Thursday, April 30, 2009

LICH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI * VƯỢT BIÊN

TIN ĐÀI Á CHÂU TỰ DO

Một số tiết lộ mới nhất về vai trò của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam2006-05-27* Nghe bản tin lúc 9 giờ tối 27-5* Download story audioThêm một số chi tiết quan trọng liên quan đến cuộc chiến Việt Nam vừa được tiết lộ hồi sáng nay ở Washington.Ông Henry Kissinger đang nghe báo cáo về diễn tiến tình hình miền Nam Việt Nam hôm 29-4-1975. Photo courtesy Wikipedia.Các tài liệu của ông cựu Cố Vấn Quốc Gia kiêm Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger mới được bạch hóa cho thấy từ năm 1972, Hoa Kỳ đã âm thầm xác nhận chuyện chấp nhận để quân đội cộng sản Bắc Việt chiến thắng, nếu điều này xảy ra sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam.Tài liệu ghi rõ hôm 22 tháng Sáu năm 1972, Ngoại Trưởng Kissinger của Mỹ đến Bắc Kinh gặp Thủ Tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc. Trong buổi thảo luận, ông Kissinger nói rằng đòi hỏi mà phía miền Bắc đưa ra là Hoa Kỳ phải lật đổ chính phủ miền Nam do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo là điều Washington không chấp nhận được.Tuy nhiên, ông Ngoại Trưởng Mỹ cũng nói là nếu lịch sử xoay vần, chuyện cộng sản làm chủ toàn diện nước Việt Nam là điều Washington có thể chấp nhận được.Nguyên văn lời của ông Kissinger nói với Thủ Tướng Trung Quốc như sau: “Chúng tôi không chẳng tính đến chuyện tiêu diệt Hà Nội, và ngay cả chuyện thắng Hà Nội cũng không được chúng tôi tính đến. Nếu có thể sống với một chính phủ cộng sản ở Trung Quốc, thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận Chính Phủ cộng sản ở Ðông Dương”, ám chỉ là Việt Nam.Ông Kissinger cũng dự đoán vì có 45,000 binh sĩ Mỹ chết bởi súng đạn của miền Bắc, nên theo lời ông, phải đợi cả chục năm sau ngày chiến tranh kết thúc, Washington và Hà Nội mới có thể thiết lập bang giao.



Cái giá của Tự Do
Thanh Quang, phóng viên RFA
2009-04-29
Thảm cảnh trên Biển Đông có lẽ sẽ không bao giờ nhạt nhoà trong ký ức của thuyền nhân Việt Nam, khi những chiếc thuyền mong manh đưa họ vượt trùng dương tìm đến bến bờ tự do sau biến cố 30/4/1975, hầu như thường xuyên gặp nạn.
=
Mỗi năm cứ mỗi lần đến thời điểm 30 Tháng Tư là người Việt tị nạn tại hải ngọai không khỏi bùi ngùi nhớ lại thân nhân, bạn bè hay chính mình đã trải qua những chuyến vượt biển thập tử nhất sinh.
Thảm cảnh trên Biển Đông
Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Chẳng hạn như, chị Nguyễn Thị Hoa Hương, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, đã ra sức tìm đến bến bờ tự do hồi năm 1989 và gặp nạn, như chị mô tả:
"Mình không có chỗ nằm, mình chỉ ngồi mà co hai chân lại, ngồi đủ chỗ thôi. Lâu lâu mình duỗi được cái chân thôi chứ không có được nằm. Đó là một kỷ niệm mà em không bao giờ quên khi mà tàu đi 7 ngày trên Thái Bình Dương thì đã bị bão biển rất là lớn và đã đánh tan chiếc tàu ra, chỉ còn lại thân chiếc tàu, còn đầu tàu và đuôi tàu thì bị đứt ra.
Trong cơn nguy cập đó thì người ta đã chuyển tất cả mọi người vô giữa thân của con tàu. Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.
Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.
Chị Nguyễn Thị Hoa Hương, Hoa Kỳ


Có những tiếng la khóc bởi vì sự chết đã đột tới (khóc). Bắt đầu có những người bị kiệt sức quá mà bắt đầu xỉu, trong đó cũng có em mê man không biết gì hết, chỉ nhớ là những người xung quanh đọc kinh cầu xin nhận cho nếu mà có bị chết thì xin cho linh hồn được siêu thoát một cách nhẹ nhàng.
Trong lúc trôi như vậy thì một sự may mắn đến với tất cả những con người trên tàu đó là được tàu của Hạm Đội 7 Mỹ đang tập trận ở Thái Bình Dương cứu vớt. Khi cứu lên sàn tàu thì các phụ nữ và trẻ em đều vô phòng cấp cứu bởi vì đã bị kiệt sức quá rồi, không còn sự sống.
Một kỷ niệm mà nếu những ai đi con tàu đó thì chắc không bao giờ quên là các người Mỹ họ đã săn sóc, họ điều trị những người chết đi sống lại, cho phục hồi sức khoẻ rồi mới bắt đầu đưa vô Thái Lan. Trại đó là trại Banatnikhon. Em ở đó là gần 9 năm."



Một thảm cảnh khác trên Biển Đông có liên quan đến chị Lê Thị Sen, hiện cũng đang ở Mỹ. Tàu chị Sen gặp cướp biển như chị cho biết :
"Trên đường vượt biển thì gặp cướp biển. Ở trên tàu nó thả canô xuống qua tàu mình. Mấy người đàn bà con gái bị họ hãm hiếp và họ định đập cho tàu mình chìm nữa. Tiền bạc vòng vàng ai mà có đều nộp cho họ hết. Khi bị cướp xong chạy được một hồi thì tới dàn khoan của Mã Lai. Dàn khoan nó mới kéo tàu vô.
Nếu mà không gặp dàn khoan đó thì chắc chìm chết rồi vì tối hôm đó sóng gió quá chừng, mà tàu thì cũng nhỏ nữa, giống như mấy chiếc thuyền đánh cá, mà ở dưới tàu là 126 người nằm sát nhau. Có nhiều đứa bé nó ói quá con mắt trắng dờ tưởng như nó chết rồi."
Ngược dòng thời gian hơn nữa, hồi năm 1979, bà Kim Liên, hiện định cư tại Bỉ, đã từ Vũng Tàu vượt trùng dương đến Indonesia. Nhưng thảm cảnh Biển Đông cũng không dung tha gia đình nữ thuyền nhân ấy :
"Trên đường biển cả trời mưa dông gió, đã vào nhiều đảo nhưng họ không nhận, gặp nhiều tàu cầu cứu không vớt. Cuộc hành trình lênh đênh trên biển cả đã 13 ngày, chúng tôi gặp một chiếc tàu đậu ở biển khơi mà chúng tôi cứ nghĩ đấy là một hòn đảo.
Lúc đêm thì mình thấy như vậy, đến 8 giờ sáng thì trông nó lù lù ra là một cái tàu, thì ra cái tàu dầu nó đậu ở đó, ở biển khơi đó. Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy.
Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.
Lúc đó nó chổng lên, mới chìm phân nửa, còn nổi phân nửa. Người nào biết bơi thì bơi vào trong chiếc tàu vì nó chưa chìm hết thì họ cũng bám vào đấy. Người nào khoẻ thì đi cứu những người không biết bơi, lôi kéo nhau vào đó, bám chung quanh.


Tàu làm cho chúng tôi bị chìm nó bỏ đi nửa tiếng gì đó. Tàu này của nước Libya. Tôi thấy nó thả 2 cái bo-bo xuống, nó đi vớt chúng tôi. Khi nó vớt thì cũng đã chết hết 11 người rồi. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vớt được 3 người, nước cuốn đi 8 người trôi đâu mất rồi, trong đó có con gái tôi."
Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy. Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.
Bà Kim Liên, ở Bỉ


Khi người phải ăn thịt... người
Và một cảnh vô cùng đau xót và kinh hoàng đã xảy đến cho một chiếc tàu phát xuất từ Saigòn hồi năm 1978 chở theo hơn 100 người, khi chỉ có 43 người đến được bến bờ. Chị Kim Chi kể lại câu chuyện thương tâm này :
Chị Kim Chi : Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu thôi.
Thanh Quang : Thưa chị, xin lỗi chị. Chị ở trong chuyến tàu đó, phải không?
Chị Kim Chi : Dạ.
Thanh Quang : Thưa, như vậy chị có ăn thịt người không, do hoàn cảnh bắt buộc ?
Chị Kim Chi : Có chớ.
Thanh Quang : Cái cảm giác của chị lúc đó như thế nào ?
Chị Kim Chi : Nói đúng ra thì cũng ghê chứ. Tại vì nói chung là trong lúc người ta đói quá thì hình như là người ta không còn lý trí nữa nhiều để mà suy xét nữa.
Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu ăn thôi
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ


Thanh Quang : Dạ. Như vậy là đi bao lâu ngày mà rồi gặp nạn như vậy, thưa chị? Tàu đó có mấy người?
Chị Kim Chi : Tàu đi cũng đông lắm, anh. 143 người tất cả nhưng mà chỉ còn sống sót 34 người.
Thanh Quang : Tàu phát xuất từ đâu, thưa chị?
Chị Kim Chi : Dạ, từ Sài Gòn.
Thanh Quang : Đi bao lâu?
Chị Kim Chi : Đi khoảng 65 ngày.
Thanh Quang : Lâu như vậy bởi lý do ra sao, thưa chị?
Chị Kim Chi : Lúc đó còn bé thì cũng không nhớ rõ nữa, nhưng nếu không lầm thì chân vịt tàu bị quấn lưới, bị gãy, không nhúc nhích được nữa nên tàu cứ lênh đênh thôi, thì nó cứ lênh đênh trên biển vậy đó.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi cho tới ngày nó mắc cạn tấp vô đảo. Không phải là cái đảo, nó thuộc dạng đảo ngầm của Đài Loan. Cái đảo đó nằm giữa biển, khi nước biển dâng lên thì như là cái biển vậy thôi tức cái niveau của nó bằng mặt nước biển, nhưng khi nó tụt xuống thì xung quanh mình là biển thì tàu mình bị tụt xuống nhưng mà nước vẫn còn khoảng tới đầu gối, tức là cạn nhất vẫn tới đầu gối. Nói là cái đảo thì cũng không hẳn nhưng mà nó là cái đảo, đảo giữa lòng biển.
Thanh Quang : Dạ rồi tất cả thuyền nhân một trăm mấy chục người ở trên tàu đó rồi dần dà cạn lương thực, cạn thức ăn và thức uống, có phải không ạ?
Chị Kim Chi : Thì nói chung là vậy. Tại vì tàu đi đâu có dự định đi tới mấy chục ngày như vậy, thì họ mới không đủ thức ăn rồi mới bắt đầu đói khát này kia rồi mới sanh ra cái đó. Nói chung, người đầu tiên là ông cậu của mình.
Người đầu tiên là ông cậu của mình. Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng.
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ


Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng.
Chính vì như vậy cho nên khi ổng chết rồi thì mới lấy ý tưởng của ổng để mà bắt đầu ăn để nuôi sống mình rồi nuôi sống vợ con ổng luôn chứ không phải một mình vợ con ổng không đâu.
Rồi những người trong tàu, những gia đình khác họ thấy như vậy, lúc đầu thì họ cũng chửi rủa, phản đối dữ lắm, tại vì họ nói tàn nhẫn, vô nhân đạo, thế này thế nọ tùm lum hết.
Nhưng mà qua một đêm như vậy, sáng ra thì họ ăn căp hết trơn, tức là người của ổng chỉ còn là bộ xương thôi. Người ta chửi thì vẫn chửi nhưng người ta ăn cắp thì người ta vẫn ăn cắp thịt của ổng để người ta ăn.
Thanh Quang : Ăn sống như vậy?
Chị Kim Chi : Thì đó là cái ý tưởng đầu tiên của ổng đó.
Thanh Quang : Rồi sau đó những người khác tiếp tục, sắp hấp hối rồi chết đi thì những người sống còn lại cũng lóc thịt họ ăn?
Chị Kim Chi : Thì những người đó, nói chung là gia đình nào thì ăn thân nhân gia đình đó. Không phải là mình được ăn tùm lum đâu, tại vì không phải là ai cũng ăn được đâu. Đa số những người mà họ chết trong gia đình thì họ mới được quyền dành xác đó mà ăn thôi chớ không phải mạnh ai mà nấy ăn đâu. Hổng phải người ta chết mà mình đè ra mà ăn đâu.
Thanh Quang : Thế thì những người trong gia đình không có người chết đói thì làm sao họ sống ?
Chị Kim Chi : Thì họ xin. Có nhiều phương pháp lắm: xin, ăn cắp. Tại vì xác chết đâu phải như miếng đồ ăn mà cất vô tủ mà xác chết chỉ nằm ở đó, sau một đêm nhiều khi mình ngủ dậy thì họ ăn cắp hết rồi.
Thanh Quang : Thưa chị, lúc lóc thịt đó như vậy thì họ có nấu nướng gì không?
Chị Kim Chi : Lúc đó họ bắt dầu nạy gỗ tàu lên làm củi nấu chứ.
Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ


Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.
Thanh Quang : Dạ.
Chị Kim Chi : Rồi sau đó có tàu đến cứu kịp. Nói chung tình trạng đó kéo dài khoảng mười mấy ngày như vậy thì về sau có tàu đến rước mới thôi.
Thanh Quang : Khi có tàu đến rước thì số người trên tàu còn 34 người như chị nói hồi nãy, phải không?
Chị Kim Chi : Không. Không. Lúc đó còn 64 người, nhưng mà tại vì xui là gặp tàu đánh cá Đài Loan nó thuộc dân tham lam, tức là khi nó gặp người còn sống thì nó rước nhưng với điều kiện là nó bắt phải nộp tiền cho nó. Một đầu người là 7 chỉ vàng thì nó mới rước.
Mọi người đồng ý đóng tiền cho nó. Đến lúc đóng xong thì nó mới nảy ra lòng tham. Hầu như nó cảm thấy người Việt mình giàu, có tiền, nên nó mới nảy ra ý định thay vì trên con đường về từ cái đảo chìm này cho tới đất liền là khoảng 3 ngày thôi nhưng nó kéo dài ra tới 17 ngày bằng cách là nó cho tiếng máy tàu chạy giống như mình tưởng là tàu đang chạy mà thực sự tàu đứng tại chỗ.
Trong vòng 17 ngày như vậy người ta bắt đầu đói rồi người ta chết từ từ. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhẫn lắm tại vì nó nghĩ là mình có tiền, thành ra những ai muốn ăn thì phải trả tiền cho nó. Nó cũng có một bữa cơm chính thức, tức là bữa đó nó cho ăn cháo. Ăn cháo nhưng mà cháo trắng thôi, không có muối, không có thịt, không có nước mắm, không có gì hết.


Nhưng mà nếu ai muốn thêm một cái gì thì phải bỏ tiền ra, thành ra nó kiếm tiền qua cái lợi nhuận đó. Rồi đến lúc nó cảm thấy người ta kiệt quệ không còn tiền và cũng không còn sức nữa, hầu như nó cũng không quết định cho mình về đất liền, tại vì lúc đó có thể nó tính ém luôn chuyện đó, nó cho người ta chết từ từ để nó khỏi đưa về.
Nhưng mà xui hôm đó tàu bị nổ tại vì gas bị xì làm nổ cả tàu và tàu bốc cháy thì cũng làm cháy nhiều người lắm. Họ bị phỏng nặng và lúc đó tàu bị chìm xuống, nước vô.
Tất cả tai nạn đó xảy ra cũng một lúc trong vòng tích tắc, tức là vừa bị cháy vừa bị chìm, thế là ông thuyền trưởng sợ quá nên lúc đó ổng mới đánh điện về trong đất liền để xin viện trợ hay là xin đưa người vô mà mình không hiểu nữa. Thì lúc đó Đài Loan mới chấp nhận cho vô đất liền.
Về tới Đài Trung thì cảnh sát ra, rồi xe cứu hoả, xe cứu thương ra tùm lum hết. Tại vì lúc đó mấy người chết vì bị phỏng nặng quá thì nó mới đêm vô bệnh viện.
Lúc đó cảnh sát mới bắt đầu điều tra và họ nói là khi chủ tàu đánh điện tín gì đó kêu là 64 người mà tại sao bây giờ còn 34 người, thì lúc đó họ mới bắt đầu điều tra ổng, bắt ổng ở tù, tại vì lúc đó họ nghi ngờ.


Trong tình trạng nửa sống nửa chết nên không có ai tố cáo cũng chẳng có ai thưa kiện, tất cả nằm trong bệnh viện hết. Được vô nằm trong bệnh viện trong gần 2 tháng trời, lúc ra viện thì mới về trại tị nạn, lúc đó thì phái đoàn Mỹ mới xuống để điều tra.
Vì có tuyên thệ để đi Mỹ nên họ mới bắt đầu điều tra thì họ mới bắt đầu biết, từ cái chi tiết lúc đó mới lòi ra chuyện ăn thịt người.

==

LICH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI * VƯỢT BIÊN

ĐÀI Á CHÂU TỰ DO (RFA )


Cuộc hành trình và lao lý của hàng trăm ngàn người Việt
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2009-04-29
Cùng lắng lòng quay về với khoảng thời gian của hơn 30 năm trước đây, khi một cuộc đổi đời bắt đầu vào những ngày mùa xuân bằng những cuộc hành trình vào lao lý của hàng trăm ngàn con người.


Bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn hôm 30-4-1975. AFP PHOTO Chúng ta không muốn nhắc tới để tìm một sự đền trả, nhưng những hoài niệm này dù sao cũng là hình thức tốt nhất trước để cho những người chưa biết có dịp chiêm nghiệm thêm về những giá trị tự do được đánh đổi bằng tù đày nước mắt như thế nào.
Đồng thời, cũng có thể cảnh báo những toan tính tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Dù sao, nhà tù không bao giờ là nơi tốt nhất dùng để cải tạo con người, nhất là những con người luôn tin vào chân lý. Chương trình hôm nay có giọng diễn đọc của Nguyễn An và Phương Anh, mời quý vị theo dõi...

Những hình ảnh xót lòng
Những tiếng súng thưa thớt cuối cùng trên vài đường phố SàiGòn như những nốt nhạc lặng lẽ chấm dứt một bản nhạc trường thiên sau gần hai mươi năm liên tục. Lúc hào hùng, lúc bi tráng nhưng chưa bao giờ thật sự ngơi nghĩ dù chỉ một ngày.

Không ai có thể nghĩ rằng ngày 30 tháng 04 năm 1975 cũng là ngày chấm dứt cuộc chiến Việt Nam bằng chiến thắng cuối cùng của quân đội miền Bắc. Như bất cứ cuộc chiến nào sau khi chấm dứt, những hình ảnh xót lòng và hoảng loạn của người dân miền Nam đã làm thế giới một phen thức tỉnh.

Từng đoàn người tìm đường ra đi trên những chuyến tàu đầy nghẹt người còn neo ở bến Bạch Đằng hay chen lấn nhau trong khuôn viên tòa Đại Sứ Mỹ để tìm một chỗ thoát thân.


Màn hình Ti Vi trên khắp thế giới quay đi quay lại những hình ảnh cuối cùng này như để tưởng niệm một cuộc chiến mà không lâu trước đó Quốc Hội Mỹ đồng thanh bỏ phiếu phủ nhận nó sau hơn một thập kỷ đổ máu xương ra bồi đắp.

Một hình ảnh khác vài ngày sau đó bi đát hơn, đau xót hơn nhưng không bao giờ xuất hiện trên phương tiện truyền thông đại chúng của thế giới: Hình ảnh của những người trong quân đội miền Nam bị tập trung cải tạo. Hàng đoàn người lặng lẽ tập trung trong bóng đêm, xuống tàu thủy xuôi về Bắc.


Bộ đội miền Bắc tiến vào phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn hôm 30-4-1975. AFP PHOTO Một hình ảnh khác vài ngày sau đó bi đát hơn, đau xót hơn nhưng không bao giờ xuất hiện trên phương tiện truyền thông đại chúng của thế giới: Hình ảnh của những người trong quân đội miền Nam bị tập trung cải tạo. Hàng đoàn người lặng lẽ tập trung trong bóng đêm, xuống tàu thủy xuôi về Bắc.

Những khoan tàu dơ bẩn và câm nín đã báo trước cho những người tù này một tương lai mù mịt và ảm đạm. Sau khi cập bến Hải Phòng, từng đợt tù nhân tiếp tục lên tàu hỏa vào lúc nửa đêm để đến những vùng cao hơn, sâu hơn của miền Bắc đầy dấu hỏi đối với những con người xa lạ.

Trên những chuyến tàu mịt mùng này những con người ngồi nhìn nhau như nhìn những hình nhân câm lặng, nghe tiếng rền xiết va đập của sắt thép mà tưởng đâu vẫn còn hiện diện trên chiến trường.

Cảm cảnh thân phận tù đày
Người tù Tô Thùy Yên đã đem con tàu kinh hoàng và buốt lạnh trong tiềm thức này vào những trang thơ đầu tiên của ông sau hơn 10 năm trãi nghiệm qua nhiều nhà tù tại miền Bắc.


Với sức mạnh lạ thường của ngôn ngữ thi ca, Tô Thùy Yên đã chiếu lại những thước phim quá khứ làm người xem chìm đắm vào trong đó hòa với nhân vật và đau chung cái đau của đồng loại.

Tàu đi. Lúc đó đêm vừa mỏi
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê Tàu rú.
Sao ơi hãy thức dậy
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi
Thức dậy, những ai còn sống đó
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay
Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm
Dàn ra một ảo tượng im lìm
Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt
Sáng ít làm đêm tối tối thêm
Bến cảng nhà kho những dáng cây
Chưa quen mà đã giã từ ngay
Dẫu sao cũng một lần tan hợp
Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay
Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai
Ta gọi rụng rời ta thất lạc
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây
Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ
Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa
Đất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!
Đất lạ người ta sống thế nào
Trong lòng có sáng những trăng sao?
Có buồn bã lúc mùa trăn trở
Có xót thương người qua biển dâu?
Tàu đi như một cơn điên đảo
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ỉ một cơn đau
Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn
Ta trở thành than thành súc vật
Tiếng người e cũng đã quên ngang .....
Mà thôi, hãy nuốt lệ còn nghẹn
Tỉnh thức, lòng ơi nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man
Người bạn đường kia chắc vẫn thức
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han
Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau...

Sau những chuyến tàu tù nhân lại đến những chuyến tàu thân nhân, thân nhân của người tù. Lịch sử Việt Nam chưa khi nào có những trang đau xót như thế. Hàng trăm ngàn tù nhân hệ lụy thêm hàng trăm ngàn người khác đó là thân nhân của họ.

Sau những chuyến tàu tù nhân lại đến những chuyến tàu thân nhân, thân nhân của người tù. Lịch sử Việt Nam chưa khi nào có những trang đau xót như thế. Hàng trăm ngàn tù nhân hệ lụy thêm hàng trăm ngàn người khác đó là thân nhân của họ.

Người vợ đi thăm tù
Những mảnh đời tái tê rách rưới trong thời gian này không thể nào đếm hết, vậy mà những người vợ, người mẹ vẫn tảo tần xuôi ngược khăn gói thăm con thăm chồng, từ miền Nam nay đã trở thành hiu hắt. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã có một đoạn mô tả người vợ tù đi thăm chồng như sau:

“Mãi 8 giờ tối tàu mới đến Ấm Thượng. Cùng xuống với tôi tại ga này có khoảng ba bốn chục người, tất cả đều là dân đi thăm nuôi thân nhân tại trại tù Tân Lập. Xuống ga chúng tôi tập trung tại một cái trạm trình giấy tờ. Trạm là một căn nhà lá lợp tranh.

Chúng tôi ngồi chờ riết tại đó cho đến sáng. Trời lạnh như cắt da cắt thịt. Có bao nhiêu áo tôi mặc hết mà vẫn thấy rét. Sáng hôm sau đoàn người lũ lượt đi xuống một bến đò gọi là bến Ngọc.


Nơi đó có phà chở chúng tôi đi ngược dòng sông. Sông khá to, vùng này người ta gọi là Suối Mai, chiếc phà tựa như chiếc xà lan tôi thường thấy chở dừa chở chuối trên sông Thủ Thiêm.

Cả một ngày trời, phà chạy trên sông tôi nhìn cảnh vật hai bên bờ và thấy núi non ở miền Bắc khác hẳn trong Nam. Núi ở đây cao hơn, nhọn hơn, ít cây hơn và có nhiều đá xanh.


Hai bên bờ lác đác những căn nhà chòi cất cao như kiểu nhà sàn của người Thượng. Phà đi lâu lắm, đến tận chiều tối chúng tôi mới đến nơi, một bến đò nằm tuốt phía dưới sâu.

Đây là vùng đồi núi. Từ bến muốn lên đường cái phải lên cái dốc thiệt cao. Mọi người hì hục mang đồ lên. Lên trên đó có xe Molotova, một loại xe nhà binh Liên Sô chờ sẵn. Xe đưa chúng tôi một quãng đường hơn 10 cây số, đến một cái trạm thì ngừng. Mọi người xuống xe.

Lúc đó đã 8 giờ tối. Tôi đinh ninh là đã đến Tân Lập, té ra còn phải cuốc bộ thêm cả tiếng đồng hồ nữa mới đến trại. Hành lý đồ đạc của mọi người được chất đầy trên một chiếc xe trâu, một loại giống như xe bò ở miền Nam nhưng do hai con trâu kéo.


Dưới ánh sáng mờ mờ, đoàn người thăm nuôi lặng lẽ đi bộ theo xe trâu trên con đường rừng.

Khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi đến trại Tân Lập. Mọi người trình giấy tờ ngoài cổng và được hướng dẫn đến một dãy nhà lá ở phía ngoài trại. Nhà này dùng làm chỗ ngủ cho dân thăm nuôi, đó là loại nhà ở ngoài Bắc gọi là "láng", nhà lá lợp tranh, cột gỗ lấy trong rừng, chắc là do những ông tù cải tạo làm và được ngăn ra từng phòng nhỏ.

Mỗi người được cấp phát một cái mền Trung Quốc có lông đỏ thật dầy. Trời ban đêm quá lạnh, có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ phải ngủ ở một nơi giá buốt như thế.

Chúng tôi ngồi chờ riết tại đó cho đến sáng. Trời lạnh như cắt da cắt thịt. Có bao nhiêu áo tôi mặc hết mà vẫn thấy rét. Sáng hôm sau đoàn người lũ lượt đi xuống một bến đò gọi là bến Ngọc.


Nơi đó có phà chở chúng tôi đi ngược dòng sông. Sông khá to, vùng này người ta gọi là Suối Mai, chiếc phà tựa như chiếc xà lan tôi thường thấy chở dừa chở chuối trên sông Thủ Thiêm.

Sáng ra tôi trở dậy, đứng xúc miệng đánh răng tôi nhìn xuống núi, phía dưới kia, ba người công an dắt một một đoàn tù cải tạo vác cuốc đi vào rừng lao động.


Tuy nhìn từ xa nhưng tôi thấy rõ đoàn người ai nấy đều ngoái cổ ngước nhìn lên ngọn đồi chỗ tôi đang đứng và tôi hình dung nỗi nôn nao của họ trong số những bóng đàn bà thấp thoáng trên kia có người vợ thân yêu của mình hay không?

Lúc ấy lòng tôi cũng nôn nóng không kém họ. Đã năm năm rồi còn gì. Năm năm không hề thấy bóng dáng anh. Kể từ ngày cuối tôi tiễn anh với mớ hành trang và thức ăn tôi sửa soạn rất kỹ để anh dùng trong thời gian xa cách mà lúc ấy tôi nghĩ là chỉ có hai tháng.


Sau năm năm chờ đợi, chốc nữa tôi sẽ gặp anh. Nhưng "chốc nữa" bây giờ trông như vô tận, đã 10 giờ sáng rồi mà tên anh chưa thấy gọi trên loa....”

Bài thơ "Hai hàng cây so đũa"
Một người vợ khác cũng lên thăm chồng nhưng đau đớn hơn, lần này chị lên xin phép chồng để đưa con đi vượt biên. Từ bài thơ "Hai hàng cây so đũa" của Nguyên Huy, cũng là người chồng đau khổ trong câu chuyện này, nhạc sỹ Thành Trọng đã phổ thành ca khúc rất thành công qua giọng hát Minh Hòa.

Minh Hòa hát như khóc trong nhạc phẩm này có lẽ vì bản thân chị cũng từng đi nuôi chồng và cũng từng nếm qua biết bao đau khổ để hôm nay chị hát mà lòng đau như cắt, hóa thân thành thiếu phụ dắt con trên nẻo đời gian khổ.

Rồi thời gian cũng qua, mùa xuân khác của nhân gian cũng phải tới. Người tù cải tạo rồi cũng phải về. Vòng quay nhân sinh đưa Tô Thùy Yên về lại quê nhà trong tâm thức hỗn mang và đầy bất ổn.


Nhà thơ nhìn mình câm lặng trước xã hội và phác thảo hình ảnh của chính mình:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

Nhưng cái bản ngã rất người của nhà thơ chợt trở lại chỉ trong một sát na, khi mà thù hận ghen ghét đau đớn lẫn thống khổ đã tách rời khỏi tâm trí, trở thành những vụn vặt, thành những lá bay, những đốm lửa nhân quần....

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.

Phải chăng hai chữ giải oan đã làm nhà thơ hạnh phúc. Hạnh phúc khi được đứng lên trên biển dâu, thù hận để nhìn lại chính mình sau nhiều năm khắc khoải?


LICH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI * VƯỢT BIÊN

Thanh Quang : Vừa rồi là chị Kim Chi, hiện định cư tại Vương Quốc Bỉ.

Thuyền Nhân VN, quảng đời trong các trại tị nạn
Phương Anh, phóng viên RFA
2009-04-28

Hầu hết những ai đã từng là thuyền nhân, từng trải qua những ngày đối diện với bao hiểm nguy trên đại dương mênh mông và được sống sót đặt chân vào trại tị nạn, để chờ ngày định cư ở nước thứ ba, thì không thể nào quên được những ngày tháng cũ.

Courtesy photo

Tình cảnh người tị nạn đang xếp hàng chờ cơm ở Hồng Kông, chụp năm 1989, là một trong những trưng bày ở Vancouver, Canada.

> Phải nói đó là một kỷ niệm gắn chặt vào tâm hồn của họ cho dù đối với mỗi người có thời gian ở khác nhau. Có người chỉ vài tháng, có người kéo dài cả chục năm trời… Nhưng, tựu trung khi nhắc lại, thì ai cũng đều mang tâm trạng bùi ngùi và xúc động.

Cuộc sống ở trong các trại tị nạn ra sao mà đã để lại trong lòng thuyền nhân dấu ấn sâu xa đến như thế?

Vào những năm 1979 – 1980, khi làn sóng người vượt biên dâng cao, ở miền Nam lúc bấy giờ có câu nói truyền miệng: “Vượt Biên: một làm mồi cho cá, hai là má nuôi, ba là nuôi má”.
Chính sách thanh lọc

Với những người đã may mắn sống sót, trải qua bao hiểm nguy và được các tàu vớt đưa về các trại tị nạn thì đây là thời gian an bình nhất vì chỉ còn chờ ngày được các phái đoàn của các nước đến phỏng vấn tiếp nhận cho tái định cư.

Anh Lưu Thành, một cựu thuyền nhân ở trại Pulo Bidong, Malaysia, hiện đang cư ngụ ở California cho hay:

“Tôi đến trại Bidong thì thấy thư thái lắm, vì thoát được Việt Nam rồi. Tuy là thiếu thốn, nhưng là vùng đất tự do, tâm hồn thoải mái vì có niềm hy vọng là mình sẽ định cư ở đệ tam quốc gia để lập lại cuộc đời mới.”

Nhưng, đến khi có chính sách thanh lọc do Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đề ra để nhằm ngăn chặn làn sóng người Việt bỏ nước ra đi, thì đời sống thuyền nhân vô cùng cực khổ.

Ngoài việc chấm dứt sự hỗ trợ về giáo dục, y tế, Cao Ủy LHQ cũng cắt giảm lương thực. Bên cạnh đó, tỉ lệ được công nhận là người tị nạn cũng chỉ có 1%. Vì thế, bắt đầu biểu tình rải rác ở các trại tị nạn.

Thượng tọa Thích Tâm Hòa, hiện trụ trì chùa Pháp Vân ở Toronto, Canada, từng là thuyền nhân ở trại Palavaan, Philippines kể lại:

“Vào thời điểm tôi đến thì có vẻ thoải mái một chút, nhưng sau thời gian thanh lọc thì khó khăn hơn. Trước đây, người dân tị nạn ở Palawan cũng được đi mua sắm này nọ, nhưng kể từ ngày thanh lọc thì kỷ luật gắt gao.

Ngay đêm tôi nghe được Cao Ủy công bố chương trình hồi hương thì lúc bấy giờ tôi đã kêu goị các hội đoàn cựu quân nhân, tổ chức biểu tình và có 18 tăng ni tại Chuà tuyệt thực một tuần lễ.

Tôi chứng kiến cảnh người tị nạn bị phái đoàn từ chối họ rất khổ. Cũng may, nơi đó còn có nhà thờ, chùa, thánh thất nên giúp cho họ phần nào vượt qua khó khăn, khủng hoảng về tinh thần.

Thời gian đó thì thuyền nhân rất lo sợ, luôn luôn biểu tình để tranh đấu, vì sự thanh lọc rất bất công, ai có tiền thì được đi định cư.

Ni Sư Thích Nữ Diệu Thảo

Trại tị nạn Palawan tương đối đầy đủ hơn các trại khác, chỉ khó khăn về nước thôi. Người dân phải sắp hàng lãnh nước. Mỗi gia đình họ được 2 can nước là 40 lít, rất khó khăn về nước. Về thực phẩm thì tương đối đầy đủ.”
Ảm ảnh hồi hương

Bắt đầu từ giữa năm 1995 trở đi, càng ngày, chính sách cưỡng bức hồi hương ở các trại càng thêm gay gắt. Lúc này, người tị nạn phải đối diện với một tương lai vô định, sống trong sự mỏi mòn, trong sự hồi hộp, sợ hãi, không biết ngày mai sẽ ra sao…

Đến bao giờ thì tới lượt mình bị đẩy lên máy bay hay lôi xuống tàu chở về Việt Nam? Hàng lọat các cuộc biểu tình bất bạo động để chống cưỡng bức hồi hương xảy ra trong khắp các trại tị nạn Đông Nam Á.
080505-BoatPeople_hongKong_UNHCR.jpg
Người tị nạn ở Hồng Kông chờ đi định cư. PHOTO by UNHCR
Lúc này, phải chăng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đã quá mệt mỏi với thuyền nhân Việt Nam nên cho dù có người mổ bụng, tuyệt thực, tự thiêu, treo cổ, tìm cái chết vì quá tuyệt vọng sau khi bị từ chối không được công nhận quyền tị nạn, thì họ vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.

Thậm chí, còn cho phép chính quyền bản xứ dùng vũ lực để đàn áp, dẹp biểu tình, đánh đập những thuyền nhân Việt Nam vô tội chỉ có bộ đồ dính trên người.

Ngay cả đất nước Philippines, vẫn được xem là quốc gia tử tế nhất cũng áp dụng chính sách cưỡng bức hồi hương. Từ Richmond, bang Virginia, Ni Sư Thích Nữ Diệu Thảo kể lại:

“Đời sống thì rất cực khổ, vì lương thực không đầy đủ. Một ngày thì một người được một lon gaọ, hai người một cái trứng, ngày nào được thịt thì 3 người được một lạng thịt và một chút rau.

Thời gian đó thì thuyền nhân rất lo sợ, luôn luôn biểu tình để tranh đấu, vì sự thanh lọc rất bất công, ai có tiền thì được đi định cư. Lúc đó thuyền nhân chiếm văn phòng cao uỷ và biểu tình, lúc nào cũng bị lính Phi canh gác và họ luôn tìm cách để giải tán. Sau một thời gian dài thì Cao Ủy cho lính vào giải tán.

Mặc dù Phi là một nước Công Giáo nhưng cũng cưỡng bức, tôi là một tu sĩ mà cũng bị bắt tại Chùa, và đưa qua trại Westcome, bị nhốt chung với một số thuyền nhân. Sau đó, nhờ sự vận động của một số hội đoàn ở hải ngoại, can thiệp nên tôi được thả ra.”
Thân phận Thuyền Nhân

Ở Indonesia, trại Galang, cuộc biểu tình kéo dài hàng mấy tháng trời. Trong những ngày ấy, cả ngàn người tuyệt thực, hàng trăm người mổ bụng tự sát. Đó là chưa kể phải tìm cách trốn chạy lính Indonesia vào cưỡng bức hồi hương. Từ San Jose, California, anh Phi Hổ kể lại:

“Mình chống cưỡng bức hồi hương, thì đào hầm trốn trong nhà, có một số người chui vào các thùng phuy, có số người leo lên “la phông” nhà, nhưng sau thì họ phát hiện được hết. Lính mang giầy “bốt đờ sô” lấy xà beng, dọng dưới đất, rồi họ dở miếng “simili” lên, nắm đầu mình kéo lên. Nó đánh dữ lắm….

Khủng hoảng lắm. Càng trở về sau càng khắc nghiệt, nó “gô” mình lại, kẽm gai quây lại, khẩu phần ăn cắt bớt hết. Thời điểm biểu tình người ta tự thiêu hai người, tự sát mấy trăm người, còn tuyệt thực thì cả mấy ngàn người lận.

Anh Phi Hổ, California

Khủng hoảng lắm. Càng trở về sau càng khắc nghiệt, nó “gô” mình lại, kẽm gai quây lại, khẩu phần ăn cắt bớt hết. Thời điểm biểu tình người ta tự thiêu hai người, tự sát mấy trăm người, còn tuyệt thực thì cả mấy ngàn người lận.”

Còn ông Trương Văn Nhu, cũng ở San Jose, California cho hay:

“Mình đi sau ngày đóng cửa, họ muốn cưỡng bức mình về VN nên họ o ép giữ lắm. Cao Uỷ cũng cắt giảm gạo, mì gói. Mình phải tự lập trồng rau để ăn thêm. Họ làm căng lắm để ép buộc mình trở về.

Biểu tình 6 tháng trời, rất nhiều người mổ bụng tự sát, đặc biệt có hai người, anh Châu, và anh Thọ là tự thiêu, chết, và quan tài để tại hiện trường 6 tháng, canh gác chung quanh, ngồi suốt 6 tháng cạnh hai quan tài đó, ngồi biểu tình ngoài trời, họ làm kỹ thuật hay lắm, làm một ống đào sâu xuống dưới đất, chôn sâu, để rỏ nước xuống, không cho thoát hơi ra.

Rồi họ giải tán cuộc biểu tình đó, họ thả lựu đạn cay, cướp luôn hai xác đó. Họ đánh đập mình, bắt 219 người thành phần lãnh đạo, trong số đó có 76 cựu quân nhân và 43 người đàn bà trẻ em, nhốt 22 tháng tại nhà tù Tamahan, đảo Tandung, họ biệt giam, gắt lắm.”

Có thể nói, vào thời điểm quốc tế đã mỏi mệt, Cao Ủy Tị Nạn LHQ đã nhắm mắt làm ngơ là những ngày tháng đau thương nhất, khốn khổ nhất của thân phận thuyền nhân Việt Nam.

Sau khi đã liều chết trên biển cả, thì lại bị giam hãm trong một nhà tù khác và cho dù chính biết bao người đem cái chết để làm chứng cho hai chữ “tự do” vẫn không làm lay thay đổi chính sách cưỡng bức hồi hương.

May mắn thay, khi bị trả về Việt Nam, một số được định cư theo chương trình ROVR hay còn gọi là Chương Trình Tái Định Cư Cho Người Hồi Hương và mãi đến năm 1999, 2000 thì họ mới thực sự được đặt chân đến Hoa Kỳ, một đất nứơc tự do và dân chủ, như họ hằng mong ước. Anh Trương Văn Nhu nói:

Làm sao quên nổi, một thời gian tôi qua đây bị khủng hoảng luôn, vì ở đảo 6 năm, ăn uống thiếu thốn, rồi bị đưa về Việt Nam, cưỡng bức về, một thuyền nhân thì có 5 người police, khiêng xuống tàu và chở 1 tuần lễ thì về đến Việt Nam.

Anh Trương Văn Nhu

“Làm sao quên nổi, một thời gian tôi qua đây bị khủng hoảng luôn, vì ở đảo 6 năm, ăn uống thiếu thốn, rồi bị đưa về Việt Nam, cưỡng bức về, một thuyền nhân thì có 5 người police, khiêng xuống tàu và chở 1 tuần lễ thì về đến Việt Nam. Về Việt Nam thì bị làm khó dễ vì họ nói là cứng đầu, không chịu hồi hương. Về địa phương thì cứ bị làm khó dễ, biết tiếng Anh, xin dậy học không cho… "

-------------------------------

Trên đây là lời kể của một số thuyền nhân về đời sống của họ trong những ngày tạm dung tại các trại tị nạn. Riêng ở HongKong, nơi có số thuyền nhân Việt Nam cao nhất, đã được chính quyền bản xứ đối xử ra sao? Cuộc sống của họ như thế nào? Mời qúi vị nghe tiếp vào kỳ sau.
Những bàn tay cứu vớt
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA
2009-04-29

Một số cựu thuyền nhân cùng nhớ lại “những nghĩa cử nhân ái, những bàn tay cứu vớt, những phong trào yểm trợ” đã từng đưa họ thóat khỏi cái chết gần kề, mang họ đến bến bờ tự do.

Photo RFA file

Thuyền nhân đang dược cứu vớt lên tàu để đưa vào đảo

Hành trình tìm tự do

Sống trong hoàn cảnh nghiệt ngả, không nơi nương tựa, không tìm được kế sinh nhai, tất cả người thân rường cột trong gia đình đều đi lao động cải tạo, bà Trang, một mình ôm 2 con dại khờ, quyết lên đường hướng ra biển mênh mong:

"Tôi bỏ nước ra đi năm 1981 với 2 đứa con nhỏ 7 tuổi và 8 tuổi. Sáu năm trời tôi sống trong chế độ cộng sản thì chung quanh tôi là một cái nhà tù vĩ đại. Vào lúc đó cha tôi, chồng tôi, anh em tôi, tất cả đều ở tù.

Vì sự sống còn của mấy mẹ con tôi, trong đầu óc tôi lúc nào tôi cũng nghĩ tới một chuyện là phải trốn đi. Tôi dẫn hai đứa con đi xuống Cần Đước. Từ Cần Đước có một ghe nhỏ đưa tôi ra ghe lớn ở cửa Vàm Láng."

Bà kể tiếp về hành trình đi tìm sự sống trong cái chết, khi cạn kiệt hết lương thực, lại gặp sóng gió tứ bề :

"Ba ngày hai đêm như vậy ghe chúng tôi lênh đênh trên biển cả chỉ gặp mưa to gió lớn, trên ghe không còn thức ăn và nước uống nữa. Tất cả 88 người trên chiếc ghe đó đã không còn sức lực và chỉ nằm chờ chết thôi. Lúc đó tôi ôm hai con vào lòng và nghĩ rằng có lẽ Biển Đông là mồ chôn 3 mẹ con tôi."

"Có tàu đến". Tiếng nói đó cho tới bây giờ vẫn còn văng vẳng bên tai tôi làm cho tôi thấy lại tình người, mà tình người đó là từ một dân tộc không cùng màu da, không cùng chủng tộc.

Bà Trang

Khi quá tuyệt vọng nằm chờ chết với hơn 80 người khác cùng ghe, thì bỗng dưng có tiếng nói của hy vọng, còn âm vang đến mấy chục năm sau, bà kể lại trong giọng nức nở, nghẹn ngào :

"Bỗng có một tiếng nói nhỏ "Có tàu đến". Tất cả mọi con mắt nhìn nhau, tại vì sợ quá, không biết là tàu Thái Lan hay là tàu của Việt Cộng. Sự sợ hãi lúc đó lên tới tột cùng thì bỗng có một tiếng nói từ xa hoà trong tiếng gió và tiếng sóng gầm.

Tiếng nói đó cho tới bây giờ vẫn còn văng vẳng bên tai tôi làm cho tôi thấy lại tình người, mà tình người đó là từ một dân tộc không cùng màu da, không cùng chủng tộc."

Một thuyền nhân khác, nay định cư tại Vương Quốc Bỉ, đó là Giáo sư Thượng Thành Thanh, chức sắc Cao Đài hải ngoại, một trong những sáng lập viên của Ủy Ban Quốc Tế Cứu Trợ Người Việt Tị Nạn, trụ sở tại Bruxelles, cho biết sơ lược về tổ chức nhân đạo này, đặc biệt là để cứu giúp những thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương, khiến nhiều người tự sát:

"Mục tiêu và tôn chỉ của tổ chức Uỷ Ban Quốc Tế Cứu Trợ Người Việt Tị Nạn, tại Vương Quốc Bỉ, là nhằm cứu nguy cho một số đồng bào tị nạn Việt Nam đến Hongkong sau ngày 16-8-1989 có thể được định cư tại một đệ tam quốc gia có tự do.

Cái thảm trạng đi tị nạn đến Hongkong, bị chính quyền Hongkong xem là những người nhập cảnh bất hợp pháp, cho nên bị giam và sau đó bị cưỡng bức về Việt Nam. Chính vì quá phẫn uất và tuyệt vọng nên thường xảy ra những cuộc tự sát. Đó là một thảm trạng rất đau lòng."
Những bàn tay cứu giúp

Xúc động trước hình ảnh hàng ngàn người Việt Nam bất chấp hiểm nguy, chết chóc, liều mình trên Biển để tìm kiếm tự do, nhiều tổ chức thiện nguyện đã được thành lập bới sự tham gia , hưởng ứng và yểm trợ nhiệt tình của mọi giới.

Giáo sư Thượng Thành Thanh nhớ lại, từ Hoàng Gia Bỉ đến dân thường đều góp sức cứu giúp thuyền nhân Việt Nam, nên đã gặt hái được kết quả sơ khởi khả quan:

"Các vị nhân sĩ, trí thức, chẳng hạn như Dr. Gil de Win, chẳng hạn như Luật sư Daniel Kant, Linh mục Paul Sely, Bá tước Ivan de Wilter. Còn về phía người Việt thì có Linh mục Đào Vinh Thạnh, có Linh mục Nguyễn Văn Hiển, Giáo sư Nguyễn Hiệu, cụ Phan Lạc Tấn - Hội Trưởng Hội Phật Giáo Chùa Linh Sơn, cư sĩ Thiện Thuận.

Về Hội Cựu Quân Nhân còn có cụ Nguyễn Văn Khôi - Trung tá Nha Động Viên (Bộ Quốc Phòng), ngoài ra còn một số anh em nữa để cứu giúp đồng bào tị nạn chúng ta, được đặt dưới quyền chủ toạ của bà Quận Chúa - Cao Uỷ Tị Nạn, đại diện Hoàng Hậu Fabiola. Chúng tôi đã thu được 1 triệu 1 trăm ngàn quan Bỉ.

Sau khi chi phí, số tiền còn lại chúng tôi gửi qua Uỷ Ban Quốc Tế Cứu Trợ Canada và họ đã bảo lãnh được gần 200 người đến tị nạn tại Canada.

Tất cả mọi việc trên đời, dù trên phương diện quốc gia dân tộc hay trên bình diện quốc tế, loài người chỉ lấy tình thương yêu ra đối xử với nhau, lấy lòng nhân đạo ra đối xử với nhau, đều đặt trên một tương quan bình đẳng, tương kính, tương ái, không phân biệt màu da, sắc tóc, không phân biệt chủng tôc, không phân biệt tôn giáo, cũng không phân biệt chính kiến.

Nếu chúng ta làm được như vậy thì thế giới này sẽ yên ổn, sẽ hoà bình, sẽ an lạc, và sẽ tiến bộ."

Đến năm 1988 Hongkong không chấp nhận thuyền nhân là người tị nạn nữa, và chính sách này lan sang các quốc gia khác. Toàn vùng không thừa nhận thuyền nhân Việt Nam là người tị nạn nữa. Họ đẩy tàu ra biển gây nên rất nhiều sự chết chóc.

TS Nguyễn Đình Thắng

Tiếp lời vị chức sắc Cao Đài bên Châu Âu, từ vùng Thủ Đô Washington (Hoa Kỳ) Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển, nhắc lại những bước đi đầu tiên trước làn sóng người liều chết ra đi tìm tự do:

"Uỷ Ban Cứu Người Vượt biển được thành lập chính thức vào Tháng 1-1980 vì vào thời điểm ấy đồng bào thuyền nhân ra đi bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, và có một số phụ nữ bị bắt cóc sau khi bị hãm hiếp và bị đưa vào các ổ điếm ở bên Thái Lan.

Năm 1979 một số thuyền nhân bị bắt đưa vào đảo Kokra, nơi đó hải tặc đã hãm hiếp, bạo hành những người đi vượt biển, trong đó có nhà văn Nhật Tiến, có hai phóng viên chiến trường - cặp vợ chồng Dương Phục và Nguyễn Thanh Thuỷ đã gióng lên lời cầu cứu gửi ra hải ngoại.

Thì ở bên Hoa Kỳ có một số vị như là Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, ông Phan Lạc Tiếp, ông Lê Phục Thuỷ đã cùng với nhau thành lập ra Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (đó là cái tên đầu tiên của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển) chỉ để kêu gào đối với thuyền nhân đang bị và đã bị hải tặc tấn công."

Dịp này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đưa ra những con số cụ thể mà Uỷ Ban đã đạt được nhờ sự tiếp tay của chính giới Hoa Kỳ và của cộng đồng người Việt:

"Sau đó thì Uỷ Ban đã thuê những chuyến tàu để đưa ra biển khơi ở dọc theo vùng Vịnh Thái Lan để ngăn chận haỉ tặc. Trong 10 năm hoạt động vớt người thì Uỷ Ban đã cứu vớt được tổng cộng trên 3.300 đồng bào và đưa họ vào trại tị nạn.

Đồng thời Uỷ Ban cũng đã hợp tác với chính quyền Thái Lan để truy tố một số hải tặc, cũng như gây quỹ để giúp cho chương trình vớt người ngoài biển của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Tất cả những công lao đó phần lớn là do sự đóng góp của đồng bào ở hải ngoại."

Ông cũng trình bày những trở ngại trong chương trình cứu xét cho thuyền nhân được định cư tại một quốc gia thứ ba, cùng các kế hoạch giúp đỡ họ khỏi cơn nguy nan, bế tắc, nhờ sự vận động hữu hiệu từ nhiều tổ chức và cá nhân:

"1988 Hongkong không chấp nhận thuyền nhân là người tị nạn nữa, và chính sách này lan sang các quốc gia khác. Toàn vùng không thừa nhận thuyền nhân Việt Nam là người tị nạn nữa. Họ đẩy tàu ra biển gây nên rất nhiều sự chết chóc. Những ai mà đặt chân lên đất liền thị bị đưa vào các trại tù thay vì các trại tị nạn để rồi bị cưỡng bức hồi hương.

Vào những năm 1990 chúng tôi lại đưa luật sư, thay vì đưa tàu, để mà cứu giúp đồng bào trong vấn đề quyền tị nạn. Rất may mắn là có những vị dân biểu, mà đặc biệt là Dân Biểu Christopher Smith, để rồi chính phủ Hoa Kỳ mở ra một chương trình, sau khi các đồng bào thuyền nhân bị đưa về Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ cử phái đoàn đến Việt Nam phỏng vấn và đưa sang Hoa Kỳ định cư.

Tổng cộng số người được định cư là trên 18 ngàn đồng bào thuyền nhân. Cái chương trình ấy cũng được áp dụng ở bên Phi Luật Tân và thêm 2 ngàn đồng bào thuyên nhân nữa đã được đưa đến Hoa Kỳ định cư."
Tàu Cap Anamur

Một thuyền nhân được tàu Cap Anamur cứu thoát, rồi ở lại trên tàu tình nguyện phục vụ nhiều năm, ông Nguyễn Hữu Huấn, cựu quân nhân quân lực VNCH, sơ lược về hoạt động của Uỷ Ban Cap Anamour do người dân Đức tài trợ hoàn toàn:

"Không có chính quyền hoặc là không có bất cứ một đảng phái nào hết thì Uỷ Ban đã được thành lập vào năm 1979 do một tiến sĩ tên là Rupert Neudech. Ông là một tiến sĩ thần học và vừa là nhà báo.

Trong thời gian 1979 đó thuyền nhân vượt biển rất nhiều và những nỗi khổ của người Việt và cái chết chóc của người Việt đã đi trên toàn thế giới qua vô tuyến truyền hình. Lúc đó cũng có một người hảo tâm, cũng là người Đức, ông có rất nhiều con tàu và ông đã hiến luôn một con tàu của ông cho Uỷ Ban để chuyên đi vớt người vượt biển.

Ô. Nguyễn Hữu Huấn

Trong thời gian 1979 đó thuyền nhân vượt biển rất nhiều và những nỗi khổ của người Việt và cái chết chóc của người Việt đã đi trên toàn thế giới qua vô tuyến truyền hình. Uỷ Ban đó có cái tên đầu tiên là "Uỷ Ban Một Con Tàu Cho Việt Nam".

Lúc đó cũng có một người hảo tâm, cũng là người Đức, ông có rất nhiều con tàu và ông đã hiến luôn một con tàu của ông cho Uỷ Ban để chuyên môn đi vớt người vượt biển.

Khi bắt đầu thì Uỷ Ban đã làm việc chung với Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Vào cuổi năm 1979, đầu năm 1980 thì con tàu trực tiếp ra ngoài Biển Đông làm công tác chuyên cứu người. Cho đến năm 1987 thì có được 3 con tàu, những mỗi con tàu đêu mang tên Cap Anamur cả."

Chứng kiến tận mắt những thảm trạng ngoài Biển Đông, tự tay vớt thuyền nhân, ông Huấn nhớ rõ số người được cứu sống:

"Đã cứu được 11.300 người, trên 226 ghe. Tổn phí tất cả khoảng hơn 22 triệu Đức Mã (Deutch Mark) thời đó. Nếu mà tính ra thì mỗi một mạng sống của người Việt Nam chúng ta thì chỉ có đáng giá khoảng 1.900 Đức Mã, có nghĩa khoảng 1.000 Euro mà thôi."

Một chuyện làm ông ray rức, khổ tâm mãi vì không cứu mạng được một cựu sinh viên, chuyển qua làm nghề đánh cá, đang làm việc trên tàu của công an biên phòng võ trang, anh xin lên tàu Cap Anamur, nhưng ước nguyện tìm tự do không thành, khi tàu của anh ấy tức khắc xa lánh tàu Đức :

"Ở trên tàu ăn đồ khô nhiều quá, tại sao mình không kiếm đồ tươi cho người ta? Chúng tôi liền kêu một vài ghe đánh cá người Việt Nam ở đó, chúng tôi trao đổi với họ bằng tiền, hoặc người ta đổi thuốc lá, hoặc đổi lấy trái bom, trái táo (apple).

Lúc bấy giờ có một anh đứng ở dưới ghe đưa lên cho tôi một cái thẻ sinh viên theo đường dây kéo lên, đó là một thẻ sinh viên Đại Học Văn Khoa. Anh nói với tôi rằng "Cho em đi với. Bây giờ em khổ quá rồi". Lúc đó chính anh ta quỳ xuống mà lạy tôi để được cho lên tàu. Lúc đó lòng tôi xốn xao, tôi không biết phải làm gì hết. Nếu mà cứu một mình anh ta lên thì làm sao được!

Người ta có nói chuyện với nhau đựoc vài câu thì tự nhiên có kẻ cắt dây và lái ghe chạy đi luôn. Cho đến ngày hôm nay tôi vẫn mường tượng đến khuôn mặt người sinh viên đó và không biết số phận của anh ra như thế nào."

Tôi luôn khuyên nhủ các con tôi, để trả món nợ ân tình này thì các con phải là công dân tốt ở quê hương thứ hai này, các con phải tri ân nước Đức, tri ân nhân dân Đức đã đóng góp tiền mới có con tàu Cap Anamur cứu vớt hàng chục ngàn người Việt Nam trên biển cả và đã cho chúng tôi một tương lai xán lạn ở nơi xứ sở của họ.

Bà Trang

Vươn lên nơi xứ người

Nhờ tình người bao dung, lòng bác ái, hảo tâm của các bàn tay cứu giúp, hàng chục ngàn người Việt đã được an cư lạc nghiệp nơi xứ sở tự do. Hầu hết các cựu tuyền nhân cho đến nay vẫn còn khắc ghi tấm lòng nhân đạo của công đồng quốc tế. Bà Trang cho biết, bà và gia đình không bao giờ quên ơn cứu tử đó:

"Các con tôi bây giờ đã thành nhân, thành danh ở nước Đức này. Tôi luôn khuyên nhủ các con tôi, để trả món nợ ân tình này thì các con phải là công dân tốt ở quê hương thứ hai này, các con phải tri ân nước Đức, tri ân nhân dân Đức đã đóng góp tiền mới có con tàu Cap Anamur cứu vớt hàng chục ngàn người Việt Nam trên biển cả và đã cho chúng tôi một tương lai xán lạn ở nơi xứ sở của họ."

Vượt qua được những khó khăn chồng chất ban đầu, bà Trang luôn cố gắng khi nghĩ đến các con , khi thấy mình vẫn còn may mắn, hưởng phước đức hơn bao nhiêu đồng hương khác:

"Chúng tôi được đưa vào trong đảo Philippines sống một năm trời ở đó. Sau một năm trời thì tôi được định cư ở nước Đức này. Giai đoạn đầu rất là khó khăn vì tiếng nói, nhưng mà chúng tôi cố gắng vượt qua đó. Chúng tôi đi học tiếng Đức, sau đó chúng tôi kiếm công ăn việc làm để nuôi các con và giúp cho thân nhân ở bên Việt Nam, bạn bè ở bên Việt Nam."

Xin được mượn lời của ông Huấn và bà Trang nói về sự thành đạt mỹ mãn của những thuyền nhân Việt Nam ở nước ngoài, làm rạng danh “con Rồng, cháu Tiên” trên quê hương tự do mới:

"Sự hội nhập của người Việt Nam tại Đức thành công đến nỗi các báo chí và các chính trị gia của Đức đều nói rằng người Việt - đó là tấm gương cho toàn nước Đức".

Còn bà Trang thì nói lên niềm hy vọng của mình :

"Nhìn về Việt Nam tôi cảm thấy thương cho đồng bào vẫn còn nghèo đói, vẫn còn áp bức, đầy rẫy tham nhũng và bất công ở đó. Thương cho thân phận các cô gái hay là các em gái nhỏ vì muốn cứu gia đình qua cơn hoạn nạn khốn khổ mà bán thân, bán con chỉ với vài trăm đôla. Cầu xin ơn Trên cho đất nước tôi sống lại cái thuở an bình như xưa."

Ba mươi bốn năm trôi qua rồi, mỗi khi chợt nhớ lại chuyện vượt biển tìm tự do, nhiều thuyền nhân vẫn còn nằm mơ với những cảnh tượng hải hùng, vật lộn với thần chết, bị hải tặc hãm hại, công an săn đuổi, tháng năm dài lê thê sống thiếu thốn trăm bề nơi trại tỵ nạn, trước khi may mắn đến định cư tại quê hương mới, nay được thở không khí tự do vô giá, nhưng bất hạnh thay đã có bao sinh mạng vùi thây dưới lòng biển cả mênh mông.


http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/BoatPeople/Tragedy-of-BoatPeople-in-east-sea-TQuang-04292009124659.html

Wednesday, April 29, 2009

TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG * CHÍNH LUẬN

ÐÌNH CÔNG BÃI THỊ ÐỂ CHỐNG NGOẠI XÂM


Sau khi ngang nhiên bán đất, dâng biển cho Trung Cộng bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của nhân dnâ trong và ngoài nước, Cộng sản Việt Nam lại lún sâu vào trong vũng bùn tội lỗi bán nước . Chúng cho phép Trung Cộng đổ người Tàu vào Tây nguyên để khai thác Bô xít , một chuyện làm cực kỳ ngu xuẩn có tác dụng tai hại đến vấn đề địa dư, quân sự và ngay cả văn hóa nữa. Chúng bỏ ra ngoài tai mọi lời phản kháng vì chúng đã biến thành một thứ Lê chiêu Thống thời đại, chỉ còn biết làm tay sai cho Tàu cộng để được Tàu cộng bảo hộ cho địa vị thống trị của chúng. Một làn sóng chống đối từ mọi tàng lớp nhân dân như quân đội, nhà văn, cựu chiến binh, chuyên viên địa chất trong nước nổi lên mãnh liệt trước hiểm họa mất nước qua vấn đề Cộng sản Việt Nam cho phép Tàu cộng khai thác bô-xít ở Tây nguyên.

Nói chung phê phán chống đối thì nhiều nhưng đưa ra biện pháp đối phó với chuyện bán nước của Cộng sản Việt Nam thì chưa thấy ai. Chỉ ngoại trừ Hòa thượng Quảng Ðộ đã mạnh dạn ra đưa ra kế hoạch " biểu tình tại gia " nhằm đối phó với nguy cơ mất nước. Cần phài triển khai thêm lời kêu gọi của hòa thượng để cho mọi người thấy rõ con đường đấu tranh phải đi trước hiểm họa mất nước đã gần kề.
Những người lên tiếng phê phán sự sai trái trong chuyện để cho Tàu cộng khai thác bô-xít ở Tây nguyên có Tiến sĩ Nguyễn thành Sơn, cựu thiếu tướng Nguyễn trọng Vĩnh, cựu Ðại tướng Võ nguyên Giáp, nhà văn cựu chiến binh Phạm đình Trọng, Tiến sĩ Lê đăng Doanh, công dân Lê phú Khải . Những người này đều lên tiếng nói rõ sự nguy hại về vấn đề đất đai, môi trường sinh thái, quân sự và ngay cả văn hóa nữa. Nhưng rồi xem ra những lời kêu gọi này cũng chỉ là một thứ " nước đổ đầu vịt " không có một ảnh hưởng gì đến quyết định đem Tàu cộng vào Tây nguyên khai thác bô-xít của Cộng sản Việt Nam. Một đặc điểm của chế độ cộng sản Việt nam là cái quán tính ù lì không muốn thay đổi trước những phê phán sai trái hay góp ý chân thực . Vì luôn kiêu hãnh tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ nên Cộng sản Việt nam đã có những chính sách sai lầm, đã phạm những tội ác với đồng bào và với đất nước Việt Nam.. Chúng chỉ sửa sai khi không còn cách cứu chữa và chống chế gì nữa. Chuyện Hồ chí Minh xin lỗi nhân dân miền Bắc sau khi đã phạm nhiều tội ác trong Cải cách ruộng đất là một ví dụ cụ thể.


Tác giả Lý Nam Bình trong bài viết "Thị trấn Bô-xít ở Lâm Ðồng" đã viết những lời thống thiết như sau :
" ….Rồi nay 20 năm nữa, vùng hạ lưu sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn, và hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô-xít ở Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?"
Nếu bọn lãnh đạo Bắc bộ phủ mà nhìn xa thấy rộng như tác giả Lý nam Bình thì diễm phúc cho dân tộc Việt Nam biết bao nhiêu. Tiếc rằng đây là một bọn trâu bò ngựa chó, chỉ biết đặt quyền lợi của chúng lên trên quyền lợi dân tộc nên chúng bỏ ra ngoài tai mọi lời can gián và quyết tâm đi theo con đường " phản quốc hại dân " của chúng cho đến ngày chúng bị nhân dân đứng lên trừng trị. Khó có thể có một đường hưỡng giải pháp nào khác để giải quyết nhanh chóng và tốt đẹp vấn đề bô-xít nhức nhối hiện tại vì chính quyền Việt Cộng hiện nay đả bị Trung Cộng lèo lái và dẫn dắt. Chuyện cho xuất bản tác phẩm " Ma chiến hữu " mới đây trong nước ca tụng bọn lính Tàu đỏ xâm lăng biên giới Việt Nam và chuyện nghiêm cấm sinh viên, dân chúng Việt nam biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa đã cho thấy Trung Cộng đã nắm phần chủ động sai khiến chính quyền Cộng sản Việt Nam.


Giữa lúc vận nước đen ngòm, sinh linh nức nở thì có một vầng hào quang chói lọi xuất hiện. Ðó là sự lên tiếng của vị sư già Quảng Ðộ. Từ Thanh Minh thiền viện ở Sài gòn , thầy đã dõng dạc đưa ra Lời Kêu Gọi một tháng biểu tình tại gia đề chống việc lấy Vàng dân tộc đổi nhôm nước ngoài. Lời kêu gọi đã có tiếng vang rất lớn trong nhân dân trong và ngoài nước. Khác với những vị thức giả chỉ biết phân tách lợi hại, chỉ rõ nguy cơ khai thác bô-xít, lời kêu gọi của Hòa thượng Quảng Ðộ đã chỉ rõ ra biện pháp để đối đầu với bọn nội xâm Cộng sản Việt Nam nhẫn tâm bán nước cho bọn ngoại xâm Trung Cộng một cách không thương tiếc. Kế hoạch đưa ra rất hợp tình hợp lý để cho bất cứ một người Việt Nam nào, dù ở trong hay ngoài nước, cũng có thể theo đó mà hành động để cứu dân cứu nước một cách cụ thể theo hoàn cảnh riêng của từng người. Ðứng giữa vòng vây quân thù Cộng sản, thầy Quảng Ðộ đã cho thấy tinh thần vô úy của con nhà Phật, không nao núng trước bất cứ thế lực yêu ma gian ác nào. Tấm gương chói lọi của thầy là tấm gương để cho nhiều thế hệ người Việt trông đó mà noi theo.


Lởi Kêu gọi của thầy Quảng Ðộ có những điểm chính cần nêu ra như sau :
"Nguy cơ mất nước bắt đầu.
Lần này không chỉ Bắc thuộc một nghìn năm, mà là ba nghìn năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo nước nhà không là Lý thái Tổ, Trần nhân Tông, Lê thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo loan xã hội và nhân văn Việt Nam
Chỉ còn lại tiếng nói của toàn dân mới có cơ cứu vãn.Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đồi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng
…. Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TIÌH TẠI GIA như một thái độ bất tuân dân sự: Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, thương gia, tiểu thương không đến chợ. Sinh viên học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng 4 để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ- BIỄU TÌNH TẠI GIA..


.. Tháng 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư bảo vệ sinh thái và vẹn toàn lanõn thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là tiếng nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điềm sinh tử để tiếng nói cất lên thông qua một tháng BIỂU TÌNH TẠI GIA.
Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5- 2009 và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng 5- 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.
Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.
Thanh minh thiền viện, Sài gòn ngày 29 tháng 3 năm 2009Sa môn Thích Quảng Ðộ."
Dĩ nhiên chuyện kêu gọi đồng bào xuống đường rầm rộ để biểu tình là chuyện đấu tranh lý tưởng nhưng nên nhớ trong một chế độ cộng sản độc tài toàn trị thì chuyện đó là chuyện bất khả thi. Là một chứng nhân sống , đấu tranh, tù tội trong suốt mấy mươi năm qua ở quê nhà, Hòa thượng Quảng Ðộ đã nhìn thấy điều đó nên thay vì kêu gọi đồng bào xuống đường sẽ không thành công, thầy kêu gọi mọi người tham gia chiến dịch " đình công bãi thị " . Chiến dịch này trong có vẻ nhẹ nhàng nhưng sức công phá sẽ không thua gì những cuộc xuống đường rầm rộ vì nếu người dân nhân được thông tin và nhiệt tình tham gia chuyện " đình công bãi thị " như Hòa thuong Quảng Ðộ tha thiết kêu gọi thì sẽ đem đến sự tê liệt guồng máy vận hành xã hội và sẽ có sức ép rất lớn đến chính quyền Cộng sản. Hoặc là bọn chúng phải thay đổi đường lối đang đi về chuyện bô-xít xấu xa, hoặc là chúng sẽ bị tiếp tục hứng chịu những cuộc " đình công bãi thị" kế tiếp sẽ có nguy cớ làm tê liệt guồng máy cai trị của chúng và chuyện này dần dần sẽ đưa đến sự sụp đổ chế độ.



Ðường lối đấu tranh đã được vạch ra rõ ràng minh bạch. Bổn phận của người dân trong và ngoài nước chỉ còn có quyết tâm thi hành thì mới mong cứu được đất nước và con người khỏi họa ngoại xâm và diệt vong. Tình thế rất bức bách và nghiêm trọng, mong sao lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam vẫn còn tiềm tàng và lúc này sôi sục nổi dậy để hành động nhằm cứu lấy đất nước, quê hương và con người Việt Nam.
Trong cuốn hổi ký của Giáo sư Nguyễn đăng Mạnh được lưu truyền trên Internet, Giáo sư Mạnh cho biết nhà văn Nguyên Ngọc ( nguyên là một đại tá Cộng sản ) đã nói với ông rằng " Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào ?" Xin góp ý với nhà văn Nguyên Ngọc là nếu chiến địch " đình công bãi thị " do Hòa thượng Quảng Ðộ được phát động liên tục và được toàn dân hăng hái và dũng cảm tham gia thì chế độ Cộng sản Việt nam sẽ sụp đổ vì chính quyền tê liệt không còn đûủ sức và khả năng cai trị do những cuộc " đình công bãi thị " gây ra. Dĩ nhiên sẽ không ai nhỏ một giọt nước mắt để tiếc thương cho bọn cầm quyền bán nước hại dân là bọn Cộng sản Việt Nam.


Giờ hành động đã điểm, mọi sự chần chờ do dự bị coi là một tội ác đối với tổ quốc. Mong mọi công dân Việt đứng lên hành động vì sự chậm trễ đồng nghĩa với họa diệt vong gây ra bởi bọn ngoại xâm được bọn nội xâm bán tháo bán đổ cho chúng mảnh giang sơn gấm vóc Việt Nam một cách không thương tiếc và khốn nạn.
Xin kết thúc bài viết với mấy câu thơ của Hà sĩ Phu để mọi người thấy rõ hơn bộ mặt tối bại xấu xa của bọn bán nước hiện nay ở Bắc bộ phủ :
"LỬA BÔ-XÍT
Giặc đã ngự trên lưng tổ quốcBô-xít tuôn lệ đỏ, khóc sơn hàHồn dân tộc Triệu Trưng về đốt lửaThiêu lũ hèn Chiêu Thống cháy ra ma !"
Ðúng vậy ! Số phận nhục nhã khốn nạn của vua Lê chiêu Thống ngày xưa lúc cuối đời cũng sẽ là số phận của bọn cầm đầu Bắc bộ phủ hiện nay. Không có con đường nào khác dành cho bọn chúng ngoài con đường bị đào thải vào đống rác của lịch sử trước sự khinh bỉ và nguyền rủa của nhân dân Việt Nam.


Los Angeles, một đêm hoang vắng lạnh lẽo đầu tháng 4 năm 2009
TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG
Email: dalatogo@yahoo.com
( Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần viết Ðại Hưng
thì vào www.nsvietnam.com rồi bấm tên Trần viết Ðại Hưng nằm bên trái)

=

Sunday, April 26, 2009

OSHIRO * GIÃ TỪ VIỆT NAM


GIÃ TỪ VIỆT NAM
Ed. Oshiro, MPH (Master of Public Health-Bác Sĩ Y Tế Công Cộng)

Trần Trúc Lâm chuyển ngữ


Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thuộc thành phố Hồ CHí Minh, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự cách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất.


Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẳng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam, bắt đầu vào giữa tháng Giêng.

Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên.

Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy hộ chiếu trên đường đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt Nam) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước.

Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4200 đô la, và dấu hộ chiếu cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá 15 đô la một ngày.

Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau).

Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm. Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không.

Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì vế kế toán và chẳng có chút khiếu năng gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta chịu chia một phần lương của cô.

Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v... Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ. Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việ Nam... 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải đăng ký quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong. Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam, đặc biệt l à những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam.


Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi.. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ độc chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.

Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, đái ra máu, ỉa chảy v.v... Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm không thấy được khỏe.

Một ông bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và đã chỉ cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có chuẩn được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ.

Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (CSVN) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng phấn khởi về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩ đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.

Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dân xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà nới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn v.v... Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.

Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở Ủy Ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một manh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khỗ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hằn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.

Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn hiệu. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s) . Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương.

Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vây. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt!

Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam. Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v... và một bác sĩ toàn thời gian chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, mày chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, và chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm q uyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công.

Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Hi vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1500 đô la.

Vài tuần sau khi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn hộ chiếu và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá.

Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi! bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả dán dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe.

Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được.

Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bời quyết định này bởi vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.

Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.

Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mereer Island (thành phố Seattle, tiểu bang Washington) nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives.
http://hoanlan. multiply. com/journal/ item/1



GOOD-BYE VIETNAM
by Ed Oshiro, MPH (Master of Public Health)

Thirty minutes after our Vietnam Airline flight departed from Tan Son Nhut airport in Ho Chi Minh City, we looked down upon the denuded red plains and my wife and I instantaneously felt an incredible sense of relief and freedom. We were finally free from the daily harassment, intimidation and greed of the Vietnamese officials and we could actually feel the weight of the last three months lift off our shoulders.

It all began last fall when I was accepted as the overseas manager for the East Meets West Foundation which operated primary care clinic for the "poorest of the poor" and an orphanage for 125 children on the outkirts of Da Nang, Vietnam. I had decided to take advantage of the early retirement package offered by Group Health and retired in January with the intention of volunteering in Vietnam for a year or two, beginning in mid-January. My mission was to help the clinic become more efficient and effective and to conduct pilot public health education programs in four remote villages. My wife was assigned to work with the orphanage as an art and recreation instructor, and to teach English to the staff.

A preview of what we were to experience in country actually began when we flew to San Francisco to pick up our visa on our way to Vietnam. Upon our arrival in San Francisco, we were advised that the Foreign Minister, who issues the visas, wanted us to rent his appartment in Da Nang for $700 a month, with a six month advance payment. We objected, he refused to issue the visas, so we return to Seattle while the Foundation continued the negotiations. Finally, in February, we agreed to the arrangement, paid him $4200, and with a 3 month instead of a 12-month visa, flew to Vietnam. When we arrived, the apartment, of course, still being renovated so we were compelled to stay in a hotel at $45 a day. Upon entering Vietnam, all of our computer discs were cofiscated and only after paying a $40 "handling fee" and copies had been made (for later resale) were they returned to us three weeks later.

On our first day in the office, I picked up the telephone to call my daughter in Seattle and noticed that martial music could be heard in the background during our conversation. I later mentioned that to the Vietnamese staff and they stated the police and military were listening in on all of our telephone calls. We were also warned that our letters were opened and read by the government, so we had to be careful what we wrote. Once, I was required to take a month-end financial report to the police and they decided whether it should be sent off or not.
<> A few days after we began working in the office, the Vietnamese accountant left for Florida to marry an American doctor she had met when he came to Da Nang to volunteer at the clinic. When we announced the position, the minister sent us candidates who had no accounting training nor English language skills and hired a certified accountant who spoke fluent English. The Minister and the Security Police delayed approval of the new employee, untill, we suspect, some money changed hands or she agreed to kick back a percentage of her salary. We were informed that all the Vietnamese employees were required to pay the police, government offcials, party member, ect, a portion of their salary. The Security Police came to our office to demand, several times, why we refused to hire their candidates.

Incidentally, a Vietnamese physician applied for the accounting job because he had been unemployed for over five years. Apparently, there were hundreds of doctors that were unemployed in spite of the fact that they are some of the lowest paid workers in Vietnam... $30 a month. I never learned why there were so many unemployed doctors. I was told that they had to pay upwards of $1500 to get practical training and experience in a hospital after they completed their training. Without the training, they were unemployable. I also became aware that there was tremendous discrimination against the South Vietnamese, especially these whose family members supported the defeated government. Most of the unemployed doctors we m et were South Vietnamese.

During my orientation in the States, I was warned that the doctors at the Peace Village Clinic were lazy and unmotivated, and only knew how to prescribe vitamins. After spending a few days with the doctors, I found them to be very intelligent, very willing to learn to practice good medicine and were eager to receive any assistance that would enable them to become good practitioners. Unfortunately, their medical training was so poor and inadequate that they were only qualified to prescribe vitamins for every affliction. One day a week, the doctors visited one of the surrounding villages and provided care to the people. I accompanied them on several visits and noted that vitamins were precribed for every ailment, malaria, blindness, fevers, parasites, blood in the urine, diarrhea, ect.. What else could they do? They didn't have any other drugs except a few bottles of Ampicillin. The doctors claim that they had to give the patients something to take home so they prescribed vitamins. Made sense to me. Antibiotics may be purchased over the counter so every Vietnamese already had several bottles at home. My translater took antibiotics for headaches, colds, diarrhea, backache, and when she just was not feeling well.

An OB/GYN doctor from San Diego spent a few days at the clinic and showed the doctors how to use a vaginal speculum. A year later, he returned and was very upset that the doctors were not using the speculum and complained to the East Meets West Foundation Board in San Francisco that the doctors were unmotivated and lazy. My report to the Board questioned his assessment. The doctors could not be trained in diagnose and treat gynecological diseases in a few days and the lab tech was only able to do very simple tests. Even if they did, find something, there were no drugs or equipment to treat the problem. Why look for something if you can't do anything about it? I felt that some of the American doctors who volunteered at the Peace Village Clinic were very insensitive and did more harm than good.

As soon as I had settled in, I met with the Minister of Health with a proposal to conduct a pilot public health project in four villages and he seemed to be very enthusiastic about the idea. He accepted the proposal and informed me that he would discuss it with the People's Commitee and get back to me. Two weeks later, he sent me a letter stating that the project was approved and that the Ministry would implement it, but they wanted me to provide them with $20,000. I stated that I did not have the money, only the knowledge, time and willingness to do the training and work with the health workers, but they were not interested in my participation - only my money. I was not invited back to the Ministry.

When I visited my first village to do a health assessment. I was met by the Director of the People's Committee who took me around to the homes of the poorest families. At each farm house, he requested that I pay=2 0for something that the family needed, for example: a new roof, a new well, a new house, money for rice, clothes, wheel chair, etc. When I stated over and over that I was not there to give them money, he finally told my translator to get me out of the village. At another village, the officials demanded that I provide them with funds to build a new school and when they realized that I would not provide the funds, I was immediately put under house arrest and ordered not to leave the grounds of the People's Committe office. That night, I was ordered to sleep on the dirty wood floor of the office with only a tattered blanket, and one of the security police officer slept next to me to assure that I did not leave the building. To add to my misery, the officer, whose hand had been blown off by a land mine, place his stump on my stomatch all night while he slept. I, of couse, did not sleep a wink and keep thinking who would ever believe that I would be sleeping on the floor of a Communist party office, next to a Viet Cong policeman whose handless arm rested on my belly! It was one of strangest and scarrest night I have experienced. I kept wondering if I was having a nightmare.

Because we were living in a hotel, we had to eat our meals in restaurants. The only place we and most visitors could eat in Da Nang without getting sick was a restaurant called Christies. Every night, we met American marrines and soldiers who were in Vietnam searching for MIA's. They20stated that every village had a scam in operation. The village leaders would claim to have burried in the rice fields two or three Americans who had died during the war. It would cost the American $10,000 to dig in the fields and to hire local workers. The officers we talked to claimed that since 1991 they had found nothing and they didn't expect to find anything. They were required to stay in Vietnam Army Hotel for $75 a night and hire the Vietnam helicopter to take them to the village. We were informed that it cost $750 an hour for the helicopter ride. There were about 30 US military personel looking for MIA's in Da Nang and every major city had a silmilar team. It is coating the US milion of dollars and the Vietnamese are laughing all the way to the bank!

After a couple of months, it became very evident to us that we were not needed in VietNam. The orphanage was being very adequately funded by the US Government and the Vietnamese staff was excellent. The kids were attended in the government school, being provided with training in carpentry, sewing, computer, etc .... and a full time physician took care of the medical needs of the children. They had a basketball court, ping-pong tables, television, videos, bicycles, computers, a vegetable farm, and they raised chickens and pigs for income. The Vietnamese claimed that these chidren, in fact, lived better than all other children in Vietnam.

I was able to raise the salaries of all the doctors, and the rest of clin ic staff from $30 to $50 a month. The government required every employee to be paid the same amount whether he/she were a doctor or janitor. I also assisted in development of a long term continuing education program for the doctors. A cadiologist from Japan is sponsoring each year, one doctor from the Peace Village Clinic, who will spend six months in her hospital in Osaka for next few years. The first doctor left Osaka in June. I also opened communication with the Hue hospital to accept our doctors into their resisdency program with us paying for the training. I presented this proposal to East Meets West Foundation Board on my last day in the country. Hopefully, the Boad will vote favourably on this program. I feel that it is very inexpensive to train the doctor for $1600.

Several weeks after we arrived in Da Nang, the Forein Minister demanded more money to finish renovating the apartment to purchase furniture. We were aware of this fact that a Vietnamese doctor makes $30 a month and he would pay, perhaps $10-$15 a month to rent that apartment so we politely ignore his demand for more money. He tightened the screws by requiring us to to provide him with a detailed itinerary as to where we would be every hour, two weeks in advance, by holding up our request for a visa extention and by intimidating our Vietnamese office staff. Three months after we arrived, the Foreign Minister said we could move into the house and we did - for one night. It was only partially completed wit h electric wires dangling from the ceiling, walls partially painted, plumbing unconnected, no furniture and cockroaches crawling everywhere. In a few minutes, I used up a can of insecticide and the floor was covered with two-inch long cockroaches lying on their backs, leg flailing away. We moved back to the hotel after one night. The minister became very upset and advised us to leave the country if we were unhappy. For the first time ever, we experience real fear. We realized that he could jail us or arrange an accident and no one could do anything about it.

Realizing that we were not really wanted or needed in the country, that our contributions would be negligible, and that there was a real threat to our safety, we made the decision to leave Vietnam. We agonized over the decision because we had come to love the children in the orphanage and the people working there as well as at the Peace Village Clinic. We have very warm feelings for the Vietnamese people and the incredibly beautiful country, and we would, someday, like to return there complete the work we have begun.

One day, this generation of leaders will pass on and then Vietnamese will emerge to become to the butterfly of Southeast Asia.

http://www.vietthuc.org/2011/11/01/gia-t%E1%BB%AB-vi%E1%BB%87t-nam/


Friday, April 24, 2009

VOA * ĐĨA BAY

Ðĩa bay, người hành tinh có thật hay không?

24/04/2009

Trong tháng Tư, 174 quốc gia trên thế giới cử hành Ngày Trái đất. Ngày này xuất hiện như một bước khởi đầu cho phong trào bảo vệ hành tinh chúng ta đang sống để duy trì một môi trường lành mạnh cho toàn thể nhân loại và cho các thế hệ mai sau. Thế nhưng mới đây câu chuyện về các vật lạ bay trong không gian, xin tạm gọi là các đĩa bay, làm cho chúng ta chợt nhớ đến niềm thắc mắc của con người đã có từ lâu: Có những giống người khác ở những hành tinh xa xôi hay không? và đến một lúc nào đó liệu loài người chúng ta sẽ có phải di cư sang một hành tinh khác vì một chuyện gì đó xảy đến cho trái đất này hay không? Mời quí vị theo dõi với Lan Phương trong 'Câu chuyện nước Mỹ' tuần này với những tình tiết của câu chuyện với cựu phi hành gia của NASA, Edgar Mitchell và ý kiến của nhà bác học vật lý Stephen Hawking.

Astronaut Edgar Dean Mitchell
Phi hành gia Edgar Mitchell từng tham gia chuyến bay của phi thuyền Apollo lên mặt trăng năm 1971
Phi hành gia Edgar Mitchell từng tham gia chuyến bay của phi thuyền Apollo lên mặt trăng năm 1971, và là một người rất say mê câu chuyện về đĩa bay. Hôm thứ hai 20 tháng tư ông đã quả quyết rằng có đời sống ở bên ngoài địa cầu và rằng Hoa Kỳ và các chính phủ khác trên thế giới vẫn che dấu sự thực này.

Ông đã đưa ra nhận định này trong lần xuất hiện tại Câu Lạc bộ Báo chí Quốc Gia sau khi kết thúc cuộc hội thảo thường niên lần thứ năm qui tụ những nhà cổ võ cho niềm tin vào đĩa bay, và những nhà khảo cứu đang nghiên cứu xem có những hình thức đời sống nào ở bên ngoài địa cầu của chúng ta hay không.

Theo cựu phi hành gia Mitchell, từ lâu lắm rồi con người vẫn thắc mắc không biết có phải chúng ta là loài người duy nhất trong vũ trụ hay không, nhưng đến thời hiện đại thì chúng ta mới thực sự có được bằng chứng rằng: Không, chúng ta không phải là loài ngừơi duy nhất.

Ông Mitchell nói: "Theo tôi, thì định mệnh của chúng ta, và có thể chúng ta nên bắt đầu với nó, là trở thành một thành viên của cộng đồng các hành tinh. Chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng để vươn tới những nơi ngoài tinh cầu của chúng ta và ra ngoài cả thái dương hệ của chúng ta nữa để tìm hiểu điều gì đang diễn ra ở những nơi xa xôi ấy."

Nhà phi hành Edgar Mitchell ra đời tại Roswell, bang New Mexico, là nơi mà một số những người mang niềm tin vào sự hiện hữu của đĩa bay, vẫn quả quyết cho rằng nơi đây là địa điểm mà một vật lạ ngoài không gian, hay là một đĩa bay, đã đến và bị rơi vào năm 1947. Ông kể rằng thời ấy, những cư dân trong thị trấn bị các giới hữu trách quân sự rỉ tai nhỏ to đe dọa rằng chớ nói đến những gì họ chứng kiến, và họ bị cảnh cáo sẽ phải nhận chịu những hệ quả thảm khốc nếu như hé răng bàn tán về vụ này.

Nhưng nhà phi hành này cho biết những cư dân ở đó không muốn giữ câu chuyện đĩa bay rơi tại Roswell là điều sống để dạ, chết chôn theo, họ muốn thổ lộ cho ai đó có thể tin cậy được. Vậy còn ai có thể tin cậy hơn là một người đã từng sinh ra, lớn lên tại Roswell và lại là một phi hành gia từng bay lên mặt trăng? Thế là những cư dân từng trải qua kinh nghiệm dị thường đó đã chọn ông Mitchell để thuật lại đầu đuôi câu chuyện.

Theo lời của ông Mitchell thì cách nay chừng 10 năm, cuối cùng ông đã được Ngũ giác Đài hẹn cho gặp để thảo luận vềnhững gì mà ông đã được nghe thuật lại. Một vị đô đốc mà ông không nêu tên, làm việc trong ban tham mưu liên quân Hoa Kỳ đã hứa với ông sẽ tìm ra sự thực đằng sau câu chuyện dĩa bay rơi tại Roswell. Ông cho biết những câu chuyện về vụ này đã được xác nhận, nhưng vị đôc đốc đó đã bị từ chối không được tiếp cận các hồ sơ khi muốn tìm hiểu sâu hơn trong tiến trình tìm ra sự thực đó.

Và phi hành gia này nói rằng nay thì cũng chính vị đô đốc đó đã phủ nhận câu chuyện này.

Phi hành gia Mitchell nói rằng: Tôi khuyến nghị những ai còn ngờ vực về sự hiện diện của người hành tinh khác hãy tìm đọc các sách vở, truyền thuyết, bắt đầu tìm hiểu những gì thực sự vẫn đang xảy ra. Ông đoan chắc 'bởi vì người hành tinh khác vẫn đang đến thăm chúng ta'. Theo ông cái vũ trụ mà chúng ta sống trong đó kỳ diệu, lý thú, phức tạp và xa xôi hơn rất nhiều những gì mà chúng ta có thể biết vào thời điểm này.

Hôm thứ Hai, cơ quan NASA của Hoa Kỳ đã bác bỏ tin nói rằng chính phủ dấu diếm chuyện có liên hệ đến đĩa bay. Phát ngôn viên NASA, ông Michael Cabbage nói 'NASA không theo dõi các vật lạ bay trong không gian (đĩa bay), NASA không liên hệ đến bất cứ sự che dấu nào liên quan đến người hành tinh khác đến trái đất này hay bất cứ nơi nào khác. Chấm hết'.

Kenneth Arnold and a drawing of one of the UFOs he reportedly saw in 1947.
Nhiều người tin rằng chính phủ tìm cách che dấu vụ Roswell 1947
Và trong khi đó những bàn tán tranh luận về chuyện gì đã xảy ra tại Roswell năm 1947 vẫn cứ tiếp tục. Năm 1994, không lực Hoa Kỳ nói rằng những mảnh vụn thu hồi được tại hiện trường Roswell có phần chắc là từ một khí cầu trong một dự án mật của chính phủ.

Ông Stephen Bassett, giám đốc tổ chức nghiên cứu Paradigm Research Group (PRG), đứng ra tổ chức cuộc hội thảo về đĩa bay tại Câu Lạc bộ Báo Chí Quốc gia, nói rằng sự thật về đời sống ngoài địa cầu đang bị ếm nhẹm vì nếu được công nhận, nó sẽ gây chấn động lớn về mặt chính trị.

Theo ông Bassett, có một vấn đề lớn thứ ba trong chính trường Hoa Kỳ hiện nay, và đó là vấn đề đĩa bay; ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế và vấn đề qũi an sinh xã hội, chuyện vật lạ bay đến từ ngoại tầng không gian, nếu được xác nhận, sẽ có một sức chấn động khủng khiếp,mạnh gấp bội vấn đề quĩ an sinh.

Và từ 3 năm trước, nhà bác học vật lý lừng danh của thế giới, giảng sư tại đại học Cambridge, ông Stephen Hawking, đã lên tiếng trước khi nhận huân chương khoa hoc Copley rằng loài người phải dọn dến một hành tinh khác, ra ngoài thái dương hệ, để bảo vệ cho sự sinh tồn trong tương lai, bởi vì sự sống của con người có thể hoàn toàn bị hủy diệt vì một thảm họa hạt nhân hay khi một vẫn thạch đụng phải trái đất. Một khi loài người chúng ta trải rộng trong không gian và thiết lập những thuộc địa thì tương lai của chúng ta sẽ an toàn.

Theo nhà bác học này thì không có một tinh cầu nào trong thái dương hệ của chúng ta giống như trái đất, vì thế con người cần phải đi đến một thiên hà khác.

Have we been visited by bizarre alien creatures?
Người hành tinh khác có đến thăm chúng ta?
Giảng sư Hawking cho hay không một phi thuyền nào chạy bằng các loại năng lượng hiện nay có thể đưa được con người sang một thái dương hệ khác, vì nếu dùng các phương tiện hiện nay thì cuộc hành trình sẽ kéo dài khoảng 50,000 năm. Ông đề nghị sử dụng lực đẩy được tạo ra khi vật chất và phản vật chất gặp nhau và bùng nổ tạo ra bức xạ. Bức xạ đó được phóng ra sau một phi thuyền thì nó sẽ tạo thành một lực đẩy để phóng phi thuyền đi, hướng đến một hành tinh ở một thiên hà khác trong khoảng thời gian 6 năm,với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng.

Như vậy mặc nhiên nhà bác học này tin chắc là có những hành tinh khác và có sự sống ở đó.

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng từ hơn 2,500 năm trước, đức Phật Thích Ca đã từng nói: 'Có muôn vàn thế giới trong vũ trụ này'. Vậy thì may ra, cháu chắt chúng ta sau này sẽ hiểu biết thêm nhiều về những gì đang xoay vần trong vũ trụ và biết đâu chúng lại chẳng tìm được một tinh cầu nào tốt đẹp hơn để di cư sang thuộc địa mới, bỏ lại một trái đất kiệt quệ tài nguyên và tàn tạ vì ô nhiễm nếu chúng ta không kịp thời cứu vãn hành tinh mà chúng ta hiện đang sống?

http://www.voanews.com/vietnamese/2009-04-24-voa8.cfm


MINH NGHIÊU * THƠ



THƠ MINH NGHIÊU

GỬI BẬU VƯỜN TRẦU

Minhnghieu@aol.com



Bậu đi mang sợi chỉ hường
Qua qua phố cũ vấn vương tìm hoài
Chiếu cạp điều trải cho ai
Ngoài sân bông bưởi trắng đầy lối đi
Ví dầu tình bậu muốn...chi
Qua đi vay muợn (để) bậu dìa ...bên kia!

Qua buồn để tóc lên chùa
Đem theo con cưởng bốn mùa hót vang
Sau giờ kinh kệ lan man
Qua so phím lại âm thầm lên ...tông
Con cưởng cũng họa não lòng
Bậu đi mất biệt qua ...lông bông buồn!


Nghiêu Minh

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI