Saturday, July 31, 2010

VOA * CỘNG SẢN VIỆT NAM BẮT CÓC TỐNG TIỀN

VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Bảy, 31 tháng 7 2010 RSS Feeds RSS

Chuyện Có Thật 100%

Hình: Getty Images/iStockphoto

Chia sẻ

Tin liên hệ

Hôm qua trên tờ nhật báo “The Age” là một trong những cơ quan truyền thông có ảnh hưởng lớn nhất ở Úc có đăng một bài báo mang tựa đề ‘Qantas held to ransom in Vietnam’ mà tôi xin tạm dịch là ‘Qantas bị đòi tiền chuộc ở Việt Nam’.

Đối với dân Úc hay hầu hết những ai đã có dịp sang Úc có lẽ tất cả đều biết Qantas là hãng hàng không quốc gia lớn nhất của Úc và cũng là một trong những hãng hàng không an toàn, hiện đại nhất thế giới. Không những nó là niềm hãnh diện của cả quốc gia mà chính hãng Qantas cũng luôn tự hào là từ khi được thành lập vào năm 1920 cho đến nay, chưa có bất kỳ một chiếc máy bay Qantas nào đang bay lại bị… rớt.

Hãnh diện là thế. Tự hào là thế.

Vậy mà theo bài báo có một điều ít ai ở Úc được biết đó là trong năm vừa qua, hãng Qantas đã bị làm tiền ở Việt Nam rất nhiều lần mà không ai dám nói ra, kể cả những giám đốc hiện đang điều hành Qantas. Đặc biệt hơn là hai giám đốc Daniela Marsilli và Tristan Freeman vừa được Việt Nam cho phép trở về Úc sau hơn 6 tháng bị cấm không được rời khỏi Việt Nam. Mặc dù họ chưa bao giờ bị truy tố, gán ghép vào bất cứ tội gì trong suốt thời gian bị công an liên tục hù dọa và tra hỏi.

Từ lúc họ được thả ra cho đến nay không một ai dám lên tiếng hoặc trả lời phỏng vấn của các báo chí Úc. Thế mới lạ.

Theo bài báo cho biết nguyên nhân của vụ này liên quan đến việc vào năm 2007 hãng Qantas đồng ý mua 18% cổ phần của hãng máy bay Pacific Airlines mà sau này đã được đổi tên thành Jetstar Pacific là hãng hàng không lớn thứ hai của Việt Nam, chỉ đứng sau Vietnam Airlines.

Dĩ nhiên ở Việt Nam đa số các công ty lớn hoặc liên quan đến những lĩnh vực quan trọng như truyền thông, vận tải, v.v… đều do chính phủ nắm giữ thông qua các công ty quốc doanh được thành lập và trực tiếp quản lý. Hãng Jetstar Pacific vì thế cũng không phải là một ngoại lệ vì ông chủ thật sự của hãng là Bộ Tài chính đầy quyền lực.

Vào giữa năm 2008 khi giá xăng bất chợt tăng lên một cách chóng mặt trên toàn thế giới, hãng Jetstar Pacific đã đồng ý ký hợp đồng cam kết với đối tác sẽ mua xăng với giá là $135/thùng cho đến giữa năm 2009 vì theo nhận định của các chuyên gia vào thời điểm đó, giá xăng có thể lên đến $200/thùng.

Nhưng rất tiếc chỉ vài tháng sau giá xăng đã bị tụt một cách khủng khiếp từ $135/thùng xuống chỉ còn $50/thùng, báo hại hãng Jetstar Pacific đã bị lỗ đến 31 triệu đô chỉ riêng cho khoản này.

Đây là một tổn thất khá to lớn cho một hãng máy bay nội địa. Nhưng nếu điều này xảy ra ở một nước có đầy đủ pháp quyền thì thật ra cũng chẳng có điều gì đáng nói. Chuyện làm ăn lỗ lã ai cũng biết là chuyện thường tình ở huyện. Bất quá thì đem nhau ra toà kiện cáo chứ không bao giờ liên quan đến nhà nước và… công an.

Nhưng ở Việt Nam thì khác. Không những Tổng Giám Đốc CEO Lương Hoài Nam bị cho vào tù không biết ngày nào ra mà ngay cả công dân Úc chính cống thứ thiệt cũng bị bắt giữ lại không cho bay về nước mà không cần bất kỳ một trát tòa nào. Hay lệnh tống giam nào. Kể cả không được thuê mướn luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Và theo bài báo cho biết mãi cho đến tháng trước, khi cả hai giám đốc Qantas bị chính một tướng công an buộc phải nhận trách nhiệm cho khoản lỗ này thì họ mới được phép bay về lại Úc.

Bởi vậy tác giả mới đặt tựa đề cho bài báo là “Qantas held to ransom in Vietnam”.

Trông người lại nghĩ đến ta. Trong hai lần về Việt Nam làm việc, mỗi lần cách nhau đúng 10 năm, tôi cũng đã phải trải qua những kinh nghiệm tương tự như thế. Không biết là bây giờ tôi có nên kể ra đây để các bạn cùng thưởng thức không nhỉ?

Bảo đảm toàn là chuyện có thật 100%, không hấp dẫn không ăn tiền.
Chúc các bạn một kỳ nghỉ cuối tuần vui vẻ.
*

RFA * HOA KỲ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO

Hoa Kỳ thay đổi chính sách ở Đông Nam Á
2010-07-31

Qua các tuyên bố của bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong chuyến thăm châu Á hồi tháng 7 vừa qua cũng như tham dự hội nghị Diễn đàn An ninh Khu vực Asean tại Việt Nam, ngoài các phát biểu được nhiều người quan tâm như: nêu lên ý kiến giúp các nước trong khu vực giải quyết về vấn đề Biển Đông, có lẽ chúng ta còn nhận thấy có sự thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ dành cho Đông Nam Á qua phát biểu của bà Clinton.

Photo courtesy of US Embassy/Minh Ngo

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trả lời báo chí bên lề hội nghị khu vực ASEAN 17 hôm 23-07-2010

Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Nam Á đã thay đổi ra sao? Mời quý vị cùng Thông tín viên Ngọc Trân tìm hiểu thêm.

Chương mới trong quan hệ Mỹ - Đông Nam Á

Quan hệ giữa Hoa Kỳ với Đông Nam Á đã thay đổi, có lẽ bắt đầu kể từ tháng 7 năm ngoái, trong chuyến viếng thăm của bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đến Đông Nam Á và tham dự Diễn đàn An ninh Khu vực ở Thái Lan, nơi đó bà đã tuyên bố với các nước Asean rằng: “Chúng tôi trở lại”.

Tuyên bố này của bà Clinton có thể sẽ đi vào lịch sử ngoại giao của nước Mỹ bởi vì đây là một tín hiệu cho thấy, rõ ràng là Mỹ đang tìm cách thách thức sự ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Và tuyên bố này có lẽ cũng với mục đích đáp trả lại các mối lo ngại về sự bành trướng của Trung Quốc, có khả năng gây bất ổn lớn trong khu vực, nhất là trên Biển Đông.

obama-singapore-nov2009-250.jpg
Tổng thống Obama tham dự Hội nghị Các lãnh đạo (Leaders Meeting) Hoa Kỳ và Asean ở Singapore hôm 15/11/2009. AFP PHOTO/Mandel Ngan.
Việc Ngoại trưởng Mỹ tham gia vào Diễn đàn Khu vực ASEAN kể từ năm ngoái, đã nói lên tầm quan trọng của Asean đối với Hoa Kỳ. Ngoài việc tham gia vào các cuộc họp quan trọng của Asean, trong chuyến thăm Đông Nam Á lần này, bà Clinton cũng đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với các nước Đông Nam Á, đây là hiệp ước tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ mới giữa Asean và Mỹ, cũng như đảo ngược chính sách của chính phủ tiền nhiệm trước đây đối với Asean.

Cũng xin nhắc thêm để thính giả hiểu, dưới thời Tổng thống George W. Bush, do Hoa Kỳ bận rộn với chủ nghĩa khủng bố, và hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan, cho nên khu vực Đông Nam Á gần như đã bị bỏ quên. Bà Condoleezza Rice, Ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống George W. Bush đã không quan tâm nhiều đến khu vực này. Bà Rice đã vài lần không tham gia Hội nghị thượng đỉnh Asean, cho nên khi bà Hillary Clinton tham dự các cuộc họp với khối Asean kể từ hồi năm ngoái, có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước Đông Nam Á.

Qua việc ký hiệp ước nói trên và tuyên bố sẽ trở lại Đông Nam Á, Hoa Kỳ muốn nhắn nhủ rằng, họ sẽ ở bên cạnh các nước Asean để đương đầu với các thử thách mà hai bên sẽ phải đối mặt.

Sau chuyến thăm của bà Clinton, ngày 16 tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama cũng đã đến Singapore tham dự Hội nghị Các lãnh đạo (Leaders Meeting) Hoa Kỳ và Asean. Đây là lần đầu tiên ông Obama gặp lãnh đạo của mười nước Đông Nam Á, và hai bên cũng đã thảo luận các cam kết cụ thể của chính phủ Hoa Kỳ dành cho khu vực này. Sự xuất hiện của Tổng thống Obama tại Hội nghị Các lãnh đạo Asean - Mỹ, cho thấy sự hiện diện của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á ngày càng rõ hơn.

Tăng cường quan hệ hơn nữa

Hkg3854271-250.jpg
Ngoại trưởng Hillary Clinton tại hội nghị khu vực ASEAN 17 hôm 23-07-2010. AFP PHOTO / Paul J. Richards
Và mới đây, trong chuyến đi của bà Clinton đến Việt Nam, để tham dự Diễn đàn Khu vực Asean cũng với mục đích củng cố và gia tăng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á. Khi được hỏi về quan hệ chiến lược giữa Mỹ và Asean cho hiện tại và tương lai, bà Clinton cho biết như sau:

Tại Hội nghị các Bộ trưởng Asean năm ngoái, tôi đã thông báo Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và đã cam kết sẽ làm việc với các nước Asean để nâng cao lợi ích và các giá trị mà chúng ta chia sẻ. Kể từ đó, chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển và hôm nay tôi xin nhắc lại rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục làm việc với từng nước thành viên ASEAN để thúc đẩy quan hệ đối tác giữa các quốc gia.”

Hoa Kỳ quyết định tăng cường hợp tác với các nước Asean có lẽ do hai bên đều được lợi trong mối quan hệ hợp tác này, Asean được lợi qua việc hợp tác với một siêu cường thế giới, do Hoa Kỳ có thể giúp các nước Đông Nam Á cân bằng quan hệ với Trung Quốc. Trong khi đó, Mỹ cũng được nhiều lợi thế khi tham gia với các đối tác đa dạng dưới một tổ chức như Asean, ở một khu vực giàu tài nguyên và có nhiều tiềm năng phát triển, cho dù vẫn còn phải đối mặt với các thách thức về kinh tế, xã hội và môi trường. Bà Clinton nói tiếp:

Hoa Kỳ cam kết làm việc với các bạn để đem lại hòa bình, thịnh vượng, an ninh và cơ hội nhiều hơn cho tất cả mọi người dân ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

NT Hillary Clinton

“Người dân Mỹ nhận ra rằng khu vực này quan trọng đối với tất cả các nước châu Á, với Mỹ và quan trọng đối với thế giới, và chúng ta cũng biết rằng chúng ta có nhiều mục tiêu cùng chia sẻ. Chúng tôi muốn Đông Nam Á giữ vững kinh tế mạnh mẽ và độc lập. Chúng tôi tin rằng người dân Đông Nam Á được quyền hưởng hòa bình, ổn định khu vực và quyền con người, và chúng tôi sẽ làm việc với các bạn để cải thiện cơ hội kinh tế và giáo dục để thanh niên có cơ hội cạnh tranh thành công trên thị trường toàn cầu.

Ngày nay, khoảng cách giữa các dân tộc và các quốc gia bị thu hẹp lại. Chúng tôi nhận thấy chúng ta đoàn kết xung quanh các mối quan tâm chung và chúng tôi thấy rằng công nghệ mới cho chúng ta nhiều cơ hội làm việc hơn trong quan hệ đối tác và hợp tác với nhau”.

Để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn lời cam kết của bà Clinton dành cho các nước Đông Nam Á như sau:“Hoa Kỳ cam kết làm việc với các bạn để đem lại hòa bình, thịnh vượng, an ninh và cơ hội nhiều hơn cho tất cả mọi người dân ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Để làm được điều đó, chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng tôi mong được làm việc với các bạn”.

Theo dòng thời sự:

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Us-changes-its-policy-in-south-east-asia-ntran-07312010095928.html

CHU CHỈ NAM * MỸ & TRUNG CỘNG

*
CUỘC TRANH HÙNG MỸ - TRUNG hay CUỘC TRANH HÙNG TƯ BẢN - CỘNG SẢN TÁI DIỄN AI THẮNG AI?


ông Paul Nitzé

Cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản, chủ yếu là giữa Mỹ và Liên sô, trong thời gian Chiến tranh Lạnh, bắt đầu từ sau Đại Chiến thứ Nhì cho tới cuối năm 1989, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, thì nhà chiến lược Hoa Kỳ, ông Paul Nitzé, cha đẻ của Chính sách Be bờ (Containment Policy), lúc đó đang là Trưởng Phái đoàn về vấn đề Tài giảm binh bị Mỹ-Liên Sô ở Genève, đã tuyên bố:

Gorbatchev

«Chúng ta đã chiến thắng Chiến tranh Lạnh.» Và chỉ hơn một năm sau, vào đầu năm 1991, thì đế quốc cộng sản Liên sô sụp đổ, khi ông Gorbatchev từ chức Chủ tịch Liên bang Liên Sô. Ngày hôm nay, có người cho rằng cuộc tranh hùng tư bản-cộng sản lại tái diễn, qua cuộc tranh hùng Mỹ-Trung. Có phải thế không? Nếu phải, thì ai sẽ thắng ai?


Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề và đưa ra một vài tiên đóan. Một cách đại lược, chúng ta có thể nói là Chiến tranh Lạnh bắt đầu ngay từ sau khi Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) chấm dứt. Theo báo chí và những sử gia, thì ông Paul Nitzé, Cố vấn An ninh của Tổng thống Hoa Kỳ H. Truman, khi họp Hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 tới ngày 2/8/1945, đã mang theo quyển Trại Súc Vật (Animal Farm), của nhà văn hào Anh G. Orwells, làm quyển sách gối đầu giường, và ông đã lấy những ý trong quyển sách này làm Chính Sách Be Bờ.

nhà văn hào Anh G. Orwells

Theo ông, cộng sản như những loài súc vật, nếu chúng ta đương đầu với chúng lúc chúng đang hăng, thì không thể được, mà cần phải kiên nhẫn đợi chờ, be bở để ngăn chặn, cho tới khi cộng sản súc vật cắn quái lẫn nhau, vì nhiều lý do, trong đó có lý do vì cộng sản súc vật là tiểu nhân, «Đồng nhi bất hòa», trái ngược với người quân tử «Hòa nhi bất đồng», theo lời Khổng Tử. Thêm vào đó có lý do vì Súc vật cộng sản không biết làm kinh tế, sau đó vì tranh nhau ăn nên cắn quái nhau trong nội bộ, trong những nước cộng sản.


Chính sách Be Bờ được gói ghém trong Chỉ thị mang tên số 68 của Hội Đồng An ninh Quốc Gia Hoa Kỳ, và đã được những nhà chính khách, ngoại giao coi như kim chỉ nam cho chiến lược ngoại giao Hoa Kỳ, suốt trong thời gian Chiến Tranh Lạnh. Trái với những điều nhiều người tin tưởng, cho rằng Hoa Kỳ là một anh cao bồi, thích dùng quân sự hơn là chính trị, nếu chúng ta xét gần là trong thời gian Chiến tranh Lạnh, và xa là từ đầu thế kỷ 20 với Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), thì Hoa Kỳ không «cao bồi, thich giải pháp quân sự», như nhiều người lầm tưởng, mà Hoa Kỳ rất chính trị, đã tỏ ra là «người giỏi trong những người giỏi» «Khuất phục được quân người, nhưng không làm quân người tan, lấy được thành người, nhưng không làm thành người vỡ, chiếm được nước người, nhưng không làm nước người bể», theo như Binh Thư Tôn Tử nói.

Thật vậy, không ai chối cãi là 1 thế kỷ nay Hoa Kỳ, bằng cách này hay cách khác đã thắng 3 cuộc chiến lớn: Đệ Nhất, Đệ Nhị và Chiến tranh Lạnh; và đã thủ lợi trong cả 3 cuộc chiến này, đã hạ thủ 2 đế quốc Anh, Pháp và sau này là Liên Sô. Không ai chối cãi là hiện nay cường quốc có thể thách thức vai trò độc tôn của Hoa Kỳ là Trung Cộng. Một điều không thể chối cãi nữa là Hoa Kỳ bằng bất cứ giá nào phải bảo vệ, duy trì vai trò độc tôn của mình, như tất cả những quốc gia ở vào địa vị đó đều làm. Từ đó tất nhiên có cuộc tranh hùng giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ. Tuy nhiên cuộc tranh hùng này sẽ diễn ra như thế nào ; bằng chính trị, bằng kinh tế hay bằng quân sự hoặc cả 3 hay cả 2 cùng một lúc?

Như trên đã nói Hoa Kỳ, trái với nhiều người nghĩ, họ rất chính trị, họ đặt ưu tiên cho giải pháp chính trị, sau đó mới đến kinh tế và thứ ba mới đến quân sự, cũng như Tôn Tử đã nói: «Thứ nhất công tâm, thứ nhì công lương, thứ ba mới công thành.» Việc này người Hoa Kỳ đã làm từ lâu. Họ đã làm với Liên Sô và Đông Âu, ngày hôm nay họ tái diễn với Việt Nam và Trung Cộng. Thật vậy, khi ký Hiệp Ước Bình Thường hóa quân hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Bill Clinton đã tuyên bố : «Những Hiệp ước bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Hoa Kỳ và những nước Đông Âu đã giúp cho các dân tộc này tìm thấy được mô hình tổ chức xã hội dân chủ, tự do và kinh tế thị trường.


Tôi hy vọng rằng Hiệp ước Bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ cũng giúp dân tộc Việt Nam tìm thấy được mô hình tổ chức xã hộ dân chủ, tự do và kinh tế thị trường như các dân tộc Đông Âu.» Mặc dầu là đệ nhất cường quốc, nhưng giới lãnh đạo Hoa Kỳ biết rất rõ là nếu Trung Cộng và Việt Nam theo như Bắc Hàn và Cu Ba, áp dụng chính sách bế quan tỏa cảng, thì Hoa Kỳ cũng không thể làm gì.

Vì vậy giai đoạn đầu là phải dụ Trung Cộng và Việt Nam chấp nhận kinh tế thị trường, biến kinh tế từ kinh tế quốc doanh, kinh tế không tương thuộc ‘économie autarcique‘, thành kinh tế thị trường, vùng này lệ thuộc vùng kia, ngành này lệ thuộc ngành kia, kinh tế tiền tệ, ngân hàng; và nếu trong tương lai, nếu có một cuộc khủng khỏang tài chánh, thì sẽ kéo theo khủng hỏang kinh tế, tới khủng hỏang xã hội, rồi mới tới khủng hoảng chính trị. Và từ đó mới có cơ để thay đổi mô hình tổ chức xã hội độc tài qua mô hình tổ chức xã hội dân chủ, tự do và kinh tế thị trường.

Tất nhiên trong thời gian chiêu dụ này, thì có những ưu đãi, những hiệp thương kinh tế, đàu tư, làm cho kinh tế Trung Cộng phát triển. Cũng từ đó có nhiều người tin rằng ngày hôm nay kinh tế Trung Cộng đã trở thành kinh tế thứ nhì trên thế giới với tổng sản lượng là 5.588 tỷ $, đứng sau Hoa kỳ là 14.840 tỷ, trên Nhật với 5.128 tỷ $, đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Hoa kỳ trên dưới 800 tỷ; Trung cộng có thể đánh bại kinh tế Hoa Kỳ và thế giới.


Đây là một cái nhìn phiếm diện và lầm lẫn đi vào chỗ Trung cộng tự kỷ trung tâm. Nếu chúng ta xét kỹ, thì mặc dầu tổng sản lượng quốc gia cao, vì dân số đông, chứ sản lượng tính theo đầu người của Trung Cộng mới là 4.170$, bằng 1/11 Hoa kỳ với 47.920$, bằng 1/10 hay 1/9 Nhật bản với 40.440$; và tất nhiên là còn thua nhiều nước khác.


Thêm vào đó Trung cộng đã phải trả một giá rất đắt về vấn đề phát triển. Đó là xã hội trở nên vô cùng bất công : bất công giữa những vùng phát triển ven biển và những vùng trong lục địa, bất công giữa người dân, người thì quá giàu, phần lớn là con ông cháu cha và công chức cao cấp và đại đa số dân thì quá nghèo. Dân bất mãn nổi lên ở mọi nơi, hàng năm có cả hàng 100.000 vụ nổi dậy, có những vụ xô sát đưa đến cả trăm người chết và cả ngàn người bị thương. Người dân bị bóc lột tận xương tủy bởi những ông tân tư bản đỏ cộng sản và những ông tư bản trắng từ nước ngoài. Thêm vào đó có nạn ô nhiễm môi sinh, môi trường, 70% sông ngòi của Việt Nam và Trung Cộng bị ô nhiễm.


Tất cả những yếu tố trên sẽ làm cho người Hoa Kỳ khai thác tối đa để ép chính quyền Trung Cộng thay đổi mô hình tổ chức xã hội; nếu không thì sẽ có một cuộc nổi dậy chính trong lòng chế độ. Người Hoa Kỳ chưa cần đến giải pháp quân sự. Tuy nhiên là một đại cường quốc, những nhà chiến lược Hoa Kỳ phải tiên đóan tất cả những khả thế có thể xẩy ra, từ khả thế tốt nhất là thay đổi Trung Cộng bằng chính trị, sau đó mới tới kinh tế và cuối cùng mới tới quân sự. Chính Tôn Ngô Binh pháp, phần Ngô tử, có đoạn:

“Có 4 điều bất hòa: bất hòa trong nước thì không thể ra quân; bất hòa trong quân thì không thể ra trận; bất hòa trong trận thì không thể tiến chiến; bất hòa trong chiến thì không thể quyết thắng… Ngô Khởi còn viết thêm: “Nếu làm không hợp đạo, động không hợp nghĩa, thì ở lớn, ngồi sang, tai nạn tất cũng sẽ đến. Cho nên thánh nhân yên bằng đạo, trị bằng nghĩa, động bằng lễ, nuôi bằng nhân…” “Phàm cái khởi binh có 5: một là tranh danh; hai là tranh lợi; ba là tích ác; bốn là nội loạn; năm là nhân đói.” Ngày hôm nay ai cũng biết xã hội Trung cộng là một xã hội vô cùng bất công, nhiều vùng bị nghèo đói, dân bất mãn nổi lên ở khắp nơi. Nếu Trung cộng gây chiến là nằm trong 5 lý do trên. Nhưng bất hòa trong nước mà ra quân, thì phần Trung Cộng chiến thắng Hoa Kỳ rất là mỏng manh; ngược lại, lại có nhiều phần thua.

Paris ngày 12/05/2 010
Chu chi Nam
Xin xem them phần Chiến lược ngoại giao của Hoa kỳ và Chiến tranh lạnh, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
*

MAI THANH TRUYẾT * TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM

Âm mưu tiến chiếm Việt Nam của Trung Cộng

Mai Thanh Truyết


Trong suốt quá trình lịch sử, Trung cộng đã từng đô hộ Việt Nam. Mãi cho đến năm 939, Ngô Quyền mới dành lại nến tự chủ cho dân tộc. Kể từ đó, TC vẫn sang xâm lăng nước ta nhiều lần nhưng lần nào cũng bị bẻ gảy. Dấu vết của người lính TC lần sau cùng diễn ra trong một giai đoạn ngắn ngũi. Đó là thời gian quân sĩ của Tôn Sĩ Nghị chiếm thành Thăng Long vào tháng 11 năm 1978. Chỉ hơn một tháng sau đó, quân binh của Hoàng đế Quang Trung với chiến thuật thần tốc đã đuổi quân xâm lược chạy có cờ… Từ đó đến nay, có thể nói, trên toàn cõi đất nước không còn bóng dáng quân thù Bắc phương. Nhưng từ khi, CS Việt Nam dành công đầu của tất cả đảng phài trong công cuộc giải phóng dân tộc dưới thời thực dân Pháp, tuyên bố độc lập vào năm 1945, thêm một lần nữa bóng dáng quân xâm lược lại bắt đầu xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau do CS Việt Nam yêu cầu. Và sự hiện diện của quân thù Bắc phương thực sự hiện rõ nét kể từ ngày CS Việt Nam chiếm toàn thể đất nước vào ngày 30 tháng tư năm 1975.

Đây là lý do chính để Trung Cộng đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TC định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền nước lớn và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông. Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Đó là chính sách chung của mọi quốc gia. Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TC đầu tư vì: - Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TC vốn dĩ đã quá rẻ mạt; - Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TC hiện tại; - Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc.

Từ 3 yếu tố trên, Việt Nam đối với TC có thể được ví như là Mễ Tây Cơ với Hoa Kỳ trong lãnh vực đầu tư và sản xuất. Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TC di chuyển xuống Việt Nam là TC tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn.

Còn về tâm lý chung của hai dân tộc, có nhiều điểm tương đồng chính nhất là việc quan hệ kinh doanh dựa theo cách tiếp cận có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh. Hãy nghe Zou Qinghai, Chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang tuyên bố:” Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc.

Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Cộng”. Hiện tại, tính đến cuối năm 2005, đầu tư của TC chính thức vào Việt Nam tương đối còn khiêm nhường so với các quốc gia trong vùng như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn là 734 triệu Mỹ kim so với hơn 50 tỷ của ba nước vừa kể trên. Nhưng qua những con số không chính thức có liên quan đến những đối tác Hồng Kông thì mức thẩm thấu vào Việt Nam có thể lên đến 3,7 tỷ.

Và thương mãi hai chiều dự kiến trong năm 2009 là trên 10 tỷ Mỹ kim. Các công ty TC chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TC đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm thủ đô Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TC vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TC có thể chuyển ngành dệt sang VN để tránh vấn đề hạng ngạch (quota) trong việc xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu. Từ quyết định giao khoán cho TC khai thác cao nguyên Trung phần Việt Nam qua các công trình quặng mõ bauxite, chúng ta có thể hình dung được âm mưu hay kế hoạch của TC (và của cả Việt Nam, vì cả hai thiết nghĩ đều cùng nhìn chung một chiến lược của cộng sản toàn cầu) .

Đó là việc khống chế vùng Đông Nam Á châu trong tương lai. Việc nầy đã được TC (hay có cả Việt Nam) tính toán từ lâu qua những công trình quốc tế trong vùng từ hơn 10 năm qua. Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Cộng Chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam và các quốc gia lân cận.

Đó là: 1- Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn,
2 - Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Quảng Trị,
3 – Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất,
4 - Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy,
5 - Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh, Côn Minh và Hà Nội,
6 - Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau,
7 - Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Tây nguyên (Cao nguyên).

Công trình xây dựng xa lộ Đông Trường Sơn:

Từ năm 2001, cựu Thủ tướng Việt Nam cộng sản Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ. Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như lãnh đạo Việt Nam biện minh cho việc xây dựng nầy, vì với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không có việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ qua kinh nghiệm hai trận chiến ở Iraq và Afganistan.

Thiết nghĩ đây là con đường chiến lựơc dành cho mục đích kinh tế-chính trị, nhưng không hẳn để áp dụng cho Việt Nam vì trong suốt chiều dài của xa lộ là vùng thưa dân cư nếu không nói là hoang dã. Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều ở miền Tây Trung Cộng ra hải ngoại. Thử hỏi, Quốc lộ I, con đường huyết mạch của Việt Nam, cần phải được nâng cấp vì nhu cầu giao thông và phát triển cho Việt Nam, nhất là từ Quảng Trị trở ra Bắc nhưng tại sao không được lưu tâm đến? Ngoài con đường trên, theo nguồn tin mới nhất vừa nhận được là Trung Cộng đã hoàn tất công trình tu sửa và mở rộng quốc lộ 13 nối liền Bắc Nam của Lào vào cuối năm 2008 để khai thông đường Tây Trường Sơn. Hiện TC cũng đang tu sửa và mở rộng quốc lộ 7 dự trù hoàn tất vào năm 2010 xuyên Cambodia từ Nam Lào đến hải cảng Sihanoukville ở vịnh Thái Lan. Cả hai dự án nầy là do viện trợ không bồi hoàn của TC.

Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền Quảng Trị và thành phố Tchepone và tiếp tục nối liền thành phố Sawannakhet của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TC có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông. Ngoài ra, từ Sawannakhet đã được tiếp nối qua sông Cửu Long và kéo dài đến hải cảng phiá tây của Thái Lan là Mawlamyine.

Như vậy, từ nay, những tỉnh phía Tây TC đặc biệt là tỉnh Vân Nam, trung tâm công nghệ hoá chất hàng đầu, đều nối liền ra ba cửa ngõ Thái Bình Dương và vịnh Thái Lan ở Việt Nam, Cambodia, và Tây Thái Lan để trao đổi xuất nhập cảng với thế giới bên ngoài. Về nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tuy vùng nầy không có hạ tầng cơ sở như giao thông, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và rất xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của TC, thay vì phải chuyển vận từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém?

Có phải, chính vì các lý do trên, mà Việt Nam phải chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án từ ban đầu. Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long từ năm 2004 qua việc thõa thuận giữa TC, Thái và Lào không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải lớn nối liền Vân Nam (Tây Nam Trung Quốc), Thái, Lào, và Việt Nam, và giao thương với thế giới.

Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Quốc và nhu cầu dầu thô của tỉnh nầy hang ngày là 1 triệu thùng dầu. Do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phẩm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu. Thế giới đã bắt đầu kêu gọi “hãy cứu dòng sông Mekong” qua hiểm hoạ tràn dầu khi hai chuyến tàu dầu đầu tiên nhận dầu từ Trung Đông qua cảng Chiang Ray của Thái Lan và điểm đến là vùng phía Nam tỉnh Vân Nam (Yunnang) ngày 29 tháng 12, 2008. Thiết lập thiết lộ và xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố nầy.

Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Quốc đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe hỏa dựa theo tiêu chuẩn Trung Quốc; vì vậy, xe hỏa Việt Nam không thể sử dụng được. Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác? Đó là con đường tháo chạy an toàn cho lãnh đạo Việt Nam hiện tại, mỗi khi có biến động lớn ở Việt Nam? Thêm nữa, việc thiết lập xa lộ nối liền Côn Minh (Kunming) – Hà Nội- Hải Phòng và Nam Ninh (Nanning) – Lạng Sơn – Hà Nội. Với mắc xích nầy, chúng ta cũng có thể hình dung được âm mưu của TC trong việc ảnh hưởng lên kinh tế-chính trị-quân sự của Việt Nam qua việc hình thành các con đường chiến lược kể trên.

Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đến tháng 11, 2008, người Trung hoa được tự do đi lại, không cần hộ chiểu chỉ ở các tỉnh miền Bắc. Sau ngày trên, người Trung hoa có thể đi lại vào tận cao nguyên thậm chí đến Cà Mau không cần xin hộ chiếu. Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho Trung Cộng để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm, và nhân công dân sự hay quân sự (?) chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Người “công nhân” TC không phải đã định cư ờ Nhân Cơ hay Tân Rai, mà họ đã có mặt ở khắp miền đất nước từ Bắc chí Nam.

Như tại Công ty Nhiệt điện Quảng Ninh đã có trên 4.000 công nhân và chuyên viên cư ngụ ở một khu vực hoàn toàn biệt lập có cổng rào riêng và được canh gát cẩn mật do bảo vệ cũng là người Hoa. Tương tợ như ở Công ty cổ phần nhiệt điện Hải Phòng với trên 2000 công nhân, Công ty than Nông Sơn đã có trên 100 và dự trù vào tháng 6 tới đây sẽ tăng cường thêm 500 nữa. Thậm chí Công ty Điện Đạm Cà Mau cũng đã có trên 1.000. Việt Nam đang đứng trước nạn khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng; theo con số chính thức đã có trên 1 triệu công nhân thất nghiệp đặc biệt là hai khu chế xuất Đồng Nai và Sông Bé…

Thế mà cũng đã có hàng ngàn công nhân nhập lậu (không có giấy phép lao động) làm việc trong các hảng xưởng do người Tàu làm chủ theo tin tức của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. Chính Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh mới vừa công bố là không có công nhân “không có giấy phép làm việc” và các công ty đều theo đúung thủ tục của Luật Lao động. Xin thưa, Luật Lao động có ghi rõ là mọi công nhân hay chuyên viên nước ngoài đều phải xin giấy phép và công ty thuê mướn phải chứng minh là loại công việc trên là cần thiết và được Bộ Lao động cung cấp giấy phép lao động. Xin hỏi các công nhân làm việc trên hai công trường Tân Rai và Nhân Cơ như cất nhà, làm đường xá, làm mặt bằng, hay đào các hố rãnh v.v…

Đây có phải là những việc người công nhân Việt Nam không có khà năng làm không? Và mắc xích sau cùng và có thể là cuối cùng chính là việc Cộng sản Việt Nam cúi đầu chấp nhận cho TC đem nhân sự và máy móc cày xới mãnh đất thân yêu vùng Cao nguyên Trung phần như đã nói ở phần trên. Xin thưa, Cao nguyên Trung phần Việt nam năm 1975 có số cư dân là 1,4 triệu, và năm 2008 đã tăng lến đấn 4 triệu.

Xuyên qua bảy cản ngại đã phân tích ở phần trên để lý giải cho việc phát triển không đồng bộ đưa đến tình trạng bế tắc hiện tại của Việt Nam trong vấn đề hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới, Việt Nam đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, do đó không còn đủ sức quán tính mạnh để vượt ra khỏi rào cản thần phục và xin-cho, để rồi cuối rồi cũng đi theo …bảng chỉ đường của Trung Cộng mà thôi. Điểm thứ tám chúng tôi muốn trang trãi ra đây là một sự nhượng bộ gần như không điều kiện gần đây nhất của Thủ tướng cs Nguyễn Tấn Dũng. Theo tin Tân hoa xã ngày 7 tháng 3, 2009 vừa qua, NTDũng đã phê chuẩn một kế hoạch đầu tư trên 50 tỷ Mỹ kim để phát triển vành đay kinh tế dọc theo duyên hải miền Bắc. Kế hoạch nầy dự trù thực hiện cho đến năm 2020 với ngân khoản đầu tư 100% của TC nhằm biến các tỉnh ở vùng nầy thành khu kinh tế trọng điểm hoàn toàn do TC chủ động từ công nhân, chuyên viên, thiết bị, thậm chí đến công nhân dịch vụ như làm vệ sinh, nấu nướng, bảo vệ v.v… cũng do người Trung hoa đãm nhiệm. Các dự án kể trên đều là những dự án gây ra ô nhiễm trầm trọng như dự án luyện gang, sắt, thép, than đá, xi măng, phân bón, xây dựng, hoá chất.

Tuy các doanh nghiệp bản địa cũng có khả năng thực thi dự án, nhưng hầu như tất cả đều vào tay của doanh nghiệp Trung Cộng trúng thầu! Còn một điểm cần phải nêu ra đây là, kể từ sau tiếng sứng nổ ra ở biên giới Việt – Trung ngày 17 tháng 2 năm 1979. Cuộc chiến không phải chấm dứt 10 ngày sau đó mà vẫn tiếp tục dai dẳng dọc theo biên giới mãi cho đến 1988 mới thực sự chấm dứt qua sự quy phục hầu như hoàn toàn của CS Việt Nam. Kết quả là hiệp ước biên giới được ký kết với tất cả thiệt thòi về phía Việt Nam như: - Cột mốc biên giới số 1116 đã được chính thức cấm vào phía Nam của Ải Nam Quan và cách ải 280 mét; - Thác Bản Giốc trở thành một trung tâm du lịch của TC; - Quan trọng hơn hết là sự hiện diện của người thiểu số Tày dọc theo chiều dài biên giới tới tận tỉnh Quảng Đông.

Người Tày có khuynh hướng than TC và đã được TC khuyến dụ như là một đạo quân thứ 5 của TC ở Việt Nam. Và người Tày chiếm trên 10% dân số của Quảng Đông. Đây có thể là một nguy cơ lớn và Bắc Việt có thể lọt vào tay TC một khi cuộc chiến xảy ra ngay sau đó? Âm mưu Hán hoá Cao nguyên miền Nam Qua những phân tích vừa nêu trên, chúng ta có thể hình dung một viễn ảnh khá rõ ràng là Trung Cộng đã thể hiện nhiều dấu hiệu chứng tỏ âm mưu thôn tính vùng đất trù phú của Việt Nam, và vùng đất nầy cũng là cột xương sống nối liền Bắc Nam. Một khi chiếm lĩnh vùng nầy dù dưới hình thức nào đi nữa, TC sẽ nắm trọn khả năng khống chế Việt Nam. Hiện tại, TC đã phối hợp một cách gián tiếp với người Chăm ở cao nguyên Bolloven bên Lào, bên Cambodia, và “nhập nhằng” tóm gọn hai dân tộc Chăm và Thượng làm một, dưới danh nghĩa Fulro/Chăm để khích động nhu cầu dành lại chủ quyền của vương quốc Champa do một nhóm người Chăm bên Pháp dưới quyền lãnh đạo của một tiến sĩ người Chăm cổ suý.

Nhóm nầy cũng được sự hỗ trợ của thực dân Pháp vốn đã có quyền lợi tại vùng cao nguyên nầy hồi thời thuộc địa. Cũng cần nên biết thêm, người Thượng ở vùng Cao nguyên hiện tại đã được các hội thiện nguyện Hoa Kỳ yểm trợ dưới danh nghĩa DEGA. Theo tin tức được loan tải trên mạng, họ đã hình thành tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) và đã được Liên hiệp Quốc công nhận qua Department Of Economic and Social Affairs (DESA) dưới quy chế Tham Mưu (consultative status) kể từ năm 2009 nầy.

Một tổ chức thứ hai là The Overseas Cham Unity Organization (OCUO) cũng đang xúc tiến hồ sơ lên Liên Hiệp Quốc và Thuỵ Điển để ghi danh xin thành lập Chính phủ Lưu vong Chăm (The Cham National Government In Exile). Chính phủ nầy sẽ ở ngoài lãnh thổ truyền thống của Champa là miền Trung Việt Nam, mục đích nhằm duy trì sự hiện hữu của chính phủ hoàng gia Champa trước đây. Theo như dự định, chính phủ nầy sẽ phác thảo bản hiến pháp và triệu tập Đại hội để bầu ra Thủ tướng và các Bộ trưởng vào nội các chính phủ. Qua các tin tức trên, chúng ta thấy rõ ràng là phải có bàn tay “lông lá” của TC mới có thể thực hiện được những dự tính thành lập chính phủ lưu vong của người Chăm.

Theo một nguồn tin đáng tin cậy, chính phủ lưu vong ban đầu dự định đặt trụ sở tại đảo Hải Nam (TC), nơi có một cộng đồng thiểu số Chăm nay gọi là Utsat cư ngụ. Cộng đồng người Chăm nầy theo sử liệu đã sang định cư tị nạn tại đây để chạy loạn vào thời Lưu Kỳ Tông, một ông vua tiếm ngôi không phải gốc Chăm đã có một thời áp dụng chính sách cai trị hà khắc với dân chúng Chăm năm 988 (theo Georges Maspero trong quyển sách Le Royaume de Champa). Nhưng sau đó, để tránh sự phản kháng của các thành viên LHQ khác, trụ sở hiện tại là P.O. Box 122, SE-33523 Gnosjo, Sweden, nơi có một tiến sĩ người Chăm định cư để tạo danh nghĩa nhằm gây áp lực với Việt Nam cộng sản khi cần thiết.

Một trụ sở tạm của chính phủ trên cũng đặt tại P.O. Box 1635, Phnom Penh 12000, Cambodia. Câu hỏi được đặt ra là TC giúp người Chăm hải ngoại nhằm mục đích gì? Câu trả lời giản dị sẽ là, TC muốn hoàn toàn khống chế Việt Nam trong lãnh vực kinh tế-quân sụ-chính trị qua việc kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần. Nắm được cao nguyên nầy, TC sẽ biến vùng nầy thành một vùng “lệ thuộc” như miền đất Tây Tạng năm 1959. Đã nắm được yết hầu của Việt Nam rồi, mặc nhiên TC có toàn khả năng khống chế lãnh đạo hiện tại của Việt Nam trong mọi tình huống. Và biết đâu trong một tương lai không xa sau đó, Việt Nam có thể sẽ là một tỉnh “lẽ” Quảng Nam, tiếp theo tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của TC??

Nếu viễn ảnh trên đây trở thành một sự thật thì rõ ràng, điều nầy sẽ không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt. Chúng ta phải làm gì trước chiến lược đen tối của Trung Cộng?

Như vậy, một lần nữa, sự kiện mới nhất trên đây đã cho chúng ta thấy thêm rõ nét là CS Việt Nam qua Bộ chính trị đã hiến dâng toàn lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng là một hiện thực. Chúng ta phải làm gì trước chiến lược đen tối của Trung Cộng với sự đồng lõa của cộng sản Việt Nam? Câu hỏi được đặt ra là: Có phải đây là vấn đề “phải đoàn kết lại” để chống “Trung Cộng”?

Câu hỏi được đặt ra cho tất cả mọi con dân Việt dù ở quốc nội hay hải ngoại. Đứng trước việc khai thác quặng mõ bauxite trên, Việt Nam cộng sản trong một “chiêu thức “ khác, qua tác động của những nhóm, hội đoàn ngoại vi… đã khơi dậy lòng yêu nước của người Việt khắp nơi trong đó có cả người Việt hải ngoại cùng nhau “đoàn kết” lại để “chống Trung Quốc”. Đây là một chiêu thức độc đáo làm cho một số người Việt hải ngoại có thể “siêu lòng” trước những lời chiêu dụ trên. Xin đừng quên, 84 triệu con dân Việt (trừ bớt số lượng đảng viên đảng cộng sản) đang còn chịu đựng ách thống trị hà khắc của một chế độ chuyên chính và độc tài, bóp nghẹt tất cả mọi khát vọng tự do dân chủ của người dân.

Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác để khỏi vướng vào vòng kim cô của Nghị quyết 36. Nhiệm vụ chính yếu của chúng ta phải nhắm vào hai mặt có tính cách quyết định: - Thứ nhất, tiếp tục vận động và phối hợp với những nhà dân chủ trong nước, chuyển tải các tin tức cập nhật về dân chủ, nhân quyền trên thế giới ngõ hầu cùng nhau đẩy mạnh tiến trình dân chủ cho Việt Nam. - Thứ hai, kêu gọi sự yểm trợ của thế giới tự do qua chiến lược cụ thể của Trung Cộng nhằm tiến chiếm Việt Nam dưới một hình thức “thực dân” mới, nghĩa là không cần động binh để chiếm đóng như ngày xưa nữa.

Còn đối với hành động xâm lược của TC, theo nghiên cứu của Alexander Vuving thuộc Trung Tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương, chúng ta, người Việt hải ngoại cần phổ biến rộng rãi cho thế giới thấy rõ những nhược điểm của TC là tình trạng phát triển quốc gia không ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hoá và không bảo vệ môi trường tạo ra sự ô nhiễm ngày càng trầm trọng không những cho đất nước TC mà còn ảnh hưởng lây lan trên toàn thê giới. Thêm nữa, việc vận động thế giới, nhất là Hoa Kỳ và Tây Âu, tẩy chay hàng hoá xuất cảng từ TC vì các sản phẩm nầy vì không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm hay có chứa hoá chất độc hại ảnh hưởng lên sức khoẻ con người.

Những việc nầy cần phải thực hiện cùng một lúc và việc cần phải làm chính yếu là nỗ lực vận động để thúc đẩy tiến trình dân chủ cho Việt Nam phải được xem là ưu tiên hàng đầu. Thay lời kết Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Cộng. Cao nguyên Trung phần là yếu huyệt của Việt Nam, không thể đưa cho ai khai thác, vì đây là một vị trí địa dư rất quan trọng và nhạy cảm trong lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, và xã hội.

Việt Nam đã mất lợi điểm ở phương Bắc qua trận chiến 1979 và các hiệp ước song phương Trung-Việt ô nhục về việc cấm mốc biên giới cụ thể là cột mốc số 1116 nằm ở phía Nam của Ải Nam Quan và cách Ải 280 thước tây đã được chính thức cầm vào cuối tháng 12/2008. Và thác Bản Giốc cùng Hoàng Sa đã trở thành một địa điểm du lịch của …Trung Quốc cũng như TC đã đăng quảng cáo trên báo chí Việt Nam mời gọi người Việt đi thăm tụ điểm du lịch nầy. Quả thật mỉa mai! Một đất nước đã được cha ông vun bồi từ ngàn năm trước, để rồi ngày nay con cháu Việt lại bán dâng cho ngoại bang. Về sườn phía Đông, Việt Nam đã mất biển Đông do việc chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa để thành lập huyện Tam Sa thuộc TC.

Về sườn phía Tây của Việt Nam là Lào và Cambodia đã được TC kiểm soát qua quốc lộ Bắc Nam 13 xuyên Lào, và quốc lộ Bắc Nam 7 xuyên Cambodia xuống tận cảng Sihanoukville. Như vậy, Việt Nam hoàn toàn bị bao vây tứ phía, và nếu ngày hôm nay TC kiểm soát được cao nguyên Trung phần, mãnh đất đã được cựu Hoàng Bảo Đại quyết định là Hoàng triều cương thổ, thì chỉ cần một thời gian ngắn, TC có thể tiến chiếm toàn cõi Việt Nam hay xé Việt Nam ra thành nhiều mãnh tuỳ theo chiến lược Nam tiến của họ.

Một phần các nhận định trên đã được tạp chí Foreign Affairs bình luận từ năm 2005, và chúng tôi cũng đã trình bày sơ lược trước nhóm think tank thuộc American Enterprise Institute (AEI) ở quốc hội Hoa Kỳ vào tháng 12, 2005. Lòng dân Việt Nam đã hoàn toàn không đứng về một phía với đảng Cộng sản Việt Nam, làm sao họ có khả năng huy động Hội nghị Diên Hồng như dưới thời Trần Hưng Đạo, dưới thế nước tràn đầy tình đoàn kết dân tộc “thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh, hy sinh”. TC đã từng “lý luận tương đồng, vận mệnh tương quan” với Việt Nam cộng sản qua 8 chữ vàng trên. Thử hỏi, làm sao Việt Nam có thể cưỡng lại kế hoạch Nam tiến của TC là tiến chiếm Việt Nam và toàn cõi Đông Nam Á.

Và dĩ nhiên CS VIỆT NAM sẽ không còn quyền lực nào trong việc quản lý đất nước và sẽ trở thành bù nhìn trước các quan thái thú TC dày xéo đất nước của ông cha để lại, giống như dưới thời Tô Định ngày xưa. Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản Việt Nam đều do cộng sản TC điều khiển từ xa; Việt Nam hoàn toàn không còn khà năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý” hay nói trắng ra là là phải làm theo mệnh lệnh của TC mà thôi. Và việc khai thác quặng mõ bauxite ở cao nguyên phải chăng là chiến lược sau cùng của TC và Việt Nam cộng sản cùng cấu kết với nhau để TC có điều kiện khống chế toàn vùng Đông Nam Á, thực hiện chính sách Đại Đông Á của TC?

Chúng ta phải làm gì, hởi những người Việt yêu nước ở quốc nội và hải ngoại? Đã đến lúc Việt Nam cần phải thay đổi, và thay đổi theo trào lưu dân chủ trên thế giới. Đã đến lúc, cộng sản Việt Nam phải cáo chung, vì những việc làm sai trái trong quá khứ và gần đây nhất là việc chấp nhận hay đồng lõa với Trung Cộng để cho hàng ngàn quân nhân dưới dạng công nhân xâm nhập và khai thác nguồn tài nguyên phong phú còn lại của Việt Nam, vùng Cao nguyên Trung phần và nhiều nơi khác ở Việt Nam.

www.thegioi-song.com/JUN/ammuu.doc

Nơi đây có nhiều chỉ dấu cho thấy, đó là âm mưu Hán hoá dân tộc và biến mãnh đất nầy thành một Tây Tạng thứ hai với sự đồng thuận hay tiếp tay của Cộng sản Việt Nam. Cầu mong cho tất cả chúng ta, những người còn ưu tư đến sự hưng vong của quê hương được chân cứng đá mềm để vượt qua giai đoạn vô cùng xấu của đất nước kể từ thời dựng nước đến nay. Đất Nước và Dân Tộc là hai thành tố không thể tách rời được và mãi mãi trường tồn. Chế độ chỉ có thể tồn tại trong một giai đoạn mà thôi. Và một khi, chế độ đi ngược lại với quyền lợi của Dân Tộc, thế nào rồi cũng bị đào thải và tiêu diệt.
Mai Thanh Truyết Nhóm Nghiên cứu Việt Nam
19/6/2009

LÝ ĐẠI NGUYÊN * VIỆT CỘNG,TRUNG CỘNG & MỸ

LÝ ĐẠI NGUYÊN

QUÂN ĐỘI VIỆT CỘNG TRONG MƯU TÍNH CỦA HÀNỘI, HOA THỊNH ĐỐN, BẮC KINH

Khác với các quốc gia dân chủ trọng pháp tiên tiến, quân đội được đào tạo thành lính chuyên nghiệp, phục vụ cho quốc gia, bảo vệ cho toàn dân và tuyệt đối trung thành với luật pháp dân chủ của quốc gia mình. Còn ở các nước có nạn độc tài, hay dân chủ non yếu, thì quân đội đều là của đảng nắm chính quyền, hay của những nhà lãnh đạo độc tài, dùng quân đội làm phương tiện bảo vệ quyền lực của đảng, hay nhà cầm quyền, nhằm chống lại ý nguyện tự do, công lý của toàn dân và đôi khi đi ngược lại với quyền lợi của tổ quốc.


Cuối cùng dẫn đến tình trạng quân đội trở thành chỗ dựa cho quyền lực chính trị, biến quân đội thành lực lượng chính trị quyết định vận mệnh quốc gia. Như trường hợp ở Tháilan hiện nay, chính phủ phải trông vào sức mạnh quân đội để vãn hồi trật tự đường phố, trước sự đối kháng của phe Áođỏ, rồi sự phản ứng của phe Áovàng…Ngược lại trường hợp của nước Kyrgyzstan, ngày 07/04/2010, dân chúng nổi lên chống tổng thống lạm dụng quyền lực là Kurmanbek Bakiyev. Ông đã ra lệnh cho quân đội bắn chết 84 người biểu tình. Rồi ông bị lật đổ, chạy trốn và bị kết tội “giết người hàng loạt”.

Ở Việtnam hiện nay, thì quân đội là của đảng Cộngsản. Tổng bí thư là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương, trực tiếp lãnh đạo quân đội. Quân đội Việtcộng tuyệt đối “Trung với Đảng”. Nhiệm vụ hàng đầu của quân đội Việtcộng là bảo vệ cho sự tồn tại của đảng. Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc của người quân nhân thì phải chờ lệnh đảng. Còn “Hiếu với Dân” thì hậu xét. Chính vì vậy, mà trước sự uy hiếp của Trungcộng trên khắp biển Đông, quân đội Việtcộng vẫn phải câm nín, coi như Trungcộng đang xâm phạm lãnh hải của một nước khác.


Nào là Trungcộng bắt, giết ngư dân Việtnam trong vùng Hoàngsa, nhằm khẳng định chủ quyền của họ ở Hoàngsa, mà năm 1974, chúng đã đánh chiếm từ tay quân đội Việtnam Cộnghòa. Giờ đây Trungcộng laị bắt đầu đưa tàu Ngưchính tuần tra thường xuyên vùng biển Trườngsa, để hộ tống các tàu đánh bắt cá của chúng, với mục đích xác lập chủ quyền của họ không rìêng đối với Việtnam, mà còn với toàn khối ASEAN và thế giới. Bộ ngoại giao Việtcộng chỉ lên tiếng phản đối lấy lệ, cho rằng làm việc đó là “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việtnam đối với đảo này”. Không dám triệu tập Đại Sứ Trungcộng ở Hànội tới trao công hàm phản đối.

Đây là mối đau của toàn dân, mối nguy của đất nước, mối nhục của những người đã từng một thời chiến đấu cho nền độc lập dân tộc. Nhất là đối với các cựu tướng tá trong quân đội Việtcộng, nên giới này là những người lên tiếng mạnh bạo nhất trong đợt Trungcộng mở cuộc xâm lăng toàn diện cả về quốc phòng, chính trị, kinh tế, văn hóa tại Việtnam. Họ và những đồng đội tại chức đang ra sức thúc đẩy Việtnam “Quốc Tế Hóa Biển Đông”. “Đa Phương Hoá Quốc Phòng” với thế giới.


Theo báo Pháp Luật trong nước, thì dự thảo đề án Hợp Tác Tăng Cường Năng Lực cho Hệ Thống Quản Lý về Biển do Tổng Cục Biển và Đảo Việtnam soạn thảo thì: “Việtnam cần ưu tiên hợp tác quốc tế với một số nước có trình độ quản lý biển tiên tiến như Mỹ, Đức, Hàlan, Nhậtbản…để khắc phục các hạn chế trên. Trong đó, Mỹ được đánh giá là một trong số những nhà tài trợ tiềm năng. Việtnam sẽ tiếp cận với chính phủ Mỹ, nhằm lồng ghép việc tăng cường năng lực quản lý vùng ven biển, đặc biệt ở khu vực duyên hải miền Trung và vịnh Tháilan, vào các hoạt động trong khuôn khổ chiến lược môi trường của chính phủ Mỹ tại Việtnam trong năm tới. Được biết, Tổng Cục Khí Quyển và Đại Dương Quốc Gia Mỷ đã đang hỗ trợ cho Việtnam trong việc quản lý vùng ven biển vịnh Bắcbộ”.

Từ khi nhập nội Việtnam, Hoakỳ đã đặt nặng Quốc Phòng tại đây ngang với Kinh Tế. Nếu không xây dựng được một hệ thống quốc phòng cho Việtnam vững mạnh đủ sức làm nản lòng bành trướng của Bắckinh, thì việc đầu tư của Mỹ ở đây rất phiêu lưu, mà toàn vùng Đông Nam Á cũng sẽ bị Trungcộng khống chế. Thế nhưng sự quá khác biệt, đến trái ngược giữa 2 hệ thống Quân Đội của Đảng Việtcộng với Quân Đội của Nước Hoakỳ.


Thêm vào đó Việtcộng không dám qua mặt đàn anh Trungcộng, và ngay cả Hoakỳ chưa muốn tạo cho Trungcộng mối lo ở phương Nam. Nên Mỹ phải từng bước thận trọng, đi từ sự hiện diện, đến huấn luyện, trợ giúp kỹ thuật không sát thương…Nhưng Trungcộng lại được thế, hung hăng nhận chủ quyền khắp biển Đông, khiến cho lãnh đạo Việtcộng bị trói tay, khoá miệng. Thanh Niên, Trí Thức, Toàn Dân phẫn nộ ra mặt, kết án đảng bán nước.

Quân đội Việtcộng cũng muốn có ngay những chiến cụ và vũ khí tối tân của Mỹ để chống giặc Tầu xâm lăng. Chuyến đi Mỹ của tướng Phùng Quang Thanh đã đề nghị Mỹ bán cho Việtnam những vũ khí chiến đấu kỹ thuật cao. Nhưng Mỹ đã nhường cho Nga cung cấp tàu ngầm, máy bay cho Việtnnam, để Ấnđộ giúp huấn luyện, nhằm kéo Nga vào cuộc chơi ‘toàn cầu mới’, mà Trungcộng trở thành “đối trọng chiến lược” có công dụng dồn các nước Á Châu và cả Âu Châu vào vị thế phòng thủ chung với Mỹ.

Vấn đề quốc phòng Việtnam, do đó trở thành mối quan tâm hàng đầu của Hànội, Washington và Bắckinh. Hànội phải cho Phùng Quang Thanh, bộ tưởng quốc phòng, ngày 21/04 đến 28/04/2010, cầm đầu một phái đoàn hùng hậu, gồm một số cơ quan quốc phòng, bộ tư lệnh quân khu 1, quân khu 2, quân khu 3, bộ tư lệnh hảiquân, biên phòng, quân chủng phòng không- không quân…sang Tầu gặp bộ trưởng quốc phòng Trungcộng Lương Quang Liệt, sau đó gặp Tập Cận Bình, phó chủ tịch nước, và Từ Tài Hậu, phó chủ tịch quân ủy trung ương Trungcộng. Trungcộng muốn mở rộng hợp tác quân sự với Việtnam. Tập Cận Bình nhắc lại rằng: Theo kế hoạch hợp tác chiến lược, quân đội 2 bên phải tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, thảo luận các giải pháp về quản lý, bảo vệ biên giới và thẳng thắn trình bày, giải quyết những trở ngại có thể tạo bất lợi cho quan hệ song phương”. Phái đoàn quốc phòng Việtcộng Phùng Quang Thanh chưa kịp về nước, thì ngày 24/04 đến 03/05/10 một phái đoàn Ủy Ban Quốc Phòng và An Ninh của Quốc Hội Việtcộng đã sang Bắckinh, nhằm hội kiến với Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Trungcộng, cùng bàn bạc cụ thể hóa việc phát triển quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước, nhất là trong lãnh vực an ninh và quốc phòng.

Xem vậy, Trungcộng đang gấp rút tìm mọi cách để khống chế toàn diện Việtnam, nhất là nắm chặt quân đội Việtcộng, để cho Viêtnam không thể “đa phương hoá” quốc phòng, không còn cơ hội “quốc tế hóa” biển Đông, không thể dựa vào Mỹ, nhằm ngăn cuộc bành trướng xâm lăng của Bắckinh đối với Việtnam. Hànội hãy mau tỉnh thức. Hoakỳ và NATO dự tính kết thúc cuộc chiến Afghanistan nội trong năm nay. Riêng Hoakỳ đang dồn lực lượng Hải Quân và tiềm thủy đĩnh từ Trungđông sang vùng Đông Nam Á, để mở ra phòng tuyến mới, một trận thế mới, nhằm chấm dứt tình trạng “nước lớn hiếp nước nhỏ”, tạo nhiều cơ hội cho các nước trong vùng dân chủ hóa chế độ để phát triển kinh tế, phát huy văn hóa, quân bằng xả hội. Little Saigon ngày 27/04/2010.

TRUNG QUỐC MUỐN DẠY MỸ MỘT BÀI HỌC

*

Trung Quốc lên mặt muốn dạy cho Mỹ một bài học

Trung Quoc len mat muon day cho My mot bai hoc?

VIT - "Mỹ cần phải thay đổi chính sách để thừa nhận vai trò của Trung Quốc như một cường quốc lớn trên trường quốc tế nếu họ muốn tránh va chạm và bất ổn!"- một tờ báo lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc hôm 29/7 cho hay.

Bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản cầm quyền Trung Quốc, đã được đăng tải sau cuộc tranh cãi gần đây nhất trong quan hệ Trung-Mỹ, về những gì Trung Quốc xem là sự can thiệp vô lý của Mỹ đối với cuộc tranh chấp lãnh thổ tại biển Đông.

Trong khi các quan chức cao cấp, bao gồm cả Tổng thống Mỹ Barack Obama, cho biết họ hoan nghênh một nước Trung Quốc thịnh vượng và phát triển, thì lời nói tốt phải đi đôi với hành động, tờ báo cho biết.

"Nếu Mỹ không thể tìm được cách công nhận và chấp nhận việc Trung Quốc bước vào vũ đài thế giới với tư cách là một cường quốc, thì các mối quan hệ sẽ thay đổi lên xuống như hình chữ chi," bài báo nói.

"Sự bất ổn định này trong các mối quan hệ sẽ có ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với quan hệ song phương, mà còn đối với thế giới, và đó không phải điều mà mọi người muốn chứng kiến."

Bài báo cho biết, Tổng thống Obama đã khởi đầu rất tốt đẹp bằng chuyến thăm của ông tới Trung Quốc hồi năm ngoái, tuy nhiên, những tranh cãi về kế hoạch bán vũ khí cho Đài Loan của Mỹ, về Tập đoàn Google và về giá trị của đồng Nhân dân tệ đã cho thấy Mỹ không có sự thay đổi thực sự nào.

"Về vấn đề cùng tồn tại như thế nào với một Trung Quốc phát triển nhanh chóng, trong thực tế Washington đã không tính toán mọi việc theo một cách bình tĩnh."

Thật sai lầm khi cho rằng, như một số chuyên gia tại Mỹ tin tưởng, Trung Quốc sẽ linh hoạt trong việc giải quyết những vấn đề nhất định khi các mối quan hệ giữa hai nước được tăng cường, bài xã luận cho biết.

"Khi vấn đề cốt yếu của Trung Quốc đạt được sẽ không thể không có một phản ứng. Tình trạng của mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoặc thậm chí là quyết định đến hòa bình và ổn định trên toàn cầu, đặc biệt là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương ... Các mối quan hệ tới một mức độ rộng lớn trong tương lai sẽ xoay quanh việc liệu Washington có thể kiểm soát được sức mạnh của họ hay không."

Phản ứng "cứng rắn" này của Trung Quốc xảy ra trong bối cảnh phía Đông Bắc Á đang có cuộc tập trận qui mô lớn của liên quân Mỹ-Hàn và phía Đông Nam Á vừa kết thúc diễn đàn các bộ trưởng ngoại giao ASEAN - ARF.

Một trong số các thành công lớn của ASEAN - ARF Hà Nội là các Bộ trưởng tham dự diễn đàn khẳng định ủng hộ việc triển khai hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông (DOC); và dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) hướng tới mục tiêu xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông trong tương lai.

Phát biểu tại tại diễn Đàn ASEAN - ARF ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ, bà Clinton, cho biết "Mỹ có những lợi ích quốc gia của mình trong việc giải quyết ổn thỏa các xung đột tại biển Đông."

Được biết, trong khoảng thời gian qua Trung Quốc đã thực thi chính sách hiếú chiến đánh chiếm và chiếm giữ bất hợp pháp nhiều đảo và vùng biển của các quốc gia trong khu vực. Song song với việc gia tăng sức mạnh quân sự và kinh tế mà tham vọng mở rộng lãnh hải của Trung quốc ngày càng tăng.
http://www.baomoi.com/Info/Trung-Quoc-len-mat-muon-day-cho-My-mot-bai-hoc/119/4631497.epi

TRUNG CỘNG KHỐNG CHẾ VIỆT NAM

*

Âm mưu khống chế hoàn toàn Việt Nam của Trung Quốc
Posted: Tháng Mười Hai 13, 2009 by BÁO TỔ QUỐC



Kể từ sau sự kiện Trung Quốc chiếm đóng một phần Quần Đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988, trong những năm gần đây, vấn để hải đảo biên giới khiến quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng một cách đáng lo ngại. Tuy quan hệ ngoại giao căng thẳng nhưng quan hệ giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn nồng ấm một cách lạ thường, Trung Quốc tiếp tục dành được nhiều dự án lớn, trọng điểm quốc gia, trong đó có dự án Bauxite Tây Nguyên, dự án xây dựng các nhà máy điện, xí nghiệp, cải tạo hệ thống cống thoát nước… Đặc biệt gần đây Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam xây dựng Ký túc xá ở học viện chính trị & hành chính Hồ Chí Minh, Cung hữu nghị Việt Trung.

Trong bối cảnh căng thẳng giữa hai nước khi ngư dân Việt Nam liên tục bị Hải Quân Trung Quốc sách nhiễu trên biển Đông, tàu Việt Nam thường xuyên bị “Tàu lạ” đâm chìm ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Các trang mạng, báo chí chính thống của Trung Quốc liên tục khiêu khích, kích động đòi chiến tranh với Việt Nam, Hải Quân Trung Quốc thường xuyên công khai vi phạm lãnh hải Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa đặc biệt Trung Quốc còn xúc tiến việc thăm dò khai thác dầu khí tại những vùng biển đang tranh chấp thì mối quan hệ nồng ấm giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng Sản Trung Quốc rõ ràng là không được bình thường.

Nếu nói rằng hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc chỉ “bằng mặt mà không bằng lòng” thì thiếu thuyết phục vì một nước lớn như Trung Quốc chẳng có lý do gì để phải “nể mặt” một nước nhỏ như Việt Nam. Và một mối quan hệ hình thức bề ngoài thì không thể giúp cho Trung Quốc liên tiếp dành được nhiều dự án quan trọng như dự án Bauxite Tây Nguyên; nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam không bằng lòng với Đảng Cộng Sản Trung Quốc thì không thể nào họ lại không đề phòng sự xâm nhập của Trung Quốc vào một khu vực chiến lược quan trọng như Tây Nguyên, không đề phòng việc giao cho Trung Quốc thi công những công trình, những dự án lớn trên khắp nước Việt Nam.

Rõ ràng là bất chấp sự bá quyền của Trung Quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhượng bộ một cách thái quá, bất thường đến mức tỏ ra nhu nhược mất hết tinh thần độc lập của dân tộc.

Nhiều nhà khoa học và giới trí thức cũng như các cán bộ lão thành Cách mạng đã bày tỏ mối lo ngại sâu sắc về sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực nhưng chính quyền Đảng Cộng Sản đã làm ngơ và thậm chí ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ, to lớn và sâu đậm hơn. Từ đây có một câu hỏi lớn được đặt ra? Trung Quốc với tư tưởng bá quyền từ hàng ngàn năm nay muốn thôn tính Việt Nam và họ luôn coi Việt Nam là một phần lãnh thổ của họ đã bị tách ra điều này hầu như người dân Việt Nam nào cũng biết huống chi là tầng lớp lãnh đạo, vậy vì lý do gì mà những người lãnh đạo đã không ngăn cản ảnh hưởng của Trung Quốc mà thậm chí họ còn tiếp tay cho Trung Quốc? Phải chăng Trung Quốc đã khống chế được một bộ phận lãnh đạo trong chính quyền Việt Nam? Và Trung Quốc đã khống chế được lĩnh vực nào của Việt Nam từ việc bành trướng ảnh hưởng của họ trong thời gian vừa qua?

Bài viết này tôi xin được viết với tất cả tấm lòng đối với quê hương đất nước, tôi viết vì lo ngại cho vận mệnh của dân tộc đang rơi vào cảnh lâm nguy. Tôi viết để kêu gọi mọi người dân Việt Nam cho dù theo chủ nghĩa nào, hay ở đất nước nào đi nữa cũng phải quan tâm đến vận mệnh của dân tộc vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta. Có lẽ những nhận định trong bài viết của tôi không hoàn toàn chính xác vì những quan điểm chủ quan của tôi nhưng tôi nghĩ nó sẽ không trở nên dư thừa khi những cảnh báo về một cuộc chiến tranh ra giữa Việt Nam và Trung Quốc không thể nào không xẩy trong tương lai, chỉ có điều chưa ai rõ nó sẽ diễn ra như thế nào mà thôi!

Trở lại vấn đề Trung Quốc đã khống chế Việt Nam, vậy Trung Quốc đã khống chế được lĩnh vực gì của Việt Nam và nếu xẩy ra chiến tranh thì việc khống chế lĩnh vực đó giúp ích gì cho Trung Quốc?

1) Lĩnh vực tư tưởng văn hóa:

Sự xâm lấn của các văn hóa phẩm Trung Quốc như phim truyện, điện ảnh đã từ lâu luôn trở thành vấn đề bức xúc của dư luận dẫn đến tình trạng người Việt Nam giỏi sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam, người Việt Nam thần tượng các anh hùng vua chúa Trung Quốc hơn cả các anh hung vua chúa Việt Nam. Những điều đó không tai hại hằng việc học sinh thanh niên Việt Nam tập trung chơi game Online Trung Quốc như một trào lưu, đến nỗi nhà nhà chơi game, người người chơi game; điều này thật sự hết sức tai hại khi tuổi trẻ Việt Nam bị game Trung Quốc đầu độc mà bỏ bê trách nhiệm học tập, trách nhiệm quan tâm đến xã hội, đất nước. Thậm chí một số công ty game như VinaGame có các nhà đầu tư Trung Quốc đứng đằng sau còn cấm dung những từ “Hoàng Sa hay Trường Sa” trong các game và mạng xã hội của họ.

Báo chí thì hoàn toàn bị khống chế khi viết về Trung Quốc, điển hình là cuộc chiến tranh biên giới 1979 báo chí Việt Nam hầu như hoàn toàn im lặng trong khi báo chí Trung quốc vẫn kỷ niệm cuộc chiến 1979 dưới nhiều hình thức, điều lạ đời ở đây là một đất nước có hàng chục ngàn người đã hi sinh để bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc lại không hề được tưởng nhớ đến trong khi một đất nước hi sinh hàng chục ngàn người để đi “dạy cho dân tộc khác một bài học” thì lại được tưởng nhớ như những anh hùng?

Vậy công lý hóa ra thuộc về Trung Quốc chăng nên Việt Nam phải im lặng như vậy? Ngoài vấn đề Hoàng Sa Trường Sa thì những nội dung khác về Trung Quốc đều rất nhạy cảm trên báo chí Việt Nam, có nhiều nhà thơ nhà văn viết về Ải Nam Quan, tinh thần yêu nước khi xuất bản đều bị xóa đi hoặc bị đình bản như Báo Du lịch với lý do “gây tổn hại đến quan hệ ngoại giao” với Trung Quốc?


Trong khi báo chí Trung Quốc chẳng bao giờ sợ gây “tổn hại quan hệ ngoại giao” với Việt Nam. Điều đáng báo động là thậm chí báo chí Việt Nam lại tỏ ra ủng hộ quan điểm của Trung Quốc như trường hợp của ông Đào Duy Quát, tổng biên tập báo điện tử ĐCSVN cho đăng tin Trung Quốc tập trận “trên biển của Trung Quốc”, nhiều tờ báo không cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam một cách “vô ý” kỳ lạ.

2) về lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế:

Hàng hóa Trung Quốc xuất hiện dầy đặc ở thị trường Việt Nam làm nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị sụp đổ. Sản phẩm Trung Quốc thì vô cùng độc hại nhưng vẫn cứ vô tư xuất sang Việt Nam dưới sự bất lực của các cơ quan chức năng. Quan trọng hơn nữa là Trung Quốc trúng thầu hầu hết các dự án lớn xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, đường xá, hệ thống thoát nước, viễn thông, nhà máy điện, sân vận động, khu chung cư, các khu mỏ, quặng…


Ngoài vấn đề chất lượng của các công trình Trung Quốc là vấn đề không cần phải bàn cãi thì ít ai nghĩ đến những âm mưu thâm độc của Trung Quốc trong các công trình mà họ thực hiện. Trong quá khứ Trung Quốc đã từng lợi dụng việc xây dựng nhà máy, xí nghiệp, đường xá để đưa tình báo vào nước ta do thám địa hình nước ta, chiếm lấy đất của chúng ta. Những bài học đó vẫn còn rất mới trong cuộc chiến 1979 vậy mà Đảng Cộng Sản Việt Nam lại để Trung Quốc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên bất chấp sự phản đối gây gắt của dư luận.

Có một sự trùng hợp khá kỳ lạ lạ sau khi cho TQ khai thác Bauxite ở Tây Nguyên ĐCSVN lại nhanh chóng thông qua việc xây dựng các nhà máy điện Hạt Nhân với kinh phí rất lớn mặc dù vẫn chưa được sự đồng tình của dư luận, điều này đặt ra một giả thuyết khai thác Bauxite ở Tây Nguyên chỉ là phụ chứ mục đích chính của dự án là khai thác quặn phóng xạ? Việc Tây Nguyên có tìm ẩn những mỏ Phóng xạ là điều rất có cơ sở vì không phải vô tình mà Pháp lại đặt Lò Phản Ứng Hạt nhân duy nhất của Việt Nam ở Đà Lạt mà không đặt ở những nơi khác.

Vừa qua Tiến Sĩ Mai Thanh Tuyết cũng có đề cập đến vấn đề này trong bài “Quặng Bauxite hay quặng phóng xạ?” và trong bài cũng đề cập đến việc công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto Canada đồng ý chia sẻ việc triển khai và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam đồng thời vào ngày 06/08/2009 chính ông Trần Xuân Hương Bộ Trưởng Bộ Môi Trường và Tài Nguyên đã chính thức thừa nhận Việt Nam sẽ thăm dò và khai thác quặng mỏ Phóng Xạ ở Nông Sơn và ông có nhắc đến cả Lâm Đồng trong tương lai.

Như vậy phải chăng Đảng Cộng Sản Việt Nam đang ầm thầm bán rẻ một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và có giá trị về mặt quân sự là quặng phóng xạ Uranium cho Trung Quốc để đổi lại Trung Quốc sẽ cung cấp nguyên liệu cho các lò phản ứng Hạt Nhân của Việt Nam trong tương lai? Liệu âm mưu này có dừng lại ở đó hay nó còn ẩn khúc nào khác nữa?

Phải nói là giả thuyết này là rất có cơ sở vì không thể trùng hợp đến mức Đảng Cộng Sản Việt Nam thông qua việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử ngay sau khi đã sắp đặt yên ổn các dự án bauxite ở Tây Nguyên mà tại sao không thông qua trước hoặc đợi một thời gian sau mới đặt vấn đề xây dựng các nhà máy điện nguyên tử. Phải chăng đây mới chính là “chủ trương lớn của Đảng” mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu trên báo chí để nhân dân không thể bàn cãi và không thể giám sát các dự án đang diễn ra?

Sự khống chế về kinh tế còn thể hiện ở việc rất nhiều nhà đầu tư Trung Quốc đang làm mưa làm gió trên thị trường Việt Nam, góp phần với các công ty đại gia của người Hoa trong giới làm ăn người ta thường bàn tán về rất nhiều “đại gia lạ” có vốn rất mạnh họ có thể huy động vài trăm đến vài ngàn tỷ ngay khi cần đến! Đặc biệt nguồn gốc của các “đại gia lạ” này không rõ ràng chỉ biết rằng đứng đằng sau họ là các công ty ở Đài Loan và Trung Quốc. Nếu cùng hợp sức lại họ có thể tạo nên những đợt biến động giá cả ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của Việt Nam, nhưng qua những đợt biến động giá cả vừa qua chỉ nghe báo chí nhắc đến “nhà đầu cơ” mà các cơ quan chức năng tuyệt nhiên không thể tìm ra bất cứ “nhà đầu cơ” nào âu cũng là điều khó hiểu?

3) Về lĩnh vực chính trị tôn giáo:

Về lĩnh vực chính trị và tôn giáo ĐCS Trung Quốc đã thành công khi gây áp lực lên ĐCS Việt Nam trục xuất các Tăng Ni Làng Mai tại Bát Nhã vì Thiền Sư Nhất Hạnh đã công khai ủng hộ Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một cuộc phỏng vấn. Thiền Sư Nhất Hạnh được xem là người Phật Giáo nổi tiếng thứ nhì thế giới chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma. Năm 2005 Thiền Sư Nhất Hạnh đã về Việt Nam lập trai đàn cầu siêu điều đó chứng tỏ chính quyền Việt Nam không coi Tổ chức Làng Mai của Thiền Sư là một tổ chức chống đối, vì thế việc trấn áp các Tăng Ni Làng Mai ở Bát Nhã rõ ràng chỉ có một lý do duy nhất là cách mà Hà Nội làm vui lòng Bắc Kinh chứ không thể vô duyên vô cớ ĐCS Việt Nam lại dính vào chuyện đàn áp tôn giáo đối với vài trăm Tăng Ni chẳng làm gì bất lợi với họ cho thêm chuyện rắc rối.

Thời gian gần đây không có nhiều bằng chứng về áp lực của Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại với Việt Nam, tuy nhiên nếu đọc lại hồi ký của Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ chúng ta thấy rằng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước khác nhất là Mỹ luôn chịu áp lực rất lớn từ Trung Quốc nhất là trong quá khứ khi Việt Nam đáng lẽ có thể gia nhập WTO trước Trung Quốc lại phải đợi Trung Quốc gia nhập WTO xong Việt Nam mới có thể tham gia đã khiến Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình đàm phán gia nhập WTO với Trung Quốc.

Dĩ nhiên là hiện nay Trung Quốc vẫn tiếp tục áp lực Việt Nam chỉ có điều chưa có người nào kể lại cho chúng ta nghe nên chúng ta không biết nhưng không phải vì thế mà chúng ta không nhận ra những dấu hiệu bất thường, và vấn đề này chúng ta sẽ đề cập đến vào một bài viết khác.

4) Về lĩnh vực quốc phòng tình báo:

Mối quan hệ giữa giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc là một tập hợp một chuỗi gồm những câu chuyện hết sức bí ẩn bất thường. Một bí ẩn rất lớn được đặt ra trong ngành quốc phòng tình báo đến nay vẫn chưa có câu trả lời.

Mặc dù trong thời gian vừa qua Việt Nam đã tích cực mua sắm các phương tiện quốc phòng tối tân như tàu ngầm, máy bay để đối phó với sự tăng cường lực lượng hải quân của Trung Quốc trên biển đông điều đó tạo ra cảm giác cho nhân dân Việt Nam rằng lĩnh vực quốc phòng của Việt Nam luôn vững mạnh và luôn được đầu tư tăng cường. Nhưng hầu hết ít ai chú ý rằng cho dù quân đội của ta có hiện đại hay có mạnh đến đâu nếu bị gián điệp của Trung Quốc kiểm soát thì chúng ta sẽ thua thảm hại trước khi cuộc chiến xẩy ra. Ví dụ như nếu Trung Quốc biết được vị trí các trạm rada đi động của ta, nơi cất giấu máy bay, tên lửa chủ lực hay đơn giản hơn là cách hoạt động và thông số kỹ thuật của các vũ khí hiện đại thì họ sẽ có cách để tiêu hủy hay chế ngự khả năng quốc phòng của nước ta.

Vì vậy việc phát hiện và truy tìm gián điệp của địch là một công việc cực kỳ quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng nếu không làm tốt được vấn đề này thì không thể nào nói rằng quốc phòng ta đã vững mạnh, nhất là khi nước ta có sự hiện điện đông đảo một bộ phận người Việt gốc Hoa nữa. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua kể từ sau hai nước Việt Nam Trung Hoa bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1991 đến nay chưa hề có trường hợp nào Việt Nam phát hiện được gián điệp tình báo của Trung Quốc.

Trong khi các nước Châu Âu, Mỹ chỉ trong chục năm trở lại đây họ đã phát hiện ra hàng trăm hàng ngàn gián điệp Trung Quốc còn Việt Nam một nước sát biên giới với Trung Quốc luôn nằm trong tầm ngắm của Trung Quốc lại không tìm ra được 1 tên gián điệp nào trong 20 năm? Đó có phải là một điều kỳ lạ hay không?

Trong khi thành tích của ngành tình báo phản giản Việt Nam đâu phải là tồi khi những chiến công chống lại “bọn phản động” và “diễn biến hòa bình” của phương Tây đã bị dập tắt từ trong trứng nước. Nhất là vụ Tổng Cục 4 phát hiện nhiều lãnh đạo cao cấp trong Đảng và chính phủ là người của CIA vậy mà họ không phát hiện được tên gián điệp nào của cục tình báo Hoa Nam?

Và không biết ĐCS Việt Nam có nhận thức được rằng bọn “phản động” cùng lắm chỉ đòi đa đảng, đòi chính quyền còn Trung Quốc sẽ đòi cả nước Việt Nam, và bọn “phản động” đòi là một chuyện còn Đảng có chấp nhận hay không lại là chuyện khác nhất là khi ĐCS luôn tự tin rằng họ được sự ủng hộ và tin yêu của phần lớn người dân thì việc “chống phản động” và “diễn biến hòa bình” đâu có cấp thiết bằng chống ngoại xâm? Nhưng tại sao trong thời gian qua chiến công của ngành tình báo chỉ tập trung vào chống “phản động” chứ không hề có bất kỳ vụ nào “chống ngoại xâm”?

Trong khi tôi biết được hiện tại ở Việt Nam có một vài tổ chức người Việt gốc Hoa, họ có hai quốc tịch cùng một lúc trong đó một quốc tịch Việt Nam một quốc Tịch Trung Quốc hay Hồng Kông, nhiệm vụ của họ là đi khắp nơi thu thập tất cả các thông tin trên báo chí và những gì diễn ra trong xã hội đến cả những chuyện tâm linh của Việt Nam làm báo cáo gửi về cho tổ chức họ. Chuyện này là có thật 100% tuy nhiên vì lý do an ninh của cá nhân tôi nên tôi rất tiếc không thể nói rõ hơn về tổ chức này vì có thể họ sẽ nhận ra tôi là ai. Điều này làm tôi thực sự lo ngại về tình hình gián điệp Trung Quốc tại Việt Nam.

5) Về lĩnh vực tổ chức nhân sự trong chính quyền:

Nếu chúng ta tinh tường một chút chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ Đại Hội Đảng lần nào Trung Quốc cũng cử cán bộ cao cấp sang Việt Nam tham dự hội nghị, thậm chí họ còn cử đại diện sang trước khi đại hội diễn ra. Nhiều tài liệu cho chúng ta biết rằng Trung Quốc bày tỏ quan điểm công khai ủng hộ hay bất ủng hộ đối với một nhân vật nào đó vào cách chức vụ cao cấp trong chính phủ của ta khi họ tham gia hội nghị và dĩ nhiên sự ủng hộ của Trung Quốc rất có trọng lượng. Trong Hồi Ký ngoại giao của Thứ trưởng Trần Quan Cơ đã chứng minh Trung Quốc nhiều lần can thiệp vào việc xắp xếp nhân sự của chúng ta và gây áp lực đòi ĐCS phải sắp xếp những nhân vật thân Trung Quốc.

Và chúng ta biết rằng Trung Quốc không vô duyên vô cớ ủng hộ một ai đó nếu người đó không đem lại lợi ích cho Trung Quốc và các lãnh đạo của ta muốn tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc không thể nào không làm đẹp lòng Trung Quốc điều đó đã dẫn đến những hậu quả hết sức tai hại cho Việt Nam khi ký kết những hiệp định, những dự án hết sức bất bình đẳng và gây hậu quả nghiêm trọng về lâu dài cho đất nước như dự án bauxite Tây Nguyên, hiệp định gia nhập WTO của Việt Nam được ký giữa Việt Nam và Trung Quốc…

Vậy hiện nay với cách tổ chức và sắp đặt nhân sự lãnh đạo chỉ dựa vào uy tín trong Đảng, sự ủng hộ của Trung Quốc và sức mạnh bè phái của nhân vật đó thì liệu đã có bao nhiêu tên gián điệp Trung Quốc đứng trong hàng ngũ lạnh đạo của chính phủ Việt Nam? Và liệu có bao nhiêu lãnh đạo đã vô tình tiếp tay làm lợi cho Trung Quốc mà bán rẻ lợi ích dân tộc để đổi lấy quyền lực cho bản thân mình?

6) Về vấn đề biên giới lãnh thổ:

Về biên giới lãnh thổ Trung Quốc đã thành công và được rất nhiều lợi thế khi ký kết hiệp định biên giới với Việt Nam. Đến tận ngày nay bất chấp áp lực của dư luận yêu cầu Đảng Cộng Sản phải công khai bản đồ phân mốc cắm giới với Trung Quốc, nhưng bản đồ cắm mốc phân giới vẫn được giấu kín làm nhiều người bày tỏ mối nghi ngờ Việt Nam bị mất rất nhiều đất vào tay Trung Quốc như mất một phần Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Bãi Tục Lãm…

Việc ký kết hiệp định biên giới với Trung Quốc mà không công bố bản đồ phân giới cắm mốc là việc làm không minh bạch rõ ràng và mờ ám, huống chi bản đồ phân giới cắm mốc phân giới các quốc gia đều công khai thì lý gì ĐCS Việt Nam lại phải giấu đi? Phải chăng giống như lời nói của ông Lê Công Phụng Việt Nam chúng ta “được” thêm nhiều đất của Trung Quốc nên không dám công bố chăng?

Về thác Bản Giốc ông Lê Công Phụng từng nói toàn bộ thác phụ thuộc Việt Nam ta ngoài ra chúng ta còn lấy “được” phân nửa thác chính và cho đó là một thành công trong đàm phán thì rõ ràng ông đang đùa với mọi người rồi còn gì, chẳng lẽ Trung Quốc tốt bụng đến nỗi nhường phân nửa cái Thác Bản Giốc đẹp như vậy cho Việt Nam trong khi Việt Nam đã có toàn bộ thác phụ?

7) Và cuối cùng, viễn tưởng một cuộc chiến tranh với Trung Quốc trong tương lai:

Như tôi đã đề cập ở trên Trung Quốc đã và đang âm mưu khống chế hoàn toàn Việt Nam trong tương lai và việc Trung Quốc đang gia tăng sức ảnh hưởng đã chứng minh điều đó, đây đã là một vấn đề rất rõ ràng. Nhưng nếu chúng ta cho rằng mục đích chính của Trung Quốc là xâm lược Việt Nam thì điều đó chưa hẳn đã chính xác hoặc chưa chính xác vào thời điểm hiện tại hay chưa chính xác về cách thức diễn ra cuộc xâm lược ấy.

Chúng ta biết rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có một lịch sử không được tốt đẹp cho lắm khi nhân dân Việt Nam luôn phải đấu tranh chống lại quân xâm lược phương Bắc, còn Trung Quốc đã nhiều lần thảm bại tại Việt Nam và đến tận bây giờ họ vẫn chưa chiếm được một nước Việt Nam nhỏ bé. Nói không chiếm được cũng không chính xác, Trung Quốc từng đã chiếm được Việt Nam nhưng họ không giữ được Việt Nam, và có lẽ sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 người Trung Quốc đã học được một bài học rằng việc trực tiếp đem quân đánh chiếm Việt Nam không phải là một cách làm khôn ngoan và sẽ không có kết quả tốt đẹp.

Huống chi thời đại bây giờ đã khác, thế giới sẽ không ngồi yên nhìn Trung Quốc “dương oai diễu võ”, thay vì phải tốn công sức đánh chiếm Việt Nam cho dù có chiếm được cũng chưa chắc giữ được đất Việt Nam lại bị áp lực quốc tế nên Trung Quốc sẽ tìm cách kiểm soát Việt Nam biến Việt Nam trở thành một nước chư hầu, một sân sau của Trung Quốc và đó là cách xâm lược Việt Nam hiệu quả nhất trong thời điểm hiện tại mà không phải tốn nhiều công sức.

Mao Trạch Đông từng nói chấp nhận hi sinh phân nửa dân số Trung Quốc để chiếm lấy cả thế giới và Trung Quốc với tư tưởng Hán quyền hàng ngàn năm nay, khi họ luôn xem mình là trung tâm của thế giới và luôn muốn đứng trên đầu tất cả các nước khác thì lời nói của Mao Trạch Đông rất có thể trở thành sự thật trong tương lai không xa khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc còn cầm quyền.

Chúng ta nên nhớ rằng liên quân phát xít chỉ có Đức – Ý – Nhật, dân số của cả 3 nước trước khi xẩy ra Thế Chiến thứ 2 cũng chỉ cỡ một trăm triệu người mà Liên Minh Phát Xít đã tạo nên một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử thế giới thì Trung Quốc hiện tại với hơn một 1,2 tỷ dân, nếu đem phân nửa 600 triệu dân Trung Quốc ra đánh chiếm thế giới thì Liên Minh Phát Xít trong thế chiến thứ 2 chẳng đáng là gì cả.

Như vậy cho dù Trung Quốc có muốn thôn tính thế giới hay không thì trước khi chiếm được thế giới Trung Quốc vẫn cần có đồng minh, việc Trung Quốc ngày càng tạo ảnh hưởng và đứng đằng sao những nước độc tài ở Châu Phi, Miến Điện, Bắc Hàn và tạo mối quan hệ chặt chẽ với các nước XHCN như Venezuela đã cho thấy Trung Quốc đang tập trung xây dựng một lực lượng chư hầu, đồng minh khắp thế giới. Qua đó ta thấy rằng Trung Quốc có tham vọng rất lớn trong việc bành trướng sự ảnh hưởng của họ ra khắp thế giới. Dĩ nhiên Trung Quốc cũng muốn Việt Nam trở thành một chư hầu của Trung Quốc tương tự như Bắc Hàn, Miến Điện… nhưng phải nói Việt Nam luôn là nước phức tạp nhất và khó khăn nhất trên bàn cờ chiến lược của Trung Quốc, cái khó khăn lớn nhất ở đây chính là “chủ nghĩa dân tộc” mà Trung Quốc đã nhiều lần bày tỏ lo ngại với chính quyền Việt Nam.

Trung Quốc sẽ không xâm lược Việt Nam bằng một cuộc chiến tranh quy mô nhưng sẽ xâm lược Việt Nam bằng một cuộc chiến tranh phá hoại dựa đã chuẩn bị từ trước và sau cuộc chiến tranh đó Trung Quốc sẽ khống chế hoàn toàn Việt Nam để Việt Nam ngoan ngoãn trở thành một chư hầu của Trung Quốc. Trường Sa hiện tại chỉ là con bài của Trung Quốc dung để đối phó với Việt Nam, khiến Việt Nam tập trung vào Trường Sa mà lơ là sự quan tâm trên đất liền, nếu khống chế được Việt Nam thì việc chiếm được Trường Sa đâu có cần thiết nữa.

Vậy việc khống chế các lĩnh vực kinh tế xã hội chính chị ở Việt Nam sẽ giúp gì cho một cuộc “xâm lược kiểu mới” của Trung Quốc và sau cuộc xâm lược Trung Quốc sẽ điều kiển Việt Nam như thế nào? Chúng ta đừng quên rằng người Việt Nam mặc dù rất yêu nước nhưng những người như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắt cũng từng là người Việt Nam, thời Pháp cũng có nhiều người Việt Nam làm Việt Gian cho Pháp và Trung Quốc sẽ dùng những người như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắt hay nói gọn là bọn Việt Gian mà chúng đã đào tạo được để điều kiển Việt Nam và cuộc chiến tranh phá hoại Việt Nam ngoài mục đích đưa Việt Nam trở lại thời kỳ nghèo nàn lạc hậu còn là cách Trung Quốc đưa những tên Việt Gian lên cầm quyền.

Cuộc chiến tranh ban đầu sẽ được bắt đầu bằng việc Trung Quốc đánh vào nội bộ Việt Nam, Trung Quốc sẽ kích động các lực lượng chính quyền thân Trung Quốc đàn áp các tôn giáo, kích động chia rẽ tôn giáo gây rối loạn tình hình xã hội Việt Nam. (Trung Quốc sẽ không bao giờ kích động lật đổ chế độ Việt Nam).Tiếp theo sau Trung Quốc sẽ dung các “đại gia lạ” của mình tạo nên những cơn sốt về giá cả, tiền tệ nhằm đánh sập nền kinh tế Việt Nam tạo ra khủng hoảng bất ổn trong xã hội, rồi chính lúc này Trung Quốc sẽ tìm lý do gây chiến với Việt Nam có thể là đánh chiếm Trường Sa, lợi dụng sự phản khán của Việt Nam để có cớ gây chiến tranh.

Trung Quốc trong khi thi công các công trình đường xá, hệ thống cống ngầm, ống thoát nước, các nhà máy xí nghiệp đã có nắm được toàn bộ các cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn của Việt Nam như Sài Gòn và Hà Nội.


Hàng trăm hàng ngàn quân đội của Trung Quốc giả dạng công nhân sẽ biến những ống cống thoát nước thành những trái bom khổng lồ lòng các thành phố tương tự như những vụ nổ ở Guadalajara Mexico vào năm 1992 gây thiệt hại khủng khiếp cho các thành phố lớn. Ngoài ra quân đội Trung Quốc còn đặt bom phá hoại cách cơ quan xí nghiệp, các nhà máy điện, phá hoại hệ thống viễn thông, cáp ngầm… do Trung Quốc xây dựng (có thể ngay trong quá trình xây dựng họ đã đặt bom ở đâu đó chỉ chờ ngày kích hoạt) khiến toàn bộ Việt Nam bị cắt điện bị mất liên lạc với thế giới bên ngoài. Cũng có trường hợp trong quá trình xây dựng Trung Quốc đã để lại những thiết bị định vị cho tên lửa để tên lửa của Trung Quốc có thể rơi chính xác vào những vị trí mà Trung Quốc mong muốn khi tấn công Việt Nam gây thiệt hại lớn nhất cho Việt Nam ta.

Dựa vào lực lượng tình báo và gián điệp mấy chục năm hoạt động thuận lợi tại Việt Nam Trung Quốc có thể dễ dàng thủ tiêu hệ thống phòng thủ của Việt Nam, dùng máy bay tên lửa tiêu diệt các sân bay, trạm rada, các khu vực chứa tên lửa, thiết bị quân sự chiến lược khiến Việt Nam không thể chống trả.


Như vậy chỉ trong một ngày cách lãnh đạo Trung Quốc chỉ ngồi một chỗ nhấn nút điều kiển các tên lửa, máy bay và gọi điện thoại để chỉ huy một cuộc chiến tranh phá hoại Việt Nam mà không phải mất một binh một tướng nào trong khi vẫn đem lại những hậu quả hết sức nặng nề cho Việt Nam. Sau đó hàng ngàn quân đội Trung Quốc giả danh các công nhân khai thác Bauxite sẽ kích động đồng bào thiểu số vốn có mâu thuẩn với chính quyền trong quá khứ, hậu thuẫn vũ khí cho họ thông qua cao nguyên bên Lào giáp ranh cao nguyên với Việt Nam đã được Trung Quốc thuê trong 50 năm để chiếm lấy Tây Nguyên thành lập một nhà nước khác ngay trong lãnh thổ Việt Nam, chiếm được Tây Nguyên thì Trung Quốc có thể tách đôi nước Việt Nam ta ra làm hai.

Hoàn cảnh bây giờ Việt Nam đã mất khả năng tự vệ do nội bộ rối loạn và những thiệt hại nặng nề sau sự phá hoại của Trung Quốc buộc phải đầu hàng nhượng bộ Trung Quốc để đổi lại Trung Quốc sẽ không đem quân qua đánh Việt Nam, các lãnh đạo không thuận theo Trung Quốc buộc phải từ chức, những gián điệp Việt Gian của Trung Quốc được đưa lên để bảo đảm “hòa bình” cho Việt Nam và Việt Nam buộc phải chịu nhiều thiệt thòi để được hưởng hòa bình với Trung Quốc.


Dĩ nhiên thế giới sẽ chỉ trích mạnh Trung Quốc nhưng Trung Quốc đã khá quen với việc “chỉ trích” rồi, cuộc chiến tranh sẽ được giải thích theo nhiều cách, chẳn hạn như cuộc chiến tranh 1979 và sau này sẽ không có người Việt Nam nào được nhắc lại vì “quan hệ tốt đẹp giữa hai Đảng và nhân dân hai nước”. Cũng không loại trừ Trung Quốc sẽ thiết lập một chiến quyền tương tự như Miến Điện hay Bắc Hàn ở Việt Nam để ngu hóa dân Việt Nam cho bọn Việt Gian dễ cai trị và Trung Quốc đã hoàn toàn khống chế được Việt Nam là đều không còn gì phải nghi ngờ.

Lời Kết

Sự phân tích của tôi trong bài viết này nhất là việc suy đoán những âm mưu của Trung Quốc cũng như viễn tưởng một cuộc chiến tranh phá hoại của Trung Quốc trong tương lai rõ ràng là không đủ cơ sở, nhưng tương lai không thể biết trước được nhất là đối với Trung Quốc thì không có chuyện gì là không thể xẩy ra, do đó có thể mười điều tôi viết chỉ có một điều đúng thì ít ra nó cũng đóng góp phần nào cho những tiếng nói tâm huyết đang hết sức lo lắng cho vận mệnh của dân tộc trong tương lai khi Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ tư tưởng bá quyền của họ.

Vấn đề quan trọng bây giờ là chúng ta phải làm sao tìm ra trong hàng ngũ lãnh đạo ai là những người Cộng Sản hết lòng hết tâm vì quê hương, ai là Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc để đề phòng và ủng hộ đúng người đúng việc. Chúng ta phải thuyết phục Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng “chống ngoại xâm” quan trọng hơn hẳn “chống phản động” và “chống diễn biến hòa bình” và kêu gọi các Đảng Viên phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc để tránh thiệt thòi và những hậu quả về sau.

Sau cùng là cần phải có một cuộc kiểm tra và đánh giá chi tiết sự ảnh hưởng của Trung Quốc ở Việt Nam, kiểm tra lại những công trình quan trọng như các nhà máy điện, xí nghiệp, các hệ thống thoát nước viễn thông do các nhà thầu Trung Quốc thi công có gì mờ ám không, ngưng ngay trái bom Bauxite đang được cài đặt trên Tây Nguyên chỉ còn chờ ngày kích hoạt.

Vì đất nước vì tương lai của chúng ta đã đến lúc mọi người quan tâm một cách thiết thực hơn!


http://baotoquoc.com/2009/12/13/am-m%C6%B0u-kh%E1%BB%91ng-ch%E1%BA%BF-hoan-toan-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%A7a-trung-qu%E1%BB%91c/