Thursday, October 29, 2009

TƯỞNG NĂNG TIẾN * ĐÊM HAVANA

Tưởng Năng Tiến * Đêm Havana và ngày Hà Nội


Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đắng cay nhu ở đây?
Chín người – mười cuộc đời rạn vỡ.
Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…
Có nơi nào trên trái đất này

Mật độ yêu thương như ở đây?

Mỗi tấc đất có một người qùi gối

Dâng trái tim và nước mắt
Cho nỗi đau của cả loài người …
Phùng Quán
Tôi chưa bao giờ đến Hà Nội, và cũng chưa bao giờ cảm thấy có chút xíu nào hào hứng khi nghĩ đến chuyện phiêu lưu tới một nơi xa xôi, lôi thôi và tai tiếng (tùm lum) như thế. Đã thế, đường thì xa, vé tầu thì mắc, thủ tục thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!
Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nghĩ và nghe sao nói vậy thôi hà. Và cứ như vậy mà nói, chắc chắn, sẽ làm mích lòng cả đống người. Tôi biết vậy nhưng không thể nào nói khác vì những điều mà tôi được nghe kể về Hà Nội (thường) không có gì là đàng hoàng hay tử tế – đại loại như:

"Lời ăn tiếng nói lễ độ cũng khó gặp, chứ đừng nói gì đến văn vẻ… Một cô gái có thể nói oang oang giữa chợ:

- Nó rủ tao đi nhưng tao đ… đi.

- Sáng nay mẹ mày qua xin lửa bố tao, bố tao đ… cho…"
"Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá (Phạm Xuân Đài. Hà Nội trong mắt tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994, 32-33).
Trời đất, đó là chuyện nhỏ và chuyện cũ (rích) rồi – từ hồi thế kỷ trước lận – bới móc ra làm chi nữa, cha nội ? Thì rành rành là chuyện bây giờ, thế kỷ XXI đây nè, Hà Nội vẫn cứ y trang như hồi đó – chớ có khác (mẹ) gì đâu:

"Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi…."

"Những anh chị phu hồ vẫn làm việc bằng những cung cách từ nửa thế kỷ trước. Họ chuyền tay nhau mọi thứ vật liệu. Cát, đá và sạn đựng trong những cái rổ, đà gỗ vác trên vai. Một ngày dầm mưa hay đổ mồ hôi như thế của một người phu hồ trị giá một đô la và một bữa ăn trưa thanh đạm. Hơn một phần tư thế kỷ thực hiện ‘chủ nghĩa xã hội ưu việt’ trong nước, hơn một phần tư thế kỷ kêu gào tự do và nhân quyền của khối người việt lưu vong hải ngoại, chẳng có chút ánh sáng nào rọi vào những góc đời phiền muộn tối tăm này" (Bùi Bích Hà, "Nhìn lại quê hương," Thế Kỷ 21, Sep. 2003:63-65).
Phạm Xuân Đài và Bùi Bích Hà, nói nào ngay, không phải là người Hà Nội. Họ là dân bá vơ, tha phương cầu thực, cù bơ cù bất, ở tận California hay đâu đâu đó. Cả hai chỉ tạt ngang, ghé chơi Hà Nội năm ba ngày hay vài ba tuần lễ gì thôi. Biết (khỉ mốc) gì đâu mà nói hành nói tỏi (nghe thấy ghét) dữ vậy chớ?
Nguyễn Huy Thiệp thì khác à nha. Ông ta là niềm hãnh diện của Hà Nội (nói riêng) và của cả nước Việt (nói chung). Ổng có dư thẩm quyền và thừa tư cách để nói về thủ đô "mến yêu của ta.". Trong tác phẩm Tuổi hai mươi yêu dấu, nhà văn đã mượn lời một nhân vật để tuyên bố như sau:

" Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy."

Ý, trời đất, quỉ thần, thiên địa ơi! Giữa Thời đại Hồ Chí Minh (quang vinh), và trong lòng thủ đô Hà Nội – nơi mà cách đây chưa lâu người ta vẫn còn phải nhai rón rén khi ăn – mà thằng chả nói năng ồn ào, lạng quạng và bạt mạng (quá cỡ) như vậy thì kể như là… hết thuốc!
Và Hà Nội không phải là nơi duy nhất hết thuốc (chữa) như thế trên thế giới này. Tôi nghe kể là ở thủ đô của Cuba – một nước anh em xã hội chủ nghĩa – tình trạng cũng bết bát, và bệ rạc không kém:

"Ở La Havanne vài ngày dần dần bạn hiểu cái khang trang, sầm uất ở những nơi có du khách chỉ là bộ mặt bên ngoài che không nổi một xã hội lở lói, mệt mỏi… Cuba có hai thế giới, thế giới tưng bừng náo nhiệt của du khách, của những người có tiền xanh, bên cạnh thế giới mệt hoài của dân địa phương. Sau 50 năm cách mạng, cái mơ của đa số dân Cuba là vượt biển qua Miami hay có bà con thỉnh thoảng gởi về một cái ngân phiếu" (Trần Công Sung," Cuba Sí, Cuba No," Thế Kỷ 21, Dec. 2003:78).

Đó cũng là cái ước mơ thê thảm, vượt quá tầm tay, của rất nhiều người dân Việt – bây giờ. Trong quá khứ, Cuba và Việt Nam cũng có rất nhiều điểm (bất hạnh) tương tự như nhau. Hai quốc gia này đều có thời gian dài là thuộc địa, và cả hai đều đã tin tưởng rằng sẽ giành lại được độc lập và tự do bằng con đường… cách mạng! Chung cuộc, cả hai đều sống dở (và chết dở) trong lòng cách mạng.
Ví von mà nói thì Havana và Hà Nội như hai cô bé lọ lem, song sinh, trong một gia đình khánh tận. Cả hai cùng có chung ước mơ là lấy được một tấm chồng đàng hoàng, lương thiện nhưng (chả may) đều phải lòng đúng đồ phải gió, và đã trao duyên lầm… tướng cướp!

Và quí vị tướng cướp này đang làm cái công việc mà họ mệnh danh giữ hoà bình cho thế giới – nếu trích theo nguyên văn lời của ông
Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam:
"Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ…"
Havana, tuy thế, vẫn còn "có phước" hơn Hà Nội.

Bi kịch của La Havanne chỉ xẩy ra vào lúc có mặt trời – theo lời của Trần Công Sung:

"Đêm xuống, dân Cuba quên cái cực nhọc ban ngày, đổ ra đường nhộn nhịp… Quên dollars, quên cách mạng, quên những bài diễn văn dài tám giờ, quên embargo, người ta đàn hát nhẩy múa náo nhiệt. Không phải chỉ ở những khu du khách, ngay cả ở những khu bình dân, đen tối, trong những tiệm cà phê rẻ tiền…, đâu đâu cũng có tiếng nhạc, giọng hát…"
Nói cách khác là ban đêm thì dù Việt Nam không gác, Cuba vẫn nghỉ. Cho nó khoẻ! Vẫn theo như nhận xét của Trần Công Sung thì ở Havana "có một cái gọi là cái hồn ("âme"). Cái hồn này đang nâng đỡ cho mọi người sống qua những ngày tháng cơ cực, đắng cay của thời mạt kiếp. Tôi còn tin rằng nó cũng sẽ giúp cho dân tộc Cuba hồi sinh chóng vánh, sau khi họ chôn xong cái Chủ nghĩa Xã hội (đang muốn "chuyển qua từ trần") ở đất nước này.
Hà Nội (dường như) không có một cái hồn như thế để chuẩn bị hồi sinh, dù CNXH cũng chỉ còn sống thoi thóp ở nơi này. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến có một đêm nào đó (dù chỉ một đêm thôi) người dân Hà Nội đã đổ ra đường, đàn hát, nhẩy múa nhộn nhịp, một cách hồn nhiên và vô tư như vậy cả.
Tình trạng của Hà Nội có vẻ tuyệt vọng hơn, theo như nhận xét của nhà văn Bùi Bích Hà – qua bài báo thượng dẫn: "Người ta chỉ cần một hai thập niên để vực dậy một nền kinh tế sa sút nhưng để xây dựng lại niềm tin cho cả dân tộc, cụ thể như dân tộc tôi, nay chỉ còn cầu phép lạ gieo xuống thưở đất hoang hoá này những hạt giống mới để bắt đầu lại."
Cách đây không lâu – trên diễn đàn talawas – khi được hỏi "phải hình dung thế nào về văn hiến Thăng Long," giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã (rơm rớm nước mắt, tôi đoán thế) kể lại rằng: "Gần đây có một vị viện sĩ định nghĩa văn hiến là văn học để hiến dâng cho Đảng."
Thiệt, nghe mà… hết hồn luôn! Havana là một thành phố non trẻ, mới có mặt từ đầu thế kỷ thứ XVI mà khí phách và hồn phách vẫn còn lai láng qua từng bước chân nhún nhẩy của người dân – dù nơi đây công an (chắc) không ít hơn Hà Nội. Không lẽ mảnh đất ngàn năm văn vật, lừng lẫy cỡ như Thăng Long, mới đụng chuyện với cường quyền và bạo lực (có vài chục năm) mà đã "mất hồn mất vía" và "chết tiệt" hết thế sao?
Tôi không tin như vậy đâu. Và tôi cũng không chịu như vậy nữa. Đảng CSVN quả thực đã hớp được hồn của một mớ "viện sĩ" ở Bắc Hà nhưng những chú lính gác cửa của Bắc Kinh (hay còn có tên gọi mới, dễ thương hơn, là "những kẻ canh giữ cho hoà bình thế giới") chưa bao giờ thực sự nhìn ra được cái hồn của đất Thăng Long, chớ đừng nói chi đến chuyện họ "đụng" được tới nó.
Do tình cờ, tôi có lần (may mắn) cảm thấy được cái hồn của Hà Nội trong một căn hộ nhỏ – ở ngõ Ánh Hồng, cạnh một nhà xí công cộng, luôn luôn ngập ngụa cứt đái – của một người đàn bà tên Sợi.
Chị Sợi có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Chị không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.
Chị Sợi bán hàng không đủ thu nhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên – đôi lúc – buộc phải bán cả thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác "xuống cấp" của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.

"Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.
Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.
Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.
Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ. Một bà già. Bà cụ Mít. Đó là một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa. Chính bà Mít cũng không biết mình bao nhiêu tuổi…
Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.
- Bây giờ một đứa lên tám, một đứa lên mười rồi cô ạ. Vài năm nữa, chúng nó lớn khôn là tôi không lo gì nữa. Tôi có chết cũng không ân hận.

Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:

- Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.
Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà.
- Giúp chị với em nhé. Chị tin ở em.
Thì ra bà muốn gửi chị tiền. Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Chúng còn bé lắm. Chúng mồ côi, chúng mong bà. Chúng cần tiền của bà. Bà phải nuôi chúng. Chúng chưa thể tự kiếm sống được, chưa thể tự lo liệu được. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê.
……

Mùa rét bao giờ cũng là thời gian gay go của chị. Hàng họ ế ẩm. Khách đến nhà cũng ít. Bù lại với đám ăn mày, mùa rét là mùa cưới xin, mùa bốc mả. Trong khi hiếu, hỷ, người ta rộng rãi với ăn mày. Bà cụ Mít vẫn thỉnh thoảng tới chỗ chị để cho chị hòn xôi, miếng thịt. Bà kêu rét và gửi chị thêm một ít tiền. Chị bảo bà đã gửi bốn lần tiền rồi sao không mang về cho các cháu kẻo chúng nó mong, đã lâu rồi bà chưa về nhưng bà Mít nói:

- Tôi cố thêm ít ngày nữa. Rồi về ở với chúng nó một thời gian. Ngoài giêng tôi mới ra. Bà cháu xa nhau lâu quá rồi. Lại còn phải cố mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mới mặc Tết.
Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại. Chị Sợi biết rằng có chuyện chẳng lành nhưng vẫn hy vọng được thấy dáng người nhỏ còng còng của bà trong tấm ni-lông vá víu chống gậy, khoác bị bước tới. Chị chưa chờ ai đến như vậy. Lo lắng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Chắc chắn bà Mít đã chết ở đâu rồi!
Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Rồi gấp những tờ giấy xi-măng, những túi ni-lông. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến.

Chị bảo anh:

- Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.

- Em biết quê bà ở đâu mà tìm?
- Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra. Hỏi dân. Hỏi tòa án.
Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó…"


Chị Sợi, anh què – cũng như bà Mít – cho đến lúc chết vẫn chưa có đêm nào ôm đàn ngồi hát, hay đổ ra đường nhẩy nhót nhộn nhịp, như những người dân ở Havana. Ngày cũng như đêm họ sống ẩn nhẫn, thầm lặng trong những con hẻm hôi thối luôn ngập ngụa phân người giữa lòng Hà Nội.
Chính ở những nơi tăm tối này, họ đã giấu kín được nguyên vẹn cái hồn của cả một dân tộc qua từng nhịp thở và nhịp đập của tim. Và tôi cũng cảm được cái hồn như thế, khi viết những dòng chữ này, dù nơi tôi đang sống cách xa Việt Nam hơn nửa vòng quả đất.
Sau khi đọc xong "Truyện không tên," tôi hỏi tìm số điện thoại của tác giả và gọi cảm ơn ông đã mở cho tôi thấy cái hồn của dân tộc Việt. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời của chị Sợi, theo như lời chính chị tâm sự – thế thôi.
Chị Sợi, anh Què vẫn còn đang sống tại Hà Nội. Nơi đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay gặp một ông (hoặc một bà) tiến sĩ. Đôi khi, chúng ta cũng gặp được cái hồn của mảnh đất này nhưng không có cơ duyên để nhận ra được, thế thôi.
 ***

LIÊN THÀNH * TRỊNH CÔNG SƠN


Liên Thành trả lời một số thắc mắc trong bài về TCS
Đã có một số đọc giả góp ý cũng như thắc mắc sau loạt bài về TCS, vì thế tôi xin chính thức phúc đáp như sau:
Bài giải trình của tôi, với tư cách là một cựu trưởng ty CSQG Thừa Thiên Huế, nói về một ổ CS nằm vùng lớn nhất, nguy hiểm nhất, gây tác hại nhất cho Miền Nam, trong đó có đề cập nhiều về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của mạng lưới này, được viết theo lối vừa kể chuyện, vừa mang tính “phúc trình của cảnh sát”, thật tình không ngờ lại gây ra nhiều câu hỏi tùm lum như thế!.

Tôi không phải là cây viết chuyên nghiệp, một gã “vừa cò vừa lính” kể chuyện, nghĩ sao viết vậy, chỉ muốn kể lại một sự thật. Cho nên, thiếu sót và không rõ ràng là chuyện tất nhiên. Đã có vài câu hỏi hoặc ý kiến mang tính mĩa mai xách mé, cố phủ nhận vấn đề. Nhưng cũng có rất nhiều câu hỏi đứng đắn rất đáng trân trọng. Quả tình khi viết, tôi đã không nghĩ ra được điều là tôi đang viết lại một câu chuyện tình báo cho công luận, chứ không phải là đang làm phúc trình cho một cơ quan tình báo của chính phủ. Vì bài viết khá ngắn gọn cho một câu chuyện dài dòng, nên đã gây ra những thắc mắc chính đáng, và cũng tạo cơ hội cho những ai thích bắt bẽ kiếm cớ.

Điều chính yếu là, đây là những dữ kiện thật, có liên quan đến một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà tôi lại là người nằm sâu trong cuộc, ngay trong cái nôi đã đẻ ra nó, nên bổn phận của tôi là phải mở nó ra, để những người viết sử có thêm dữ kiện và rút ra bài học cho hậu thế. Để làm vấn đề được hiểu một cách đơn giản và dễ dàng, trong bài này, chúng tôi sẽ cố gắng đề cập sơ về một vài nguyên tắc sơ đẳng trong tình báo của mọi phía, cộng sản cũng như quốc gia dân chủ, nhằm hy vọng là những bài viết sau, tôi sẽ không bị lập lại những chất vấn cũ, hoặc giả những ý kiến hay câu hỏi mang tính xách mé chợ búa, làm tốn thì giờ người đọc.

Và điều quan trọng nhất là, những nguyên tắc này có thể hữu ích cho những ai đang và sẽ tham gia các công việc nhằm dân chủ hóa đất nước, rút ra những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động, tránh bớt những sơ xẩy vô vàn đáng tiếc. Bên cạnh đó là nội gián nội thù, một vấn đề muôn thuở của tình báo, mà đã làm hủy hoại đi những tài năng của đất nước, như chuyện vừa mới xãy ra cho Luật sư trẻ Lê Công Định.
Đáng lý việc TCS phải đưa ra ánh sáng sớm hơn, thời điểm nầy đưa ra là quá chậm.
Tự cổ chí kim cái gì thuộc về Tình báo, tức thuộc về bí mật, thuộc về im lặng. Những ngừoi làm nghề nầy họ thường sống để bụng, chết m an g theo không bao giờ hở môi tiết lộ một điều gì cả. Tại sao? An ninh quốc gia. An ninh cho bản thân. An ninh cho đồng đội. An ninh cho những kẻ cộng tác với mình. Luật pháp quốc gia đã quy định, và có rất nhiều trường hợp đến ba hoặc bốn nưoi năm sau chính phủ mới giải mật một số hồ sơ hoặc cá nhân nào đó.
Sau 1975 Việt nam Cộng Hòa không còn nữa, tuy nhiên vì an toàn cho đồng đội và những tình báo viên, mật báo viên còn kẹt lại trong vùng địch kiễm sóat nên không thể tiết lộ. Đó là đạo đức tối thiểu phải có của một ngừời rất bình thường như tôi.
Tại sao không dám viết khi TCS còn sống? Liên Thành muốn nỗi tiếng?
Cá nhân tôi khi viết về những gì tôi biết về TCS vì những lý do sau đây:
Tôi không muốn m an g tiếng “tiếng bất nghĩa, hoặc vì lười, hoặc vì sợ mà không nói ra sự thật. Và cũng không muốn để những ai đã thương, ghét, TCS ở trong tình trạng mù mờ về mọi phương diện của cuộc đời TCS, trong khoảng thời gi an mà quốc gia, và đặc biệt là xứ Huế, trãi qua nhiều khổ nạn, xuất phát từ Đảng Cộng Sản VN, từ những kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt tu hành như Trí Qu an g, Đôn Hậu.
Viết về TCS để mọi người cùng nhìn thật rõ TCS là ai? quốc gia? Cộng Sản, nhân cách thật, con người thật, và cũng để làm rõ hơn những nhận xét của bằng hữu đối với TCS, nhất là nhận xét của Trịnh Cung, Đặng văn Âu, và vài người bạn của TCS nữa, rôi quý vị tự chọn cho mình một thái độ.
Có người cho là tôi muốn bôi nhọTCS để nỗi tiếng.
Có cần bôi nhọ thêm TCS nữa hay không? Vì tỵ hiềm, vì g an h nghét TCS? Thành thật mà nói, quan hệ cá nhân giữa tôi và TCS, nếu không đề cập tới lý tưởng và quan điểm chính trị, tôi và TCS không hề có oán thù cá nhân. Tôi cũng đã từng giúp TCS và gia đình TCS bằng cách lờ đi một số việc mà khó nói ra để gia đình TCS sinh sống. Ngoài ra, tôi còn là bạn của Trịnh Công Hà, chúng tôi là bạn võ sinh, thường xuyên tập Judo chung với nhau.
Tôi cũng không có thói quen ganh ghét, tỵ hiềm bất cứ ai, nhất là thuộc cấp của mình.
Còn nói bám vào TCS để nỗi tiếng.
Xin hỏi, bám vào TCS để nỗi cái “tiếng”gì? Tôi xuất thân là cháu đích tôn đời thứ 7 của Gia Long Hoàng Đế, dòng Đông Cung Thái Tử Cảnh, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bà nội tôi là cháu ngoại vua Thiệu Trị, chị của Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Nhân cách và lòng yêu nước của tiền nhân tôi không đủ cho tôi “nhờ vả” hay sao, mà phải nhờ vào nhạc sĩ nằm vùng TCS để nỗi tiếng? Tôi nói vậy thì thế nào cũng có điều tiếng rằng tôi là gã khoe khoang. Không sao cả, còn hơn là bị sĩ nhục ăn theo tên nhạc sĩ mất tư cách Trịnh Công Sơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sĩ nhục truyền thống gia đình tôi. TCS là thiên tài của ai cũng mặc kệ, nhưng nhất định không phải là thiên tài của tôi. Vả lại, nếu không biết thì thôi, còn đã biết rõ TCS như thế, liệu ai có can đảm để đứng gần TCS không? nói chi đến “nỗi tiếng”? Ngoài ra, có một kiểu nỗi tiếng nữa, mà tôi cùng rất nhiều bạn đồng ngũ đã nỗi tiếng, đó là “nỗi tiếng bỏ chạy” trước đồng đội. Cái nỗi tiếng này đã quá đủ để suy ngẩm đến cuối đời rồi, có cái nỗi tiếng nào mà có thể xóa được cái nỗi tiếng này không? cần thêm nữa không?
Những bắt bẻ sao đợi đến bây giờ mới nói ra? Dám nói ra khi TCS còn sống không? Đợi TCS chết, rồi muốn nói sao thì nói? Rõ ràng là muốn ăn theo, muốn nỗi tiếng qua bài viết có tính cách nhục mạ một “thần tuợng, thiên tài”!
Thật tình mà nói, cho dù là không có kiến thức tình báo, nhưng những điều trong cuộc sống hàng ngày cũng đủ cho mọi người hiểu một cách sơ đẳng là, giả sử tôi công bố điều này lúc TCS còn sống, thì hậu quả gì sẽ xãy ra cho đương sự và những người có liên quan đã cung cấp những tin tức về TCS cho tôi mà vẫn còn ở lại VN? Quý vị không tin tôi, nhưng Công An CSVN sẽ tin, và cơ quan tình báo nước ngoài tin tôi. Lý do chất vấn thì chỉ là một tiểu tiết nông cạn, rồi cho là toàn bộ dữ kiện tôi đưa ra là không đúng, thì quả là chỉ muốn kiếm cớ phủ lấp mà thôi. Và cũng kiểu lý luận sờ voi như thế, thì lịch sử kiểu này chỉ là lịch sử của người sống? Người chết kể như xù?
Lý do mà tôi không thể công bố vấn đề TCS hoạt động 3 mang, khi đương sự còn sống, thì tôi đã nói ở trên, xin được nhắc lại một lần nữa. Thật ra, bất cứ ai là dân tình báo như tôi, đều hiểu ngay là tại sao như thế, mà không cần một lời giải thích nào. Tình báo có luật của tình báo. Nó căn cứ trên lương tâm, đạo đức và trách nhiệm đối với những người khác có liên quan, đã cung cấp thông tin cho CSQG vẫn còn ở lại VN.
Ai có thể bảo đảm rằng TCS ko bị bắt nếu như tôi công bố rằng TCS đã từng hoạt động 2 mang cho tôi và tình báo ngoại quốc? mà hậu quả kéo theo những người khác nữa? Không gì có thể đặt trên tính mạng và an nguy của họ được. Câu chuyện mà chánh văn phòng cựu phó TT Mỹ Dick Cheney, Lewis “Scooter” Libby tiết lộ danh tính một điệp viên CIA, bà Valerie Plame, mặc dù đã được cho là” “degrade” đã gây rất nhiều sóng gió, hẳn quý vị còn nhớ? Tiện đây, Liên Thành tôi có đôi lời “tâm sự lòng thòng” dưới đây, để trả lời cho những kẽ cho là TCS quá nỗi tiếng, quá thiên tài, nên tôi muốn ăn theo
Tôi rời đất nước ngày 30/4/75, bước vào tuổi 33. Với cái tuổi này, biết bao nhiêu thanh niên trong nước, bao nhiêu quân nhân còn ở lại, lặng lẽ đi vào “chiến khu” với một tương lai đầy nguy hiểm và vô định : không lương tháng, không vũ khí quân trang quân dụng? không lương thực, đói khát! Không còn chính phủ, không còn tổ chức, nhưng họ vẫn liều mạng với một tương lai vô định. Vì sao vậy? Họ mơ uớc điều gì? Hoài vọng điều gì?
Họ chiến đấu cho ai? Kết quả là những cái chết âm thầm nơi rừng thiêng nước độc, hay những bản án tử hình, những năm tháng tù đày suốt cả đời người! Vì sao những anh hùng vô danh này làm như vậy? Phải chăng là vì họ không thể nào chấp nhận được một thực tế là Miền Nam đã rơi vào tay CS? Đó là một niềm đau, một niềm uất nghẹn không thể chịu đựng được?
Chúng tôi, mỗi người chọn một con đường, con đường tôi đi là con đường hèn, nhưng niềm đau thì giống như nhau như đúc. Đau không thể chịu đựng được, đau vô bờ!
Tôi sang Mỹ, chôn chặt tất cả trong lòng, khóa kín nó lại, không dám nghĩ tới chuyện 30/4. Vẫn mơ mơ tỉnh tỉnh. Thật hay mộng đây? Những đêm mơ cố quận, đến khi tỉnh giấc, thật hãi hùng! Tôi lao vào mưu sinh, và cố gắng cho xong 4 năm đại học, để vừa như là một liều thuốc lãng quên ,vừa là có cái nghề nuôi bầy trẻ. Vừa làm 2, 3 job, vừa đi học.
Nhọc nhằn tất bật để không có thời gian cho quá khứ hành hạ. Chuyện cũ vẫn cố đào cho sâu mà chôn nó đi theo ngày tháng. Nhưng nặng nề quá! khó quá! Qua tuổi lục tuần, về hưu, la cà bè bạn. Ngồi kể chuyện cũ với dăm ba thằng bạn lính, tụi nó há hốc mồm. Không ngờ chuyện tồi tệ đến vậy. Có thằng hỏi tôi, mày dám viết không? Dĩ nhiên là viết, chuyện thật có gì không dám? Chuyện láo mới không dám ! Vả lại ,nhân chứng sống vẫn còn đây. Trên 5000 nhân viên Ty CSQG cùng chia bùi xẽ ngọt với tôi,một số còn kẹt lại VN, một số lưu lạc khắp nơi, nhưng ít ra cũng còn khoảng 3000 rãi rác đầy thế giới.
Lý do cuốn sách Biến Động Miền Trung ra đời là như thế. Càng viết, tôi càng thấy nhẹ người. Cuốn sách với tôi thật sự là một giải thoát!
Vấn đề Mậu Thân 1968
Tháng 5 năm 1967, HCM chủ tọa phiên họp của Bộ CT trung ương đảng CS Việt Nam để duyệt xét tình hình và kế hoạch cho chiến dịch đông xuân 1967-1968. Kế tiếp, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, tại phiên họp của bộ chính trị, thay mặt Quân ủy trung ương, Tướng Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo chiến dịch Đông-Xuân -Hè 1967-1968. Bộ CT quyết định mở cuộc tổng CK, tổng nỗi dậy vào đúng Tết Mậu Thân 1968.
Như vậy cuộc TCKT nỗi dậy đã được bọn chúng quyết định vào tháng 10/1967, để đánh lừa và tạo bất ngờ, HCM tráo trở đề nghị hưu chiến 7 ngày trong dip tết Mậu Thân, nhưng chính phủ VNCH chỉ đồng ý 3 ngày mà thôi.
Những hoat động của VC được cơ qu an tình báo CSQG Thừa Thiên Huế ghi nhận trước cuộc Tởng Công Kích, Tổng nỗi dậy tai Thừa Thiên Huế:
1- Tình báo Kỷ thuật.
Khoảng từ ngày 10 tháng 12 /1967, gần 20 ngày trước cuộc tấn công, cơ qu an tình báo dân sự đồng minh đã có một lọat không ảnh chụp được tại những vùng núi phía tây thành phố Huế: Như thượng nguồn sông Bồ, Khe Trái, động Chuối, sông Hữu Trạch, phát giác một số lượng đông đảo các lực lượng quân sự của VC đ an g tập trung tại các vùng trên. Tin tức tình báo kỹ thuật cũng nghi nhận một số điện đài quân sự địch đ an g họat động liên tục tại vùng nầy.
Tôi đã được cơ quan tình báo dân sự đồng minh thông báo đầy đủ. Đồng thời họ cũng đã yêu cẩu tôi xử dụng lực lượng tình báo cơ Hữu CSĐB để phốii kiễm và xác nhận thêm các tin tức trên.
2- Mười toán tình báo của 10 quận thuộc tỉnh Thừa thiên từ phía bắc là quận Phong Điền, xuống tận phía nam là quận Phú Lộc, đều báo cáo về BCH tỉnh những tin tức tương tự giống nhau: Dân chúng trong những vùng C,D,F ( lượng giá tình hình an ninh) đều được cơ sở VC địa phương thông báo: Mọi gia đình trong vùng đều phải mua trữ lương thực, dự trử thuốc men, chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn sắp xãy ra.
3- Một số cán bộ cộng sản từ cấp huyện trở lên cũng đã được lệnh rời khỏi địa bàn hoạt động lên mật khu hội họp.
Tại thành phố Huế có 8 chi bộ đảng cộng sản và 80 cơ sở đảng bí mật có những họat động khác thường, bon chúng tiếp xúc với nhau thường xuyên hơn. Tại các trạm giao liên nội thành có rất nhiều kẻ lạ xuất hiện.
4- Nhiều cơ sở qu an trọng nội thành được điều lên mật khu hội họp do Khu Ủy Trị Thiên tổ chức. Bọn họ rời thành phố lên Mật khu họp vào đầu tháng 12/1967 và trở về lại thành phố Huế vào khoảng 20 tháng 12/1967.
Đương nhiên, trong số những cơ sở lên họp tại mật khu có cơ sở nội tuyến của chúng tôi. Vì vậy, khi họ trở về chúng tôi nhận được báo cáo của họ như sau:
Khóa học tập này có khoảng 300 cán bộ và 130 cơ sở nồng cốt nội thành. Nội dung học tập là phương thức phát động quần chúng nỗi dậy tại nông thôn và đô thị. Nhiệm vụ của họ là sau khi trở về địa bàn họat động là thành lập các đội công tác làm nòng cốt phát động quần chúng tổng nỗi dậy khởi nghĩa.
Cũng cần nói rõ thêm trong số những cơ sở nội thành được điều lên mật khu có cả Giáo sư Lê văn Hảo, và một số sinh viên đại học Huế, bọn chúng là cơ sở nội thành VC.
Điểm chính và rất qu an trọng là chúng tôi phát hiện hầu hết các thành phần thân cận tr an h đấu của Thích Trí Qu an g vào năm 1966 đào thoát lên mật khu, nay trong những ngày cận Tết đã đột nhập trở lại, trú ngụ tại các căn cứ lõm của bọn chúng trong thành phố Huế. Căn cứ vào những sự việc vừa nêu trên, cộng thêm một số dữ kiện khác, chúng tôi, cơ qu an tình báo CSQG của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế và cơ qu an tình báo dân sự Hoa kỳ sau khị nhận định lượng giá đều đi đến một kết luận chung là.
Việt Cộng sẽ tấn công Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968.
Câu hỏi được đặt ra, tại sao tin tức tình báo của các cơ qu an tình báo VNCH và đồng minh đầy đủ như vậy mà thảm họa vẫn xãy ra cho Huế. VC tấn công và chiếm giữ Huế 26 ngày kể từ 2 giờ 33 phút sáng, rạng ngày 2 Tết Mậu Thân 1968, tàn sát 5327 thuờng dân vô tội và bắt dẫn đi mất tích 1200 ngừời?
Có những điều sau đây để có thể lý giải một phần nào:
- Bản chất người quốc gia quá thiệt thà lương thiện, bị HCM và đảng Cộng Sản phỉnh gạt, hưu chiến 3 ngày. Chính quyền Miền Nam cũng như đồng bào Miền Nam đã không thể tưởng tượng nỗi rằng, cộng sản lại chọn ngày tết để chém giết đồng bào, vì dù sao chúng cũng là con người. Ai có thể ngờ những giờ phút thiêng liêng đầu năm của toàn dân tộc, dành để cúng giỗ ông bà, nhớ ơn tiền nhân, mà chúng lại nỡ đang tâm làm chuyện sát hại sinh linh vô tội.

Chính quyền Miền Nam lúc ấy vẫn còn nghĩ là bọn CS không đến độ man rợ mất hết lương tri như thế. Cho nên, Miền Nam đã bỏ ngỏ tết Mậu Thân. Lợi dụng sự lương thiện của Miền Nam , chúng đã phát động chiến tranh và tàn sát đồng bào cùng màu da tiếng nói. Chúng dùng mọi thủ đoạn, nhất là khủng bố bằng máu để thắng hôm nay, nhưng muôn vạn đời sau, mỗi độ tết về, lịch sử lại nhắc rằng, bọn Cộng Sản Việt Nam đã lường gạt để cuồng sát đồng bào ngày tết Mậu Thân .
- Các cấp chỉ huy Quân sự vô trách nhiệm, hoàn toàn không có kế hoạch phòng thủ cho Huế.
- Quân số và lực luợng không đủ để phòng thủ khi bị địch tấn công, vì đã cho quân nhân, cảnh sát xã trại năm mưoi phần trăm nghỉ Tết
Và qu an trọng nhất là tin tức tình báo từ lực lượng CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một phúc trình rất đầy đủ, đích thân tôi đưa lên cho trưởng ty, đã bị ém nhẹm. Lý do: trưởng ty CSQG Đoàn công Lập lại là nội tuyến nằm vùng, hoạt động cho Hoàng Kim Loan. ĐCL lập luận là loan tin đi chỉ sẽ làm kinh động dân chúng, chắc gì có thật. Trong thời gian làm phó ty, cá nhân tôi thấy Đoàn Công Lập có những hành tung và cách xử sự rất đáng ngờ.
Sau đó cơ quan Tình Báo Dân Sự Hoa Kỳ có cho tôi hay là họ đang theo dõi Đoàn Công Lập, đương sự có những hoạt động nội tuyến. Từ đó tôi theo dõi hắn rất sát. Và hình như hắn cũng biết là tôi đang nghi ngờ hắn. Chúng tôi và cơ quan tình báo dân sự Hoa Kỳ đang phối hợp theo dõi để lấy thêm bằng cớ phúc trình lên trung ương, thì lại xãy ra biến cố Mậu Thân. Đêm 30 tết chính Đoàn Công Lập đã mưu sát tôi bằng cách ra lệnh cho tôi vào dẫn một đơn vị CSDC đến quận Nam Hòa vì ĐCL cho có một toán du kích sẽ đến đó.

Bụng đã nghi ngờ Đoàn Công Lập, cho nên tôi rất cẩn thận. Khi tôi và 6 anh em nữa đến đó, thì không phải là một tiểu đội mà là một tiểu đoàn địch đang di chuyển. Nếu chúng tôi không nín thở nằm im, thì giờ này tôi và 6 anh em CSQG đã xương tàn cốt rục. Khi tôi trở về báo cho ông ta biết là không phải một toán mà là một tiểu đoàn, ông ta không phản ứng gì, chỉ hỏi “Sao anh không nổ súng?” Tôi trả lời “ Nếu hồi đêm tôi nổ súng thì giờ này đâu gặp ông trưởng ty được nữa”.
Vì tình hình quá sức khẩn cấp nghiêm trọng, tôi, theo nguyên tắc không được vượt quyền Đoàn Công Lập, đã vượt rào gặp Tỉnh Trưởng Thừa Thiên lúc đó là Trung Tá Phan Văn Khoa…để cố thuyết phục ông ta nên có kế hoạch chống đỡ tối thiểu, còn nước còn tát. Nhưng ông ta, không chú ý gì đến bản phúc trình của thằng trung úy quèn tôi cả, chỉ ừ hử qua chuyện. Kết quả:
Rạng sáng ngày mùng hai tết Mậu Thân, lúc 2 giờ 33 phút sáng là giờ khởi đầu của 624 giờ địa ngục. Năm giờ 30 sáng, lờ mờ bóng quân đội nhân dân giải phóng trong thành phố. Sáu giờ sáng, quốc kỳ VNCH không còn trên kỳ đài Phú Văn Lâu, thay vào đó là cờ của lực lượng Liên minh Dân tộc, Dân chủ, Hòa Bình do ông Lê văn Hảo làm chủ tịch, ông Thích Đôn Hậu làm phó chủ tịch, gồm 2 mảnh màu xanh nhạt, ở giữa là màu đỏ sao vàng, không phải là cờ của MTGPMN.
Bảy giờ sáng, Việt Cộng bắn xối xả vào đoàn dân chúng hốt hoảng chạy nạn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi. Dân chúng chạy trốn vào nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, trường trung học Gia Hội ,trường tiểu học Kiểu Mẫu, trường trung học, Thiên Hựu, chùa Diệu Đế, chùa Vàng, số còn lại trốn tại nhà. Dân quận I thì chạy về Cầu Kho , Mang Cá, nơi có BTL sư đoàn I để tìm sự bảo vệ. Suốt 2 tuần từ mùng hai tết, trời u ám , mây xám đặc phủ cả thành phố. Huế trong cơn mưa lạnh giá buốt và trong nỗi sợ hãi rúng động kinh hoàng. Trong khi lực lượng quân sự cộng sản tấn công những vị trí quan trọng trong thành phố, thì bộ phận an ninh chính trị của quân khu Trị thiên và tỉnh ủy, thị ủy Thừa Thiên Huế bắt đầu cuộc tắm máu tàn sát dân lành.
Mùng 3 tết, Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế, bắt đầu thi hành nghị quyết ngày 21/1/1968 của trung ương đảng, chỉ thị cho Trung Uơng cục Miền Nam, khu ủy khu 5, khu ủy Trị Thiên, Phạm Hùng, Võ Chí Công, và thiếu tướng Trần văn Quang, tư lệnh mặt trận Trị Thiên. Nghị quyết gồm 3 điểm;
1/ Kêu gọi tổng nội dậy, thành lập chính quyền cách mạng
2/Thành lập mặt trận Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình
3/ Lùng diệt truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ngụy, thành phần làm tay sai cho Mỹ, CIA
Hầu hết đám nằm vùng theo Thích Trí Quang bao gồm giáo sư, sinh viên thanh niên tranh đấu đã thoát lên mật khu sau biến động 1966, nay trở về, đảm nhiệm phần nòng cốt cho các vai trò trên, đặc biệt là vai trò truy quét diệt thành phần Mỹ Ngụy ác ôn.
Chính quyền cách mạng được thành lập như sau: Lê văn Hảo: chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố. Lêvăn Hảo là thành phần tranh đấu Phật Giáo năm 1966 bị bắt, được Đoàn Công Lập trả tự do, cán bộ trí vận. Cán bộ điều khiển y là Hoàng Kim Loan. Phó chủ tịch UBNDCM là Đào thị Yến tức Tuần Chi, hiệu trưởng trường Đồng Khánh, tình nhân của Thích Đôn Hậu, cán bộ trí vận, HKL điều khiển thị. Đồng phó chủ tịch là thường vụ thành ủy Hoàng Phương Thảo.
Chủ tịch UBNDCM quận I là Nguyễn Hữu Vấn, GS trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ. Chủ tịch UBNDCM quận II là Nguyễn Thiết. Y vượt tuyến vào Nam 1957, là cơ sở nằm vùng rất lâu ở Huế, SV luật khoa, thành viên BCH tổng hội SV đại học Huế. Quận III chưa tổ chức kịp nên Bảy Lanh, trưởng ban an ninh thành ủy đảm trách.
Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình: Vẫn Lê văn Hảo làm chủ tịch. Phó chủ tịch là Thích Đôn Hậu, tình nhân của Tuần Chi. Tổng thư ký: Hoàng P N Tường. Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách thanh niên SVHS.
Trách nhiệm truy quét ác ôn Mỹ Ngụy được thực hiện như sau:
Nhiệm vụ thi hành bạo lực cách mạng được thực hiện bởi các “đội tự vệ khu phố”, do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy, dưới sự điều khiển chỉ dạo của lực lượng an ninh quân khu và tỉnh. Gồm các cơ sở nằm vùng rất bí mật trong nội thành, các thành phần trong phong trào Phật Giáo đấu tranh thoát ly lên mật khu sau biến động miền trung 1966, lực luợng HSSV giải phóng thành phố Huế. Các đội tử thần này rãi đều khắp 3 quận, là lực lượng sát máu và tàn bạo nhất, hơn hẳn Hồng Vệ Binh. Ngoài NĐX, Chủ tịch quận I Nguyễn Hữu Vấn, quận II Nguyễn Thiết, tổng thư ký HPNT và HPNP, Hoàng văn Giàu, Nguyễn thị Đoan Trinh là những thành phần chủ chốt sát máu nhất của các đội này.
Các đội tử thần này rãi đều trên các quận, chúng đi từng nhà, vừa đe dọa, vừa lục soát, vừa bắt những ai có trong sổ đen. Chúng chia làm 3 đợt. Chúng dụ địch, những ai tự ý trình diện giao nộp vũ khí trong đợt 1 và 2 đều được chúng cấp giấy khoan hồng cho về. Thấy vậy, nhiều người trốn tránh trong 2 đợt kia liền ra trình diện. Sau đợt 3, chúng tóm gọn cả 3 đợt, yêu cầu đi họp tập tại các địa điểm mà chúng quy định. Tin tưởng như các lần trước, đi rồi lại về, mọi người kéo nhau đi. Và họ đã đi mãi không trở lại. Tất cả đã chết, tất cả đã bị bọn nằm vùng và cộng sản dùng vật cứng đập đầu rồi chôn sống, lấp xuống hầm sâu hố cạn, vài nơi thì trong thành phố, hầu hết là ở các quận vành đai.
Tổng cộng có cả thảy 26 hố chôn tập thể. Hố ít nhất 3 người, trung bình là 400 người, đông nhất là 800 người. Tôi cố gắng tóm tắt để trả lời quý vị. Muốn hiểu rõ danh sách đầy đủ hơn của bọn nằm vùng, chúng hoạt động chi tiết ra sao, những viên chức chính quyền, những quân nhân bị giết, giết như thế nào v.v xin xem trong cuốn Biến Động Miền Trung tôi ghi khá đủ, như phúc trình của cảnh sát vậy
Kết quả là Huế điêu tàn đổ nát, 5327 đồng bào vô tôi bị giết, 1200 người bị dẫn đi mất tích, khăn tang trắng ngập cả Cố Đô. Ngoài lực luợng chính quy CS Bắc Việt, những tay đại đồ tể nỗi cộm nằm vùng người Huế đã trực tiếp bắn, giết, đập đầu, chôn sống đồng bào gồm có: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Thiết.
Riêng nữ sinh Nguyễn thị Đoan trinh, con gái Nguyễn Đóa, y thị vô cùng tàn bạo sát máu. Y thị cỡi Honda, mang AK, chận hỏi mọi người, bất kỳ ai trả lời là lính, cảnh sát, nhân viên chính quyền là y thị nổ súng bắn chết ngay. Nhưng trời cao đôi khi không có mắt, y thi hiện nay vẫn sống chễm chệ trên tội ác, trở thành nữ thương gia giàu có tại Sài Gòn…
Tóm lại, chịu trách nhiệm không bảo vệ được đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân là chính quyền VNCH các cấp, trong đó có cả tôi.
Còn thủ phạm tàn sát là đảng CSVN, tất cả các nhóm tranh đấu nằm vùng. Và trách nhiệm cũng thuộc về nhóm Phật Giáo Ấn Quang như các ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu đã gây dựng cơ sở cho cộng sản, tạo mọi điều kiện cho chúng tràn vào Huế. Tuy các ông không tự tay tàn sát đồng bào như bọn cộng sản và đám Hoàng phủ, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết, nhưng các ông đã ủng hộ và đồng lõa, giúp tạo nên biến cố lịch sử thê thảm này….
Sau Mậu Thân, tỉnh trưởng Phan văn Khoa bị cách chức trả về quân đội. Đoàn Công Lập bị bắt. Trung Úy Trương Công Ân là người thụ lý hồ sơ ĐCL, hiện đang ở Orange County

Trả lời câu hỏi: Sau 1975 Đoàn Công Lập cựu Trưởng Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế trốn tránh VC tại Sàigon cho đến ngày bị bệnh qua đời. Như vậy Ông Đò an Công Lập có phải nội tuyến hay không?
Đây là câu hỏi của một vị thầy giáo(?) đã dạy kèm cho con ông Lập tại Huế. Sau 1975 đã được Đoàn Công Lập che chỡ trốn tránh tại Sài gòn, như vậy Đoàn Công Lập khó có thể là CS
Trong lịch sử tình báo, thật tình có nhiều chuyên không ngờ. Việc xãy ra vậy mà thực chất bên trong không phải vậy.
Xin đưa ra một vài vụ điển hình:
- Trong thời đệ I Cộng hòa, Ông Phạm Ngọc Thảo về hồi chánh đã cung cấp cho CP/VNCH nơi trú đóng của trung đoàn Quyết Thắng VC, Quân lực VNCH liền mở cuộc hành quân tiêu giệt gần trọn Trung đoàn nầy. Sau vụ nầy Ông Thảo đã tạo được lòng tin của chính phủ VNCH ông ta đã duợc nâng đỡ l an đến chức Tỉnh Truởng và cấp bậc cuối cùng là Trung Tá QLVNCH. Sau 1975 sự việc trung đoàn Quyết thắng mới một phần nào lộ ra ánh sáng:
Hầu hết cán binh của trung đoàn này là thương phế binh, bọn VC thí đám tàn binh này, để Phạm Ngọc thảo dùng làm món quà đầu thú, tạo niềm tin với chính phủ VNCH. Một công hai việc, vừa tẩy trừ gánh nặng thương binh, vừa cài được điệp viên trong lòng địch. Sau 1975 Phạm Ngọc Thảo được phong là liệt sĩ. Đây có thể được gọi là “khổ nhục kế” mà tình báo từ ngàn xưa đã áp dụng
- BTL/ CSQG tại Sàigòn cũng đã bị VC đặt chất nổ. Báo chí Sài Gòn hồi đó đã chê bai lực luợng CSQG là bất lực. Nhung họ đâu ngờ rằng để bảo vệ Tình báo viên nội tuyến của mình , BTLCSQG buộc lòng cho nổ theo lệnh của VC
- Cá nhân tôi sau khi trình bày đầu mối xâm nhập và được phép Đại Tá Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, tôi đã vẽ sơ đồ xã Thủy An cho Đặc Công VC tấn công.
Với 3 ví dụ trên cho thấy việc Ông Đoàn Công Lập bảo vệ người thầy giáo chạy trốn cộng sản tại Saigòn thấy vậy, mà không phải vậy. Rất nhiều an h em bị bắt tại Sài Gòn là do ông lập chỉ điểm. Vụ kêu gọi an h em tham gia kháng chiến hẹn gặp tại xa lộ Đài Hàn để lên mật khu là do ông Lập dàn dựng. Tất cả đã bị Công An đợi sẵn và bắt trọn gói. Liên hệ với tình hình hiện tại, đó là việc tất cả hình ảnh thu thập được khi Ls Lê Công Định sang Thái Lan tiếp xúc với Nguyễn Sỹ Bình và “đại diện” Đảng Việt Tân để học tập về phương pháp đấu tranh bất bạo động do một chuyên viên từ khối Đông Âu sang giảng dạy.

Theo nghề tình báo, chúng tôi phải đặt nghi vấn thủ phạm gài bẩy trước tiên phải là những người có mặt trong các cuộn phim tang chứng, rồi mới đến những nghi can khác. Chuyện chuyên viên Đông Âu, nghe qua, rõ ràng là một “brand name”, dĩ nhiên tạo được niềm tin cho những người đang mong mỏi dân chủ cho đất nước ngay tức thì, vì đó là cái nôi của việc lật đổ Cộng Sản. CS đã sử dụng nó để quyến rũ những trái tim nhiệt huyết nhưng hơi nhẹ dạ như LCĐ.

Chuyện “đại diện” Việt Tân thì quá dễ dàng nhanh chóng kiểm chứng được là Việt Tân giả hay thật. Vấn đề Nguyễn Sỹ Bình bằng xương bằng thịt thì không thể gọi là Nguyễn Sỹ Bình giả được. Chuyện soạn thảo Hiến Pháp cũng là do chính y mớm lời và gài cho LCĐ sửa chửa, và còn nhiều rất nhiều chuyện nữa. Khi những thước phim đầy đủ việc gặp gỡ, trao đổi được đưa ra, làm sao LCĐ có thể phủ nhận?
Việc dàn dựng Việt Tân giả nhằm hai mục đích: dụ dỗ những người nhẹ dạ có tâm huyết trong nước, ..........
Riêng việc chọn lựa Nguyễn Sỹ Bình làm con mồi dụ địch thì nguyên tắc bắt buộc mà Cục Tình Báo Hải Ngoại của CS phải chọn, ứng viên phải là người có thành tích chống cộng ở tù cộng sản v.v.Càng chống cộng có bản án ở tù nhiều chừng nào, tốt chừng ấy. Đó là phương pháp “khổ nhục kế” mà tình báo tự cổ chí kim ai ai cũng đều áp dụng. Chúng tôi và cộng sản đều áp dụng rất nhiều. Chiêu nầy nó rất cũ rích, nhưng vẫn rất hiệu nghiệm trong quá khứ, bây giờ, và mãi mãi .
Mong mọi người phải vô cùng cảnh giác. Việc dàn dựng lên các đảng phái chống cộng để bắt người mưu đồ chống cộng là điều đương nhiên cục tình báo CS quốc nội và hải ngoại bắt buộc phải làm. Chúng tôi, những người làm nghề tình báo, rất thuần thục trong vấn đề cài người và sử dụng khổ nhục kế, dễ dàng nhận thấy hiện nay có ít nhất 3 đảng chống cộng trong và và ngoài nước là do Công An Cộng Sản cò mồi dựng nên. Cha Lý, Công Nhân và Nguyễn văn Đài đã rớt vào cái rọ. Trong phạm vi bài viết này, tôi không thể phân tích đầy đủ tại sao tôi kết luận như thế. Xin hẹn dịp khác
- Bửu Chỉ là ai?
Đó cũng là một chuyện thấy vậy mà không phải vậy. Vì là bà con trong Hoàng Tộc nên tôi có thể nói rất nhiều về Bửu Chỉ, và Bửu Chỉ cũng đã mất vào ngày 14 tháng 12 năm 2002, nên xem như mọi việc làm của Bửu Chỉ phải được bạch hóa để trả lại danh dự, công bằng và những đóng góp của ông đối với quốc gia
Đầu tiên xin nói về cá nhân Bửu Chỉ:
Bửu chỉ thuộc dòng Tuy Lý Vuơng. Phụ thân của Bửu chỉ là Cụ Ưng Thuyên, cháu nội ngài Tuy Lý Vưong, chú ruột là thầy Ưng Quả, một người bạn rất thân với phụ thân của tôi. Cậu ruột là Nguyễn Dương Đôn, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục thời Đệ I Cộng Hòa.
Nói về cá tính và thói quen của Bửu Chỉ, cán bộ điều khiển NPLH hiện đ an g trú ngụ tại Cali , U.S.A. đã cho tôi biết như sau:
Sau 1975, Bửu Chỉ hút thuốc, uống rượu nặng, ham mê nữ sắc, nhưng lại thích sống cô độc. Mệ vì vậy mà sau 1975 đã ăn ở với vợ của Hoàng Phủ Ngọc Tường là Lâm thị Mỹ Dạ. Bửu Chỉ rất ghét xu nịnh
Bửu Chỉ học hội họa. Tr an h Bửu chỉ đẹp, bán rất đắt. Đã từng triễn lãm tại Pháp vào 1989. Vốn dòng dõi có truyền thống quốc gia yêu nước, Bửu chỉ ý thức được tai họa của chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi lại là họ hàng rất thân nhau, nên chuyện cộng tác vì lý tưởng chung là chuyện tự nguyện . Điều thuận tiện của Bửu Chỉ là bạn thân TCS, Đinh Cường và rất nhiều thành phần tranh đấu và đám SV cộng sản nằm vùng, lại tài giỏi, nên Bửu Chỉ đã dễ dàng thành công trong nhiệm vụ của một điệp viên quốc gia cài đặt trong mạng lưới nằm vùng.
TCS và Đinh Cường cũng như những thành phần hoạt động nằm vùng cho đến nay đều nghĩ 100% Bửu Chỉ là đồng bọn của họ. Thân với TCS và đám nằm vùng chỉ là nhiệm vụ, Bửu Chỉ là người quốc gia chân chính, đã đóng góp rất nhiều cho ty CSQG Thừa Thiên Huế trong việc phát hiện và theo dấu rất nhiều cơ sở nằm vùng, kể cả những hoạt động CS của TCS. Chính Bửu Chỉ là một trong nhiều nhân chứng đã khai và xác nhận là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngôì ghế ông tòa, chủ trì cái gọi là “ tòa án nhân dân” tại trường Gia Hội. Ông Tòa Tường đã ban lệnh xử tử 204 đồng bào vô tôi bằng cách đập đầu bằng vật cứng sau đó chôn sống tại một hầm tập thể cũng ngay tại trường Gia Hội.

Sáng ngày 26/2/1968 chúng tôi phát hiện ra hố chôn tập thể này. Tất cả điều mà Bửu Chỉ khai đều phù hợp với rất nhiều nhân chứng, trong đó có những thân nhân vợ con của ngụy quân ngụy quyền, ngụy cảnh sát bị hắn tuyên bố có nợ máu với nhân dân đã có mặt tại phiên tòa hôm đó, và cũng hoàn toàn phù hợp với báo cáo của thiếu úy Trọng, trưởng toán tình báo khu vực quận 2, và lời khai của trung tá tình báo CS Hoàng Kim Loan mà chúng tôi bắt sau đó vào mùa hè 1972.
Không như TCS, trái tim của Bửu Chỉ hoàn toàn dâng hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do chân chính. Bửu Chỉ chết đi, không thẹn với tổ phụ, với non sông
Tại sao không bắt đám nằm vùng và Trịnh công Sơn?
Điều mà tôi bị chất vấn, hay đúng hơn là bị kết án nhiều nhất là: tại sao TCS và nguyên một danh sách dài đám trí thức nằm vùng không bị bắt! Tôi có thể khẳng định một cách đơn giản như thế này: “Nếu cha tôi làm CS thì tôi cũng bắt!”
Và cũng để trả lời câu hỏi trên, tôi xin được hỏi ngược lại một câu: Chúng ta cần trốc cho tận gốc, hay chỉ cắt đi lớp cỏ bên ngoài? Để cho đám nằm vùng sinh sôi nẫy nỡ đến cỡ nào? lúc nào, và khi nào thì cần tóm gọn. Nên tóm những tên nào? Tên nào thì phải để lại cho nó thu hút những con ong chúa mới? Đó mới là việc mà giới tình báo chúng tôi phải suy tư tính toán.
Bài viết “TCS và những hoạt động nằm vùng” chỉ một bài viết ngắn, nói đến những hoạt động nằm vùng của đương sự và đồng bọn mà thôi. Cho nên chúng tôi không tiện trình bày diễn tiến sự việc, kết cục ra sao, như trong cuốn sách BĐMT. Ngắn gọn là, qua theo dõi nhóm nằm vùng này, chúng tôi đã tóm gọn trên 1500 cơ sở quan trọng nội thành nguy hiểm, đưa đi Côn Đảo, trong một chiến dịch thần tốc có tên là “Chiến dịch Bình Minh”. Chiến dịch thật sự bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng ngày 6 tháng 5 1972, nhưng trước đó 2 tiếng, để bảo đảm thành công trọn vẹn, chúng tôi đã quyết định bắt tên điệp viên chủ chốt nguy hiểm nhất, hắn là kiến trúc sư trưởng của toàn mạng lưới nằm vùng tại Huế và Miền Trung: Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan. Loan rất thông minh, hành tung xuất quỷ nhập thần.

Chúng tôi không thể để mất tên này. Hắn là cán bộ tực tiếp điều khiển Đôn Hậu, Trí Quang, thiết kế nên một mạng lưới nằm vùng tinh vi và chặt chẽ, dưới vỏ bọc rất tôn giáo: Phật tử tiểu thương chợ Đông ba, Học sinh sinh viên Phật tử. Rất nhiều lần Hoàng Kim Loan đã bí mật đến chùa Linh Mụ, Từ Đàm, gặp gỡ Đôn Hậu, Trí Quang. Chúng tôi theo dõi hắn và một số đồng bọn từ lâu. Và dĩ nhiên, chúng tôi muốn bắt hắn lúc nào mà chả được! Nhưng nếu làm như thế thì chỉ một vốn một lời. Chúng tôi muốn một vốn mười lời.

Chúng tôi cần bắt trọn ổ, chứ không phải là vài ba tên tép riêu, đụng đâu bắt đó. Muốn đạt được điều này, chúng tôi theo dõi cặn kẽ, dài ngày và một kế hoạch cài người tinh vi mà phải tốn rất nhiều thời gian để có thể tạo được sự tin tưởng của bọn CS. Điều này đòi hỏi kiên nhẫn, công sức, nguy hiểm, và sự hy sinh rất lớn lao, ngay cả tính mạng, nhưng rất âm thầm đơn độc của biết bao nhiêu nhân viên CSĐB cài vào những cơ sỡ nằm vùng Huế.
Tại sao chúng tôi chọn thời điểm ngày 6/5/1972? Sở dĩ như vậy là vì tình hình Huế lúc đó đang hết sức nguy ngập. Chúng tôi đánh giá là kể từ ngày 6/5/72 trở đi, Việt Cộng có thể khởi động một cuộc tổng nổi dậy như tết Mậu Thân một lần nữa, bất cứ lúc nào, để tạo sức mạnh cho Hiệp Định Paris . Nên điều tối cần thiết là phải ra tay tóm ngay những thành phần nguy hiểm này, trước khi chúng dấy loạn. Để khỏi bị lộ, chiến dịch Bình Minh đã được tính toán chi li, cố không bỏ sót tên nào. Tôi đã ký sẵn trên 2000 lệnh bắt. Chiến dịch được thực hiện khẩn cấp và ráo riết trong vòng 12 ngày, trên toàn lãnh thổ Thừa Thiên, Huế. Nhóm không quan trọng như đám Trịnh Công Sơn, chúng tôi tiếp tục để chúng sinh sôi nẫy nỡ chờ các “ vụ mùa” mới tiếp. Xin kể một vài cái tên mà khá quen thuộc tại miền nam mà chúng tôi bắt được trong chiến dịch Bình minh:….
Chúng tôi đã thảo ra một phương án theo dõi tinh vi bí mật mà bọn này đến chết cũng không thể ngờ. TCS đến giờ này, ở suối vàng cũng ko thể ngờ nhân viên tình báo chịu trách nhiệm theo sát y lại là X, một trong những người bạn thân ra vào gần gủi với y. Cũng như vậy, đó là trường hợp Lê Khắc Cầm, cán bộ điều khiển TCS. Chúng tôi giả lơ như không bao giờ để ý LKC, không bao giờ biết y là CS, và y đã tự do tung hoành.

Cầm cứ tưởng những thông tin mà y chuyển qua những chuyến bay quân sự là an toàn số một. Ai dám đụng tới máy bay các ông tướng, ông tá? Thật ra các thư từ tin tức đó đều bị chúng tôi đọc và phối kiểm trước khi đến tay người nhận. Cho nên, tôi, Liên Thành, khẳng định lời của Lê Khắc Cầm nói rằng, tác giả của “ Thư gởi Ngô Kha” là TCS, là sự thật 100%. Người nhận cuối cùng của lá thư này là LKC. Khi cái “ thư gởi Ngô Kha” của TCS được đưa ra công luận của CS gần đây, thì liền bị tranh cãi kịch liệt.
Gậy ông đập lưng ông. CS nói dối quá nhiều, cho nên kỳ này nói thật thì thiên hạ nghĩ ngược lại. Khi đọc qua bút tích này, những người hâm mộ nhạc TCS đều không tin nỗi. Lẽ nào một người siêu thực như TCS mà lại ham muốn quyền lực như vậy? Điều này là thực hay hư? Chính quyền CS muốn nỗi tiếng, nên ăn có theo TCS? Con người đầy tính “triết và thiền” của TCS không thể là chủ nhân của lá thư đầy ham muốn quyền lực trần trụi như thế!Nhiều tranh cãi đã xãy ra giữa nhóm bạn văn nghệ mới, cũ , trên chính báo chí của CS, đến nỗi,“nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân” phải cất công đi “nghiên cứu” với Lê Khắc Cầm, để xác nhận xem TCS có thật là chủ của nó không.
Cái bề ngoài đeo kính rất trí thức, đượm chút bất cần đời, lời nhạc thi khó hiểu như triết học, đã giúp TCS rất nhiều trong việc dư luận dễ dàng phủ nhận lá thư này là của đương sự. Hoàng Tá Thích, chồng Trịnh Vĩnh Tâm, em rễ TCS, em ruột của đại tá cộng sản Hoàng Xuân Tùy , cũng nhảy vào ăn có. Ông em rễ Hoàng Tá Thích cam đoan là TCS không màng danh vọng chính trị gì sất!
Tội nghiệp Lê Khắc Cầm. Ai không tin anh ta, nhưng tôi thì có thể làm nhân chứng cho anh ta, vì đó là sự thật. TCS là tác giả chính hiệu con nai vàng của cái ” Thư gởi Ngô Kha”, mà cơ quan CSĐB chúng tôi đã đọc qua
Cơ quan CSĐB của chúng tôi đã giảo nghiệm nét chữ, và sau đó có nhờ cơ quan tình báo bạn phối kiểm. Kết quả đều khẳng định là của chính hắn. Trong bức thư này, TCS đã nguyền rủa đời sống tại Miền Nam thậm tệ, và ao ước có ngày được nối vòng tử sinh với Hà Nội. Anh ta cũng khẳng định mình là một nhân vật của “đám đông” được đám đông thần tượng, nên anh ta phải có bổn phận với đám đông này. Đám đông đó là ai? Một đám thanh niên bạc nhược, chống chiến tranh trốn lính? Một đám thanh niên học sinh của thời thượng? chuyên nghe nhạc Trịnh, đọc sách Phạm công Thiện? Bổn phận của TCS đối với đám đông của đương sự là gì?

Nối vòng tay lớn của chế độ tàn bạo và man rợ với vụ “Cãi Cách Ruộng Đất”?, vụ Quỳnh Lưu, vụ Nhân Văn Giai Phẩm cho Miền Nam ? Lá thư này đuợc viết vào mùa thu 1974 Xin quý vị tìm đọc là thư này ở www.damau.org để hiểu rõ thêm về TCS. Xin cho tôi miễn lời bình về nhân cách của TCS qua những lời mà y đã thóa mạ Miền Nam
Một giai thoại giữa tôi với TT Nguyễn văn Thiệu, xin kể ra để quý vị có thể tự trả lời câu hỏi tại sao chúng tôi không bắt TCS và nhóm nằm vùng Huế. Chúng tôi nhận được tin bọn CS sẽ đặt chất nỗ ở quán cơm Âm Phủ, khi Tổng Thống và các yếu nhân đến ăn ở đó. Tôi vào trình tổng thống chuyện này, lòng vô cùng băn khoăn lo lắng. Sau khi nghe tôi thuyết trình xong, ông cười tinmhr bơ và nói chỉ hai chữ: “Cho nỗ!”. Tôi tròn mắt ngó ông. Cái mà tôi chờ đợi không phải là 2 chữ đó, tôi chờ đợi 2 chữ khác, đó là “cho bắt”.

Hiểu vẻ mặt sững sốt và hai con mắt đang trố ra của tên trưởng ty trẻ người non dạ, ngó thẳng vào tôi, ông điềm nhiên nói “Không biết mới sợ, biết thì còn sợ gì? Cho nỗ!” “ tổng thống cho lệnh em đó!” Và chúng tôi đã cho nỗ tại quán cơm Âm phủ. Tiếng nỗ long trời lỡ đất kèm theo sự mừng rỡ của nhóm MTGPMN , bọn nằm vùng, và CS Bắc Việt dĩ nhiên. Nhưng có điều, phía chính phủ VNCH không có ai bị giết như ý chúng mong muốn.

Một thời gian sau, nhóm hoạt động khủng bố này đã bị chúng tôi tóm gọn. Riêng nhóm họat động chung với TCS, gần 5 năm sau, thời điểm tháng 6 năm 1972, khi chúng chuẩn bị tiếp một cuộc tắm máu thứ 2 như tết Mậu Thân, vẫn cái tên là cuộc “tổng nỗi dậy” vào ngày…chúng tôi bắt gọn 1500 sơ sở quan trọng của VC đưa đi côn đảo. Trong số đó có cả các viên chức VNCH, sĩ quan, quân nhân VNCH như nghị viên hội đồng tỉnh Lê Quang Nguyên là nằm vùng… Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi không thể trình bày chi tiết như trong cuốn BĐMT. Xin quý vị thông cảm. Riêng TCS , chúng tôi chưa bắt vội, hơn nữa khả năng y đang làm việc cho cơ quan tình báo ngoại quốc rất cao, chuyện bắt chưa chắc là hay, tốt nhất là cứ để tình trạng như vậy mà khai thác cả hai phía.
Thêm vào câu hỏi này là ý kiến cho là nhạc TCS gây nguy hại cho đất nước, lại hoạt động nằm vùng, tại sao chính quyền không dẹp? tôi xin nhắc lại câu chuyện của tên nhà báo nằm vùng CS Vũ Hạnh. Sau khi chính quyền bắt tên CS Vũ Hạnh, liền bị một số rất đông các nhà văn nhà báo tên tuổi trong hàng ngủ quốc gia đã làm yêu sách chống đối này nọ, họ đã gây không ít sóng gió cho chính quyền, kết án chính quyền bịt miệng báo chí.

Cuối cùng, chính phủ đành nhượng bộ, thả Vũ Hạnh. Sau 1975, Vũ Hạnh hiện nguyên hình là tên cộng sản, hắn thản nhiên giáng tội Mỹ Ngụy phản động cho rất nhiều “nhà” báo nhà văn đã nằng nặc đòi thả hắn ra. Và tôi cũng tự hỏi, nếu như giới hữu trách lúc ấy cho lệnh bắt TCS, liệu nhóm nhà văn nhà báo “quốc gia thứ thiệt” này có tha cho chính phủ không nữa? Tóm lại, âu đó cũng là điều đáng cho chúng ta suy gẫm, nhất là những ai đã ký tên yêu sách thả tên VC này. Các nhà văn nhà báo đó, có bao giờ họ tự nhận phần nào trách nhiệm với lịch sử ?
Sự vụ lệnh của Trịnh công Sơn
Có trách cứ rằng tại sao tôi cấp Sự Vụ Lệnh cho TCS trốn lính trong khi đó lại chẳng nhận được gì đáng kể từ đương sự, cho nên, tôi cũng đáng chết theo TCS lắm lắm. Tôi hiểu lý do của sự bực tức này. Nghề của tôi là tình báo, nói trắng ra, tôi là một gã buôn tin tức. Những gì tôi cho TCS là một, thì tôi phải lấy lại ít nhất cũng là sáu bảy. Việc chúng tôi nói TCS chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 tin tức mà đương sự biết, có nghĩa là chúng tôi đã biết tỏng 10/10 rồi.

Không biết hết thì làm sao chúng tôi xác định là 1/10 được? Nói ra đây, chỉ là để công luận đánh giá tấm lòng của TCS có biết quay lại với lương tri con người hay không mà thôi, nhất là sau khi chính đương sự đã biết rõ cảnh đồng bào Huế của hắn bị trói lại từng xâu dài, bằng dây kẽm, dây điện thoại, dây thừng, từng xâu người, lần lượt bị đập đầu, kẻ sống người chết, đều bị chôn vùi trong những hầm tập thể. Đau cho Miền Nam là hắn vẫn chọn phía tội ác. Dù hắn chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 những gì hắn biết, thì 1/10 đó cũng đủ cho chúng tôi phát hiện rất nhiều các tay CS nằm vùng liên hệ quanh hắn, chúng tôi cũng “lời bộn” rồi!

Có người lại cho rằng Sự Vụ Lệnh mà tôi cấp cho TCS chỉ có giá trị tại Huế mà thôi, trong khi đó, đa phần là TCS lại ở Sài Gòn, thì tại sao TCS không bị bắt lính tại Sài Gòn? và như thế, toàn bộ chuyện mà tôi nói chỉ là “ láo”. Thưa, hãy bình tĩnh, chuyện có gì mà phải nóng nãy kết luận hồ đồ như thế? Muốn vạch lá tìm sâu nhưng lại không có một tí kiến thức gì về luật pháp cũng như giá trị của cái SVL rất ngon lành này. Nếu Cảnh Sát hoặc Quân Cảnh Sài Gòn hay của bất cứ tỉnh nào bắt TCS chẳng hạn, thì chỉ cần TCS xuất trình cái SVL này ra, cơ quan bạn phải gọi ngay cho Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế.
Chỉ cần chúng tôi xác nhận đó là người của chúng tôi, thì cơ quan bạn phải lập tức thả TCS ra vô điều kiện, mà không có quyền tra vấn gì thêm cả. Đó là luật của VNCH và cũng là luật của nhiều nước khác. Ở Mỹ cũng thế thôi! Như vậy, nó mới làm cho gã trốn lính TCS này thèm muốn mà phải cộng tác với chúng tôi chứ!?
Riêng vấn đề TCS có hoạt động cho tình báo ngoại quốc hay không, và là ngoại quốc nào, tôi biết rõ 100%. Nhưng điều này tôi không thể viết rõ Chúng tôi đã theo dõi, đã mở hồ sơ thì con rồi bay qua chúng tôi cũng biết. Cũng như rất nhiều chuyện đời thường của đương sự mà nói ra thì quả thật khó tưởng tượng nỗi. Bởi vì sẽ ảnh hưởng đến an nguy của những người còn ở lại, và ngay cả chính cá nhân tôi.
Và như tôi cũng đã nói, việc công bố những hoạt động tình báo 3 mang của TCS khi đương sự còn sống thì chẳng khác nào đưa một bản án tử hình cho đương sự và cho những người khác, đã âm thầm theo dõi những hoat động nằm vùng của TCS trước kia, mà nay còn bị kẹt lại ở quê nhà. Tôi lập lại, tình báo có luật của tình báo, đó là lương tâm, là đạo đức dành cho các cộng sự viên của mình. Tôi chỉ có thể viết đến thế là cùng. Điều này nó cũng gián tiếp trả lời cho câu hỏi ‘Tại sao tôi lại đưa tên nằm vùng TCS đi Mỹ?!” Tất nhiên, chuyện này đã gây nhiều phẫn nộ, và nó có vẽ rất mâu thuẫn, thậm chí gây ngờ vực đối với tôi. Tại sao một kẻ “ diệt cộng” như tôi lại rủ một tên nằm vùng đi Mỹ?
Thưa đâu có gì mà khó hiểu? Trước đây, tôi là “cán bộ” điều khiển TCS. Tôi cũng là chỉ huy trưởng trung tâm Phụng Hoàng Huế.“Ai đó”, họ biết chứ! Và vì vậy, họ đã yêu cầu tôi làm việc này. Tôi chỉ là một kẻ trung gian cho “ai đó”( xin quý vị tự hiểu),“ mời” TCS đi Mỹ mà thôi, cũng như ông Đỗ Ngọc Yến vậy,ông ta cũng đã phải “rủ” TCS đi Mỹ ! Chuyện đơn giản có thế!
Tôi cũng xin minh định một điều, tôi, lúc TT Ngô Đình Diệm bị thảm sát, chỉ mới 20 tuổi, còn là sinh viên, chưa hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi sinh vào tháng cuối cùng của năm 1942. Từ đó đến nay, tôi chưa hề tham gia bất kỳ một đảng phái chính trị nào.
Tôi quý trọng nhân cách và tài năng của TT Ngô Đình Diệm, nhưng tôi cũng ủng hộ tinh thần chống cộng và đánh giá cao khả năng của TT Nguyễn văn Thiệu, trong số những người có tiềm năng lãnh đạo còn lại của Miền Nam. Điều này nghe ra, sẽ có một số người cho là nghịch lý, là ba phải. Vì “pro”TT Diệm mà sao lại còn ủng hộ cả Nguyễn văn Thiệu? kẽ đã bị kết án là một trong những thành viên tham gia đảo chánh, nhận 100 ngàn của Conine, có chứng từ chũ ký hẳn hoi!
Thưa, quan điểm của tôi rất rõ: tôi không bao giờ mù quáng yêu thương hay đập đổ một chính quyền nào cả. Tôi chỉ hết lòng bảo vệ Thể Chế Việt Nam Cộng Hòa, mà qua thể chế đó, quyền làm người được luật pháp minh định và thực thi, thông qua một chính quyền do dân bầu hợp pháp. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của tôi. Tôi không thể đang tâm đập phá một thể chế, một chính phủ đang điều hành đất nước, khi mà chưa có một chính phủ khác tốt hơn để thay thế. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã có tham gia đảo chánh phá đổ nền đệ nhất cộng hòa, nhưng sau đó, nếu chúng ta không chọn ông thì chúng ta chọn ai?

Dương văn Minh? Trần Thiện Khiêm? Vũ văn Mẫu, Nguyễn cao Kỳ? …Dù sao đi nữa, thì ông cũng là “ cái tốt nhất” còn lại mà chúng ta có. Nhất là ông đã được dân bầu và nhất là khi quốc gia với nền dân chủ còn non trẻ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh ghê khiếp nhất trong lịch sử loài người, đó là cuộc chiến tranh chống lại Chế Độ Cộng Sản. Kết quả thì người Việt Nam từ Nam chí Bắc đều thấy rồi đó! Cái mà lịch sử đã thế vào, sau khi một thiểu số ngông cuồng say sưa đập đổ chính phủ VNCH, là cái thể chế Cộng Sản!
Tôi sẽ không bao giờ là người đập đổ bất cứ chính phủ VNCH nào do dân bầu lên, cho dù vị Tổng Thống đó tôi có ghét cay ghét đắng, nhất là lúc quốc gia đang trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Tôi chỉ muốn góp phần gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn, qua lá phiếu, theo sự suy nghĩ, theo cách của tôi. Vì nếu không làm như thế, thì tôi đã mặc nhiên giúp sức cho CS thanh toán chính quyền non trẻ VNCH, mà lại còn hợm hĩnh ngu xuẫn cho mình là có công với quốc gia dân tộc!
Tôi không có ý định viết sử. Tôi chỉ muốn cung cấp cho lịch sử những vấn đề mà tôi biết, chuyện gì tôi đã làm, đã thấy. Để lịch sử phải đúng là lịch sử: Đó là, lịch sử phải là sự thật.
Điều gì biết rất rõ thì tôi mới viết. Những gì còn mù mờ thì không bao giờ tôi đề cập đến. Đó là bản chất của tôi, để ngày nào gặp lại tổ tiên tôi, ông tôi, cha tôi, tôi không thẹn với các ngài là tôi đã không dám nói lên sự thật.
Nhân tiện đây, với tư cách là thành viên Hội Đồng Hoàng Tộc Nguyễn Phúc, tôi có lời chia xẽ với bất cứ ai mang dòng máu Nguyễn Phúc là, dòng họ, tổ tiên chúng ta đã có công lớn trong việc mỡ mang, khai hoang lập ấp, giữ gìn phát triễn bờ cõi quốc gia. Ngày hôm nay, quê hương chúng ta không còn như khi các ngài còn tại thế. Lãnh thổ và lãnh hải đã mất, Cao Nguyên Trung phần Việt Nam cũng đang mất. Đến khi nào thì quốc gia mà đức Cao thế tổ Hoàng Đế Gia Long đã đặt tên là Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Bắc Kinh?

Ai làm chuyện bán nước này? Nếu không phải là Cộng Sản Hà Nội? Và ai trong hoàng tộc đã và đang tiếp tay, cộng tác, phò tá cho bọn bán nước cộng sản tàn bạo này? Xin thưa, quý vị đã bán lương tâm, bán linh hồn, bán đi danh dự, làm đau lòng các bậc tiên đế dòng họ Nguyễn phúc! Phủ phục bọn bán nước CSVN, quý vị đã làm nhục các ngài!
Tôn Nữ Thị Ninh là một trong những điển hình cho việc làm nhục anh linh tiên đế. Đề nghị Hoàng Tộc khai trừ tất cả các thành viên đã ít nhiều bắt tay giúp sức cho bọn CS bán nước.
Bài viết này, tôi chỉ dành cho những ai yêu chuộng sự thật, và muốn thẳng thắn nhìn vào sự thật. Tôi không viết cho những kẻ muốn vạch lá tìm sâu, những kẻ chạy tội, những kẻ mù quáng phạm thượng đánh đồng tôn giáo với những người “lãnh đạo tôn giáo”, những kẽ cố tình đánh đồng những bậc chân tu với những tên cộng sản mượn áo tu hành của mọi tôn giáo.
Tôi xin chia xẽ vài suy nghĩ về vấn nạn thần quyền lũng đoạn thế quyền mà trong đó cá nhân tôi đã là một nạn nhân. Cuối tháng 12/1969, chúng tôi nhận được tin tức từ cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài cho biết có điên đài đang phát sóng tại địa điểm X, mà sau đóm, chúng tôi xác định đó là chùa Trà Am. Hai tháng sau, 4 tấm không ảnh chụp về đêm được nhận diện rất rõ có 3 tên VC vũ trang xuất hiện tại hậu trai của chùa. Tôi và đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB liền thiết lập một trạm bí mật theo dõi.

Chưa đầy 6 tuần lễ sau, chúng tôi phát giác một số đối tượng CS mà chúng tôi vẫn đang theo dõi lên chùa hội họp vào những ngày thứ bảy chủ nhật, khi mà có đông thiện nam tín nữ đến lễ chùa. Và trung tuần tháng 5/1970 sẽ có phiên họp của cơ sở nội thành diễn ra tại đây. Lúc 6giờ 30 sáng ngày 19/5 chúng tôi đổ 2 trung đội CSDC và 20 CSĐB đến vây chùa, bắt được một phụ nữ dưới 30 tuổi tên là Lê Thị Út, cán bộ an ninh thành ủy Huế,năm thanh niên, cùng thầy Thích Như ý. Tang vật gồm có một số tài liệu của CS gồm một nghị quyết mới nhất của trung ương đảng CS. Sau đó, qua khai thác 7 người này, chúng tôi biết được buổi họp tối hôm đó là để bố trí công tác cho 5 cơ sở nội thành, thực hiện một số mục tiêu phá hoại, đặt chất nổ tại các cơ quan quan trọng của chính quyền và hai rạp Ciné Tân Tân và Châu Tinh. Khi chúng tôi rời chùa Trà Am 9 giờ sáng ngày 19/5/1970 thì 3 giờ chiều cùng ngày, Phật Giáo bắt đầu biểu tình.

Đoàn biểu tình rầm rộ kéo xuống tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người! Nghĩ mà cay đắng. Tất nhiên, chúng tôi không thể thả CS mà trong đó bao gồm ông Thích Như Ý. Ngày 20/5 lực lượng phật Giáo tiếp tục biểu tình rầm rộ hơn, phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người. Tình hình ngày lúc càng trầm trọng. Cùng ngày, chúng tôi nhận được 2 công điện khẩn, một từ văn phòng tư lệnh CSQG thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong và một của đại tá trưởng khối CSĐB yêu cầu giải thích nội vụ chuyện bắt Thích Như Ý. Chung quy cũng vì cái chữ “Thích” của ông ta mà ra, nếu ông ta không mang họ “Thích” như mấy tên VC kia thì chính quyền địa phương, trung ương, và anh em chúng tôi đâu có phải căng thẳng khổ sở đến vậy.

Và chuyện dĩ nhiên không dừng tại đó.. Chúng tôi tiên liệu chuyện sẽ nổ lớn, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Tượng Tọa Thích Trí Thủ, Tổng Thư Ký viện Hóa Đạo Sài Gòn. Khả năng một biến động về phật Giáo lại xãy ra chỉ là chuyện thời gian. Ban tham mưu chúng tôi không còn giải pháp nào hơn là nhanh chóng lập hồ sơ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh hoặc giải tòa, cùng lúc thương lượng với phía Phật Giáo. Tối 21/5, tôi đích thân đến chùa Linh Quang, gặp thượng tọa Mật Nguyên. Là một người cao tăng đức độ, phật tử hay bất cứ ai gặp ông đều nể trọng, ông giữ chức chánh đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh sau khi Đôn Hậu thoát ly ra bắc.

Mặc dù phải đương đầu với những áp lực nặng nề từ những tín đồ quá khích và đám cơ sở VC đội lốt tăng ni, ông luôn luôn chủ trương tìm cách hòa giải với chính quyền bằng tấm lòng ngay thẳng từ bi. Ông tiếp tôi tại nhà hậu trai. Sau khi tình cho ông những bằng chứng, bốn tấm không ảnh, lời khai của Thích Như Ý và đồng bọn. Tôi cho Thượng Tọa biết là chúng tôi sẽ đưa ra hội đồng anh ninh tỉnh hoặc ra tòa, có thể mở họp báo để công luận suy xét.
Và tôi cũng đã hỏi ông: “ Bạch thầy, cứ mỗi lần lực lượng CSQG phá vỡ và bắt giữ một số cơ sở nội thành, thì giáo hội tại Huế lại tổ chức biểu tình, cho là chính quyền đàn áp Phật Giáo, bắt bớ tăng ni phật tử. Vậy những người biểu tình đó là ai? Họ ở bắc hay nam vĩ tuyến 17?” Trầm ngâm một lúc, cuối cùng, ông nói với tôi:
“Con biết trong giáo hội Huế, người của bên kia cũng nhiều, khó mà kiểm soát được họ. Nhưng thôi, thầy không muốn đề cập dến chuyện này. Các cuộc biểu tình vừa rồi không phải là giáo hội hành động, mà là do một nhóm Phật giáo đồ. Khi nghe tin chùa Trà Am bị lục soát và thầy Như Ý bị bắt, họ hấp tấp biểu tình phản đối. Họ chẳng cần xin lệnh của giáo hội, chẳng có lệnh của Thầy. Mọi chuyện có thể trầm trọng hơn, thôi thì mỗi bên nhường nhịn nhau một tí. Thầy sẽ cho họ biết rõ nội vụ, yêu cầu họ chấm dứt biểu tình. Phần con cũng nên tha cho thầy Như Ý và mấy người đó đi, mọi chuyện hóa giải tất cả”. Tôi không đồng ý
“Bạch thầy, thật khó cho con. Thầy Thích Như Ý và mấy người kia là cơ sở và cán bộ an ninh nội thành Việt Cộng. Họ đang mưu toan và đã có kế hoạch đặt chất nổ phá hoại, giết hại dân lành. Họ phải bị truy tố ra tòa” Thượng tọa ngắt ngang lời tôi:
“Thôi được, mấy người kia là chuyện ngoài đời, thế tục, thầy không muốn nhúng tay vào. Riêng thầy Như Ý, con tha cho ông ta. Con có muốn thầy đứng ra bảo lãnh cho thầy Như Ý không?” tôi trả lời ông:
“Dạ, không dám. Con chỉ có thể hứa với thầy là con sẽ đưa ra Ủy Ban An Ninh tỉnh, với đề nghị thật nhẹ. Nhưng với 6 người kia thì con vẫn lập thủ tục giải tòa. Và lời hứa thứ 2 là sẽ không họp báo công bố nội vụ, nhưng với điều kiện sẽ không có cuộc biểu tình nào nữa vào ngày mai”
“ Con yên tâm đi. Thôi con về. Xe để ở đâu? Con ra cửa sau, cẩn thận đừng để ai thấy, kẻo thiên hạ lại tung tin thầy có quan hệ với ông Liên Thành, với Mỹ. Ngoại trừ có chuyện khẩn cấp, bình thường con cứ nói thằng Bích lên đây gặp thầy là được rồi”
Ngày 22/5 hồ sơ Thích Như Ý và đồng bọn được chuyển qua hội đồng an ninh tỉnh truy tố với đề nghị: Thích Như Ý: 3 tháng. Sáu đồng bọn: 2 năm tái xét. Và cuộc biểu tình chấm dứt lúc 10 giờ sáng ngày 22/5/1970
Mọi chuyển tưởng đã ổn, nhưng không. Ba ngày sau, 26/5, viên cố vấn CSĐBN gặp tôi:
“Đại Úy Thành, ông gặp rắc rối rồi”. Ông ta cho biết, nội trong ngày, khoảng 2 hay 3 giờ chiều, thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong, tư lệnh CSQG và một phái đoàn cao cấp của chính phủ gồm đại tá Nguyễn Khắc Bình, giám đốc phủ Đặc Ủy Trung Uơng tình báo, một đại tá thuộc cục an ninh quân đội, nếu tôi nhớ không lầm là đại tá Nhuận và 4 sĩ quan cao cấp thuộc khối CSĐB/BTL sẽ gặp tôi điều tra việc bắt Thích Như Ý và lục soát chùa Trà Am.
Từ phi trường Phú Bài đích thân tướng Phong gọi cho tôi yêu cầu tôi trình diện ông ta tại phòng khách danh dự của phi trường. Biết là chuyện lớn, tôi cố gắng thu gom tất cả tài liệu, tang chứng, kể cả khối chất nỗ gồm 6kg chất nỗ TNT và 8 ngòi nỗ chậm, mà Lê thị Út đã chuyển từ mật khu về chùa Trà Am, sau đó đem cất giấu ở vùng nghĩa trang gần núi Ngự Bình, tôi để ở ngoài xe, cùng hình chụp tang vật.
Sau gần 30 phút thuyết trình diễn tiến và kết cục của sự việc, tôi kết thúc bằng câu nói “Trình Thiếu Tướng và quý vị trong phái đoàn, khối chất nỗ và 8 ngòi nỗ chậm hiện đang để ngoài xe, quý vị muốn xem tôi mang vào?”
“Không cần đâu Liên Thành. Thiếu Tướng muốn hỏi em một câu nữa, Tại sao Phật Giáo ngưng biểu tình?”
Tôi thuật lại cuộc gặp gỡ và những thỏa thuận giữa Thượng Tọa Mật Nguyên và tôi cho ông nghe. Tôi hiểu phần trình bày của tôi đến đây là quá đủ. Tôi xin phép ra ngoài, để cho phái đoàn thảo luận và quyết định số phận của mình.
Rời phòng khách danh dự, tôi đứng ở cửa dành cho hành khách ra phi cơ, ngước nhìn trời xanh mây trắng, lòng thanh thản vì đã chấm dứt được sự căng thẳng hơn tuần nay. Lúc đầu, đối đầu với chùa Trà Am, nay thì phải đối đầu với BTL/Cảnh Sát, Phủ Đặc Ủy tình Báo trung Uơng, Cục An Ninh quân đội.Tôi phó mặc cho định mạng, tự hỏi, không ngờ vụ này đụng chạm quá lớn?
Một lúc sau, một thiếu tá đến mời tôi vào gặp lại Thiêú tướng Nguyễn Thanh Phong. Không khí phòng khách lúc này có vẽ bớt căng. Ông nói:
“ Liên Thành, thiếu tướng và phái đoàn phải trở lại SàiGòn bây giờ. Vụ trà Am, Thiếu tướng và phái đoàn đã rõ.
Tôi đưa Thiếu tướng và phái đoàn ra phi cơ. Trước khi bước lên phi cơ, ông nói với tôi;
“ Huế khó lắm. Em chu toàn công việc như vậy là tốt rồi. Gắng lên! Về ông Như Ý, cũng nên nhẹ tay cho ông ta phần nào.”
Mọi người lần lượt bắt tay tôi rồi bước lên máy bay. Đại Tá Nguyễn Khắc Bình siết chặt tay tôi. Tôi hiểu ông muốn biểu lộ sự thấu hiểu và chia sẽ nào đó. Tôi nói nhỏ, vừa đủ ông nghe: “Cảm ơn Đại Tá”
Phi cơ cất cánh, để lại làn khói trắng phía sau giữa bầu trời trong xanh, và cũng để lại lòng tôi một nỗi cay đắng, mãi cho đến tận bây giờ.
Thêm một chuyện nữa xãy ra cho tôi sau chiến dịch Bình Minh mà trên 1500 cơ sở nội thành, luôn cả những cơ sở kinh tài trọng yếu đã bị cơ quan chúng tôi bắt giữ. Đó là tôi bị “Phái đoàn Quốc hội VNCH” hỏi thăm sức khỏe, vì chuyện này.
Nói là phái đoàn, nhưng thật ra chỉ có 4 dân biểu đối lập thuộc khối Ấn Quang, trong đó có Bà Kiều Mộng Thu Hai trong bốn người đó là gà nhà của Thích Thiện Siêu, chùa Từ Đàm. Họ đắc cữ là do quý thầy lo cho. Chuyện là họ là thường trú nhân tại Sài Gòn nhưng lại ứng cữ và đắc cữ đơn vị thừa Thiên Huế, thế mới là hay! Họ đến Huế trên danh nghĩa là thăm chiến trường Trị Thiên, nhưng lại không ra chiến trường hoặc vào bệnh viện thăm viếng thương bệnh binh, mà lại đòi vào tù thăm VC nằm vùng mà chúng tôi vừa mới bắt, theo lệnh của “thầy” Thiện Siêu.

Mục đích nhằm tạo niềm tin cho các cơ sở VC rằng, đừng lo, đừng lo khai báo gì, có ô dù bảo lãnh ra thôi. Sau khi gặp đại tá tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên, họ được đại tá chuyển lệnh cho tôi, đề nghị hướng dẫn phái đoàn viếng thăm tù nhân. Theo lẽ thông thường, tôi thuyết trình tình hình địch, tình hình bạn cho khách v.v..Nhưng vì đã biết rõ mục đích của họ, tôi đã không phí thời giờ làm việc này. Sau khi an vị, bà dân biểu vào đề ngay:
“chúng tôi đã gặp đại tá tỉnh trưởng sáng nay, và được đại tá chấp thuận. Mong rằng thiếu tá trưởng ty cho chúng tôi được thăm viếng một số đồng bào đã bị thiếu tá bắt giữ trong mấy ngày vừa qua. Đây là danh sách những người mà chúng tôi muốn gặp và muốn trực tiếp nói chuyện với họ” Vừa nói vừa đưa cho tôi một danh sách dài những tên nằm vùng
Tôi nhìn vào một danh sách có khoảng 20 người, gồm: Bửu Chỉ, Nguyễn Hữu Đính kỹ sư canh nông, Hoàng thị Thọ học sinh, Nguyễn khoa Phẩm chủ tịch hội đồng thừa Thiên, Lê phước Á, giáo sư, Lê quang Nguyên, nghị viên hội đồng tỉnh v.v. Tôi cười, trả lại bản danh sách cho bà dân biểu
“Thưa bà và quý vị dân biểu, tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của quý vị được. Bởi lẽ, những người này là cơ sở nội thành của trung tá CS Hoàng Kim Loan. Hơn nữa, họ đang trong thời gian thẩm vấn, không thể gặp gỡ thăm viếng được. Sau khi thẩm vấn quý vị sẽ được quyền gặp”
Bốn dân biểu này đổi sắc mặt, giận dữ. Một ông người Huế nói, xin tạm dấu tên:
“Ông trưởng ty nói chi? Chúng tôi là dân biểu, những người đại diện cho dân, chúng tôi có quyền thăm viếng những người dân lành vô tội bị ông bắt bớ bừa bãi”. Tôi yêu cầu ông ta đưa bằng chứng chúng tôi bắt bớ dân lành vô tội, nếu không ông ta vu khống nhân viên công lực. Ông ta yêu cầu cho xem hồ sơ. Chúng tôi từ chối vì ông ta tuy có nhiều quyền, nhất là quyền bất khả xâm phạm. Nhưng ông ta không có quyền xem hồ sơ đó.

Ông ta đe dọa đưa ra quốc hội chuyện tôi bắt trên một ngàn “dân lành vô tội” và sẽ cắt ngân sách của bộ TL Cảnh Sát. Ông còn chữi tôi là một tên trưởng ty cảnh sát du đảng, không xem luật pháp ra gì. Tình hình mỗi lúc một gây cấn, bà Kiều mộng Thu xuống nước, chỉ xin thăm “dân lành”một tí thôi là xong ngay. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định ban đầu. Ra lệnh cho tôi không xong, các ông bà con trời này đòi xông thẳng vào trung tâm thẩm vấn. Tôi nói với giọng rất từ tốn, nhưng chắc nịch:
“ Tôi nhắc lại với ông dân biểu, Huế đang trong tình trạng chiến tranh, kẻ nào có mưu toan hoặc hành động xâm phạm cơ quan công quyền, nhất là trung tâm thẩm vấn, nơi đang giam giữ tù nhân Việt Cộng, tôi sẽ cho lệnh lính gác bắn hạ ngay, ông dân biểu nghe rõ chưa?”
Hai ngày sau, ông dân biểu họp báo tại Sài Gòn, báo chí thân ông đăng tải những loạt bài bêu riếu, bôi nhọ tôi tàn tệ, nói rằng tôi vi phạm luật pháp, bắt bớ dân lành bừa bãi, đề nghị cách chức trưởng ty Liên Thành, truy tố ra tòa, đòi cắt ngân khoản cho CSQG, Chỉ có một điều duy nhất mà ông không tố tôi được, đó là tham nhũng. Tôi biết, ông đã cố moi móc ghê gớm, nhưng ông bó tay. Tôi chờ đợi bàn giao cho vị tân trưởng ty, lòng buồn nhưng không hề hối tiếc. Nhưng xui cho ông dân biểu, lần này Đại Tá Nguyễn khắc Bình đã nắm rõ vấn đề, nên tôi bình yên vô sự. Ông dân biểu nay cũng đã già, và cũng là người tỵ nạn CS đang ở Cali , tôi không nỡ nhắc tên ông. Nhưng không biết có bao giờ ông nghĩ rằng, một trong những nguyên nhân làm ông phải mang thân xứ người, là hậu quả của những hành động như ông đã từng làm?
Qua vài mẫu chuyện mà chính tôi đã là nạn nhân, tôi muốn gióng lên một tiếng chuông, kêu gọi chúng ta hãy suy nghĩ về tương lai lâu dài của dân tộc. Giai đoạn từ 1963 đến 1966 là giai đoạn mà thần quyền đã lũng đoạn thế quyền. Cá nhân tôi cũng đã từng là một nạn nhân sống của vấn nạn này.
Vấn nạn này đã làm sụp đổ một thể chế và kéo theo những hệ lụy khủng khiếp của nó. Vĩnh viễn chúng ta phải tránh vết xe đổ này. Lúc nào, thời đại nào cũng có những kẽ bất lương đội áo mũ tu hành để mưu đồ quyền lực tiền bạc. Cần có luật pháp minh bạch và một sự suy nghĩ độc lập sáng suốt để tránh những di hại cho quốc gia. Một số lớn các nước trong hệ thống Hồi Giáo vùng trung đông là một ví dụ rõ ràng nhất trong việc thần quyền điều khiển thế quyền. Các giáo sĩ đã lợi dụng quyền lực và lòng tín ngưỡng mù quáng của tín đồ để điều khiển chính quyền, nhào nặn ra các chính trị gia rồi giật dây họ để phục vụ cho các mưu đồ riêng của mình, gây rối loạn xã hội và chính trị, bất chấp tương lai và sự phát triễn lâu dài của đất nước, mà trong đó, dân chủ là một điều kiện tối cần để một xứ sở, một dân tộc có thể đi lên.
Tại các nước phương tây, thần quyền không còn và không thể lũng đoạn thế quyền được nữa. Nhưng tại rất nhiều quốc gia khác, thần quyền đen vẫn là một uy lực khủng khiếp. Khi thần quyền lũng đoạn thế quyền, chuyện tất yếu là quốc gia sẽ trở thành miếng mồi ngon cho độc tài hoành hành, nhất là độc tài cộng sản. Và quốc gia sẽ phá sản.
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, câu nói rất quen cửa miệng, nhưng bao giờ thì mỗi người chúng ta thực hiện được?

Liên Thành

***