Friday, April 30, 2010

LINH THẢO * VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vũ Hoàng Chương Và Những Vần Thơ Lẻ


Linh Thảo


Vũ Hoàng Chương có một lượng thơ khá lớn với nhiều tập thơ ra đời từ thời tiền chiến (phong trào thơ mới 1932-40) và thời hậu chiến (sau 1954). Tập thơ đầu của ông là THƠ SAY (1940), sau là Mây (do ĐỜI NAY xuất bản).

Khoảng năm 1943, nhà xuất bản Đời Nay xuất bản một Giai Phẩm Xuân có đăng vở kịch thơ VÂN MUỘI của ông.

Năm 1954, ông từ Bắc di cư vào Nam và xuất bản các tập thơ RỪNG PHONG, HOA ĐĂNG, CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU... Một số thơ mà ông liệt vào loại NHỊ THẬP BÁT TÚ, được đăng trên các tạp chí ở miền Nam. Nhị thập bát tú là những bài thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt (4 câu 7 chữ) có tất cả 28 chữ, nên gọi là Nhị thập bát tú (28 vì sao).

Một tập thơ được các môn sinh tập trung các bài thơ tình của ông hồi trẻ và xuất bản ở hải ngoại sau năm 1975 là: TA ĐỢI EM TỪ BA MƯƠI NĂM.

Cũng sau năm 1975, ở Hoa Kỳ, nhà xuất bản Xuân Thu đã in lại VÂN MUỘI, cùng các tập thơ: CẢM THÔNG, ĐỜI VẮNG EM RỒI SAY VỚI AI, TÂM SỰ KẺ SANG TẦN, LOẠN TRUNG BÚT.

Vũ Hoàng Chương là một trong số ít nhà thơ sành Hán văn, thích thư họa, nên ông đã từng làm thơ, dịch thơ, làm câu đối bằng chữ Hán.

Trước năm 1945, ông vào Nam dậy học, và sinh hoạt văn nghê.. Sau năm 1975, ông bị đưa đi học cải tạo và mất sau đó không bao lâu đi được tha.

Ở đây, người viết không đề cập đến Vũ Hoàng Chương qua số lượng thơ lớn cới nhiều tập thơ đã xuất bản của ông. Chỉ nhắc đến một ít bài hay vần thơ lẻ của ông, Việt văn lẫn Hán văn, mà ít người biết đến, không nhớ hay do thơ đăng rải rác đây đó trên các báo mà không được tập trung vào một tác phẩm nhất đi.nh.

Trước hết, thử phát họa đôi nét về con người Vũ Hoàng Chương. Thời xưa, hồi còn trẻ, ông đam mê nhiều thứ: rượu, thuốc phiện, ả đào, khiêu vũ... Những cái đam mê này cũng chỉ để tìm những nguồn cảm hứng cho thơ theo cái "mốt" của thời đại bấy giờ. Bài SAY ĐI EM, QUÊN, NGHE HÁT được trích dẫn trong tập THI NHÂN VIỆT NAM là tiêu biểụ

Sau năm 1975 vào Nam, có lẽ vì là nhà giáo, ông không còn có cái đam mê thời trước, mà chỉ có cái đam mê sáng tác thi ca, và có cái cốt cách, phong độ của kẻ sĩ.

Thơ Vũ Hoàng Chương rất đa dạng: thơ tình, thơ hoài cổ, thơ triết lý... mặt nào cũng có phong vị riêng, rất Vũ Hoàng Chương.

Điều đáng nói là cái phong độ kẻ sĩ của ông đã biểu lộ rất mực, sau năm 1975, trong một buổi họp văn nghệ do Thanh Nghị, một nhà văn từ bưng về thành, tổ chức để ca tụng Tố Hữu, về hai câu thơ trong bài "ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG": "Thương cha thương mẹ thương chồng, Thương mình thương một thương ông thương mười". Được mời phát biểu ý kiến, Vũ Hoàng Chương đã chê hai câu thơ đó là không chân thật khi đặt lời ấy vào miệng một bà mẹ Việt Nam, cũng như vào miệng con trẻ khi tập nói: "Tiếng đầu lòng con gọi Stalin." Ông cho đó là loại "thơ thợ", thơ tuyên truyền, không có gì đáng gọi là thơ hay, trong lúc các văn nghệ sĩ khác như Thanh Nghị, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và những người khác đều hết lời khen Tố Hữu đã có những câu thơ tuyệt tác, "xuất thần khẩu chiếm" đó.

Cũng nên biết rằng Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ đồng thời với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, cùng là những tài danh trong làng thơ mới, nhưng lại được Nhất Linh, chủ soái Tự Lực Văn Đoàn, gọi là "Thi Vương" (vua thơ) .

Có lẽ vì lời phát biểu "ươn ngạnh", không xu phụ nhà lãnh đạo văn nghệ miền Bắc, nên sau đó Vũ Hoàng Chương đã bị đưa đi cải tạo tư tưởng.

Trong tù, ông đã làm bài thơ khí khái:
Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non
Một manh chiếu lỉa hồn ngây ngất
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ
Đêm về giấc ngủ lại thương con
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa
Chẳng dễ gì phai một tấm son.

Vào dịp Tết Bính Thìn - 1976, khi chưa đi cải tạo, sống dưới chế độ mới, "trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sư.... Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái", như Nguyễn Mạnh Trinh đã viết, Vũ Hoàng Chương có bài thơ VỊNH BỨC TRANH GÀ LỢN, với ngụ ý châm biếm sâu sắc:

Sáng chưa sáng hẳn tối không đành
Gà lợn om xòm rối bức tranh
Rằng vách có tai thơ có họa
Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Qua hai bài thơ trên, Vũ Hoàng Chương có thái độ "khinh thế ngạo vật" trước thời cuộc biến thiên của nước nhà. Ông không là một kẻ khiếp nhược, chẳng tỏ vẻ gì lo sợ trước nghịch cảnh, như nhận định sau đây của Nguyễn Huệ Chi, một nhà văn miền Bắc, dù ông này vẫn phục tài và có cảm tình với Vũ Hoàng Chương:

"Đã từng sống trong không khí cải cách ruộng đất đợt V, hồi 1955 ở khi IV, tôi thấu hiểu nỗi sợ đến khủng khiếp về một cái gì không ra ngô ra khoai, về sự chờ đợi trong nặng nề khắc khoải, phải đếm từng giây phút một cho bớt cô đơn lạnh lẽo mà Vũ Hoàng Chương đã từng sống..." (sic)

Một số bài thơ của Vũ Hoàng Chương có tính chất thời sự, có lẽ ông chỉ cảm khái nhất thờị Chủ yếu thơ ông là thơ tình. Song thơ tình Vũ Hoàng Chương thời hậu chiến khác thơ tình thời tiền chiến, có ngôn ngữ chau chuốt, điêu luyện với giọng thơ phóng khoáng, tài hoa, có phong thái "thơ cẩm tú đàn anh họ Lý" của thi ca Đường, Tống:

Trở gót quê say ngược Suối Điều
Nét hoa mờ tỏ sóng phiêu diêu
Lên tiên về tục thương Từ Thức
Lấy giả làm chân học Thúy Kiều

Một số thơ khác của Vũ Hoàng Chương mang nét đấu tranh, do biến chuyển xã hội, thời Đệ Nhất Cộng Hòa:

Giờ điểm lâu rồi hỡi Tuổi Xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe giòng mực sôi trên giấy
Nhịp bốn nghìn thu Sử Đấu Tranh
Đáp tiếng nghìn xưa thề chiến đấu
Quên thân giằng cướp lấy sơn hà
Đứng lên đòi lại bằng xương máu
Sông núi vàng son của chúng ta

và trong vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, bảo vệ Phật Pháp:

Thương chúng sanh trầm luân bể khổ
Người sẽ phăng đêm tối đất đầy
Bước ra ngồi nhập định hướng về tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngõ...

Về sau, thơ Vũ Hoàng Chương chuyển sang địa hạt triết lý với NHỊ THẬP BÁT TÚ:

Ta ngắm trông vào cái chính ta
Hồn xanh trong nếp áo thu già
Tay kia từng níu trời cao mãi
Nay chống ô chờ đất nở hoa

Ngày song thất 1963 (7-7-63), Nhất Linh tự hủy mình, như Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để phản đối nhà Ngô kết án ông là phản loạn, Việt Nam đã khóc nhà văn cách mạng qua hai câu đối chữ Hán:

- Sổ thập niên bút mặc thành danh, nhất khả đoạn nhị khả tuyệt, nhi tam bất hủ
- Song thất dạ vân tiêu lạc phượng, tiên Phong hóa hậu Văn hóa, ư trung lập ngôn

Tạm dịch:

Mấy chục năm bút mực lừng danh, một dễ đứt hai dễ mất, mà ba còn mãi
Đêm bảy bảy trời mưa rớt phượng, trước Phong hóa sau Văn hóa ngôn luận để đời

Ghi chú hai câu đối nhiều ý nghĩa này:

1/ một, hai = bút mực, ba = danh
2/ Nhất = Nhất Linh, Nhị = Nhị Linh (bút hiệu Khái Hưng), Tam = Tam Linh ( bút hiệu khác của Nhất Linh và Nguyễn Tường Tam (tên Nhất Linh).
3/ đoạn, tuyệt = cũng là tên ĐOẠN TUYỆT, một tác phẩm của Nhất Linh
4/ phượng = chỉ Nhất Linh, mà cũng là tên nhà xuất bản Phượng Giang, kế tiếp nhà xuất bản đời Nay, do Nhất Linh chủ trương.
5/ Phong hóa = tờ báo có trước Ngày Nay (thập niên 1930) của Nhất Linh.
6/ Văn hóa = tức tạp chí VĂN HÓA NGÀY NAY do Nhất Linh chủ trương, cùng với nhà xuất bản Phượng Giang, vào thập niên 1950.

Vốn sành chữ Hán, Vũ Hoàng Chương từng dịch bài LIÊU TRAI ĐỀ TỪ của Vương Ngư Dương ở sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ của Bồ Tùng Linh:

Cô vọng ngôn chi vọng thính chi
Đậu bằng qua giá vũ như ty
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái thính thu phần quỷ xướng thi

THƠ ĐỀ SÁCH LIÊU TRAI:

Nói bứa bừa đây nghe bứa bừa
Dây dưa giàn đậu phới tơ mưa
Chuyện đời chừng đã đầy ngao ngán
Thích lắng mồ thu quỷ đọc thơ

Cách dịch thơ của Vũ Hoàng Chương rất phóng túng, ít chịu gò bó theo nguyên tác, kể cả từng chữ, câu và luôn cả ý. Ngôn ngữ dịch của ông khá đặc biệt, kênh kiệu mà tân kỳ (bứa bừa, phới tơ mưa).

Với bài TAM THƯỚNG HẢI VÂN dưới đây, của Trần Bích San, ông đã đảo thứ tự trên dưới hầu hết số câu và dịch rất thoát, dùng chữ khéo, tuy có phần không sát lời thơ nguyên tác, và vẫn diễn rất đạt và mở rộng cái ý tưởng hàm súc của tác giả (nhất là những câu 3-4, 5-6).

Tam niên tam thướng Hải Vân đài
Nhất điểu thân khinh độc vãng hồi
Thảo thụ bán không đê nhật nguyệt
Kiền không trích nhãn tiểu trần ai
Văn vô sơn thủy vô kỳ khí
Nhân bất phong sương vị lão tài
Hưu đạo tần Quan chinh lộ hiểm
Mã đầu hoa tận đới yên khai

BA LẦN VƯỢT HẢI VÂN

Ba năm vượt ải đã ba lần
Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân
Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé
Lên cao nhật nguyệt tưởng đâu gần
Gió sương như búa tài thêm chuốt
Hồ bể làm nghiên bút mới thần
Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở
Cười ai kêu hiểm lối sang Tần

Vũ Hoàng Chương đã dịch:

Xưa hạc vàng bay ngút bóng người
Đây lầu Hoàng hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

Bài dịch này cùng vẫn theo lối dịch không đi sát nguyên tắc. Vũ Hoàng Chương không chịu phụ thuộc triệt để lời thơ của tác giả, chỉ tạo ngữ khí và ngữ cảnh riêng của mình để diễn dịch thơ của ngườị Có thể nói đây là một cách chuyển tác bài thơ này sang bài thơ khác với những ý chính được lưu giữ lại.

Thơ chữ hán của Vũ Hoàng Chương cũng rất điêu luyện. Mở đầu thi phẩm RỪNG PHONG ông có hai câu thơ:

Lãnh quế trầm hương thương hải nguyệt
Loạn bồng tâm đới bạch vân thu

và ông tự dịch:
Quế lạnh hương chìm trong bể biếc
Cỏ bồng mây trắng rối lòng thu

Vẫn lối dịch phóng khoáng, đảo lộn trật tự trong câu nguyên tác để diễn ý thợ Có thể hiểu câu thơ trên:
Trăng biển xanh lặng quế chìm hương
Mây thu trắng rối bồng trĩu dạ

Năm Ất Mão (1975) vào đêm trừ tịch, Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ chữ Hán KHAI XUÂN THẠCH KHÚC với nhiều điển tích khó hiểu:

Tường vân mãn tọa tọa bôi minh
Hy chúc xuân khai dạ bán quỳnh
Đông liễu Tây đào song tận mỹ
Tần tang Yên thảo nhất hồi thanh
Tần giao cố quốc hoài kim phấn
Tự hữu cuồng ngôn xuất thạch bình
Đồi ngoạ dữ sa trường tuý ngoạ
Cổ lai thuỳ giả chiếm cao danh

Dịch: KHÚC THẦM ĐẦU XUÂN
Mây vờn quanh chỗ chén lung linh
Vui chúc đầu xuân mọi tốt lành
Tây liễu Đông đào đôi vẻ đẹp
Tần dâu Yên cỏ một màu xanh
Phấn hương nước cũ dù mang dạ
Vách đá lời ngông đã vọng tình
Nát rượu cùng say lăn chiến địa
Xưa nay ai đã vượt hơn danh?
(Thiên Nhất Phương dịch)

Bài này bộc lộ ít nhiều tâm sự của tác giả giữa buổi giao thời năm 1975. Hai câu cuối tác giả vẫn tự cho mình là một kẻ "đồi ngoạ" (đồi nhiên tuý ngoạ = say quá nằm liều) tức là một văn nhân bất đắc dĩ.

o0o
Nhắc đến Vũ Hoàng Chương, người mà Nhất Linh đã phong thì "thi vương" và một nhà văn sau này (Nguyễn mạnh Trinh) gọi là "ngôi sao Bắc đẩu" trên thi đàn Việt Nam.

Thực vậy, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ tài hoa, phóng dật cả trong lối sống và trong sáng tác thi cạ Hơn nữa, ông còn là một kẻ sĩ, "uy vũ bất năng khuất", để rồi phải nhận lãnh cái chết sau một thời gian bị giam giữ trong tù.

Hồi trước, vào năm 1963, Vũ Hoàng Chương đã tôn vinh Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (với câu đối dẫn trên), thì sau này ông cũng bất hủ với sự nghiệp "lập ngôn" của ông.

Trích:http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=17822



TẠ TỴ * VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Tạ Tỵ
Mười khuôn mặt văn nghệ

Vũ Hoàng Chương

Nội dung thủ bút:

Ta đợi em
từ ba mươi năm
Cổng hoa
phong nhuỵ
hoài
trăng rằm

Vũ Hoàng Chương
1970


Vũ Hoàng Chương: Làm thơ. Sinh ngày: 5-5-1916 tại Nam Định (Bắc Việt, theo giấy khai sinh). Năm sinh đúng: 1915, năm Ất Mão, tháng 4, mồng Một. Chánh quán: Làng Phù Ủng, tỉnh Hưng Yên (Bắc Việt)

Tác phẩm: Thơ say 1940, Vân Muội (kịch thơ) 1942, Mây (thơ) 1943, Vân Muội, Trương Chi, Hồng Điệp (kịch thơ) 1944, Thơ lửa (cùng với Đoàn Văn Cừ - Liên khúc 3),Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ) 1951, Rừng phong (thơ) 1954, Hoa đăng (thơ) 1959, Tâm tình người đẹp (thơ Nhị thập bát tú) 1961, Trời một phương (thơ), Thi tuyển (Poèmes choisis) tựa của Simone Kuhnen de la Coeuillerie 1963, Lửa từ bi (thơ) 1963, Ánh trăng đạo (thơ) 1966, Bút nở hoa đàm (thơ) 1967, Cành mai trắng mộng (thơ) 1968, Nouveaux Poèmes (Tân Thi) 1970, Ta đợi em từ ba mươi năm (thơ) 1970, Loạn trung bút (tạp văn) 1970




Vũ Hoàng Chương
Tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc

“Ôi, Lý Bạch, Trang Chu đường chim nẻo Nguyệt
Đời hoạ còn ta là theo vết người xưa…”
(Vũ Hoàng Chương)

Nói đến Vũ Hoàng Chương là nói đến dòng thời gian xa thẳm trước tầm mắt, là nhắc nhở đến vùng bao la như lớp khí quyển vây quanh trái đất tạo nên ứ đọng với từng ngón hoài nghi, với niềm dằn vặt khôn nguôi giữa sự bứt rời và níu kéo trong một thể xác nửa mệt lả vì yêu thương, nửa giận hờn nỗi thất bại của tâm linh trước sự chia lìa của Thơ với Thực tại.

Sinh ra đời dưới một ngôi sao tốt, từ nhỏ, Vũ được bọc đùm trong nhung lụa, được dạy dỗ ở cả hai phía, Tây học và Hán học. Vũ đã hấp thụ văn học Tây phương đồng thời do sự giáo huấn của bà mẹ, Vũ cũng say mê Đông phương và sớm suy tư triết thuyết Lão, Trang với cổ thư Trung Quốc.

Sự ám ảnh của thời đại hoàng kim chìm khuất với vóc dáng chàng Tư Mã áo xanh trên bờ sông Dương Tử, hay khuôn mặt nàng ca kỹ bén Tầm Dương “tay ôm đàn che nửa mặt hoa”… đã làm phai mờ tất cả kích thước các nhà thơ lớn Tây phương: Hugo, Lamartine, Musset, Baudelaire, Verlaine, Rimbaud đang chiếu sáng trên vòm trời thi ca Việt Nam khoảng 1935-43 với từng người thơ chịu ảnh hưởng sâu đậm kỹ thuật, nhất là tư tưởng vay mượn của nền thi ca miền tóc vàng, tuyết trắng.

Vũ là tượng hình đứng cô liêu trong vòm trời quá khứ. Ánh sáng của ngọn hải đăng le lói giữa đêm khuya mịt mùng sóng vỗ, Vũ lắng nghe hồn mình trải rộng trên mỗi con nước đại dương và thầm ước sẽ tìm được trong sự luân lưu đó, chút hơi thở của người xưa vọng đến. Nhưng ánh sáng của ngọn hải đăng vẫn le lói hằng đêm và đại dương cứ luân lưu theo chu kỳ miên viễn, hơi thở của quá khứ trôi đi biền biệt không để lại vết tích gì trong vũ trụ bao la, có chăng chỉ còn lại niềm tưởng vọng giữa sự-sống-hôm-nay gửi về cõi-chết-hôm-qua bằng môi trường suy cảm. Vũ đã suy cảm và lựa chọn khổ đau, với đam mê huỷ diệt. Vũ khước từ cái công danh phú quý mà đời đã trao tặng sau những năm đèn sách, để tự dấn thân vào thế giới thi ca, tức là mang lấy nghiệp. Sự “đầu thai lầm thế kỷ” mà Vũ đã viết ra, hét to lên trong cơn mê loạn của thể xác, trong nỗi vò xé của tâm linh trước cuộc sống nghẽn lối, trước cơn bi phẫn của con chim bị trúng tên rã cánh, nhìn trời cao mà không vút lên được, nhìn trái ngọt mà không vừa an hưởng, nhìn thân phận trôi đi, trôi đi như ảo ảnh để nuối tiếc giấc mơ thành bướm thuở nào.

Thế đó, dòng sông với ngần ấy tê liệt, ngần ấy giận hờn trong một xã hội đốn mạt, trong một quốc gia nô vong, Vũ cảm thấy mình đã nhiễm độc và để giải độc, Vũ tìm quên trong chiều sâu của ảo giá, của men khói. Ở đó, Vũ đón nhận về phần mình tất cả đau thương, qua từng sợi khói lung linh, qua lời hò hẹn chênh vênh, qua tình yêu gục mặt, qua niềm tin đổ vỡ để thoát vào cảm thông với hơi thở mỏi mòn. Vũ tiếp thu những giá trị bi thương ấy, những nghẹn ngào câm tiếng ấy bằng niềm sảng khoái vỡ bờ. Vũ từ bỏ thực tại như từ bỏ chính bản thân. Vũ lững thững đi vào xứ Mộng. Trong cõi mông lung của tiềm thức, từng hình ảnh xa lìa, khắc khoải bám riết lấy suy tư, xiết chặt thân phận Vũ vào chiếc nôi bằng tơ có móc đầy gai nhọn. Sự lìa bỏ bản thân, lìa bỏ thực tại phải được coi như những chứng tích, mỗi ngày mỗi nối hằn như vết roi định mệnh.

Hành trình vào thế giới thi ca của Vũ, người ta không thể không xuyên qua bản chất thực thể của Vũ với tấm lòng rộng mở, với ý hướng chói loà chiếu rọi vào mỗi dòng, mỗi chữ để cùng đau, niềm đau tâm sự! Vũ, mẫu người thơ đặc biệt, không giống với bất cứ thi nhân nào đã và đang có mặt. Vũ làm thơ để cất lên lời chào, tiếng khóc. Vũ làm thơ để trối trăng ý tình, để tiếp nối hơi thở gửi từ kiếp trước. Cái đau, Vũ khóc ngất trong thơ không phải cái đau của Huy Cận với “Chàng là con một người mẹ hay sầu. Nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ”. Không, không, cái đau của Vũ cao rộng và siêu thoát. Nó có đấy, nhưng nó cũng vô vàn xa vời như chiếc bóng hồ ly, như tiếng nhạc lênh đênh dội từ cung Hằng thăm thẳm. Phong độ trong thơ Vũ là phong độ của cánh chim hồng hộc bay suốt vạn dặm dài, qua bao nhiêu không gian ước định. Thơ Vũ hiện diện như loài hoa quý, ngạo nghễ rung rung từng cánh mỏng cho phấn hương tan vào thinh không gửi đến mọi phương trời, mọi góc cạnh tâm tư đang chới với trong mê muội, trong dục vọng thấp hèn giữa cuộc sống buông trôi.

Hành trình vào thơ Vũ, mỗi con người tự cảm thấy lâng lâng như lạc vào giấc mơ kỳ thú. Thời gian, không gian xáo trộn, quỷ với người là tình nhân, gỗ đá cũng mặc áo linh hồn. Nhưng muốn hiểu thơ Vũ đến cùng, người ta phải tìm hiểu cả cái dòng sống phức tạp xuyên qua từng khía cạnh ngọt ngào và cay đắng, đã làm Vũ chết điếng sầu đau, tê rời cảm xúc.


Tình yêu và đam mê

Đi vào tình yêu là đi vào nguồn vui đau khổ. Từ khung trời hy vọng đổ sang vùng địa ngục tối tăm. Từ ánh mắt sáng ngời do lửa yêu đương thắp sáng đến nấm mộ u uất dựng lên giữa cõi sống như một sỉ nhục. Khuôn mặt người đàn bà mang tên Kiều Thu mà Vũ đã ôm ấp mười năm, mười năm nhen nhúm với ước vọng, với chờ đợi não nề, với dặm dài mệt mỏi. Kiều Thu, Kiều Thu hỡi! Người đàn bà may mắn đã được Vũ khóc trong thơ, đã được Vũ vuốt ve với vần điệu gấm nhung, đã được Vũ tôn lên ngai thờ Nữ Sắc, nàng có biết chăng, dung nhan đó đã trở thành bất tử. Người đàn bà ấy giờ đây đang có mặt ở phương nào, đang ẩn mình trong góc cạnh nào của cuộc sống, sung sướng hay khổ đau, đã già hay còn trẻ, hãy ngẩng mặt lên đón nhận nơi đây lời chúc tụng.

Tình yêu mà Vũ đã gửi tặng lầm nơi không phải thứ tình yêu qua nhanh như gió thổi, như lằn chớp ngang trời. Nó day dứt sượng sùng. Nó tái tê cuồng dại đến nỗi Vũ phải kêu la:

“Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại mấy tờ thư!”

Biết rằng thất bại và biết được giá trị khổ đau, Vũ muốn tìm quên bằng cách đắm chìm thân phận vào trời say, nhưng không được:

“Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm thế nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc?
Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá, lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ…”.
(Lá thư ngày trước, Mây)

Như thế đó, tình yêu đối với Vũ là hình phạt nặng nề hơn ân thưởng. Những khuôn mặt đàn bà đi qua đời Vũ, được Vũ nhắc đến trong tác phẩm, đều chập chờn như những bóng ma. Cô gái tóc vàng đến từ miền tuyết trắng hay ả ca kỹ nổi danh phòng Dạ-lạc cũng chỉ là hư ảnh. Vết thương tình ái làm Vũ nhức nhối đến bây giờ, trong buổi xế chiều của cuộc đời, vẫn là Kiều Thu. Nó là ung thư đục khoét ở chiều sâu cơ thể. Nó làm cho con người chết mỏi mòn vì ám ảnh, sầu đau. Vũ mang vết thương đó đi lang thang trên mọi nẻo đường đời như mang một số kiếp phụ thuộc.

“Trăng của nhà ai Trăng một phương
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường
Ở đêm tháng sáu mười hai nhỉ
Tố của Hoàng ơi hỡi nhớ thương…”

Ngày 12 tháng 6 là ngày người yêu sang ngang. Sự dứt bỏ này làm tổn thương đến danh dự người trai ngoài hai mươi tuổi. Nhưng nàng bỏ ta không phải là hết. Ta vẫn mê nàng. Ta là gã si tình ngàn kiếp:

“Tháng sáu mười hai từ đây nhé
Chung đôi từ đấy nhé lìa đôi
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa Tố của tôi…”

Rồi Vũ thét ngất:

“Kiều Thu hề Tố em ơi
Ta đương lửa đốt tơi bời mái Tây
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hò Xừ Xang Xế bàn tay điên cuồng
Kiều Thu hề trọn kiếp thương
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên…”
(Mười hai tháng sáu, Mây)

Niềm bi thảm của tình yêu cứ kéo lê trong tâm linh Vũ như vết hằn khổ nhục. Khuôn mặt và vóc dáng người đàn bà đó đã gây nên ấn tượng khốc liệt làm Vũ choáng váng đến run sợ. Chính vì không đủ can đảm, Vũ chạy trốn thất vọng đi tìm đam mê để giết nỗi buồn dằng dặc. Vũ dìm đời mình vào dòng sông Mê khoái cảm. Vần điệu trong thơ Vũ ngất ngư như ủ say men khói, lãng đãng lạc vào cõi u huyền mộng mị.

Thi phẩm Mây chào đời năm 1943 là thi phẩm sáng chói nhất của Vũ, vì ở giai đoạn này, Vũ đã sống trọn vẹn với hơi thở thi ca, với quê Nâu lửa đóm bằng máu và hồn. Vũ thiêu dần thân xác chẳng những với ngọn dạ đăng chập chờn hoa bấc mà còn đắm say tiếng cầm ca, sênh phách rộn ràng trong từng đêm dài cửa Ô đau khổ. Vũ muốn xé tan thân phận mình và tiêu huỷ cái số kiếp bi đát để tìm về giải thoát, sự giải thoát nào đó có mầu nhiệm hay không, Vũ chẳng cần biết. Vũ nhìn chòng chọc vào cõi Hư Vô mong soi tỏ bản chất mình qua đốm lửa lung linh mờ ảo.

Ngày rồi đêm, khúc vui, cung buồn cứ đuổi theo nhau chạy luồn trong huyết quản Vũ để biến Vũ thành một tù nhân của đam mê vọng tưởng. Niềm thương nhớ chắc chẳng bao giờ nguôi, từng nỗi khắc khoải, phân vân hiện hình trong thơ Vũ như chứng minh sự buông thả lênh đênh của một tâm hồn đã quá no đầy oan nghiệt:

“Phơi phới linh hồn lỏng khóa then
Say nghe giọt nhựa khóc bên đèn
Mê ly cả một trời Đông Á
Sực tỉnh trong lòng nấm mộ đen…”.
(Hơi tàn Đông Á, Mây)


Ảnh hưởng và đối thoại

Tâm hồn Vũ là những sợi dây tơ được căng thẳng trên vòm trời ảo mộng. Một hơi gió, một chớp mắt, một va chạm cỏn con cũng đủ làm cho đường dây rung lên nức nở. Vũ treo cuộc sống của mình trên những sợi dây mong manh đó và để mặc cho âm hưởng reo vang tự đáy lòng cô độc. Vũ không nhìn vào cuộc đời có đây để tìm vị trí thực thể của mình. Vũ xoay mặt đối diện với quá khứ, đối diện với những ước mơ tự ngàn xưa xa vút. Sự đối diện này tạo cho Vũ niềm tin tưởng vì Vũ cho rằng đã tìm thấy ở vóc dáng dĩ vãng, cái-qua-rồi, hình ảnh bản thân hiện rõ trong lăng kính tâm tư. Vũ vẽ lại tiền thân bằng vần điệu. Cả một vòm trời nặng trĩu mây mù, Vũ dùng tâm linh chiếu sáng để nối lại đường dây giao cảm, để khoả lấp sai biệt của khoảng cách vô cùng rộng lớn. Vũ mơ giấc mơ thành bướm của Trang Chu và dõi theo từng bước chân khoảng khoát của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị. Vũ say mê bờ liễu Hàng Châu lả lướt, hoặc sóng nước xanh rờn vỗ bên Tầm Dương, hoặc nét nguy nga, cao trọng của lầu Hoàng Hạc ngàn năm sững bóng. Vũ chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền thi ca Trung Quốc thuở thịnh Đường và mê triết thuyết Vô Vi của Lão Tử. Cái “Có” cái “Không” phải chăng là mầu nhiệm? Đêm đêm Vũ thường đốt đèn lên trang sách hỏi người xưa về Ý Thức Huyền Vi để mong tìm ra lối thoát cho bản ngã, tài năng:

“Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ Hư Không lại trở về Không Hư
Lẽ nào mộng cả thôi ư?
Người ơi! Giọt bể chứa dư tang điền…”
(Bài ca siêu thoát, Rừng phong)

Không tin vào giá trị của cuộc sống, Vũ nghiêng về hoài cảm. Từ hoài cảm tiến tới hờn giận sự hiện diện của thực tại nhức nhối, nhơ bẩn. Vũ vượt lên, thoát mình vào ảo giác, trộn lẫn cái “Còn”, cái “Mất”, cái “Có”, cái “Không” để đi vào quan niệm bi thương, giận dỗi. Vũ vẫy vùng trong mớ hư ảnh, kêu gọi từng hình thể xa vời trở về đối thoại.

Vũ cho rằng, cuộc đời hiện hữu không phải là chỗ đứng của mình nên thay vì đối thoại với người sống, Vũ trò chuyện với những vóc dáng mơ hồ chạy lởn vởn trong tiềm thức, hay ẩn hiện sau mỗi cơn say dài men khói. Từng chấm sáng lân tinh xoay quanh đốm lửa hắt hiu toả hương mê hoặc. Vũ gọi về tâm sự! Vũ dìu nhẹ thời gian trở ngược vòng vận chuyển. Vũ mơ về thời đại hoàng kim xênh xang nhạc ngựa, gỗ, đá giao duyên. Vũ đối thoại với linh hồn, ma quỷ bằng lời thơ tiếc nuối:

“Khí thiêng chừng sớm lìa nhân thế
Dương thịnh rồi chăng Âm đã suy
Quạnh quẽ thu phân thơ bặt tiếng
Lầu hoang chìm dấu cỏ hồ ly

Còn đâu thuở ấy niềm khăng khít
Quỷ với người chung một mái nhà
Trăng bạn, hoa em trầm mối lái
Đèn khuya dìu dặt bóng yêu ma…”
(Cảm thông, Mây)

Ma quỷ, Hồ ly đối với Vũ như những người bạn chí thiết. Vũ trao đổi tâm sự với chúng như trò chuyện với các danh nhân, cao sĩ. Vũ mặc áo linh hồn cho gỗ, đá, cỏ, cây.

“Ai đó – Phải chăng hồn cỏ cây
Bấc thơm dầu quánh nhựa hây hây
Dầu vơi bấc mỏng manh gây
Bước chân vào bợ ngợ
Hoa đèn lung lay…”
(Nửa truyện Hồ ly, Mây)

Nhưng niềm cảm khái của Vũ không nhất thiết phải đứng nguyên ở vị trí tiếc thương quá khứ với giấc mộng đẹp qua đi không bao giờ trở lại, đôi khi, nó vùng lên hào khí. Sự vùng lên để chứng tỏ một thái độ và cũng để tìm không khí mới cho cuộc đối thoại, vì đối thoại không hẳn là phải chung thuỷ với một lập luận, chính thực để hiểu thêm những điểm khác biệt với chính mình. Từ truyện người tráng sĩ Kinh Kha với đường gươm lỡ dở không thành việc lớn, với tiếng sáo u buồn của Cao Tiệm Ly tiếc thương người bạn đời, đến vị anh hùng ái vải đất Quy Nhơn đã làm đẹp lòng Vũ bằng vần điệu gieo vàng, chuốt ngọc.

“Hãy dừng lại thời gian
Trả lời ta! Có phải,
Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng triều đại…
Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Quy Nhơn…”
(Bài ca Bình Bắc, Hoa Đăng)

Đó, tâm hồn Vũ rung lên từng cung bậc uyển chuyển, nhịp nhàng. Tình yêu, hồi tưởng, đam mê, đau khổ, hờn giận đã bủa vây dòng sông nội tâm Vũ, biến Vũ thành một biểu tượng đặc biệt trong thế giới thi ca hiện đại.


Niềm cô đơn và dung nhan

Mỗi con người là một hoang đảo, nếu không có sự liên hệ do cuộc sống tạo nên để ràng buộc nhau trở thành xã hội, quốc gia hay nhân loại. Từ thuở sơ sinh, thanh âm thứ nhất chào đời là tiếng khóc chứ không phải nụ cười. Cái vòng sinh, lão, bệnh, tử như mỗi dây oan nghiệt thắt chặt mỗi cá nhân vào nghiệp chướng không để ai thoát khỏi. Vũ vào đời với từng bước nhỏ nhẹ, với thân phận tiền oan. Màu áo xanh Tư Mã, Vũ khoác lên vai mỏng manh như một biểu hiệu cố định, đồng thời Vũ cũng mang luôn niềm cô đơn giữa đời sống – một đời sống nô vong – đang đuổi theo sự an hưởng vật chất trước mặt, hay gục đầu trong vũng lầy hoàn cảnh. Vũ ngẩn ngơ giữa cõi đời với túi hành trang chất đầy hoài vọng lẫn bi thương. Vũ hoài vọng đến một khung trời bỏ ngỏ có bướm vàng, lá thắm tình tự suốt bốn mùa giao hưởng, ở đây, con người được tự do trút bỏ mọi câu thúc hình hài, nhởn nhơ giữa muốn tiếng đàn ca, với thiên tiên vui múa Nghê Thường. Vũ có thể tâm sự trực tiếp với “gỗ danh sĩ”, “đá thuyền quyên” như thuở nào trái đất mới hình thành mầm sống. Nhưng Vũ đã sinh ra giữa thời đại cơ khí, giữa hoàn cảnh phức tạp của xã hội Việt Nam nô lệ, nên hoài vọng và niềm bi thương ấy bị dồn nén vào trong để kết tụ thành khối đau buồn dằng dặc. Vũ nhìn lên vòm cao rồi cúi mặt xuống đất. Vũ không tìm thấy lối thoát ngoài thi ca. Vũ cô đơn. Mọi cánh cửa đều khép chặt trước mặt. Ba chiều không gian đã đóng kín, Vũ đành đốt tâm tư để mở một chiều riêng cho mình. Ấy đó, niềm cô đơn mà Vũ đã mang trọn kiếp người bật khóc trong thơ:

“Ai biết gì đâu một cuộc đời
Nhớ thương hờn hận chẳng hề nguôi
Chẳng thương xuân sớm phai màu tóc
Chẳng nhớ mình đang sống kiếp người
Chẳng đắp non cao hờn chót vót
Chẳng thương mà biến hận đầy vơi
Hỏi chi sự nghiệp cùng thân thế
Sông núi – kìa xem – đã lở bồi…”
(Giấc mơ tái tạo, Trời một phương)

Từ hờn, hận Vũ đi vào bi phẫn:

“Ai đó mách giùm ta với
Quần gót thế nhân như đàn quạ kia chăng
Hay như mây cao đơn chiếc cánh chim bằng
Ấp úng cân đai hề trôi giam tài năng
Vỡ mộng buông câu hề kho trời gió trăng…”
(Tuý hậu cuồng ngâm, Mây)

Chính vì cô đơn quá đỗi nên Vũ bi quan, muốn rẫy bỏ nguồn sống đi tìm dung nhan cõi chết. Vũ phác hoạ cõi chết như một đổ vỡ toàn diện. Con người, sự vật mất hẳn. Ý thức về cõi chết là ý thức thực tế: mỗi người đều muốn có được cái chết yên lành cho riêng mình. Vũ không nghĩ thế. Vũ hình dung cõi chết như huỷ diệt, một tai nạn hãi hùng khủng khiếp với phi thuyền gãy lái, với trận lụt Hồng Thuỷ do cơn mưa đổ tự trời cao không bao giờ tạnh, hoặc cái chết do chính tim óc mình đòi ly khai với thể xác. Cõi chết mà Vũ tin rằng không ai được cứu rỗi dù Ma Vương hay Phật Như Lai, dù quỷ Sa-tăng hay Chúa Trời! Các vị thần linh đều bất lực vì cái chết này do chính con người tạo ra, con người phải chấp nhận hậu quả. Nói đến cái chết là nói đến niềm hoài nghi cuộc sống. Vũ nói về nó cũng tha thiết, cũng chìm đắm như nói chuyện yêu thương. Một đôi khi sự giả tưởng đưa suy nghĩ đi quá trớn, phóng đại ý nghĩa thực tế, mặc dầu trong thực tế có đôi lúc ngẫu hợp, nhưng nó không mang giá trị tuyệt đối. Nó cần thời gian và chứng nghiệm.

Vậy cõi chết Vũ hình dung thấy, phác hoạ ra, chỉ là ảo tưởng, nếu vạn nhất có thật, chắc chắn không phải là cõi chết con người thèm khát hay tình nguyện. Có chăng, nó chỉ liên hệ đến một mình Vũ với ưu tư thầm kín:

“Cả trái tim tôi
Cũng đòi biệt thế
Nó quyết đi tìm Thượng Đế
Trên con đường không giới hạn bằng tiếng khóc trong nôi
Và điếu văn trước mồ
Nó hy vọng sẽ đích thân làm nhạc trưởng
Đánh nhịp tưng bừng cho nước lửa hoà âm trắng đen hợp xướng
Cho bản đồng ca ảo tưởng
Hiện hữu vang lừng sân khấu Hư Vô…”
(Thản nhiên, Trời một phương)

Và cơn mưa không bao giờ tạnh:

“Còn mưa rồi sẽ đến vô cùng
Khối nước đè lên bẹp Thuỷ cung
Ngũ đại dương thành tên gọi hão
Năm châu vùi xuống đáy mồ chung”.
(Kiềm toả, Trời một phương)


Sự bừng tỉnh và ý thức khổ đau

Sau mấy chục năm đằng đẵng, Vũ ngụp lặn trong hoài vọng và ước mơ thảng thốt mong tìm siêu thoát. Hình ảnh quá khứ trôi lều bều với dư âm buồn thương lãng đãng ở cuối trời mộng tưởng. Vũ khóc đã khô cong nguồn lệ. Vũ ôm bên lòng một mối hận cùng tháng năm cách trở. Màu áo xanh năm trước đã tàn phai ý mùa Tư Mã. Bến Tầm Dương nào đó, lênh đênh dăm bảy con thuyền nát, vài nàng ca kỹ già của Bồ Tùng Linh thôi về dưới mái Liêu-Trai. Cảm thông ngàn xưa vướng mắc, Vũ bừng tỉnh và nhận thức cuộc sống với giá trị thực thể của nó đi theo nhịp tiến hóa. Vũ không phải sống, phải ăn, phải thở, phải chịu nhiều phiền muộn về vật chất như mọi người. Vũ đau đớn tháo gỡ từng mảnh xiêm tàn vấn vương tâm tưởng. Vũ nhìn thẳng vào cuộc sống ở mỗi góc cạnh suy tư. Vũ chấp nhận thực tại tức là Vũ đã nhìn rõ vị trí kiếp người. Do đấy, lời và ý trong thơ Vũ đã chuyển hướng. Nó trình bày những hình ảnh mới với thể thơ Nhị thập bát tú.

“Cánh tay đô thị vươn dài
Báo hoa cọp gấm tàn phai mộng rừng
Một thời hương sắc trên lưng
Đổ theo dòng suối rưng rưng bóng tà”
(Rừng hết mùa thiêng, Nhị thập bát tú, Tập 2)

Hoặc:

“Dấu mũ trên chữ A
Là chim bay lộn ngược
Trên nền giấy trắng bao la
Trùng dương dịu dàng in lấy bóng
Chim bay dìu mây bay…
....................
Hoả sơn cười sặc sụa
Rung chuyển vòng đai biển Thái Bình
Một lần nữa uốn cong lưỡi lửa
Ngùn ngụt thi nhau tập đánh vần
Một phụ âm và hai nguyên âm…”
(Khai sinh, Trời một phương)

Vần và ý thơ rất mới chẳng những đối với Vũ mà còn làm bỡ ngỡ người quen đọc Vũ với hàng thơ đẹp, reo vang như tiếng vó ngựa đập lưng đèo. Nhưng không phải cứ đổi mới, cứ thoát xác là xong nhiệm vụ, là tước bỏ được mặc cảm. Vũ càng đi sâu vào cái mới bao nhiêu thì niềm khổ đau lại dâng lên bấy nhiêu. Ý thức khổ đau không buông tha con người đã quá chiều ước vọng. Trong cõi mông lung của Vô Cùng, Vũ lại mập mờ nhìn thấy hình ảnh mình thất thểu trên tấm màn vân cẩu. Thời gian cứ trôi bình thản theo nhịp chuyển dịch của Vũ Trụ. Con người cứ mòn mỏi theo tháng năm vô nghĩa. Sự góp mặt tạm bợ này Vũ đã biết, đã suy luận về nó rất nhiều. Bởi vậy, Vũ vẫn coi nguồn khổ não như ân sủng thiêng liêng và giá trị cõi sống không sao thoát được vùng kiềm tở của bẩy dây tình oan nghiệt. Vũ đối diện với lửa bấc hằng đêm để soi tỏ bản thân trước số phận con người lê thê bào ảnh. Vũ uống từng giọt mật đắng chảy qua tâm trí, ngấm vào huyết quản làm khô dần ý sống. Vũ giận dỗi, vùng lên nắm chặt lấy khổ đau mà nguyền rủa. Nhưng tiếng thơ oán hờn vẫn vang lên nhịp điệu thê thiết ngàn kiếp không phai:

“Đo màu mây sớm nét mưa chiều
Đo cả hơi đàn cả tiếng tiêu
Con số ra tay đè nén mãi
Con người phận mỏng đến bao nhiêu”.
(Phương trình số phận, Nhị thập bát tú, Tập 2)

Con người phận mỏng lắm nếu đem so với phương trình vũ trụ. Con người chỉ là “hạt cát bên sông Hằng”, cái chớp mắt, cái vi-ti-sinh-vật đối với thế giới bên ngoài. Khoa học đã chứng nghiệm sự thực bằng phát minh, bằng con số bắt mọi người chấp nhận. Vũ tức giận sự lũng đoạn của khoa học trong địa hạt tâm linh, chính vì vậy, Vũ phải mang ý thức khổ đau, có lẽ, tới khi vắng mặt!


Tiếng thở dài và ý niệm giải thoát

“Từ khi trái đất ra đi
Lệ chia phôi đã xanh rì trùng dương…”

Thơ Vũ là tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc. Tiếng thở dài đó cất lên giữa vòm trời rất đỗi buồn thương, ray rứt trong mỗi vần điệu. Sau những cố gắng đi tìm cho chính mình luồng sinh khí mới, nếp suy cảm mới, rốt cuộc, tiếng nói của Vũ vẫn nguyên vẹn là niềm u uất, mệt mỏi, chán chường! Vũ muốn dìm chết dĩ vãng trong Trời-Quên-Lửa-Khói, nhưng sau mỗi cơn say tự dưới đáy vực, Vũ cảm thấy tâm hồn mình càng lún sâu xuống Địa-Ngục-Quá-Khứ. Nó quật ngã Vũ lúc nào nó muốn. Nó là định mệnh. Nó bám riết lấy Vũ với dằn vặt trường miên, với hờn thương vô độ. Nó nhập vào thơ Vũ. Nó chứng minh sự phai tàn của một thế hệ. Nó ghi dấu thời gian như vết xe lướt qua mặt đường lầy lội. Thật vô ích và xiết bao đau đớn, đêm đêm nhìn nhớ thương toả dài theo lửa khói ròi chìm lắng vào Hư-Vô câm tiếng.

Thơ Vũ là cơn đau đứt nối với số phận riêng lẻ. Thơ Vũ không chuyên chở những món hàng hợp thời trang cùng chân dung thê thảm của chiến tranh có đây, hoặc tỏ bày thái độ trước cuộc đời hôm nay. Thơ Vũ đơn côi giữa nguồn sống đang dâng trùng trùng lớp lớp. Chính vì thế thơ Vũ tồn tại.

Niềm chia ly cách trở do núi sông, nhân thế cộng với tháng năm tủi nhục, Vũ đi tìm vùng an nghỉ cho tâm linh. Vũ muốn được giải thoát bằng ý niệm siêu hình, bằng cách phóng hồn vào hư-không-tuyệt-đối. Vũ đi tìm Đạo. Vũ muốn dứt bở cái xác phàm hệ luỵ bởi cơm áo, yêu thương, hờn giận này đi. Cõi sống làm Vũ chán ngán. Vũ đã uống nó đau khổ, hút say phiền muộn! Cuộc đời nào đó có gì cho ta mong đợi?

“Bụi đỏ phai màu nhân sự
Trang đạo lý thơm tho từng nét chữ
Mười ngón tay dan díu cõi Vô hình
Xác tục lâng lâng chờ cơn gió hiển linh
Ai xưa quên ngày tháng hát vong tình
Kìa phương Nam, hoa nở ngát lời kinh
Dằng dặc trầm luân mấy độ
Thuyền ta trôi hề ý ta bay
Sương in bóng nguyệt không mà có
Hay có mà không nhỉ gã say?”…
(Bài ca siêu thoát, Rừng phong)

Ngọn lửa Từ Bi cháy ngùn ngụt giữa đường nhân thế làm sáng ngời cửa Phật, soi đường cho Vũ tìm thấy chân lý cuộc đời. Vũ dâng hiến linh hồn mình cho đấng Thích Ca, cho cõi Vô-Cùng-Siêu-Thoát. Từ lâu, Vũ nghe được tiếng cá thở than, hôm nay, Vũ đã sõi tiếng rừng cây, Vũ chỉ chờ ngày hiểu được bề sâu của lòng đất là thoả nguyện ước mơ cuối đường.

“Nghe được từ lâu cá thở than
Hôm nay mới sõi tiếng cây ngàn
Bao giờ tôi hiểu sâu lòng đất
Là thấy đường lên cõi Niết Bàn”.
(Nhị thập bát tú, Tập 2)

Là đây, niềm hoài vọng của con người Thơ qua bao nhiêu hệ luỵ giờ đây còn lại người gì? Cuộc đời có, không, không, có, nào ai biết được, hay cũng chỉ như:

“Ca trùng lửa đóm
Cũng hoàn phản hư không dù lăng ngà cỏ khâu…”
(Tụng kinh kha)

*


Cách đây 27 năm, vào buổi tối đầu thu, thành phố Hà Nội vừa lên đèn. Gió từ bờ Hồng Hà thổi nghe thấm lạnh. Những chiếc lá đầu mùa đã thả xuống lề đường làm duyên cho thành phố. Nguyễn Đức Nùng, người bạn cùng trường đưa tôi đến gặp Vũ Hoàng Chương tại một căn nhà cổ, sau đến Bà Kiệu. Đến nơi tôi gặp thêm Đinh Hùng, Lê Trọng Quỹ cùng vài ba bạn khác. Căn nhà thấp, rất thấp, tối om om. Đó đây từng ngọn dạ đăng cháy lập lờ không soi tỏ mỗi khuôn mặt. Tôi được giới thiệu với Vũ và các bạn. Hình ảnh đầu tiên ghi nhận ở Vũ, đến hôm nay còn in rõ trong tôi như vết tích không phai với thời gian, đó là một thanh niên mảnh mai chìm khuất dưới bộ bà ba trắng đã ngả màu, nằm nghiêng bên ngọn dạ đăng ma quái. Vũ đưa mắt nhìn tôi mà tôi tưởng như Vũ nhìn vào khoảng trống. Đôi mắt ấy toát ra ánh sáng kỳ lạ. Nó lóe lên giống tia chớp rồi vụt tắt giữa màu mây nặng trĩu hơi mưa. Vũ nằm bất động như thiếp vào cơn mơ bỏ dở. Hương nha phiến chập chờn quyến rũ. Lát sau nghe chừng đã hả cơn say, Vũ mời tôi vào thăm quê Nâu. Tôi từ chối. Vũ nhếch môi cười – “Toa” không chịu vui với anh em thì đến đây làm gì? Tôi định trả lời, tôi đến vì mê thơ chứ không vì mê khói. Nhưng Nùng đã vội nói – “Moa” biết, nó chỉ thích thể thao và con gái thôi. Mặc nó! Tôi bẽn lẽn ngồi như cậu bé bị kể tội. Lê Trọng Quỹ nằm gần đây, cất tiếng ngâm thơ. Giọng ngâm của Quỹ sang sảng, ấm lạ thường. Tiếng thơ dìu theo khói thuốc gây cho tôi ấn tượng là lạ vì chưa một lần được biết. Quỹ ngâm bài “Mười hai tháng sáu” trong tập Mây của Vũ, do nhà Đời Nay vừa xuất bản. Chính thi phẩm này đã đưa Vũ lên tột đỉnh của trời Thơ thuở ấy. Vũ gõ que sắt vào thành chén giữ nhịp, đôi mắt nhắm lại như không muốn thấy sự vật xung quanh. Tôi biết Vũ đang trở vào giấc ngủ mười năm lỡ dở. Tiếng ngâm của Quỹ vút lên nhưng bị ngăn trở bởi kích thước không gian nhỏ hẹp nơi đây nó dội lại, trở thành chua chát, não nề. Tôi choáng váng rồi thoát mình nhập vào không khí cuồng say lúc nào chẳng biết.

Từ buổi ấy, chúng tôi là bạn. Chúng tôi thường gặp nhau, nhưng không một lần, Vũ mời tôi chung say nữa. Tôi mê thơ Vũ đến nỗi thuộc hết tập Mây lúc nào không hay. Tôi còn thích Vũ ở lối ăn mặc đặc biệt. Vũ thường mặc áo gấm màu lam, đi giày ta, mang khăn xếp, tay cầm quạt và luôn luôn có đem theo cuốn Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh bằng chữ Hán. Vũ đi thất thểu, chậm rãi với phong độ nho gia. Sau đó ít lâu Vũ về quê nhà ở Nam Định.

Bẵng đi một dạo, cho tới năm kháng chiến thứ ba, tôi mới gặp Vũ tại Đống Năm thuộc tỉnh Thái Bình, nhân buổi họp mặt Văn Nghệ. Vũ vẫn thế, chiến tranh không làm Vũ đổi thay từ bản thân tới suy nghĩ. Chiếc áo gấm năm xưa đã phai màu gió bụi trường chinh, nhưng phong cách Vũ vẫn y nguyên. Trong thời gian ấy, Vũ làm thơ một phần để tỏ bày thái độ, một phần để nguôi ngoai tâm sự.

“Mới hôm nào gác Dì Năm
Lời thơ ai đẹp tiếng cầm ai say
Tang thương một cuộc ai bày
Giấc Thiên Thai để trắng tay Lưu Thần
Xa Cố đô vắng cố nhân
Trái tim mềm trĩu hai lần nhớ thương…”

Lần này chính Vũ ngâm cho tôi nghe trong một quán nước bên bờ đê. Giọng ngâm của Vũ ấm đục, thê thiết như vướng nghẹn bởi sương khói quê Nâu. Vũ ngâm thơ như khóc, như hờn tủi, như cơn đau xé ruột.

Qua những giờ giao cảm ngắn ngủi đó, chúng tôi lại chia tay với bùi ngùi cách trở, kháng chiến vẫn kéo dài bước chân tuổi trẻ.

Đến năm 1951, chúng tôi lại thấy nhau ở Hà Nội. Vũ cho biết đang viết vở kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần. Trong vở kịch thơ này Vũ đã gửi gấm tâm sự mình không ít xuyên qua nhân vật Cao Tiệm Ly. Vũ đã viết 6 vở kịch thơ, mới in 4 và 14 thi tập. Trong số có tập Cảm thông do Nguyễn Khang dịch sang Anh ngữ và Nhị thập bát tú được Simone Kuhnen de la Coeuillerie dịch sang Pháp ngữ với lời tựa của thi hào Ý Lionello Fiumi, cùng một tuyển tập cũng do S.K. de la Coeuillerie dịch với minh hoạ của Suzanne Bomhals và phụ bản của Ysabel Beas. Cuốn Tuyển tập được giáo sư André Guimbretière đề tựa. Thơ Vũ đã vượt biên giới để hoà mình với thi ca thế giới.

Nhưng viết về Vũ mà bỏ quên hình ảnh người đàn bà mang tên Oanh – người bạn đời của Vũ – kể như thiếu sót. Người đàn bà ấy nổi danh tài sắc một thời – đã cùng lênh đênh, chìm nổi theo số phận Vũ. Người đàn bà ấy có tình thương yêu vô lượng, có sức chịu đựng phi thường. Sự nghiệp của Vũ hôm nay được thành quả, một phần cũng bởi lòng hy sinh cao cả và ý chí sắt son của tâm hồn khả kính ấy. Trong suốt mười mấy năm thi phẩm, Vũ chỉ nhắc đến tên Oanh có một lần, trong tập Hoa đăng. Nhưng thật ra, bóng dáng ấy phảng phất có mặt trên mọi trang thơ vì nó đã dính liền vào thịt da, vào huyết mạch Vũ từ lâu rồi. Vũ rất nhạy cảm nên dễ giận hờn. Thực phẩm trần gian quá đắng cay, Vũ phải ẩn nấp vào trời Mây để tìm hương vị ngọt ngào cho cuộc sống riêng tư.

Việc nhận diện Vũ Hoàng Chương không mấy khó. Cái khó là viết về người bạn thân. Tôi băn khoăn, phân vân trước khi viết vì tự nghĩ mình không đủ sáng suốt để tìm hiểu Vũ với cái nhìn vô tư chăng?

Nhưng đến lúc này, tôi cảm thấy vơi nhẹ đôi vai.



Trích thơ Vũ Hoàng Chương
Nửa truyện hồ ly

Giàn dưa mưa lất phất
Mênh mông sầu xứ đêm dài
Hư vô động tiếng giày ai
Mình ta buồn dặc dặc
Say giữa hai tờ Liêu Trai
Rún rẩy hoa đèn rung ngọn bấc
Không gian đàn mãi tiếng giày ai
Dầu cạn lưng chừng phao
Sợi nhỏ thon mềm dáng liễu
Hài son phơi phới lửa đào
Khói biếc màu xiêm yểu điệu
Ai đó – phải chăng hồn cỏ cây
Bấc thơm dầu quánh nhựa hây hây
Dầu vơi bấc mỏng manh gầy
Bước chân nào bợ ngợ
Hoa đèn lung lay
Ai đó – phải chăng hồn cỏ cây
Mộ vắng lầu hoang ngơ ngác sợ
Cùng đêm nương về đây
Nửa truyện Hồ Ly trang sách giở
Lung linh tiếng giày.


Dâng tình

Bốn trời sương lạnh
Đường xanh bóng trăng
Lửa đào lung lay phất phới
Thi nhân ôi xin dừng bước lại
Đây Hàng Châu thường mơ ước đêm Hoa Đăng
Đêm Hoa Đăng đường xanh bóng trăng
Đêm Hoa Đăng đèn quanh lối xóm
Đây cầm ca người mộng gái xưa Kim Lăng
Hãy dừng đây Chàng Say
Mà điên cuồng lơi lả
Đón muôn đời thanh sắc ngã trong vòng tay
Nhịp trúc buông khoan
Sóng tơ dồn chậm
Môi nồng tươi da mịn ấm
Liễu xinh xinh thoa dáng liễu cong đôi nét mày
Lũ chúng em chờ Chàng qua chín kiếp
Tình giang hồ phong nhuỵ vẫn nguyên hương
Rượu dâng nồng đây son phấn mười phương
Khói lên biếc và đây hồn tứ xứ
Trên cánh Nhạc đê mê Chàng hãy ngự
Đàn tơ mây theo phách gỗ trầm hương
Nhịp lời ca lơi lả bóng nghê thường
Âm điệu sẽ ru Chàng say đến cuối
Lũ chúng em ca nhi
Đón dâng Chàng một buổi
Nỗi yêu mê cuồng dại nén từ lâu
Rồi mai đây Chàng rong ruổi
Thuyền buộc sông mưa
Ngựa dừng trăng khuyết
Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu
Xin bẻ thuyền quay hướng
Xin giục ngựa quay đầu
Về cùng chúng em
Buồng xuân chờ cửa ngỏ
Khóm trúc đợi xanh màu
Họp cùng chúng em
Có nàng tiên má hồng nâu
Giúp đôi cánh biếc dâng sầu lên khơi
Hãy dừng đây Chàng Say ơi
Cùng lận đận bên trời một lứa
Đêm Hoa Đăng vắng chàng thoi thóp lửa
Tiếng đàn xênh rời rạc khúc Thiên Thai
Hãy dừng đây sương gió lạnh bên ngoài.


Một phút ngừng say

Bấc trĩu hoa đèn nhựa úa nâu
Phai say nằm khóc mộng ban đầu
Bước chân song sóng vòng tay mở
Dạo ấy người xưa xa lắm đâu
Chớm nụ tiếc cho tình quá ngát
Mà thương trời bể quá cao sâu
Tiếc thương lẻn khói vào tâm trí
Mưa gió tàn đêm lộng quán sầu.


Lá thư ngày trước

Yêu một khắc đế mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại mấy tờ thư
Mộng bâng quơ hò hẹn cũng là hư
Niềm son sắt ngậm ngùi duyên mỏng mảnh
Rượu chẳng ấm mưa hoài chăn chiếu lạnh
Chút hơi tàn lay lắt ngọn đèn khuya
Giấc cô miên rùng rợn nẻo hôn mê
Gió âm tưởng bay về quanh nệm gối
Trong mạch máu chút gì nghe vướng rối
Như tơ tình thắc mắc buổi chia xa
Ngón tay run ghì nét chữ phai nhoà
Hỡi năm tháng hãy đưa đường giấc điệp
Yêu mê thế để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại chút này đây
Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay
Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén
Ai dám viết yêu đương và hứa hẹn
Lần đầu tiên ai dám ký “Em Anh”
Nét thon mềm run rẩy gắng đưa nhanh
Lòng tự thú giữa khi tìm trốn nấp
Mươi hàng chữ đơn sơ ô ngượng ngập
E dè sao mươi hàng chữ đơn sơ
Màu mực xanh tươi ngát ý mong chờ
Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy
Ôi thân mến nhắc làm chi thuở ấy
Đêm nay đây hồn xế nẻo thu tàn
Khóc chia lìa ai níu gọi than van
Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối
Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm the nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc
Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ
Trăng nào ngọt với duyên nào thắm nở
Áo xiêm nào rực rỡ ngựa xe ai
Đây mưa bay mờ chậm bước đêm dài
Đêm bất tận đêm liền đêm kế tiếp
Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại chút này thôi
Lá thư xưa màu mực úa phai rồi
Duyên hẳn thắm ở phương trời đâu đó.


Mười hai tháng sáu

Trăng cửa nhà ai trăng một phương
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường
Ờ đêm tháng sáu mười hai nhỉ
Tố của Hoàng ơi hỡi nhớ thương

Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyện ước
Tố của Hoàng ơi Tố của Anh

Tháng sáu mười hai từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa Tố của tôi

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của Ai

Tay gõ vào bia mười ngón rập
Mười năm theo máu hận trào rơi
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi

Kiều Thu hề Tố em ơi
Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây
Hàm Ca nhịp gõ khói bay
Hồ Xừ Xang Xế bàn tay điên cuồng

Kiều Thu hề trọn kiếp thương
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên

Kiều Thu hề Tố hỡi em
Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng
Xề Hồ Xang khói mờ rung
Nhịp vươn sầu toả năm cung ngút ngàn.


Tuý hậu cuồng ngâm

Ôi lòng ta sao buồn không nguôi
Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi
Há vì cơm áo chẳng no lành
Há vì đời không mắt ai xanh
Nhớ thuở không có ta hề đường đi thênh thênh
Kịp khi có ta hề chông gai mông mênh
Cuồng vọng cả mà thôi bốn phương hề vướng mắc
Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh
Lều nát hề trơ trơ ngõ mưa lầm lội
Trăng lạnh đèn mờ hồn đơn hề le lói
Đọc truyện cố nhân hề lòng ta quặn đau
Gió bụi xôn xao hề thương vay người sau
Càng xót thân mình vô dụng
Thiên hạ chê bai hề lạc nẻo sang giàu
Ta chỉ tiếc cho thân hề vô duyên bấy lâu
Bá Nhạc đời không ai hề ngẩn ngơ vó câu
Gươm sắc uống cho gươm hề Phong Hồ có đâu
Ai đó mách giùm ta với
Quần gót thế nhân hề như đàn quạ kia chăng
Hay như mây cao đơn chiếc hề cánh chim bằng
Ấp úng cân đai hề trói giam tài năng
Võ ruộng buông câu hề kho trời gió trăng
Ôi đường gai góc là bao hề sóng cồn mặt bể
Thương cho tay lái non hề con thuyền lao đao
Tiếc cho cơ hội muộn hề chặt gai được sao
Lá úa cành khô thu đông hề nối gót
Chuếnh choáng giang san hề còn say hát ngao
Mây hồng tím phương tây hề tà huy thoi thóp
Đời sắp tàn chăng hề bấc lu dầu hao
Ngõ hẹp giường tre giấc mơ hề chới với
Thôi hết mùa tươi
Hết thôi chờ đợi
Rượu hề rượu hề giùm quên nhé ngươi

Sao lòng ta đêm nay buồn không thể nguôi
Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.


Trích :Tạ Tỵ. Mười khuôn mặt văn nghệ. Nam Chi xuất bản lần thứ nhất, tác giả trình bày hoạt hoạ.

*

NGUYỄN THIÊN THỤ * VĂN HỌC VIỆT NAM

*
VŨ HOÀNG CHƯƠNG

NGUYỄN THIÊN THỤ



I.TIỂU SỬ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vu hoang chuong.jpg


Vũ Hoàng Chương ( 1916 – 1976) sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán ở nhà, rồi học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 vào học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh - Na Sầm. Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng.

Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập Ban kịch Hà Nội cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà Hát Lớn và gặp gỡ Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng, thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, về Nam Định, diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, đi tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến, ruồng bắt cả nhà, hồi cư về Hà Nội, dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.


Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Sài Gòn, tiếp tục dạy học và sáng tác. Năm 1959 được giải thưởng toàn quốc của chính quyền Việt Nam cộng hòa về tập thơ Hoa đăng. Trong năm này tham dự Hội nghị thi ca quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok. Năm sau, 1965 lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d'Ivoire. 1969-1973 là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam thuộc Việt Nam Cộng hòa. Năm 1972 đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa. Ông còn được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam. Ngày 13 tháng 4 năm 1976, ông bị cộng sản bắt giam tại khám Chí Hòa trong chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ miền Nam. Ông bị bệnh nặng được đưa về nhà được 5 ngày thì mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.

TÁC PHẨM

Các tập thơ:
Thơ say (1940)
Mây (1943)
Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948)
Rừng phong (1954)
Hoa đăng (1959)

Tâm sự kẻ sang Tần (1961)
Lửa từ bi (1963)
Ta đợi em từ 30 năm (1970)
Đời vắng em rồi say với ai (1971)

Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)

Kịch thơ:
Trương Chi (1944)
Vân muội (1944)

Hồng diệp (1944)


II.CHUYỆN TRÒ CÙNG VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Hôm nay ( xuân canh dần 2010) giở lại các tập tài liệu cũ, tôi tìm thấy bản ghi chép cuộc thăm viếng thi sĩ Vũ Hoàng Chương của tôi. Như vậy là bản ghi chép này đã tồn tại gần nửa thế kỷ mà tôi bỏ quên trong kệ sách, và trong tâm tưởng tôi, tôi cũng đã quên có cuộc gặp gỡ này.



Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ lớn của nước ta. Lúc bấy giờ tôi đang nghiên cứu về thơ mới cho nên tôi tìm đến thi sĩ để có một tài liệu sống. Nhưng rồi sau đó, sóng gió nổi dậy tại miền Nam, tôi lui về ẩn dật và bỏ lại các tài liệu vào góc tủ.Bản ghi chép đề Sài gòn ngày 6-4-1974, lúc 5 giờ chiều, tại đường Nguyễn Minh Chiếu, Sàigon. Ông lúc trước sống chung với Đinh Hùng, sau vợ chồng Đông Hồ bảo bọc ông, đưa về sống chung một nhà, tại biệt thự Nguyễn Minh Chiếu. Lúc bấy giờ ông đã ở đây hơn một năm.Năm này, thi sĩ đã 6o tuổi.

Bây giờ tôi cũng nhớ đôi chút chuyện cũ. Tất cả đã phai mờ như trong giấc mộng chỉ còn bản ghi chép là thực và rõ ràng.Tôi nhớ lại khoảng 1964, tôi đến thăm thi sĩ Đông Hồ tại khu hồ tắm Chi Lăng, Gia Định. Rất lâu, mười năm sau, tôi mới gặp Vũ Hoàng Chương. Lúc này thi sĩ Vũ Hoàng Chương ở đường Nguyễn Minh Chiếu gần khu Lăng Cha Cả. Khu này có nhiều biệt thự ẩn nấp sau những hàng cây cổ thụ. Thi sĩ trú ngụ tại biệt thự của Đông Hồ. Biệt thự này có hai nhà. Đông Hồ đã mất, gia đình ở nhà chính. Bên cạnh là một căn nhà nhỏ, gia đình thi sĩ Vũ Hoàng Chương gồm phu nhân và cậu con nuôi tên là Vũ Hoàng Tuân học lớp 12 Chu Văn An ở tại đây.

Sau 1975, bọn nằm vùng Vũ Hạnh và bọn cộng sản Bắc Việt hung hăng thực hiện chính sách khủng bố văn nghệ sĩ miền Nam. Vũ Hạnh đe dọa bà Mộng Tuyết khiến cho Vũ Hoàng Chương phải dọn ra ngoài, không dám gây liên lụy cho gia đình người bạn vàng. Mà rồi kết cuộc, bà Mộng Tuyết cũng phải bỏ biệt thự Nguyễn Minh Chiếu mà về Hà Tiên là nơi quê cũ. Không biết biệt thự này về tay ai.? Đông Hồ chỉ có một gái , trước 1975 dạy học tại Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.



Vũ Hoàng Chương cho tôi biết ông sinh giờ dần, ngày mồng một, tháng giêng năm ất mão, tại Sơn Nam hạ là quê quán của ông nghè Vị Xuyên . Thân phụ (ông gọi là thầy ) của Vũ Hoàng Chương tên là Vũ Thiện Thuật, quê ở xã Phù Ủng là quê Phạm Ngũ Lão, đậu tú tài, tuổi hợi (1887), nếu còn sống đến lúc này thì được 88 tuổi. Cụ vào trường Sĩ Hoạn (École de madarin) thi Pháp văn, học bốn năm , đỗ thì ra tri huyện, rớt thì làm huấn đạo. Lúc này là khoa thi Hội cuối cùng ,khoa mão (1916), tú tài cũng được thi nhưng cụ không đi. Phan Kế Toại vốn là giáo viên, dạy học hai năm rồi cùng vào học trường Sĩ Hoạn, và ra cùng một khóa với thân phụ Vũ Hoàng Chương. . Thân phụ Vũ Hoàng Chương làm tri huyện ở Nam Định, Thái Bình, sau ở Bắc Giang, mất vì bệnh phổi năm 1941 hưởng dương 55 tuổi, Cụ tính nghiêm khắc, chỉ có một vợ.

Lúc làm tri huyện Thanh Liêm (Hà Nam) ngay tỉnh lỵ, tây đến, có giám binh (đứng đầu lính khố xanh ở tỉnh) đến khám. Lúc bấy giờ mỗi huyện có sáu hoặc bốn lính khố xanh,mỗi tên lính có một khẩu súng, ba viên đạn. Giám binh đến khám súng. Cụ bấy giờ khoảng 30 tuổi, đầu búi tó, chít khăn, để râu. Ông giám binh cấp bậc hạ sĩ, giải ngũ sang lính Thuộc địa ăn nói thô tục. Cụ không chịu được thói hống hách bèn vác ghế đánh tên này. Giám binh về mách quan sứ, cụ cũng làm rapport. Kết cuộc viên giám binh bị đổi đi chỗ khác còn cụ bị huyền chức. Nửa năm sau lại được bổ Tri huyện Trác Ân (Yên Bái) ở miền thượng du. Ông vốn ghét Pháp và không xu nịnh nên làm việc suốt hai mươi năm mà vẫn ở chức tri huyện. Sau cụ về hưu non lấy lý do sức khỏe.

Thân mẫu của ông tuổi hợi, mất năm 1961, tên là Hoàng Thị Sính, quê Vị Xuyên ( Vũ Công), thọ 75 tuổi. Bà ngoại buôn gạo, mua đất cát mà xây dựng cơ đồ, sau xây nhà thờ cụ nghè, nuôi các cháu trong họ. Vũ Hoàng Chương ở với bà ngoại lúc 6 tuổi. Bà nuôi Vũ Hoàng Chương vì bà hiếm cháu. Ông cố ngoại là ông nghè, đỗ khoa thìn, Bà ngoại sinh đuợc một mình thân mẫu thi sĩ, ở góa lúc 23 tuổi, lúc 50 tuổi được vua Khải Định ban bốn chữ "Tiết hạnh khả phong". . Chị ruột mừng câu đối:
"Cờ biển khoa thìn cha để tiếng,
Son vàng chữ tiết chúa ban khen."



Ông nội của Vũ Hoàng Chương tên là Vũ Đạo Trác, rớt tam trường . Ông cố là Vũ Đạo Thông đỗ tú tài hai khoa, làm huấn đạo. Lúc thi sĩ 5 tuổi được ông nội dạy Tam tự kinh, Ngũ ngôn thi, kinh Thi, và tập viết. Về chữ nôm thì lúc nhỏ, thi sĩ đã học Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca. Lúc bảy tuổi, thi sĩ học trường huyện. Trường này có một ông huấn đạo dạy chữ Nho, một ông giáo người Việt dạy chữ Tây, cả huyện chỉ có hai mươi học sinh lớp 5 (élémentaire).Mỗi tháng hai ngày học chữ Hán, còn ra là học chữ Pháp .


Ngày đi học trường huyện, tối lại học chữ Hán do ông nội dạy.Vài năm thì qua lớp Vỡ lòng.Bà cụ cũng dạy thi sĩ chữ Quốc ngữ. Ông cố ngoại (thân phụ của bà nội) là Ngô Thế Vinh ( 1802-1856), tức ông nghè Bái Dương ( huyện Nam Chân, Nam Định ) .Ông đậu tiến sĩ khoa kỷ sửu ( năm Minh Mạng thứ 10 ( 1829), được cử làm chánh chủ khảo thi Hương và ông cũng phạm cái tội của Cao Bá Quát , thành thử bị cách chức , và truất dạnh hiệu tiến sĩ, thu mũ áo, cờ biển. Cụ nghè Bái Dương trở về quê dạy học. Hai mươi năm sau, học trò có kẻ đỗ thám hoa, hoàng giáp . Đời Tự Đức, học trò dâng sớ kêu oan cho thầy, vua Tự Đức cho phục danh hiệu tiến sĩ, bổ làm quan. Lúc đó cụ đã 60 tuổi, không còn tham danh lợi nữa nên dâng biểu về triều xin từ chối. Thân mẫu của thi sĩ cũng học chữ nho mười lăm năm trời. Vũ Hoàng Chương học hai năm mà không khá. Sau Vũ Hoàng Chương theo học cụ Nguyễn Can Mộng về chữ Hán và Pháp văn, Quốc ngữ. Cụ Nguyễn Can Mộng hiệu là Nông Sơn, đỗ phó bảng dạy thi sĩ viết dictée mỗi buổi mười câu.Và học những câu đối thoại thông thường. Học ba năm thi về bên ngoại học lớp nhì, lớp nhất, rồi học trường tỉnh Nam Định.


Vũ Hoàng Chương đỗ tiểu học, đáng lý ông vào trường Bưởi tức là trường trung học Bảo Hộ
( Lycée du Protectorat). Lúc bấy giờ ở Hà Nội có hai trường lớn. Một là trường tây Albert Saurraut, mặc âu phục đắt tiền. Còn trường Bười mặc Việt phục, học bốn năm thi lấy bằng diplome, học hai năm lấy bằng tú tài I, rồi năm sau học thi tú tài toàn phần tức tú tài bản xứ. Còn học Albert Sarraut thì 6 năm thi tú tài Pháp. Năm 1931 thi vào Albert Sarraut thì lớn tuổi. Vào trường Bưởi thì đủ tuổi.Ông học vượt hai năm, học ban văn chương,năm 1935 thi tú tài I, đỗ một mình trong khi có bảy người thi. Lúc bấy giờ trung học chưa phát triển đầy đủ, chỉ có hai ban Văn chương và khoa học. Văn chương thì học Pháp văn, Latin, Anh văn.Đóng học phí một tháng bảy đồng trong khi lương tri huyện 100 đồng, đóng ba tháng là 20 đồng.Anh văn thì ra đề luận tả cảnh mặt trời buổi chiều trên cầu Long Biên. Sử thì học sử La Mã. Ông Lê Công Đắc là người bị báo Phong Hoá chế riễu, ông chỉ đỗ tú tài I. Học sinh it thôi, tây 7, đầm 7, Việt 7, chỉ trượt một hai người , một Pháp, một Việt.

Sau học Philo. Bạn của ông có Nguyễn Hữu Tấn ngoại giao giỏi. Philo có hai lớp. Mỗi lớp 60. Toán một lớp khoảng 30,40. Một người gôố Do Thái tên là Brachet giỏi toán. Nguyễn Nhật Quang thì Pháp Anh xòang nhưng giỏi toán nên sang ban Toán.Sau ông Quang đỗ bình. Ông Lê Văn Tuấn làm chưởng lý. Vũ Văn Cẩn đỗ bác sĩ y khoa và Luật.

Vũ Hoàng Chương khi học tiểu học đã học làm thơ Đường luật, Hát nói, song thất lục bát. Lúc còn học Albert Sarraut, chưa đỗ tú tài (1935) đã làm thơ tình theo thơ mới. Có hai bài thơ làm trong khoảng 1935-1937:
-Ta đợi em từ 30 năm."(in 1940)
-Ta đã làm chi đời ta? (1941-1942)


Tình yêu lúc cô nàng còn bé. Tình yêu ngẫu nhiên mà đến , ông không phải là một người dạy kèm ( précepteur).Lúc đó ông đang học, khoảng 1933 còn ba năm mới thi tú tài, thi sĩ 18 tuổi còn cô kia 12 tuổi. Ông ở trọ ở trên gác, còn gia đình cô ở dưới gác. Cả hai gia đình quen biết nhau.Cô ta sau thi tiểu học, còn cậu em là bạn của Vũ. Cả hai chị em sau đỗ Brevet. Năm sáu năm sau, gia đình cô ta là tiểu công chức, bà cụ buôn bán, cô ta đi lấy chồng, nhà giàu. lên. Chồng chết, bà ta ở một mình, con trai là luật sư, sau bà và con trai sang Pháp.

Sau đó20 năm là những mối tình khác: Kiều Thu, Tố Uyển và Tố Loan.

Lúc bấy giờ phong trào thơ mới phát triển. Thơ Đường, Hát nói có khuôn khổ nhất định. Lục bát thì không ai dám nghĩ. Nhiều bài thơ ý tưởng tây phương quá, mạnh quá. như bài "Hổ nhớ Rừng", Tiếng địch sông Ô". Nguyễn Nhược Pháp nhỏ hơn một tuổi, không cùng học ban Văn chương. Thơ mới có tính cách thành thị.

Ban đầu đa số theo Đường luật nhưng rồi bứt ra khỏi Đường luật. Sau 1940, người ta mới trở lại với nghệ thuật Đông phương. Thơ mới lúc này chịu ảnh hưởng Đường luật rất nhiều nhất là về nhịp điệu. Những bài thơ trong Rừng Phong (1954) mới in, nhưng Bài ca bình Bắc, Đời Vắng Em Rồi thì đã viết trước 1945.



*


TAP CHÍ VAN HÓA VIỆT NAM 135




SƠN TRUNG
chủ biên








TƯỞNG NIỆM THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

(1916-1976)



số 135

NGÀY 1 THÁNG 5 NĂM 2010




xin đọc

NGUYỄN SĨ GIÁC THI VĂN TẬP



TÔ HẢI * HÒA HỢP HÒA GIẢI

*
HÒA HỢP-HÒA GIẢI?KHÔNG BAO GIỜ! NẾU....

Nhân ngày 30 tháng tư thứ 35 đến ,tớ nằm đọc cả trăm bài viết rất chi là chân thành của nhiều nhà chính tr ị,trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo của "phe thắng", đề xuất với "phe thua".... Tớ cũng chẳng còn muốn nhắc lại những lời nói hay ho và rất... "chính trị" của ông Trần văn Trà là "Người Việt nam không có ai thắng, ai thua. Chỉ có Đé Quốc Mỹ là thua", (được ông Nguyễn Thành Tài,,phó chủ tịch UBND t/p HCM thận trọng nhắc lại nguyên xi vế một ,nhưng bỏ vế hai , trên HTV tối qua.) Tớ chỉ thương cho mấy hạt muối bỏ biển (ý của thi-nhạc sỹ N.T.T) đã không nói hết được những gì là gan ruột của mình về giấc mơ hòa hợp không bao giờ thanh hiện thực,.... mà khăng định rứt khoát về 4 cái chữ hòa giải- hòa hợp như sau : KHÔNG! KHÔNG BAO GIỜ CHUYỆN ĐÓ TRỞ THÀNH HIỆN THỰC! NẾU... Lý do:

-Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với hàng vạn gia đình, con cháu họ khi cha ông họ bị cướp sạch ruộng đất, nhà cửa, bị đấu tố rồi giết hại bằng đủ kiểu dã man như thời Trung Cổ bởi những Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất cơ chứ?

-Làm sao có thể hòa giải với cả triệu người vì quá sợ cải cách mà bỏ cả quê hương bản quán mồ mả cha ông,mà bồng bế nhau chay vô Nam ? rồi còn bị người ta tuyên truyền là bị "cưỡng ép,theo Chúa vào Nam"?

-Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình , sau chiến thắng Điện Biên, phải bỏ hết của cải, nhà cửa ,xưởng máy "di cư"vô Nam để tìm tự do.Những người ở lại, thì mất hết sau các đợt cải tạo tư sản, cải tạo nhà đất ,bị tịch thu từ cái máy may đến cửa hàng không quá 3 mét ở các phố hàng Đào, hàng Ngang ,hàng Trống.... và nhiều nhà hơi cao, cửa hơi rộng cũng vị tịch thu hoặc bố trí cho thành phần cốt cán vào ở cho đến nay cũng cấm đòi lại. (Giới văn nghệ cũng có hàng trăm người hoặc mất béng,hoặc "chiếm đóng"tọa hưởng kỳ thành cho tới hôm nay.)Cứ hỏi xem vợ NSND Đặng nhật Minh xem vợ ông ,bà Phương Nghi,có cái nhà to đùng ở phố hàng Chuối bị trưng thu làm trụ sở Hội L H P N V N nay đã đòi được hay chưa? Hỏi hàng vạn người bị kiểm tra hành chính (sau 75) chỉ vì có nhà cao hơn 2 tầng (!?) nên bị tịch thu chỉ bằng một lệnh mồm xem có ai được xin lỗi và trả lại cùng với tủ lạnh, tivi có sẵn trong nhà, mà người ta khuân từ vùng mới "giải phóng" ra , chứ chẳng chiếm đoạt , bóc lột của ai xem. Có ai đuợc trả lại chưa?Tớ tin là chưa vì tớ có ông anh họ ,Tô Ninh, chẳng phải tư sản, chẳng phải địa chủ mà còn là cựu chiến binh -cựu nhà báo nữa cũng bị "đánh" một cách bất hợp pháp như thế ,đến nay gần chết vẫn...chưa được trả lại ngôi nhà Hàng Bông Nhuộm! Làm sao hòa giải với ông ấy chứ?

-Làm sao hòa giải với con cháu những người văn nghệ sỹ, trí thức bị đi tù không án, không thời hạn, thậm chí ra tù cũng chết dần chết mòn cả thể xác lẫn sự nghiệp ,dù hôm nay có đền bù một cái giải thưởng này nọ kèm theo tí tiền còm nhưng không một lời xin lỗi!! Tớ không tin con cái, cháu chắt họ thôi căm thù đâu!

-Làm sao có thể hòa giảỉ với hàng triệu gia đình có cha,ông là sỹ quan phía "bên kia"bị đánh lừa bằng những lời hứa hẹn kiểu ông Trần văn Trà "Người Việt Nam không ai thắng ai thua,Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua thôi!",đã hồ hởi (?) đi "học tập mang theo lương thực 10- 20" ngày để rồi bị đi mút mùa ở các trại cải tạo nơi rừng sâu nước độc,để ỏ nhà vợ con bị xua đi kinh tế mới... và không ít người đã mất xác cho đến nay, bao gia đình vẫn phải về tìm hài cốt ở những nơi chồng, cha họ đã từng bị "học tập",dưới danh nghĩa "khúc ruột ngàn dặm" một cách đắng cay va mai mỉa...

-Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với những người phải bỏ nước ra đi ,sống ở quê người, những người bị làm mồi cho cá mập đại dương, cho lũ cướp biển, bỏ lại tất cả của cải ,nhà cửa, xe cộ cho mấy ông cán bộ lấy làm chiến lợi phẩm ? Cho đến tận hôm nay ,mỗi lần về "du lịch thăm quê"nhìn ngôi nhà mình ,cửa hàng mình, xưởng máy mình nay đã trở thành "của riêng" của mấy ông cán bộ c s đang làm chủ hợp pháp có đầy đủ giấy đỏ ,giấy hồng mà chỉ dám đi qua mà chửi đổng? (Riêng giới văn nghệ sỹ ,cho tới hôm nay cũng được làm chủ ít nhất cả trăm villa của những "kẻ thua phải bỏ chay",có vị do "bán đi kiếm cái nhà ngoại ô" nay đã có trong tay cả mấy ngàn cây vàng. Các vị này muốn hòa giải bằng cách trả lại cho các khổ chủ hợp pháp của các tài sản kia để tiến tới hòa giải-hòa hợp không? Chắc chắn là KHÔNG !

Và còn hàng ngàn,hàng vạn thứ chủ trương, hành động gây thù, gây oán ngàn đời không rửa sạch nữa ,xảy ra suốt hơn 60 năm tớ sống và làm việc trong kinh hoàng và sợ hãi thường trực nữa.....Cho nên tớ mới nghĩ rằng:

CHỈ KHI NÀO,NHỮNG KẺ GÂY NÊN THÙ HẬN NHÌN RA LÀ MÌNH CÓ TỘI THÌ MAY RA SỰ HẬN THÙ MỚI ĐƯỢC DẦN DẦN ĐƯỢC NGUÔI NGOAI.

Cụ thể giấc mơ của tớ là :Có một ngày nào đó nước ta có một vài ông to dám nói ra những gì các ông Goóc-Ba-Chốp, En-Xin ,Putin và gần đây cả Medvedev nữẵ ĐÃ NÓI VÀ LÀM thì chẳng cần hô hào,mọi người sẽ lại gần nhau để tìm ra cách hòa hợp hòa giải....Bằng không thì...không bao giờ có ,với cái kiểu CHO PHÉP ĐỰOC HÒA GIẢI, cả!

Tớ cũng mong ước các vị nào đó có vai trò nặng kí trong "Đảng- Chính- Phủ"hãy tuyên bố đột phá (như Khơ-rút-xốp ở Đai Hội XX ấy)

"ĐẢNG của chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhệm vụ giải phóng dân tộc,nay trước nhiệm vụ xây dựng đất nước,đưa cuộc các mạng kinh tế,khoa học,xã hội và nhân văn lên tầm cao mới,chúng tôi thấy không đủ tài năng và trí tuệ.Vậy xin nhường quyền lãnh đạo đất nước cho mọi nhân tài không phân biệt chính kiến,tôn giáo,đảng phái.... ra lãnh đạo đất nước bằng một cuộc tuyển cử thật sự công bằng,văn minh"..

Chỉ lúc ấy,mọi giấc mơ về hòa giải-hòa hợp mới thực sự bắt đầu. Bằng không thì đúng như anh Nguyễn Trọng Tạo,"Làm sao để không còn 30 tháng 4 CHỈ LÀ NHỮNG HẠT MUỐI BỎ BỂ MÀ THÔI!


*

Thursday, April 29, 2010

TƯỞNG NIỆM 30-4-1975



*

Bài thứ nhất
35 Năm Đối Kháng.

Với lịch sử giai đọan 35 năm vừa qua (1975-2010) dù ngắn nhưng là một giai đọan cực suy của dân tộc Việt Nam, một giai đọan mà người Việt phải đối kháng với thể chế độc quyền tòan trị cộng sản, lúc theo Liên Sô lúc theo Trung Quốc. Tại sao lại không phải là đối lập ? Đối lập chỉ tồn tại và phát triển dưới thể chế tự do. Cả người cầm quyền, người đối lập và người dân đều phải dựa trên Hiến pháp để dòm chừng, để lên tiếng, để kiểm sóat và cạnh tranh lẫn nhau. Có đối lập các chính sách cũ sẽ được hòan chỉnh hơn, hay dựa trên nền tảng Hiến Pháp để đề ra những chính sách mới ưu việt hơn. Nhờ đối lập những thành qủa của thể chế dân chủ được tối ưu trong hòan cảnh và điều kiện của từng quốc gia. Nói tóm lại đối lập đưa xã hội, dân tộc, đất nước ngày một thăng tiến.

Thể chế cộng sản ngược lại đề ra việc tiêu diệt cái cũ để xây dựng cái mới. Mới và cũ bao gồm từ văn hóa, văn học, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, … đến con ngừơi. Cái mới lẽ ra phải tốt đẹp hơn cái cũ, thực tế đã chứng minh ngược lại và kết quả là sự sụp đổ của hầu hết các quốc gia bị cộng sản chiếm đóng.


Dưới chế độ cộng sản mọi quyết định trọng đại lại đều đến từ một cá nhân hay một nhóm cầm quyền. Không có đối lập, không dân chủ, người dân bắt buộc phải tuân theo các nghị quyết các quyết định do đảng đề ra. Thậm chí người dân còn phải tuân theo các lệ làng do cán bộ địa phương đề ra. Không tuân theo sẽ bị khép vào thành phần phản động, phản cách mạng và bị đẩy về phía đối kháng.

Dưới thể chế cộng sản Việt Nam , cái mới gồm tư tưởng, phương cách suy nghĩ và hành động lúc thì theo Trung Quốc lúc lại theo Liên Sô . 35 năm đối kháng có thể được chia làm 2 giai đọan: giai đọan ĐCSVN theo Liên Sô (1975-89) và giai đọan theo Trung Quốc (1989-2010).



Giai đọan ĐCSVN theo Liên Sô (1975-89).


Trước 1975, Việt Nam Cộng Hòa là một chiến trường cho hai khối tự do và cộng sản thử bom đạn. Trong khi Hoa Kỳ rút chạy thì Liên Sô, Trung Quốc cùng tòan Khối Cộng sản lại quyết tâm tài trợ cộng sản Bắc Việt xâm lấn miền Nam. Cộng sản Bắc Việt thì bất chấp mọi hiệp định quốc tế đã ký trước đây vượt vĩ tuyến 17 thôn tính miền Nam . Dẫn đến ngày 30/4/1975. Để xây dựng một thể chế mới gồm những con người mới, dân miền Nam bị khép là ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân. Các trại tù được dựng lên khắp nơi nhằm “cải tạo” xã hội ngụy. Các khu kinh tế mới được dựng lên để đẩy ngụy dân khỏi các thành phố, dành chỗ cho cán bộ từ Bắc vào. Các tà sách ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, quốc doanh hóa, hợp tác hóa công nông nghiệp nhằm biến miền Nam thành miền Bắc rập theo khuôn khổ mô hình kinh tế và chính trị Liên Sô .


Về văn học, văn nghệ, nghệ thuật và hình thức bề ngòai xã hội miền Bắc trước 1975 lại giống như một xã hội Trung Hoa thu nhỏ. Chỉ cần xem lại sách báo, báo chí hay phim ảnh trước đây bạn sẽ thấy ngay từ cách ăn mặc, cách hành xử, lời ca, điệu nhạc, đến phong cách hành văn đều xuất phát từ hay bị ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc . Do hai đảng cộng sản Việt Nam - Trung Quốc sau 1975 đã trở thành kẻ thù không đội trời chung . ĐCSVN vì thế muốn thóat khỏi ảnh hưởng của văn hóa cách mạng kiểu Trung cộng. Nhưng vẫn mang tính chất cưỡng bức áp đặt nhằm phục vụ tuyên truyền cho đảng cộng sản. Vì thế trong nước vẫn tồn tại nền văn học nghệ thuật đối kháng chống lại sự áp đặt của ĐCSVN lên nền văn học nước nhà.


Vừa thóat ra khỏi chiến tranh, ĐCS lại tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng, dùng chuyên chính vô sản để đàn áp mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói khác biệt. Việt Nam từ Bắc xuống Nam trở thành một nhà tù. Một vài cán bộ cấp dưới bất đồng phải lén núp “xé rào” nhà tù làm ngược lại các sách lược của đảng. Xé rào là cụm từ do chính những đảng viên xé rào đặt ra. Trong giai đọan này, ĐCSVN nhận một nguồn viện trợ dồi dào từ Liên Sô để biến Việt Nam thành một chư hầu thực hiện vai trò quốc tế tại Á Châu .


Từ 1979 đến 1989, ĐCSVN đã đưa đất nước vào 2 cuộc chiến tranh nội bộ các đảng cộng sản: xâm lấn Cam Bốt ở miền Nam và chiến tranh biên giới với Trung Quốc tại miền Bắc. Hằng trăm ngàn thanh niên đã bỏ mình trong hai cuộc chiến. Hằng trăm ngàn người khác đã trở thành những thương binh tàn phế một phần cơ thể. Ảnh hương đến tinh thần hàng triệu gia đình Việt Nam , ảnh hưởng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nhiều phần đất, phần biển do ông cha để lại hiện nay vẫn còn bị Trung cộng chiếm đóng và được ĐCSVN chính thức công nhận sự chiếm đóng.

Sự phản kháng rõ nét nhất là hàng triệu người trên con thuyền nhỏ hay bằng mọi phương tiện rời miền Bắc sau 1954 và sau 1975 đã bỏ nước ra đi. Đa số những người bỏ nước ra đi vẫn tiếp tục đối kháng với ĐCS một cách mạnh mẽ trên mảnh đất tái cư.

Cũng có người từ hải ngọai trở về chiến đấu cho tự do. Để đương đầu với chuyên chính, giai đọan này những người chống cộng phải chọn gắn liền giữa đấu tranh chính trị và vũ trang. Vì thể chế cộng sản đi ngược với chiều tiến hóa của nhân lọai và đi ngược với lòng người, nên dân tộc các quốc gia Đông Âu và Liên Sô đã lần lượt đứng lên giành lại quyền tự quyết dân tộc. Các lực lượng đối kháng Việt Nam phần bị đàn áp, phần không tiên đóan trước sự sụp đổ của chế độ cộng sản Âu châu, phần thiếu thông tin, thiếu liên kết nên gần như đứng ngòai cuộc thay đổi tòan cầu, không thể hướng dẫn quần chúng đẩy mạnh tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

Giai đọan ĐCSVN theo Trung Quốc (1989-2010).

Đứng trứơc khủng hỏang và lo sợ sự sụp đổ, Đại Hội lần thứ VI ĐCS Việt Nam đã phải chấp nhận đổi mới thay vì chết. ĐCS một mặt phải cởi trói kinh tế, giao thương với các quốc gia tự do, mặt khác phải vội vàng thần phục Trung Quốc lấy chỗ dựa tiếp tục đàn áp mọi nỗ lực đối kháng. Nhờ cởi trói kinh tế, một phần người Việt đã nhanh chóng thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng để hướng đến một đời sống vật chất cũng như tinh thần cao hơn thì giáo dục và huấn luyện kỹ năng là hai yếu tố quan trọng lại không được ĐCS để ý tới.


Đa số lao động Việt Nam vẫn chỉ dựa vào nông nghiệp, vào kỹ nghệ đơn thuần, du lịch và vào việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên. Trong thời gian gần đây do trình độ quản lý kinh tế yếu kém, Việt Nam đang quay lại thời kỳ với mức lạm phát phi mã, nhiều lần phải phá giá đồng tiền, đầu tư và xuất cảng sút giảm, nạn thất nghiệp gia tăng, nợ quốc tế càng ngày càng chồng chất… đa phần dân chúng đã nghèo lại nghèo thêm. Thiếu quyền lực chính trị, quyền lợi kinh tế của dân chúng gần như không được quan tâm. Việc tận dụng tài nguyên quốc gia và lệ thuộc vay mượn thế giới là một cách ăn cướp của các thế hệ con cháu chúng ta. Trong khi ấy để kiểm sóat chính trị, nhiều xí nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá đã lọt vào tay của một số đảng viên cao cấp hay gia đình, tạo nên một tầng lớp đại gia tư bản đỏ. Tầng lớp này nắm cả độc quyền kinh tế lẫn chính trị nên càng ngày càng trở nên giàu có và quyền thế. Hố ngăn cách giữa thiểu số này và đa số dân chúng nghèo khổ đang ngày một sâu hơn. Chênh lệch giàu nghèo, sự bất bình đẳng đang đào sâu các tiềm ẩn đối kháng, đến mức độ không kềm hãm được sẽ là nguyên nhân cho mọi biến động xã hội - chính trị. Thiếu quyền lực chính trị dân Việt cũng trở thành nạn nhân của quốc nạn tham nhũng. Thêm vào đó một cuộc khủng hỏang tòan diện đang càng ngày càng lan rộng trên mọi lãnh vực đến mọi tầng lớp xã hội. Sự bất mãn càng ngày càng bộc phát để đến một lúc nào sẽ phải bùng nổ.


Đảng cộng sản còn luôn phải đối đầu với hàng loạt các cuộc đình công đòi tăng lương đòi bảo đảm quyền lao động. Những cuộc biểu tình chống tham nhũng, chống bất công trong việc qủan lý đất đai và một cao trào đòi đất của giáo hội Công giáo và các tôn giáo khác đã bị đảng cộng sản cướp đi sau khi chiếm được chính quyền. Nhiều cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo hay của đồng bào sắc tộc chống lại áp bức bất công. Dẹp được cuộc biểu tình này thì xẩy ra cuộc biểu tình khác. Các cuộc biểu tình thì càng ngày càng thu hút được nhiều người hơn, có tổ chức hơn và xẩy ra gần thủ đô Hà Nội hơn. Chuyện gì sẽ xảy ra khi mọi người đồng tâm đứng lên đòi lại quyền tự quyết dân tộc.


Khi mức độ đối kháng của các tầng lớp dân chúng càng ngày càng nâng cao, ĐCS lại phải lộ rõ bản chất buôn dân bán nước. Nhiều phần lãnh thổ, lãnh hải do ông cha ta để lại đã được ĐCS chính thức trao cho Trung Quốc . Nhà cầm quyền Việt Nam đã để mặc cho Quân Đội Trung Quốc bắn, bắt, cướp tàu, đòi tiền chuộc khi các ngư dân Việt Nam đánh bắt trên vùng lãnh hải Việt Nam. Khi các anh chị sinh viên biểu tình xác định “Hòang Sa Trường Sa Biển Đông là của Việt Nam ” lại bị công an cộng sản xuống tay đàn áp. Người dân đã mất cả quyền được yêu nước được chống xâm lăng .

Đảng CS còn chủ trương để Trung Quốc tiến hành khai thác bauxite Tây Nguyên dù đã gặp phản đối mạnh mẽ cả trong lẫn ngoài đảng. Việc này đã tạo ra một cao trào phản kháng từ tầng lớp trí thức trong nước. Lần đầu tiên hằng ngàn trí thức đã công khai ký tên phản kháng một chủ trương đã được Bộ Chính Trị ĐCS thông qua. Gần đây lại đến việc các nhà cầm quyền địa phương cho Trung Quốc mứơn rừng Việt Nam mà quên đi quyền lợi của dân tộc luôn bị nước này nhòm ngó. Việc này tạo thêm một khoảng cách giữa những người yêu nước chân chính và tập đòan lãnh đạo cộng sản buôn dân bán nước.


Sự kiện Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) tự gỉai thể là thí dụ đối kháng mạnh mẽ nhất của tầng lớp trí thức Việt Nam . Viện được xem là một bầu trí tuệ của Việt Nam . Đa số các thành viên của Viện đã tích cực đóng góp trong quá trình đổi mới kinh tế sau Đại Hội VI . Viện tập trung nghiên cứu về kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội… khổ nỗi dưới sự cầm quyền của đảng Cộng sản, Việt Nam càng ngày càng lâm vào khủng hoảng toàn diện, đời sống dân chúng thì mỗi ngày một tệ hại hơn. Kết quả những công trình nghiên cứu thường phơi bày sự thật rất trái ngược với luận điệu tuyên truyền của đảng. Để họ phải ra Quyết Định 97 bịt miệng các thành viên trong Viện. Phản kháng lại các thành viên Viện đã quyết định tự giải thể, nhưng tuyên bố cá nhân sẽ tiếp tục phản biện các chính sách sai trái của nhà cầm quyền Việt Nam .


Báo chí một công cụ của đảng cộng sản, thế mà trong thời gian qua nhiều nhà báo bị tạm giam, bị bắt hay mất việc, nhiều Tổng biên tập bị thay đổi, nhiều tờ báo bị đóng cửa cũng chỉ vì thông tin trung thực khách quan và toàn diện phản lại các tuyên truyền chính thống do ĐCS đề ra.



Trong thời gian gần đây các cụm từ “diễn tiến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” càng ngày càng được nhà cầm quyền cộng sản sử dụng một cách thường xuyên hơn trên các Nghị Quyết, các cơ quan truyền thông báo chí. Việc làm này tự nó cho thấy ĐCS đang lo sợ những thách thức độc quyền cai trị từ bên trong hệ thống. Trong khi các lực lượng đấu tranh cho dân chủ đã công khai từ bỏ đấu tranh vũ trang thì ĐCS lại lo sợ quân đội sẽ đứng về phiá người dân để giành lại các quyền tự do cho dân tộc. ĐCS lo sợ vì đa số cán bộ trung và cao cấp trong quân đội đều trưởng thành trong cuộc chiến tại Cam Bốt và cuộc chiến chống bá quyền Trung Quốc. Trưởng thành trong chiến tranh họ có cách nhìn và suy nghĩ rất khác với thiểu số cầm quyền cộng sản. Trong khi tập đòan lãnh đạo lại càng ngày càng cấu kết với Trung Quốc đi ngược quyền lợi dân tộc.


Về phong trào Cách Mạng, thêm vào các tổ chức đảng phái chính trị thành lập từ trước, ngày 8-4-2006 Khối 8406 được thành lập. Khối là một tổ chức quần chúng đấu tranh với “mục tiêu giải thể chế độ cộng sản độc tài toàn trị, giành lại các quyền tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam bằng đường lối bất bạo động”. Từ chỉ gồm 118 thành viên ban đầu, nay đã tăng lên hàng chục ngàn thành viên gồm đủ mọi tầng lớp, mọi tổ chức đấu tranh ở khắp nơi trong và ngòai nước. Khối đã được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế công nhận. Lo sợ trước sự phát triển của lực lượng đối kháng nhiều thành viên trong Khối đã cộng sản bắt bớ, tù đày, cô lập.


Trong thời đại thông tin tòan cầu, mạng lưới thông tin hải ngọai không phải chỉ thực hiện vai trò thông tin đại chúng, còn tạo một môi trường để những cá nhân, những lực lượng đối kháng trong và ngòai nước tìm hiểu và tôn trọng sự khác biệt nhằm hướng đến việc kết hợp đẩy mạnh cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ tại Việt Nam. 35 năm là một giai đọan đủ dài để các tổ chức đối kháng trửơng thành và chủ động hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Sắp tới Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc châu sẽ tổ chức một Nghị Hội Người Việt Tự Do Trên Toàn Thế Giới. Mục đích của Nghị Hội là để kết hợp các cá nhân, các hội đòan, đòan thể, các đảng phái trong cộng đồng người Việt trên tòan thế giới, tạo thế liên kết, đồng nhất phương cách đấu tranh và phân công tác. Để từ đó mọi người Việt yêu chuộng tự do trên tòan thế giới chủ động dồn tổng lực tấn công đánh đổ chế độ độc tài cộng sản.


Bài viết này sẽ được trình bày trong “Đêm thắp nến tri ân các chiến sỹ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 30-4-2010” tại Victoria (Úc châu). 35 năm là một khỏang thời gian thật dài trong một đời người. Nhiều người chào đời sau 1975 ngày nay đã trở thành người đại diện cho Phong trào Dân chủ như luật sư Lê Thị Công Nhân, hay đại diện cho Cộng đồng như ông Nguyễn văn Bon, chủ tịch Cộng đồng tại Victoria, trưởng ban tổ chức đêm nay. Được biết “Đêm Thắp Nến” sẽ có sự hiện diện của nhiều bạn trẻ và sinh viên tại Victoria, nhiều bạn sau đó sẽ nhập đòan người hướng về Canberra cho “Đêm Tâm Tình Tuổi Trẻ”. Tương lai cộng đồng và đất nước thuộc về các bạn.
Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 28/4/2010



Bài thứ hai


Nhân Biến Cố 30/4: Bạn Trẻ Chúng Ta Làm Gì Cho Tổ Quốc Việt Nam?


Kính thưa tất cả quí vị quan khách hiện diện nơi đây, Hôm nay nhân tưởng niệm biến cố đau thương 30/4, con xin được phép thay mặt cho các bạn trẻ tại Victoria kính gởi lời tri ân đến các bậc tiền bối: các ông, các bác, các cô chú đã chiến đấu cho độc lập, tự do, chủ quyền và vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam, chống lại bè lũ độc tài toàn trị mệnh danh là CSVN, thực chất chỉ là một bọn Mafia đỏ bán nước “hèn với giặc ác với dân”, đã và đang từ từ dâng cúng đất biển của đất nước cho thiên triều phương bắc của chúng. Chúng con cũng không quên những chiến sĩ QLVNCH, hiện đang sống tại hải ngoại, hoặc còn tại quê nhà: các ông, các bác, các chú thương phế binh đã hy sinh rất nhiều, ngay cả chính một phần thân thể của họ cho lý tưởng tự do, hiện nay đang bị đám cầm quyền CSVN ngược đãi, phải sống lây lất trên mảnh đất quê hương mình, xin cho chúng con nghiêng mình cám ơn họ. Thế hệ trẻ chúng con hôm nay, tuy sống lưu vong nơi xứ người nhưng trái tim và tâm trí luôn luôn hướng về quê hương Việt Nam đặc biệt trước mối hiểm hoạ mất nước, trước dã tâm của bọn bá quyền Bắc Kinh và trước thái độ ươn hèn của cái gọi là nhà nước CSVN. Vì lý do này chúng con cùng tất cả người dân VN trong & ngoài nước càng cảm nhận ngày tưởng niệm 30/4 mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng và khẩn thiết hơn bao giờ hết. Thế kỷ này là thế kỷ của chúng con vì vậy xin quý vị cho chúng con đôi lời với các bạn trẻ VN:

Các bạn trẻ hỡi, xin hãy can đảm đứng lên làm lịch sử, vì đây là một phần trách nhiệm của chúng ta, chỉ có chính chúng ta phải chủ động và vận động các bạn trẻ, sinh viên khác để nâng cao tinh thần và sức mạnh cho các bạn trẻ trong nước, cổ võ họ giành lại tiếng nói của mình. Tháo bỏ cái hàng rào bưng bít thông tin, đòi lại quyền tự do, dân chủ, nhân quyền mà đáng lẽ các bạn và người dân đã phải được hưởng từ lâu.


Quyền tự do thành lập nhóm, gia nhập hội đoàn sinh viên trí thức, hội đoàn tôn giáo, học hỏi, trao dồi, chia sẻ và tiếp thu kiến thức mới, tự do thành lập nghiệp đoàn, công đoàn thực sự bảo vệ quyền lợi công nhân, tự do ngôn luận trên diễn đàn, báo chí, các phương tiện truyền thông trong nước, thông tin tức trên mạng v.v… Hãy cùng nhau vượt qua nỗi sợ hãi và nói lên sự thật. Quyết tâm hướng về tương lai tốt đẹp hơn, đoàn kết và yêu thương, cùng nhau xây dựng một nước VN độc lập, tự do, dân chủ và nhân quyền. Cũng chính vì lý do này

một lần nữa xin các bạn trẻ đầy nhiệt huyết và bằng lương tâm của chính mình, hãy cùng tiếp tay, đóng góp thêm một phần tiếng nói, hành động trong tầm tay của mình cùng với các bậc ông bà, các bác, các cô chú cùng toàn thể anh chị em trong khối 8406 giúp thúc đẩy sự thay đổi cho một VN tươi sáng thêm mau chóng và mạnh mẽ hơn. Các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước với 2 tấm gương tiêu biểu là Linh mục Nguyễn Văn Lý và Luật sư Lê Thị Công Nhân, là những người rất can đảm chấp nhận hy sinh chính bản thân mình để đòi lại những quyền căn bản cho toàn thể dân tộc. Cô LTCN lúc vừa mới ra tù đã nhắn nhủ lại với chúng ta: ‘Tôi chỉ có thể làm được cái nhiệm vụ bé nhỏ của tôi, tôi không thể làm nhiệm vụ của 90 triệu người dân VN, kể cả 3 triệu người Việt hải ngoại’. Đây là lời nhắn nhủ rất quan trọng và đầy trách nhiệm trên mỗi người con Việt Nam, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Chúng ta hãy tiếp tay với cô vận động và kêu gọi các bạn trẻ trong nước hãy can đảm đứng lên bằng mọi cách phù hợp và thích ứng với điều kiện và tình huống của mỗi người. Nguy cơ mất nước vào tay bọn bành trưóng Bắc Kinh đã gần kề. Những sự kiện xảy ra trong hơn 60 năm qua, kể từ khi có đảng CSVN từ việc dâng hiến biển đảo, đất đai cho quan thầy phương Bắc, đến việc cho bọn chúng tự do đem người của chúng khai thác bừa bãi bô xít ở Tây Nguyên, mà thực chất bọn công nhân này chính là những tên lính giả dạng, những tay súng sẵn sàng xâm chiếm VN khi thời cơ chín mùi. Tất cả những nguy cơ này cũng chỉ vì chúng ta đã thờ ơ với đất nước để cho một nhóm lãnh đạo CSVN tác oai tác quái trên quê hương, coi đất nước VN là của riêng của chúng, dân tộc VN là nô lệ của bọn chúng. Đã đến lúc chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu không muốn một đất nước nô lệ. Dân tộc Việt Nam ta nghìn năm lịch sử oai hùng, chúng ta sẽ không cúi đầu trước bất cứ thế lực nào đe doạ từ bên ngoài.

Có thể các bạn chỉ nghĩ đây là giấc mơ nhưng nếu chúng ta nuôi nấng và nung nóng nó, với cùng chung một ý chí và sức mạnh, giấc mơ sẽ thành hiện thực. Khối 8406 trong và ngoài nước đang phát động và thúc đẩy một cao trào dấy lên lòng yêu nước để biến đổi giấc mơ thành sự thật. Với một phương thức đấu tranh bất bạo động, sức mạnh không có từ bạo lực. Sức mạnh đến từ sự can đảm và niềm tin, lòng quyết tâm cùng với sự đoàn kết, do đó Khối 8406 trong nước rất cần sự ủng hộ của toàn thể dân tộc, dư luận toàn thế giới, đặc biệt sự yểm trợ của người Việt hải ngoại cả về tinh thần lẫn vật chất.

Vì thế nhu cầu phát triển của Khối tại các địa phương hải ngoại là một điều cần thiết. Đây cũng là lý do chính để Khối 8406 Victoria được thành lập và phát triển. Sau đây, tôi xin giới thiệu sơ lược về Khối 8406 – Victoria:

Khối 8406 Victoria là một nhóm độc lập, sinh họat song song với Cộng Đồng, tuyệt đối tôn trọng nội quy của CĐNVTD Úc Châu. Khối đang phát triển để mời gọi quí vị tham gia. Sự tham gia của chúng ta sẽ chia sẻ gánh nặng đấu tranh cho tự do tại quê nhà mà Ban Chấp Hành Cộng Đồng đang gánh vác. Chúng ta sẽ thực hiện các đêm cầu nguyện hay thắp nến cho tự do. Một buổi lễ lớn có đông người vận động và cổ võ, sẽ chùn bước bọn csvn và nâng cao tinh thần cho người dân trong và ngòai nước. Chúng ta sẽ vận động chính giới Úc và đồng bào yểm trợ Phong trào đấu tranh cho dân chủ, rút ngắn ngày Tự Do cho dân tộc chúng ta. Một con én không làm nên mùa xuân, nhóm anh chị em chúng tôi tiếp tục kêu gọi quí vị, đặc biệt các bạn trẻ hãy bỏ chút thì giờ để quan tâm đến tình hình đất nước và dấn thân cho Tổ Quốc Việt Nam.



Các anh chị trong Khối sẽ chuyển tờ leaflet có đăng các thông tin cần thiết, và nếu quí vị, các bạn trẻ nào muốn tham gia xin liên lạc qua các thành viên trong khối: Liên Vũ (maytrang2020@hotmail.com); Phùng Mai (phungmai871@yahoo.com.au) hay


Nguyễn Quang Duy (
duyact@yahoo.com.au), hoặc quí vị có thể lên mạng/internet ghi danh qua Web site : http://8406vic.blogspot.com.


Xin nhấn mạnh với quí vị cùng các bạn trẻ rằng: Xin đừng lo lắng hoặc sợ hãi về kiến thức chính trị. Không ai dám tự hào mình có đầy đủ kiến thức đâu. Vả lại thời cuộc ngày nay biến đổi rất nhanh, do đó tình hình chính trị cũng biến đổi từng ngày. Người làm chính trị phải biết tuỳ cơ ứng biến. Nhưng chúng ta có làm chính trị đâu. Có thể nói chúng ta đang làm nghĩa vụ của một người VN. Nghĩa vụ khi mình cảm thấy có trách nhiệm phải làm một cái gì cho đất nước. Như thế cần tấm lòng là đủ. (Chính anh Phương Duy cùng các anh chị trong nhóm đã khuyên & nhắn nhủ tôi câu nói này, rất cảm động & đầy ý nghĩa cho nên hôm nay tôi cũng xin mạn phép gởi lại câu nói này đến các bạn trẻ chúng ta).

Xin chân thành cám ơn quý vị và kính chúc tất cả qui vị sống khoẻ mạnh và tràn đầy nghị lực để tiếp tục yểm trợ cho công cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho người dân Viêt Nam.

Liên Vũ

Thành Viên Khối 8406

Melbourne 30/4/2010


Bài thứ Ba

Tâm Tình của người con thuộc thế hệ thứ hai Tưởng Niệm 35 năm Mất Nước


35 năm qua cộng đồng Việt nam chúng ta đã định cư , thành công trên xứ người rạng rỡ tông môn, nhưng cũng không kém phần chua xót khi nghĩ về Quê Hương Việt Nam thì không ít người trong chúng ta, phải gục đầu tủi hổ cho thân phận nước Việt Nam yêu dấu đang trong tay loài qủy đỏ cộng nô.

35 năm mất Nước Người Việt Quốc Gia chỉ chấm dứt một trận chiến 30/04/1975, nhưng cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt mà chỉ chuyển biến sang một cục diện mới , là sự đấu tranh toàn diện cho chính nghĩa cho dân chủ và nền độc lập tự do thật sự của Dân Tộc Việt Nam.

35 năm dòng lịch sử Việt Nam bị hoen ố vẩn đục , Dân Tộc Việt Nam bị chà đạp ô nhục ! Quốc nhục cũng bỡi bọn phản Quốc cộng sản Việt nam cõng rắn cắn gà nhà cam tâm làm chư hầu cho Trung cộng, và chính điều này đã cho ta thấy Nước Việt Nam chưa có độc lập, không có dân chủ và tự do.


Việt Cộng là bọn hèn hạ ác độc như quái thú ! Chúng đã giết chết biết bao nhiêu thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam , chúng vắt cạn kiệt hết tất cả năng lực của con dân Việt Nam , bằng những màn buôn bán nô lệ với chiêu bài ‘xuất khẩu nhân công’ đi lao động nước ngoài, buôn bán trẻ em và phụ nữ ,Nước Việt Nam bị ô nhục , chỉ có lấy cây rừng làm bút và nước biển làm mực mới viết lên được hết tội ác của cộng sản Việt Nam.


Hôm nay tưởng niệm 35 Quốc hận, nơi đất khách quê người , đã trở thành quê hương thứ hai của chúng ta những người Việt Quốc Gia , chúng ta đã có được 4 thế hệ hiện diện nơi đây ( thế hệ thứ nhất, một rưỡi , thứ hai và thứ ba) , chỉ mong sao 4 thế hệ hiện tại này chúng ta có thể nào nắm tay nhau tạo nên một thành trì vững chắc , để bảo vệ cộng đồng người Việt Tự Do tại hải ngoại không để cho nghị quyết 36 xâm nhập, sự đoàn kết của chúng ta sẽ chống lại sự đánh phá của Việt cộng, và sự phá rối của Việt gian gây xáo trộn trong hàng ngũ những người Việt Quốc Gia không cộng sản.



Nếu trong chúng ta những ai có còn sự dị biệt còn câu nệ ‘cái tôi’ của chính mình , không bỏ đi được bản ngã ích kỷ nhỏ nhen , hơn thua nhau bỡi câu nói việc làm ,thì chắc rằng chúng ta sẽ lại giận hờn nhau , xa cách nhau và tự mình chia rẽ mình , Việt cộng không lo chống mà chống Cộng Đồng để rồi chính mình ‘bỏ ngỏ’ cho đảng cộng sản Việt Nam và tay sai của chúng, lúc ấy Việt cộng sẽ đánh thẳng vào cộng đồng Người Việt Quốc Gia của chúng ta ở hải ngoại và phá nát Cộng Đồng Người Việt Tự Do của chúng ta.



Kính thưa qúy Ông Bà cô bác anh chị em, trước khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có thể “ngư ông đắc lợi” thì chúng con những người con nhỏ bé của thế hệ thứ hai thứ ba này, xin tha thiết kêu gọi sự đoàn kết , cảm thông và chia sẽ của tất cả đồng bào , những người Việt Nam Quốc Gia không cộng sản ; hãy để một bên những “áo mão cân đai” “những bằng cấp” hay ‘giai cấp’ , ‘giàu hay nghèo’,hoặc kinh nghiệm xương máu nhiều hay ít , hiểu Việt cộng ít hay nhiều..tất cả những điều đó rất đáng qúy nhưng xin hãy để một bên , mà chỉ xin nhìn nhau qua lá cờ Vàng Ba sọc đỏ lá cờ Quốc Gia Không Cộng sản, màu cờ như da vàng máu đỏ..và Mẹ Việt Nam ơi ..chúng con vẫn còn đây .. và chúng con cùng nhau nắm chặt tay nhau , không phân biệt tuổi tác chỉ biết vì chính nghĩa và vì bảo tồn dân tộc Việt Nam , cho dù sanh đẻ trên xứ người nơi đâu , dòng máu chúng con đang chảy vẫn là dòng máu Việt Nam muôn đời bất khuất. Nếu có chăng sự khác biệt duy nhất ở đây là “Tôi là người Quốc Gia không cộng sản, và anh là tên Việt cộng thì tôi sẽ chống”, chúng ta chống đảng cộng sản chứ không chống Dân Tộc Việt Nam .



Hỡi các bạn trẻ của thế hệ tương lai hãy đứng lên gánh vác cộng đồng hỡi đồng bào yêu dấu hãy nắm chặt tay nhau xây dựng cộng đồng Việt Nam bền vững, Một Cộng Đồng Người Việt Tự Do Quốc Gia Không Cộng Sản, đầy chính nghĩa để mỗi chúng ta không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với Những người anh hùng đã nằm xuống cho hai chữ Dân chủ cho hai chữ Tự Do !!

Trân Trọng

Nguyễn Lê Thanh Trúc

Melbourne 23/04/2010

Melbourne 30/4/2010

**