Saturday, January 31, 2009

TÀI LIỆU VỀ TƯ SẢN ĐỎ VIỆT NAM


*

Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal , Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết :
"Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt - Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.


"Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.


"Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…"




(H1,2. Những khu biệt thư, lâu đài của tư sản đỏ Việt Nam)


Một tài liệu khác trong website tạm dịch là mạng điểm (cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là " Giai cấp mới trong các chế độ CS " cho biết :
"Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:"… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng".
"Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.

"Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.
"Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.

"Theo tài liệu FYI (Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.
- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.
- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK
- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:
"Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…"
Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là "bí mật quốc gia", internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.


______________________


Quan chức cao cấp gởi tiền ở ngoại quốc
Sunday, September 11, 2005
* CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng ...
GENEVA 11-9 (NV) - Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.
"Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi." Nhân vật trên tiết lộ.
Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì "không đủ để họ sống 10 ngày", nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức , dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.


Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các "phi vụ" tham nhũng hối lộ.
Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách "chuyển khoản" cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.
"Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về", ông tiết lộ tiếp. "Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu."
Tại sao đám quan chức lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?


"Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ." Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của "xếp" ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.







(H3, 4. Đời sống giai cấp vô sản Việt Nam)


Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách "mách bảo" cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề "Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ". Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi "Có thể mở tài khoản ẩn danh - anonymous account - ở ngân hàng Thụy Sĩ không?" Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức "tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng." Và "tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó..." Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.

(H5. công nhân đình công)



(H6. Trẻ em Việt Nam dưới chế độ tư bản đỏ)



Ngày 8-6-2005, VN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc "Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên." Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: "Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng."


Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva "mấy trăm ngàn đô la trong một đêm". Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức giấu đút ở ngoại quốc phải "vô cùng lớn."
Khóa họp Quốc hội hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành "quốc nạn".
Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi "nội bộ tham nhũng" tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã "xà xẻo" khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la. (NT)



Nhận đựợc danh sách này qua email, xin bạn kiểm chứng lại giùm, nhưng có nhận xét là nếu thực sự tài sản của chúng chỉ bằng 1/10 của những số liệu dưới đây thôi là cũng kinh khủng lắm rồi.
Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sản có tài sản vài trăm triệu Mỹ kim
Tên
Chức vụ
USD
Phan Văn Khải và con trai

trên 2 tỷ
Nguyễn Thị Xuân Mỹ
Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra TW Đảng
417 triệuUS
Thích Trí Tịnh
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP
250 triệu
Lê Đức Anh
Cựu Chủ tịch nước
2 tỷ 215 triệu
Trần Đức Lương
Chủ tịch nước
2 tỷ 100 triệu
Đỗ Mười
Cựu Tổng Bí thư Đảng
1 tỷ 900 triệu
Nguyễn Tiến Dũng
Đệ nhất Phó thủ tướng
1 tỷ 780 triệu
Nguyễn Văn An
Chủ tịch Quốc hội
1 tỷ 700 triệu
Lê Khả Phiêu
Cựu Tổng Bí thư Đảng
1 tỷ 430 triệu
Nguyễn Mạnh Cầm
Phó Thủ tướng
1 tỷ 350 triệu
Võ Văn Kiệt
Cựu Tổng Bí thư Đảng
1 tỷ 150 triệu
Nông Đức Mạnh
Cựu Chủ tịch Quốc Hội
1 tỷ 143 triệu
Phạm Thế Duyệt
Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng
1 tỷ 773 triệu
Trần Ngọc Liễng
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
900 triệu
Hoàng Xuân Sính
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
784 triệu
Lý Ngọc Minh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
750 triệu
Nguyễn Đình Ngộ
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
656 triệu
Võ Thị Thắng
Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN
654 triệu
Ma Ha Thông
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
590 triệu
Nguyễn Đức Triều
Chủ tịch TW Hội Nông dân VN
590 triệu
Trần Văn Quang
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN
587 triệu
Nguyễn Đức Bình
Giám đốc Viện Quốc Gia Saigon
540 triệu
Vương Đình Ái
Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN
512 triệu
Hoàng Thái
Thường trực Đoàn Chủ tịch
500 triệu
Nguyễn Thị Nữ
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
500 triệu
Nguyễn Tiến Võ
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
469 triệu
Nguyễn Văn Huyền
Nhân sĩ thành phố HCM
469 triệu
Nguyễn Xuân Oánh
Kinh tế Thành phố HCM
469 triệu
Phạm Thị Trân Châu
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
469 triệu
Thích Thiện Duyên
Giáo hội Phật giáo QN ĐN
469 triệu
YA Đúc
uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
469 triệu
Hà Học Trạc
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
400 triệu
Hoàng Quang Đạo
Mặt trận Tổ quốc tỉnh
390 triệu
Lê Hai
Tổng cục chính trị QĐNDVN
390 triệu
Lê Truyền
Uỷ viên Ban Thường trực
390 triệu
Lý Quý Dương
Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang
390 triệu
Phạm văn Kiết
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
390 triệu
Vương Đình Bích
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
390 triệu
Trần Đông Phong
Thường trực Mặt trận Tổ quốc
387 triệu
Trần Văn Đăng
Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký
364 triệu
Hoàng Đình Cầu
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
300 triệu
Lý Chánh Trung
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
300 triệu
Ngô Bá Thành
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
300 triệu
Trương Thị Mai
Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam
300 triệu
Hồ Đức Việt
Bí thư thứ nhất TW Đoàn TNCS
287 triệu
Lâm Công Định
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
287 triệu
Ngô Gia Hy
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
287 triệu
Trần Văn Chương
Chủ tịch Hội người Viẹt Nam
287 triệu
Trương Văn Thọ
Bác sỹ, dân tộc Chăm
287 triệu
Đỗ Duy Thường
Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật
280 triệu
Đỗ Tấn Sỹ
Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp
280 triệu
Lê Văn Triết
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
280 triệu
Lương Tấn Thành
Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai
280 triệu
Nguyễn Phúc Tuần
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
280 triệu
Phạm Thị Sơn
Mặt trận Tổ quốc
280 triệu
Lê Bạch Lan
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
269 triệu
Nguyễn Văn Vi
Uỷ viên UBMTTW
269 triệu
Trần Thoại Duy Bảo
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
269 triệu
Vũ Oanh
Lão thành cách mạng
269 triệu
Nguyễn Thị Nguyệt
Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre
264 triệu
Bùi Thái Kỷ
Mặt trận Tổ quốc tỉnh
257 triệu
Hoàng Hồng
Mặt trận Tổ quốc
257 triệu
Lưu Văn Đạt
Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam
257 triệu
Nguyễn Công Danh
T P. Hồ Chí Minh
257 triệu
Nguyễn Túc
Uỷ viên Ban Thường trực
257 triệu
Nguyễn Văn Bích
Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước
257 triệu
Hoàng Việt Dũng
Giám đốc Công ty TNHH
256 triệu
Phan Quang
Hội nhà báo Việt Nam , Uỷ viên UBMT
256 triệu
Vưu Khải Thành
Tổng công ty hữu hạn BITIS
256 triệu
Cao Xuân Phổ
Viện Đông Nam á
254 triệu
Chu Văn Chuẩn
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Đăng Thị Lợi
Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều
254 triệu
Hoàng Văn Thượng
Đại tá, Anh hùng quân đội
254 triệu
Lê Quang Đạo
Trung ương Mặt trận Tổ quốc N
254 triệu
Lợi Hồng Sơn
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Lý Chánh Trung
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
254 triệu
Ngô Ngọc Bỉnh
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Nguyễn Kha
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Nguyễn Văn Hạnh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Nguyễn Văn Vĩnh
Mặt trận Tổ quốc
254 triệu
Đinh Thuyên
Chủ tịch hội người mù Việt Nam
250 triệu
Đoàn Thị Ánh Tuyết
Thượng tá, Anh hùng quân đội
250 triệu
Lê Thành
Phó Chủ tịch Thường trực
250 triệu
Mùa A Sấu
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
250 triệu
Trần Kim Thạch
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
250 triệu
Lê Ngọc Quán
Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú
249 triệu
Nguyễn Quang Tạo
Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình
249 triệu
Nguyễn Văn Thạnh
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
249 triệu
Thào A Tráng
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
249 triệu
Trần Khắc Minh
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
229 triệu
Lê Minh Hiền
Thường trực Mặt trận Tổ quốc
215 triệu
Hà Thị Liên
Thường trực Mặt trận Tổ quốc
214 triệu
Ama Bhiăng
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Âuu Quang Cảnh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Bế Viết Đẳng
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Đàm Trung Đồn
Đại học Tổng hợp Hà Nội
200 triệu
Đặng Đình Tứ
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Đặng Ngọc Bân
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Đinh Công Đoàn
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Đinh Gia Khánh
Viện Văn học dân gian
200 triệu
Hà Phú An
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Hoàng Đức Hỷ
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Lâm Bá Châu
Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp
200 triệu
Lê Văn Tiếu
Việt kiều tại CHLB Đức
200 triệu
Lương Văn Hận
Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Nguyễn Văn Tư
Chủ tịch Hội Công Thương
200 triệu
Phùng Thị Hải
Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản
200 triệu
Rơ Ô Cheo
Dân tộc Gia Lai tỉnh Gia Lai
200 triệu
Sầm Nga Di
Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An
200 triệu
Thích Đức Phương
Thừa Thiên Huế
200 triệu
Thích nữ Ngoạt Liên
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Trần Hậu
Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Triệu Thuỷ Tiên
Dân tộc Nùng
200 triệu
Trương Nghiệp Vũ
Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Trương Quốc Mạo
Chủ tịch Hội nông dân
200 triệu
Ung Ngọc Ky
Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Vũ Đình Bách
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
200 triệu
Mong Văn Nghệ
Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An
197 triệu
Đinh Xông
Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi
190 triệu
Lê Công Tâm
Phó Chủ tịch Thường trực
190 triệu
Mấu Thị Bích Phanh
Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận
190 triệu
Nguyễn Ngọc Minh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Huế
190 triệu
Phan Hữu Phục
Cao đài Tiên thiên
190 triệu
Trần Thế Tục
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
190 triệu
Hoàng Mạnh Bảo
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
187 triệu
Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
187 triệu
Phạm Hồng Sơn
Mặt trận Tổ quốc
187 triệu
Phan Hữu Lập
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
187 triệu
Thái Văn Năm
Phật giáo Hoà hảo
187 triệu
Trần Văn Tấn
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
187 triệu
Vi Văn ỏm
Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La,
187 triệu
Bùi Thị Lập
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
184 triệu
Kpa Đài
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
184 triệu
Lê Văn Hữu
Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên
184 triệu
Nông Quốc Chấn
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
184 triệu
Phạm Khiêm Ich
Viên Thông tin KHXH
184 triệu
Phạm Thanh Ba
Mặt trận Tổ quốc
184 triệu
Từ Tân Vũ
Mặt trận Tổ quốc
184 triệu
Viễn Phương
Nhà thơ Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
184 triệu
Nguyễn Ngọc Thạch
Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết
180 triệu
Trương Hán Minh
Người Hoa TP. Hồ Chí MInh
180 triệu
Bùi Xướng
Mặt trận Tổ quốc
157 triệu
Trần Đình Phùng
Chủ tịch Uỷ ban Mặt
157 triệu
Hồ Ngọc Nhuận
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
156 triệu
Phan Huy Lê
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
156 triệu
Nguyễn Thống
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
154 triệu
Trần Minh Sơn
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
154 triệu
Vũ Duy Thái
Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn
154 triệu
Chu Phạm Ngọc Sơn
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Đỗ Hoàng Thiệu
Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN
150 triệu
Dương Nhơn
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Huỳnh Cương
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Mai Thế Nguyên
Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy
150 triệu
Ngô Minh Thưởng
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Nguyễn Ngọc Sương
Đại học Tổng hợp Thành phố
150 triệu
Nguyễn Văn Diệu
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Phạm Ngọc Hùng
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Thượng thơ Thanh
HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh
150 triệu
Trần Đức Tăng
Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo
150 triệu
Trần Phước Đường
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
150 triệu
Lê Đắc Thuận
Giám đốc điều hành Cty VANOCO
107 triệu
Nguyễn Đức Thành
Chủ tịch Ban điều hành CLB
107 triệu
Trần Mạnh Sang
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
107 triệu
Amí Luộc
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Bùi Thị Lạng
Thành phố Hồ Chí Minh.
100 triệu
Danh Nhưỡng
Dân tộc Khơ me
100 triệu
Đào Văn Tý
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Đồng Văn Chè
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Hà Den
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Hồ Phi Phục
Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Hoàng Kim Phúc
Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành
100 triệu
Kim Cương Tử
UBTW MTTQV
100 triệu
Lê Ca Vinh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Lý Lý Phà
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Nguyễn Hữu Hạnh
Nhân sỹ Thành phố
100 triệu
Nguyễn Lân
Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
100 triệu
Nguyễn Lân Dũng
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
100 triệu
Nguyễn Minh Biện
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Nguyễn Phước Đại
Luật sư TP. Hồ Chí Minh
100 triệu
Nguyễn Tấn Đạt
Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang
100 triệu
Nguyễn Thành Vĩnh
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Nguyễn Thị Liên
Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Nguyễn Thiên Tích
Chủ tịch hội y học cổ truyền VN
100 triệu
Nông Thái Nghiệp
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Phùng Thị Nhạn
Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM
100 triệu
Sùng Đại Dùng
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Trương Quang Đạt
Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú
100 triệu
Tương Lai
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
100 triệu
Vũ Mạnh Kha
Mặt trận Tổ quốc Hà Nội
100 triệu
Hà Thái Bình
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
56 triệu
Nguyễn Văn Đệ
Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng
56 triệu
Trần Bá Hoành
Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc
56 triệu
Võ Đình Cường
Uỷ viên UBTQ Mặt trận Tổ quốc
56 triệu
Cù Huy Cận
Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN
50 triệu
Lê Khắc Bình
Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch
50 triệu
Huỳnh Thanh Phương
ủy Quân sự thành phố Cần Thơ
32 triệu
Hồ Xuân Long
Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị
15 triệu







==

LÊ TẤN LỘC * SỔ TAY HÀNH TRÌNH




Sổ tay hành trình

Quê hương ruồng bỏ…
Quê nhà xa lắc xa lơ đó,
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.


Tân thì thầm trong màn đêm giả tạo qua chiếc mặt nạ che mắt, sau bữa ăn tối với hương vị rượu đỏ nồng ấm còn đọng trên môi, trên chuyến bay rời Xứ Tuyết về hướng thành phố mà một thời, rất thương yêu, Tân đã gắn thêm cụm từ “của những cuộc tình” vào tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông (Saigon de mes amours), sau khi bỏ lại sau lưng trong ray rứt nuối tiếc “Paris của những mộng mơ” (Paris de mes rêves):
Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ,
Quay về xem non nước giống dân Hời.

«
*Sàigòn, 20.2.2003

Sàigòn ơi! Anh trở về thăm em sau hai mươi ba năm biệt xứ …
Bước xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, cái nóng hỏa lò hắt mạnh vào mặt khiến tôi hoa mắt, lảo đảo. Những nắng là nắng: nắng chói chang, nắng đổ lửa, nắng thiêu đốt! Hai mươi tám năm về trước, cũng cái nắng cháy da, cái nắng bốc khói như thế nầy đã thuộc da, đã thui sống tôi và đồng bạn “cải tạo” đang hì hục còng lưng dùng tay trần cào xới sỏi đá để “canh tác”, dưới sự thúc ép nghiệt ngã của bọn quản ngục.
Tôi về lại chi mảnh đất ngàn đời thương khó nầy? Chắc hẳn không thể như “quan trạng vinh qui về làng” được rồi: So với nếp sống phồn vinh của bè bạn, hàng xóm láng giềng hiện nay, “Việt kiều nghèo” tôi khác chi phường khố rách áo ôm? Cũng chẳng phải để hí hửng làm “Việt kiều du lịch kiểu du khách ngoại quốc trên đất nước của mình”: tôi không đủ sức mà cũng không thấy hứng thú.


Tình thật, tôi chẳng chút chi “hồ hởi” về thăm một quê hương triền miền khốn khổ mà mình đã đoạn đành lìa xa, bỏ mặc, quên lãng. Chỉ vì bà chị duy nhất của tôi hấp hối, muốn thấy mặt thằng em chị đã bồng ẵm, chăm sóc thay mẹ đau yếu đến phải bỏ dở con đường học vấn -vốn hứa hẹn nhiều thành quả rực rỡ- mà tôi đành múi mặt đối diện tại phi cảng với đám hung thần đã đày đọa, trù đập chí cốt các bạn đồng cảnh ngộ bi phẩn với tôi…
Động lực thúc đẩy khác cũng không kém phần quan trọng là do tôi nuôi hi vọng gặp lại vài thằng bạn đã từng chia cơm xẻ áo, cùng hứng chịu nhục nhằn trong lò cải tạo năm nào. Thử xem chúng nó sống còn ra sao. Nhứt là muốn tìm dấu một vài đồng nghiệp “gõ đầu trẻ” hiếm hoi còn sót lại ở quê nhà, cùng các cựu môn sinh của tôi, hiện rải rác khắp nơi.
Nhưng…làm sao dò tìm những bóng dáng thân thương nầy trên những đường phố thơ mộng, chan chứa ân tình xa xưa -những “con đường xưa em đi”- giờ đây đã hoàn toàn biến thể dưới hàng hàng lớp lớp cao ốc sừng sững hai bên đường, che lấp hết ánh mặt trời… Đường phồ Sàigòn bưng bít gió, Tôi biết nơi nào gửi nhớ thương!
Hoàn toàn lạc hướng giữa chốn phồn hoa đô thị xa lạ, tôi chỉ còn biết nhắm mắt mơ hồ ngỡ như nhận ra dáng dấp thân quen của những đứa bạn từng sống chết có nhau, huyền ảo như bóng “muôn ma Hời” thoáng hiện về lung linh trong “Điêu tàn”…
*Gia Định, 21.2.2003

Con đường Hàng Xanh, cạnh Ngã tư xa lộ Biên Hòa, hoàn toàn lột xác. Con đường đầy tang tóc máu lửa xưa kia giờ đây thay hình đổi dạng thành khu phố sầm uất, bán buôn ì xèo, xe cộ như mắc cửi, chiếm hết mặt lộ và “xử lý” luôn cả hai lề đường. Tiếng động cơ chát chúa, tiếng đôi co tru tréo ầm ĩ nghe như tiếng súng nổ rền vang, tiếng kêu la thảm thiết của vô số người bị trọng thương, nằm la liệt bên cạnh hàng đống xác chết đã bắt đầu trương rữa, hôm Tết Mậu Thân… Làm sao mà quên được:

Đây chiến địa, nơi đôi bên giao trận,
Muôn cô hồn tử sĩ thét gầm vang…


Căn nhà thờ Hàng Xanh vách ván, mái tôn lụp xụp năm nào vừa làm trạm cứu thương, cứu đói, vừa làm nơi trú ẩn cho nạn nhân chiến cuộc “Mậu Thân” từ các nơi đầy máu lửa Cầu Sơn, Bình Triệu, Gò Vấp đổ xô về lánh nạn -đồng thời cũng là nơi tích lũy hàng khối tử thi chưa thể đem đi chôn, được bó chiếu sơ sài hoặc nhét vội vào bốn miếng ván ghép hối hả, gở từ phên vách những ngôi nhà cháy dở dang- giờ đây đã hóa thân thành một ngôi thánh đường nguy nga đồ sộ, bê-tông cốt sắt. Khách thập phương, giáo dân và người bán hàng rong chen chút nhau trong sân trước giáo đường có tường rào kiên cố bảo vệ. Tượng Đức Mẹ trước nhà thờ đã được dời đi nơi khác. Di tích duy nhất còn lại để nhắc nhở thời nghèo nàn tang tóc nhưng dồi dào tình người của nhà thờ Hàng Xanh xa xưa là tấm plaque cẩm thạch lưu niệm, gắn trên tường, ghi võn vẹn tên Cha Sở Thomas Trần Lê Vinh, năm sinh và năm mất. Ngắn gọn! Tôi cúi đầu trước di tích buồn tênh đó, đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn vị linh mục đã đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống tâm linh của tôi sau khi tôi ra tù cải tạo. Và tự hỏi: “Chúa có còn ngự trong ngôi thánh đường phồn thịnh nầy chăng? Hay Người đã đến một nơi mà con cái Người đang đau thương, quằn quại, khốn đốn như dân chúng xưa kia trong căn nhà thờ Hàng Xanh ngập tràn tiếng kêu khóc thương xót”?

*Thủ Đức, 22.2.2003

Chợ Nhỏ Thủ Đức gần như không thay đổi đáng kề. Cái nóng hâm hấp trong ngôi chợ còn giữ được gần nguyên vẹn nếp sinh hoạt trước 1975 không làm tôi ngột ngạt, bởi vì đó là hơi nóng ấm nồng tình người của đồng bào thân quen của tôi. Không xa lạ, không dửng dưng, không kênh kiệu, khinh khỉnh như đám “bào-đồng=cùng-màu-da” ở cửa khẩu nhập cảnh, chực chờ “bào” đồng đô-la của “khúc ruột ngàn dặm” được họ “ban ơn khoan hồng” cho về thăm nơi chôn nhao cắt rún!
Thế nhưng ngôi chợ nhỏ nầy chỉ là một ốc đảo như “khu bảo toàn sinh vật sắp tuyệt chủng” nằm trơ vơ trong đại đương bao la của những biến đổi phi nhiên tính do tập đoàn “dân-tộc-ra-cửa-gặp-ngay-anh-hùng-nhởn-nhơ-đầy-đường-phố” chủ xướng. Qua khỏi khu bảo toàn nầy, “người con về từ phương xa” chẳng còn nhận diện được đất đai xứ sở của mình nữa: Cả môt vùng đất mênh mông chung quanh Trường Bộ Binh trước kia giờ đây chẳng còn một xẻo đất trống. Nhà cửa xây hỗn loạn, hầu hết là những villa lộng lẫy được bao quanh bởi một vòng đai tường gạch ngạo nghễ mà cổng vào luôn luôn được một bảng hiệu to tướng, đỏ rực “Doanh trại Quân đội nhân dân” xác định quyền sở hữu bất di dịch, bất khả xâm phạm, cha truyền con nối của đám cư dân “con cưng của chế độ” được nhà nước tận tình ưu đãi! Doanh trại tiếp liền doanh trại, liên tục nối dài “xa tít tận chân trời”…Cơ hồ như cả nước, từ Cà Mau đến ải Nam Quan được một dãy Trường-Sơn-Doanh-Trại-Quân-Đội-Nhân-Dân “nối vòng tay lớn”!

Loanh quanh, dò dẫm mãi trong đám rừng doanh trại tôi mới tìm ra lối mòn dẫn tới một vùng chứa rác lộ thiên khổng lồ: vài trăm căn nhà “khiêm tốn” của cư dân bị trục xuất khỏi mấy khu kề cận Trường Bộ Binh mọc lên chung quanh các núi rác. Hai thiếu phụ -một thư ký, một y tá- cựu cộng sự viên ở trường Trung học Trịnh Hoài Đức Bình Dương đón tôi ở đầu ngõ khu “bàn cờ” tái sinh bất đắc dĩ, cho tôi khỏi mất tích trong mê cung nghèo khó nầy. Đôi bên nhìn nhau, rưng rưng…Muốn choàng ôm nhau nghẹn ngào nhưng…vẫn cứ ngại ngần: Dẫu sao chúng tôi vẫn còn chịu ảnh hưởng không khí “cổ kính”, “mô phạm” của cửa Khổng sân Trình thời trước!
Bữa cơm thanh đạm do hai cựu thuộc viên nghèo khó tự tay nấu nướng “chiêu đãi” trưởng cơ quan cũ -cũng chẳng khá giả gì lắm- vậy mà vui hết sức! Mùi nylon cháy khét lẹt từ những núi rác không làm ô nhiểm không khí đậm tình anh em thân thiết giữa chúng tôi.
- Nầy cô Xuân! Không thấy cô giới thiệu chồng con chi cả.
- Ai mà chịu lấy tôi, hở anh? Vừa nghèo vừa xấu.
- Ai dám bảo cô y tá của tôi xấu? Cô kén chọn quá kỹ chăng? Còn cô Cang, cậu con trai giờ ra sao rồi? Cô có bước thêm một bước nữa chăng?
- Nhờ anh đỡ đầu lúc nó ra đời nên nó ăn học khá lắm, bây giờ có việc làm vững chắc, rất hiếu thảo. Từ lúc ba nó mất tích ở Bình Long, tới nay tôi vẫn ở vậy nuôi con. À! Anh còn nhớ chú Trầm, tùy phái không? Tội nghiệp, ổng già yếu lại bịnh nặng. Hai ông bà thương anh lắm, nhắc anh hoài…
Làm sao tôi quên được hai vợ chồng người đã hết lòng ân cần chăm sóc tôi, những ngày đầu tôi nhận trách nhiệm điều khiển trường Trịnh Hoài Đức? Cả ba chúng tôi lặng lẽ thở dài...
- Bé Tám dạy nhạc bây giờ ra sao rồi?
- Anh nhắc làm chi cái thứ nằm vùng ôn hoàng dịch lệ vật đó! Xuân trả lời.
-“Giải phóng” vô hôm trước, hôm sau hắn vênh váo xách AK tới trường hoạnh họe, hạch sách các thầy cô và nhân viên văn phòng đủ điều. Rồi hắn ra lệnh cho tôi đánh máy danh sách phân loại để hắn báo cáo lên Ban An Ninh, Cang tiếp lời. Bây giờ hắn bị cho ra rìa rồi, chẳng ai thèm ngó tới mặt. Đáng đời!


Tôi lắc đầu ngao ngán cho thế thái nhân tình: Bé Tám, người được toàn trường chúng tôi hết lòng thương yêu, đùm bọc, nhiệt tình giúp đỡ mọi mặt…
Lúc bùi ngùi chia tay, tôi kín đáo chạm nhẹ vào bàn tay gầy yếu xanh xao của hai cô em đã giữ nguyên vẹn lòng cảm mến dành cho người anh viễn phương…

Áo em vạt tím ngàn sim,
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ.




*Trường Dạy Nghề Thủ Đức, 23.2.2003

Lần nầy thì tôi chẳng nghe ai kể hết. Chính mắt tôi thấy, tai tôi nghe: Cửa quyền hống hách coi dân như rơm rác. Chính quyền do “nhân dân làm chủ” đấy nhé!
Quá thương tâm trước cảnh nghèo rớt mồng tơi của gia đình một người thân -nhà dột cột xiêu, cơm ngày hai buổi hẩm hiu với muối hột mà cũng chẳng đủ no lòng, con cái nheo nhóc; đứa con gái đầu đàn phải bỏ học đi bưng mâm rửa chén cho một tiệm phở, trước để được no bụng, sau để kiếm vài đồng bạc phụ mua gạo muối hàng bữa cho gia đình- tôi nhất quyết tìm cách rút đứa cháu gái tuổi chưa quá đôi tám, mặt mũi “dễ coi” ra khỏi cảnh đau lòng đầu bù tóc rối, chân đi trần, đầy vết mỡ loang : giúp cháu học nghề.

Bước vào văn phòng trường dạy nghề tôi chẳng thể nào tưởng tượng sẽ phải đối mặt với một mụ Giám hiệu quá ư mất dạy! Cán bộ nhà nước -“đầy tớ của nhân dân”- vô giáo dục phụ trách công tác giáo dục nhân dân! Đem tiền đến đóng học phí cho họ mà họ coi như mình đến xin ăn không bằng. Nói chuyện phang ngang bửa củi, trả lời nhát gừng, có ghế nhưng không mời khách ngồi. Đóng tiền xong, hỏi chi tiết về chương trình học, giờ giấc. Trả lời cụt ngủn: về đi, trở lại coi thông báo niêm yết. Hết!
- Ban giám hiệu trường nào cũng tiếp phụ huynh như vậy hết hả con?
- Dạ phải, dượng ba ! Chỗ nào của nhà nước cũng vậy hết, chớ không riêng trường học. Dân đem tiền “cúng” cho họ mà bị coi như tới van xin họ ban ơn bố đức!
- Hết ý!




*Bình Dương, 23.2.2003

- Allô! Thưa thầy! Tụi em đang trên đường xuống rước thầy…Thầy biết ai gọi thầy không đây?
- Huê Mỹ phải không?
- Trời Phật! Hai mươi mấy năm rồi mà thầy vẫn còn nhận ra tiếng em!
- Làm sao quên giọng “hai-phai-xì-tê-rê-ô” của nữ lực sĩ được!

Ba mươi phút sau, chiếc mini van đầy người gấp rút tấp vô lề đường trước cổng nhà chị tôi. Một đoàn áo dài trắng tức tốc túa ra, ào tới quấn quít lấy tôi, đứa nắm tay, đứa bá cổ, đứa choàng vai, đứa bẹo mặt, đứa vuốt tóc, vừa reo cười vừa mếu máo khóc!
- Thầy ơi! Phải thiệt thầy Tân dạy Triết của tụi em không đây? Một đứa hỏi. Tụi em nghe đồn thầy tự tử chết trong trại cải tạo rồi. Thầy mình thực sự còn sống, phải hôn tụi bây? Hỏi xong, bèn bật khóc!
- Thầy biết con nhỏ cười qua nước mắt kia là ai không? Huê Mỹ hỏi.
- Không nhớ. Trông rất quen. Đẹp. Nhưng có vẻ buồn thảm quá!
- Hồng Phượng mà thầy không nhớ ra à? Hồi trước, sáng nào nó cũng quá giang xe thầy từ Lái Thiêu tới trường mà!
- Trời đất! Hèn chi tôi cứ ngờ ngợ.
Hồng Phượng đối với tôi như em ruột vì là con của thầy tôi ở Bạc Liêu. Cũng là em gái của Danh, thằng bạn nối khố, đồng nghiệp.
Huê Mỹ ngày xưa thân hình cân đối, rắn chắc, bây giờ gầy gò, cao nghệu như tre miễu, nhưng nụ cười vẫn còn rạng rỡ. Đám cựu môn sinh đang quây quần bên tôi giờ đây đã “ông ông mụ mụ rồi” hết ráo, nhưng không rõ có phải vì cái khung cảnh tái ngộ quá đặc biệt nầy mà đột nhiên chúng trở thành đám nữ sinh lăng xăng tíu tít như dạo nào chăng? Hoài niệm vẫn còn xanh trong chúng tôi…

(Bình Dương)
Giám hiệu Trường Trịnh Hoài Đức, một cựu học sinh của Trường, mời tôi, Phúc, một cựu Hiệu trưởngTHĐ kế tôi, cùng đám cựu môn sinh vào văn phòng trò chuyện thân mật. Giám hiệu ngỏ lời chào mừng và hoan nghinh sự trở về trường xưa của người thầy cũ-nguyên hiệu trưởng, lời lẽ cảm động chân thật. Ba hiệu trưởng kế tiếp nhau, mỗi người tiêu biểu cho một thế hệ, ngồi bên nhau trong tinh thần sư đệ: Điều tôi không ngờ có thể “được phép” làm ở một cơ sở giáo dục “do nhân dân làm chủ”! Không khí “có giáo dục” nầy, tôi nghĩ là do vị Giám hiệu đã được “giáo dục” trước 1975. Nếu không, chắc cũng rập khuôn “cửa quyền” như ở trường dạy nghề Thủ Đức thôi.
- Chào thầy! Em là Hiệu phó. Lúc thầy làm Hiệu trưởng, em mới vào đệ thất nên chắc thầy không biết em. Xin mời thầy cùng quí anh chị “tham quan” trường.

Cô Hiệu phó rất xinh, y phục lịch lãm, sở dĩ ăn nói “có văn hoá” là nhờ đã được đào tạo trong môi trường “tôn sư trọng đạo”, cũng trước 1975…
- Xin thầy đứng chụp ảnh trước dãy phòng mới cất, rất khang trang. Cô Hiệu phó vừa nói vừa nằm tay tôi lôi về hướng kỳ đài “phất phới cờ đỏ ngôi sao vàng”!
- Không, không! Huê Mỹ can thiệp, trì tay tôi lại, kéo về hướng khác. Lúc thầy dạy tụi mình, rồi lên làm Hiệu trưởng chỉ có dãy phòng cũ kỹ nhưng rất nhiều kỷ niệm thầy trò nầy thôi! Thầy về thăm trường cũ trò xưa là muốn tìm lại hoài niệm thân thương đó...Em hãy để yên cho bọn chị cùng thầy sống lại vùng hoài niệm xanh lúc thầy mới về trường chúng ta đi nghe !
Quả thật Huê Mỹ nói rất đúng, dãy phòng xưa cũ nầy và văn phòng Hiệu trưởng vừa chật cứng hoài niệm đối với tôi, vừa là di tích lịch sử đối với cựu nhân viên giảng huấn, nhân viên văn phòng và các cựu học sinh trước 1975. Chắc rồi cũng sẽ bị đập bỏ,
thay thế bằng hàng loạt kiến trúc do các ông chủ mới thiết kế đồ án, với lá cờ đỏ sao vàng chói chang -bắt buộc phải có- phất phới như một quyết tâm triệt hạ những gì gợi nhớ tới nền giáo dục nhân bản xa xưa…

- Thưa thầy! Em đứa là học trò nghèo năm xưa chẳng bao giờ quên thầy đã cho em lên xe Toyota của thầy để em khỏi cuốc bộ đến trường : Một điều mà em chẳng bao giờ tưởng tượng có thể xảy ra giữa một học sinh quèn như em và một người vừa là thầy đứng lớp vừa là Hiệu trưởng! Nho, Phó Giám đốc Sở Giáo Dục Bình Dương ngõ lời trong buổi cơm thân mật tiếp đãi tôi và “phái đoàn cựu học sinh 12A1-12A2/THĐ/1970”, qui tụ trên dưới ba mươi khuôn mặt thân thương tại một quán cơm bình dân, ngoài thành phố.
- Em không giấu thầy, Nho tiếp, em là người cộng sản -và em là người cộng sản duy nhứt trong bàn tiệc nầy. Em theo lý tưởng của em, nhưng em vẫn kính mến, thương quí thầy và tôn trọng lý tưởng của thầy. Xin thầy cứ yên tâm: Tổn phí xe cộ đưa đón và bữa cơm hôm nay là do tụi em, học trò cũ của thầy, tự nguyện chung góp đài thọ. Tụi em dứt khoát không cho mấy đứa cựu môn sinh của thầy bây giờ là tay to mặt bự -cỡ bí thư tỉnh ủy, huyện ủy trở lên- gặp thầy, dù tụi nó có yêu cầu. Em nói với chúng nó :«Thầy Tân trực tính. Tụi bây quen thói “lên lớp” sảng, rủi ổng nhịn không nổi “quạt” lại, bị mất mặt, tụi bây dám bắt ổng đi cải tạo lần nữa lắm!».
- Thưa thầy! Chắc thầy không còn nhớ em đâu! Một giọng nữ trong như chuông ngân, không xưng danh, phát biểu. Ngày xưa, nhà nghèo quá, em phải nghỉ học xin làm thư ký đánh máy cho trường. Khi lên làm Hiệu trưởng, thầy không cho em làm…
- Tôi đuổi việc em?...
- Dạ không phải vậy! Thầy nói em còn nhỏ quá, bắt em tiếp tục học buổi sáng và cho em làm việc buổi chiều, thứ bảy, chủ nhựt làm thêm giờ bù…Nhờ vậy em tốt nghiệp đại học sư phạm, nối nghiệp thầy!
- Dù em có khai tên ra thầy cũng không nhớ nổi em đâu! Một cựu môn sinh phái nam chen vào, tiếp chuyện. Xin đọc bài thơ “Tái ngộ” em vừa làm xong tặng thầy, mà em dự trù đưa vào tập thơ “Chàm khúc tình” của em, sắp xuất bản. Em chỉ xin thầy, cũng là người cầm bút, nhớ bút hiệu của em thôi : Chu Ngạn Thư.

(….) Mượn câu vạn lý trùng phùng
Ấm trong tay bắt lòng mừng nỗi xưa.

Lạ thật! Tôi nghĩ thầm. Chàm khúc tình? Chẳng lẽ nhà thơ thấu suốt tâm trạng “quay về xem non nước giống dân Hời” trong Điêu tàn của người-dân-Việt-ngoại-kiều-trên-đất-Việt như tôi? Chàm khúc… Một cơn trốt xoáy tung bụi mù hay… Hồn tử sĩ gió ù ù thổi?
- Tôi kể anh Tân nghe chuyện dài Trịnh Hoài Đức. Phúc uống cạn ly bia, rơm rớm nước mắt, trầm buồn lên tiếng. Lúc tôi ngồi tù cải tạo, trường bị xoá tên và mất luôn vị trí một cơ sở giáo dục. Họ cưỡng đoạt ngôi trường làm trung tâm “bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ”.
Khi tôi ra tù, mấy đứa học trò cũ của mình -“quan lớn” trong chế độ “đổi đời”- tìm tôi, thúc đốc tôi ra nhận lại chức vụ hiệu trưởng. Tôi ra điều kiện tiên quyết : phục hồi danh hiệu Trịnh Hoài Đức và dời trung tâm gì đó đi nơi khác. Yêu cầu được đáp ứng sau nhiều năm dài tranh cãi. Sở Giáo Dục do học trò cũ mình cai quản giao cho tôi điều khiển trường được trao trả và yêu cầu tôi vận động cựu đồng nghiệp và cựu học sinh ở hải ngoại gởi tiền về gây quỹ phát triển trường cũ. Khắp nơi nhiệt tình hưởng ứng. Nhưng rồi tôi nhận ra chính quyền chỉ muốn lợi dụng tôi để moi tiền những ai còn tha thiết với trường cũ.
Anh em điện thư yêu cầu tôi mở trương mục cho họ chuyển tiền. Lúc bấy giờ chánh quyền mới lộ tẩy : Chỉ có Sở Giáo Dục tỉnh Bình Dương mới có tư cách nhận và sử dụng tiền! Tôi thông báo ngay cho bè bạn khắp nơi, rồi cáo bịnh xin từ nhiệm. Sở không chấp nhận, trái lại càng lúc càng thúc ép tôi kêu gọi thiên hạ gởi tiền về.
Viễn ảnh tôi đi cải tạo lần nữa chập chờn…Cuối cùng tôi nghĩ ra cách rút lui an toàn. Tôi dàn cảnh đi xe đạp bị tai nạn chấn thương não, mất trí nhớ, ăn nói ngọng nghịu, lảm nhảm. Bệnh viện -do BS Phượng Hoàng, học trò ruột của chúng ta làm trưởng khoa bệnh lý- xác nhận bệnh trạng. Tôi thoát nạn!
- Lúc đó mình chới với khi nghe Danh báo “hung tin”. Không ngờ Phúc “siêu” quá cỡ!

Trên đường về, các em đề nghị tôi ghé qua khu Trường Nữ THĐ, gần chợ Búng. Trước 1975, Trường cũ gồm hai khu nam nữ, cách nhau trên hai cây số. Bây giờ khu nầy dành cho nữ cán bộ làm trụ sở hợp tác xã gì gì đó.
- Đây mới thật là nơi tụi em có quá nhiều kỷ niệm với thầy! Đấu, cô-nữ-sinh-mít-ướt ngày xưa, lệ đoanh tròng, nhìn tôi nói. Em nhớ, lúc học đệ tam với thầy, em ưa khóc vì mặc cảm nghèo, chỉ có một bộ đồ tương đối coi được mặc đi học. Thầy dỗ em và biểu em lúc nào muốn khóc thì nhìn mặt thầy sẽ hết khóc. Em cũng chẳng hiểu vì sao mà nghe theo lời thầy thì …em nín khóc thiệt! Và từ từ em hết mít ướt luôn!
- Thầy nhìn lên dãy lầu xem! Thầy còn nhớ căn chót phía tay mặt, nơi thầy dạy triết cho lớp đệ nhất A1, năm đầu tiên thầy về trường chăng? Gần Tết năm 1967, thầy đang đứng lớp trên đó thì có hai thanh niên giả dạng nam sinh THĐ sang bán báo Xuân đột nhập vào lùa thầy cô và tụi em ra sân cờ để tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước”. Tình cờ có hai anh chuẩn úy không hay biết gì hết, từ chợ Búng đèo nhau trên xe gắn máy chạy ngang trường…Họ nổ súng sát hại. Em còn nhớ mồn một nụ cười tươi tắn của hai anh còn rầt trẻ đó thoáng qua cổng trường rồi vụt tắt ngấm theo tiếng súng nổ chát chúa. Và ngay bây giờ em vẫn tưởng như sự việc đang xảy ra trước mắt: Chiếc Suzuki màu xanh dương lật ngang giữa đường, máy vẫn còn nổ, bánh xe vẫn còn lăn, hai anh chuẩn úy vẫn còn giẫy chết…


Cơn xúc động do hoài niệm thương động tái xuất hiện dần dần lắng động.
- Thầy à! Đấu-mít-ướt cười hiền hòa nói. Bữa nay sao em cảm thấy như đang học lớp đệ tam đó thấy. Phải hôn tụi bây?
- Ê, con nhỏ! Tụi mình tóc hoa râm hết rồi nghe mậy! Huê Mỹ chọc phá.
- Tao cảm thấy thiệt vậy mà!
- Thầy có thấy cái miễu nhỏ trước cổng trường không? Hồng Phượng hỏi. Cái miễu đó, cho tới nay dân chúng vẫn tiếp tục nhan đèn cúng vái. Họ bảo hai anh chuẩn úy nầy linh lắm! Chánh quyền địa phương muốn dẹp mà không dám, vì nghe đâu mấy cán bộ gộc trên tỉnh cũng thường xuống xá lạy, van vái, cầu xin!
- Thầy ơi! Thầy ở lại chơi với tụi em đi. Lâu lắm rồi thầy mới có dịp trở lại Bình Dương. Đấu năn nỉ. Thầy còn về Việt Nam nữa không?
- Tôi thì không thành vấn đề. Nhưng cô thì không thể ở lại vì sức khỏe không cho phép. Chứ cô cũng rất thích sinh hoạt với các em. Tôi về nữa, các em nghèo quá làm sao đủ gạo nuôi tôi?
- Dạ thầy đừng lo. Tụi em chia nhau nuôi thầy cô, mỗi đứa một tuần. Rồi xây tua làm lại như vậy nữa. Dư sức “nuôi” thầy cô dài dài…
Tôi rời cảnh cũ người xưa, rạt rào thương cảm… Chốn ấy quê hương, ôi cảm tình! :

Đưa nhau đấu rượu hoa nầy,
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm…

(Thành phố Đà Nẵng)



*Đà Nẵng, 26.2.2003

Bốn mươi lăm năm rồi tôi mới lại có dịp đi xe lửa trên một tuyến đường xa. Lần chót tôi dùng phương tiện giao thông nầy là do năm 1958, giữa niên học, ban Triết Đại Học Sư Phạm chúng tôi tại Sàigòn được lệnh chuyển lên Đàlạt. Lần nầy đặc biệt hơn vì chuyến xe lửa mang tên “Thống Nhất” chạy suốt từ Sàigòn -đã bị mất tên- tới Hà Nội -địa danh trơ trơ như đá vững như đồng vì được “đảng và nhân dân ta” tôn vinh là “cái nôi của loài người ( v.v…)”, không như Sàigòn chỉ mới là Hòn Ngọc Viễn Đông ấm ớ thôi! Có nên nhắc lại, khách mở hàng chuyến tàu hỏa Thống Nhất nầy là hằng hà sa số quân cán chính VNCH được nhồi nhét như gia súc trên các toa tàu bít bùng, đưa ra miên Bắc “học tập cải tạo” và phần lớn đã vĩnh viễn nằm xuống trên con tàu định mệnh, được vùi lấp “không một nấm mồ” hai bên đường rầy “đầy máu và nước mắt” chăng? Bất giác tôi rùng mình: Toa “Couchette” khá tiện nghi tôi đang sử dụng, trước đây chắc chắn đã “tiếp thu” ít nhất trên trăm chiến hữu của tôi đang đói khát, ngộp thở, bịnh hoạn không thuốc thang, bài tiết tại chỗ, chết dần mòn…Phong cảnh nhạt nhòa theo lệ ứa :
Đây những cảnh rừng sâu cây lả ngọn,
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.

Cảnh vật hai bên đường rất đẹp và rất “quê hương”, với trâu bò nhơi cỏ trên đồng áng, với hàng dừa, rặng cao, lũy tre bao quanh đình chùa, làng thôn nếu không có cảnh tượng thương tâm phu dân nghèo khổ đập đá như tù khổ sai kiếm cơm độ nhật, gợi nhớ cảnh đày ải, cưỡng bức lao động trong các trại cải tạo năm nào…Lác đác vài ngôi nhà mồ nguy nga, tráng lệ trông rất bắt mắt nổi bật trên vô số nấm mồ lở lói, xác xơ. Người chết giờ đây cũng phân chia giai cấp trong một xã hội luôn huênh hoang tự hào “không giai cấp”. Nhà mồ huy hoàng, màu sắc rực rỡ : người chết có thân nhân là cán bộ hoặc Việt kiều. Nấm mồ sụp lở : hoặc vô chủ, hoặc con cháu người chết là đa số dân đen sống lây lất qua ngày! Dĩ nhiên nghĩa trang “liệt sĩ” thì y như lăng tẩm vua chúa thời xưa. Và cũng rất dĩ nhiên như một “tất yếu lịch sử” (sic!) vô số doanh trại quân đội nhân dân lại…lấn dân giành đất khằp nơi, khắp nước…



Thành phố Đà Nẵng không xô bồ như thành phố Sàigòn-mất-tên. Đường phố sạch sẽ, lưu thông trật tự, người dân nói năng lễ độ, tử tế. May mắn thay Trường Phan Chu Trinh vẫn còn giữ được tên và nét trang nghiêm của thời trước. Nhưng buồn thay, tôi chẳng gặp được “cố nhân” nào cả : bạn bè và đồng nghiệp cũ chắc đã vượt biên hết rồi!
Hai đứa cháu họ, Sử và Thảo, hướng dẫn chúng tôi thăm bãi Bụt nổi tiếng. Cành trí tuyệt đẹp. Nhà cửa xinh xắn như các chalet nghỉ mát Tây phương. Đất đai được rào phân cách thành lô rạch ròi. Hỏi tên các “phước chủ” mới bật ngửa : Khu đất và các chalet nầy là của Hen-ri Chúc, khu kia là của Eo-vít Phương, khu nọ là của Làng Văn! Cả ba khu nầy chiếm gần phân nửa diện tích bãi Bụt. Ô hô Việt kiều! Cứ đà nầy, bãi Bụt sẽ trở thành Bãi Văn Nghệ Sĩ nước ngoài ”yêu nước”… có đất kinh tài!

Trong buổi cơm chiều, Thảo kể chuyện ông tỉnh ủy từ chức vì thằng con hà hiếp dân lành. Ông là cán bộ cao cấp duy nhất không ém nhẹm chuyện xằng bậy. Nhưng một con én không làm nên mùa xuân. Sau đó, ông từ khước mọi chức vụ khác, xin hưu non.
- Con nghĩ ông ấy thấy xa.Thảo kết thúc chuyện kể. Nếu tiếp tục công tác, trước sau gì ông cũng bị đám tham ô ám hại.
- Con muốn chú xem kỷ vật con cất giữ của thằng bạn cách đây hai mươi tám năm. Sử buồn bã nói. Một tháng sau ngày “giải phóng”, bạn con lén lút đến nhà trao cho con một món quà gói ghém và ngụy trang rất kỹ. Và con cũng đã chôn giấu rất cẩn thận nên mới còn tới ngày hôm nay. Chú xem đây!

Sử trút từ ống tre ra một thanh kiếm nằm trong bao đen nạm vân vàng, mời tôi tuốt kiếm…Lưỡi kiếm đã rỉ sét, nhưng ánh thép vẫn còn lấp lánh! Tôi bồi hồi nhận ra thanh kiếm của sinh viên Trường Võ Bị Quốc Gia!
- Lúc sắp “đứt phim” bạn con là sinh viên sĩ quan đang chuẩn bị “vung kiếm gương cung” ra trường. Những lời cuối của bạn tới giờ nầy vẫn còn văng vẳng bên tai con: «Tao rất may mắn được Trường Võ Bị Quốc Gia giáo dục làm người, rèn luyện tinh thần trách nhiệm, tôn trọng danh dự. Trường đã cho tao một lý tưởng phục vụ tổ quốc. Những thứ quí báu đó không còn trong tay nữa với một quê hương đã mất, tao chẳng còn lý do gì để trường tồn. Hãy giữ hộ tao cây kiếm nầy để nhớ đến thằng bạn đã có lần được làm người, đúng nghĩa Làm Người…».
…Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai,
Không có ai ngày ngày, không có ai đời đời…



*Phi trường Tân Sơn Nhứt, 26.3.2003

Nho, Mỹ, Hồng Phượng và một số cựu môn sinh tiễn tôi xa lìa quê hương lần nữa, có thể chẳng bao giờ quay về lại. Nắm nuối, bịn rịn, “bước đi nhưng chưa nỡ rời…”. Nhưng rối thầy trò lại phải xa nhau nữa thôi!
Đợi nhau tàn cuộc hoa nầy
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ…
- Nầy anh kia! Một “bào-đồng-cát-kết-cầu-vai-đỏ-ối” trỏ tay về hướng tôi, nhe hàm răng “xâm lăng” hét to. Tôi nói tiếng Việt mà anh không hiểu sao? Có xếp hàng vào cửa lên máy bay ngay không thì bảo? Rõ lẩn thẩn!

Hình ảnh các quản ngục non choẹt năm nào sừng sõ quát tháo -“anh nầy anh kia”- bọn tù cải tạo đáng tuổi cha chú mình lại hiện về...
- Chú theo tôi vào đây làm việc. Một giọng miền Nam -duy nhứt ở phi cảng quốc tế nầy- nhỏ nhẹ rót vào tai tôi. Tuy vậy, tôi cảm thấy “lạnh cẳng” với cụm từ “làm việc” rất dễ động não. Vì bất cứ cựu tù cải tạo nào cũng đã từng đổ mổ hôi hột khi mình được kêu “lên làm việc”! Chắc lại có chuyện rồi… Vì chuyến thăm trường cũ chăng?

Vào phòng an ninh, trước đôi ba bộ mặt gầm gừ, giọng Nam dễ thương kia đổi sang ngay giọng Bắc - vì “lãnh đạo ” là đồng chí phương Bắc- nhưng vẫn nhẹ nhàng :
- Xin chú cho biết có quên cái gì trước khi lên phi cơ chăng?
- Tôi không nhớ. Hình như không.
- Thế thì cái áo gi-lê-phóng-viên-nhiều-túi nầy chắc của tôi, phỏng? Giọng Bắc “cấp trên” chanh chua xoi mói.
- Ô! Xin lỗi quí anh. Tôi già rồi, quên trước quên sau. Lúc nãy tôi bỏ sót nó trên quầy khám xét. Xin lỗi! Xin lỗi!
- Chúng tôi nhặt nó, soát qua các túi, thấy bản sao “bách-bo” của anh nên mới tìm anh trao lại. Anh kiểm lại các thứ xem có thiếu món gì không.
- Dạ, chỉ thiếu quyển sổ tay…
- Anh viết những gì chúng tôi không hiểu, vì viết tiếng nước ngoài. Nhật ký?
- Dạ không! Tôi ghi chú những cảm nghĩ hằng ngày về các luận án tiến sĩ của các sinh viên đại học Paris nhờ tôi nhuận sắc.
- Được rồi. Trả lại anh đây.
Hú vía! May là nhật ký viết bằng tiếng Pháp. Có lẽ nhờ chữ “Paris” mà tôi thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Nếu viết bằng tiếng Anh hay nói tới đại học nào ở Mỹ, chẳng biết cuộc diện sẽ ra sao…
».


Tân dán mắt vào “hublot” ghi nhận lần cuối hình ảnh thành phố thân yêu nhỏ dần khi phi cơ vút lên cao. Cúi nhìn ly rượu đỏ, như chờ đợi Sàigòn “thoáng hiện em về trong đáy cốc”, Tân thầm thì :
- Biết bao giờ còn thấy nhau lần nữa, Sàigòn ơi! Vì…
Tôi sẽ chết như hoàng hôn đã tắt
Mây bay đi không cuốn được u hoài
Chớm đêm về mưa gió sẽ chia tay
Cho lá nhớ mưa buồn dâng ướt mắt…
- Ôi quê hương dấu yêu , phải đoạn đành ruồng bỏ! Bởi…
Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp,
Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi!

Thôn trang Rêu-Phong, 30 tháng Tư 2008
- Lê Tấn Lộc-



THANH THANH * THƠ


=


MẮT ANH

Em xem giùm mắt anh
Có cái gì là lạ
Vừa xanh như trăng thanh
Vừa hồng như lửa hạ
Vừa vàng như nắng hanh

Em xem giùm mắt anh
Có cái gì lấp lóa
Nhưng không là vảy cá
Cũng không là thong-manh

Em xem giùm mắt anh
Có cái gì kỳ dị
Không phải là cận thị
Không phải là viễn thị
Không phải là loạn thị
Giác-mạc vẫn trong lành
Mắt vẫn sáng long lanh

Thật ra, anh biết rành
Không cần tìm loanh quanh
Vì nó là tâm bệnh:
Hình em trong mắt anh!

Thật ra, anh không đau
Không cần tìm bệnh lý
Anh cần em chú ý
Cốt để được gần nhau

Em là một nụ cười
Em là đóa hồng tươi
Cho lòng anh thắm mãi
Cho anh tin yêu đời

THANH-THANH


=

Friday, January 30, 2009

XUÂN VŨ TRẦN ĐÌNH NGỌC * TRUYỆN NGẮN

































Truyện Ngắn

Những Mảnh Đời
Đầu Đường Xó Chợ
(Một câu chuyện có thực)




* Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Đã mồng ba Tết, một năm đầu thập niên 90, đó là năm Tân Mùi. Tại quận Cam Cali, tiết trời lạnh nhưng dễ chịu, ba ngày Tết vẫn có ánh mặt trời. Chợ hoa tại đường Bolsa ba ngày Tết và sau đó vẫn vui, vẫn có nhiều kẻ cầu may bán hết mớ hàng đã mua vào trong năm còn tồn đọng. Người mua khá đông, từng nhóm bạn bè, từng gia đình rủ nhau du Xuân thấy giá hời mua thêm về ngắm cho thỏa lòng ao ước. Giá cây cảnh, hoa tươi sau Tết hạ hơn giá trong năm nên người mua dễ dàng mở ví hơn là năm ngoái.
Bạn bè, họ mạc đến chơi trong ba ngày Tết đã về cả. Cuộc du Xuân, du thủy đầu năm của gia đình tôi cũng đã xong. Giờ này tôi đang nghĩ đến một cái hẹn, một cái hẹn khá quan trọng không thể bỏ tối nay.

Vào căn bếp, loay hoay lục tìm mấy món quà Tết trong tủ lạnh cho vào vài cái bao ni-lông, tôi bỏ hai cái bánh chưng lớn và một đòn bánh tét vào bao. Đây cây giò thủ và một thanh chả quế bự. Một gói tôm khô, một bịch đậu phọng rang, mấy cái bánh đa vừng sản xuất ở San Diego do một bạn cho, một gói lớn lẫn lộn các thứ mứt bí đao, bí ô, mãng cầu, sầu riêng, hạt sen, mứt gừng, chuối sấy; một gói lớn hạt dưa và một...tôi hơi ngần ngừ nhưng rồi nhặt bỏ đại vào. Đó là chai Courvoisier, tôi vẫn thích thứ này, và sau cùng là sáu chai soda Perrier, vốn song hành với rượu mạnh.
Hai tay hai xách nặng, tôi khệ nệ bỏ ra xe trong lúc vợ tôi từ trên lầu đi xuống:
-“Anh đi đâu đó?”
-“Như hôm qua anh nói, anh đưa cho chúng vài món quà Tết. Em đi chơi với anh không?”
“Mấy người anh nói họ vào sở gặp anh để nhờ anh kiếm cho việc làm ấy hả?”
“Đúng. Tết nhất mình cũng nên làm cái gì cho họ vui vẻ một chút.”

Nàng có vẻ suy nghĩ một chút, rồi ngần ngừ:
“Em muốn đi chơi với anh thăm họ luôn nhưng em vừa nghĩ ra.Vân với Tranh hẹn đến tối nay. Em phải ở nhà đón chúng. Thôi, anh đi đi! Nhớ về sớm, nghe anh!”

Vân,Tranh là hai chị em con người chị họ nhà tôi.Tôi bấm nút cho cửa ga-ra cuốn lên và lái xe ra. Trời mùa Đông nên mới 5 giờ chiều đã sẩm sẩm tối. Bọn trẻ hẹn tôi tối đến mới vui, mới có mặt đông đủ. Chuyện hẹn hò gặp mặt đã sắp xếp từ ba tuần trước vì mấy cô cậu choai choai này nói muốn được hưởng hương vị Tết Việt Nam nhưng không
dám về nhà, sợ gia đình la mắng. Đó là một nhóm bụi đời chính hiệu đã lang bạt kì hồ, lâu ngày cũng có mà dăm , dăm ba tháng cũng có.


Đám con gái đứng lên cùng chị Sương xuống bếp để bóc và cắt bánh, cắt giò, nướng bánh đa, bày biện. Phòng ăn và bàn ăn quá nhỏ không đủ chỗ ngồi nên chị ngồi nên chị Sương đề nghị ngồi ngay tại phòng khách, thức ăn bày trên cái bàn thấp la liệt một bàn. Ba, bốn cô cậu lại thích ngồi trên thảm, khoanh chân như ngồi thiền.




(H1. thanh niên bụi đời)

Tommy và Tony đang lui cui nhóm lửa trong lò sưởi, năm sáu thanh củi nỏ, chắc để bên cạnh, từ từ sẽ vào lò. Mấy thanh củi tạ trong lò đang bắt lửa bốc cháy nhờ những mảnh củi thông nhỏ làm ngòi, tiếng tí tách reo vui cùng với những đốm than hồng bắn ra như những chiếc pháo thăng thiên tí hon.Mọi người an tọa. Chén đũa đầy đủ sẵn sàng. Tôi bảo chị Sương:“Chị gọi phone cho anh Sương về họp mặt cho vui!”hỏ bụi đời, *Đó là Tony Nguyễn, anh chàng có học nhất trong đám với hai năm đại học Cộng đồng Orange Coast College. Đó là Jane Đào, một cô gái khá xinh xắn và lanh lợi, học xong lớp 11 thì bỏ dở để đi bụi đời. Đó là Tommy, thanh niên có hai dòng máu, sang đây bằng chương trình con lai, chỉ biết đọc biết viết tiếng Việt nhưng nói và hiểu được chút ít tiếng Anh do sự giao thiệp hàng ngày với dân homeless Mỹ.
Đó là Jaco Phạm, Tuyếtgầy, Tuyết mập, Phóng sùi, John Phùng, Hùng, Trương, Phước v.v...cả thảy hơn một chục mạng đầu còn xanh, tuổi còn rất trẻ trong một cái băng bụi đời sinh hoạt khắp mọi đầu đường xó chợ. Tôi gọi băng vậy cho gọn mỗi khi đám người trẻ này gặp tôi chứ thực ra, họ liên kết riêng biệt từng nhóm nhỏ hai, ba người một, chính những người trong nhóm nhỏ mới là bạn, là “đồng chí”, còn những người khác chỉ là quen biết, sơ giao.
Tôi đậu xe ở lề đường căn nhà Tony Nguyễn đã cho biết trước. Căn nhà này nằm trong khu dân cư bình thường không quá tồi tàn nhưng cũng không phải là lọai khá giả. Tôi bấm chuông. Một người đàn bà khoảng dưới 40 tuổi mở cửa.
“Xin lỗi chị. Đây có phải nhà anh Sương?”
Người đàn bà tỏ vẻ niềm nở, chị mở rộng cửa:
“Có phải chú là chú Vũ?”
“Phải.”
“Xin mời chú vào. Chồng cháu là Sương. Anh ấy đi có công chuyện một lát sẽ về. Tony và Tommy nói mời chú vào ngồi chơi một chút, chúng sẽ về liền.”
Tôi để hai bao ni-lông quà trên bàn ăn kế với bếp theo sự chỉ dẫn của chị Sương rồi lại sofa ngồi. Một cành mai tứ quí cắm trong cái bình thủy tinh để giữa bàn ngay trước mặt. Mai ở Hoa Kỳ thời gian đó chưa có giống mai đẹp. Nó hoa nhiều nhưng nhỏ, cánh nhỏ và mau tàn trái với một cây mai tôi mua được ở Sàigòn chơi dịp Tết Ất Mão 1975 (rồi di tản) cao 80cm, gốc to như cái li uống nước, toàn hoa với nụ, mỗi hoa có 12 cánh, vô cùng đẹp, cứ ngồi ngắm cây mai không chán.
Vài cuốn báo Xuân với hình thiếu nữ Việt ở bìa mầu sặc sỡ để lăn lóc đó đây. Vỏ hạt dưa rải rác mọi chỗ; cái gạt tàn đầy mẩu thuốc lá còn nằm trên thảm kế cái giá T.V.(vietnamexodus.org Văn học “Những kỷ niệm không phai mờ” cùng tác giả.)
Chị Sương như có vẻ ngượng ngùng vì căn phòng bừa bộn, lôi thôi quá.
“Trong năm cháu không kịp quét dọn, qua Giao thừa chồng cháu cấm thu quét đến hết mồng ba, thành ra nhà bê bối quá.”

Tôi nói để chị yên lòng:
“Không sao đâu, chị Sương. Ngày Tết phải có mầu mè mới vui.”
Tôi ngồi khỏang mười lăm phút thì mấy cô cậu choai choai về.. Tony đi đầu, trông thấy tôi trước tiên, tỏ vẻ rất mừng rỡ:
“Kìa chú Vũ đã tới. Cháu mừng tuổi chú. Chúc chú mạnh khỏe, sáng tác hăng say, giúp được nhiều bà con có việc và vạn sự như ý trong năm nay.”
Tôi đứng bắt tay Tony,Tommy, Hùng, Phóng, Trương, Phước...và chúc chung:
“Chú cũng chúc các cháu nhiều điều may mắn trong suốt năm.”
Tommy hỏi:
“Tết năm nay chú có gì vui đặc biệt không, chú Vũ?”
“Chỉ có một điều đặc biệt, ngay tại đây, giờ này, với các cháu.”
Jane lanh miệng:
“Chúng cháu cám ơn chú thật nhiều. Chú Nhà Văn có khác. Cái gì chú nói cũng trơn đi.”
“Như miệng có bôi mỡ, phải không cháu?” Tôi tiếp lời làm cả bọn cùng cười, không khí cởi mở và thân vui bắt đầu. Chị Sương giơ tay mời:
“Chú Vũ và các em ngồi chơi đi.”



Tôi ngồi ngay giữa, đám trẻ ngồi xung quanh, đầy kín hai cái sofa và love seat, có mấy đứa ngồi ngay trên thảm . Tôi bảo cả bọn:
“Chú có mang bánh chưng và hạt dưa tới. Chị Sương có thể cho chú cháu tôi họp mặt tân niên tại đây một lát được không?”
Sương đáp ngay:
“Vợ chồng cháu đã dành cái nhà này buổi tối nay cho chú và các em. Xin chú cứ tự nhiên.”
“Thưa chú, chồng cháu đi về bất tử lắm. Có lẽ ảnh đến ông bà nội hoặc một người bạn. Ảnh có dặn cháu mời chú tự nhiên đi, xong công việc ảnh sẽ về ngay.”
Con gái uống nước ngọt, còn đám con trai và tôi thì rượu mạnh pha soda. Đậm, lạt tùy ý thích. Jane uống “consommation” chứ không chịu nước ngọt. Jane thích cảm giác mạnh và cũng mạnh mẽ như con trai. Con bé trông khá xinh. Nó với Vanessa, con bé lai Mễ chỉ mới 18 tuổi, là nổi đình đám trong bọn con gái. Tôi gọi chị Sương:
“Chị Sương ơi, chị ngồi liên hoan cho vui đi!”
“Dạ, cháu ngồi ngay đấy chú. Mời chú với các em tự nhiên đi!”
Tôi nâng li và bảo tất cả:
“Nào, ta uống để mừng Năm Mới. Một năm thật vui vẻ hạnh phúc cho tất cả...”
“Mời chú.”
“Mời chú.”
Tất cả đều nâng li. Sau ngụm rượu đầu, hình như cô cậu nào cũng cảm thấy hừng chí và mềm môi. Giò thủ và củ kiệu được chiếu cố tận tình. Mấy đứa con gái không uống được rượu thì bắt đầu vẽ bánh chưng.




Củi trong lò sưởi cháy mạnh.Tony có sáng kiến là đốt hai cây nến có mùi thơm và tắt ngọn điện trên trần. Mọi người đều đồng ý. Lửa bập bùng lúc sáng lúc mờ rất nên thơ và hơi ấm tỏa khắp căn phòng, trái với không khí bên ngòai thật lạnh, lạnh dưới 40 độ Farenheit.(tinvui.org Văn học)
Có tiếng chuông gọi ở cửa. Chị Sương đứng lên ra mở. Jaco và một người bạn tên Lưu đến chào, bắt tay và xin lỗi đã đến trễ.
Tôi nói:
“Tiệc mới bắt đầu thôi! Hai cháu thích uống gì cứ tự nhiên.”
Tony quay nhìn tôi, bắt đầu:
“Hôm trước tụi cháu có hứa với chú là trong dịp họp mặt tân niên hôm nay, chúng cháu sẽ tâm sự với chú ít nhiều về những hòan cảnh đã đưa đẩy tụi cháu đến ngày nay. Vậy cháu xin là người kể trước cho chú nghe về cháu.”


Tôi gât đầu tỏ ý bằng lòng. Tiếng nói tiếng cười im bặt chỉ còn nghe vài tiếng cắn hạt dưa lách tách cho câu chuyện thêm đậm đà. Tony châm điếu thuốc, rít một hơi dài thở ra rồi nói:
“Nhà văn nào trong văn chương Việt đã nói:”Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu” vậy chú Vũ? À, nhà văn chuyên viết phóng sự Vũ trọng Phụng, cám ơn chú đã nhắc. Cháu nghĩ câu này cũng có thể áp dụng cho cháu. Gia đình cháu có 5 anh em mà cháu là lớn nhất. Đứa em gái nhỏ nhất của cháu năm nay đã 20 tuổi trong khi cháu đã 30 rồi. Ở bậc trung học, cháu học rất khá, điểm tháng nào cũng straight A khiến ba má cháu rất vui. Nhưng rồi cái sự chăm chỉ dần dần bỏ cháu mà đi như những cánh én mùa thu lạc loài.

Cuối năm lớp 12, do một số bạn bè rủ rê hút xách, chơi bời, không còn nghĩ gì đến tương lai nữa cả. Sém chút nữa cháu không được cấp High school Diploma vì cháu thiếu điểm. Ba má cháu tuy không li thân, li dị như rất nhiều gia đình bạn bè của cháu ở trường nhưng ông bà say mê “cờ bịch” quá đỗi. Làm được bao nhiêu, ông bà đem nướng ở các sòng bài Las Vegas và Bicycle hết. Nào chỉ có thế. Ông dành tiền nhiều để đi chơi cho đã thì bà cũng không kém. Khi thua, người nào cũng muốn gỡ. Muốn gỡ phải có tiền. Tiền hỏi ai đây? Ông hỏi bà, bà bị sài lắc. Bà hỏi ông, ông cấm khẩu trong khi đang say mê gỡ. Thế là có chuyện.


Một lần cháu đi chơi với ba má cháu ở Las Vegas. Má cháu thua hết nhưng lúc đó ba cháu đang được. Bà xòe tay hỏi ông chút đỉnh để gỡ. Ông cứ làm như không nghe, không thấy. Hình như những người chơi bài có dị đoan. Đồng tiền mình đang đỏ không giữ lấy, đem cho kẻ xui, dù là cho vay thì mình cũng lây cái xui đó. Mình sẽ cạn láng và kẻ kia sẽ lấy hết cái hên của mình. Đi chơi bài chơi bạc, ai dại thế! Cháu nghĩ ở trường hợp ngược lại, má cháu cũng sẽ không đưa cho ba cháu đâu, mà có lẽ ông nội bà nội, ông ngọai bà ngọai có hỏi ba cháu cũng lơ.




Má cháu xòe tay một lần không được, có lẽ cũng biết rất khó vay trong trường hợp này nên lại lùi ra, ẩn nhẫn đi trở lại cái bàn vừa nãy coi ké. Nhưng chỉ được nửa tiếng bà bồn chồn muốn gỡ vì thấy nước bài nãy giờ mình đoán trúng phóc. Má cháu quay trở lại chỗ ba cháu:
“Ông đưa tôi vay $200, về nhà tôi trả ngay.”


Ba cháu tỉnh bơ, cứ tiếp tục đánh. Má cháu hỏi đến lần thứ hai cũng vẫn thế. Bà thò tay chộp lấy nắm phỉnh và tiền. Ba cháu chộp lấy tay bà gỡ tiền ra. Thế là có màn la ó, giằng co. Má cháu làm rất dữ. Bà xỉa xói vào mặt ông và thốt ra những lời tục tằn, bất nhã mà thường ngày không ai dám xài. Hai tay an ninh sòng bài tới lôi má cháu ra và dọa nếu má cháu còn làm mất trật tự nữa thì sẽ bị đuổi ra khỏi Casino.

Từ đó cho tới lúc về, ba má cháu không hề nói với nhau nửa lời. Về nhà rồi còn giận cả tháng. Không li thân, li dị nhưng còn khổ hơn li dị li thân.”
Tony với li rượu uống một hớp cho thấm giọng rồi lại kể:
“Chú Vũ ạ. Mấy ông bà lớn lớn tuổi qua đây, những cặp vui vẻ với nhau cháu thấy ít nhưng những cặp sinh đủ thứ chuyện trong gia đình thì chẳng thiếu gì. Tật của ông đầy mình mà tật của bà cũng một đống. Rút đi rút lại cũng chỉ vì tiền mà tình nghĩa nhạt phai. (hon-viet.co.uk Văn học)
Người ta nói trai gái, bồ bịch mới nặng, mới dễ tan cửa nát nhà vì thiếu đi lòng trung thành, sự chung thủy. Đàng này, ba má cháu chỉ cờ bạc chứ không có đi ngang về tắt. Vậy mà gia đình cũng nát. Cháu nghiệm ra, chú ạ, cờ bạc cũng dữ dằn y như ma túy. Ai đã lỡ sa chân vào con đường cờ bạc thì nó cứ bám riết cho đến chết mới thôi. Hết tiền thì hết chơi, nhưng hễ góp nhóp có chút tiền thì phải đi thử thời vận, không đi không chịu được, như cơn ghiền đến cữ, mà hễ đi thì nắm chắc phần thua, Casino nó có 80% may mắn, mình chỉ có chừng 20% thôi, làm sao ăn được nó hả chú? Lúc muốn có tiền để gỡ thì có thể bán vợ, đợ con, bán nhà, bán cửa nếu có người mua, thực không còn điều gì tồi tệ mà không dám làm.



Gia đình đã xào xáo, cháu lại bị bạn bè rủ rê, thế là cháu bỏ học mặc dù đã ghi danh Đại học. Cháu vào băng đảng, tập tành xì ke ma túy và làm những việc phi pháp như bán xì ke ma túy cho mấy đứa nhỏ tuổi lớp 9, lớp 10 trở lên để có tiền sinh sống.
Chắc chú Vũ muốn hỏi cháu đã bị vô tù chưa? Không, cháu rất may. Cháu chưa có ngày nào trong tù vì cháu lanh hơn Cảnh sát, vả lại nếu cháu có bị thộp thì Cảnh sát cũng không khám thấy cần sa, bạch phiến trong người cháu. Dù vậy, cháu vẫn không có tiền để sống.




Đi chơi nhiều, rồi cháu quen được dăm, sáu cô gái Mỹ có, Đại hàn có, Việt có, Mễ, Tàu có, cả nhũng cô sau này được bạn bè giới thiệu đến cháu chẳng biết quốc tịch là gì, hoặc lai lung tung nhiều đời. Bọn cháu đồng ý làm ăn với nhau. Chú biết làm gì không? Các bạn cháu ở đây ai cũng đều biết. Người ta nói “đói ăn vụng, túng làm liều” là vậy chú ạ. Cháu mướn áp-pác-mân và đi kiếm mối những kẻ mua hoa, những kẻ tham thanh chuộng lạ. Chúng cháu chia tứ lục. Cháu 60% bao gồm phòng ốc luôn, các cô gái 40, nếu có tiền “tip” họ hưởng. Làm ăn cũng khá. Cháu có cái xe nhỏ để đi giao thiệp. Ngày nào tốt mối và khách chịu chơi, cháu kiếm mấy trăm. Nhưng có cái kẹt không ở nơi nào lâu được vì động ổ. Gái vị thành niên rất có giá, ít cũng gấp đôi nhũng cô đã hăm mấy, ba mươi. Nhưng nếu bị thộp, tội nặng gấp mấy bọn gái kia. Một thằng bạn cháu đang ở tù vì tội đó, xỉu xỉu bóc 12 cuốn lịch thôi. Sau đó cháu phải bỏ nghề vì sợ tù cũng có mà nhiều hơn là vì má cháu đi tìm cháu khóc lóc, năn nỉ cháu về nhà.”

Tôi thấy không khí nghiêm quá nên tìm cách cho vui lên:
“Kìa các cháu, nghe chuyện Tony quên cả rượu, nước ngọt và bánh chưng giò thủ sao? Cứ rỉ rả ăn uống đi. Cả Tony cũng thề. Đêm nay chú cháu mình là đêm không ngủ, lo gì!”



Những bàn tay lại cầm đũa, cầm li họat động trở lại. Bánh đa dòn tan bẻ rôm rốp, nhai với đậu phọng rang, bùi ơi là bùi. Những miếng bánh chưng, những nhát chả quế, những con tôm khô đi chung với củ kiệu lại được chiếu cố tận tình. Tôi nhìn đám người trẻ mà lòng bùi ngùi thương cảm, nhưng tôi chưa thấy lóe ra một ý kiến nào khả dĩ giúp chúng mặc dù tôi đang là Counselor/Job Developer giữ hồ sơ của chúng tại Sở Xã Hội với nhiệm vụ hướng dẫn chúng đi kiếm việc làm để thoát ra khỏi cảnh nghèo, cảnh ăn trợ cấp của chính phủ.



Phóng xé một miếng khô mực cầm ở tay:
“Chú ơi, cuộc đời của Tony cũng chính là cuộc đời của tụi con đó. Tụi con nghe Tony nói mà cứ rưng rưng nước mắt vì cảm thấy đau khổ cho chính bản thân mình...”
Tony lại tiếp:
“Má cháu năn nỉ mãi rồi cháu cũng phải về. Cháu nhìn thấy má cháu đau khổ cháu không chịu được. Ba cháu cũng tốt với cháu. Ông không nói nặng nói nhẹ gì, chỉ bảo có thân phải lo kẻo sa vào vòng lao lí rồi hối không kịp mà chẳng ai giúp mình được. Ông khuyên cháu đi kiếm việc làm. Nhưng hỡi ơi! Nào có hãng xưởng nào mướn cháu! Cháu bị xì ke nặng quá. Hơn một năm bụi đời cháu đã lậm với nó. Lúc làm ra tiền, cháu hít no nê, mấy cô gái cũng phê với cháu, rồi đùa giỡn, làm tình rôm rả. Mà lạ thật chú ạ, có thử mới biết, xì ke nó làm cho tình dục của tụi cháu hưng phấn lạ lùng. Mấy đứa con gái cứ chết mê chết mệt vì cháu, cháu lại càng hăng hái hơn nữa. Cháu xin lỗi chú, tuổi trẻ, chú lạ gì. Chơi cạn láng cũng cam tâm. Nhưng khi cạn, tụi cháu phải pha heroine và cocaine với nước. Chích. Chú coi tay cháu đây, nát bấy những mạch máu ra hết. Mấy con nhỏ kia cũng thế.”



Tôi ngắt lời Tony vì muốn biết thêm sự thực:
“Nếu cháu và các bạn cháu thử nhịn không chích, được không?”
Tony tròn mắt nhìn tôi:
“Chú chưa ghiền xì ke nên chưa biết. Đến cữ mà không có cho nó thì nó vật có thể chết được. Chú cứ tưởng tượng nó bắt ngáp chảy nước mắt nước mũi như người bị cúm nặng, toàn thân đau như dần, như người bị đánh nhừ tử, mỗi khớp xương là mỗi đau đớn chịu không thấu. Lại cũng có lúc như trăm ngàn con kiến bò, như đàn dòi bọ đang ăn trong xương, đang đục khóet từng khúc tủy. Có khi là đau bụng quặn lên toát mồ hôi như đàn bà đau đẻ, mắt hoa như ngàn ánh chớp rọi vào, đầu nhức như có ai đang lấy búa nện, người ớn lạnh muốn ói mà ói không ra, đứng lên lọang chọang muốn té. Tóm lại là nó vật cho nhược người, kì cho phải có chất heroine hay cocaine vào máu nó mới chịu yên cho.



Tại sao tụi chàu phải chích? Có thể chú nghĩ thế. Vì dose mỗi ngày mỗi nặng lên, hít, hút không thấm vì khói qua phổi mới vào máu, cần một lượng lớn, lượng lớn thì tiền đâu nên phải chích cho nó vào ngay máu. (dunglac.org)


Chắc chú cũng muốn hỏi, khi đã đủ dose thì người ghiền cảm thấy như thế nào? Cháu có thể lấy một ví dụ để chú dễ hiểu. Trai gái làm tình với nhau đê mê ngây ngất thế nào thì phê nó sung sướng như thế ấy. Có thể hơn thế nữa. Cháu cũng xin nhắc lại một lần nữa, có ma túy làm tình dẻo dai, ác liệt lắm chú ạ!” Tony nhìn vào mắt tôi cười cười:” Bữa nào chú thử cái coi, thiếu gì người thử. Vì nó quá hấp dẫn như thế nên dễ ghiền lắm. Cái cảm giác nó mang lại cho mình không thể tả bằng lời hoặc bằng giấy bút mà hết được. Vì vậy người ta nói không sai, mả bố ở đâu bảo đào lên để có tiền phê cũng đào. Ma túy ghê gớm vậy đó.”


“Thế Tony đã thử cai chưa?” Tôi hỏi.
Mặt Tony rầu rầu, dáng điệu một kẻ bại trận:
“Cháu ghiền rồi cai, cai rồi ghiền lại, không biết mấy lần nữa. Lần đầu tiên, ba má cháu cho tiến đi cai ở một Trung Tâm Detox Center. Nộp đơn đóng 25 đô-la, sau đó mỗi ngày phải đóng 13 đô-la trong 21 ngày.


Sau 21 ngày chữa trị, có nghĩa họ cho cháu cái dose từ từ nhẹ dần cho đến lúc hoàn toàn không còn ma túy, cơ thể của cháu có thể nói là sạch sẽ, tẩy rửa gần hết chất ma túy trong người.
Tuy nhiên, xét về mặt tâm lý, cháu thấy vẫn thèm ma túy, chỉ bớt hơn hồi chưa vào đây., nếu cháu có ý chí cương quyết thì có thể bỏ được. Nhưng cháu đã yếu linh hồn vì sau đó đi chơi với chúng bạn bị chúng bạn rủ rê, nhất là mấy đứa con gái, khi chúng muốn hưởng cả hai cái thú đi mây về gió và tình dục. Thế là cháu lại ghiền trở lại mà lần này nặng hơn. Sau đó, cậu cháu bỏ tiền giúp cháu, đưa cháu trở lại Detox Center, người ta không ngạc nhiên chút nào. Lại bắt đầu 21 ngày và sau đó về nhà.





Sau ba tháng chữa trị, với sự giúp đỡ tận tình của ba má và cậu mợ, cháu dứt được cái nghiệp báo truyền kiếp kinh hoàng. Cháu đi xin được một công việc salesman cho một hãng điện thoại, chỉ ngồi phone cho khách hàng mời đăng ký với company của mình, lương hơn lương tối thiểu một tí. Hùng chí lên, cháu nghe ba cháu khuyên đi học thêm mấy lớp ban tối về Computer và sau đó cháu lấy được mấy chục units, xong được cái AA degree.”

Tôi thấy Tony ngừng bèn nâng ly bảo bọn trẻ:
“Nào chú cháu mình nhấp cho vui đi!”
Jaco, có cái bớt nâu to như cái trôn chén ở ngay bên má phải, tươi cười với tôi:
“Chăm phần chăm đi chú Vũ!”
Mấy thằng con trai giơ ly trước mặt, mấy đứa con gái thì giơ nước ngọt. Tôi nói:
“Ừ thì chăm phần chăm!”
Mọi khi tôi đâu dám uống nhiều, nhất là còn phải lái xe về. Nhưng hôm nay phá lệ vì bọn trẻ. Ngồi uống còn ké né mất vui đi. Bọn trẻ uống rất khá, chai Courvoisier trên tay Jaco với những giọt cuối cùng. Tôi bảo:
“Chú có tiền đây. Cháu nào chịu khó đi mua Bud?”
Jane Đào đứng lên:
“Chú để con đi mua cho. Con ngoài 21 rồi.”


Tôi trao tiền cho Jane. Tuyết mập đứng lên theo, đi nướng thêm mực và lấy thêm củ kiệu trộn đường, nước mắm, ớt. Tony đằng hắng một cái rồi lại tiếp:
“Khi cháu lấy xong AA và được nhận đi làm, chú có thể tưởng tượng ba má cháu mừng đến thế nào không? Má cháu mua hoa đi tạ ơn Đức Mẹ đã xuống phúc cho cháu, hai ông bà cùng đi với lòng thành của một tín đồ vô cùng ngoan đạo. Rồi má cháu làm một bữa cơm thịnh soạn có đủ những món cháu thích, nào gỏi sứa tôm thịt, càng cua tẩm bột chiên, súp măng tây cua, tôm hùm mua sẵn ở tiệm K.S. nổi tiếng ngon v.v...Bia Heineken uống thả dàn. Và ngày hôm sau, một buổi sáng đẹp trời, cháu đến hãng làm.





Nhưng xưa nay trời không chiều lòng người, chú ạ. Cháu làm được hai năm, lương lên đến $8.00/giờ thì bị lay off. Cháu lại đi kiếm tiếp, việc gì hợp sức là làm, không nề quản. Nhưng mỗi việc chỉ được dăm tháng, có khi ba tháng là bị nghỉ. Cháu buồn không ở nhà nữa mà đi lang thang, tấp với đứa này mấy ngày, đứa kia một tuần, có lần cháu sém nghiện lại do một đứa con gái đưa cocaine và cần sa cho cháu phi. May cháu bấm bụng từ chối mặc dù nghĩ đến mùi thơm của nó cháu còn rất thích. Cháu hiểu vì sao có người nghiện đi nghiện lại, cai đi cai lại nhiều lần không khỏi. Hai tháng nay cháu chơi với Jane và rồi cháu lên sở chú xin trợ cấp cũng như xin chú kiếm giúp cháu việc làm.”


Jane cũng về tới. Tiệm 7-Eleven ở ngay đầu đường, đi bộ ra mấy phút. Jane khệ nệ ôm vào cái bao đựng 2 pack 12 chai Bud đã ướp lạnh. Bọn trẻ reo lên, mỗi đứa nhặt một chai. Bia sắp đầy ra mặt bàn vốn đã ngổn ngang với bánh, mứt, giò chả...Lại nâng chai cùng những tiếng cười dòn dã.
Tôi đoán chuyện Tony đã hết, lại thấy Tommy có vẻ muốn nói. Tôi nâng chai Bud nhấp một ngụm, hỏi Tommy:

tommy muốn nối tiếp Tony không? Kể cho bà con nghe!”
Tommy nhìn tôi rồi nhìn mọi người:
“Cháu kể không thứ tự như Tony đâu vì cháu ít học. Cháu nói sự thực, không thêm mắm, thêm muối. Nhìn nước da cháu, chú cũng thấy ba cháu là Mỹ đen, đi lính sang Việt Nam. Cháu ra đời năm 1970 nên ngày quân Bắc Việt vào Sàigòn, cháu còn nhỏ lắm. Má cháu quê ở Cần Thơ, Sađéc gì đó cháu không nhớ nhưng khi cháu mới 3, 4 tuổi thì má cháu đã giao cháu cho bà ngoại và đi mất tăm mất tích.


Hồi trước 75, cháu muốn đi đâu thì đi, không ai chế nhạo, làm khó làm dễ cháu. Nhưng sau 30-4-75, dường như có một phong trào bài Mỹ mà nạn nhân trực tiếp là những quân nhân, công chức làm việc cho Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa và những đứa con lai như cháu. Cháu đi tới đâu bị đám người lớn, trẻ con cười chê, chế nhạo như một thứ tội phạm ăn cướp, giết người. Họ còn thêu dệt những điều tồi tệ về má cháu mà cháu biết rõ là họ cố tình đặt điều bôi xấu. Có những đứa trẻ xô đuổi cháu và muốn hành hung. Cháu chỉ đứng khóc. Bà ngoại kêu cháu về và nhốt cháu trong nhà không cho ra chơi với lũ trẻ trong xóm nữa.
Tình trạng đó kéo dài mấy năm nhưng rồi bỗng nhiên, lệnh cho con lai và thân quyến được làm giấy tờ đi Mỹ ban ra. Cháu tự nhiên lại có giá. Ngoại cháu cũng có giá. Người ta đến thăm hỏi mỗi ngày với quà bánh ê hề, cháu và ngoại cháu ăn không hết, phải chia cho lối xóm. Nghĩ đến cái hồi bị xua đuổi, rẻ rúng, thua con chó ghẻ, cháu tức cười. Con người không biết gì hơn ngoài những mối lợi. Dù không được đi học và đầu óc quá thô sơ, cháu cũng hiểu được cái xã hội xung quanh, xã hội chỉ nhìn thấy tiền và lợi nên cố luồn lách để sống. Con người không còn biết hổ thẹn, mắc cở vì làm những điều xấu, điều ác. Con ngưòi cũng chẳng còn tình người mà chỉ còn lại những gì là độc ác, kiêu căng, xu phụ, dua nịnh và lừa đảo. Con người đạp lên kẻ khác để sống hoặc để được sung sướng. Ngay những đứa con nít bằng tuổi cháu cũng thế, đã mất hết tuổi ngây thơ hồn nhiên và lòng thương người mà chỉ còn lại những gì là độc ác, vô cảm và ích kỷ.














Người ta ùn ùn kéo đến thương lượng, mặc cả, dàn xếp, bày mưu tính kế với bà cháu miết, có ngày năm, bảy người, nhưng bà cháu không muốn rắc rối vì khai gian để những người chi tiền nhận họ nhận mạc đi theo hai bà cháu sang Mỹ. Bà cháu đã nói không bằng lòng với họ ngay từ đầu nhưng họ không nản chí. Đô-la xanh giấy trăm và những lạng vàng đỏ choé la liệt trên cái bàn cũ mèng hai bà cháu dùng ăn cơm. Người ta trưng đủ thứ ra cho bà cháu choáng ngợp, ham hố nhưng trước sau bà vẫn giữ nguyên ý định: không gian dối. Người ta nói với ngoại cháu họ có thể làm lại giấy khai sinh cho cháu thành ra con ruột người đàn bà nào đó (mà họ muốn) khi xưa đã lấy ông Mỹ đen sinh ra cháu mà không cần biết đến người mẹ thiệt của cháu là ai (mẹ cháu đã bỏ cháu đi mất tiêu, như cháu đã nói).


Thời gian này Sàigòn như lên cơn sốt, chú ạ! Người ta tìm mọi cách để xuất ngoại, nhất là những người giầu có, thừa tiền dư bạc. Đi chính thức thế này thì sướng lắm vì không sợ đắm tầu, chết đói chết khát, hải tặc hay bị bắt lại. Ngay như đi chui, trăm phần nguy hiểm mà cháu nghe nói vẫn còn những tầu, thuyền vượt biển dài dài sang Mã lai, Hồng Kông, Nam Dương, Singapore, Thái Lan. Một gia đình khá giả trong xóm cháu tự nhiên bỏ nhà khóa trái cửa, đi đâu không biết, luôn cả gia đình vì cháu quen mặt một thằng con trai ở trong nhà đó, trạc tuổi cháu, cả tháng không thấy nó đâu nữa.


Mấy tháng sau nghe đồn rằng cả gia đình đó đã đắm thuyền chết cả rồi. Còn nhà thì công an đến chiếm ngụ và niêm phong, cháu đi qua không dám nhìn vào. Cháu cũng nghe người ta nói má cháu đi theo một người đàn ông nào đó vượt biển nhưng hình như con tầu đó chỉ có vài người sống sót viết thư từ bên đảo về cho thân nhân, mấy người này kể cho ngoại cháu nghe, cháu thấy ngoại ngồi khóc mấy ngày sưng cả mắt, khan cả cổ nhưng khi cháu hỏi thì ngoại không nói. Ngoại cháu chỉ bảo:”Má mày theo người ta đi rồi.”Cháu hỏi:” Đi đâu ngoại?” thì bà làm thinh.

Ngoại cháu và cháu sống ngất ngơ ngất ngưởng như thế bằng tiền ngoại đi làm mướn cho người quen đến giữa năm 1986 thì có giấy đòi hai bà cháu phải tới “văn phòng con lai” ở Thủ Đức làm giấy tờ. Chờ chực suốt một ngày, mãi đến 5 giờ chiều, hai bà cháu mới được gọi vào. Họ hỏi đủ thứ và bà cháu cứ thực khai ra. Họ bắt bà cháu và cháu lăn tay, ký tên xong cho về. Ra khỏi văn phòng, một người đàn bà ăn mặc sang trọng đi theo, ngỏ ý muốn nói chuyện với bà cháu. Bà ta mời ngoại và cháu vào một quán nước bên đường, kiếm một cái bàn, gọi nước ngọt cho hai bà cháu uống. Ngoại cháu hỏi thưa bà có việc gì thì bà ấy nói mớm mớm muốn ngoại cháu bằng lòng cho một người đàn bà của bà ấy làm mẹ cháu để đi Mỹ. Bà ấy cũng nói cho bà xin địa chỉ và sẽ đến nói chuyện, tiền bạc không thành vấn đề. Ngoại nghe qua biết ý định của bà ấy (cũng giống như những người đã đến gặp ngoại trước kia) nên khước từ ngay, nói không dám làm gian dối, e bị tù. Bà nói không sao đâu vì bà có thần thế lắm nhưng ngoại một mực không chịu và nói phải về kẻo sắp tối.Bà ấy thấy ngoại cương quyết như vậy đành để ngoại và cháu đứng lên ra khỏi quán sau khi bảo ngoại rằng bà ấy đã biết địa chỉ của ngoại và sẽ có ngày đến thăm ngoại, mong ngoại đổi ý.



Trời đã gần tối, cháu và ngoại phải đi bộ đến bến xe Lam đáp xe về Sàigòn - Bến Bình Đông, Chợ Lớn. Vừa đi được một quãng ngắn, bỗng có một đám con trai 7, 8 đứa, đứa lớn hơn, đứa bé hơn, đứa bằng cháu, nói chung là từ 15 đền 18, 19 tuổi. Chúng nhìn cháu với dáng điệu dữ dằn từ đàng xa. Chúng nhận ra ngay cháu là con lai Mỹ đen vừa từ văn phòng làm giấy tờ ra. Khi đến gần, một thằng chửi thề và giơ nắm đấm ra dứ dứ vào mặt cháu: “Đ.M...mày con lai?” Nhân lúc Tommy ngưng lại lấy hơi, tôi bảo bọn trẻ: “Đêm còn dài, cứ từ từ Tommy. Nào, bánh chưng, giò thủ, chả quế, dưa món. Các cháu lai rai đi chứ!” Cả bọn lại cầm đũa. Tommy cũng ăn. Hùng, thằng con trai nhỏ nhất trong đám con trai, nó mới 21, 22 gì đó, vừa nhìn tôi vừa nói: “Thú thực với chú Vũ, ba ngày hôm nay cháu nhớ nhà quá chỉ ngồi khóc, chẳng buồn ăn uống gì. Tối nay chú và các bạn làm cho cháu cảm thấy chút gì yêu đời chứ ba ngày qua, cháu chỉ muốn tự tử cho rồi.” “Sao cháu không về với ba má cháu, hả Hùng” tôi hỏi Hùng. Hùng đưa li bia lên tợp một ngụm: “Ba cháu nóng tính lắm, thưa chú, nóng như Trương Phi vậy. Ổng trông thấy cháu là dượt đánh cho bằng chết không ai can ra được. Ba cháu đã bị Cảnh sát còng một lần vì tội đánh cháu nhưng ông vẫn không chừa...” Trương, một anh con trai đầu tóc bùm xùm như tổ quạ để dài đến vai, mặt xanh như tầu lá, giờ mới góp chuyện:“Ba thằng Hùng y như ba cháu, thưa chú. Có lần ông đánh cháu đổ máu mũi. Đã vậy má cháu cũng vào phe với ông đuổi cháu đi khỏi nhà. Bà nói:”Cho mày ra đường lê la dăm bữa là mày biết thân ngay. Con chẳng con thì đừng. Biết thế hồi đẻ mày tao bỏ ở cái nhà lồng chợ cho ai lượm mày thì lượm!” Cháu đi từ hồi đó không trở về. Có lần đứa em gái kế cháu đi tìm năn nỉ cháu về. “Chắc má không chửi anh nữa đâu, còn ba đi San Jose chơi với bạn một tuần nữa mới về. Về nhà đi anh Trương!” Nhưng cháu làm thinh!” Tommy đã ăn xong miếng bánh chưng, hớp một ngụm la-de, đằng hắng vài cái rồi kể tiếp: “Một thằng chửi thề và giơ nắm đấm dứ dứ vào mặt cháu khi cháu tới gần. Bà ngoại vẫn đi trước, có thấy tụi nó nhưng làm lơ. Chắc ngoại nghĩ cái cảnh này trước đây thường xẩy ra cho cháu với những lời trêu ghẹo, chửi bới. Nhịn nhục đi là xong. Không ngờ chúng tấn công cháu thình lình. Cháu né được cú đấm của một thằng, tính chạy vụt đi thì bị thằng khác ngáng chân làm cháu té sấp.. Thế rồi cả bọn đấm, đá, đạp, xé quần áo của cháu, đánh bề hội đồng như đòn thù. Cháu la lên một tiếng :”Ngoại ơi! Nó đánh con.” rồi ngất xỉu. Ngoại kể lại là ngoại chạy đến thì chúng chạy hết vì tưởng cháu đã chết. Có vài người đi đường vào nhà gần đấy xin nước dội lên mặt cháu, cháu tỉnh dậy. Ngoại ngồi bên vệ đường một lúc với cháu cho hoàn hồn rồi mới lò dò ra bến xe. Trễ quá không còn chuyến nào về Bến Bình Đông, ngoại và cháu phải đi bộ ra chợ Thủ Đức, chui vào mấy cái sạp chợ ngủ qua đêm.(hon-viet.co.uk Văn học)

Cháu bị đánh quá đau, chảy máu mũi và gẫy một cái răng hàm, chân đi cà nhắc. Ngoại vào hàng hủ tiếu xin nước cho cháu uống và mua cho cháu một tô hủ tíếu nhưng miệng cháu đau quá không nhai được, dù bụng đói. Sáng hôm sau mới về đến nhà, ngoại săn sóc tận tình cho cháu, cả hai tháng sau cháu mới hồi sức. Cháu nghĩ nếu không có ngoại, cháu đã chết rồi. Đầu năm 1990, ngoại và cháu được đi Hoa Kỳ. Lúc này, cháu vừa 20 tuổi, khoẻ mạnh và năng hoạt động. Cháu chỉ muốn tìm ra ba cháu và có một việc làm vừa sức để nuôi thân. Nhưng chú thấy đó, đâu có dễ gì. Má cháu bỏ cháu đi không để lại một tấm ảnh, số quân hoặc một giấy tờ gì liên quan đến ba cháu. Nếu ông còn sống, chắc giờ này ông đã già và không ngờ con ông đang ở trên đất Hoa Kỳ, nơi quê hương ông. Cháu buồn day dứt vì không có cha, không biết cha là ai nhưng cháu nghĩ không ai có thể giúp cháu tìm ra ba cháu. Cháu rùng mình khi nghĩ đến phải chịu cái điều bất hạnh này suốt đời. Cháu không thể tưởng tượng một người lại không có cha, ít là trong thời niên thiếu.Vậy mà, oái oăm thay, có thằng bạn cháu hiện giờ có ba nhưng không hề bao giờ về thăm ba và cũng chẳng nhắc đến ba. Sao ngược đời vậy chú?



Tới Mỹ được 5 tháng, đang khi ngoại với cháu lãnh trợ cấp xã hội, phút - tem (food stamps) và phiếu Y tế 12 tháng cho diện con lai thì một biến cố xẩy ra, một biến cố trọng đại vô cùng làm thay đổi cuộc đời của cháu. Tommy ngưng nói, mắt nhìn xuống đất, mặt buồn so. Tôi thấy Tommy đưa tay quệt nước mắt. Tất cả chúng tôi đều ngồi yên lặng, ngưng ăn, ngưng uống như thông cảm với Tommy. Tommy sụt sùi giọt vắn, giọt dài: “Chú và các bạn biết không? Ngoại của cháu đã bỏ cháu ra đi sau 3 tuần nằm bệnh viện. Dù là Mê-đi-keo Chính phủ cho, một nhóm bác sĩ sáu, bảy ông cũng chữa tận tình cho ngoại nhưng lúc đó ngoại gần tám chục, mất sức từ hồi còn ở Việt Nam nên các bác sĩ nói đã cố gắng hết sức nhưng không kết quả.



Ngoại bị bệnh phổi lâu ngày không chữa trị, bệnh phổi có nước.Chỉ có hai bà cháu với nhau, ngoại mất đi làm cháu hụt hẫng không còn nơi bám víu. Trước lúc ra đi, ngoại cầm tay cháu trối trăng rằng, cháu phải cố gắng mà sống. Đừng buồn vì ngoại bỏ cháu nhưng hãy sống xứng đáng là con người, con người lương thiện, con người thành thật, đừng lừa đảo, dối gạt ai, đừng ăn cắp ăn trộm, hãy chịu khó làm việc để nuôi thân dù là công việc thấp hèn còn hơn sống ỷ lại, sống bám xã hội hoặc du đãng, trộm cướp mà sống. Ngoại nói nhiều, cháu chưa từng nghe ngoại nói nhiều như vậy bao giờ. Hình như ngoại biết chẳng còn gặp cháu nữa nên có điều gì xưa nay chưa nói thì ngoại nói cho bằng hết. Ngoại có nhắc đến má cháu môt lần, cháu thấy ngoại chảy nước mắt. Những lời của ngoại không bao giờ cháu quên.Sau đó, ngoại ra đi thanh thản.Cháu buồn khổ vô kể chỉ muốn chết cho rồi nhưng không lẽ tự nhiên đi hủy hoại đời mình nhất là ngoại không muốn cháu chết! Trái lại, ngoại muốn cháu sống nên người tốt trong xã hội. Quận Cam cho ngoại tất cả những tốn phí như tiền nhà thương, hòm và hoả thiêu, cháu không phải lo một tí gì. Vả lại, cháu có tiền đâu mà lo? Có vài ba người quen biết cùng với cháu dự lễ hỏa thiêu cho ngoại xong cháu mang ít tro lên chùa, nhờ thầy cho để vào bàn thờ hương linh mà cháu không tốn tiền. Nhưng nếu thầy lấy tiền, cháu cũng chẳng có để trả.


Sau đó, cháu được thím Dần, trước đây quen với ngoại, đưa cháu đến làm tại một nông trại trồng rau và nuôi gà vịt bán cho các chợ Việt Nam. Nông trại này của thím. Thím hứa với cháu sẽ trả lương nhưng sau 6 tháng làm việc, thím chẳng trả cháu một xu lại giữ thẻ an sinh xã hội của cháu và đuổi cháu ra khỏi nông trại. Vì thế mà cháu phải tới gặp chú ở Sở Xã Hội.” Tiếng tí tách cắn hạt dưa lại bắt đầu. Hình như tuổi trẻ không buồn lâu được. Họ hoạt động và yêu đời dù gặp nghịch cảnh. Họ dễ quên những thất bại để hướng đến tương lai, hướng tới thắng lợi. Tôi yêu tuổi trẻ. Tôi cũng đã có một thời như họ và bước lên từ những vũng bùn của chiến tranh, thất học và nghèo đói.



Quê hương tôi thật đẹp với ruộng lúa, dòng sông, lũy tre và tiếng sáo diều lơ lửng trên từng mây. Nhưng cũng quê hương đó là nơi đã xẩy ra những tranh chấp, biến động, đẩy làng xóm, những người thân yêu của tôi và chính tôi vào trung tâm của cơn bão dữ, khốc liệt và bạo tàn. Tôi đã phải lặn dưới ao bèo (rất sẵn đỉa) khi mới hơn chục tuổi đầu để tránh những lằn đạn hai bên - Pháp và Việt Minh - thanh toán nhau ở trong làng. Tôi đã phải ngồi dưới hố sâu hàng giờ hồi hộp nghe những quả đạn trọng pháo và mortier câu vào làng, ục một cái ở nơi phát xuất, đạn đi ngang trên không “xẹt xẹt” xé gió nghe lạnh mình và tiếp theo đó là tiếng nổ “đoàng đoàng” đinh tai nhức óc ở một nơi gần với chỗ mình đang núp. Một hoặc nhiều mạng người đã ngã ra! Những tiếng rên la xé lòng! Những tiếng hét thất thanh của những đứa trẻ mất cha mất mẹ, những tiếng khóc bù lu bù loa của những người cha người mẹ mất con!Tôi cũng đã nằm trong những bụi tre gai ban đêm, có khi suốt đêm, hỏa châu soi sáng rực một góc trời, tai nghe đại liên và trung liên bắn liên tu bất tận như mưa bấc, ngoài bắn vào, trong bắn ra, cùng với những tiếng nổ chát chúa đinh tai nhức óc của đại bác, của hỏa tiễn, của bích kích pháo, của súng phóng lựu. Tôi cũng đã nhiều lần nằm trên ruộng, trên đường phố cho máy bay Pháp bắn từng loạt liên thanh và bỏ bom, cái chết đến chỉ trong đường tơ kẽ tóc.Tôi đã đi đoàn Văn Công thời kháng chiến (1946-1947) hơn năm trời, đi khắp nơi, đồng bằng đến núi cao, chỉ bằng đường bộ, cuốc bộ, vất vả, cực khổ bằng tiền và gạo của gia đình tiếp tế vì đoàn không có quĩ, không có tiền, chỉ trông vào tình thương của nhân dân mà sống nhưng nhân dân, lúc đầu còn ủng hộ, sau này chính họ cũng thiếu đói lấy gì ủng hộ đoàn Văn Công đi diễn kịch?Tôi đã từng chịu đói cả ngày, nhiều ngày, chịu khát, chịu lạnh, chịu đủ thứ thiếu thốn, đi bộ chà chã ngày này sang tháng khác hết vùng này đến vùng kia, vai đeo ba lô nặng, đau khổ vì chiến tranh trường kì, đồng không nhà trống, tiêu thổ kháng chiến, không học không hành, không nghề không ngỗng, cuộc đời toàn một mầu đen, tuyệt mù hi vọng.Tôi cũng đã cận kề nhiều lần với cái chết, tinh thần và thể xác hoảng hốt đến cực độ và nếu không có những may mắn đặc biệt, tôi cũng đã trở thành người thiên cổ như nhiều người khác, như nhiều thằng bạn hoặc ít nhất cũng què cụt, tàn phế cả một kiếp người... Có lẽ Tony, Tommy, Trương, Hùng, Jane...tất cả đang ngồi trước mặt tôi đây chưa có khổ như tôi đâu. Tony, Tommy tự chọn lấy cái khổ, còn tôi, tôi chịu khổ vì những nguyên nhân ngoại lai xui khiến, những nguyên nhân mà ngày nay nhiều người VN vẫn còn mù mờ.


Tôi còn đang mơ màng hồi tưởng những hình ảnh tàn khốc của chiến tranh, của đau thương tang tóc lồng vào những hình ảnh thân yêu nơi quê hương thì giọng Tommy lại lôi tôi ra khỏi giấc mộng. “Cháu không còn gì trên tay ngoài bộ quần áo mặc trên người và đôi giày cà-là-tàng với chiếc mũ này. Chú có thể tưởng tượng, để đuổi cháu đi, người ta đã phải nói dối. Sáng hôm đó, bà Dần bảo cháu lên xe chở ra Bolsa (ở quận Cam, Cali) ăn phở. Bà ấy với cháu vào một tiệm phở ăn sáng; bả còn kêu thêm cho cháu li cà-phê sữa, bảo ăn uống xong cứ đi thả bộ coi tiệm tùng cho đã con mắt. Sau 2 giờ đồng hồ nghĩa là vào lúc giữa trưa, cháu phải đứng đợi bả ở ngay trước cửa tiệm phở để lên xe về. Hầu như hai tháng hơn cháu mới được xuống phố một lần, cảm thấy cuồng cẳng nên sau ly cà phê, cháu phơi phới đi ngó hết tiệm này đến tiệm kia. Cái gì cũng đẹp, cũng ham mà trong túi không có đến 10 đồng, cháu đứng ngó trân những đôi giầy, những cái áo sơ-mi đủ mầu, những quần jean, nón mũ, những cái khăn lông vàng trắng trưởng giả, tưởng tượng tắm xong được lau đầu, mình bằng nó rồi có làm cực mấy cũng cam. Cháu lại liên tưởng đến cảnh sống sáu tháng nay từ ngày qua Mỹ, cháu đã làm nông trại cho bà Dần với biết bao công việc. Nào sơn cho bà mấy cái nhà cả trong và ngoài, bắc cầu gỗ qua con lạch, đóng lại chuồng ngựa, chuồng gà v.v...nhưng cháu vẫn chưa được trả đồng nào để mua quần áo và vài món lặt vặt cần thiết như cháu đang nhìn chúng trước mắt cháu đây.



Nhìn đồng hồ treo trong cửa tiệm, cháu thấy đã gần đến giờ, cháu bương bả trở lại đứng trước cửa tiệm phở. Người qua lại trên đường Bolsa lúc này thiệt đông, nườm nượp đủ cỡ tuổi, đủ thứ áo quần, xe cộ nhưng có lẽ tuổi trung niên là đông nhất. Đứng một chỗ coi bộ không êm vì có mấy người đứng nhìn cháu trừng trừng, nhất là mấy người trong cửa tiệm. Có lẽ họ nghi cháu muốn trổ mòi ăn cắp chăng vì quần áo cháu đang mặc không lấy gì làm khá so với những bộ quần áo trung bình. Mà người ở bất cứ đâu cũng đánh giá con người qua quần áo. Cháu lảng ra xa xa một chút đứng nhìn lại tiệm phở để canh chừng bà Dần tới. Một tiếng đồng hồ qua đi. Rồi hai tiếng. Hoàn toàn không thấy tăm hơi bả đâu. Cháu nửa muốn đi vòng vòng quanh khu và ra cả chỗ đậu xe xem có may mắn gặp bà ấy không, nửa muốn đứng nguyên đó vì e bả trở lại không gặp cháu. Mãi tới 5 giờ chiều, cháu cầm chắc bả không trở lại đón cháu nữa, cháu mới bỏ đi và chua chát nghĩ bả đã bỏ rơi cháu rồi. Dù mệt và đói - mệt tinh thần thì đúng hơn - cháu phải ra thùng rác gần đó kiếm một mảnh cạc-tông, nhờ ông thợ hớt tóc biên lên mấy chữ:”Work for Food” và ra đầu đường chỗ ông đi qua bà đi lại, trân mình đứng xin tiền làm kế độ đường. Cháu mới được vài người đi trên xe hơi chìa tay cho vài đô-la khi họ bị đèn đỏ dừng lại thì có một ông khoảng trên, dưới 60 đến bảo cháu: “Mày homeless đứng ăn xin hả? Xin thế đâu có được bao nhiêu. Lại đây tao cho xấp báo đi bán, có tiền hơn.”


Cháu theo ông ta lại xe. Ông ấy đưa cho cháu khoảng ba, bốn chục tờ cầm trên tay trái, cổ vẫn đeo cái bảng cạc-tông Homeless, còn tay phải thì cầm tờ báo chìa ra cho người trong xe hay khách bộ hành. Quả nhiên phương pháp này hiệu nghiệm trông thấy. Thay vì trả 25 cent cho một tờ báo, họ đã cho cháu 50 cent hoặc 1 đô-la, 2 đô-la, có khi 5 đô-la. Khi cháu bán hết 2 xấp báo thì trong túi cháu toàn tiền là tiền. Cháu mừng quá đem đến xe người đàn ông, bốc nắm tiền trong túi ra cho ổng đếm. Ổng lấy một ít nói là tiền báo, còn lại 30 đô-la ông ấy trao cho cháu. Cháu vào ngay hàng bánh mì mua hai ổ bánh mì thịt và một lon nước ngọt, xong ra chỗ vắng sau Phước Lộc Thọ ngồi nhai ngấu nghiến vì quá đói. Chú ạ, chưa bao giờ từ hồi sang Mỹ, cháu được ăn một bữa bánh mì ngon đến thế.” Tôi thấy có vẻ khuya bèn xen vào hỏi mọi người: “Có ai buồn ngủ không? Hay chúng ta tạm ngưng ở đây để mọi người ngủ, anh chị chủ nhà cũng cần ngủ nữa, rồi sẽ họp lại tối mai, tối mốt nghe tiếp?” Cả đám nhao nhao lên: “Chưa ai buồn ngủ cả, chú. Chú có buồn ngủ thì về ngủ, còn tụi cháu đêm nay là đêm không ngủ. Vả lại câu chuyện Tommy kể đang đến hồi gay cấn. Ngủ gì nổi!” Anh Sương chủ nhà, đã nhập tiệc từ lúc nãy, cũng nói: “Tụi cháu chưa buồn ngủ đâu, chú Vũ! Chú để Tommy kể tiếp, ngày mai ngủ bù!” Những ly bia lại sủi bọt. Những miếng bánh chưng và những miếng chả quế cũng theo nhau tìm chỗ núp trong những cái bao tử ăn không biết no. Chai Courvoisier và những chai soda rỗng tuếch nằm lăn lóc ở góc sàn. Nhiều đứa còn ngồi nhưng có mấy đứa nằm xoài ra thảm thật thoải mái, mắt vẫn mở trao tráo. Giọng Tommy lại đều đều: “Cháu ăn gần xong hai ổ bánh mì thì bỗng có một bà tuổi khoảng bốn, năm mươi, quần áo trang điểm thật đẹp, rất lịch sự đi ngang với cái xách tay bằng ni-lông của những tiệm bán bách hoá như Macy, Robinson-May, Sears v.v...trong để cộm cộm một số quần áo và đồ nhỏ nhỏ ý chừng bà ta mới mua trong Mall.



Mặt mày đẹp đẽ, trông bà có dáng một mệnh phụ phu nhân hoặc người có địa vị cao trong xã hội. Khi bà đến gần cháu, mùi nước hoa đắt tiền thơm tưng thơm lừng. Bà ngó kỹ cháu mấy giây rồi hỏi, giọng sang cả: “Này anh kia, anh làm gì ở đây?” Cháu đoán bà này có lẽ chủ phố vì giọng bà hách dịch. Cháu phải tỏ ra lễ độ: “Thưa bà, tôi đi làm cho nông trại nhưng bà chủ của tôi không hiểu sao để tôi ở đây đi đâu không thấy trở lại đã 3, 4 tiếng đồng hồ.” “Chắc anh con lai phải không?” Đôi mắt sắc của bà ngó cháu lom lom. “Dạ, phải.” “Thế cha mẹ anh đâu?” “Cha tôi người Mỹ, không cách gì tìm ra. Còn má tôi chết rồi!” “Bây giờ anh có muốn đi làm cho tôi không?” “Thưa bà, làm cái gì?” “Cũng làm trong nông trại hoặc tôi bảo việc gì, anh làm việc đó.” Chú và các bạn nghĩ coi. Cháu đã đến đường cùng vì vậy cháu đành phải theo bà ta ra xe chứ thực tình cháu đã sợ các bà kiểu này rồi. Nhưng cháu không còn con đường nào khác, đánh liều vậy thôi. Xe bà ta rất sang, bà bảo cháu trải một cái khăn lớn để sẵn trong xe và ngồi lên đó vì bà sợ quần áo cháu dơ làm dơ bộ ghế da sang trọng của bà. Quả nông trại thiệt. Khi chiếc xe của bà vào tới đó, trời cũng sắp tối. Bà dẫn cháu vào một cái nhà, tường mái rất đơn sơ như kiểu làm tạm, trong chia ra ba, bốn phòng. Bà chỉ cho cháu một chỗ ngủ, chỗ nấu nướng và cả phòng tắm. Xong bà giới thiệu tên bà là Lệ, Bích Lệ và hỏi cháu tên gì, biết làm những cái gì, muốn được trả lương bao nhiêu? Cháu nói ở nông trại trước, cháu đã làm những việc như săn sóc súc vật, dọn dẹp, sơn tường, trồng rau cải v.v...Bà Lệ nói trả cháu 200 đồng /tháng, nuôi ăn ở và mỗi năm bà mua cho cháu mấy bộ quần áo đủ mặc. Nông trại mới, ở cách xa thành phố hơn nửa tiếng lái nên không thuận tiện đi lại. Một tuần, bà Lệ tới vài lần đem đồ ăn cho cháu, ở lại một lúc để dặn dò công việc rồi lại lái xe đi. Hình như bà Lệ không có chồng nhưng có mấy người con đều đã lớn cỡ tuổi cháu, một người con gái lang bạt kì hồ, thỉnh thoảng dắt boyfriend đến ngủ trong cái phòng bên cạnh phòng của cháu, phá phách thật dữ, rượu chè say sưa, hát xướng, nhảy múa suốt đêm và một người con trai, em cô này, đi chung với một bọn cháu đoán là “gang” đảng, du đãng vì đứa nào cũng có súng dắt lưng quần.(vietnamexodus.org Văn học “Những kỷ niệm không phai mờ” cùng tác giả) Khi cháu làm được khoảng hơn hai tháng thì một đêm, lúc ấy cháu đã lên giường, bỗng nghe tiếng súng nổ ở ngoài cổng, rồi tiếng chân người thình thịch nện giầy trên lối đi đổ xi măng và những tiếng la, tiếng chửi thề bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Người đuổi nhau rầm rập và tiếng súng bắn thêm nhiều phát nữa khiến cháu sợ phải trườn xuống nền nhà nằm úp sấp trong góc. Tiếng đạp cửa rầm rầm ở phòng bên cạnh làm cháu càng hoảng sợ và cuối cùng là tiếng la thét của người bị thương, rồi sau đó im hẳn tiếng súng. Đợi cho êm hẳn, cháu mới mở cửa lóp ngóp bò ra, còn nhìn thấy một chiếc xe du lịch với tiếng thắng ken két rợn người phóng thẳng ra cổng, để lại khói bụi mù mịt ở phía sau. Vào trong căn phòng có tiếng rên la, cháu thấy một thây người nằm úp sấp bất động trên sàn nhà và ở góc kia, cậu con trai con bà chủ đang rên la vì vết thương nơi đùi, máu chảy lênh láng trên sàn nhà. Lập tức cháu gọi phôn cho bà Bích Lệ báo cáo sự việc, xong cháu đi xé vải và kiếm bông băng, băng bó cho David, con bà. Cháu còn đang luống cuống thì nghe tiếng còi rú của xe Cảnh Sát, cả thảy 5 xe Cảnh sát ập vào. Cháu không đủ tiếng Anh nói cho họ nghe nhưng David còn đủ tỉnh táo để trình bày vài câu ngắn, gọn để Cảnh Sát làm biên bản. Hơn nửa giờ sau, bà Bích Lệ và cô con gái tới. Bà thấy xác chết nằm trong nhà và thằng con bà rên la thì sợ mất hồn, bà cứ đứng như trời trồng mà khóc lóc. Xe cứu thương tới quấn mền trùm mặt người chết mang ra xe. Họ cũng băng bó cho David và mang ra xe chở đi. Bà Bích Lệ và cô con gái lên xe theo họ. Cảnh Sát bắt cháu đi theo làm chứng. Họ thẩm vấn cháu, qua một thông dịch viên người Việt, cháu phải kể ra những gì mắt thấy tai nghe, xong họ cho cháu về. Cháu ra khỏi sở Cảnh Sát vào lúc rạng sáng - họ làm việc cả đêm. Cháu không biết làm thế nào để trở lại nông trại, đường đi xe bus cháu cũng không biết mà bà Bích Lệ và cô con gái rời sở Cảnh Sát đi lúc nào cháu không hay.Đứng ở góc đường, cháu nghĩ lung hết sức. Giả sử bây giờ bà Bích Lệ đưa cháu về trại thì chắc chắn việc đầu tiên bà bắt cháu làm là thu dọn, tẩy rửa những vũng máu. Nhưng cháu đã quá sợ cảnh bắn giết, máu me đêm qua nên cháu nghĩ không nên về nông trại đó nữa là hơn, mặc dù cháu còn giấu 100 đô-la trong kẹt giường và vài bộ quần áo cháu mua sau khi bà Lệ trả lương là 200 đô-la cho cháu tháng thứ nhất. Trời đã sáng rõ, xe cộ chạy rải rác trên đường. Từ trước cổng cơ quan Cảnh Sát, cháu băng qua đường đi lang thang trên vỉa hè, trong đáy túi còn mấy đồng tiền cắc và vài đô-la vì đâu có ngờ cuộc bắn giết lại xẩy ra như vậy. Sáng sớm nên người đi bộ còn thưa thớt. Cháu chợt chạm mặt thằng Vilay, một thằng cũng lai da đen như cháu, đang đi với con nhỏ cháu biết tên là Liz, Mỹ trắng ròng. Hai đứa này bụi đời, homeless, trước đây cháu đã có dịp gặp chúng một đôi lần. Bạn homeless gặp nhau tay bắt mặt mừng, còn mừng hơn những người bình thường vì sao chú biết không? Vì bọn cháu cô đơn, buồn tủi và thiếu thốn đủ thú, những kẻ sống ngoài lề xã hội, đi đâu cũng bị khinh rẻ. bạc đãi nên đồng hội đồng thuyền là thương nhau thiệt tình. Hai đứa này rủ cháu đi theo chúng. Cháu không suy nghĩ, đi liền. Trưa hôm đó, ba đứa tụi cháu vào một hội quán của người cao niên ở Santa Ana phụ bếp và rửa chén, xong họ cho ăn trưa chứ không có tiền bạc gì. Còn một tháng lương bà Bích Lệ chưa trả cháu. Lại còn 100 đồng và cái túi xách trong có mấy bộ quần áo để tại nông trại, cháu nghĩ chán ra mà không biết làm sao trở lại trại lấy được tiền và quần áo. Giờ này phải đi kiếm thêm cái mặc vì chỉ có một bộ và đôi giầy bata trên người. Bọn này rủ cháu đến sở Xã hội quận Cam và cháu đã gặp chú ngay hôm ấy. Chú đã dẫn cháu vào kho quần áo cũ sở Xã Hội quận Cam cho cháu lựa hai bộ đồ và một đôi giày, một cái túi ngủ. Sau đó mấy hôm thì cháu nhận được tiền trợ cấp và chú đã dẫn cháu đi kiếm việc làm. Buổi tối đó, ba đứa tụi cháu lên xe bus ở một địa điểm đón homeless để họ chở về khu Salvation Army ngủ đỡ. Cháu gặp con Têrêsa người Mễ - nó cũng là khách hàng của chú mà, chú có nhớ ra nó không? Nó để tóc dài, hay mặc cái áo thung mầu vàng nhạt, cái quần đen, lúc nào cũng toét miệng ra cười đấy chú! Cháu với nó nhanh chóng trở thành boyfriend, girlfriend chỉ sau vài tối gặp nhau ở chỗ ngủ tạm. Thú thật với chú, cái gì chứ sex thì homeless không dài dòng mất thì giờ tả oán như người bình thường đâu, chú ơi! Các bạn của cháu ngồi đây đều biết điều đó. Gặp nhau một lúc, sau vài câu chào hỏi rồi xáp vào với nhau dễ như ăn bi-già. Hễ con gái ưng là nó cho ngay, chẳng ỉ ôi lôi thôi mất thì giờ, nó cũng chẳng mất mát gì, mà nếu nó đòi hỏi thì tụi cháu có gì để cho nó chứ? Đứa nào cũng chỉ có cái xác tả tơi, vả lại, chú nghĩ coi, nào nó có mất vốn mất lời gì? Đây cũng là một điểm tâm lý làm nhiều anh, nhiều chị mê homeless, thích bụi đời. Gái homeless rất sẵn chú à! Đẹp chim sa cá lặn thì không có chứ mát mắt, trẻ trẻ, thiếu gì. Còn xấu xấu hay tạm được thì sẵn lắm!



Trở lại với con Teresa, lẽ ra tối nay nó cùng đi với cháu đến đây nhưng vì nó có đứa em trai từ Mễ sang kiếm nó, bảo nó về Mễ mấy ngày thăm bà già bị đau nặng; vả lại nó nói nó không nghe được tiếng Việt, còn tiếng Anh chỉ lõm bõm. Lúc nào nó cũng nói tiếng Xì (Tây ban Nha) và khi cháu học lóm được vài câu, cháu bảo nó:”Tu eras bonita” (Cô đẹp lắm) thì nó thích chí, cười rũ rượi. Chỗ ngủ của tụi cháu là một cái nhà lớn suông đuột không chia phòng ốc chi hết mà kê giường từng hàng, cả sáu, bảy mươi giường, trai gái không phân biệt, mỗi người một giường kiểu giường lính. Sau 11 giờ đêm thì tắt đèn, còn từ 6 giờ đến 11 giờ thì có thể đọc báo, ra đường hút thuốc hoặc tắm rửa trong các nhà tắm công cộng ngay tại đó, cả chục người một lần nhưng đàn ông riêng, đàn bà riêng. Lúc ngủ, ai nằm đâu cũng được nhưng phần nhiều đã có xí chỗ; bạn bè, bồ bịch tìm cách nằm gần nhau để còn rủ rỉ thầm thì được thêm ít phút trước khi ngủ. Và khi đèn tắt rồi thì nhiều cặp “nóng máy quá” chịu không nổi bò qua với nhau. Súp-pơ-vai-dơ có biết đấy nhưng không cấm đoán. Hôm-lớt đã khổ quá rồi, ban đêm có bồ có bịch lại cũng khổ, cũng cấm đoán nữa sao? Miễn là đừng rên la, trửng giỡn, làm ồn ào quá khiến người xung quanh chịu hổng nổi phải ngứa ngáy hoặc đi thưa cấp trên.



Hai đêm đầu, cháu cứ ngay tình nằm xa Teresa nhưng đến đêm thứ ba thì nó dành chỗ kế bên giường cháu. Cháu không đoán được tuổi và gốc gác của nó nhưng trông cũng dễ coi, sạch sẽ và có lẽ cũng khoảng tuổi cháu hay ít hơn. Khi có đồ ăn, đồ uống gì, nó cũng tìm cháu để “she” với cháu.Đêm đó khi đèn vừa tắt, mới nằm êm được dăm phút, nó trở mình trên giường quay sang gọi cháu:”Tommy, anh còn thức không?”Tụi cháu nói tiếng Mỹ bồi với nhau, ba xí ba tú, miễn hiểu thì thôi kể cả giơ tay giơ chân chứ học hành gì mà nói đúng văn phạm, hả chú? Cháu trả lời “Yes, yes.”. Nó đưa lưng cho cháu:”Làm ơn cởi giùm cái móc áo nịt ngực phía sau lưng.” Nó nói mãi cháu cũng không hiểu nó muốn cái gì? Nó bèn cầm tay cháu đặt vào cái móc sú-chiêng và nói:”Tôi muốn anh giúp tôi cởi nó ra kẻo nóng quá.” Chú ơi, cái lưng trần của nó quả nóng hâm hấp thiệt. Cháu cởi cái móc cho nó rồi, nó tuột hết áo ra, xoay người nhìn lại cười cười với cháu, hàm răng trắng nhởn trong bóng tối. Thế là...thế là... cháu chỉ còn nhìn thấy nó nhờ nhờ trong căn phòng với khuôn ngực trắng nhễ nhãi, vun cao mời mọc và đôi môi của nó ở ngay kế môi cháu, ngoài ra cháu không còn nhìn thấy cái gì nữa cả...Cháu vừa nhẹ nhàng trườn sang giường nó thì nó vồ vập, xiết cứng lấy cháu, hôn như mưa bấc trên mặt, trên ngực cháu như người khát tình chết đói đã lâu ngày... Cháu chỉ sợ cái giường yếu quá khuỵu xuống trong khi nó cọt kẹt và rung lên dào dào! Cháu nghĩ có lẽ Teresa thương cháu thiệt tình!


Khi cháu rời nó trở sang giường cháu để ngủ thì có lẽ cũng đã khuya lắm. Dăm, ba tên có tật ngáy, rống như sấm và mấy phút sau đó cháu cũng đi vào giấc ngủ dễ dàng. Bảy giờ sáng hôm sau lúc cháu thức giấc thì Teresa vẫn còn ngủ li bì. Bảy rưỡi nó vẫn không đụng đậy, vẫn ngủ ngon lành, nét mặt phơi phới đầy thỏa mãn như một đứa trẻ no sữa. Cháu phải đánh thức nó để đi sở Xã Hội xin oeo-phe và phút-tem. Nó nằm duỗi dài trên giường nhìn cháu cười hiền, đôi mắt long lanh coi bộ rất happy, rất thoải mái chẳng có nét gì của đứa hôm-lớt đang thiếu thốn mọi thứ trên đời. Và rồi cháu với nó đi gặp chú đấy. Cũng kể từ đêm đó, nó quấn riết lấy cháu, ngày cũng như đêm; nó sợ cháu mê đứa con gái khác bỏ nó. Thú thiệt với chú, như các bạn đây đều biết, gái hôm-lớt nhiều lắm mà đứa nào cũng chịu chơi!” Tôi nhìn bàn tay Tommy thấy có vết sẹo lớn ở mu bàn tay, bèn hỏi: “Teresa có làm gì cháu không mà bàn tay cháu bị sẹo?” “Teresa có làm gì cháu đâu chú. Nó cưng cháu hết mức. Có cái gì ăn, có cái gì uống, nó cũng chia cho cháu. Nó còn bảo nó muốn có đứa con với cháu.



Cháu nghe mà lạnh mình. Còn cái sẹo này? Cái sẹo này là do một thằng Mỹ trắng khùng khùng điên điên. Tên nó là Mitt. Thằng Mitt ghét cháu vì thấy cháu lai đen nhưng có vẻ sướng hơn nó nhiều trong khi nó cô độc không đứa con gái nào muốn chơi với nó vì cái tính kì cục của nó. (hon-viet.co.uk Văn học) Nó lừa một đêm cháu đang ngủ, nó bật quẹt đốt tay cháu. Khi cháu giật mình thức dậy thì bàn tay đã bị cháy, đau đớn vô cùng. Cháu dượt nó thoi được nó vài đấm cật lực vào mặt. Dưới ánh đèn hành lang, cháu thấy miệng nó chảy máu và nó nhổ ra một cái răng. Ngay lúc đó, Súp-pơ-vai-dơ can ra. Bàn tay cháu bị làm độc vì thiếu trụ sinh, cháu đau đớn cả tháng trời, mãi sau đi bệnh viện xin được mấy viên trụ sinh mới đỡ.”Mấy đứa mải nghe chuyện cứ ngồi im, tôi lại bảo:“Tommy hãy nghỉ một chút. Nào, các cháu, bánh chưng và chả quế còn khá nhiều. Làm thêm cho vui đi,” Quay qua con bé Mễ lai Việt trẻ nhất và đẹp nhất bọn, tôi hỏi nó:“Vanessa, do you understand what he said?” tôi nghĩ nó không biết tiếng Việt nhưng nó gật đầu. Jane bảo:“Nó nghe nó hiểu hết đấy chú, chỉ không nói được thôi. Tính nó hiền lành dễ thương lắm, nó sắp xong High school rồi đấy. Cháu không hiểu sao nó đi bụi đời, rõ phí! Thứ hai tới, cháu sẽ dẫn nó vào sở chú, chú cho nó vài cái quần áo nhé!”


“Ừ, gọi phôn trước cho chú!”Nghĩ về chuyện Tommy vừa kể, thằng tên Mitt đốt tay nó, tôi chợt nhớ hai câu thơ của thi sĩ Bùi Giáng:Những tưởng đầu đường thương xó chợAi ngờ xó chợ chẳng thương nhau!Bùi Giáng nhiều lần đầu đường hôm-lớt nhưng cái anh xó chợ kia thì không. Bùi Giáng trách là trách cái tình văn nghệ mà xử tệ với nhau. Anh kia cũng là một nhà thơ nhiều người biết tiếng, như Bùi Giáng viết là Nguyên Sa, nếu tôi không lầm. Cổ học tinh hoa bảo, Hồ li xưa nay mới ghét, mới làm hại hồ li, chứ khác giống, ai lí tới? Tôi lại hỏi Tommy: “Sao có nhiều người Mỹ làm như họ thích homeless? Người ta thường gọi những người này là “homeless by choice” tức là tự chọn cho mình cuộc sống vô gia cư. Điều đó có đúng không?” Tony xen vào: “Để cháu trả lời thay Tommy. Đúng đấy chú! Cháu thấy có nhiều lắm. Hôm-lớt rồi sinh con đẻ cái ra trong lúc đang hôm-lớt cũng có nữa. Có một anh chàng này cháu biết, chỉ hôm-lớt về đêm. Anh ta có vợ con đàng hoàng. Ban ngày vợ đi làm thì anh ta ở nhà coi vài đứa con và nấu ăn để tối vợ về ăn. Vợ làm thư ký phát tiền cho Ngân Hàng. Tối đến, khi ăn uống xong, hắn để vợ con đó và đi bụi đời, khi hắn ngủ trong xe, khi ngủ góc đường, ngủ gầm cầu, ngủ trong mấy nhà của hôm-lớt như cháu đã kể. Gặp đàn bà hợp ý, hắn cặp cho vui, cũng là loại đầu đường xó chợ, hôm-lớt cả, nào có thứ khá. Sáng sớm hôm sau hắn lại trở về nhà coi nhà và con cho vợ đi làm. Buổi tối, lại tiếp tục. Cháu không hiểu người vợ có phản ứng gì không nhưng đã mấy năm, cháu thấy hắn vẫn sống phây phây như thế.”


Tôi trầm ngâm: “Nếu các cháu không nói có lẽ chú không biết có những cảnh đời như vậy.” Jane và Hùng cùng nói như sợ tôi không hiểu: “Còn nhiều cảnh cười ra nước mắt đấy chú. Phải trải qua như tụi cháu mới biết nó như thế nào. Nhưng dù cay đắng, chúng cháu ít tự tử hơn người được sung sướng. Chú là Nhà Văn, chú nên ghi lại cho mọi người trong xã hội biết được ít nhiều về tụi cháu, bớt đi những thành kiến với tụi cháu. Tụi cháu chưa làm được nhưng thề sẽ đứng lên làm lại cuộc đời...” Tôi khuyến khích: “Các cháu nghĩ thế là phải lắm. Con người dù vào đường cùng thế nào cũng không nên thất vọng mà cứ kiên trì chiến đấu, ắt có ngày thành công, chẳng lớn thì nhỏ. Tin chú đi! Và chính đức kiên trì ấy làm nên giá trị con người.” Anh Sương góp thêm: “Người ta nói đời là tranh đấu phải không chú? Đời không tranh đấu còn có nghĩa gì nữa. Những người giầu có thừa phương tiện do cha mẹ lo cho đâu có hãnh diện bằng những người tự lực cánh sinh, phải không chú?” “Rất đúng, anh Sương. Sách cũng nói:”Chiến đấu không cam go, chiến thắng không vinh dự” cùng ý nghĩa đó. Chú rất mừng nghe các cháu có nhiệt tình như thế, người Mỹ gọi là positive hay optimistic. Tommy tợp thêm một ngụm bia: “Đúng như Jane và Hùng nói. Còn nhiều cảnh đời hôm-lớt bi ai lắm chú, nhưng cháu mỏi miệng không muốn kể nữa. Chú cho tụi cháu một dịp khác chú cháu mình lại gặp nhau.” Tôi giơ tay nhìn đồng hồ. Ba giờ hai mươi. Tôi bảo cả bọn: “Thôi, chúng ta chấm dứt ở đây. Còn vài, ba giờ nữa thì sáng. Mỗi người ngủ một chút mai còn làm việc. Có dịp chúng ta lại tiếp tục một đêm khác.



Đêm nay thật là một đêm đáng ghi nhớ. Xin cám ơn anh chị Sương chủ nhà. Cám ơn các cháu tất cả nhé!” Anh Sương nói thay cả bọn: “Chúng cháu cám ơn chú rất nhiều. Chú đã mang hương vị Tết quê hương và niềm vui, phấn khởi, yêu đời đến cho chúng cháu.” Tôi đứng lên ra xe, tiếc là nhà tôi không có mặt để nghe câu chuyên sống và thực. Anh chị Sương và cả bọn đi theo ra tiễn. Tôi bảo anh chị Sương và tất cả vào ngủ nhưng họ chờ cho xe tôi lăn bánh mới trở lại nhà. Khí lạnh về sáng làm tôi khoan khoái. Vừa lái, tôi vẫn còn như nhìn thấy trước mắt những mái đầu xanh đang vật lộn với đời, với nghịch cảnh, với nhiều cám dỗ, mê hoặc, để kiếm sống và để vươn lên với rất ít phương tiện trong tay. Nhưng cái sức vươn lên ấy thật đáng khâm phục khi ta biết rằng, còn rất nhiều thiếu niên khác dư phương tiện, dư điều kiện nhưng vẫn ỷ lại vào cha mẹ hoặc người thân, không từng cố gắng cho cuộc đời mình một chút ý nghĩa, ý nghĩa của một cuộc đời làm một con người, giữa những năm cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21.





Tiết Nguyên tiêu năm Tân Mùi
Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC
Mời thăm:http://www.vienxumagazine1.com/

Trang Thơ SÁCH ÐÃ IN CỦA NHÀ VĂN TRẦN ĐÌNHNGỌC- Tại Hoa Kỳ: - BỌT SÓNG (Bộ Truyện Dài)- NHƯ ÁNG MÂY TRÔI (ThiTập II)
Tập truyện NHỮNG CON DỐC ÐỨNG (16 Truyện Ngắn)- Tại Sàigòn: Đề thi LUẬN LÝ HỌC TÚ TÀI II, Sàigòn 1965- Đề thi ĐẠO ĐỨC HỌC TÚ TÀI II “- Đề thi TÂM LÝ HỌC TÚ TÀI II, Sàigòn, 1966- Luận đề về Nguyễn Du, Nguyễn công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan Sàigòn 1967 Luận đề về Cao bá Quát, Trần tế Xương.- HOÀNG HÔN MIỀN NÚI, Tập Truyện Ngắn, Sàigòn 1974- NHƯ ÁNG MÂY TRÔI I, Thơ Quê Hương, Sàigòn, 1975 - Đề thi Quốc Văn Tú Tài I, Sàigòn, 1963 và nhiều sách khác.



Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC