Wednesday, July 29, 2009

ĐẶNG PHÙNG QUÂN * TRIẾT HỌC

Đặng Phùng Quân

Khởi thảo lịch sử triết học

Dưới lăng kính siêu quốc (tiếp theo)

Những thời kỳ trục trong lịch sử tư tưởng

Karl Jaspers không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp, song ông đã phát kiến ra khái niệm trục, trong một tinh thần tri thức cởi mở, ngay từ mở đầu tác phẩm Vom Ursprung und Ziel der Geschichte/Nguồn và đích của lịch sử, 1949:

Trong thế giới phương Tây, triết học lịch sử xây dựng trên niềm tin Cơ đốc. Trong một chuỗi vĩ đại những công trình liên tục từ Augustin đến Hegel, niềm tin này thể hiện vận động của Thượng đế xuyên suốt lịch sử. Những hành vi mặc khải của Thượng đế biểu hiện những tuyến phân chia quyết định. Cho nên Hegel có thể vẫn nói: toàn thể lịch sử tiến hành và bắt nguồn từ Chúa. Con của Thượng đế xuất hiện là trục của lịch sử thế giới… Song niềm tin Cơ đốc chỉ là một niềm tin, không phải là niềm tin của nhân loại. Vì thế quan điểm lịch sử phổ quát như vậy rõ ràng là thất bại vì nó chỉ có giá trị cho những tín đồ Cơ đốc… Trục của lịch sử thế giới, nếu thực sự hiện hữu phải được phát kiến về mặt thường nghiệm, như một sự kiện có thể được mọi người, kể cả người theo Cơ đốc chấp nhận như vậy.”

Jaspers là một tín đồ Cơ đốc, song đã mạnh dạn đánh giá thời kỳ trục này vào thời khoảng 800-200 trước tây lịch. Theo ông, những sự biến phi thường nhất tập trung trong thời kỳ này: tất cả những trường phái triết học Trung hoa xuất hiện, như Khổng, Lão, Mặc, Trang, Liệt tử v.v.., ở Ấn độ như Upanishad, Phật là những đỉnh cao tri thức xuống đến phái hoài nghi, duy vật, ngụy biện và hư vô luận, ở Ba tư Zarathustra dạy một thế giới quan tương tranh giữa thiện và ác, ở Palestine xuất hiện những tiên tri như Elijah, Isaiah, Jeremiah, ở Hy lạp như Homer, những triết gia như Parmenides, Heraklit, Platon, những nhà viết kịch, những sử gia, Archimedes. Những công trình của họ phát triển để lại cho nhân loại to lớn ra sao, dường như ai cũng rõ, mặc dầu vào thời kỳ vùng này không biết vùng kia.

Jaspers nhận xét: Trong cả ba vùng của thế giới, điều mới lạ về thời đại này là con người có ý thức Hữu thể như một toàn thể, về chính con người và những hạn chế của mình. Con người kinh qua khủng cụ của thế giới và không có quyền năng của chính mình. Con người biết đặt những vấn đề, đối diện với khoảng không, con người biết phấn đấu cho giải thoát và ân sủng, trong khi nhận biết giới hạn của mình, con người đề ra những mục tiêu cao cả. Con người kinh qua tuyệt đối trong sâu xa của bản ngã và trong sáng của siêu việt.

Ý thức tự ngã, tư duy trở thành đối tượng của chính con người, những xung đột tinh thần diễn ra giữa con người với tha nhân, mới sinh ra tranh biện, những phạm trù cơ bản, những tín ngưỡng phổ quát - tất cả điều đó minh họa thế nào là một thời kỳ trục.

Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn này của lịch sử nhân loại là quá độ từ thời đại thần thoại bước sang thời đại triết lý:

- Lý tính và kinh nghiệm dưới ánh sáng thuần lý tương tranh với thần thoại; các nhà triết học dầu là Hy lạp, Ấn hay Trung hoa cũng vượt khỏi tính thần bí trong những nhận thức quyết định.

- Con người không còn đóng kín tự thân, ngộ đuợc cái bất xác, mở ra những khả năng mới, không hạn chế, biết nghe và hiểu những gì trước đây không tự vấn; cùng với thế giới và chính tự ngã, Hữu trở nên nhậy cảm với con người, song không có nghĩa là chung cuộc.

- Lần đầu tiên xuất hiện những triết gia, dầu lang thang hay ẩn cư ở Trung hoa, hay những nhà khắc kỷ ở Ấn, những minh triết ở Hy lạp, hay những tiên tri ở Do thái. Nhà triết học là người chứng tỏ khả năng tương phản chính bản thân với vũ trụ ngoại tại, phát hiện trong tự thân nguyên ủy đã đưa tự thân vuơn lên tự ngã và thế giới.

- Trong tư duy suy luận, triết gia nhận ra Hữu mà không sa vào chỗ nhị nguyên do vượt khỏi chỗ phân biệt chủ thể và khách thể, nhận ra trùng hợp những mặt đối lập.

- Trong thân phận con người, vây bủa trong thân thể, bản năng, đi tìm giải thoát và cứu chuộc từ thế giới này, hướng về ý niệm, từ bỏ vô cảm/ataraxie, đắm đuối trầm tư, nhận thức ngã/giới như thể tiểu ngã/atman, kinh nghiệm niết bàn/nirwana, hòa hợp với đạo/Tao, hay dâng mình cho Thiên ý - mọi ngả phân hóa do tín niệm và tín điều, song hội tụ ở chỗ đạt tới cảnh giới toàn Hữu lên đường một mình, như một cá thể. Triết gia có thể từ khước mọi của cải trần gian, đi vào sa mạc, ẩn nơi rừng sâu, núi cao, phát hiện ra quyền năng sáng tạo của cô độc như một ẩn sĩ, cũng có thể trở lại cuộc thế như một kẻ sở hữu tri thức, như một hiền triết, một tiên tri. Tất cả điều đó về sau được gọi là lý trínhân cách chỉ được giác ngộ lần đầu tiên ở thời kỳ trục này.

Chân dung triết gia, nếu muốn minh họa lên hào quang của con người xuất chúng ấy, rõ ràng là khoảng cách rộng giữa đỉnh tiềm năng nhân tính này với đám đông thật là lớn lao vào thời đại này, chưa từng thấy trong lịch sử - nơi một cá nhân làm thay đổi toàn bộ, cả nhân loại có một bước nhẩy vọt.

Quang cảnh ấy hiện ra là hằng hà những quốc gia và những đô thị, tương tranh liên khối, phát triển lan tỏa, trù phú và đầy nghị lực ở khắp chốn, cát cứ từ Trung, Ấn, qua Hy lạp và Cận đông. Thời kỳ trục bao dung những nền văn minh cổ hàng ngàn năm đã cùng tận và khởi sự những hình thái văn hóa mới, có khả năng thông cảm hỗ tương, trong khi những dân tộc ngoài vùng trục này vẫn còn sống trong mông muội.

Ở tác phẩm Những triết gia lớn/Die grossen Philosophen,1957 Jaspers nói đến cái hùng đại/Größe của những nhà tư tưởng đầu tiên của Ấn như Yajnavalkya, Sandilya, Kapila, những người khai sáng triết học Trung hoa cổ đại, những minh triết Ai cập như Imhotep, Ptahotep. Gilgamesch vùng Lưỡng hà. Triết gia là những nhà tư tưởng, tương phản với những phương tiện như hành động, ảnh tượng, thi ca, song sử dụng những khái niệm và khai triển khái niệm đạt tới chỗ hùng đại [1]. Jaspers dẫn lời Dikaiarch (là người nói vào khoảng năm 320 trước tây lịch) về bẩy hiền triết không chỉ triết lý bằng lời, mà chủ vào việc thực hiện những công trình tốt đẹp; ông cũng so sánh với những thánh hiền Trung hoa được coi là khai sáng văn hóa, trật tự, lý thức mọi sự vật.

Về mặt biên niên sử, trong thời kỳ trục này có thể kể những sự biến như những nhà khai thác Etrucan đến Ý khoảng 900 tr. TL, giai đoạn thác thực ở Hy lạp, Kushites chinh phục Thượng Ai cập vào 750 tr.TL,, Đế quốc Assyrian thành hình khoảng 750-612 tr.TL., Đế quốc Chaldean khoảng 626-539 tr.TL., Phật Thích ca sống trong khoảng 563-483, thời đại Tây Chu ở Trung hoa, những nền văn minh Olmec ở Mễ, Chavin ở quần đảo Andes, trong khoảng 500 tr.TL. đã xuất hiện Cộng hoà La mã, đô thị Hy lạp, phát động chiến tranh Ba tư, Peloponnesus, đế quốc Ba tư (549-333 tr.TL), Alexander xâm lăng Ấn khoảng 327/326 tr.TL., Chandragupta thành lập đế quốc Maurya khoảng 321-301 tr.TL., Ashoka trị vì 269-232 tr.TL., Khổng sống khoảng 551-479 tr.TL., triều đại Tần là đế chế đầu tiên ở Trung hoa khoảng 221-206 tr.TL.,rồi triều đại Hán khoảng 202 tr.TL

Để củng cố luận cứ, Jaspers dẫn Lasaulx trong Neuer Versuch einer Philosophie der Geschichte: Dường như không phải tình cờ mà sáu trăm năm trước Ki-tô, có Zarathustra ở Ba tư, Phật Thích ca ở Ấn, Khổng tử ở Trung hoa, những nhà tiên tri ở Do thái, vua Numaq ở La mã và những triết gia đầu tiên tại Ionia, Doris, Elea ở Hy lạp, tất cả xuất hiện đồng thời như những người cải cách tôn giáo dân tộc.

Một học giả khác, Viktor von Strauss trong bình giảng Lão tử cũng nhận xét: trong những thế kỷ mà Lão và Khổng sống ở Trung hoa, có một vận động tinh thần lạ lùng thông qua mọi dân tộc văn minh, như Jeremiah, Habakkuk, Daniel và Ezekiel ở Israel rao giảng tiên tri và trong một thế hệ mới (521-516) dựng ngôi giáo đường thứ hai ở Jerusalem, trong khi ở Hy lạp thời Thales vẫn còn sống đã có Anaximander, Pythagoras, Heraklit, Xenophanes xuất hiện và Parmenides mới ra đời, ở Ba tư giáo hỗ cổ của Zarathustra được cải cách, và ở Ấn có Thích ca mâu ni khai sáng ra Phật giáo.

Tuy nhiên, những học giả nói trên chỉ ghi nhận những sự kiện song không thông suốt quan niệm tổng thể, nhìn ra những nét song hành phổ quát để có thể trả lời cho những phản bác, như yếu tố chung ấy chỉ có tính ngoại vi, trong khi những khác biệt về ngôn ngữ, chủng tộc, lịch sử quá lớn, hay Thời kỳ trục chỉ là sản phẩm của phán đoán giá trị, hay song hành này không mang tính lịch sử chung vì không có giao ngộ tinh thần. Jaspers đưa ra những lý chứng thuyết phục, như yếu tố chung ấy khởi từ ba nguồn trong khu vực nhất định, khả năng tri thức gia tăng, cơ bản là lĩnh hội ý nghĩa giá trị tự nhiên của nó. Sự khác biệt giữa Jaspers và Hegel ở chỗ, Hegel quan niệm Trung hoa, Ấn và phương Tây như những bước trong quá trình biện chứng của phát triển tinh thần, trong khi Jaspers quan niệm hoàn cảnh thực là hiện diện đồng đẳng, bên cạnh nhau, có nghĩa là nhiều con đường từ những nguồn khác nhau hướng về chung một mục đích. Trung, Ấn và phương Tây là ba cội rễ độc lập của một lịch sử sau cùng trải qua nhiều thế kỷ đã trở thành một thể thống nhất. Quan niệm của Jaspers, theo tôi, mang ý nghĩa siêu quốc như Kant, và đó là cơ sở nền tảng chống lại ý đồ bá quyền trong lịch sử nhân loại, sẽ nói đến sau.

Heiner Roetz trong Die chinesische Ethik des Achsenzeit. Eine Rekonstruktion unter dem Aspekt des Durchbruchs zu postkonventionellem Denken/Đạo đức trung hoa thời kỳ trục. Tái tạo dưới dạng tiếp cận tư tưởng hậu cổ, 1992 (bản Anh ngữ của chính tác giả: Confucian Ethics of the Axial Age, 1993) lấy lại ý niệm “thời kỳ trục” của Jaspers với ba chiều kích: chiều đồng đại chiếu theo những tiến triển tư tưởng đồng thời theo trục địa chí từ Địa trung hải tới Đông Á; chiều lịch đại chiếu theo ảnh hưởng trải dọc theo những phát triển về sau của những nền văn hóa tương ứng; chiều phổ quát chiếu theo thử thách thông giao vô hạn, nghĩa là viễn tượng của một tương lai chung của nhân loại. Thời kỳ trục của Jaspers không chỉ một thời đại quan trọng về mặt lịch sử, còn chỉ ra “một tiêu điểm định hướng cho việc quan tâm đến lịch sử và liên hệ với nước ngoàiNó chứa đựng nhiều tiêu chuẩn làm cơ sở cho phân tích nhiều mặt, như ý thức lịch sử, vượt thần thoại qua lý trí, phát kiến cá nhân, giải quyết những lựa chọn mâu thuẫn nhất v.v…”

Chính trong tiêu điểm định hướng đó, Jaspers viết phần đầu tác phẩm về những triết gia lớn dưới tiêu đề những người lãnh đạo mẫu mực nhân quần/die maßgebenden Menschen như Sokrates, Phật, Khổng, Jesus. Thật ra ngay vào cuối thế kỷ XIX, Đàm Tự Đồng (1865-1898) trong Nhân học khi phân tích khái niệm nhân, đã nhìn ra điểm chung thể hiện nơi Khổng là tương ái, tự nhiên, nơi Mặc là kiêm ái, nơi Phật là Phật tính, từ bi, nơi Giê su là tâm, yêu người như yêu mình, xem kẻ thù như bằng hữu, cho nên Đàm coi tam giáo như một thể.

Thời kỳ trục của Karl Jaspers không giải thích được sự kiện có nhiều nền văn hóa ngoài vận động phát triển này, tuy trong sơ đồ, ông vẽ ra một phổ hệ từ một nguồn của nhân loại, kinh qua giai đoạn tiền sử, đi lên giai đoạn những nền văn minh cổ, gồm Lưỡng hà, Ai cập, Ấn, Hoàng hà, những dân tộc nguyên thủy , tới thời kỳ trục gồm Ấn, Hoa, Đông-Tây hội nhập những dân tộc tiền sử vào thế giới Thời đại trục, lên thời kỳ khoa học-kỹ thuật với châu Mỹ, Âu, Nga, Islam, Ấn, Hoa, Phi châu …đánh dấu một thế giới con người trên mặt đất.

Trong quá trình tiến hóa tư tưởng con người trải qua thời kỳ trục tới thời kỳ toàn cầu chỉ ra không chỉ có một nền văn minh, văn hóa, triết học mà có nhiều văn minh, văn hóa, triết học: không chỉ có một đế chế Tần Thủy hoàng ở Trung hoa, Maurya ở Ấn, La mã ở phương Tây ghi dấu chung cuộc. Những công trình về lịch sử triết học thế giới ngày nay khởi sự những phát triển song song trong tư tưởng triết học (Hajime Nakamura), nới lỏng những giới hạn giữa vấn đề “triết học” và “tôn giáo” trong nghiên cứu tỉ giảo với nhiều khu vực Đông/Tây, châu Phi, châu Mỹ La tinh tiền-Columbus v.v.., đóng góp quan trọng về ngôn ngữ và dân tộc học trong nghiên cứu tư tưởng ở những địa bàn mới này.

Những vấn đề đặt ra như:

Quan niệm về Thời đại mới/Modern Age hiểu trong ngữ cảnh triết học phương Tây thường vẫn bắt đầu từ Descartes (1598-1650), với hai mặt: nội chuyển hướng về cơ sở của tự phản tư và ngoại chuyển từ bản ngã ra ngoại giới, từ thế kỷ 17, có thể áp dụng vào những khu vực khác? Không thể, chẳng hạn trong lịch sử triết học Hoa, bước cắt có thể khởi từ thế kỷ XI, ở Ấn, xâm nhập của người Hồi chấm dứt phát triển của Phật giáo Ấn song xuất hiện chủ nghĩa chiết trung.

Quan niệm về tính thông ước/commensurability”, “tha tính/alterity”, “khu biệt/difference”, “phức thể/plurality” là những chỉ dấu trong khai thác tư tưởng áp dụng vào lịch sử triết học trên cơ sở nào? Chẳng hạn, khó thể có đáp án “tri thức luận nào là đúng cho những lý luận tri thức trong triết học Ấn. Vấn đề đặt ra là phải chăng chỉ có phi thông ước về nhận thức và chân lý?

Những tranh biện về phi thông ước khả hữu hay phi lý dẫn đến vấn đề khả thể của một chủ nghĩa đại đồng, hay toàn cầu hóa trong trật tự phương Tây?

Cũng từ bình diện đó, Karl-Otto Apel nghi vấn về một đạo đức vĩ mô hành tinh cho nhân loại có cần thiết và khả hữu?

Nếu quan niệm lịch sử triết học không là một hồi lang của những ngôn hành ngu xuẩn/Gallerie der Narrheiten, vấn đề đặt ra là: ngày mai, tại sao người ta vẫn phải đọc Khổng, Lão, Trang, Long Thọ, Platon, Aristote, Kant, Hegel, Heidegger, Derrida, Đặng v.v..?

(còn nữa)

[1](Sie) sind die Denker, die im Unterschied zu den Mitteln der Tat, des Gebildes, der Dichtung vielmehr im Mitteln der Begriffe und der Operation mit Begriffen zu dem kommen, was jed

TRẦN BÌNH NAM * CHÍNH LUẬN

McNamara, chiến tranh Việt Nam và nước Mỹ



Trần Bình Nam



Robert S. McNamara, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ dưới hai chính quyền John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson vừa qua đời hôm Thứ Hai 6/7/2009 tại nhà riêng ở thủ đô Washington. Ông McNamara sinh năm 1916 tại San Francisco, thọ 93 tuổi. Ông là một nhân vật đặc biệt ở chỗ trước khi được tổng thống Kenndy mời làm bộ trưởng quốc phòng ông chưa có một chút kinh nghiệm gì về quân sự (ngoài lon đại úy giả định sau khi Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản năm 1941do biệt tài về điều hành và thống kê). Ông tốt nghiệp tại UC Berkeley và trường hành chánh tại Harvard.

Năm 1945 hết chiến tranh ông trở về đời sống dân sự và làm việc cho hãng Ford chuyên sản xuất xe hơi. Năm 1960 ông được công ty Ford bổ nhiệm làm chủ tịch hãng Ford, người chủ tịch đầu tiên không thuộc gia đình họ nhà Ford. Mấy tháng sau tổng thống đắc cử Kennedy mời ông làm bộ trưởng quốc phòng.

Tổng thống Kennedy tin rằng điều hành thành công một công ty lớn như công ty Ford ông McNamara sẽ điều hành nổi bộ máy quân sự Hoa Kỳ khổng lồ của Hoa Kỳ. Lúc này tổng thống Kennedy chưa có chính sách dứt khoát đối với cuộc chiến Việt Nam là nên tiến hay thối, và trong thâm tâm ông hy vọng ông McNamara với tài điều hành giỏi từng chứng tỏ ở cương vị chủ tịch hãng Ford sẽ có đối sách đúng đối với cuộc chiến Việt Nam.

Nếu tổng thống Kennedy không bị ám sát chết năm 1963 (và cái chết của tổng thống Kenndy có liên quan gì đến cuộc chiến Việt Nam không vẫn là một nghi vấn có thể chẳng bao giờ có câu trả dứt khoát) có thể ông sẽ xuống thang cuộc chiến vào nhiệm kỳ 2 (1964-1968) và cũng rất có thể ông McNamara sẽ là người làm công việc này một cách êm xuôi. Nhưng lịch sử chuyển qua một hướng khác. Tổng thống Kennedy chết, Phó tổng thống Johnson lên thay và cuộc chiến Việt Nam leo thang trong năm 1964 và trong suốt nhiệm kỳ 1964-1968 của ông Johnson. Và Robert McNamara đã là người thực hiện chính sách leo thang bằng con số và bằng các đồ thị từ văn phòng bộ trưởng ở Ngũ giác đài.

Là một người Mỹ ông tin rằng bộ máy kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ là vô địch, và vì Hoa Kỳ chưa hề bại trận trong suốt lịch sử từ ngày lập quốc, ông McNamara tin rằng nước Mỹ sẽ thắng cuộc chiến Việt Nam và sẽ thắng một cách gọn nhẹ với sự điều hành một cách khoa học của ông. Ông tin như vậy và với sự hậu thuẫn của tập đoàn tư bản Hoa Kỳ ông đã thuyết phục dễ dàng tổng thống Johnson và quốc hội. Nhưng chiến tranh không phải chỉ thuần là khoa học và sự thiếu kinh nghiệm chiến lược của ông McNama đã làm cho Hoa Kỳ sa lầy. Từ con số 400 quân nhân thuộc lực lượng đặc biệt ông McNamara phái qua Việt Nam sau khi tổng thống Kennedy nhậm chức, đến tháng 11/1963 khi ông Kennedy bị ám sát quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam lên 17.000 người và vào năm 1965 khi Hoa Kỳ chuẩn bị oanh tạc liên tục miền Bắc Việt Nam, Hoa Kỳ có 175.000 quân tại Việt Nam. Tất cả đều do tài đạo diễn của ông McNamara.

Cũng trong khoảng thời gian 1965 này ông McNamara bắt đầu nghi ngờ về chiến thắng tại Việt Nam và vào mùa thu năm 1966 sự nghi ngờ của ông không che dấu được ai trong giới thân cận. Tuy nhiên bên ngoài ông McNamara vẫn tỏ ra là con diều hâu của chiến tranh và thiết lập các kế hoạch tăng quân và tăng cường độ các cuộc oanh tạc miền Bắc Việt Nam.

Muốn rút bài học cho Hoa Kỳ và cho chính bản thân, năm 1967 ông McNamara bí mật ra lệnh điều tra nguyên ủy của cuộc chiến tranh Việt Nam mà không thông báo cho tổng thống Johnson. Kết quả là tài liệu mật “Pentagon Papers” mà ông Daniel Ellsburg, một thành phần trong ban nghiên cứu đã cung cấp (một phần) cho tờ New York Times năm 1971 tạo chấn động dư luận Hoa Kỳ. Giữa năm 1967 tổng thống Johnson biết việc sưu tầm này ông nghi ngờ ông McNamara thu thập tài liệu để giúp ông Robert Kennedy ra tranh sự bổ nhiệm của đảng Dân Chủ với ông trong cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 1968-1972, đo đó quan hệ giũa tổng thống Johnson và ông McNamara trở nên nguội lạnh.

Năm 1968 sau cuộc tấn công Mậu Thân, tướng Westmoreland xin thêm quân, ông McNamara là người khuyến cáo không tăng và quan hệ đối với tổng thống Johnson trở nên căng thẳng hơn. Những ngày huy hoàng của McNamara chấm dứt.

Cuối tháng 2/1968 ông McNamara từ chức bộ trưởng quốc phòng (trên thực tế bị tổng thống Johnson cách chức) và được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ngân Hàng Thế giới (World Bank). Một tháng sau, tổng thống Johnson tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 1968-72 và đề nghị mở cuộc thương thuyết với Hà Nội để chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Lúc này Hoa Kỳ có hơn nửa triệu quân tại Việt Nam và đã có 30.000 quân nhân tử trận. Cuộc chiến McNamara (McNamara’s war, theo cách mô tả của Thượng nghị sĩ Wayne Morse, một Thượng nghĩ sĩ chống chiến tranh Việt Nam thuộc đảng Dân chủ, bang Oregon) xuống thang nhưng từ đó cho đến khi Hoa Kỳ ký được bản Hiệp ước Paris năm 1973 Hoa Kỳ còn tổn thất thêm 28,000 binh sĩ nâng tổng số tổn thất nhân mạng binh sĩ Hoa Kỳ lên 58.000 người.

Chiến tranh Việt Nam với tổn thất to lớn về nhân mạng và để lại hội chứng bại trận (Vietnam syndrome) trong tâm lý quốc gia là một dấu ấn lớn đối với ông McNamara. Tuy nhiên mãi gần 30 năm sau ông mới công khai nói ra cái nhìn của ông trong cuốn In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vienam ông viết và phát hành năm 1995, qua đó ông nói rằng sai lầm của cuộc chiến do hoàn cảnh khách quan của tình hình thế giới và sự phức tạp của chiến tranh chứ không phải là sai lầm của cá nhân ông. Cuốn sách đã gây ra nhiều tranh luận tại Hoa Kỳ. Giới quân nhân giải ngũ và thân nhân các tử sĩ bỏ mình tại Việt Nam cho ông McNamara phản bội và chất vấn ông tại sao trong thâm tâm ông biết việc Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam là một sai lầm từ năm 1965 ông vẫn công khai thúc đẩy tổng thống Johnson tiếp tục gởi quân sang Việt Nam và nướng thêm hàng chục ngàn thanh niên Mỹ nữa, chưa nói thêm một triệu người Việt Nam bỏ mình vì cuộc chiến.

Cuốn sách In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vienam của ông McNamara phát hành tháng 4 năm 1995 gồm 11 chương không thuyết phục được ai nếu không nói mang thêm nghi ngờ đối với tư cách và lòng yêu nước của ông McNamara.

Trong nỗ lực thanh minh thêm lập trường kiên định, năm 2003 ông McNamara cho nhà đạo diễn Errol Morris thực hiện một cuốn phim bằng cách phỏng vấn ông nhan đề: “the Fog of War” nhưng vẫn cung cách không nhận sai lầm của chính mình mà đổ lỗi cho hoàn cảnh. Vì vậy ông vẫn không chinh phục được lòng tin của người Mỹ.

Bây giờ ông nằm xuống, nhưng vết hằn ông ấn lên nước Mỹ vẫn chưa nhòa. Nói đến ông người ta sẽ nhớ đến nhận xét của nhà văn David Halberstam, tác giả cuốn sách “The Best and the Brightest” (những khuôn mặt thông minh và sáng giá) rằng: “Ông McNamara trung thành với người lãnh đạo ông chứ không trung thành với sự thật. Ông nói láo và khuyến khích những phụ tá của ông nói láo. Ông nói láo với Kennedy, ông nói láo với Johnson, và chỉ khi sự thất bại hiện ra rành rành trước mắt ông mới thấy lúng lúng không dám nói láo nữa” (nguyên văn: McNamara’s loyal was to his bosses and not the truth. He lied to them. He had people under him lying. He did it with Kennedy and he did it with Johnson and it was only when he was impaled with the failure of the war that he didn’t know what to do.)

Và nói như John Hurley, một sĩ quan từng chiến đấu tại Việt Nam và sau này trở thành một phụ tá thân cận của ứng cử viên tổng thống John F. Kerry năm 2004 rằng: “Ông McNamara không hiểu chiến tranh là gì và cũng chẳng hiểu cái giá sinh mạng của chiến tranh. Đối với ông ấy Việt Nam chỉ là một con số khô khan trên máy tính. (nguyên văn: He never understand, never seemed to care about the humain cost of the war…. To him, Vietnam was just a policy issue, sterile numbers to be managed.)

Robert McNamara qua đời để lại người vợ thứ hai, bà Diana Masieri Byfield và ba người con với vợ trước, bà Margaret qua đời năm 1981 gồm: Craig of Winters, Margaret Pastor và Kathleen McNamara.



Trần Bình Nam

July 8, 2009

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

Trần Bình Nam http://www.tranbinhnam.com

THƠ SONG NGỮ * HÀ THƯỢNG NHÂn & THANH THANH

Hà Thượng Nhân & Thanh Thanh

HẠNH PHÚC ĐƠN SƠ

Con sắp lớn nghĩa là Cha sắp già

Cha tiếp tục thịt da con sống mãi

Mỗi một tiếng kêu nhẹ nhàng êm ái

Cha tưởng đâu tiếng nói của thiên thần

Ôi, những cánh tay, ôi những bàn chân

Cành với lá xum xuê tàng cổ thụ

Cha sẽ cỗi nhưng mầm non sẽ nhú

Cuộc sống Cha nhân gấp đến bao nhiêu

Rồi mai đây khi nắng sớm trăng chiều

Con chắc lại làm thơ dâng vũ trụ

Cha là trái, các con Cha là nụ

Cha trẻ hoài, Cha có biết già đâu...

Các con ơi... nắng mới vẫn tươi màu

Đời hữu hạn mà hóa ra bất tận

Chính bởi thế, Cha không hề biết giận

Nhìn vào đâu cũng chỉ thấy yêu thương

Vị đắng cay từng uống ngọt như đường

Cha nghĩ tới lúc các con hăm hở

Đạp gai góc coi thường muôn hiểm trở

Say tự do như Cha đã từng say

Xóa căm thù trong tự điển tương lai

Con sẽ viết những non xa nước lạ

Con sẽ đứng dưới chân thành La Mã

Nghe gạch vôi mòn mỏi với thời gian

Cung điện xưa mấy chốc đã điêu tàn?

Tàn lụi hết mộng xâm lăng đế bá

Chỉ còn lại điện Le Louvre êm ả

Trụ Eiffel ngạo nghễ giữa Paris

Chỉ còn đây những kiến trúc tân kỳ

Cùng góp mặt những người xưa đã khuất!

Các con ạ! Ta chẳng bao giờ mất

Mất hay còn cũng bởi chính nơi ta

Gì đẹp hơn nỗi khát vọng bao la?

Gì bền vững hơn những niềm tin tưởng?

Ta được sống, ôi! Biết bao sung sướng

Sống là yêu... sống chỉ để yêu thôi...

Thượng Đế soi hình ảnh giữa con người!

HÀ THƯỢNG NHÂN

PLAIN FELICITY

You are growing up, that means I am growing old;

But I continue to live because me in your flesh you hold.

Each word that you say sounds so sweet and soft,

I hear it like the voice of angels or seraphs aloft.

Oh your arms so amiable, oh your feet so fine:

Branches and leaves for foliage in the ancient tree design.

I will become stunted while you young sprouts shoot, thus

My life will be multiplied by yours many times plus.

Some day in the morning sunlight or evening moonlight

Perhaps to offer poetry to the universe you will also write.

I am the fruit, you are each a seed;

In you I am always young, I will never get aged indeed.

Oh my children... the new fair weather is again bright,

Limited life eventually becomes limitless to our delight.

Thus I have never held it against me when coming to bat

And only see compassion everywhere I look at

Since the taste of bitterness I have gone through as honey.

I think of the time when you all start out, sunny,

To step on spikes and thorns, defying any road-block,

Crazily loving Liberty like me before, as drunk with bock,

Erasing vindictive hatred in the future dictionary.

You will write about the exotic lands, each a visionary,

Standing at the foot of old Roman rampart now hushed

To witness the bricks with time mercilessly crushed:

Those palaces and castles have soon fallen into ruin.

They have perished, the suzerains once with so much din;

Only peaceful and beautiful Le Louvre Museum exists

With imposing and impressive Eiffel Tower in Paris;

Only remain here the works that old architects achieved

As original contributions by everybody perceived.

My dear children! We will never be lost:

Disappearance or existence all depends on our cost.

What would be more wonderful than an infinite aspiration,

The unshakable beliefs based on a firm foundation?

We have got our lives, then we are living! Oh, what bliss!

To live is to love... yes, live only to love, not to miss:

God looks at his image among humans as his mirror!

THANH-THANH

(Poems by Selected Vietnamese)

http://en.wikipedia.org/wiki/Le_Xuan_Nhuan

THÔNG CÁO TÒA GIÁM MỤC ĐỊA PHẬN VINH

Thông Cáo số 3 (27/7/2009) của VP Thư ký Tòa Giám mục Giáo phận Vinh

VĂN PHÒNG THƯ KÝ
TÒA GIÁM MỤC XÃ ĐOÀI
Nghi Diên - Nghi Lộc - Nghệ An
Đt. 0383 611 845 ; 0977006526
Email:
tgmxadoai2004@yahoo.com

Ngày 27 tháng 7 năm 2009

THÔNG CÁO
(SỐ 3)

V/v Tam Tòa tại Đồng Hới, Quảng Bình

1. Đây là bản thông cáo số 3, qua đây, Văn phòng thư ký có những thông tin và báo cáo chính thức từ Tòa Giám mục Xã Đoài, Giáo phận Vinh về vụ việc Tam Tòa và các vấn đề liên quan.

2. Tòa Giám mục cám ơn các bài viết dưới những hình thức khác nhau đã lên tiếng hiệp thông với Tam Tòa, cách riêng là những nạn nhân bị công an và nay quân vô lại đánh đập và bắt giữ.

3. Trên một số báo đài của Nhà nước và của tỉnh Quảng Bình có nói về việc đất đai và vụ việc Tam Tòa. Tòa Giám mục Xã Đoài, Giáo phận Vinh tuyên bố rằng sự thật không phải là như các báo đài ấy nói.

4. Theo dự định, 7 giờ sáng Chúa Nhật, ngày 26/7/2009 tại nhà thờ 18 sở hạt trên tổng số 19 giáo hạt trong Giáo phận Vinh, giáo dân các giáo xứ đã đổ về giáo hạt mình để thể hiện tình liên đới, hiệp thông cầu nguyện cho Tam Tòa. Theo số liệu báo cáo từ các giáo hạt, số giáo dân tham dự lễ sáng hôm 26/7 gần 250 ngàn người. Giáo dân các giáo xứ mang theo cờ vàng-trắng với biểu ngữ : “Cầu nguyện cho giáo dân Tam Tòa bị công an Quảng Bình đánh đập và bắt giữ”. Biểu ngữ này đang được treo ở cổng Tòa Giám mục và trước tất cả các nhà thờ trong toàn Giáo phận Vinh. Theo thông tin từ các giáo hạt, thánh lễ này được cử hành rất trang nghiêm, sốt sắng. Tất cả nói lên sự hiệp thông liên đới của linh mục đoàn, tu sỹ nam nữ và gần 500 ngàn giáo dân Giáo phận Vinh, với những anh chị em mình đang bị bách hại. Và ai cũng cảm thấy đau nhói, khi biết Thánh Giá đã bị công an Quảng Bình xúc phạm và nay đang bị hạng vô lại chiếm giữ.

5. Riêng tại Tam Tòa, Đồng Hới, có 7 linh mục trong hạt Đồng Troóc và hơn 500 giáo dân về nền nhà thờ Tam Tòa để dâng lễ. Nhưng có một lực lượng khoảng trên 3000 người, trong đó gồm có công an, cảnh sát, dân quân và dân địa phương đã dùng vũ lực ngăn cản, đánh đập một số giáo dân không cho tới nền nhà thờ Tam Tòa. Có 3 người bị đánh, trong đó có mẹ con chị Yên là phó Ca đoàn giáo xứ Tam Tòa bị một nhóm thanh niên xông vào đánh, chị ấy ngồi xuống. Con chị chạy tới chữa và cũng bị đánh (con chị mới 8 tuổi).

6. Chiều 26/7/2009 công an Quảng Bình tiếp tục bắt 3 giáo dân, trong đó có Ông Lý - chủ tịch HĐMV giáo xứ Tam Tòa; chị Yên - phó trưởng Ca Đoàn giáo xứ; Anh Thống quê xứ Trang Nứa, Nghệ An. Thêm vào đó công an Quảng Bình còn dùng các hình thức khác để đe dọa, trấn áp giáo dân Tam Tòa.

7. Sáng 27/7/2009, 5 linh mục và Hội đồng mục vụ các giáo xứ trong giáo hạt Kỳ Anh, (giáo hạt sát Quảng Bình) vào thăm các nạn nhân. Theo các Cha kể lại, khi đoàn vừa bước xuống xe, gần nền nhà thờ Tam Tòa thì một nhóm ăn mặc thường phục, có ít tên giống côn đồ xông vào đánh ngay các linh mục và giáo dân cùng đi. Cũng theo các Cha kể lại, đàng xa có một số trong trang phục công an đứng nhìn. Khi lớp "côn đồ" đánh Cha Phaolô Nguyễn Đình Phú và 3 giáo dân bị trọng thương thì nhóm công an mới tiến lại mang loa bảo mọi người giải tán. Một nhóm giáo dân đưa Cha Phú và mấy người bị trọng thương vào một trạm xá gần đó. Thấy tình thế quá bất ổn, vì nhóm côn đồ tiếp tục nói những lời tục tĩu, đe dọa buộc các linh mục và giáo dân phải rời khỏi nơi đó, nên các cha lên xe trở về.

8. Nghe tin trên, Cha Phêrô Ngô Thế Bính - quản xứ Hà Lời tới để nắm bắt tình hình. Thấy cảnh tượng khủng khiếp, vì nhóm côn đồ bao vây trạm xá không cho ai vào, ngài đứng từ xa và điện thoại yêu cầu phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình tới để cha Bính có thể vào thăm Cha Phú. Phó chủ tịch UBND Quảng Bình tới và dẫn Cha Bính tới thăm Cha Phú. Phó chủ tịch bàn Cha Phú ra khỏi trạm xá và ông đi khỏi đó. Sau đó một lớp côn đồ đang vây quanh trạm xá xông vào đánh 2 giáo dân đang trực cha Phú và đánh Cha Bính. Tình thế hỗn loạn, Cha Bính thấy công an trong trang phục của mình đứng nhìn để nhóm côn đồ đánh đập tàn nhẫn, rồi để Cha Bính nằm bất tỉnh. Có một giáo dân đang làm ăn tại Đồng Hới đi qua thấy và biết đó là Cha Bính liền thuê xe đưa Cha Bính tới bệnh viện Việt Nam-Cuba tại Đồng Hới. Và sau đó công an thuê taxi đưa Cha Phú và 5 giáo dân bị đánh trọng thương tới bệnh viện Việt Nam - Cuba. Tại bệnh viện, 2 Cha và các giáo dân bị đánh trọng thương không được cứu chữa gì. Và bệnh viện đề nghị Cha Phú về bệnh viện Kỳ Anh. Rồi họ cho xe đưa Cha Phú và 5 giáo dân về Kỳ Anh. Cha Bính nằm dở sống dở chết không được chăm sóc, khi tỉnh lại, ngài được người giúp đưa ra khỏi bệnh viện và lên xe về Phòng khám Đa khoa Tòa Giám mục Xã Đoài.

9. Một lần nữa, những hành động man rợ mà các chứng nhân cho biết là có sự tiếp tay của công an Quảng Bình làm cho dư luận khắp nơi phẫn nộ, bất bình. Giáo dân Vinh đang chuẩn bị tinh thần cao nhất để đối phó với mưu chước quỷ ma.

10. Máu giáo dân Tam Tòa đã đổ xuống tại mảnh đất thánh thiêng của Cha Ông. Nay máu linh mục Vinh đã đổ xuống tại Tam Tòa. Người ta chắc chưa ai lường hết sự thể sẽ xảy ra thế nào, nếu chính quyền Quảng Bình vẫn tiếp tục dùng vũ lực trấn áp tôn giáo.

11. Hiện nay, các nạn nhân tại Tam Tòa bị tổn thương tâm lý rất nặng, nhất là các trẻ em cũng bị quân vô lại làm khổ. Đoàn chiên nhỏ tại Tam Tòa như đang phải sống giữa bầy lang sói đông gấp trăm lần. Họ đang hy sinh thay cho chúng ta, những người tin Chúa. Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện. Xin những người thiện chí cùng lên tiếng bênh vực họ.


Văn phòng Thư ký Tòa Giám mục
Chánh Văn phòng
(Đã ký và đóng dấu)
Linh mục Antôn Phạm Đình Phùng

http://www.giaophanvinh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=4845

Kinh thua Quy vi, dac biet cac ban tre,

Trong so nhung nguoi than cua chung ta
Khong phai tat ca deu da co may dien toan (vi tinh)
hoac co dung email, hoac da co the nhan duoc nhung tai lieu nay...

Vi vay, xin hay ung ho chung toi bang cach pho bien tai lieu nay bang
email hoac in ra, photocopy va goi cho nguoi than cua Quy vi.
Dac biet xin goi cho cac Linh muc chua co su dung internet

Xin chan thanh cam on

SIRIK MATAK, TẤM GƯƠNG ANH HÙNG






(H1: Từ trái qua phải : Sisowath Sirik Matak,
Lon Nol, and In Tam)


Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang
thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì
ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.
Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động
gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí và
tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau :




Phỏng Dịch.-

Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.

Thưa Ngài và Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do .
Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy !
Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờ
tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do .
Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết .
Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy
đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó .
Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ !
Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .
Sirik Matak

~~~~~~~~~~~~ ~
Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, tổng cộng có 150 người trong chính phủ Miên
đã di tản theo ngưỡi Mỹ .
Còn lại toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết hết .


Riêng gia đình ông Sisowath Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc
trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.



__._,_.___

ĐÀI Á CHÂU TỰ DO * MIỀN TRUNG OAI HÙNG BẤT KHUẤT

Hàng trăm người diễn hành bày tỏ bất bình về vụ Tam Tòa

2009-07-28

Sau vụ hai linh mục bị đánh đập liên quan đến chuyện tranh cãi đất đai tại nhà thờ Tam Toà ở Quảng Bình, hiện những người theo đạo tại giáo Phận Vinh, tổ chức diễu hành lớn về Tam Toà để bày tỏ sự bất bình của họ.

Photo courtesy Vietcatholic

Hình ảnh Giáo hạt Ngàn Sâu, Gp Vinh, hiệp thông cầu nguyện cho Tam Tòa

Linh mục Võ Thanh Tâm, Tổng Đại Diện Giáo Phận Vinh, đang cố sức xoa dịu tình hình bằng cách yêu cầu chính quyền địa phương thả hết những người bị bắt ra.

Trả lời câu hỏi của Thanh Trúc, linh mục Võ Thanh Tâm bày tỏ sự lo ngại của ông:

"Đem yêu thương vào nơi oán thù"

LM Võ Thanh Tâm : Tôi thuyết phục Cha hết sức kiềm hãm giáo dân lại để sống theo cái lối đấu tranh theo Tin Mừng. Hôm qua họ đánh hai cha trọng thương, giáo dân họ định diễu hành đi vào trong Quảng Bình, nhưng mà nơi đó cô đơn, vào đấy họ gặp ai họ đánh nấy, thì cái này chúng tôi thấy chưa tiện vào trong đó.

Tôi thuyết phục Cha hết sức kiềm hãm giáo dân lại để sống theo cái lối đấu tranh theo Tin Mừng. Hôm qua họ đánh hai cha trọng thương, giáo dân họ định diễu hành đi vào trong Quảng Bình, nhưng mà nơi đó cô đơn, vào đấy họ gặp ai họ đánh nấy, thì cái này chúng tôi thấy chưa tiện vào trong đó.

LM.Võ Thanh Tâm

Chúng tôi can ngăn bởi vì mình theo Tin Mừng thì mình "đem yêu thương vào nơi oán thù". Mình đã làm lễ và diễu hành cho biết ý chí của mình là không thích, không ưng cái chuyện không chân lý đó là được.

Bây giờ thế này, chính quyền trong Quảng Bình có hỏi chúng tôi định như thế nào thì chúng tôi hy vọng là họ sẽ có chiều hướng là họ sẽ có thể là thả người, vì đánh mấy linh mục nên họ cũng lo lắm, họ lo lắng lắm bởi chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng mà đụng hai linh mục như thế này nói thật họ cũng lo bởi vì thi hành công vụ đó là một số người thôi.

Hy vọng cầu nguyện để họ thả số người bị bắt là bảy tám chín người đó thì là hạ nhiệt thôi, thì chúng tôi cũng dễ nói. Chúng tôi lãnh đạo ở đây, mình chịu trách nhiệm ở đây mà nếu mình loạn thì không đúng với Tin Mừng. Mà dùng vũ khí cũng không đúng với Tin Mừng. Thì chúng tôi giữ cái đấy, nhưng mà tình hình sục sôi lắm, Công Giáo cả Nghệ -Tĩnh - Bình sục sôi lắm.

Thanh Trúc : Chúng tôi cũng có tìm cách để liên lạc với LM Lê Thanh Hồng ở Quản Xứ San Bàn là trực tiếp với nhà thờ Tam Toà ở Đồng Hới từ hôm qua đến nay, nhưng chúng tôi không thể nào bắt liên lạc được.

LM Võ Thanh Tâm : LM Hồng hiện bây giờ về nhà xứ Sen Bàn bởi vì nơi Tam Toà mấy người có máu mặt đó là họ bắt hết. Ông Nguyễn Công Lý cho mượn căn nhà lâu nay để làm lễ thì cũng bị họ triệu tập, như vậy cũng gọi là bị bắt thôi. Rồi có chị Yên cũng bị triệu tập đi, còn cha Hồng thì về xứ Sen Bàn ở cách đó 15-16 cây số, chứ ngài ở đó thì ở với ai? Cái lớp ở đó bị họ đánh, mình không có chỗ dựa, Công Giáo thì chỉ có mấy nhà Công Giáo, còn đa số là dân phố các nơi tới đó buôn bán làm ăn, mà họ đánh tơi bời bằng gậy như thế thì ai dám ở đó.

Chúng tôi lãnh đạo ở đây, mình chịu trách nhiệm ở đây mà nếu mình loạn thì không đúng với Tin Mừng. Mà dùng vũ khí cũng không đúng với Tin Mừng. Thì chúng tôi giữ cái đấy, nhưng mà tình hình sục sôi lắm

LM.Võ Thanh Tâm


Hành động tự phát của dân chúng ở đó?

Thanh Trúc : Báo Công An bên Việt Nam họ nói rằng người dân ở đó không thích những người đi theo đạo cho nên họ đã đánh chứ không phải là xã hội đen, là gì hết. Họ nói là hành động tự phát của dân chúng ở đó.

LM Võ Thanh Tâm : Nói là hành động tự phát của dận vì dân không ưng đạo, đạo đến làm gì của họ mà họ không ưng đạo? Họ đánh tơi bời như thế thì như thế là lương giáo chiến nhau mà chính quyền ở đó không can thiệp.

Cụ thể họ đánh cha Phú sao không bắt? Cụ thể họ đánh cha Bính, công lực làm việc như thế nào, sao không bắt? Mà ở đó có công an chen vô đó, lẫn vô đó, ở ngay sát đó sao lại không bắt những kẻ đánh người mà bây giờ lại đổ cho dân? Không có như vậy đâu, lương giáo chúng tôi đoàn kết, anh em không có chuyện đó. Ai kích động họ thì cái này chúng tôi chưa xác định.

Nói là hành động tự phát của dận vì dân không ưng đạo, đạo đến làm gì của họ mà họ không ưng đạo? Họ đánh tơi bời như thế thì như thế là lương giáo chiến nhau mà chính quyền ở đó không can thiệp.

LM.Võ Thanh Tâm

Nhưng mà có một cái nguyên nhân ngoại tại như thế nào đó chứ không phải là... Lương giáo chúng tôi làm gì ? Đến đó đọc kinh một lễ chiều Thứ bảy, một lễ sáng Chủ Nhật rồi về thôi. Cô có hỏi là có thể giáo dân tụ tập lại làm một cuộc diễu hành lớn thì chúng tôi chưa rõ, nhưng mà khí sục sôi của họ thì hiện bây giờ tôi đang còn phone đi các điểm nóng đó tôi giữ lại.

Tôi nói "Khoan đã! Chưa đi." Đi vào đó không có một nhà xứ để trọ, không có nhà giáo dân để bước vào, toàn là khu phố được ba bốn nhà thì bị họ bắt rồi, bây giờ vào là họ đánh, vào là họ đánh để cho mất ý chí tới đây. Cứ thấy người lạ là họ đánh. Chính linh mục Bính hoạt động trong Quảng Bình, họ biết đấy mà họ vẫn cứ đánh, đánh bằng gậy gỗ có cạnh nguy hiểm lắm.

Tôi thấy tình hình nếu mà không thả người ra, tôi đã phone cho chính quyền Quảng Bình yêu cầu là các vị cùng chúng tôi chịu trách nhiệm với nhau thì phải thả hết người ra để cho chúng tôi có điều kiện mà thuyết phục dân để họ cái nhiệt này, chớ còn không làm như thế thì như bản kiến nghị của chúng tôi đã nói: "Nếu không thả hết người ra, có xảy ra chuyện gì chính quyền tỉnh Quảng Bình chịu hoàn toàn trách nhiệm".

ĐÀI Á CHÂU TỰ DO * TOÀN DÂN VIỆT NAM VÙNG LÊN DIỆT CỘNG SẢN

Linh mục yêu cầu chính quyền trả tự do cho các giáo dân

Linh mục Chánh văn phòng thư ký Toà giám mục Xã Đoài, giáo phận Vinh, hôm nay yêu cầu chính quyền trả tự do cho các giáo dân đang bị giam giữ.

Photo courtesy of Vietcatholic

Giáo Thuận Nghĩa thuộc Giáo phận Vinh tuần hành hiệp thông với Giáo xứ Tam Tòa.

Hãng thông tn Đc DPA loan tin này, cho biết thêm, linh mc Phm Đình Phùng nói rng giáo dân s không th gi bình tĩnh như chính quyn đòi hi, nếu chính quyn chưa tr t do cho nhng giáo dân b giam gi t hôm 21 tháng 7.

V côn đ tn công giáo dân ti nhà th Tam toà hôm 21 tháng 7 gây nên tình trng căng thng vi cng đng giáo dânCông giáo Vit Nam.

TamToa-072909-305.jpg
Giáo xứ Tân Lộc, hạt Cửa Lò, tuần hành ủng hộ giáo dân Tam Tòa.
250 ngàn giáo dân d thánh l ti Vinh và biu tình ôn hoà sáng ch nht va qua.

Chiu ch nht, trên 500 giáo dân v dâng l ti nhà th Tam Toà đã b ngăn cn bng bo lc, 3 người na b bt.

Đến sáng th hai, thêm 2 linh mc đến Tam Toà thăm hi, đã b côn đ đánh trng thương.


TIN BBC * VIỆT NAM VÙNG LÊN DIỆT CỘNG SẢN

Tranh luận vụ Công giáo Tam Tòa

Cầu nguyện ở giáo xứ Thuận Nghĩa, giáo phận Vinh

Giáo phận Vinh nói hàng chục ngàn giáo dân đã cầu nguyện cho những người bị công an Quảng Bình 'đánh đập và bắt giữ'

Những bất bình của Giáo hội Công giáo đối với chính quyền Việt Nam trong vụ Tam Tòa đang lên cao trong lúc có ý kiến của cán bộ nghiên cứu phía chính phủ nói có những người đang 'biến vấn đề dân sự thành tôn giáo'.

Linh mục Huỳnh Công Minh, Tổng Đại diện giáo phận Sài Gòn lên tiếng cáo buộc các quan chức Quảng Bình ''cả vú lấp miệng em''.

Cha Minh nói như vậy với đài BBC sau ngày Chủ Nhật mà giáo phận Vinh gọi là ''ngày cầu nguyện lịch sử'' trong đó ít nhất hàng chục ngàn giáo dân đã tham gia cầu nguyện để ủng hộ những người bị công an ''đánh đập và bắt giữ.''

Nhưng một nhà nghiên cứu có tiếng cũng nói với BBC những người công giáo đã ''có bé xé ra to'' và nhiều giáo dân đã bị ''kích động'' để tham gia cầu nguyện.

Hiện một số giáo dân vẫn bị công an Quảng Bình giam giữ sau khi xảy ra va chạm trong lúc họ dựng nhà tạm trên nền của nhà thờ Tam Tòa bị bom Mỹ từ thập niên 60 và chính quyền đã xếp nhà thờ vào các chứng tích tội ác chiến tranh.

Giáo hội Vinh nói nhà thờ vẫn thuộc sở hữu của giáo hội và việc dựng nhà tạm không vi phạm pháp luật.

Họ cũng cáo buộc công an địa phương có hành động ''vô nhân đạo'' và ''đánh đập tàn nhẫn'' giáo dân và rằng công an chưa thả một số người vì sợ truyền thông thấy các thương tích của họ.

'Lơ mơ dẹp liền'

Nói chuyện với đài BBC từ thành phố Hồ Chí Minh hôm 27/7/2009, linh mục Huỳnh Công Minh nói:

''Nếu chính quyền Quảng Bình vẫn tiếp tục như vậy, không có nhận thấy chuyện làm quá sai, cứ tưởng là cả vú lấp miệng em được là không được,'

Ngoài ra, linh mục cho rằng trước chuyện giáo dân "đang bị đánh, bị đập" thì "đương nhiên giáo hội phải có tiếng nói".

Khi được hỏi tại sao trong hàng chục năm qua giáo hội không lên tiếng đòi quyền lợi xung quanh nhà thờ Tam Tòa mà đợi tới tận bây giờ, linh mục Tổng Đại diện Sài Gòn nói:

''Trước kia làm lơ mơ người ta đập dẹp liền, hổng nói năng gì được, rồi xung quanh chẳng ai biết gì. Nhưng bây giờ đâu được. Ví dụ cái tin vừa xảy ra cả thế giới biết thì ngày xưa đâu có vậy,"

Những ai có ý kiến khác thì quy là chống lại nhà nước, chống lại tổ quốc...

Linh mục Huỳnh Công Minh

''Tình hình mới là chỗ này: cái nguồn thông tin trước đây là hoàn toàn bị khống chế, những cái chuyện rõ ràng sai sự thật mà dùng cả hệ thống, rồi xem báo chí là cơ quan tuyên truyền của chính quyền thì làm sao được."

''Chính quyền có thể làm điều này điều kia không phù hợp thì người ta phải có ý kiến chứ, mà những ai có ý kiến khác thì quy là chống lại nhà nước, chống lại tổ quốc. Cái điều này hiện nay còn rất mơ hồ và người ta lợi dụng cái này để hăm dọa những người bất đồng ý kiến với chính phủ.''

'Hoàn toàn sai lệch'

Vê phía chính quyền, tỉnh Quảng Bình và các thông tin trên truyền thông nhà nước đều nói rằng lỗi thuộc về các giáo dân và cả giáo hội.

Công văn của tỉnh Quảng Bình gửi Tòa Giám mục Địa phận Vinh nói ''các vi phạm của giáo dân... không thể các linh mục quản xứ không biết. Điều đó cho thấy đã có sự lợi dụng giáo dân để gây áp lực với chính quyền.''

Còn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo ở Hà Nội thì cho BBC Việt ngữ hay:

''Đây là cách mà những người lợi dụng tôn giáo ở trong nước hay làm. Họ hay bé xé ra to. Rồi nhiều vấn đề dân sự, họ hay chuyển hóa thành vấn đề tôn giáo,"

''Còn về những người dân, chúng tôi biết có một số người họ đi theo các đoàn, họ gần như không có hiểu biết, không nắm được và nhiều thông tin của Giáo hội đưa là hoàn toàn sai lệch."

Theo ông Dương, có một cách tuyên truyền không đúng của một số nhân vật Công giáo. Từ kinh nghiệm riêng, ông cho hay:

''Như tôi nhận được một thư của một linh mục dấu tên nói là 'tàn sát nhân dân', rồi 'máu tử đạo đã đổ', rồi kích động giáo dân hãy tử đạo. Rồi nói là chính quyền đàn áp phụ nữ và trẻ em. Điều đó tôi có thể khẳng định là không có. Và Chính quyền Quảng Bình đã giải thích và vận động bà con trở về."

Tranh cãi quanh nhà thờ Tam Tòa có tính lịch sử nhưng chính quyền và Giáo hội công nhận các thời điểm khác nhau. Về việc này, Tiến sỹ Dương nêu quan điểm gần với của chính phủ:

Các cuộc cầu nguyện công khai mà giáo dân Công giáo Việt Nam thực hiện cho thấy một tầm vóc lớn

''Một nơi chỉ còn là chứng tích, đổ nát, không còn gì. Bây giờ dân từ xứ khác kéo đến, từ thôn Cò Xẻ của Quảng Hợp, Quảng Trạch, cách đó tới 5 km kéo tới. Còn dân Tam Tòa, năm 1954 hầu hết đã di cư vào trong miền Nam, hầu hết không còn người dân gốc ở đấy nữa.''

Tiến sỹ Dương cũng nói chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị để có kế hoạch thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với Vatican và nói rằng chuyến thăm của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết nếu diễn ra có thể nằm trong lộ trình này.

''Tôi thấy rằng việc thiết lập quan hệ này rất cần thiết, trong một bài viết về của tôi, tôi cũng nói là việc này có ích lợi cho cả phía Nhà nước Việt Nam và Vatican vì Việt Nam hiện nay có trên sáu triệu tín đồ công giáo và VN là bạn với tất cả các nước, thì không có lý gì mà lại không thiết lập quan hệ với Vatican.''

Cơ chế 'xin - cho'

Về phía linh mục Tổng Đại diện Huỳnh Công Minh, trước câu hỏi liệu Đảng Cộng sản Việt Nam có lo ngại trước số giao dân lên tới hàng triệu và có sự liên thông ở Việt Nam không, linh mục nói:

''Họ không phải sợ Công giáo mấy triệu (giáo dân) là vì sợ số lượng. Nhưng họ sợ bất cứ ai không nghe theo những điều họ nói. Điều gì đúng mình theo, điều gì không đúng mình không theo thì người ta sợ cái điều đó. Người ta sợ những người chống lại như vậy mà có sự nối kết với nhau,"

''Dầu muốn dầu không người Công giáo trên thế giới có tổ chức và cái điều này là điều mà đảng Cộng sản ở bất kỳ nơi nào cũng sợ."

Cũng đang có dấu hiệu Giáo hội muốn lên tiếng về các vấn đề mà chính một số trang web Công giáo gọi là xã hội dân sự. Từ góc độ này, linh mục Huỳnh Công Minh nói:

''Nói tự do tín ngưỡng, nói tự do đi vô nhà thờ cầu nguyện thì chuyện đó hoàn đoàn đúng. Nhưng đâu phải tôi đi nhà thờ tôi chỉ cầu nguyện, tôi cũng có ý kiến của tôi chứ. Họ chỉ muốn anh tự do anh vào nhà thờ anh chỉ được cầu nguyện, không có được có ý kiến ngoài xã hội, chuyện này chuyện kia,"

Ông tin rằng ''Ngay trong nội bộ của Đảng, theo những người bạn mà tôi có, họ có được phát biểu lên một cách rõ ràng, công khai đâu. Nếu người ta phát biểu công khai thì chụp cho cái mũ là chống đảng, phản đảng."

''Sự thật là như vậy. Chính quyền miền Nam trước đây cũng vậy, nếu mình chống lại chính quyền thì hổng có yên thân.

Và điều ông phản đối là quan hệ giữa chính quyền và Giáo hội theo kiểu "chế độ xin - cho."

''Mà xin - cho thì mình chỉ có việc xin, người ta vui thì người ta cho, người ta không vui thì không cho chứ không có tiêu chuẩn nào cả. Thì điều này Giáo hội không chấp nhận, không bao giờ hài lòng."

Ông cũng khẳng định vì tình hình đã thay đổi nên "không có dễ mà trở lui lại giai đoạn trước."

'Không lặp lại'

Linh mục Huỳnh Công Minh cũng nói:

Đây là cách mà những người lợi dụng tôn giáo ở trong nước hay làm. Họ hay bé xé ra to. Rồi nhiều vấn đề dân sự, họ hay chuyển hóa thành vấn đề tôn giáoT

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Dương

''Theo tôi biết những người không cùng tín ngưỡng với tôi, thậm chí cả những người bạn của tôi ở trong Đảng người ta đều thấy điều đó. Cũng như ông Võ Văn Kiệt chắc chắn ông ấy có những suy nghĩ từ lâu nhưng không nói ra được, cuối đời mới nói ra được là đất nước này đâu phải chỉ của Đảng. Công lao gìn giữ đất nước, bảo vệ đất nước, công lao thống nhất đất nước đâu chỉ có riêng người Cộng sản.

''Thế nhưng người ta cứ đồng hóa chuyện Đảng là đại diện cho toàn dân, thể hiện ý chí của toàn dân, làm sao mà thể hiện được. Nếu mình thể hiện mà dân người ta phấn khởi thì điều đó là điều đáng mừng.

''Nhưng nó không phải vậy. Nhất là trong tình hình hiện nay tham nhũng tràn lan, đạo đức xã hội nó suy đồi không thể tưởng tượng được thì người lãnh đạo về mặt nhà nước, về mặt chính phủ phải chịu trách nhiệm,"

Trong các tài liệu Giáo hội công bố gần đây bắt đầu có tín hiệu người Công giáo Việt Nam coi các vấn đề của cả dân tộc là của chung, từ không gian công cộng cho đến cả chuyện biển đảo. Linh mục Minh giải thích:

''Tôi tin là thực sự ra để làm thay đổi tình hình trên diện rộng như là thay đổi của đất nước thì tám triệu người Công giáo đâu có làm gì được mà phải là toàn dân. Nếu người Công giáo có tham gia vào thì cũng trong tỷ lệ đó, cũng không nghĩ mình có thể đóng vai trò gì lớn lao."

''Nhưng tôi tin rằng đại đa số nguời dân hiện nay với truyền thống ngàn xưa của cha ông để lại thì người Việt Nam không thể chấp nhận sống trong tình trạng mà bị chèn bị ép, tiếng nói của mình, suy nghĩ của mình không được bộc lộ ra.''

Trả lời BBC từ Hà Nội, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo nhận định sẽ không có chuyện tôn giáo có thể góp phần dẫn tới sự thay đổi chế độ như ở Đông Âu.

''Chắc là lịch sử sẽ không lặp lại. Việt Nam có đường lối đối ngoại giao rất cụ thể và tính chất độc lập. Chắc lịch sử sẽ không lặp lại như thế,"

''Người giáo dân Việt Nam vẫn gắn bó với dân tộc. Họ có phương châm sống tốt đời đẹp đạo, sống Phúc âm trong lòng dân tộc, phụng sự đồng bào."

''Trong quốc hội đầu tiên của Việt Nam có linh mục Phạm Bá Trực là Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội."

Ông Dương cũng nhắc lại quan điểm của đảng cầm quyền đặt mối quan hệ mà ông nói là 'không ngăn cách' giữa tư cách tín đồ và công dân, thậm chí đảng viên cộng sản.

''Nhiều linh mục, giáo dân tham gia quốc hội, hội đồng nhân dân. Giáo dân và các tín đồ tôn giáo nếu phấn đấu tốt, đều có thể đứng trong hàng ngũ của đảng, chúng tôi không thấy có ngăn cách nào với giáo dân, miễn là họ thực hiện đúng, vừa là tín đồ vừa là công dân.''

Quý vị có ý kiến gì về hai quan điểm này xin vào trang Diễn Đàn của BBC Tiếng Việt để tham gia thảo luận. BBC tôn trọng mọi ý kiến dù trái ngược nhau trong tinh thần đối thoại thiện chí, bình đẳng.

CÔNG AN CHÌM ĐÁNH CÁC LINH MỤC & VÀ ĐỒNG BÀO



Xã hội đen hành hung giáo dân?

Từ vụ Thái Hà người ta đã từng chứng kiến nhóm người mặc thường phục gồm những thanh niên khỏe mạnh đàn áp, khiêu khích và dùng vũ lực để đánh đập giáo dân Thái Hà. Do không phân biệt được những kẻ côn đồ này là ai, người ta gọi chúng là bọn xã hội đen.

Phía cơ quan ngôn luận của nhà nước Việt Nam thì gọi đó là quần chúng nhân dân bức xúc.

Công an và bọn đầu gấu dữ dằn trấn áp giáo dân

Gần đây tại vụ Tam Tòa hàng trăm kẻ dữ dằn mặc thường phục tung hoành trên đất Đồng Hới, phát hiện ai là giáo dân là chúng xông vào đánh đạp, lăng mạ chửi bới trước sự hững hờ quan sát của các lực lượng cảnh sát mặc cảnh phục. Không rõ chúng là ai, một lần nữa người ta quy kết đó là nhóm xã hội đen.

Thực ra nếu ai am hiểu về dân giang hồ , xã hội đen, những băng đảng kiếm ăn bằng cách phạm pháp có thể thấy rõ , nhóm người hành hung giáo dân kia không phải là băng nhóm xã hội đen nào cả.

Ở Hà Nội là nơi trung tâm, có nhiều thành phần tiền án, tiền sự kết thành các nhóm.Nhưng điểm mặt không có băng nhóm nào có quá 20 thành viên. Những lần cần thanh toán, ẩu đả chúng kéo bạn bè từ các địa phương có truyền thống giang hồ về Hà Nội. Gom lại bất quá cũng đến 40 tay dao là cùng. Băng nhóm xã hội đen lớn nhất của Hà Nội ở thời kỳ cực thịnh của xã hội đen là băng Khánh Trắng chợ Đồng Xuân, lực lượng chiến đấu của chúng cũng không quá con số 100. Và điều tối kỵ là không khi nào xã hội đen phục vụ cho cơ quan công quyền để dùng bạo lực với những người dân lành, nhất là người dân có tín ngưỡng. Bởi chính những tên xã hội đen phần lớn đều có tín ngưỡng, nên chúng rất tránh nặng lời với những người có tín ngưỡng chứ đừng nói là dùng vũ lực. Mấy năm trước với chiến dịch thanh trừng những băng nhóm tội phạm có tổ chức của cơ quan cảnh sát.Nhiều băng nhóm xã hội đen đã chịu hậu quả khốc liệt, nhiều tên đại ca phải lãnh mức án cao nhất ,nhận mức án tù nhiều năm từ Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn như băng Khánh Trắng, Cu Nên, Năm Cam, Tín Palet.

Thực ra đám đầu gấu dữ dằn đó chỉ là bọn CA trá hình mà thôi!

Ở Hà Nội ở thời điểm bây giờ trừ một hai nhóm xã hội đen hoạt động trong lĩnh vực cờ bạc lô đề, bóng đá ra, chưa có nhóm nào khả dĩ huy động một lúc vài chục quân. Và những nhóm này không dại gì đứng ra nhận làm thuê cho chính quyền vì bất cứ lý do gì. Và chính quyền cũng không dại gì sử dụng những tên tội phạm xã hội đen bởi chúng là con dao hai lưỡi, không thể kiểm soát được tên giang hồ nào nổi hứng kể về chiến tích mà nhà nước thuê chúng ngoài quán nhậu thì không bưng bít nổi.

Quan sát kỹ những tên đánh đập giáo dân ở Thái Hà cũng như vụ Tam Tòa, chúng có nét mặt hũng dữ giống bọn xã hội đen. Nhưng không có tên nào xăm trổ hay sứt sẹo hoặc có gương mặt phong trần, khắc khổ dấu ấn của bọn xã hội đen. Một điểm nữa là xã hội đen ở Đồng Hới chưa bao giờ có tên tuổi số má trong giang hồ đất Việt. Bởi vậy nói rằng ở vụ Tam Tòa có hàng chục tên xã hội đen đánh đập giáo dân là oan cho cho dân giang hồ, xã hội đen Đồng Hới cũng như cả nước.

Phải khẳng định rằng ở Thái Hà cũng như Tam Tòa, không có một tổ chức tội phạm của xã hội đen nào dúng tay vào việc đánh đập giáo dân. Bởi bản chất của giang hồ và cũng như tổ chức của chúng không quy mô đến mức có nhiều tên tham gia như vậy trong vụ hành hung người Công Giáo.

Vậy những tên tham gia hành hung giáo dân ở Thái Hà và Tam Tòa là ai ?

Tổ chức nào có thể huy động hàng chục, hàng trăm thanh niên khỏe mạnh tuổi từ 25-35. Sẵn sàng hung hãn đánh đập những người dân yếu đuối gồm cả trẻ con lẫn phụ nữ. Đánh đập công khai trước sự quan sát của các lượng lượng cảnh sát đang bàng quan theo dõi như không có gì ?

Không phải băng nhóm của xã hội đen, nhưng chúng cũng vẫn là một băng nhóm của xã hội..ngược lại mà thôi.

Thanh Linh

Đống Đa – Hà Nội