới, chúng tôi được Bác Hồ và Bác Mao (lúc đó hầu như mọi người ở vùng giải phóng đều gọi như vậy) khao quân. Bữa tiệc khao quân, ngoài các món ăn Việt Nam có thêm món thịt lợn hộp Trung Quốc và thuốc lá Trung Quốc là quà của Bác Mao. Sau những ngày rít thuốc lào, ấn tượng về hai điếu thuốc lá thơm này mạnh đến mức tôi đã nhớ nhãn hiệu của nó (dù lúc đó chưa biết chữ Hán) để sau này khi sang Trung Quốc mới biết đó là thuốc lá Hằng Đại do Thượng Hải sản xuất.

Cảm giác thân thiện với nước Trung Hoa mới đến với tôi như vậy đấy. Rồi thắng lợi tại hội nghị Geneve, ta có một nửa nước. Tôi theo sư đoàn về tiếp quản thị xã Bắc Ninh. Câu thơ “Xưa là rừng núi là đêm, Giờ thêm sông biển lại thêm ban ngày” của Tố Hữu đã nói đúng tâm trạng, ít nhất là của những người lính chúng tôi trên đường ra trận chỉ đánh bạn với đêm đen, nay thoải mái, đàng hoàng đi giữa ban ngày mà không sợ máy bay địch oanh tạc.

Việt Nam - món hàng có giá của Trung Quốc

“Nước bạn Trung Quốc đã giúp ta rất lớn trong thắng lợi này …”, cấp trên phổ biến cho chúng tôi. Sao lại không tin chứ? Thế nhưng nếu lúc đó biết được rằng, như sau này tôi ngộ ra: bắt đầu tại hội nghị ấy, ban lãnh đạo Trung Quốc đã thấy Việt Nam là một “món hàng có giá” có thể dùng để trao đổi, mua bán với mấy nước lớn khác nhằm phục vụ lợi ích chủ yếu của họ thì sự thể sau này sẽ khác đi rất nhiều. Nhưng tiếc rằng ngoài Hồ Chí Minh ra, hình như ít người thấy được sự lợi dụng tinh tế đó.

NixonChuAnLai2-250.jpg
Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh hôm 25-2-1972. Photo courtesy National Archives & Records Administration

Năm 1957, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai lần đầu tiên sang thăm Việt Nam. Có một hành động - không biết là thực lòng hay thủ đoạn tinh vi, vị thủ tướng nổi tiếng khôn ngoan mềm mỏng này đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà Trưng. Hành động này được đông đảo dân miền Bắc Việt Nam, kế cả người ở vùng giải phóng cũ và vùng ta mới tiếp quản như các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và vùng đồng bằng Bắc Bộ cho là Trung Hoa cộng sản đối với ta có khác Tầu Tưởng và phong kiến Trung Quốc!

Năm 1958, tôi chuyển ngành sau khi thi đỗ vào Khoa Hóa khóa 3 Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Trung Quốc đang thực hiện phong trào “Nhảy vọt lớn”, chúng tôi háo hức theo rõi tình hình, rục rịch làm theo. May mắn là dưới sự lãnh đạo của thầy Tạ Quang Bửu và sau đó là thầy Hoàng Xuân Tùy, ĐH BK Hà nội không luyện thép bằng lò cao thủ công v.v. nhưng tôi còn nhớ, Đại học Nông nghiệp ở mạn Văn Điển lúc đó mấy đêm liền đèn điện sáng một góc trời để đón khách tham quan xem thành quả cấy dầy “em bé có thể đứng trên ngọn lúa" mà không tụt ngã. Ôi cái thời ấu trĩ!

Sau khi tốt nghiệp Kỹ sư máy móc Hóa Chất khóa đầu tiên của ĐHBK Hà nội năm 1962, tôi được phân công về làm việc tại một đơn vị thuộc Bộ Ngoại thương và tháng 8 năm 1966 được cử sang công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh. Không biết có phải là cái duyên, cái nghiệp hay không mà ngày tôi tới Bắc Kinh cũng là ngày các tiểu tướng Hồng Vệ Binh công khai xuất hiện trên đường phố, dùng dao rạch quần ống loe, chặt nát giầy mõm nhái, bắt thay đèn đỏ, tín hiệu dừng xe vì cho rằng màu đỏ là màu cách mạng chỉ tiến không dừng v.v.

Tôi gắng sức tự học để nâng nhanh trình độ Trung Văn, bắt đầu đọc được báo chữ lớn và nghe hiểu tin trên VTTH. Tôi lần lượt được thấy cảnh ông Bành Chân bị các “tiểu tướng” bóp lè lưỡi, cảnh tướng Lã Chính Thao, Bộ trưởng Bộ Đường sắt, đầu đội mũ bằng giấy cao hơn 1m, không khăn quàng cổ bị “võ đấu” trong một tối mùa đông giá lạnh…, rồi các bài báo chính thống phê phán nặng nề Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Đào Trú, Hạ Long, Bành Đức Hoài.. và một số văn nghệ sĩ, trí thức… nổi tiếng là những “tên phản bội , đầu hàng, quân phiệt, công đoàn vàng, cơ hội hữu khuynh, chống phá tư tưởng Mao Trạch Đông…” những người trong một thời gian dài đã là “bạn chiến đấu thân cận” của “người cấm lái, người thày… vĩ đại”.

Một câu hỏi không thể không đặt ra: đồng chí ra sống vào chết với nhau mà họ còn đối xử tàn tệ như vậy, thì ta là cái thá gì? Lần đầu tiên tôi ngầm tự đặt cho mình câu hỏi đó và bước đầu tìm được câu trả lời.

Song song với những sự việc trên là một số thái độ “nước lớn, trịch thượng” với đủ thủ đoạn mánh khóe lúc trắng trợn lúc xảo quyệt đã được tung ra khi chúng ta làm khác họ, không theo họ.

Không kể những bất đồng xảy ra giữa hai bên trước đó mà tôi được các bậc cha chú tin cậy nói cho biết, nhưng vì chưa thấy tận mắt nên chưa ăn sâu vào dạ. Phải đến năm 1967 khi chúng ta chuẩn bị tiến hành đàm phán với Mỹ tại Paris về vấn đề Việt Nam tôi mới có dịp trông thấy nhãn tiền. Lúc này đàm phán cấp đại sứ Trung Mỹ đang bị gián đoạn.

Lo ngại Việt Nam trực tiếp tiếp xúc với Mỹ sẽ khiến giá trị của Trung Quốc đối với Mỹ kém đi, trong nội bộ họ vừa phê phán chúng ta là không dám kiên trì chiến đấu, vừa tìm cách trì hoãn đón đoàn cấp cao của ta sang xin viện trợ. Khi đoàn chuyên viên của ta trình bày khó khăn và đề xuất con số cụ thể về viện trợ lương thực, một Vụ phó Trung Quốc đã nói: thời kỳ Trường Chinh, Hồng quân của chúng tôi phải ăn cả cỏ để chống đói và luộc thắt lưng da để ăn cho có chất béo!

Những người Việt Nam có mặt hôm đó không thể nào quên câu nói “đắng họng” này. (Với kỷ luật rất nghiêm của chúng tôi thời đó, câu chuyện này rất ít người biết.) Ấy thế mà sau khi chắp nối được với Mỹ họ lại “khảng khái, vô tư” viện trợ cho Việt Nam và còn bảo: nên lấy một ít miến, táo, mì chính… về cho đồng bào thủ đô Hà Nội ăn tết! Rồi còn nhiều cái hớ (hớ chứ không phải là hứa như phóng viên Mặc Lâm đài RFA đã ghi nhầm khi phỏng vấn tôi) mà chỉ sau một thời gian mới thấy.

Ôi, trong cái cảnh còn phải nhờ vả người ta, cứ ấm ức rồi lại cám ơn, cảnh giác rồi lại tin cậy … như một mớ bùng nhùng, gỡ mãi mới tìm ra đầu mối (nhưng đến tận bây giờ vẫn còn một số ít người chưa thấy đấy). Chỉ nhờ vào thực tiễn và những bài học cay đắng, cộng với nỗ lực tìm hiểu phân tích…, chúng tôi mới dần dần hiểu ra. Sự tỉnh ngộ dù chỉ là ban đầu đã mất nhiều thời gian công sức và trả giá như vậy đó, bạn ơi! (Tôi không muốn nói đến bao nhiêu cuộc họp hành nội bộ, đấu tranh gay gắt với nhau nhằm tìm ra chân lý)

Còn ai bảo tôi ngu, tôi xin nhận và cám ơn. Xin nói không phải là để bào chữa cho sự kém cỏi của mình, ngay đến Khorutsov, nhân vật nổi tiếng một thời của Liên Xô cũ đã phải cay đắng thốt lên: “chỉ có những thằng ngu mới tin được Trung Quốc” sau khi bị họ lừa một cách vô cùng khôn khéo! Và không ít người Mỹ cũng đã ăn phải quả đắng của Trung Quốc đấy!

Cho nên nói rằng, ngay từ đầu đã hiểu ngay, hiểu sâu, hiểu hết ..Trung Quốc không bị hớ với họ chỉ là thể hiện sự không hiểu gì về Trung Quốc thôi.

Anh bạn mới quen, nhưng có lẽ vì cũng là dân cùng nghiệp nên đã lặng lẽ tỏ vẻ tán đồng.

Tháng tám năm 2010.


Theo dòng thời sự:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Can-not-see-china-clearly-at-the-beginning-08252010140725.html

SƠN TRUNG * NGƯỜI CỘNG SẢN TIẾN BỘ?


Lúc bấy giờ, chúng tôi đi dạy Hòa Hảo, Cao Đài và Cần Thơ thường bằng xe Van của các Viện. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng đi Hòa Hảo, Cần Thơ bằng máy bay. Tôi còn nhớ ấn tượng một ngày trước 1975, tôi lên dạy tại Đại Học Cao Đài. Khi về, xe của Viện Đại Học đi trong buổi chiều gần hoàng hôn qua vùng hoang vắng. Tôi nói:
"Lúc này vắng vẻ quá, coi chừng cọp ra chận đường!"

Trên xe lúc bấy giờ có vài giáo sư, vài vị chức sắc, và ngài Viện Trưởng Luật sư Nguyễn Văn Lộc nguyên Thủ tướng thời Nguyễn Cao Kỳ. Ngài chức sắc ( tôi đã quên tên và phẩm vị của Ngài) trấn an tôi với giọng điệu tin tưởng: "Cụ Hồ rất trọng Ngài Hộ Pháp. Thấy cờ và xe của Đạo là họ tránh xa." (Chắc là hai bên có mật ước!)

Ngài Viện trưởng nói:" Cộng sản bây giờ tiến bộ lắm, không phải như hồi 1945!"
Nghe các Ngài nói vậy, ai cũng im lặng nghe. Và tôi cũng không dám có ý kiến tiếp nhưng lòng ngao ngán vì Ngài Viện Trưởng là một tiểu thuyết gia, một luật sư và một thủ tướng chính phủ quốc gia mà trình độ chính trị như vậy! Lời của hai ông đều sai về phương diện lý luận và thực tế. Nếu có tiến bộ thì không phải tất cả đảng viên cộng sản, và đảng cộng sản đều tiến bộ. Hơn nữa, hai ông là người Nam Kỳ, chưa nếm mùi cộng sản cho nên có it nhiều mỹ cảm với cộng sản.

Sau 1975, mỗi người mỗi ngả, tôi không còn gặp lại hai ông, nhưng tôi biết hai ông Viện trưởng và chức sắc đều có dịp bóc lịch vài năm trong trại tù cộng sản để suy gẫm về đề tài cộng sản tiến bộ hay không và tiến bộ cỡ nào!


I. CỘNG SẢN CÓ TIẾN BỘ KHÔNG?

Con người phức tạp. Của ba loài, người ba đứng, ta không thể nói một cách tổng quát như Marx rằng tư bản bóc lột! Cộng sản có nhiều loại. Không phải tất cả đều tiến bộ. Cộng sản Tây Âu khác cộng sản Đông Âu. Cộng sản châu Âu khác cộng sản châu Á. Cộng sản có loại đầu gấu, loại tép riu; loại ngu dại mà chạy theo, hạng bắt buộc mà phải phục tòng. Cộng sản có loại là trí thức như Pon Pot, Tôn Thất Tùng, Trần Văn Giàu, và đám cộng sản đệ tứ! Cộng sản tất nhiên có rất nhiều loại lưu manh hoặc vô học như Trần Quốc Hoàn, Võ Chí Công, Đỗ Mười, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng. . .Ta chỉ biết một cách tương đối rằng đa số cộng sản là tàn ác, lưu manh. Còn tuyệt đối không ai bảo đảm tất cả cộng sản đều tiến bộ ít nhiều. Ở Sài gòn sau 1975, mấy ông tổ trưởng dân phố tân tòng mà cũng ghê gớm lắm huống hồ bọn cộng sản chính cống đã từng đấu tố cha mẹ và giết người hàng loạt!

Tuy nhiên, chúng ta có thể chia cộng sản làm hai loại. Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pon Pot là đại gian, đại ác, trước sau vẫn như nhau, không thay đổi, thành thử không có gì gọi là tiến bộ. Còn cộng sản như Gorbachov, Triệu Tử Dương, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Đức Thảo, Hữu Loan, Trần Dần, Trần Xuân Bách, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Kiến Giang, Trần Độ . . . . . đã bỏ đảng mà theo nhân dân thì quả là cộng sản tiến bộ.

II.CỘNG SẢN TIẾN BỘ NHƯ THẾ NÀO?

Những người cộng sản được gọi là tiến bộ là vì họ đã nhìn ra những sai lầm của chủ nghĩa Marx, những tàn ác, xấu xa và bất công của chính quyền và đảng cộng sản trong khi đa số nhân dân và đảng viên vẫn u mê tin tưởng vào những lãnh tụ ngu dốt và tàn bạo của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Hung, Ba Lan. . .So với những đảng viên cộng sản thì họ là người tiến bộ, nhưng so với người quốc gia muôn thuở thì chẳng có gì là tiến bộ, vì tất cả những điều họ hô hào như tự do, dân chủ, mở cửa giao thương, kinh doanh làm giàu . ..thì đã có từ lâu. Từ lâu, con người đã tự do sống, tự do kinh doanh. Tại Việt Nam thì có An Tiêm, tại Trung Quốc thì có Lã Bất Vy, Thạch Sùng. Từ lâu, đức Phật đã hô hào bãi bỏ phân biệt giai cấp, và Mạnh Tử đã chủ trương "quân vi khinh, dân vi quý"! Chậm nhất là cách mạng Pháp 1789 loài người đã tích cực tranh đấu cho dân chủ, một nền dân chủ thật sự chứ không giả dối như Marx, Lenin, Stalin.

Dẫu sao thì họ cũng đã có công, đã có ý chí quật cường chống lại chủ nghĩa cộng sản dù phải hy sinh tánh mạng và đời sống của mình và vợ con! Họ đã lên tiếng phản đối hoặc hành động chống lại những đường lối phi dân chủ của cộng sản chuyên chế. Họ đã bị giáng chức, bị đuổi ra khỏi đảng hoặc bị tù, hoặc bị canh giữ nghiêm ngặt. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm phần lớn là chiến sĩ chống Pháp, là đảng viên đã lên tiếng đòi tự do văn nghệ, phản đối chính sách bóp cổ văn nghệ sĩ của bọn chính ủy, bọn cai thầu văn nghệ và công an văn hóa!

Những người cộng sản tiến bộ này cũng có thể chia ra nhiều loại. Có thể có người có tư tưởng giống ta là những người quốc gia nhưng một số có tư tuởng khác người quốc gia chân chính. Họ chỉ giống ta một vài phần thôi!

Ví dụ ông Đặng Tiểu Bình. Ông chống Mao và bị Mao tước quyền và bắt giam vì tội " đi theo con đường tư bản chủ nghĩa"! Mao kết tội ông rất đúng, không oan! Trong cuộc cách mạng vô văn hóa của Mao, con trai ông bị ném xuống lầu ba què chân phải đi xe lăn. Sau ông được phục quyền ra tay trừ bè lũ bốn tên, hủy bỏ chính sách ngu dốt và cực đoan của Mao, mở cửa cho ngoại quốc đầu tư và khuyến khích dân chúng làm giàu.Ông và bè lũ cộng sản gọi chính sách Đặng Tiểu Bình là đổi mới nhưng thực chất là " trở lại con đường tư bản chủ nghĩa" đúng như Mao đã kết tội ông. Ông chỉ bắt chước cái cũ của quân chủ và tư bản thế là ông khôn hơn Marx và Mao vì theo quân chủ và tư bản thì mới có tiền, chứ theo Marx, Lenin, Stalin và Mao thì tan nát và nghèo đói!


Nhưng ông chỉ tiến bộ đến đó thôi. Ông vẫn chủ trưởng độc tài đảng trị, mở lối cho nạn tham nhũng và bè phái, bóp nghẹt tự do dân chủ của nhân dân. Ông phạm tội ác khi xua quân xâm chiếm Việt Nam. Con ông bị Hồng Vệ binh ném xuống đất làm cho què chân nhưng ông đã ra lệnh dùng xe tăng giết hàng ngàn sinh viên ở Thiên An môn ! Như vậy là ông chỉ tiến bộ về kinh tế mà vẫn bảo thủ về chính trị. Và ông còn tàn ác hơn "bè lũ bốn tên" đã làm hại ông và con ông!

Một ví dụ khác là ông Lưu Á Châu. Ông chủ trương Trung Quốc muốn tồn tại thì phải theo kinh tế và chính trị Mỹ. Đó là điểm sáng suốt và tiến bộ của ông. Nhưng ông cũng có mặt phản động đối với chân lý loài người. Ông hùa theo Đặng Tiểu Bình ca tụng việc Trung Quốc đánh phá Việt Nam năm 1979, và việc tàn sát Thiên An môn 1989!

Ở Việt Nam không thiếu những con người tiến bộ kiểu này! Nguyễn Văn Linh theo Nga và Đặng Tiểu Bình mà đổi mới năm 1986, nhưng it lâu sau, ông lại trở về đường lối chuyên chế sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Như vậy là Nguyễn Văn Linh không hoàn toàn tiến bộ!

Một vài người cho rằng Võ Văn Kiệt tiến bộ nhưng theo thiển kiến, ông chỉ giả đò nhân nghĩa. Ông thẳng tay bỏ tù nhân dân miền Nam thế mà sau khi hưu trí, ông hô hào hòa hợp hòa giải! Tại sao ông không thực hiện hòa hợp hòa giải trong thời ông làm Ủy ban Quân Quản Saigon? Ông kêu gọi chống tham nhũng, nhưng gia đình ông mặc sức làm giàu nhờ uy thế đảng, và ông bênh vực tham nhũng vì theo ông người cộng sản phải được hưởng thụ sau bao năm gian khổ!

Một số người miền Bắc bỏ nước chạy sang Hương Cảng. Vì sao bỏ nước ra đi? Vì kinh tế hay vì chính trị? Kinh tế cộng sản làm dân đói khổ tức là có sai lầm về chính trị. Họ ghét cộng sản không? Họ yêu cộng sản, sao không ở lại xây dựng XHCN? Tại sao qua Hongkong mà còn làm lễ mừng 30-4 đại thắng và đánh người miền Nam?


Thực tế cho thấy nhân dân miền Bắc một số đã tiêm nhiễm tuyên truyền của cộng sản cho nên có ác cảm với miền Nam và người quốc gia. Dương Thu Hương chống cộng sản, vạch trần những xấu xa của chế độ cộng sản thế mà viết rằng lính Quốc Gia ăn thịt người, phụ nữ miền Nam bị bóc lột nên phải lấy chồng già. Bà quên rằng Nông Thị Xuân lấy chồng già và bị giết chết cả hai chị em vì danh giá của bậc thánh ! Bà còn cho rằng xã hội miền Nam ăn bám, không lao động. Cái nghề sơn sửa móng tay là một một nghề xấu xa trong một xã hội đồi trụy. Bây giờ tôi thấy bà đã tân trang, có phải là bà Dương Thu Hương trước kia không? Và bà nay nghĩ gì về nghề sơn móng tay, uốn tóc và sửa sắc đẹp?

Vũ Thư Hiên tiến bộ đã mở mắt về thiên đường cộng sản và chủ nghĩa Marx nhưng vẫn cho rằng chủ thuyết Marx là nhân bản, ông xưng tụng bọn cộng sản đã giam cha con ông, khủng bố và bao vây gia đình ông là những nhà cách mạng, và tỏ thái độ ghét Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt đảng và Nguyễn Chí Thiện.

Trần Đức Thảo một đời bị te tua vì cộng sản thế mà trong tác phẩm cuối cùng của ông, ông vẫn cho rằng quan điểm giai cấp của Marx là hoàn toàn đúng và căn bản (1)

Và trong cuộc sống, ta vẫn thấy người XHCN vẫn tự hào:
+ Việt Nam là nhất thiên hạ vì Mỹ mạnh nhất mà bị thua Việt Nam thì trên thế giới, Việt Nam là vô địch!Tiêu biểu lối nói này là Lê Duẩn, Đỗ Mười.
+Chỉ có người XHCN là yêu nước còn bọn chạy theo Mỹ, Pháp là phản quốc! Sự việc này rõ ràng nhất là có một thời người xuất cảnh trước khi ra đi luôn được nghe bọn công an i tờ giảng về lòng yêu nước và bắt nghe bài " Quê hương là chùm khế ngọt"!
+Họ luôn tự hào về thành tích chống Pháp, đuổi Mỹ và xây dựng XHCN. Tiêu biểu cho hạng này là Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn. . .
Nói chung, người XHCN một số chỉ có tiến bộ một phần.



Đừng tưởng rằng bạn dễ dàng nói chuyện với một người cộng sản được gọi là tiến bộ. Cái bệnh trầm trọng nhất của đa số người cộng sản từ trí thức cho đến bình dân thường là kiêu căng, tự phụ và khinh người! Cái tự tôn của họ là họ tự coi là kẻ chiến thắng vì Việt Nam đã đánh thắng bốn kẻ thù lớn nhất thế giới là Nhật, Pháp, Mỹ và Trung Cộng. Họ là đỉnh cao trí tuệ vì hơn hai mưoi năm tốt nghiệp trong đại học chống Mỹ thì không một trường đại học nào có thể sánh bằng!

Họ tiếp bạn, nói chuyện với bạn là họ đã hạ mình lắm rồi! Khi nói chuyện với bạn, trong lòng họ có thể khinh bạn là người mất gốc, là kẻ trụy lạc, không yêu nước, không lao động, không hiểu gì về đất nước và con người Việt Nam. Họ cũng khinh rẻ bọn Việt kiều ngu, bị gái lừa! Và nay họ khinh Việt kiều không xài sang bằng Việt Cộng, Việt kiều bủn xỉn!. . .

Họ cũng khi bọn Việt kiều bụng phệ, đầu sói. . .Không chịu gian khổ, trưởng giả học làm sang, vừa về đến quê hương đã kêu dơ bẩn, chật chội và nóng! Họ ghét cái bọn trẻ Việt kiều không nói được tiếng Việt, cứ nhí nha, nhí nhô Anh, Pháp, Đức! Họ ghét cái cung cách bất lịch sự của Việt kiều về Việt Nam không dám ăn, không dám uống!Chính Phạm Duy đã bị chê là không biết gì về dân ca và không có đóng góp cho công cuộc đánh Pháp, đuổi Mỹ!

Họ khinh ta đã đành. Họ còn khinh tất các dân tộc trên thế giới! Họ chỉ trích dân Nga phản bội XHCN, họ khinh Canada yếu xìu, không có binh hùng tướng mạnh, họ ghét Mỹ là đế quốc, họ ghét Anh Pháp là thực dân. . .

III. TẠI SAO CỘNG SẢN BẢO THỦ HOẶC TIẾN BỘ HẠN CHẾ?

Bên cạnh những người cộng sản tiến bộ thực sự như Gorbachov, Milovan Djilas , có một số bảo thủ hoặc tiến bộ nửa vời. Tại sao vậy?

1. Hạng bảo thủ:
Hạng lãnh đạo và lý thuyết gia số một như Marx, Lenin, Stalin và Mao thì tự cao, tự đắc cho mình là sáng suốt, là tiến bộ nhất thiên hạ nên không bao giờ nghĩ rằng họ sai lầm. Nếu ai phê bình họ, chống đối thì họ cho đó là bọn ngu xuẩn, gian ác, phản động, cần phải tiêu diệt.

Hạng này một phần vì ảo tưởng, một phần là dối trá, xảo quyệt, luôn luôn đề cao, tuyên truyền để lừa dối nhân dân và lừa dối chính họ.Dẫu sao, Lenin cũng đã có phần sáng suốt khi ông lùi bước trong năm 1921 bỏ chính sách kinh tế thời chiến bằng chính sách kinh tế mới. Sau này, Stalin bãi bỏ chính sach kinh tế mới bằng kinh tế chỉ huy tàn bạo và mù quáng.

Hạng này cũng vì tham vọng, muốn qua mặt Mỹ. Con nhái muốn bằng con bò cho nên Stalin cũng như Mao Trạch Đông tiến nhanh tiến mạnh đã đưa ra những chính sách đầy tham vọng, khiến dân chúng nghèo khổ và đói rét, chết hàng chục triệu người.
Còn hạng đàn em, một phần vì tin tưởng lãnh tụ, một phần vì mù quáng, sợ hãi cho nên lệnh trên ban xuống là cúi đầu thi hành, không cần suy nghĩ.

Hơn nữa, trong bao nhiêu năm bị đầu độc về thiên đường cộng sản, và được đào tạo theo khuôn mẫu Nga, Tàu, nay có chút làm khác lạ thì họ lo lắng là sai đường lối đảng. Như hồi mới làm khoán, một số người nói “khoán hộ là mất lập trường. Thà đói chứ không thể làm khoán hộ” (2). Ngày nay, giữa lúc Trung Quốc chiếm biển lấn đất, một số người cho rằng liên minh với Mỹ thì mất đảng. Họ chỉ nghỉ đến đảng mà không nghĩ đến dân tộc, họ không biết rằng đảng cộng sản đã phản bội vô sản, đi trái với đường lối của Marx. Chủ nghĩa Marx bây giờ chỉ là cái vỏ mà ruột là một tổ chức Mafia bán nước buôn dân và giết người cướp của.

2. Hạng tiến bộ

Một hạng cộng sản rất thông minh, hiểu biết. Khrushchev , Gorbachov, Đặng Tiểu Bình không phải là gián điệp Mỹ như một số vu khống. Họ đã ở trong hàng ngũ lãnh đạo cho nên hiểu rõ mọi khuyết điểm của chủ nghĩa cộng sản nên cần phải thay đổi. Chiếc xe đã đến vực thẳm rồi thì phải lui lại, nếu cứ tiến nhanh tiến mạnh thì tất xuống hố sâu vực thẳm.

Một hạng như Trần Đức Thảo, Vũ Thư Hiên tiến bộ nửa vời vì nhãn quan hạn chế, tư duy chưa rốt ráo.

Một số thông minh nhưng phải cúi đầu tuân lệnh lãnh tụ ngu xuẩn.Họ không dám chống đối cũng không dám nói thật cho nên phải nói dối. Việt Nam sản xuất lúa năm bảy tấn một mẫu.Đó là nguồn gốc của "làm láo báo cáo hay". Bởi vì thế mà các cán bộ đàn em Mao phải thi hành bao biện pháp để làm Mao vui lòng như thu các nồi niêu song chảo nấu lại thành đống mà bảo là sản xuất hàng vạn tấn thép tốt nhất thế giới! Họ bịp Mao, bịp nhân dân Trung Quốc và quốc tế. Tuyên truyền, nói láo, bịp bợm đã trở thành quốc tế sách của cộng sản.

Trước 1975, Việt Nam ca tụng Mao với chính sách kinh tế nhảy vọt và thành quả của các HTX đại trà của Trung Quốc. Nhưng sau này, khi Đặng Tiểu Bình dẹp các HTX nông nghiệp, Việt Nam mới có kẻ vuốt đuôi họ Đặng và kể khổ:

Lúc bấy giờ ( 1979 ), nông dân hầu như bị bắt buộc phải tham gia các hợp tác xã nông nghiệp hoặc các tập đoàn sản xuất của nhà nước. Nếu không tham gia thì trong hồ sơ sẽ có một câu dạng như " gia đình không chấp hành đúng đường lối của Đảng và nhà nước ", và với một nhận xét như thế, thì các quyền lợi của các thành viên trong gia đình không còn là bao nhiêu nữa. Do đó, nông dân hầu hết đều tham gia vào HTX hay TĐNG, nhưng không năng suất, hiệu quả, đến giờ làm thì đi, hết giờ làm thì về ( hỏi các nhân chứng sống qua thời kỳ này thì rõ (2).

Người ta cũng nói đến sự đói nghèo của nông dân trong chế độ nô lệ của cộng sản. Vì HTX quá thất bại mà người ta phải lập ra chính sách " khoán". Khoán nghĩa là giao ruộng cho các gia đình canh tác rồi nộp hoa lợi cho đảng.Ta hãy nghe tác giả bài này, ông không ghi danh tánh nhưng ta biết ông cũng là một quan viên lớn của đảng nói đến thất bại của HTX nông nghiệp và lý do bày ra "khoán":

Vậy thì tại sao lại “ra” được khoán 10? Theo tôi có ba yếu tố rất quan trọng.
Thứ nhất, trong cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80, nông dân là lớp người chịu nhiều cực khổ nhất. Nông dân là 80% dân số, lại sống trên toàn lãnh thổ của đất nước nên khi nông dân cực khổ, cái cực khổ bị phơi bầy không thể lấy gì mà che đậy được. Anh công nhân cũng cực khổ, nhưng ít nhất mỗi năm còn có một bộ quần áo bảo hộ; gạo thiếu thì có mì, ngô, có hạt bo bo rồi khoai sắn cấp bù. Còn anh cán bộ, các quan chức thì ngành lương thực thực phẩm nhất thiết không dám bỏ đói thì ta biết rồi. Đó là một cuộc khủng hoảng dai dẳng và nguy hiểm, dân đói quá, không có ngoại tệ để mua gạo. Tôi nhớ năm 1987 có bài báo nói 21 người bị chết đói ở Bệnh viện Thanh Hóa, Quốc hội đã chất vấn tôi về trách nhiệm để dân chết đói, có ý kiến đòi bãi chức (2).

Một số tiến bộ đã đưa ra một vài chính sách như Đặng Tiểu Bình, Nguyễn Văn Linh. đã mở cửa cho tư bản đầu tư. Việc này, nhiều báo chí và nhà bình luận đã nói. Tôi xin đưa thêm một thí dụ về chính sách "khoán nông nghiệp" mà còn gọi là khoán 10, khoán 100.

Trước tình thế nông dân khốn khổ, một số cộng sản thông minh không biết tự họ nghĩ ra hay học Liên Xô, Trung Quốc. Trên bình diện lý luận, khoán tức là làm trái với chính sách quốc hữu hóa, làm ăn tập đoàn và bãi bỏ tư hữu của Marx. Khoán là trở lại con đường tư bản chủ nghĩa. Nhưng trung thành theo Marx, Mao và Hồ thì rõ ràng là đói. Người cộng sản có lương tâm không nỡ để dân chết hàng ngàn, hàng vạn trước mắt mình. Chính là Kim Ngọc (3) tỉnh ủy Vĩnh Phú là người cực kỳ thông minh và tiến bộ và cũng có lòng nhân đạo trong thập niên 60 có sáng kiến "khoán" . Ông biết là làm vậy là phạm tội chống đảng, nhưng thương dân mà ông phải "làm chui" trong 20 năm! Cái lạ là trong đảng ủy Vĩnh Phú thiếu gì tay bảo thủ, giáo điều, gian nịnh, sao họ không báo cáo cấp thời những hành động " chống đảng, phản Marx " của Kim Ngọc mà phải chờ đợi hai mươi năm mới tiết lộ? Họ thông cảm với ông, họ hiểu ông và thương ông, kính trọng ông đến thế sao? Tội nghiệp cho ông vì đi trước thời đại nên ông bị cách chức và sống trong tủi nhục.

Sau đó thì Nguyễn Văn Linh mới theo đó mà bày ra khoán nhưng họ cũng đấu đá dữ dội nhân danh Marx và XHCN. Ta thử xem một đoạn như sau:

Sau khi kinh nghiệm khoán của Đoàn Xá được thí điểm ở toàn huyện Đồ Sơn và Hải Phòng đem lại kết quả tích cực, Hội nghị Trung ương 9 khóa IV (tháng 12/1980) đã quyết định mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Tuy nhiên, theo Hoàng Tùng, lúc bấy giờ trong Bộ Chính trị chỉ có Tổng bí thư Lê Duẩn và các ông Võ Chí Công, Lê Thanh Nghị và Hoàng Tùng là ủng hộ chính sách khoán. Còn lại, bao gồm cả Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương Đảng, phản đối. Trong Hội đồng Chính phủ thì chỉ Bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu ủng hộ, Chủ tịch Hội đồng Phạm Văn Đồng lưỡng lự, một số Phó Chủ tịch Hội đồng phản đối.(2)

So với HTX thì khoán thành công. Tác giả bài trên cho biết vài điểm như sau:
Chỉ sau 10 tháng triển khai khoán 10, cả nước đã xuất khẩu hơn 1 triệu tấn gạo (tôi không nhớ chính xác, nhưng đã dư thừa gạo và XK một lượng lớn.) Sang năm 1989 chúng ta bỏ luôn chế độ sổ gạo. TCty Lương thực phản đối, nhiều Thứ trưởng phản đối; có ông khuyên tôi: “Hãy cẩn thận, nhỡ mất mùa đói kém thì sao?”. Tôi nói chả sao, thiếu gạo thì mang tiền sang Thái Lan, một tuần sau là gạo đã cập bến. Lại có đơn kiện tôi rằng “ông này phá tan hết cả”. Thế rồi, ngay cả khi bỏ sổ gạo mà CBCNV vẫn rất phấn khởi, thóc gạo vẫn tiếp tục dư thừa rồi, có người ở ngành lương thực vẫn còn nhờ một cán bộ cấp cao (tôi không muốn nói tên vì sau đó ông đã bị bãi nhiệm do một việc khác) nói cần duy trì sổ gạo. Tôi đã nói: “Bây giờ bố tôi sống lại bảo tôi làm, tôi cũng chịu. Tôi hãi nó lắm rồi!”(2)

Tố Hữu là một tay bảo thủ, giáo điều không biết ban đầu có ủng hộ khoán hay không nhưng sau này vỗ ngực kể công. Năm 1981, ngôi sao của Tố Hữu sáng chói lắm, thế mà thơ ông dung nhan ảm đạm thê lương:

Đêm cuối năm
Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn,
Dở hay khôn dại, những chê khen!
''Làm ăn'' hai chữ quen mà lạ,
''Thế cuộc'' nhân tình rõ trắng đen.
''Mở lối'' bao xưa người mọc cánh,
Được mùa ''khoán'' mới đất len men.
Tự cường mới biết ai gan góc,
Luồn lọt hay chi phận yều hèn.
Cách mạng mừng thêm vai gánh vác,
Hư danh chừng bớt kẻ đua chen.
Dòng đời cứ chảy tan bèo bọt,
Thế trận lòng dân dậy tiếng kèn (4)


Dù HTX hay khoán, đảng cộng sản vẫn là điền chủ bóc lột, nông dân là nông nô. Khoán hay hơn vì dân tự canh tác, không phải theo mệnh lệnh các giám đốc, chủ tịch HTX ngu dốt, gian ác và nịnh hót. Nhưng khoán có khó khăn vì được mùa hoặc trúng đất tốt thì nông dân có lợi, còn đất xấu và mất mùa thì nông dân mắc nợ. Sau khi khoán ra đời, nhiều nơi nông dân mắc nợ bị đảng ác ôn xiết nhà cửa, trâu bò. . .
Tác giả bài Khoán 100 và khoán 10 cho biết sai lầm của khoán:
Trong thời gian đầu, khoán 100 đã làm đổi mới bộ mặt nông thôn và tạo ra được lượng nông sản lớn hơn ở thời kỳ trước. Tuy nhiên cũng chỉ được một thời gian, sau đó nó bộc lộ một số vấn đề chưa giải quyết được ( hệ thống quan liêu trong các HTX, tính mệnh lệnh hành chính về khoán, đè lên vai ng nhận khoán v.v. ).

Tôi cũng xin đưa ra một thí dụ khác về 5% đất màu. Không biết là ai cũng đã có sáng kiến để cho nông dân mỗi hộ vài thước đất trồng riêng.Kết quả với 5% đất riêng này đã có khoảng 30% đến 50% lợi tức.
Một học sinh lớp ba cũng có thể giải bài toán thuộc quy tắc tam xuất này:

5% đất đai cho 50% hoa lợi,
Vậy 100% đất đai cho bao nhiêu hoa lợi?


Tại sao không giao đất 100% cho nông dân? Tại sao không đạp Mác Lê và Mao xuống hố phân? Tại sao còn theo Cộng sản nghèo khổ và tàn ác?
Bởi vì cộng sản bảo thủ, giữ quyền lợi riêng tư.
Chính Nguyễn Văn Linh đã nói:
Chỉ có 5% đất đai đã đem lại hơn một nửa thu nhập cho nông hộ, cứu đời sống của nông dân; sao không biến 5% thành 100%? (2)

Nguyễn Văn Linh nói đúng! Tại sao không để cho nông dân tư hữu 100%? Cái mà cộng sản khoe khoang là đổi mới thì ông cha ta đã thực hiện mấy chục ngàn năm, mấy trăm ngàn năm, và anh nông dân i tờ cũng biết. Chỉ có Marx, Lenin, Stalin, Mao, Hồ mới suy nghĩ tai hại như thế! Cái mà họ xưng tụng " cách mạng" là sai lầm, là đặt đầu xuống đất, giơ chân lên trời. Nay mệt mỏi và suy tàn, họ phải trở lại cũ mà tự vỗ ngực là " đổi mới"!

Một ông cộng sản bự bị bệnh. Lẽ tất nhiên ông có tiêu chuẩn cao, có thầy thuốc Liên Xô, Trung Quốc tài giỏi phục vụ cho ông. Nhưng bệnh ông bất trị. Nghe lời bạn bè và thân nhân người Nam, ông tìm đến một bác sĩ "ngụy". Kết quả ông lành bệnh nhanh chóng.

Ông hỏi bác sĩ:
"Ông có thể đào tạo những bác sĩ giỏi như ông không?
Vị bác sĩ nói:
"Được. Nhưng với điều kiện ông phải để tôi chọn sinh viên"!
Ôi! Từng ấy lời và chữ nhưng đã diễn tả hết bao cay đắng và ngu dốt của XHCN. Chính cái chủ trương vô sản chuyên chính, hồng hơn chuyên, chính cái bệnh lý lịch và bệnh tham nhũng đã tàn hại giáo dục, y tế và xã hội này!
Người cộng sản ngu ngốc thì giáo điều. Người cộng sản có trí khôn cũng giả đò giáo điều để sống còn và hưởng quyền lơi.

Người cộng sản có chút trí khôn biết theo cộng sản là sai lầm, Họ biết chủ nghĩa cộng sản mà họ phục vụ trong bao nhiêu năm là một đại họa, nhưng biết làm sao? Nếu lên tiếng chống đối chủ nghĩa Marx và chính sách của đảng cộng sản thì họ sẽ bị chính các đồng chí ông bằm vằm họ ra trăm ngàn mảnh, hoặc tống ông vào ngục tối! Làm sao đuợc trước một cơ chế tàn bạo như thế đang đứng trên đầu, trên cổ nhân dân. Họ sợ cộng sản tàn bạo mặc dầu họ là đảng viên cao cấp. Trường Chinh, Chu Văn Tấn,Võ Nguyên Giáp, Đặng Kim Giang, Lê Liêm, Đỗ Đức Kiên, Lê Trọng Nghĩa, Lê Minh Nghĩa, Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính . . .đã là nạn nhân của chế độ cộng sản mà họ tôn thờ ! Ông Giáp im lặng và cúi đầu nên mới thọ trăm tuổi dù phải sống 60 năm tủi nhục! Ai cũng thông minh nhưng không ai dám lên tiếng. Ai mà không biết HTX là đại họa?Ai mà không hiểu cộng sản là phản quốc hại dân? Ai mà không biết thờ Mao thì bị Mao nuốt sống!Ông Dương Danh Dy (trước đây), và lũ đại biểu quốc hội bù nhìn ( hiện nay) biết cộng sản bán nước và Trung Quốc xâm lược nước ta nhưng họ im lặng vì phải giữ cái đầu trên cổ và giữ nồi cơm!Tác giả bài khoán 100 và khoán 10 đã nói lên tâm lý sợ hãi của đảng viên hèn nhát và vô trách nhiệm:

Dẫu sao thì tôi cũng có cảm giác rằng, vấn đề thì ai cũng biết là phải, là đúng, là có lợi cho nền kinh tế trước hết là kinh tế nông thôn, nhưng nỗi ám ảnh sợ sai, sợ trách nhiệm khiến tất cả im lặng (2).
Chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản trở thành thế lực cực kỳ phản động sát hại nhân dân, tàn phá quê hương, và đi ngược sự tiến hóa của nhân loại.

Hơn nữa, một số không muốn thay đổi vì thay đổi có thể làm cho bản thân họ mất quyền lợi. Không ai giàu hơn cộng sản vì họ nắm lợi tức toàn quốc. Không ai có uy quyền bằng cộng sản vì họ có tự do bán nước, phản dân, cướp bóc tài sản quốc gia và tài sản nhân dân. Họ dùng bàn tay sắt xiết họng nhân dân, không ai dám chống đối họ.



Còn lâu người cộng sản mới gột rửa hết nọc độc cộng sản để trở thành người quốc gia chân chính và tiến bộ thật sự! Ý thức hệ cộng sản, chủ trương tiêu diệt văn hóa cũ của cộng sản đã phát huy thú tính của con người trong tư tưởng và hành động. Rất it thanh thiếu niên Hà Nội còn mang it nhiều nét thanh lịch cuả Hà Nội ngày xưa! Con người Hà Nội 36 phố phường đã mất tich rồi. Họ đã chôn xác trên rừng sâu, họ đã bỏ vào Nam và sang Pháp, sang Mỹ. Một số it còn ở lại. Nhưng rất khổ đau và mang nhiều vết thương. Còn lâu lắm, giữa người quốc gia và cộng sản mới san bằng được hố sâu về tư tưởng. Cổ nhân nói đúng. Giáo dục sai lầm thì tai họa đến vài thế hệ. Sau khi cộng sản bị tiêu diệt, phải mấy thế hệ mới tuyệt chứng cộng sản trong tư tưởng và đời sống hàng ngày của nhân dân ta?



____

CHÚ THÍCH
(1)+Trần ĐứcThảo.Vấn Đề Con Người và Chủ Nghĩa Lý Luận Không Có Con Người (Le Problème de l'Homme et l'Antihumanisme Théorique] (1988). In lần thứ hai có viết thêm. Saigon: NXB Hồ Chí Minh, 1989.
+NGUYỄN THIÊN THỤ * TRẦN ĐỨC THẢO.
(2).Không rõ tên tác giả. Khoán 100 và khoán 10 trong nông nghiệp. Gửi ngày thứ Bảy 17/04/10 22:20. http://www.huaf.edu.vn/diendan/viewtopic.php?f=119&t=7194
(3). Kim Ngọc (1917-1979) là nguyên Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phú, ông được mệnh danh là "cha đẻ của khoán hộ" mà người ta quen gọi là "khoán mười", "cha đẻ của đổi mới trong nông nghiệp" ở Việt Nam.
Ông tên thật là Kim Văn Nguộc, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1917 tại thôn Đại Nội, xã Bình Định, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Ông tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1939. Năm 1954 ông là Phó Chính uỷ Quân khu Việt Bắc. Đến năm 1958 là Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1968 hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sát nhập thành tỉnh Vĩnh Phú, ông tiếp tục giữ chức vụ Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú cho đến năm 1978.
Ông là người khởi xướng việc khoán hộ trong nông nghiệp Việt Nam vào thập kỷ 60 của thế kỷ 20, và do không được người cùng thời đánh giá đúng về khoán hộ nên đã bị phê phán, phải làm kiểm điểm. Tuy nhiên, ông vẫn được tiếp tục bầu làm bí thư tỉnh uỷ và giữ chức này cho đến khi ông về hưu vào năm 1978.Ông mất ngày 26 tháng 5 năm 1979.
Năm 1995, ghi nhận những đóng góp công lao, trí tuệ của ông cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã tặng Huân chương Độc lập hạng nhất cho ông Kim Ngọc.
Năm 1996, hai ngôi trường nơi ông sinh ra ở xã Bình Định, huyện Yên Lạc được đặt tên ông. Năm 2005, một trong những con đường đẹp nhất của thành phố Vĩnh Yên cũng được mang tên ông.
Năm 2009, ông được chính phủ truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
(4). Báo Nhân Dân, ngày 31-12-1961.









Wednesday, August 25, 2010

HANG ĐÁ AJANTA ẤN ĐỘ




CHÙA HANG AJANTA (ẤN ĐỘ)




I. TỔNG QUAN QUẦN THỂ CHÙA HANG

Hang động Ajanta được biết tới như một quần thể kiến trúc nguy nga đẹp đẽ vốn được xem như một đại diện ưu tú cho Phật giáo của thời kì hưng thịnh ở Ấn cổ, từ khi phật giáo còn nằm nôi và bắt đầu phát triển vươn rộng.



Ajanta ở ngay trong khu vực vốn được xem như cái nôi của nhiều tôn giáo quan trọng, trong đó có Phật giáo, là lưu vực sông Hằng, kéo dài từ đó đến cao nguyên Deccan. Đứng dựa mình vào một nền vách đá cao khoảng 76 mét, nên dĩ nhiên hang động Ajanta có riêng cho mình khoảng không gian đủ rộng để có thể dung chứa một nền kiến trúc tráng lệ như thế. Ngoài chút huyền bí cần có cho riêng mình, Ajatan nằm ngay vào khu rừng rậm hoang vu trong cao nguyên Deccan, bên dưới trước mặt là dòng sông Waghora lặng lẽ, vốn đầy đủ địa lợi để trở thành một cứ địa quan trọng trong sự phát triển của phật giáo.



Các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ hầu hết đều là phế tích. Khắp nơi là cảnh hoang tàn đổ nát, chỉ còn lại các dấu vết, nền nhà, vài đoạn tường, vài các tháp xiêu vẹo nham nhở. . .v.v. . . .Thời gian tàn phá thì ít nhưng cái chính là vì sự tàn phá hủy diệt của quân Hồi giáo và sự thờ ơ của dân Ấn vốn theo Ấn Giáo trước giáo pháp của Như Lai. Chúng tôi càng đi theo vết chân của Như Lai thì càng gặp cảnh hoang tàn của phế tích. Niềm tin, lòng thành kính và cái buồn cứ đan xen, quyện vào nhau trong suốt cuộc hành trình của những người con của Phật đang tìm về nguồn cội. . . .

Tổ hợp chùa hang Ajanta nằm ở triền núi sông Waghora, cách thành phố Aurangabad 108 km về hướng đông bắc, thuộc bang Maharashtra. Bởi vì chùa hang Anjata là một kiệt tác về nghệ thuật của Phật giáo đã được Unesco công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới. Và cũng bởi vì chùa hang Anjata ở giữa núi rừng heo hút nên đã thoát khỏi các cuộc tàn phá của quân Hồi Giáo. Do vậy tham quan Chùa Hang Anjata trước khi kết thúc chuyến hành hương quay về quê nhà Việt Nam sẽ để lại dư vị ngọt ngào trong tâm những người con của của Phật trước di tích hoành tráng diểm lệ tràn đầy tính nghệ thuật và tính thiêng liêng thể hiện thời kỳ vàng son hưng thịnh của Phật giáo tại Ấn Độ.

(Tổ hợp chùa hang Ajanta nằm trong một dãy núi đá hình móng ngựa giữa cao nguyên Deccan )


Đạo Phật chi phối từ lưu vực sông Hằng, kéo dài đến phía nam cao nguyên Deccan. Nằm ẩn mình trong khu rừng rậm hoang vu của cao nguyên Deccan, hang động Ajanta đã bị lãng quên trong một thời gian dài. Vào năm 1819, một nhóm người Anh đi săn cọp trong khu vực này đã tình cờ phát hiện hệ thống hang động Ajanta.


Hang động được bố trí theo dạng hình móng ngựa, khoét sâu vào bên trong vách núi đá thẳng đứng cao 76m. Lưu vực sông Hằng thuộc Đông Bắc Ấn Độ là cái nôi của nhiều tôn giáo quan trọng, đồng thời là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa lâu đời của người Ấn Độ. Vào thế kỷ thứ III TCN, nơi đây được xem là cứ điểm của đạo Phật trước khi được phổ biến khắp Ấn Độ.


Những ngôi chùa đá này bắt đầu được đục khắc vào thế kỷ thứ II (tr. TL) và kết thúc vào thế kỷ thứ VII (TL), từ thời kỳ các bộ phái Hinayana Phật giáo thịnh hành ở vùng đất này cho đến thời điểm Phật giáo Đại thừa phát triển, từ thời điểm tượng Phật chưa được phụng thờ cho đến khi yếu tố Mật giáo in dấu lên các pho tượng Phật và những vị Bồ-tát. 900 năm cho 30 hang động lần lượt ra đời, để rồi sau 1200 năm bị vùi lấp trong quên lãng, tình cờ được khám phá và trở thành một di sản thế giới qua công nhận của UNESCO. Các động này do quân đội Anh khám phá năm 1819, khi Ấn Độ là thuộc địa của Anh.


Viện Khảo Cổ Ấn Độ tiếp tục khảo cứu và điều tra, xác định được 28 động, và được ghi lại trong các quyển sách của ông James Burgess xuất bản vào năm 1880. Động thứ 29 (15A) được tìm ra vào năm 1956. Các động Ajanta bắt đầu được đào khoét vào núi vào thế kỷ 2 trước Tây Lịch đầu tiên do các tu sĩ thuộc phái Thượng Tọa Bộ (hang số 8, 9, 10, 12, 13, 15A), và cộng đồng Phật giáo tiếp tục xây dựng trong 700 năm cho đến thế kỷ 5 Tây Lịch. Các hang sau nầy có màu sắc của Đại Thừa (các hang số 1, 2, 16, 17, 19, 26), phản ảnh sự chuyển hướng của Phật giáo Ấn Độ. Một số hang còn xây dựng dở dang, chưa hoàn tất.



Phức hợp chùa-hang Ajanta gồm 30 chùa được khoét vào vách núi, tất cả làm thành một hình vòng cung lớn ôm lấy con suối chảy qua trước mặt. Các chùa-hang này bắt đầu được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, tiếp tục cho đến tận thế kỷ 9. Cho nên, nói như Chritmas Humphey: “Ở đây, trong một ngày, ta có thể xem toàn bộ lịch sử của nghệ thuật Phật giáo”.




Tất cả các ngôi chùa nằm san sát nhau, ngày nay người ta gọi tên theo số, từ ngôi chùa I cho đến ngôi chùa XXX, trong đó ngôi chùa IX và ngôi chùa X là hai công trình được tạo tác sớm nhất, từ thời Vương triều Andra. Hầu hết các ngôi chùa hang khác được xây dựng, tạo tác trong vương triều Phật giáo Gupta, từ thế kỷ IV đến thế kỷ VIII. Vương triều Andra bắt đầu từ năm 28 trước công nguyên, kéo dài 460 năm, là một thời kỳ bình yên với sự phát triển khá mạnh về kỹ nghệ và thương mại, có nhiều thành phố mới được xây dựng, rất hưng thịnh. Những công trình kiến trúc thời kỳ này đã đạt đến đỉnh cao của kỹ nghệ, trong đó tiêu biểu là chùa hang số IX và chùa hang số X.

II.KIẾN TRÚC &ĐIÊU KHẮC

Mặt ngoài, mỗi ngôi chùa thường có khoảng 20 cột đá đục đẽo liền từ núi đá nguyên thủy, rồi chạm khắc, trang trí công phu. Bước qua hàng hiên là tới đại sảnh, hai bên có hai dãy trai phòng, nơi cư ngụ của các nhà sư. Người ta đục đá tạo tác bàn thờ lớn từ giữa hang chùa đến đáy hang chùa. Chính bởi phải cắt đục lòng núi để tạo thành chùa nên người đời mới gọi là chùa hang. Có những ngôi chùa rất lớn như chùa hang XVI, gian hành lễ rộng đến 400m2.

Chùa hang I, chùa hang II cũng có những phòng lễ hội rộng mênh mông với những cột lớn được chạm khắc tỉ mỉ và các đường soi nuột nà. Chân cột vuông, đỉnh cột có vầng tròn áp trần hang trang trí những tràng hoa lớn công phu. Chùa hang XXVI có các hàng cột vĩ đại đỡ ngạch cửa khổng lồ với những hình chạm trổ tinh mĩ.



















Dòng chảy Phật giáo dần lan rộng và phát triển ra một khu vực rộng lớn. Thời bây giờ, Ấn Độ được xem là vùng đất của đạo Phật, nơi hành hương quan trọng đối với những tín đồ sùng đạo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, Phật giáo cũng được phân chia thành nhiều trường phái khác nhau. Từ đó, tính chất thuần nhất của đạo Phật cũng không còn nguyên vẹn.
Những vết tích đền đài này mãi là một minh chứng cho một nền phật giáo hưng thịnh khi xưa, cho dù hôm nay tính chất thuần túy và không gian sống của phật giáo đã thay đổi biến suy bao nhiêu đi nữa.



(Bích họa ở chùa hang Ajanta /Ấn Độ)



Tổ hợp chùa Hang Ajanta nằm trên lưng chừng dãy núi đá hình móng ngựa nhìn xuống một cái vực sâu. Hôm chúng tôi đến nơi đây, cao nguyên Deccan vào mùa khô. Sông Waghora nằm dưới đáy cái vực sâu trước chùa, cạn khô trơ đá sỏi. . . Cây cối rụng lá tiêu điều và ánh nắng chói chang như thiêu như đốt. Nhen sóc, khỉ, quạ, chim chóc, gà rừng lang thang trong khu rừng thưa đầy cọ và cây chà là để kiếm ăn.


Trong tiếng gió thổi ào ào qua núi đá và tiếng quạ kêu buồn bả trên non, có tiếng cười, tiếng nói, tiếng trầm trồ thán phục của khách nhàn du. . . . Du khách rất đông, người nước ngoài và người bản xứ, toàn những người đến đây để xem cái hoành tráng của dãy núi đá khổng lồ đã được sức người đục rỗng ruột thành hang, thành chùa, với vô số cột, vô số tượng, vô số tranh tường, vô số phù điêu tinh xảo diễm lệ.



Từ một dãy núi đá khổng lồ, người ta đã đục đẽo, chạm khắc tạo nên những công trình kiến trúc với tầm vóc kỳ vĩ cùng sự tỉ mỉ, tinh tế trong từng chi tiết. Tất cả có 30 ngôi chùa, ngày nay người ta gọi tên theo số. Từ ngôi chùa I cho đến ngôi chùa XXX. Trong đó ngôi chùa IX và ngôi chùa X là hai công trình được tạo tác sớm nhất, từ thời Vương triều Andra. Hầu hết các ngôi chùa hang khác được xây dựng, tạo tác trong vương triều Phật giáo Gupta, từ thế kỷ IV đến thế kỷ VIII.

Vương triều Andra bắt đầu từ năm 28 trước công nguyên, kéo dài 460 năm, là một thời kỳ bình yên với sự phát triển khá mạnh về kỹ nghệ và thương mại, có nhiều thành phố mới được xây dựng, rất hưng thịnh. Những công trình kiến trúc thời kỳ này đã đạt đến đỉnh cao của kỹ nghệ, trong đó tiêu biểu là chùa hang số IX và chùa hang số X. Tất cả các ngôi chùa hang Ajanta đều được tạo tác bằng cách đục khoét sâu vào lòng đá.


Mặt ngoài, mỗi ngôi chùa thường có khoảng 20 cột đá đục đẽo liền từ núi đá nguyên thủy, rồi chạm khắc, trang trí công phu. Bước qua hàng hiên là tới đại sảnh, hai bên có hai dãy trai phòng, nơi cư ngụ của các nhà sư. Người ta đục đá tạo tác bàn thờ lớn từ giữa hang đến đáy hang chùa.


Do phải cắt đục lòng núi để tạo thành chùa nên người đời mới gọi là chùa hang. Có những ngôi chùa rất lớn như chùa hang XVI, gian hành lễ rộng đến 400m2. Chùa hang I, chùa hang II cũng có những phòng lễ hội rộng mênh mông với những cột lớn được chạm khắc tỉ mỉ và các đường xoi tế nhị. Chân cột vuông, đỉnh cột có vầng tròn áp trần trang trí những tràng hoa lớn công phu. Chùa hang XXVI có các hàng cột vĩ đại đỡ ngạch cửa khổng lồ với những hình chạm trổ tuyệt đẹp.

(Hang số 10 /Chùa Hang Ajanta/Ấn Độ/3/2010)

Điêu khắc đá ở chùa hang Ajanta/Ấn Độ/3/2010


Các chùa hang ở Ajanta chứa những bức họa đẹp nhất của nghệ thuật Phật giáo. Dày đặc trên các mái vòm ở các vách chùa hang là những bức tranh màu đặc sắc. Trong 16 ngôi chùa hang có nhiều tranh vẽ bằng màu đỏ, xanh lá cây, xanh lam trên nền đá cẩm thạch, mô tả sinh động những điển tích Phật giáo. Đó là những tác phẩm mỹ thuật vừa lộng lẫy vừa thiêng liêng. Ở 14 chùa hang khác có nhiều bức tranh vẽ các tích Phật cùng nhiều bức tranh mô tả cuộc sống nhiều mặt của người dân Ấn đương thời.































Chùa hang XVIII nổi tiếng với bức bích họa lớn vẽ một phụ nữ và một đứa trẻ, gương mặt họ bừng lên khao khát hướng tới sự giải thoát. Đó là vợ và con của Đức Phật. Trong chùa hang XIX, một điêu khắc đá tuyệt diệu, tạc hình Phật đứng, áo cà sa bó thân, gương mặt Đức Phật đẹp một vẻ đẹp lý tưởng, miệng hơi mỉm cười, đôi mắt nhìn xuống.


Tóc quăn, tai chảy dài, những biểu hiện quý tướng của Phật giới; Nhưng tất cả trông thân thiện và ấm áp lạ lùng. Bức phù điêu đá này được coi là mẫu mực cổ xưa nhất của dáng tượng Phật đứng. Không chỉ là những tác phẩm điêu khắc đá và bích họa mô tả những điển tích Phật giáo một cách toàn vẹn, to lớn và sâu sắc, mà nó bao gồm cả những bích họa và điêu khắc đá mô tả đời sống xã hội Ấn Độ đương thời. Tư tưởng Phật Giáo hòa quyện một cách tự nhiên giữa thế giới thánh thần và đời sống con người.

(Thác trên núi đá chảy xuống sông Waghora trước mặt chùa hang Ajanta/Ấn Độ/3/2010/)


Có tất cả 30 hang, bao gồm Thánh đường Phật giáo và các khu phụ cận. Các nhà khảo cổ đã đánh dấu các hang theo số thứ tự. Họ phân chia các hang động theo từng thời kỳ xây dựng, gồm hai phần: cụm hang được tạo dựng vào giai đoạn đầu và cụm hang được xây sau này. Hang số 12 được đẽo trong thời kỳ đầu và được gọi là Tăng viện; đây là nơi sinh sống của những thầy tu ngày xưa. Họ sinh hoạt và tu hành trong không gian chật hẹp.

Các thầy tu dùng bệ đá làm giường ngủ, họ luôn tuân thủ trong quá trình tu hành khổ hạnh theo cách như thế. Hang số 9 cũng được tạo dựng trong thời kỳ đầu. Khác với hang động dành cho các nhà tu hành, hang số 9 có tên gọi là Tháp viện, là một căn phòng dùng làm nơi cầu nguyện. Tháp viện mang ý nghĩa rất linh thiêng, là nơi tôn thờ thánh tích của Đức Phật. Thời kỳ này hoàn toàn không có sự hiện diện của các tượng Phật. Vì vậy Tháp Phật được xem là một biểu tượng linh thiêng để tôn thờ và phụng sự.

(Tháp Phật ở chùa Hang Ajanta. Đây là thời kỳ chưa có tượng Phật /Ấn Độ /3/2010)

Thời kỳ đầu kéo dài đến khoảng 300 năm. Nhóm hang động thứ hai được tạo dựng vào thế kỷ thứ V, được gọi là thời kỳ sau. Hang số 26 là một điện Phật được xây dựng vào thời kỳ sau với trình độ kỹ thuật cao, các bức tượng chạm khắc đều rất lớn và hầu như tất cả đều còn nguyên vẹn. Trong hang số 26, chúng ta rất dễ dàng bắt gặp những hình ảnh của Phật giáo thuộc phái Mật tông. Khác với các tượng Phật ở Nhật Bản, hình dáng của tượng Phật trong hang là mô hình tượng Phật phổ biến tại rất nhiều nước ở châu Á.


Khác với thời kỳ đầu, trong nhóm hang động thứ 2, tượng Phật hiện diện khắp nơi. Có tượng phật ngồi thể hiện rằng đã đạt được sự giác ngộ dưới cội bồ đề, xung quanh là sự cám dỗ của quỷ ma. Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã trải qua nhiều giai đoạn tu luyện, tất cả đều được thể hiện qua hàng loạt tác phẩm điêu khắc trong hang. Những hình ảnh Phật giáo sống động trong nhóm hang thứ 2 đã phản ảnh sự hưng thịnh của đạo Phật lúc bấy giờ. Trong các hang động này, hình ảnh của phật Như Lai luôn là tâm điểm chi phối mọi vật xung quanh. Nhờ sự hậu thuẫn của triều đình cùng giới quý tộc và thương nhân lúc bấy giờ nên nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ đạt tới trình độ phát triển rực rỡ nhất.

(Chánh điện của một chùa Hang Ajanta, do đục núi đá rồi điêu khắc mà thành /Ấn Độ/3/2010)


Khi mặt trời bắt đầu lặn, tiếng còi vang lên khắp khu chùa hang Ajanta để mời du khách xuống núi. Chúng tôi là những người đi sau cùng. Gió thổi ào ào, nắng chiều nhảy múa trên con đường đá men bờ vực thẳm.

Từ khối đá nguyên người ta đục thành chùa với hoa văn họa tiết và điêu khắc




Chánh điện một chùa Hang Ajanta với Tháp Phật ở cuối hang và 2 hàng cột hai bên


Tượng Phật thuyết pháp tạc theo phong cách Mật Tông ở chùa hang Ajanta


Ở chùa hang Ajanta rất nhiều phiến đá có khắc chữ bùa theo phong cách Mật Tông


Rất nhiều bức bích họa ở chùa hang Ajanta có tính phồn thực theo phong cách Mật Tông




Bức bích họa vợ và con của Phật ở chùa hang Ajanta


Rất nhiều hang, hang nào cũng đẹp, đi cả ngày cũng không hết

La Hầu La và mẹ gặp đức Phật, hang 17





Đục đá làm chùa


Phật nằm hang 26


Điêu khắc hang 2















Du khách thăm thắng tích



Cây cầu bắc ngang qua sông Waghora trước tổ hợp chùa hang Ajanta


CÁC BÀI LIÊN HỆ