Wednesday, October 29, 2008

LÊ DINH * NHỮNG ĐIỀU NGHE THẤY

Lê Dinh
 NHỮNG ĐIỀU NGHE THẤY

--------------------------------------------------------------------------------


Một buổi chiều cuối tuần, tôi lang thang trên những con đường ở khu Phố Tàu để nhìn thiên hạ mua bán, tình cờ tôi gặp một gương mặt quen quen, nhưng nghĩ mãi không biết là aì vì gương mặt thì rất giống một người tôi biết, nhưng đầu thì trọc lóc và điều lạ làm tôi bối rối là người này mặc một chiếc áo nâu sồng của những kẻ tu hành. Sau khi bắt tay chào hỏi, thấy tôi có vẻ lúng túng, ông bạn mới lên tiếng:

- Anh Lê Dinh không nhớ em sao?

- Dạ, nhìn mặt thì quá quen, nhưng không biết đã gặp anh ở đâu?

- Em là Lưu Ph. nè, Ph. thổi sáo, anh nhận ra em chưa?

- À ra là Lưu Ph., anh đã nhớ ra rồi. Trên 30 năm rồi, hèn gì.

Thuở đó, đồng bào mình ở thành phố này không có nhiều như bây giờ, tình đồng hương rát là thắm thiết. Thỉnh thoảng, vào dịp Tết hoặc Giáng sinh, tôi thường hay tổ chức những đêm ca nhạc, trình bày lại những bản nhạc ngày xưa trước 1975, có nhạc sống, có ăn nhẹ, giải khát vả khiêu vũ. Vé vào cửa lúc đó là 8$ một người, gọi là để sưởi ấm lòng người tha hương. Với số khách tham dự lên đến cả ngàn người một lần cho nên tôi có thể mời những ca sĩ cũ, nổi tiếng trước 1975 ở gần cũng như ở xa đến giúp vui đồng bào. Tôi có mời Chế Linh đến từ Toronto, Phương Hồng Hạnh đến từ Madison (Wisconsin)…, những ca sĩ này không phải định cư ở Montréal nhưng không quá xa thành phố Montréal, để cho đỡ tốn kém.




Tôi nhớ ra ngay anh Lưu Ph., vì lúc đó anh là người duy nhất biết thổi sáo ở Montréal, cho nên mỗi khi có mục ngâm thơ, tôi thường hay mời anh Ph. đến giúp phần thổi sáo phụ họa cho giọng ngâm. Tôi cũng còn nhớ rất rõ thuở đó, mỗi lần trình diễn văn nghệ, anh thường hay dẫn bà vợ người Québec đi theo, nên tôi liền hỏi:

- Anh nhớ dường như lúc trước em có vợ đầm mà, còn bây giờ sao… sao…, tôi tìm không ra lời để diễn tả con người của anh với cái đầu bóng nhẵn và chiếc áo cà sa trên người anh…

Hiểu ý tôi, anh liền nói:

- Em ly dị con vợ đầm rồi, bây giờ em đi tu, lên Thượng tọa rồi. Chùa em ở bên Verdun, em mời anh hôm nào ghé qua chùa em chơi. Nói xong, anh lục trong túi mang trên vai ra một mảnh giấy nhỏ và ghi tên chùa cùng địa chỉ và trao cho tôi. Cầm mảnh giấy của Thượng tọa Lưu Ph. trao cho, tôi đọc sơ qua rồi bỏ vào túi.

- Vâng, khi nào rảnh anh sẽ đến viếng chùa của em.

Quên bẵng đi một thời gian chuyện chùa chiền của Thương tọa Lưu Ph., đến khi trực nhớ lại tôi tìm mảnh giấy để biết chùa tên gì và ở vùng nào bên thành phố Verdun, một thành phố ngọai ô của Montréal, nhưng mảnh giấy nhỏ đã không còn nữa.

Tôi cũng áy náy mỗi khiù nhớ tới lời hứa “viếng thăm chùa” do Thượng tọa Lưu Ph. trụ trì, nhưng tấm giấy đã mất và không biết làm sao để mà đến chùa thăm sư Ph. một lần cho biết và cho trọn lời hứa. Rồi mọi việc trôi vào quên lãng, mãi cho đến hôm nay…






Cho đến hôm nay, việc sư công an đầu trọc, sư quốc doanh, sư ăn McDonald’ s tại chỗ, sư đi dạo mát với gái… là một mối bận tâm không nhỏ cho những vị sư chân chính và người Việt tị nạn chúng ta. Ở thành phố nho nhỏ như Montréal mà hiện nay cũng có đến 7, 8 ngôi chùa, nhỏ có lớn có. Mới đầu hôm sớm mai đã có một ngôi chùa, một niệm phật đường, một tịnh xá, một tịnh thất… Mới đầu hôm sớm mai, một nghệ sĩ tài tử bỗng trở thành Thượng tọa. Dễ quá, thuê một căn ấp, xin phép, trương bảng tên chùa và treo cờ ngũ sắc lên, rồi đi VN mang về một số sách kinh Phật… rồi cạo đầu, mang bộ áo cà sa vào là thành chùa, thành sư chẳng mấy hồi. Thiện nam tín nữ hả, người nào trước khi thành thầy chùa lại không có người quen biết, không có bạn bè? Thôi thì đến chùa nào cũng để lạy Phật, để thọ trai, bá tánh đến chùa tôi hay chùa khác cũng vậy thôi. Xin mời đạo hữu đến một lần cho biết, chùa tôi cũng có Phật vậy. Mô Phật! Phật nào cũng là Phật mà. Có một ngôi chùa mới thành lập trong thành phố của chúng tôi – tôi nói ra thì có lẻ quý độc giả nói tôi lộng ngôn, nhưng lời tôi nói có Trời Phật chứng giám – vừa ở trên một con đường khá náo nhiệt – không thích hợp với chốn trang nghiêm của chùa chiền - vừa lại không xa một “club des danseuses nues” bao nhiêu, chỉ bước vài bước là tới. Tội nghiệp cho những nhà sư thật sự là sư, những ngôi chùa thật sự là chùa, vàng thau lẫn lộn trong thời buổi suy vong, mạt pháp này!




Một hôm, tham dự đám cưới con của một người bạn, tôi rất “hân hạnh” được gặp lại vợ chồng một ông bạn ngày xưa. Nói ngày xưa cho dễ phân biệt với ngày nay. Ngày xưa là thời sau 1975, chứ không phải xa xưa lắm, lúc những tàu thuyền vượt biên tới tấp đến các trại tị nạn, lúc mà tất cả những người tị nạn là người tị nạn thật sự, được định cư ở một xứ tự do. Lúc ban đầu, người tị nạn đầu tắt mặt tối, lo làm ăn, gầy dựng lại gia đình từ con số không, trong đầu óc chỉ biết có căm thù Cộng sản, vì bọn chúng cho nên mình phải ra đi, bỏ quê hương, xa lìa người thân thuộc. Còn ngày nay, là thời bây giờ, sau hơn 30 năm chí thú làm ăn, nuôi con cái nên nguời… người tị nạn rảnh rỗi rồi sanh chứng này, tật nọ.

Thú thật trong lòng tôi cũng khấp khởi vui mừng khi lâu quá mới gặp lại người bạn đã từ lâu rồi không gặp, tôi hỏi anh chị giờ làm gì, đã hưu trí chưa:

- Tôi làm nhân đạo.

Làm nhân đạo là làm gì?

- Chúng tôi làm từ thiện.




Rồi anh kề miệng vào tai tôi giải thích dài dòng về việc làm nhân đạo, từ thiện của vợ chồng anh. Thì ra tôi được biết mỗi năm vợ chồng anh đi VN đôi ba lần, đem tiền bạc quyên được của những người quen ở bên này về VN giúp cho trẻ mồ côi, mổ mắt người già, tặng thuốc cảm cúm cho người bệnh, tặng mì gói cho những gia đình nghèo túng, cho những đứa trẻ này vài thỏi chocolat, những đứa bé kia vài cục kẹo… À, như vậy thì tôi biết rồi, tôi tự nói thầm với tôi như vậy. Bây giờ không những chỉ riêng ở tại thành phố của chúng tôi - mà cũng như ở các thành phố khác trên thế giới - có rất nhiều người làm từ thiện như anh chị này, nào là Hội “Help the Poor”, nào là chương trình “Sưởi ấm” nào là “Mái ấm tình thương”, “Căn nhà nhân đạo”, “Căn nhà tình nghĩa”, “Căn nhà may mắn”, “Les Enfants du Mékong”, “Les amis du Vietnam” v.v.. À thì ra vậy. Cái nghề này dễ làm, xin việc là có ngay, khỏi cần phải có “Curriculum Vitae”, khỏi cần phải có kinh nghiệm. Vì vậy cho nên hiện nay có rất nhiều người từ ca sĩ, đến nhạc sĩ, từ anh thất nghiệp đến chị có nghề nghiệp (nhưng lương ít), từ ông vợ chết đến bà chết chồng… bỗng nhiên nổi lên tấm lòng từ bi, bác ái bao la, thương đồng bào ta vô hạn, xin gia nhập vô nghiệp đoàn làm cái nghề nhân đạo này. Không cần phải tốn công sức, chỉ dùng miệng lưỡi, nêu ra những khốn khó của lớp người sống cơ cực dưới chế độ CS, dùng năm tất lưỡi để xin tiền thiên hạ đem về… nuôi CS. Rồi lại trở qua xứ họ định cư, xin tiền nữa, rồi lại về nữa. Thật khỏe ru, như đi du lịch, đi nghỉ hè không tốn tiền vậy, khỏi phải sáng lái xe đi, chiều tối lái xe về, khỏi phải tốn công sức ở nhà máy, cơ xưởng, khỏi phải hao tổn trí óc ở văn phòng, khỏi phải bị chủ ăn hiếp, khỏi phải bị xếp xài xể, mà lại được tiếng là… làm nhân đạo.



Nhưng bằng vài thùng mì gói, vài trăm ổ bánh mì, vài ngàn viên thuốc cảm cúm, mà dân chúng nghèo đói bệnh tật thì cả ấp, cả xã, cả huyện… cả nước, quý vị làm thế nào để lo cho xuể, chẳng qua cũng như đem muối bỏ biển mà thôi. Quý vị có biết tài sản gửi ở các ngân hàng ngọai quốc của những tên chóp bu CSVN lên đến cỡ nào không? Quý vị có biết gia sản của Nguyễn Tấn Dũng trải dài từ Saigon ra Hà Nội là bao nhiêu không? Sao những tên ăn trên ngồi trước này không bỏ ra, chỉ một phần ngàn tài sản của chúng thôi, để lo cho dân? Dân thì nghèo đói, chạy ăn từng bữa không đủ, không nhà không cửa trong khi họ thì ở nhà cao năm, bảy tầng, đi xe hàng triệu mỹ kim. Có quý vị lo rồi, họ rảnh tay để cho mặc quý vị lo, thì giờ của họ, họ lo tìm những phương pháp ranh ma hơn, quỉ quyệt hơn để cướp đất cướp nhà của dân. Mà quý vị lo cho đến bao giờ mới thôi lo, quý vị có phải là Bộ Xã Hội hay Bộ Y Tế của nhà nước CS đâu?



Những người đó – những người làm nghề nhân đạo đó – có khi nào quý vị nằm đêm suy nghĩ coi nguyên do vì sao mà đồng bào mình bị khốn khổ như thế không? Cái nghề của quý vị làm, nghe qua thì thật là nhân đạo – vì là cái nghề có tên là “nghề nhân đạo” mà – nhưng thật ra rất là vô nhân đạo. Quý vị cứ đem tiền về nuôi những tên cán bộ CS vương giả, thêm mập phì ra để chúng có thêm sức mà áp bức dân mình nhiều thêm nữa. Tôi tin rằng quý vị cũng nghe, cũng biết chuyện những người dân oan dãi nắng dầm mưa đi đòi đất, đòi nhà mà CS ngang nhiên chiếm cứ của họ, quý vị cũng biết chuyện kẻ thù của quý vị đã bán nước buôn dân như thế nào không? (Lập đi lập lại hoài những chuyện này nghe xấu hổ thêm). Dân của nhà nước sao nhà nước không lo mà quý vị lại đi lo. Quý vị cứu được 100 người, nhưng quý vị giúp cho CS bức hại 100 000 người, quý vị cứu được 1000 người, nhưng quý vị tiếp tay cho CS giết 1 000 000 người. Căn nhà lá ọp ẹp, mái lá rách nát, mưa xuống dột nước lai láng, quý vị cứ lấy bồn hứng nước phía dưới cho đỡ trơn trợt. Tại sao quý vị không giúp người chủ cái nhà lá đó, tháo gỡ băng hết cái mái nhà cũ kỹ, rách nát đó đi, cho vào đống rác và thay bắng lớp lá mới cho nước mưa không rơi vào nhà nữa? Nhà dột chỗ nào, quý vị hứng nước chỗ đó. Quý vị cứ làm vá víu mãi vậy sao? Cho đến bao giờ? Cái gốc gây ra sự nghèo đói, bệnh tật, khốn khổ của dân mình là đảng CS ác ôn, thì hỏi tại sao quý vị không gom góp tiền bạc tặng những phong trào chống đối ở trong nước để giúp họ dẹp tan bè lũ bán nước buôn dân đó đi? Tôi chắc quý vị, vì bận làm việc “nhân đạo”, cho nên không có thì giờ để đọc những bài viết rất hữu ích như “Chính trị và thua cuộc” (Nguyễn Bách), ”Chuyện Trọng Thủy thời nay” (Đỗ văn Phúc), “Có nên cứu trợ VN không?” (An Pha), “Không cho một cắc” (Hoàng Nguyên), “Thế lực nào giúp CSVN sống đến ngày nay?” (Trịnh Việt Bắc), “Những kẻ nối giáo cho giặc” (Trần Thanh), “Nối giáo cho giặc” (Mũ Nâu Thiện Xạ)… Chính quý vị là những kẻ nối giáo cho giặc đó, quý vị có biệt không?




--------------------------------------------------------------------------------




--------------------------------------------------------------------------------


Ngày trước, căm thù CS, trốn chui trốn nhủi, liều chết bỏ xứ ra đi cho bằng được, quyết xa lìa bầy thú dữ cho bằng được, ngày nay, kẻ thù còn sờ sờ ra đó, thú rừng vẫn còn dày nát quê hương, xứ sở mà quý vị lại quay về – chẳng những không phải về tay không – mà lại còn bòn tiền bạn bè thân quyến, đem về nước nuôi kẻ thù. Kẻ cướp nhà của quý vị, đuổi quý vị ra khỏi nhà, thân sơ thất sở, lạc loài tận chân trời gốc bể, sau mấy mươi năm làm ăn có tiền có bạc, quý vị mang tiền về lòn cuối dâng cho kẻ cướp. Ôi sao thật trớ trêu và cay đắng!

Thời buổi tân tiến của thế kỷ 21, có nhiều nghề nghe rất lạ tai: nghề làm thấy chùa, nghề làm nhân đạo. Tất cả đều có vẻ hương nhang tam bảo, có vẻ nam mô a di đà phật, nhưng thật ra với những nghề làm thầy chùa bất chánh và nghề làm nhân đạo giả hiệu của quý vị, dù quý vị có dộng chuông, gõ mõ mười kiếp nữa, chắc chắn quý vị sẽ rơi xuống chín tầng địa ngục vì đi với quỷ thì sẽ sống với quỷ.




--------------------------------------------------------------------------------

Lê Dinh

Tuesday, October 28, 2008

MỘT BÀI THƠ HAY




Mời các bạn thích thơ và thẩn, đọc bài thơ này.

Đặc biệt bài thơ này có tám cách đọc mà vẫn hay.

Chỉ có tiếng Việt mới phong phú như thế!



1. Bài thơ gốc (bài 1):

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi

Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi

Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người

Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng

Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.



2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên, ta được bài 2:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha

Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa

Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược

Sóng lặng sông chờ khách lại qua

Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá

Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa

Vơi đầy chén rượu thơ vui thú

Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.



3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

ta được bài 3 (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Cảnh xuân ánh sáng ngời

Thơ rượu chén đầy vơi

Giậu trúc cành xanh biếc

Hương xuân sắc thắm tươi

Khách chờ sông lặng sóng

Thuyền đợi bến đông người

Tiếng hát đàn trầm bổng

Bóng ai mắt mỉm cười.



4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên,

ta được bài 4 (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha

Đàn hát tiếng ngân xa

Bến đợi thuyền xuôi ngược

Sông chờ khách lại qua

Sắc xuân hương quyện lá

Cành trúc giậu cài hoa

Chén rượu thơ vui thú

Ánh xuân cảnh mến ta.




5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,

ta được bài 5 (tám câu bốn chữ) :

Ta mến cảnh xuân

Thú vui thơ rượu

Hoa cài giậu trúc

Lá quyện hương xuân

Qua lại khách chờ

Ngược xuôi thuyền đợi

Xa ngân tiếng hát

Tha thướt bóng ai.



6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên,

ta được bài 6 (tám câu bốn chữ )

Cười mỉm mắt ai

Bổng trầm đàn hát

Người đông bến đợi

Sóng lặng sông chờ

Tươi thắm sắc xuân

Biếc xanh cành trúc

Vơi đầy chén rượu

Ngời sáng ánh xuân.




7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,

ta được bài 7 (tám câu ba chữ )

Ánh sáng ngời

Chén đầy vơi

Cành xanh biếc

Sắc thắm tươi

Sông lặng sóng

Bến đông người

Đàn trầm bổng

Mắt mỉm cười.



8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên,

ta được bài 8 (tám câu ba chữ)

Bóng thướt tha

Tiếng ngân xa

Thuyền xuôi ngược

Khách lại qua

Hương quyện lá

Giậu cài hoa

Thơ vui thú

Cảnh mến ta


Monday, October 27, 2008

SƠN TRUNG * TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM








SƠN TRUNG



BÀI I: GIAI ĐOẠN 1975- 1995




Mục đich cộng sản là tiêu diệt tư bản,thanh trừ tôn giáo,kìm kẹp trí thức.Họ chống tư bản vì tư bản bóc lột vô sản,thanh trừ tôn giáo vì tôn giáo là thuốc phiện, còn trí thức là những kẻ không thật lòng tuân phục cộng sản.
Trước 1975,nhiều trí thức miền Nam tin tưởng rằng cộng sản đã thay đổi,đã tiến bộ.Và sau khi khối Xô Viết tan rã, Mỹ công nhận và bang giao với cộng sản, thì số người này tăng thêm,nhất là khi cộng sản khoác chiêu bài đổi mới.


Cộng sản ,nhất là cộng sản Á châu không bao giờ thay đổi con đường chuyên chính vô sản, vì đó là lẽ sống, là quyền lợi của họ. Cộng sản chỉ thay đổi vì kinh tế , và chỉ thay đổi mạt kinh tế mà thôi.Thay đổi chính sách kinh tế nghĩa là mở cửa cho tư bản đằu tư thì tư bản sẽ mang tiền đến cho họ xài. Còn mọi chính sách về chính trị ,xã hội,văn hoá,tôn giáo thì không thay đổi,nếu có thì cũng là hoa hoè, là giả dối cho vui lòng phe tư bản tới đầu tư, hoặc là có lợi cho túi tiền của họ.



Sau ngày 30 tháng 4 -1975 là đến ngày Phật đản, cộng sản cấm Phật giáo tổ chức lễ bái.Hành động này cho tât cả Phật tử, đặc biệt là những kẻ thân cộng thấy rõ bộ mặt thật của cộng sản.



Trươc 1975, tôn giáo nào cũng bị cộng sản cài người vào . Trong hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo đã có một số cộng sản nằm vùng, hoặc làm tay sai cho cộng sản. Thượng tọa Thiện Minh là một đảng viên cộng sản nhưng sau vụ cộng sản tàn sát đòng bào cố đô Huế năm mậu thân 1968, ông đã từ bỏ cộng sản.Tại Sàigòn,Võ Đình Cường đã dến trung tâm Thanh Niên đường Công Lý bắt thượng tọa tuyên thệ trước cờ Đảng, song hai bên lớn tiếng, Thiện Minh dọa kêu cảnh sát, Võ Đình Cường mới bỏ đi. Sau đó cộng sản ám sát thượng tọa cho nên” thượng tọa mất bàn tọa” (1). Trước và trong ngày 30 tháng tư, nhiều Phật tử khuyên thượng tọa nên lánh ra nứơc ngoài, song thượng tọa chấp nhận ở lại chịu chết để cho danh được trường tồn. Kết quẳ thượng tọa đã chết bi thảm trong khám Chí Hòa năm 1975.


Vì cộng sản cấm Phật giáo tổ chức lễ Phật đản, cho nên các vị lãnh đạo Phật giáo định tiến hành việc tranh đãu.Mọi mưu tính đều bị Thích Minh Châu báo cáo với cộng sản. Cộng sản lập tức đối phó,lập giáo hội mới. Các vị lãnh đạo Phật giáo phản đối cho nên cộng sản phong tỏa chùa chiền, bắt Quảng Độ, Huyền Quang, Thông Bửu ..., người ra Bắc, kẻ ở Trung . Một hội Phật giáo mới được dựng lên mà Thich Minh Châu là tổng thư ký, hoà thượng Trí Thủ làm Tăng Thống. Minh Châu là một kẻ bán thế xuất gia, là con trai của cụ nghè Đinh Van Chấp,ở Nghệ An. Khoảng 1960, Minh Châu được du học ở Ấn Độ,và khoảng 1964,Minh Châu trở về với cấp bàng tiến sĩ Phật học .Trong khoảng 1960, tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Án Độ, Minh Châu không cùng phái đoàn Việt kiều đón tiếp tổng thống Việt Nam, sau Minh Châu được cộng sản Việt Nam cử đi tham dự hội nghị Phật giáo tại Trung cọng (2). Khi làm tổng thư ký giáo hội quốc doanh, Minh Châu luôn luôn đi Hà Nội, đi Liên Xô cho dù tuổi gìà, huyêt áp rất cao. Sự kiện này cho chúng ta thấy trước và sau 1975, Minh Châu giữ một vai trò rất lớn trong mặt trận tôn giáo Việt Nam và quốc tế.



Trong khoảng 1985, một số tu sĩ và tín đồ Phật giáo tổ chức chống đối cộng sản mà cơ sở chính ở chùa Già Lam, Gia Định,là nơi đã từng là căn cứ chống Ngô Đình Diệm. Một sô lớn tinh hoa của Phật giáo như Trí Siêu, Tuệ Sĩ...đã bị bắt trong dịp này. Hòa thượng Trí Thủ, trụ trì chùa Già Lam,và cũng là Tăng thống của cái giáo hội bù nhìn,tay sai, rất thương đám học trò ưu tú này, lên xin công an thành phố tha cho Tuệ Sĩ, Trí Siêu...


Giám đốc công an không thèm tiếp mà còn cho đàn em mắng mỏ, miệt thị và đuổi Trí Thủ về. Hôm đó, hoà thượng Trí Thủ ra về, tức giận mà chết ngay. Người ta còn nói rằng công an thành phố bao lâu nay tìm một người có tên là Nguyễn X...,có liên lạc với Bảo Đại, nay mới biết Nguyển X... chính là Trí Thủ !(3)Khoảng 1990,phong trào Phật giáo lại sôi động với cái chết của hoà thượng Đôn Hậu tại Huế. Hòa thượng là tổng thư ký Viện Hóa đạo trước 1968 . Sau tết mậu thân 1968, hoà thượng bị cộng sản bắt lên chiên khu và đóng một vai trò bù nhìn trong Mặt trận Tổ quốc. Sau 1975, cộng sản cho hoà thượng làm dân biểu quốc hội song hòa thượng nại cớ tuổi già sức yếu, không tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào do cộng sản xướng xuất. Khi hoà thương mất, hoà thượng để lại di chúc gồm những điểm sau:

- Tang lễ của ngằi được tổ chức đơn giản, không để cho chính quyền thăm dự hoặc tổ chức.
-Ấn Tổng thư ký Viện Hóa đạo nay giao lại cho hoà thượng Huyền Quang.
-Yêu cầu Phật giáo quốc nội và quốc ngoại đoàn kết. Công việc chấn chỉnh Phật giáo ủy cho hoà thượng Huyền Quang .



Việc này đưa lại hai khó khăn cho cộng sản:
1-Cọng sản đã lập nên giáo hội quốc doanh, nay Đôn Hậu lại giao ấn Tổng thư ký cho Huyền Quang, và nhiệm vụ xây dựng Phật giáo cho Huyền Quang là kẻ chống đảng, tạo thanh thế cho giáo hôi Phật giáo cũ, và phủ nhận uy danh của giáo hội nhà nước.

2-Xưa nay, cộng sản đề cao hoà thượng Đôn Hậu, nay di chúc này,vạch rõ mọi gian trá của cộng sản,họ chỉ cưõng bách bắc cóc và lợi dụng danh nghĩa của hòa thượng Đôn Hậu và bao nhiêu người khác. Sự kiện này lại còn nói lên tấm lòng chán ghét và ghê tởm cộng sản của Phật tử và nhân dân Việt Nam .


Măc dầu di chúc này đã nói rõ rằng hoà thượng không muốn chính quyền tổ chức đám tang, chính quyền vẫn giữ thể diện, và tỏ ra mình có uy quyền, cho công an bao vây chuà Từ Đàm cướp xác hoà thượng. Song các Phật tử đã bí mật mang nhục thể hoà thưộng về chùa Thiên Mụ, và tổ chức đãu tranh bảo vệ. Họ tổ chức năm, sáu lớp bao vây . Lớp ngoài cùng là ở sân chuà, và bên linh cửu là hàng trăm người vây xung quanh,họ đã ngôi xuống sãn sàng bên nhửng thùng xăng, nếu công an xông vào là Phật tử châm lửa.
Trước khí thế dũng mãnh của Phật tử, cọng sản lui bước,nhưng sau đám tang, cộng sản tiến hành bát bớ các tăng ni và Phật tử.



Ngày nay, tại các chùa chiền Việt Nam hầu hết có tay chân công an ,hoặc công an ở trong chùa điều hành,kiểm soát mọi việc.Có thể nói rằng số lớn tăng ni ăn lương công an, vì họ là công an, hoặc kẻ tu hành nhưng phải làm việc cho công an. Số tăng ni rất hạn chế. Những ai không có hộ khẩu trong chùa trước 1975 thì không được ở trong chùa, cho dù là họ ở cạnh chùa. Trước đây, cộng sản đã có kế hoach đuổi dân Sàigon ra khỏi thành phô,và qui tụ ở những khu kinh tế mới, trong đó có công chức,binh sĩ
( sĩ quan đã đi tù ),phật tử, giáo dân...Nhưng may thay,bọn Pôn Pót đã phá sạch các khu kinh tế mới ven biên giới, cho nên kế hoạch này bị phá sản.

Trước đây, cộng sản đã ẩn náu tại nhà thờ, nhà chùa,nhà trường... cho nên sau 1975, cộng sản kiểm soát gắt gao tôn giáo và giaó dục. Tăng ni là công an, mà phật tử cũng là công an cho nên bậc tu hành và phật tử chân chính nhìn nhau rất bở ngở ở chốn thiền môn..



Giáo hội quốc doanh chỉ là tay sai, Minh Châu, Trí Thủ cũng chỉ là bù nhìn, trên cùng là người em gái của Lê Đức Thọ nắm quyền chỉ huy. Bọn Minh Châu mỗi khi có việc gì phải thỉnh thị ý kiến của mụ. Cộng sản nắm mọi việc trong chùa. Cái thùng phước sương là do quyền đóng mở của công an, cho nên những phật tử khôn ngoan lên chùa lễ phật chứ không dem tiền nuôi cộng sản.




Trước đây, khoảng 1995, cộng sản có giới thiệu chùa Một Cột ở Thủ Đức. Cộng sản khoe khoang hòa thượng Trí Dũng là người của Đảng, và chùa này là cơ sở của đảng .Trước đây một vài tháng, hoà thượng được lệnh đảng sang Mỹ công cán. Quả thật ông này trước kia chống cộng dữ lắm nay lại theo cộng sản !



Tôi đã nhiều lần tới thăm chùa này .Chùa rất đẹp, đẹp hơn chùa Một Cột ở Hà Nội. Chuà Một Cột ở Hà Nội bị lăng ông Hồ lấn át. Còn chùa này cảnh trí khang trang, kiến trúc lại tân kỳ và phong phú. Ở giữa sân chùa là hồ cá rộng,cá từng đàn, từng con rất lớn, luôn luôn được du khách ném bánh mì cho ăn nên rất dạn và rất mập.Sau dó ít lâu, tôi trở lại thăm chùa, thăm hồ cá thì phong cảnh đổi khác. Chùa ít người đi, mà chư tăng cũng không còn thấy vào ra. Ao cá rất bẩn,xác xả đầy, nước trong ao đục ngầu, và không thấy cá bơi lội như trước. Hõi thăm mới biết cá đã bị những người trong “ao cá bác Hồ” sang bắt sạch. Tôi bước vào chùa thăm. Người có bổn phận tiếp khách xưng là cán bộ hồi hưu, được cử vào chùa công tác cho Mặt trận. Hõi thăm hoà thượng Trí Dũng thì đuợc cán bộ cho biêt hoà thượng bệnh nặng, muốn gửi thư từ hoặc tiền bạc, cán bộ sẽ nhận lãnh và giao cho hoà thượng.
Sự tình chùa Một Cột Thủ Đức cũng là hiện tình của các chùa chiền và Phật giáo Việt Nam hiện nay bị cộng sản thao túng.




Ngoài ra, Phật giáo đang gặp nhiều khó khăn khác như:
Chùa chiền lâu năm hư hại không tiền sửa chữa.
Một số chùa chiền bị tư nhân hoặc cơ sở nhà nước lấn chiếm.
Một số bị tư nhân hay các cơ quan nhà nước phá hoại như các chùa chiền ở Đồng Đăng Kỳ Lừa, Non Nước( Ngũ Hành sơn) Đà Nẵng, Bửu Long Biên Hòa ...đã hư hại vì tệ nạn nổ mìn phá núi lấy đá.
Một số công an giả sư chiếm chùa , hoặc bọn lưu manh theo cộng sản lấy chùa làm phương tiện kinh doanh, hay lường gạt,làm hoen ố thiền môn.
Một số có thể do công an tổ chức, có thể do bọn lưu manh bắt trai gái cạo đầu khoác áo vàng đi khất thực để kiếm tiền , dò la tin tức, và dò xét nhà giàu để trộm cướp. Trụ sở nhóm này ở khu Fatima,ngoại ô Saigon.
Cộng sản là kẻ thù của dân tộc và đạo pháp.
Những người yêu nước Việt Nam, yêu Phật giáo hãy sát cánh bên nhau tiêu diệt cộng sản để phục hưng Việt Nam và phục hưng Phật giáo.

1998




BÀI II: GIAI ĐOẠN 1995-2008


Sau 2000, tư bản đầu tư vào Việt Nam và cộng sản Việt Nam càng giàu sụ, trở nên một thứ tư bản đỏ kiêu ngạo, hống hách và tàn ác công khai. Trong khi đó dân chúng càng nghèo khổ lại bị chúng lừa đảo , bóc lột, phải đem thân đi làm tôi mọi và làm gái bốn phương trời! Những dân thôn quê theo cộng sản như Củ Chi, Bến Tre, nay càng thấy rõ dã tâm của cộng sản. Vì vậy, càng ngày, cộng sản càng thất bại tại quốc nội và hải ngoại. Càng thất bại cộng sản càng điên rồ quyết phá hoại Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và Cộng đồng hải ngoại. Dã tâm của chúng được thể hiện qua nghị quyết 36 của cộng sản Việt Nam. Cộng sản đã thực hiện các thủ đoạn khủng bố , dụ dỗ. và lừa đảo


1.Khủng bố, vu vạ:
Tại VIệt Nam, nếu ai không theo chúng thì bị chúng vu cho tội nọ, tội kia, rồi bị trục xuất ra khỏi chùa hoặc bị giam cầm. Tại hải ngoại, những vị sư can trường thì bị chúng vu vạ những điều xấu. Việc thông thường là chúng dùng phụ nữ, trẻ con đến chùa rồi chụp hình, vu cáo sư tội hãm hiếp. Ai yều bóng vía, sợ hãi phải đầu hàng chúng, rồi bị chúng sai khiến vào đường phản đạo pháp, phản nhân dân.



2. Dụ dỗ:
Tại quốc nội thì chúng khủng bố, không cần phải dụ dỗ. Tại hải ngoại thì chúng dùng chính sách phỉnh nịnh dụ dỗ nhất là những kẻ háo danh, háo lợi. Cái chính là dùng tiền bạc, địa vị. Trong tôn giáo cũng có nhiều kẻ giống Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ.
Một số tu sĩ trong nước đã đã cam tâm làm tay sai công sản như Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ, và gần đây là Lê Mạnh Thác, Tuệ Sĩ. .
Thích Trí Dũng, Thích Thanh Từ cũng như hồng y Phạm Minh Mẫn 80-90 tuổi lụ khụ cũng phải ra hải ngoại quyên tiền cho cộng sản dưới danh nghĩa xây cơ sở giáo hội hay cứu trợ thiên tai, giúp dân nghèo và trẻ khuyết tật..


Tại hải ngoại, một số tu sĩ hay cư sĩ như Trần Quang Thuận, Thích Quảng Ba, Thích Bổn Đạt.. . cũng nằm trong những trường hợp trên. Không riêng Phật giáo mà Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo cũng có một số người vì danh lợi, vì sợ hãi hoặc vì một tỳ vết nào đó mà phải trầm luân.




Những kẻ này theo cộng sản, cam tâm làm nô lệ, đồng lõa với bọn bán nước, cướp tài sản nhân dân và đất đai tổ tiên, nhưng họ vẫn lên giọng đạo đức : xóa bỏ hận thù, cầu nguyện cho kẻ ác, hòa hợp hòa giải. cứu trợ đồng bào, xây dựng chùa chiền nhưng thực sự dưới chiều bài này là làm tiền cho cộng sản và thực hiện những mệnh lệnh cộng sản nhằm đánh phá cộng đồng. Không những thế, bọn cộng sản Việt Nam cũng như bọn quan thầy chúng là cộng sản Trung Quốc đã cho công an đánh phá đạo Phật nhiều mặt, trong đó có mục đich triệt hạ Phật giáo bằng cách cho bọn công an giả sư, ăn uống rượu thịt, cờ bạc và đĩ điếm, trai gái công khai ở chùa chiền.


Thực ra, trong những nhà sư quốc nội và hải ngoại có những kẻ là cộng sản đội lốt sư để hoạt động trước và sau 1975. Ngày nay, một số người ra hải ngoại, giả làm sư, kêu gọi Phật tử mua chùa, góp tiền để họ có tiền gửi về cung phụng cho các vua quan tại Việt Nam và làm cơ sở hoạt động, phục vụ các tổ chức buôn lậu, rửa tiền, trồng cỏ, sản xuất bạch phiến,cùng nhập cảnh bất hợp pháp.Bên cạnh cộng sản từ quốc nội ra, có một số người ở hải ngọai vì danh, vì lợi nhất là những thanh thiếu niên bụi đời, vô gia cư dễ bị cộng sản sai khiến và lợi dụng.Cộng sản nay tung tiền, lợi dụng từ ông tướng tá, bộ trưởng cộng hòa cho đến văn thi sĩ, ca sĩ và bọn lưu manh làm tay sai cho chúng.




Lực lượng cộng sản ngày càng đông vì số nhân viên sứ quán Việt Nam đông đảo, số người Việt Nam du lịch, số du học sinh, số người xuất cảnh theo hôn nhân giả,hôn nhân thật. . .Trong số này không ít là cộng sản trà trộn, họ là công an, là gián điệp, là biệt kích.


Năm 2008, một biến cố lớn xảy ra cho Phật giáo Việt Nam sau nghị quyết 36 của cộng sản. Một số sư chống cộng đã đầu hàng như Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ. . . Tại hải ngoại, giáo chỉ 9 của Ngài Huyền Quang và Quảng Độ đình chỉ hoạt động Phật giáo hải ngoại, vả lập một ban đại diện khác. Giáo chỉ này ra đời kịp thời cho nên tránh được sự đảo chánh của một số tăng ni xưa nay hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Thống nhất nay trở cờ theo cộng sản như Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ. Một số sư công khai hoạt động cho cộng sản, họ chống giáo chỉ 9 của Tăng Thống Huyền Quang. .

Năm 2008, một số sư công khai hoạt động cho cộng sản, họ chống giáo chỉ 9 của Tăng Thống Huyền Quang. . Nay họ cũng dùng danh hiệu Phật giáo Thống Nhất để đánh lận con đen. Phật tử và đồng bào cũng như thế giới đã tín nhiệm hai vị sư Huyền Quang và Quảng Độ cùng giáo hội Phật giáo thống nhât. Chống lại giáo chỉ,chống lại hoà thượng Quảng Độ nghĩa là làm tay sai cho cộng sản.


Tại hải ngoại,mọi người đều có tự do kể cả người cộng sản. Họ không bị ai khủng bố, bỏ tù hay sát hại cho nên họ càng lộng hành, lộ rõ bộ mặt gian manh.

Đứng về lập trường dân tộc và tôn giáo, chúng ta cần nhận rõ những điểm sau:
1. Đừng mắc mưu cộng sản.
2. Phải phân biệt thiện và ác. Không tôn giáo nào khuyến khích cộng tác với bọn gian ác. Những ai làm tay sai cho bọn bán nước, hại dân đều là bọn ác quỷ, mặc dù chúng mặc áo thầy tu hay kẻ lên giọng nhân từ, đạo đức.
Đức Phật dạy rằng người Phật tử làm làm lành, lánh dữ, phận biệt Thiện và Ác như kinh Pháp Cú đã nói:

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành.
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo

諸惡莫作,眾善奉行,自淨其意,是諸佛教

Phải làm điều lành
Nên tránh điều quấy.
Để lòng trong xanh
Ấy lời Phật dạy.

Phật giáo quan niệm rằng người Phật tử nhất là các sa môn phải có Giới, Định Tuệ, Theo cộng sản, theo bọn cướp của, giết người, bọn bán nước hại dân là không giữ giới, thì không có định tuệ, bọn đó tu hành làm gì cho uổng công!
Trong các tôn giáo thường có những kẻ tham danh lợi. Tục ngữ tây phương có câu:” Cái áo không làm nên ông thầy tu” là vậy, Đức Phật khuyên các đệ tử nên phân biệt người chân tu và kè tu hành giả mạo và phải có thái độ nghiêm khắc với chúng.
Đức Phật dạy:




-“ CÓ những tỳ kheo mà các đệ tử không nên giao thiệp. Đó là hạng tỳ kheo mà giới định tuệ thấp kém. Các đệ tử hãy lánh xa bọn này ngoại trừ lòng thương hại chúng(3).

- CÓ những kẻ đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn sau, co tay, duỗi tay, mang đại y, mang bình bát thì các tỳ kheo vẫn đối xử như là những tỳ kheo tốt nếu không thấy họ lỗi lầm gì. Nhưng khi thấy họ phạm tội, và biết rõ kẻ ấy là một sa môn giả hiệu, ra môn rác rưởi, thì phải duổi người ấy ra ngoài. Tại sao vậy ? VÌ không thể để cho họ làm ô nhiễm các tỳ kheo lương thiện khác. (4)



Chúng tôi hy vọng đồng bào sáng suốt mà đối xử thích đáng với bọn cộng sản và tay sai. Nhiều Phật tử thắc mắc hiện nay không rõ chùa nào là chùa cộng sản, chùa nào là chùa quốc gia, xin đọc kỹ lời Phật dạy ở trên ( Pháp Cú và Tăng Chi bộ kinh ) và các kinh điển khác. Phật ở đâu? Phật ở tâm chúng ta. Chúng ta ai cũng cò bàn thờ Phật thì nên thực hành tu tại gia. Nếu khi có thân nhân lìa trần, thì cần ban hộ niệm là những Phật tử thân cận, không cần những sư quốc doanh và sư gian manh hành lễ vi bọn xấu đó chỉ làm tủi hổ vong linh thân nhân ta mà thôi!
10-2008
____________



Chú thích:
1. Câu đối của Chu Tử
2.Thành tích của Minh Châu được đang trong một đặc săn Phật giao,Saigon khoảng 1990.

3. Bhikkhus, who is the person that should not be associated? Bhikkhus, a certain person is below par in virtues, concentration and wisdom. Such should not be associated unless out of sympathy and compassion(Sơn TRung dịch theo bản Anh Ngữ của Ni cô Upalavana ( AN. I, 3. Tika Nipàta 3. Puggala. )

4. To any person it might occur in his approaching, receding, looking on, looking back stretching and bending, bearing the three robes, taking bowl and robes, he is the same as any other good bhikkhu - as long as his fault is not seen. When his fault is seen, he will be known as a highway robber recluse, a prattling recluse, a recluse of rubbish. He should be known thus and others should not be atoned for it. What is the reason? May other good bhikkhus not be spoilt. (Sơn TRung dịch bản Anh ngữ của Nicô Upalavana. (AN.vol.5,Atthakanipàta. Mettàvaggo1..Upalavana ).


TIN TỨC PHẬT GIÁO: ĐẠI HỘI PGTNHN TẠI MỸ



Wesminster : Lễ an vị Phật , họp báo về hiện tình Phật Giáo và khai trương cơ sở mới của Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại Hoa Kỳ .
- Trần Sơn -



Westminster ( California): Một cuộc họp báo về tôn giáo có tầm vóc thật quan trọng được tổ chức tại Chùa Điều Ngự, thành phố Westminster, thuộc quận hạt Orange County vào chủ nhật ngày 19 tháng 10 năm 2008 với sự tham dự đông đảo các cơ quan truyền thông báo chí, đồng bào Phật Tử tại địa phương và các thành phố thuộc miền Nam tiểu bang California như Los Angeles, River Side, San Diego.




Cuộc họp báo là một phần riêng biệt trong chương trình sinh hoạt của Chùa Điều Ngự được kéo dài trong hai ngày cuối tuần qua các khóa tu học đặc biệt, khai trương trụ sở hành hoạt của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Hải Ngọai tại Hoa Kỳ.

Pháp sư Niên Trưởng Thích Giác Đức, Phó Chủ Tịch GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Thượng Tọa Thích Giác Đẳng, Tổng Uûy Viên Truyền Thông, Gs Võ Văn ái, Tổng Ủy Viên Ngoại Vụ VPII Viện Hóa Đạo, Phát Ngôn Viên Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế trình bày mục đích buổi họp báo và là những người trực tiếp trả lời những câu hỏi của các cơ quan truyền thông báo chí.




Pháp sư Niên Trưởng Thích Giác Đức đã tiết lộ trước báo chí và công chúng những điều bí mật mà Giáo Hội đã dấu kín từ bấy lâu nay và cũng vì những lý do đó Hội Đồng Lưỡng Viện đã cấp tốc soạn thảo và phổ biến Giáo Chỉ số 9 kịp thời đúng lúc để chấn chỉnh lại hàng ngũ lãnh đạo Phật Giáo trong tình trạng vàng thau lẫn lộn, đạo pháp đang bị chính quyền cộng sản âm mưu lũng đoạn. VĂN PHÒNG II VIỆN HÓA ĐẠO tại hải ngoại sẽ đại diện cho đồng bào Phật Tử tiếp tục cuộc đấu tranh nếu VĂN PHÒNG I VIỆN HÓA ĐẠO trong nước bị tiêu diệt:

Những điều này từ lâu GHPGVNTN cố tình dấu kín vì không muốn vạch áo cho người xem lưng, nay buộc lòng phải nói ra, đó là:

·Việt gian cộng sản Nguyễn tấn Dũng đã hạ lệnh xóa sổ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất càng sớm càng tốt.


·Bắt Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ phải đi làm việc ở cấp phường.
·02 tướng công an Việt cộng Trần Tư và Nguyễn văn Hưởng nhiều lần chiêu dụ Cố Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang ra Hà Nội làm việc theo lệnh của đảng cộng sản.
·600 tờ báo và các cơ quan truyền thông, truyền hình của tập đoàn Việt gian cộng sản luôn luôn đưa Hòa Thượng Thích Quảng Độ ra bôi bác chưởi rủa nhằm triệt hạ uy tín của ngài.


·Cộng sản thành lập nhóm TĂNG NI HẢI NGOẠI với hơn 2000 sư quốc doanh ra từ trong nước, trong số này có 240 sư được đào tạo trong 04 năm, 1 tuần học 7 ngày, 3 ngày học kinh kệ, 4 ngày học về tình báo, người cháu của Hoà Thượng Thích Chánh Lạc là một trong số những tăng ni này.



·Lập ra nhóm THÂN HỮU GIÀ LAM, nhóm VỀ NGUỒN để thỏa hiệp với cộng sản với lý luận cò mồi ru ngủ những người nhẹ dạ: " chờ khi cộng sản yếu thì sẽ quật lại".
·Ba nhóm TĂNG NI HẢI NGOẠI, THÂN HỮU GIÀ LAM, VỀ NGUỒN đang thực hiện những điều mà nhà cầm quyền cộng sản đã làm trong 33 năm qua nhưng luôn luôn thất bại: đó là đánh đổ uy tín Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, tiêu diệt toàn bộ các cơ cấu tổ chức của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất trong và ngoài nước, đặc biệt là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế.
Một số câu hỏi đã được các đại diện cơ quan truyền thông báo chí đặt ra cho Ban Tổ Chức và tất cả đều được trả lời thỏa đáng với những tràng vỗ tay tán đồng của tất cả đồng bào Phật Tử.










Phóng Viên Thanh Toàn, Đài Truyền Hình STBN thuật lại một câu chuyện thật ý vị đã cho mọi người thấy rõ thêm bản chất háo danh hám lợi của những kẻ đang tiếp tay với Việt gian cộng sản nhằm tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo, một tôn giáo lớn của Việt Nam đã có mặt trên 2 ngàn năm trong lòng dân tộc:



* Lời Thanh Toàn: . . . được giấy phép của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự đồng ý của chính quyền cộng sản, Thanh Toàn đã về Việt Nam làm phóng sự, trong thời gian Hà Nội đang tổ chức Đại Lễ Phật Đản Thế Giới, Thanh Toàn xin vào gặp giáo sư Lê Mạnh Thát, trưởng ban tổ chức để phỏng vấn:
-Thanh Toàn: xin chào giáo sư.
-Lê Mạnh Thát: anh phải gọi tôi là hoà thượng.
-Thanh Toàn: !!!! Thanh Toàn nghĩ ông ta muốn mọi người tôn vinh ông ta là hoà thượng, nhưng Thanh Toàn thấy tóc ông ta còn dài gấp mấy lần tóc Thanh Toàn !!!
-Lê Mạnh Thát: đây không phải là vấn đề của Phật Giáo, mà là việc của chính quyền Việt Nam đối với quốc tế, các anh chớ có xen vào.
-Thanh Toàn: ???? .

* Phần nhận xét sau cùng của Giáo sư Lưu Trung Khảo và Ông Lý Đại Nguyên cũng là nhận xét chung của đa số mọi người:

·Những tổ chức nào không phải là tổ chức do 02 Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ lãnh đạo đều là những tổ chức tiếm danh, đang dùng kế sách Sư đánh Sư do bọn đạo tặc cộng sản chỉ đạo.
·Từ nay đồng bào Phật tử ở Quận Cam đã có một mái nhà để tu học, để tôn thờ Đức Thế Tôn.
·Chùa Điều Ngự là mái Chùa của chúng ta, cho chúng ta.

Buổi họp báo kết thúc vào lúc 3 giờ 30, sau đó Lễ An Vị Phật đã được cử hành theo nghi thức tôn giáo, với sự hiện diện đông đảo của chư vị Tăng Ni, đồng bào Phật Tử và đại diện các cơ quan chính quyền sở tại.




Trần Sơn
Lược thuật từ Westminster..

LÊ XUÂN NHUẬN * TỔNG-THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM BÍ-MẬT TIẾP-XÚC VỚI CỘNG-SẢN VIỆT-NAM



CỐ TỔNG-THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
BÍ-MẬT TIẾP-XÚC VỚI CỘNG-SẢN VIỆT-NAM


Đến nay thì việc họ Ngô bắt tay với ông Hồ Chí Minh cộng-sản Bắc Việt không còn là một nghi-vấn, như vài nhân-vật thân-Diệm trước đây đã cố che-giấu vụ này (xin xem thêm phần "PhụLục1" dưới cùng).



Theo Ông QUÁCH TÒNG ĐỨC

(Cựu Đổng Lý Văn Phòng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm):



Theo tiến-sĩ Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa, trong bài “Mạn Đàm với cựu Đổng-Lý (Văn-Phòng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm) Quách Tòng Đức” thì:

[Ông Ngô Ðình Nhu đã tìm cách thương-lượng với Bắc Việt để loại ảnh-hưởng của Hoa Kỳ. Ông Nhu đã mời Manelli, Trưởng Phái-Đoàn Ba Lan trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đình-Chiến để nhờ liên-lạc với Hà Nội qua Ðại-Sứ Pháp là Roger Lalouette đưa đề-nghị mở cuộc tiếp-xúc giữa 2 bên. Bắc Việt chấp-nhận ngay. Ông Nhu giả vờ đi săn với ông Cao Xuân Vĩ ở Cao Nguyên rồi nửa đường rẻ xuống vùng Tánh Linh ở Phước Tuy để gặp đại-diện của Bắc Việt. Cụ Cao Xuân Vĩ đã xác-nhận điều này. Trong cuộc gặp-gỡ, 2 bên đồng ý tái-lập trước tiên về liên-lạc bưu-điện và sau đó về giao-thương để tiến tới thống-nhất đất nước trong hòa-bình. Sau cuộc tiếp-xúc đó, ông Nhu cố ý tiết-lộ nội-dung cuộc tiếp-xúc cho báo-chí biết để ngầm thông-báo cho Washington.



Ông Quách Tòng Đức xác-nhận là “chính ông Nhu có đề-cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng-lãnh tại Bộ Quốc-phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán-bộ xây-dựng Ấp Chiến lược khoá 13.”


Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu xử dụng trung gian cuả bốn đại sứ: Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon, để liên lạc với Hànội. Ông QTĐ nói có nghe dư luận này nhưng không bieát rỏ chi tiết. Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy.




Song song với sự tiết-lộ của ông Nhu, Tổng-Thống Pháp De Gaulle lên tiếng kêu gọi loại bỏ “ảnh-hưởng ngoại-quốc” ra khỏi VN, còn Hồ Chí Minh lên tiếng nói rằng "một cuộc ngưng bắn có thể được 2 bên thỏa-thuận.”



Ông Nhu đã hội kiến với Maneli lần đầu vào ngày 25/8/63 tại Bộ Ngoại giao VNCH và kế đó là vào ngày 2/9/63 tại phòng đọc sách của ông (“War of the Vanquished”, Mieczyslaw Maneli).

Ông Quách Tòng Đức xác-nhận: một Tết Nguyên-Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng-lẫy được trưng-bày nơi phòng khánh-tiết Dinh Độc-lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tịch Nhà nước Cọng hoà Xã hội Miền Bắc”. Ông Đức kết-luận: “hành-động độc-lập (không cho Mỹ biết) của ông Nhu đã làm Washington tức-giận hơn. TT Kennedy bật đèn xanh cho Lodge tiến-hành cuộc đảo-chánh nhanh chóng hơn."



Theo một tài-liệu cho là di-chúc của Hồ Chí Minh, thì: “Ðầu năm 1963, hồi đó tôi (Hồ Chí Minh) còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt-chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân-viên Ủy-Hội Kiểm-Soát Quốc Tế Ðình-Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người. Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam.”]

*

Ta thử so-sánh giữa 2 con đường, vì chỉ có 2 con đường mà thôi:

-- Con đường thứ nhất là tạm uyển-chuyển nhường-nhịn Đồng-Minh Hoa-Kỳ để đạt thắng-lợi diệt Cộng, rồi sẽ tranh-đấu giành lại thế mạnh của mình, một việc dễ làm đối với chú Sam trong bối-cảnh khai-phóng của Thế-Giới Tự-Do. Về điểm này, ông Hồ Chí Minh có một câu nói để đời. Năm 1946, họ Hồ rước Pháp, đuổi Tàu; được hỏi, ông trả lời: “Tôi thà chịu ngửi cứt Tây 5 năm, còn hơn phải ăn cứt Tàu suốt đời”. Ông giải-thích thêm: “Pháp là ngoại-bang, ở xa, sẽ cút; còn Tàu, láng-giếng, sẽ ở lại luôn”. Vậy ta cũng có thể nói: “Mỹ là ngoại-bang, ở xa, sẽ rút; còn Cộng, nội-thù, sẽ diệt chúng ta.”

-- Con đường thứ hai là chịu hòa-giải hòa-hợp với họ Hồ (nghĩa là nạp mạng cho địch) để rồi nếu không bị họ thảm-sát như các nhân-vật Quốc-Gia trong vụ Ôn Như Hầu (CSVN bất-thần tấn-công vào trụ-sở VN Quốc Dân Đảng ở Hà Nội trong đêm 27-6-46 thảm-sát hầu hết các lãnh-tụ các đảng-phái đối-lập) thì cũng trở thành bù-nhìn tay-sai cho họ nuốt gọn Miền Nam; nhưng đã vào tròng cộng-sản độc-tài thì khó lòng mà tháo cũi sổ lồng.

Ông Diệm đã chọn con đường thứ hai.

Mãi đến hôm nay, có người vẫn cho con đường thứ nhất là sai (nghĩa là bị Mỹ cướp hết, hoặc đa-số, quyền-lợi của quốc-gia mình. Vậy thì Nhật-Bản, Tây-Đức, Nam-Hàn (ngay cả Pháp nữa)... thì sao? họ cũng bị Mỹ "chèn-ép" lúc đầu, sao họ trở nên giàu mạnh từ bao lâu nay?

Thử hỏi: một người dân Việt miền Nam nào đó mà có lời-lẽ hoặc cử-chỉ cho là xúc-phạm đến Ngô Tổng-Thống thì người đó có yên thân hay không, huống gì tự ý hành-động (độc-lập) ra ngoài chính-sách đường-lối của gia-đình họ Ngô thì bị mất mạng là chuyện tất-nhiên. Vậy thì, khách-quan mà nói, họ Ngô đơn-phương thương-lượng với kẻ thù chung là cộng-sản Bắc Việt mà không hội-ý với Mỹ trước (điều mà Đồng-Minh cần làm với nhau), lại với ý-đồ đầu-hàng cộng-sản, loại bỏ ảnh-hưởng của Hoa Kỳ, tức là phản bội Đồng Minh, thì có lẽ nào Hoa-Kỳ khoanh tay chịu đựng hay sao? (Huống chi then-chốt vẫn là lòng dân miền Nam Việt-Nam).

Phản-bội Đồng-Minh tức cũng đồng-thời phản-bội cử-tri, ân-nhân, và chí-hữu của mình.



LÊ XUÂN NHUẬN


Phụ chú: Vị nào muốn tin là cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nếu không bị giết, có thể giữ vững Miền Nam; và ông Hồ Chí Minh thật lòng khen ngợi, muốn "sống chung hòa-bình" với ông Ngô Đình Diệm, cùng thành-tâm tiếc-thương khi ông Diệm chết (chuyện này do một đồ-đệ của họ Ngô bịa ra), xin mời đọc bài của Lê Chân-Nhân (một bút-danh khác của Lê Xuân Nhuận) đã được phổ-biến trên các diễn-đàn liên-mạng mấy năm vào cuối thế-kỷ thứ 20:



A



Giã-Từ Thế-Kỷ Hai Mươi:

CỐ TỔNG-THỐNG NGÔ ÐÌNH DIỆM MUỐN DÂNG MIỀN NAM VIỆT-NAM CHO CỘNG-SẢN BẮC-VIỆT



Trước khi giã-từ Thế-Kỷ 20, tôi tưởng chúng ta cũng nên thử tìm giải-đáp cho một thắc-mắc vẫn còn tồn-đọng từ thập-niên '60 của Thế-Kỷ 20:


1/ Cứ theo nhiều người (trong đó có tôi) thì chúng ta phải đặt chủ-quyền quốc-gia lên trên hết; nói cách khác, vì tinh-thần dân-tộc, chúng ta không chấp-nhận để cho ngoại-bang lấn-lướt quyền quyết-định việc nước của chúng ta. Do đó, việc cố Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm chống lại Hoa-Kỳ trong dự-định đổ thêm nhiều quân vào VNCH (Mỹ-hoá chiến-tranh Việt-Nam) là một việc đúng.

2/ Cứ theo một số nhân-vật Hoa-Kỳ (trong đó có cựu Bộ-Trưởng Quốc-Phòng McNamara, cựu Ngoại-Trưởng Henry Kissinger) thì Mỹ không nên tán-đồng hay nhúng tay vào việc lật đổ chế-độ Diệm, và họ rất tiếc là Hoa-Kỳ đã làm như thế.

3/ Một số nhân-vật Quốc-Gia thân-Diệm dựa vào các ý-kiến trên của phiá Hoa-Kỳ để khẳng-định rằng nếu không có cuộc chính-biến 1-11-1963, nghiã là nếu cố Tổng-Thống Diệm vẫn còn sống và tiếp-tục lèo-lái công-cuộc chống Cộng của quốc-dân Việt-Nam (bất-chấp thời-lượng nhiệm-kỳ, từ 1955 đến 1975 là 20 năm!), thì Việt-Nam Cộng-Hoà hẳn vẫn còn tồn-tại và phát-triển, giàu-mạnh chứ không sụp-đổ như vào Tháng Tư Đen năm 1975.

4/ Thế nhưng, nếu ta đọc hết và đọc kỹ các ý-kiến của Mỹ chống việc chống Diệm, nghiã là ước chi Hoa-Kỳ hồi đó không gia-tăng lực-lượng và hoạt-động quân-sự mà cứ để cho ông Diệm trực-tiếp tiếp-xúc với Bắc-Việt để cả hai miền Nam Bắc cùng tự giải-quyết vấn-đề nội-bộ Việt-Nam với nhau, thì ta thấy rằng các nhân-vật Mỹ tên-tuổi kể trên đã lý-luận khác hẳn, về kết-quả của việc ông Diệm bắt tay với Bắc-Việt: Không phải là VNCH vẫn còn đứng vững, mà là Bắc-Việt “thống-nhất Việt-Nam” (nuốt chửng Miền Nam) sớm hơn, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt sớm hơn, và, quan-trọng hơn hết là, Mỹ đã có thể tránh được thiệt-hại lớn-lao (về vật-chất là lên đến hơn năm-vạn-tám mạng ngưòi, và trăm-tư-tỷ đô-la; và về tinh-thần là ô-danh bại-trận, thay vì “được” ông Diệm – ông Diệm sau ngày thỏa-hiệp với CSVN -- yêu-cầu rút ra, rút ra trong danh-dự -- xem "Phụ-Lục 2").


5/ Có một số người vẫn còn tin rằng: nếu để cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm toàn-quyền và tự-lực lo lấy, thì Mỹ đã khỏi tổn-thất như trên, mà Việt-Nam cũng đã thoát được các thảm-cảnh đã xảy ra, nhất là không bị cộng-sản tràn ngập. Vấn-đề tôi xin đặt ra hôm nay là: Về phiá cộng-sản thì họ đã có quyết-tâm và kế-hoạch thôn-tính Miền Nam (qua việc cài lại cán-bộ nằm vùng tại Miền Nam sau Hiệp-Định Geneva 1954, nhất là qua Nghị Quyết 15 đầu năm 1959 chủ-trương bạo-lực cách-mạng giải-phóng Miền Nam khiến Tổng-Thống Diệm phải ban-hành Luật 10-59, cụ-thể là việc thành-lập "Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam" từ năm 1960) với sự viện-trợ tối-đa của Khối cộng-sản quốc-tế; về phía Hoa-Kỳ thì họ hẳn thấy chỉ dùng chính-trị, kinh-tế, ngoại-giao... thì vẫn chưa đủ, nên phải dùng đến quân-sự (đổ thêm quân vào Việt-Nam).




Vậy thì, về phiá VNCH, nghiã là về phần cố Tổng-Thống Diệm, -- người đã tin dùng cán-bộ tình-báo chiến-lược Vũ Ngọc Nhạ của Bắc-Việt làm cố-vấn cho mình, cùng với nội-tuyến-viên Phạm Ngọc Thảo được Tổng-Giám-Mục Ngô Đình Thục nhận làm con nuôi -- “chúng ta” làm cách thế nào mà thắng cộng-sản (ít nhất thì cũng còn nguyên, không bị cộng-sản lấn chiếm) khi mà cộng-sản chắc-chắn là quyết tiến lên, Hoa-Kỳ rút ra, phủi tay, không còn phối-hợp và yểm-trợ về quân-sự, dĩ-nhiên giảm-thiểu nếu không cắt hết viện-trợ kinh-tế và các mặt khác, trong lúc chúng ta không được nước ngoài giúp đỡ (Mỹ mà rút đi thì ai mà chịu nhảy vào?), thua sút Cộng-Sản cả về dân-số, quân-số, vũ-khí, tiếp-liệu, viện-trợ, khả-năng tự-túc, nhất là đoàn-kết và ổn-định nội-tình?



LÊ CHÂN-NHÂN


B



Ông Hồ Chí Minh trả lời phái-bộ ngoại giao Ấn-Độ rằng "He is a patriotic man”: ông Ngô Đình Diệm là một người yêu nước (Cũng như sau này -- thật không? -- họ Hồ tỏ ý thương tiếc trước cái chết của họ Ngô). Câu nói (khen) cuả họ Hồ đối với họ Ngô chỉ là một câu nói "chính trị", và "ngoại giao".



Ông Hồ Chí Minh cần (tự) đánh bóng thêm con người cuả mình, nên phải học đòi nói-năng lịch-sự, nhất là khi nói với một nhà ngoại-giao nước ngoài. (Ngày xưa, bên Tàu, tướng của phe này bắt được tướng của phe kia, đã công-khai khen tài-năng & tiết-tháo của kẻ thù, rồi mới ra lệnh chém đầu!) Quan-trọng hơn hết, ông ấy còn mong thuyết-phục ông Ngô Đình Diệm chịu tổ-chức tổng-tuyển-cử, và xa hơn nữa là chịu "về" với mình, thì không lẽ chê-bai người ta để rồi mình lại sẽ ngồi chung bàn hội-nghị, ký chung văn-bản với người ta? hoặc giả mình sẽ thu-dụng người ta làm người hợp-tác với mình?

Câu nói (khen) cuả ông Hồ Chí Minh về ông Ngô Đình Diệm thật ra là một câu nói cố ý "giết người".



a) Trước ông Ngô Đình Diệm: vào các năm 1945 và 1946, ông Hồ Chí Minh đã "khen" các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... nồng-nhiệt đến mức nào để các ông ấy chịu đứng chung vào "Chính-Phủ Liên Hiệp" do ông Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch; để rồi sau đó, may mà họ trốn kịp chứ không thì họ cũng đã bị giết cùng với các nạn-nhân khác trong vụ Ôn Như Hầu rồi.



b) Sau ông Ngô Đình Diệm: vào các năm 1973, 1974, và đầu năm 1975, ông Hồ Chí Minh (qua các lãnh-tụ Đảng thừa-kế chủ-trương đường-lối cuả mình) đã "khen" ông Dương Văn Minh ngon-ngọt đến mức nào (Hà Nội tuyên bố chỉ nói chuyện với ông DVM mà thôi, tức là công-nhận ông nầy là một "nhà yêu nước") để ông Dương Văn Minh sa vào bẫy, nhận chức Tổng-Thống miền Nam trong tình-hình đã nát bét vô-phương cứu-chữa rồi, tức là giết chết ông ấy, vì đầu-hàng tức là tự-sát (thân-bại danh-liệt, chết cả về mặt tinh-thần).



c) Đối với ông Ngô Đình Diệm: ông Hồ Chí Minh biết chắc là những gì đại-sứ Ấn Độ nói với, và những gì ông này nghe từ, ông Hồ Chí Minh, đều sẽ lọt vào tai CIA (Ấn Độ trung-lập nghiã là "đu dây" giữa cộng-sản và tư-bản, chứ không phải thuần-túy thân cộng-sản). Trong trại "cải-tạo", tôi có đọc một cuốn sách dịch từ tác-phẩm của Liên-Xô, kể thành-tích Liên Xô (chỉ một mình Liên Xô mà thôi) đánh thắng Đức Quốc-Xã, và (cũng chỉ một mình) Liên Xô lôi được Đức Quốc-Xã ra Toà-Án Quốc Tế, tác-giả đã để lộ ra là hầu hết phương-tiện tổ-chức TAQT, kể cả từng chiếc xe Jeep cho các sĩ-quan Liên Xô đi, từng vật-phẩm văn-phòng, v.v... đều do Hoa Kỳ cung-cấp. Trong chiến-tranh Việt-Nam cũng thế, sau 1954 với Ủy-Hội Quốc Tế Kiểm-Soát Đình Chiến, là 1973 với Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn gồm Ba Lan, Hung Ga Ri, Iran, và Canada (sau đó thì Indonesia thay thế) cũng như Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên rồi 2-Bên (có Cộng-Sản Bắc-Việt và MTGPMN trong đó), tất cả trụ-sở làm việc, phương-tiện di-chuyển (như tàu bay, xe hơi), tài-xế, công-nhân, thậm chí lương-thực, v.v... đều do Hoa Kỳ đài-thọ. Dĩ-nhiên tai+mắt cuả CIA đã được gài vào (xem hồi-ký “Cảnh Sát Hóa” của Lê Xuân Nhuận).



Ông Hồ Chí Minh lại còn công-khai gửi vào miền Nam biếu ông Ngô Đình Diệm một cành hoa đào để chúc Tết nữa!

Do đó, ông Hồ mà "khen" (và làm thân với) ông Ngô là một câu hỏi mà CIA cần tìm câu trả lời.




Rốt cuộc, ông Ngô Đình Diệm đã mắc mưu ông Hồ Chí Minh, tìm cách lén-lút liên-lạc với đối-phương, và bị CIA biết được, nên đã đánh mất tín-nhiệm và hậu-thuẫn cuả Hoa-Kỳ, kết-quả là cái chết.



(Về phiá nội-bộ Miền Nam, chế-độ Ngô Đình Diệm đã đánh mất lòng dân, nhiều nhất là kể từ đầu thập-niên '60, cụ-thể với vụ 18 nhà chính-trị trong đó có đến 11 Tổng-Trưởng, Bộ-Trưởng cuả chính Đệ-Nhất Cộng-Hoà họp tại nhà hàng Caravelle ra Tuyên-Ngôn đòi ông NĐD thay-đổi chính-sách vào tháng 4-1960, cuộc đảo-chính hụt ngày 11-11-1960, vụ ném bom Dinh Độc-Lập đầu năm 1962, rồi đến việc cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật-Đản, nổ chết người tại Đài Phát-Thanh Huế tối 8-5-1963, tổng-tấn-công chuà-chiền đêm 20-8-1963, rồi Hoà-Thượng Thích Quảng-Đức (và các vị khác) tự-thiêu, Phật-Tử khắp nơi xuống đường, v.v...




Chính ông+bà Trần Văn Chương, Đại-Sứ tại Mỹ và Quan-Sát-Viên tại Liên-Hiệp-Quốc, là cha+mẹ đẻ của bà Ngô Đình Nhu, thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu, Ngoại-Trưởng và là cộng-sự-viên lâu năm nhất của Tổng-Thống Diệm, mà cũng quyết-liệt chống lại chế-độ họ Ngô. Đó là những tín-hiệu, những cảnh-báo trước, từ phía người dân Miền Nam. Hoa-Kỳ đã thấy rõ tính-chất độc-tài hại dân của tập-đoàn họ Ngô và tinh-thần đối-kháng của sĩ-phu và quần-chúng Việt-Nam từ lâu, cũng như biết trước về dự-mưu đảo-chính cuả số tướng VNCH liên-hệ từ nhiều năm qua. Thế nhưng mãi đến tháng 9-1963 Tổng Thống Kennedy mới trả lời báo-chí rằng muốn chiến-thắng Việt-Cộng thì phải thay-đổi chính-sách và nhân-sự cuả chính-phủ Ngô Đình Diệm, và đại-sứ Henry Cabot Lodge mới trực-tiếp đề-nghị Tổng-Thống NĐD cải-tổ (nhưng ông Diệm vẫn không nghe theo!).

Như thế, thái độ và quyết định cuả Hoa Kỳ tùy-thuộc rất nhiều vào lòng dân Miền Nam Việt-Nam.



LÊ CHÂN-NHÂN


Phụ-Lục 1:



Theo ông NGUYỄN HƯNG ĐẠT

(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam, Moscow):



"Vì Mỹ muốn đổ quân vào, nên để thương thuyết, cụ Hồ đã thông qua Đại tá Phạm Ngọc Thảo liên hệ với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cho Đặc phái viên đặc biệt, Tướng Nguyễn Tài - Thứ trưởng Bộ Công An (chứ không phải Nội vụ) của chính phủ VNDCCH đến Sài Gòn. Ông Tài là em ruột nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan. Nhân chứng Đại tá Thảo nói rõ với ông Diệm mình là người CS trước lúc môi giới thương thuyết.


Tướng Huỳnh Văn Cao (trong hồi ký "Một Kiếp Người") đã viết : [Trung Tá Phạm Ngọc Thảo, hiện là sĩ quan của Miền Nam, diện hồi chánh, nhưng đã từng là bạn thân của Lê Duẩn, ngày đám cưới của Thảo tại Thiên Hộ Đồng Tháp thì Lê Duẩn đã đích thân đến dự. Khi tôi còn là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 kiêm Khu Chiến Tiền Giang thì Thảo làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Kiến Hòa, người được Tổng Thống Diệm tin cậy. Trong những giây phút thân tình, Thảo đã thỏ thẻ với tôi: "Nếu Đại Tá Tư Lệnh muốn quen biết với ông Lê Duẩn thì tôi có thể sắp xếp được."



Cho nên đã có lần tôi thưa với cụ Diệm: "Sao Cụ cứ để Trung Tá Thảo làm Tỉnh Trưởng Kiến Hòa lâu vậy, Cụ không sợ Thảo rủ rê cháu theo Cộng Sản hay sao?" Cụ Diệm đáp lại: "Ừ, để xem đứa nào rủ được đứa nào?" Lúc ấy, tôi đã hiểu là Tổng Thống Diệm tin chắc không thể nào Thảo rủ rê tôi được, nhưng đồng thời có nghĩa là Tổng Thống Diệm biết rõ Thảo là Cộng Sản].Ông Diệm cho ông Tài ở ngay bên cạnh mình trong Dinh Gia Long. Nhân vật mà Thiếu tướng Đỗ Mậu, Phụ trách An ninh Quân đội, viết (trong hồi ký "Làm Thế Nào Để Giết Một Vị Tổng Thống") là những nhân vật cao cấp cuả Chính phủ có thấy một người mang một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng con tem trên ve áo, chính là người này.



Ông Nguyễn Tài bị bắt ngay sau Đảo chính 11.1963, bị biệt giam đến cuối tháng 4.1975, may nhờ một hạ sỹ không theo lệnh chỉ huy ném lựu đạn vào xà lim. Anh này báo với Ủy ban Quân quản đến cứu con người liệt hai chân này.Tết Việt nam 1963, thông qua Ủy hội Quốc tế, chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mang vào tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm một cành đào. Tiếc thay,vì không thay đổi được lập trường thoả hiệp với CS mà Mỹ giết ông Diệm. Nhà độc tài Pinochett không bị giết vì không làm điều này."(trong bài viết "Tiểu sử cuả Cụ Hồ Chí Minh cần phải được xem xét lại" – BBC 05-05-2005)



Theo ông NGÔ KỶ

(Ký-giả):



(Tháng 9 năm 1963) ... Trong thời điểm này, Hoa Thịnh Đốn bất mãn việc Pháp đứng làm trung gian giải quyết chiến tranh Việt Nam. Đại Sứ Pháp đến miền Nam Việt Nam thảo luận bí mật với Hồ Chí Minh và Tổng Thống Diệm qua trung gian của người Ba Lan tên Mieczyslaw Maneli, thành viên Polish Member of the International Control Commission, cơ quan này được thiết lập để quan sát Hiệp Định Genève. Trong suốt nhiều tháng, Maneli qua lại Sài Gòn - Hà Nội nhiều lần để tìm giải pháp thương thảo. Vào tháng 07 năm 1963, Bắc Việt đồng ý căn bản là lập chính phủ Liên Hiệp cầm đầu bởi Tổng Thống Diệm để miền Nam trở thành trung lập. Họ muốn Mỹ phải rút quân.(trong bài "Khui hồ sơ "Tối Mật": Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm")



Theo ông VIỆT THƯỜNG

(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam):



"... Nguyễn công Tài đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đình nhà ông Ngô Đình Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đã lựa nhân vật Mã Tuyên, người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đình ông Ngô Đình Diệm.




Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đã tiếp xúc trực tiếp được với Mã Tuyên. Và, cái thời điểm để đưa ý kiến cho Mã Tuyên "gợi ý" với anh em ông Ngô Đình Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uý của quân đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uý Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lý do hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mã Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như "Tự Đức" và cũng có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở châu Á.




Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông Diệm còn vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia đình trị, phải chia quyền lãnh đạo cho các đảng phái cũng như phải có chính sách bình đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ là giải pháp phòng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rõ hơn ý đồ của địch. Những điều này còn là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống tuyền đài.



Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đình (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng không.



Đầu tháng 2-1963, cuộc họp "bí mật" giữa ông Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc họp vẫn còn nằm trong bí mật cho đến nay.

Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mã Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài đến đón ra bưng biền?




Người duy nhất còn lại là Nguyễn công Tài, sau này "tình cờ" làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền Nam đã bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đã cho giam Nguyễn Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-gòn), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi "tham quan" phố xá Sài-gòn. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đã thả Nguyễn công Tài ra..."





Theo ông QUANG PHỤC

(Ký giả, chủ nhiệm “Góp Gió”):



“Chúng tôi nhận định rằng chính gia đình ông (Ngô Đình Diệm), cụ thể là ông bà Ngô Đình Nhu, và Đảng Cần Lao của ông ta đã làm hại ông, khi âm mưu thỏa hiệp với CS Hà Nội từ năm 1958 khi ra lệnh cho các Tỉnh trưởng ngưng bắt các cán bộ cộng sản và thu hồi vũ khí tự động của Bảo An, Dân Vệ, thay vào đó bằng súng mousqueton và dao găm.” (Hồi ký “Công và Tội” của Nguyễn Trân, trang 269)


(trích từ cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 39)



Theo Trung Tướng HUỲNH VĂN CAO:



“Đọc hồi ký Một Kiếp Người của Trung tướng Huỳnh Văn Cao, tới đây thì vấn đề ông Nhu có liên hệ với CS không cần bàn cãi nữa. Cả tướng (Trần Văn) Đôn, tướng Huỳnh Văn Cao và Nha An Ninh Quân Đội của Đại tá Đỗ Mậu đều báo cáo (rằng) Đại tá Phạm Ngọc Thảo là VC nằm vùng, nhưng cả 2 ông Diệm và Nhu lẫn cha Thục vẫn cứ cố ý bảo vệ cho Thảo.


Trong hồi ký Một Kiếp Người của Huỳnh Văn Cao cho biết Đ/tá Thảo còn dám cả gan “móc nối” ông Cao (lúc còn Đại tá), đòi giới thiệu để ông Cao làm quen với Tổng bí thư Lê Duẫn, Các sĩ quan dưới quyền ông Cao rất tức giận vì biết Thảo là VC nằm vùng, đòi giết Thảo (các trang 79-80). Ông Nhu nghe Thảo báo cáo bèn dọa “Kẻ nào đụng tới Thảo (tôi) sẽ bỏ tù rục xương” (trang 90). Đồng thời, nơi trang 84, Tướng Huỳnh Văn Cao còn cho biết cả Đại tướng Harkins cũng nghi ngờ TT Diệm. Bỏi vì cuộc hành quân nào của QLVNCH sắp mở ra mà báo cho Tổng Thống phủ thì VC đều biết trước! Cho thấy người Mỹ, CIA đã biết và theo dõi bám sát ông Ngô Đình Nhu từ lâu. Và người Mỹ nhiều lần đòi Tổng Thống Diệm loại trừ ông Nhu. Các tướng lãnh cũng đòi loại trừ ông Nhu nhưng ông Diệm cương quyết giữ ông Nhu!
(trích từ hồi ký “Một Kiếp Người” của tướng Huỳnh Văn Cao - theo Quang Phục trong cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 30)




Theo NEW YORK TIMES và THE WASHINGTON POST:



Hồ sơ tối mật của Ngũ Giác Đài: Người Mỹ Làm Thế Nào Để Giết Tổng Thống Việt Nam? Ba tác giả Lan Vi, Hồng Hà và Dương Hùng đã sưu tầm, phiên dịch các bài báo đăng trên 2 tờ báo kể trên, trong đó có tiết lộ về những cuộc thảo luận bí mật giữa Tổng Thống Diệm và Hà Nội đằng sau lưng người Mỹ...

(trích từ cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 41)





Theo Trung Tướng TÔN THẤT ĐÍNH

(Cựu Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Thượng Nghị Sĩ VNCH):



“Trong khi đó, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu lại phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge, chạy vào nhà Mã Tuyên là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Không phải cuộc binh biến 1-11-63 đã đưa đến cuộc thảm sát 2 ông, mà chính quyết định liều lĩnh này đã làm cho 2 ông gánh lấy thảm họa! Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với cộng sản mà Mỹ đã biết từ lâu rồi!”
(trích trong cuốn hồi-ký “Nghĩa Bỉển Tình Sông (Hai Mươi Năm Binh Nghiệp” của Tôn Thất Đính, trang 443)



Theo Luật Sư HOÀNG DUY HÙNG

(Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt-động cộng-đồng tại Texas):



(Phỏng dịch:) "Các cuộc gặp họp bí mật với Cộng Sản.Sau Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 15 vào năm 1959, Lê Duẫn câu kết với Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn để củng cố quyền lực ở Miền Bắc. Do đó, họ gây sức ép với Hồ Chí Minh, và kể từ năm 1965 trở đi thì quyền lực thực sự đã nằm trong tay họ. Năm 1963, Hồ đã hai lần gửi người vào tiếp xúc với Ngô Đình Nhu. Hồ muốn liên minh với chính phủ Diệm để chống lại áp lực của Duẫn. Diệm và em là Nhu cũng muốn nhân cơ hội này để chống lại áp lực của Hoa Kỳ. Ngô Đình Nhu giả vờ đi săn ở các khu rừng Tánh Linh, Khánh Hòa và Bình Long, nhưng trong thực tế là hội họp với các cán bộ cao cấp của Miền Bắc do Hồ Chí Minh phái vào. Có một lần Phạm Hùng, người mà sau năm 1975 thì được cử làm Thủ Tướng, đã mang vào trao cho Nhu những thông điệp trực tiếp của Hồ Chí Minh. Các cuộc thương thảo đã phải ngưng lại vì vài tháng sau thì Diệm và Nhu bị sát hại. Vì các cuộc họp mật này mà Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ Diệm và Nhu. Ngày 1-11-1963, các tướng QLVNCH phổ biến trên đài tin tức về các cuộc gặp mật giữa Nhu và cộng sản để mong dân chúng hậu thuẫn trong việc lật đổ chính phủ Diệm... Nhiều năm sau đó, vào ngày 1-11-2001, tờ Newsweek đã đăng tải một bài với hình của Tổng Thống Diệm, bình luận rằng Hành Pháp Kennedy vào năm 1963 đã khám phá ra rằng Diệm và Nhu là "công cụ của cộng sản" nên kết quả là họ phải lật đổ chính phủ Diệm..."

(trích từ bản thảo tác phẩm "A Common Quest for Vietnam's Future - a brief of Vietnam War, the First and Second Republic of Vietnam" của Hoàng Duy Hùng)





Theo ông MINH VÕ

(Nhà bình luận thời sự):



Ngô Đình Nhu: Hiệp thương Nam-Bắc -- Đài Tiếng nói VNHN – Phỏng vấn Minh Võ

Người hỏi là nhà báo Hồng Phúc Lê Hồng Long, chủ nhiệm báo Thế Giới Ngày Nay. Cuộc phỏng vấn này đã được phát thanh ngày chủ nhật 07/10/2007 trên đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại.


Hỏi: Trong cuộc mạn đàm giữa ông và ông Cao Xuân Vỹ đăng trên DCVOnline mới đây, ông Cao Xuân Vỹ có nói đến cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu với... Phạm Hùng, cán bộ cao cấp của Việt Cộng.Hỏi: Về phía nhà cầm quyền miền Bắc, phản ứng của họ ra sao, và những đìều kiện họ đưa ra là gì?



Đáp: Theo bà Hammer, tác giả cuốn A Death In November, thì khi ông Goburghun, đại sứ Ấn đi Hà Nội với tư cách chủ tịch Ủy Ban Kiểm Sóat Đình Chiến, đến gặp ông Hồ Chí Minh thì thấy ông ta chẳng những không thấy có gì ngăn cản cuộc hiệp thương với Saigon...Khi Maneli đến Hà Nội trình bày kế hoạch theo sự hướng dẫn của các ông Lalouette và Goburghun, thì chỉ hai ngày sau Hà Nội đã có đáp ứng: Hà Nội sẵn sàng khởi sự thương thuyết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai. Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy, theo chỉ thị của chủ tịch và thủ tướng sẽ sẵn sàng trình lên một danh sách những hàng hóa có thể trao đổi giữa hai miền. Còn điều kiện, Hà Nội chỉ cần thấy Mỹ rút khỏi miền Nam, thì sẵn sàng bàn thảo về bất cứ vấn đề gì?

(trích từ Tài Liệu ĐÀN CHIM VIỆT – 30-10-2007)



Theo Linh Mục An-Tôn TRẦN VĂN KIỆM

(Bạn thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm):



"Về sau khá lâu, tôi nghe một nguồn tin nói rằng: Khi bị Hoa kì dồn ép tới đường cùng, ông Diệm có nhờ giáo sư Bửu Hội làm trung gian mở một vài cuộc hoà đàm bí mật với đại diện ông Hồ tại Tánh Linh, khiến cho một số chính khách Mĩ đã dựa vào đó mà gỡ tội cho ông Cabot Lodge, đại sứ Tổng Thống J.F.Kennedy…"

(trích từ bản thảo cuốn hồi-ký "Có phải Hoa thịnh đốn đã đưa ông Diệm về làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam?" của L.m. An-tôn Trần văn Kiệm)



(Trở Lui)



Phụ Lục 2:



Theo báo Mỹ “Chicago Tribune”

(June 1, 1997):



While the coup against him was being plotted, Diem was negotiating a political compromise with Ho, who was just as troubled by his dependence on Chinese support in the North as Diem was by the growing American presence in the South. In retrospect, the elimination of Diem destroyed the only realistic prospect for a negotiated settlement and the honorable withdrawal of the U.S. from the conflict.

(trích từ bài viết "A Fatal Mistake: Looking anew at Ngo Dinh Diem's 1963 ouster as president of South Vietnam")



(Trở Lui)



http://LeXuanNhuan.tripod.com/NgoDinhDiem.html
http://LeXuanNhuan.tripod.com/ThuongDe.html



ĐAN TÂM * NGHĨ VỀ TÌNH TRẠNG XUẤT KHẨU PHỤ NỮ VIỆT NAM




Tháng 4 năm 1975, vận nước suy đồi, miền Nam sụp đổ. Chế độ Cộng Hoà đã bị thay thế bằng một chế độ tồi tệ, vô nhân tính: Chế độ cộng sản. Không vô nhân tính sao được, khi vừa đặt chân vào miền Nam đã đem nhốt cả mấy trăm ngàn người vào trong các trại tù cải tạo, đầy ải đi các vùng rừng thiêng nước độc. Cả triệu người khác vì hải hùng, xô nhau chạy ra biển đem tính mạng của mình và gia đình đánh bạc với tử thần để mong tìm hai chữ “tự do”.



Chế độ vô nhân tính, rỗng tuếch được che dấu bằng những biểu ngữ hoa mỹ để khoa trương: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” giàu mạnh. Độc lập mà sao phải cắt đất dâng hiến cho Trung Quốc? Tự do mà sao người dân bị quản lý bằng chế độ hộ khẩu? Xã hội chủ nghĩa giàu mạnh đâu không thấy chỉ thấy thịt cá, thuốc men, vải vóc, thứ gì cũng bị hạn chế theo tiêu chuẩn. Muốn có thêm ngoài tiêu chuẩn thì phải mua “chui” tức là mua hàng lậu. Mà đã nói hàng lậu tức là bất hợp pháp, bị công an rình mò, theo dõi, bắt bớ khốn khổ.


Nhưng có một thứ mua bán lại được nhà nước dung túng là “bán phụ nữ ra nước ngoài”. Ta hãy nhìn những tấm hình chụp ngay khách sạn thành phố HCM: các cô gái còn rất trẻ, cởi hết quần áo, đứng thành hàng dài để các ngoại nhân Đài Loan hoặc Đại Hàn chọn lựa. Tại Đài Loan, tờ Trung Hoa thời báo đã phê phán gay gắt việc khuyến mãi gái Việt trên đất Đài Loan bằng những quảng cáo “Cô dâu Việt Nam, giá bán 18 vạn đài tệ. Bảo đảm là gái trinh, nếu không trả tiền lại”. Tại Đại Hàn, các công ty môi giới công khai rao hàng “Người chưa vợ, goá vợ, hoặc khuyết tật đều có thể tìm cô dâu Việt”. Tại Singapore, 3 cô gái Việt Nam được trưng bày tại trung tâm mua sắm Golden Mile Complex làm cho Hội Phụ Nữ Singapore vô cùng xúc động và bất bình.


Nhưng còn Đảng và Nhà Nước Việt Nam thì phản ứng ra sao trước cảnh người phụ nữ Việt Nam bị xúc phạm và làm mất nhân phẩm như vậy? Các vị lãnh đạo có nhìn thấy trách nhiệm của mình hay không? Các vị lãnh đạo hãy nhìn kỹ những bức hình loã thể và thử tưởng tượng xem nếu một trong những cô gái ấy là con hay em của mình thì các vị nghĩ sao? Các vị còn lương tâm không? Các vị có thấy xứng đáng để còn lãnh đạo đất nước hay không?


Trong lịch sử Việt Nam , chưa bao giờ người phụ nữ bị bôi nhọ, hạ phẩm cách tới như vậy. Các cô gái trẻ này, đáng lẽ được cắp sách tới trường, nay lại phải bán mình cho các ngoại kiều già yếu, tàn tật để đổi lấy một số tiền mưu sinh. Tương lai của họ thật là mịt mù nơi đất khách quê người. Ai nghe thấy cũng phải đau lòng, hoảng hốt, và lo sợ cho họ. Đất nước đã tiến lên xã hội chủ nghĩa trên 30 năm rồi, ấm no, giàu mạnh ở đâu đây? Những phụ nữ chân yếu tay mềm thì phải bán thân để mưu sinh trong khi ông bộ trưởng thì dùng công quỹ cả triệu đồng để cá độ đá banh. Có phải ý nghĩa và mục tiêu hai chữ “Cộng sản” là san bằng giai cấp, san bằng tài sản để mọi người cùng ngang bằng với nhau là vô sản để riêng lãnh đạo nắm hết, quản lý hết tài nguyên, tiền của đất nước? Nếu đúng như vậy thì đảng Cộng sản Việt Nam tiến ngược đường rồi.


Chúng tôi sống xa đất nước đã lâu, nhưng tâm hồn Việt Nam làm chúng tôi lúc nào cũng khắc khoải với dân Việt. Chúng tôi muốn Đảng và Nhà Nước Việt Nam đừng im hơi lặng tiếng nữa, đừng ngậm miệng ăn tiền nữa. Xin hãy lên tiếng giải thích với nhân dân Việt Nam , với dư luận quốc tế vì sao lại để cho tình trạng này xảy ra? Xin hãy cấp thời tìm biện pháp ngăn chận để chấm dứt cảnh buôn bán phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài.


Bao lâu nay, chúng tôi đã từng được nghe những lời nói hoa mỹ, của các bậc lãnh đạo dành cho chúng tôi, coi chúng tôi là “khúc ruột xa ngàn dặm”. Đảng và Nhà Nước cũng dành cho chúng tôi những đặc ân được mua nhà ở Việt Nam , được lấy 2 quốc tịch. Tuy nhiên, chúng tôi thấy những việc làm này không cần thiết. Chuyện cần thiết là Đảng và Nhà Nước hãy lãnh đạo đất nước cho tử tế, không tham nhũng, không bè phái, không cắt đất dâng biển cho Trung Quốc, không xuất khẩu phụ nữ trẻ thơ, và hãy lo cho những khúc ruột ngay trên quê hương. Ngày nào nhân dân Việt Nam được sống như những con người đúng nghĩa, có nhân phẩm, ngày ấy không cần kêu gọi chúng tôi cũng xin xếp hàng để trở về Việt Nam phục vụ đất nước.


Đan Tâm


====
VẠN MỘC CƯ SĨ CHÚ THÍCH:
Sau đây là bản nhạc của nhạc sĩ Trần Chí Phúc viết về tình trạng xuất khẩu phụ nữ Việt Nam:

CÔ GÁI VIỆT PHỐ ĐÈN ĐỎ SINGAPORE
Người con gái Việt Nam khu đèn đỏ. Màn đêm xuống phố phường Singapore. Đèn lấp lánh em đứng khoe da thịt. Tay vẫn tay chào mời đón khách làng chơi.
Lòng tôi bỗng buồn thương cho số phận. Những cô gái yêu kiều nét quê hương. Đời nổi trôi em đến đây đứng đường. Ôi xót xa nào đem bán thân nơi xứ người.
Điệp khúc- Kêu tên người em, nghe thật quen, sao ngậm ngùi. Thương cho đời hoa bao đàn ông lạ dập vùi. Chịu nhiều cay đắng, người con gái Việt Nam.
Dùng thân xác làm vui khách nước ngòai. Đời thương nữ, ê chề ( tủi hờn) kiếp bán hoa.
Giữa đêm vắng tiếng hát em , lệ nhòa. Khơi nỗi nhớ nhà ôi xa quá, không lối về.



Sunday, October 26, 2008

TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN

====

Tuyên Ngôn Dân Chủ và Nhân QuyềnTuyên Ngôn
The Declaration


TỔ QUỐC VIỆT NAM

__________________


Tuyên Ngôn
Dân Chủ và Nhân Quyền


Kính gửi đồng bào Việt Nam,



Chúng tôi nhân danh người Việt, nạn nhân của chế độ Cộng Sản Việt Nam vì sự khát vọng Tự Do trên nền tảng Dân Chủ và Nhân Quyền. Nay long trọng công bố bản Tuyên Ngôn Dân Chủ và Nhân Quyền đến quốc dân Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.



I. NIỀM TỰ HÀO VÀ KHÁT VỌNG TỰ DO, NHÂN QUYỀN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Kể từ khi dựng nước, dân tộc Việt đã trải qua nhiều thế hệ cứu quốc và kiến quốc. Nước ta nhiều lần bị giặc ngoại bang xâm chiếm và đô hộ. Họ âm mưu đồng hoá người Việt về ngôn ngữ, phong tục tập quán và muốn xoá vĩnh viễn nền văn hoá ngàn xưa của dân tộc Việt. Với tinh thần bất khuất, người Việt đã đánh đuổi giặc ngoại xâm dành lại độc lập, bảo vệ giang sơn, giữ vững nền văn hoá cùng với truyền thống dân tộc và thực thi quyền dân tộc tự quyết mà lịch sử đã vinh danh tinh thần Hội Nghị Diên Hồng. Từ đó khẳng định rằng: dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới đều tôn trọng nhân quyền, có khát vọng giống nhau về quyền sống bình đẳng, quyền mưu cầu nguồn sống ấm no hạnh phúc và quyền được hưởng đầy đủ các quyền tự do căn bản của con người. Luôn đề cao giá trị tự do-dân chủ và sự độc lập vẹn toàn lãnh thổ.



- Bản Tuyên Ngôn Độc Lập nǎm 1776 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đã minh định: “mọi dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

- Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của cách mạng Pháp Quốc nǎm 1791, khẳng định rằng: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

- Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời bảo vệ giá trị và nhân phẩm con người sống trên toàn thế giới là bất khả xâm phạm được gọi là Nhân Quyền, đã được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.

- Ngay trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Chính Phủ Lâm Thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, cũng đã nhấn mạnh thêm một lần nữa: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Thế nhưng, đảng Cộng Sản Việt Nam đã bội tín và chà đạp nhân quyền, tước đoạt quyền sống và các quyền tự do căn bản của con người, đồng thời đàn áp khốc liệt bắt người dân Việt phải làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản. Đây là một sự thật tang thương của dân tộc đã ghi vào lịch sử. Không ai có thể thay đổi sự thật của lịch sử, nhưng người cộng sản đã gian manh uốn nắn và bẻ cong lịch sử để che dấu sự thật nhằm lừa bịp toàn dân Việt Nam.



II. CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN THẾ GIỚI CÁO CHUNG.


Vào thập niên cuối thế kỷ 20, Chủ Nghĩa Cộng Sản đã cáo chung. Cái nôi của Chủ Nghĩa Cộng Sản là Liên Xô sụp đổ. Các nước thuộc khối Cộng Sản Đông Âu tan rã. Các quốc gia này nhận thức rõ ràng là chủ nghĩa Cộng Sản đã đi ngược lại khát vọng của nhân loại sống trên quả địa cầu, đã tước đoạt quyền sống bình đẳng và các quyền tự do của con người. Hành trang cách mạng của họ không có một tấc sắt trong tay, mà chỉ có khát vọng Tự Do và lòng mong muốn quyền sống của con người, cùng với sự dũng cảm quyết tâm đoạn tuyệt chủ nghĩa cộng sản phi nhân bản để thoát khỏi sự sợ hãi trước cường quyền có đầy đủ khí giới và phương tiện đàn áp. Cuộc cách mạng đã thành công, chính nghĩa, chân lý và ý dân đã thắng chủ nghĩa cộng sản phi nhân tàn bạo. Họ ý thức được chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn phá đất nước, nên cùng quay trở về với cội nguồn dân tộc, xây dựng lại quốc gia tự do-dân chủ, nhân bản và phú cường. Đây chính là một lộ trình tự do-dân chủ thuận theo thiên ý và lòng dân,đã đánh dấu trang sử mới của nhân loại và báo hiệu chủ nghĩa cộng sản trên thế giới cáo chung.



III. THỰC TRẠNG VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN



Kể từ năm 1945, đảng Cộng Sản Việt Nam đã áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai lên miền Bắc nước Việt Nam. Nỗi khốn khổ một cổ bị tròng 2 gông, vừa làm nô lệ cho Quốc Tế Cộng Sản, vừa làm nô lệ cho đảng Cộng Sản Việt Nam, người dân miền Bắc sống trong sự áp bức, bóc lột, đàn áp, nghèo đói, bất công xã hội và hoàn toàn không còn quyền tự do. Một bức tường sắt vô hình cách ly miền Bắc với thế giới bên ngoài, như một nhà tù khổng lồ để che chắn cho đảng Cộng Sản Việt Nam lộng hành, cai trị tàn ác và giết người dã man, mà lịch sử đã lên án mạnh mẽ cuộc cách mạng cải cách ruộng đất ở miền Bắc.



Chính đảng Cộng Sản Việt Nam là thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh Bắc Nam tương tàn, nhất quyết xé nát Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973, đưa quân cưỡng chiếm miền Nam nước Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu cảnh sinh ly tử biệt, nhà cửa hoang tàn đổ nát, dân chúng điêu linh lầm than trong chiến tranh, trong đó lịch sử đã nghiêm khắc lên án cộng quân bất nhân đã thảm sát hàng ngàn đồng bào vào năm 1968 tại Huế đó là biến cố tết Mậu Thân. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, đảng Cộng Sản cai trị toàn nước Việt Nam bằng chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân bản. Đã giam cầm tra tấn các thành phần dân, quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hoà. Chiếm đoạt tài sản của ngưòi dân miền Nam qua chính sách cải tạo tư sản. Thực hiện chính sách quản lý hộ khẩu, bắt đi kinh tế mới, ngăn sông cấm chợ … Người dân miền Nam sống trong cảnh lầm than, đói khổ, mọi quyền tự do căn bản đều bị tước đoạt. Từ đó đã dẫn đến những cuộc vượt biên chạy trốn chủ nghĩa Cộng Sản bằng đường bộ hay đường biển để tìm đến thế giới Tự Do. Đã có những cuộc hành trình vượt biên tìm tự do trở thành nạn nhân trong các thảm cảnh kinh hoàng làm chấn động lương tâm nhân loại toàn thế giới. Giá trị Tự Do và khát vọng Tự Do đã được người Việt Nam dùng sinh mạng khắc lên trang sử oai hùng để khẳng định với thế giới rằng: “Tự Do hay là chết”.



Năm 1977, đảng Cộng Sản Việt Nam tiến quân đánh Khmer Đỏ, gọi là “thi hành nghĩa vụ quốc tế”. Bắt thanh niên đi nghĩa vụ quân sự, tập trung tất cả tiềm năng, tiềm lực quốc gia vào chiến tranh, đã làm cho đảng Cộng Sản Việt Nam khủng hoảng chính trị, bị thế giới lên án nên mất uy tín về ngoại giao, kiệt quệ về kinh tế và sa lầy về quân sự. Đến năm 1979, Trung Cộng đem quân tấn công các tỉnh phía bắc Việt Nam gọi là “dạy cho Cộng Sản Việt Nam một bài học”, vì dựa vào Liên Xô xua quân đánh chiếm Cambodia và chống lại Trung Cộng.Vừa bị tiêu hao binh lực ở chiến trường Campuchia, vừa phải dồn binh lực chống Trung Cộng ở phía bắc, nên đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị sa lầy và kiệt quệ hoàn toàn. Người dân Việt Nam điêu linh đói khổ và hy sinh xương máu chỉ vì sự tham vọng điên cuồng của đảng Cộng Sản. Sau khi Liên Xô sụp đổ nên bị mất điểm tựa, đảng Cộng Sản Việt Nam tự quay lại van xin thần phục Trung Cộng, để được chấp nhận tiếp tục làm thân nô bộc trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản. Còn nỗi nhục nào hơn nỗi nhục làm tay sai, ươn hèn khiếp nhược, cúi đầu nghe sự chỉ dạy của quan thầy Trung Cộng, rồi quay về đè đầu cởi cổ, đàn áp dân ta. Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là tập đoàn vong bản, phản dân hại nước, mãi quốc cầu vinh.



IV. CSVN ĐÀN ÁP NHÂN DÂN ĐỂ GIỮ ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO



Sau hơn 60 năm cai trị miền Bắc và hơn 30 năm cai trị miền Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đoạt hết tất cả quyền tự do căn bản của con người, chiếm đoạt quyền tự quyết của dân tộc, áp đặt bằng bạo lực bắt buộc toàn dân Việt Nam phải đi theo con đường chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân tính, làm cho đất nước đói nghèo, lạc hậu, tạo nên nhiều oan nghiệt chất chồng cho người dân. Thanh trừng các đảng viên cộng sản chủ trương xét lại. Bắt giam và trù dập những thành phần cấp tiến hay đảng viên cộng sản phản tỉnh. Đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ, có khuynh hướng và chủ trương dân chủ hoá đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã âm mưu áp đặt và kiên quyết duy trì điều 4 Hiến Pháp để giữ vị thế độc quyền và độc tài lãnh đạo đất nước, khinh thường pháp luật, thực thi chính sách phi dân chủ và chà đạp nhân quyền. Nạn tham nhũng lan tràn bất trị từ trung ương đến địa phương, đã làm băng hoại toàn diện tinh thần dân tộc Việt Nam trên tất cả mọi lãnh vực từ: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục … Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành một tập đoàn độc tài phát xít (fascist) hay có thể nói đúng hơn là một đảng cướp. Bằng một lý luận kỳ dị là: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chính cái lý luận này đã giúp cho tập toàn độc tài này trở nên những nhà tư bản đỏ, vơ vét tài nguyên và bòn rút tiềm năng kinh tế quốc gia để làm giàu bất chính. Nhà nước Cộng Sản đã tạo ra những món nợ khổng lồ mà toàn dân Việt nghèo khổ phải gánh chịu để trả cho các chủ nợ quốc tế. Cho dù đảng Cộng Sản Việt Nam có sụp đổ trong tương lai thì chính quyền hậu cộng sản cũng phải gánh chịu món nợ khổng lồ này.




V. QUỐC NẠN CỘNG SẢN TÀN PHÁ ĐẤT NƯỚC.



Ngày nay, đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội mãi quốc cầu vinh, dâng đất, biển và hải đảo cho Trung Cộng, để mưu cầu được nhận sự bảo hộ nhằm bám víu quyền lực, gây thêm nhiều quốc nạn tang thương cho dân tộc Việt Nam:

Quốc nạn Cộng Sản là một đại hoạ của dân tộc Việt Nam. Đã làm suy yếu tiềm năng, tiềm lực quốc gia, xã hội băng hoại, điều hành đất nước bằng luật pháp bất minh. Gây cảnh quốc phá gia vong, nghèo nàn lạc hậu. Người dân sống trong oan nghiệt lầm than. Nhân phẩm người Việt Nam bị chà đạp một cách tàn nhẫn và thô bạo.
Chính đại nạn Cộng Sản đã sinh ra các quốc nạn khác tàn phá quốc gia.

Quốc nạn tham nhũng đã làm cho luân thường đạo lý bị lộn nhào tan nát, tàn phá kinh tế quốc gia đến lụng bại. Đảng Cộng Sản dùng cường quyền đàn áp người dân từ tinh thần đến thể xác để vơ vét cho đầy túi tham làm giàu bất chính. Tạo ra nhiều cảnh oan ức, ngang trái và tuyệt vọng trong lòng dân tộc.
Quốc nạn lạm phát đã làm cho người dân đói nghèo thêm tuyệt vọng, đời sống lầm than cơ cực nay lại chồng chất thêm khó khăn khốn khổ.
Quốc nạn băng hoại xã hội, tệ nạn xã hội lan tràn khắp mọi miền đất nước, đã hủy diệt sinh lực và luân thường đạo lý của dân tộc Việt Nam.
Quốc nạn cũng là Pháp nạn. Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương tiêu diệt tôn giáo, tịch thu và quốc hữu hoá tài sản của các tôn giáo, cưỡng đoạt quyền hạn sắc phong các chức sắc tôn giáo. Mọi hoạt động tôn giáo đều bị khống chế, giám sát và theo dõi của Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo và cơ quan An Ninh.


Quốc nạn ô nhiễm môi trường, môi sinh đã tàn phá thiên nhiên, đất nước và con người qua nhiều thế hệ, làm tổn hại đến sức khoẻ và đời sống, trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn vong của giống nòi Việt Nam.
Quốc nạn dân trí lụng bại. Chính sự nghèo đói và tham nhũng đã đẩy trình độ dân trí ngày càng yếu kém, đẩy các thế hệ trẻ xa rời trường học. Cộng Sản thực thi chính sách ngu dân để trị, kìm hãm sự tiếp cận và học hỏi nền văn minh của thế giới. Dân trí lụng bại ảnh hưởng sâu sắc đến vận mạng tương lai dân tộc.

Quốc nạn đạo đức suy đồi. Đây chính là tình nhân loại nghĩa đồng bào. Tình thương nhân loại đã không còn tồn tại từ lãnh vực y tế đến lãnh vực xã hội, văn hoá, giáo dục … Luân thường đạo lý dạy nhân cách làm người từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam đã bị hủy diệt.


Quốc nạn buôn người. Nhân phẩm của người Việt Nam bị chà đạp. Phụ nữ mang thân đi làm dâu, làm lao nô bị hành hạ ở xứ người, bị rao bán như súc vật, bị bán vào con đường mãi dâm. Ngay cả trẻ em Việt Nam cũng bị bán vào chốn phong trần đầy đau thương ngang trái. Nam giới thì đi làm lao nô khắp thế giới bị chủ bóc bột, đày đoạ và đánh đập. Đây là niềm đau thương tột cùng của dân tộc Việt Nam.



VI. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH



Làm sao diệt trừ quốc nạn để thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam?

Quyền con người không có thì làm sao có quyền công dân?

Quyền tự do không có thì làm sao có quyền dân tộc tự quyết?

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Chỉ có người Việt cứu lấy đất nước và dân tộc Việt. Không có dân tộc nào có thể giúp, khi người Việt không đoàn kết một lòng quyết tâm đứng lên cứu lấy quốc gia suy vong bởi quốc nạn Cộng Sản. Thể chế chính trị cộng sản chỉ có thay thế bằng thể chế chính trị tự do-dân chủ chứ không thể thay đổi.


Chính vì lẽ đó, khẩn thiết kêu gọi đồng bào trong nước và các cộng đồng người Việt ở hải ngoại thống nhất ý chí và đoàn kết đấu tranh cứu quốc, để đáp ứng sự khát vọng Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền của dân tộc Việt Nam, chủ trương đấu tranh hoà bình, bất bạo động, lấy chính nghĩa quốc gia và ý dân làm nền tảng.



Thiết tha kêu gọi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng đồng tâm đoàn kết tạo thành lực lượng đấu tranh đòi đảng Cộng Sản Việt Nam phải trao trả lại quyền dân tộc tự quyết và các quyền tự do căn bản của con người. Bằng giải pháp đối thoại, kêu gọi đảng Cộng Sản Việt Nam đồng thuận một lộ trình chuyển giao quyền dân tộc tự quyết trong hoà bình. Phải công nhận và trao trả vô điều kiện các quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam như:

Quyền tự do tư tưởng.
Quyền tự do ngôn luận.
Quyền tự do tôn giáo.
Quyền tự do lập hội.
Quyền tự do hội họp.
Quyền tự do cư trú….



Đồng thời khẩn thiết kêu gọi các cộng đồng người Việt ở hải ngoại bằng khả năng và vận dụng mọi phương tiện thuận lợi ngõ hầu tích cực vận động Liên Hiệp Quốc, các cường quốc tự do-dân chủ, các tổ chức nhân quyền quốc tế và các cơ quan tài chính thế giới … tác động mạnh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế và ngoại giao …để đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử công bằng và các bên phải tôn trọng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý. Khi người dân đã có quyền dân tộc tự quyết thì họ có đủ quyền hạn của một công dân Việt Nam dùng lá phiếu để quyết định vận mạng chính trị cho đất nước thông qua phương thức phổ thông đầu phiếu.



Chủ trương và mục tiêu đấu tranh:

Đấu tranh ôn hoà, bất bạo động dành lại quyền dân tộc tự quyết, để thay thế thể chế chính trị cộng sản bằng thể chế chính trị tự do dân chủ.
Xây dựng một nước Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Nhân Bản và phú cường trên nền tảng một xã hội dân sự, thượng tôn pháp luật, với cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập là hành pháp, lập pháp và tư pháp.
Cầu nguyện hồn thiêng sông núi cùng anh linh tiền nhân phù trợ cho toàn dân Việt đoàn kết một lòng để cứu nước và kiến tạo tổ quốc Việt Nam phú cường.





Việt Nam, ngày 2 tháng 5 năm 2008.

Người viết Tuyên Ngôn

Kỹ Sư Nguyễn Thanh Nam


http://www.gopetition.com/online/19199.html.
==
Kính mong đồng bào trong và ngoài nước đồng thuận

và ủng hộ bản Tuyên Ngôn, bằng cách tiếp tay phổ biến

rộng rãi và tham gia ký tên để bài tỏ lòng khát vọng

Tự Do Dân Chủ của dân tộc Việt Nam.

* Riêng đồng bào trong nước, vì điều kiện an ninh

nên có thể dùng bí danh để ký tên.

Kính mời đồng bào bấm vào cái Link này để ký tên:



http://www.gopetition.com/online/19199.html.

http://www.gopetition.com/online/22622.html

tuyenngondanchunhanquyen@gmail.com

thedeclarationhumanrights@gmail.com


==

Saturday, October 25, 2008

PHAN TẤN KHÔI * THỬ BÀN VỀ THỦ ĐÔ VIỆT NAM

Phan Tấn Khôi



Đến năm 2010 này là kỷ niệm một nghin năm hoàng đế Lý Thái Tổ thiết lập thủ đô Việt-Nam đầu tiên hoàn toàn độc lập, với cái tên thần thoại, huy hoàng, vẻ vang Thăng-Long.
Tên một thành phố có thể gợi cho chúng ta niềm hãnh diện, nỗi vui mừng hoặc những kỷ niệm đau buồn, thương tiếc như tên thủ đô xưa Thăng Long oai hùng, tráng lệ mà vì thời cuộc đổi thay đã bi thay thế bằng cái tên khởi đầu có ý nghĩa tầm thường Hà-Nội, gọi theo vị trí địa phương : một tỉnh nằm trong (Nội) khúc quanh của con sông (Hà).


THĂNG-LONG, thủ đô vuơng quốc

Thăng-Long gợi cho chúng ta triều đại độc lập đầu tiên của Việt-Nam, nhà Lý, một thủ đô hùng mạnh và vẻ vang của dân tộc Việt. Sau khi tái lập được hòa bình và loại bỏ mối đe dọa Trung-Quốc, triều đại mới nhà Lý tự cảm thấy đủ mạnh để thiết lập thủ đô của vương quốc tại miền đồng bằng. Hoàng đế Lý Thái Tổ quyết định thiên đô từ Hoa-Lư về kinh thành cũ Đại-La, nơi đã có một quá khứ vẻ vang..
Vào tháng bẩy âm lịch năm 1010, trong lúc đoàn tùy tùng hoàng gia đi đến gần Đại-La, nhà vua nhìn thấy một con rồng vàng óng xuất hiện trên bầu trời và, coi đó như là một điềm xuất sắc, ông đặt cho thành phố cái tên nó sẽ mang trong suốt chín thế kỷ (1010-1805), Thăng-Long, “thành phố của con rồng bay lên”. Hơn nữa, tại Việt-Nam cũng như tại Trung-Quốc từ thời nhà Hán, rồng còn là con vật biểu tượng hoàng đế, tượng trưng cho lễ đăng quang của tân hoàng đế.



Tuy nhiên, việc xác nhận chủ quyền và độc lập của tân triều đại phải có một giới hạn nào đó, vì trên lý thuyết họ còn ở dưới sự bảo hộ của người láng giềng phương Bắc. Vì vậy, để dung hòa quyền lợi đôi bên, triều đình nhà Lý đã chọn một chữ nho cổ xưa và hiếm để có thể tuyên bố nền độc lập của các vị vua Việt-Nam đối với Trung-Quốc mà không đoạn giao với xứ này (thay vì sử dụng chữ “Thăng” thường được dùng 升, người ta chọn một chữ phức tạp hơn, có dấu “mặt trời” ghi thêm lên trên chữ gốc 昇. Cách viết chữ này đã được thấy từ thời cổ Trung-Quốc, chắc chắn để làm giảm nghĩa bóng của từ ngữ = lễ đăng quang một vị vua, bằng cách nhấn mạnh đến truyền thuyết lấy từ gốc chữ = con Rồng bay lên trời, vậy về phía mặt Trời).



Vậy, vị vua thứ nhất nhà Lý thiết lập thủ đô của Đế-quốc tại nơi có những tường thành kiên cố, có nghĩa là trong thành phòng thủ Đại-La xưa, lúc đó đủ lớn để chứa gia đình ông và tập đoàn hành chánh của vương quốc. Chính vào thời điểm này hồ Tây được đặt tên như vậy, dựa vào vị trí của nó đối với hoàng thành.. Dần dần, với sự phát triển của triều đình và nền hành chánh quan lại, thành lũy phòng thủ cùa người Trung-Quốc trở nên quá hẹp và người ta đã phải xây dựng ngoài tường thành.
Ngay từ năm 1014, người ta đã xác định vị trí thành phố bằng một bờ tường đất bao bọc bên ngoài gồm cả hồ Tây; và chạy vòng theo dòng sông Tô-Lịch và sông Kim-Ngưu. Hai thế kỷ sau, vào năm 1230, vị vua thứ nhất nhà Trần dời bờ tường gần hai cây số về phía nam. Người ta có thể giải thích phần lớn hình thể thành phố do nhu cầu phải dựng lên một tường thành chống lũ, lụt của sông Hồng và các sông nhánh. Đó cũng là lý do người ta không thấy được hình thể cổ điển ba thành phố lồng vào nhau theo hệ thống : cấm thành, nơi hoàng gia trú ngụ; hoàng thành, nơi triều đình sinh hoạt cùng các bộ và cơ quan hành chính, sau cùng là thành phố dân sự, nơi người dân cư ngụ và sinh hoạt theo đúng mẫu thủ đô Trung-quốc. Khác với nhiều thủ đô khác, thành phố không vượt quá giới hạn xác định vào thế kỷ XIII về phía Nam, giới hạn xác định vào thế kỷ XI ở mọi phía khác. Trong thời kỳ quân chủ, kế đó thực dân và xã hội chủ nghĩa, cái “Hà-nội phi thường” cũng chỉ nằm trong cùng khoảng không gian ấy. Chỉ trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX thành phố mới lấn ra ngoài lề của nó.
Thế kỷ thứ XV là thời kỳ huy hoàng, thời kỳ vàng son của Thăng-Long. Triều đại vẻ vang nhà Lê lo chấn hưng thủ đô và xác định quyền hành trên khắp lãnh thổ đang từ từ phát triển, vương quốc ngày càng lớn rộng về phía Tây cũng như về phía Nam. Số đông trí thức, văn nhân sống trong thành phố từ nay tượng trưng cho niềm tự hào vương quốc, sự hùng mạnh của giới hành chánh và trung tâm tỏa rộng văn hóa.


HÀ-NỘI, thủ phủ một tỉnh

Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, một phong trào đại chúng hùng mạnh quét sạch trong vài năm các gia đình đang trị vì – nhà Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn – và chấm dứt với sự thắng lợi của người cuối cùng thuộc dòng họ Nguyễn (người sống sót duy nhất, Nguyễn Ánh, đã thoát được cuôc tàn sát cả dòng họ Nguyễn tại Saigon năm 1777) với sự trợ giúp của các cố đạo người Pháp và Bồ Đào Nha. Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia-Long, thống nhất xứ sở và dời thủ đô vào Huế năm 1806. Bị đặt ngoài lề, bị giới trí thức ưu tú bỏ rơi, lần đầu tiên kể từ hơn tám thế kỷ, Thăng-Long không còn là trung tâm của Lịch-sử.



Thăng-Long mất tên gọi này vào năm 1805. Vì cái tên gọi này quá quen thuộc với đại chúng, triều đình đành thay đổi chữ nho 龍 (long) có nghĩa là “con rồng, hoàng đế”, bằng một chữ đồng âm 隆 (long), mượn tên hiệu vua (Gia- Long) có nghĩa là “phồn thịnh”. Cách viết khác nhau nhưng cách phát âm không thay đổi, Thăng-Long vẫn tên Thăng-Long, nhưng “thành phố con Rồng bay lên” chỉ còn là “thành phố sự Phồn thịnh bay lên”. Sự thay đổi này làm mất đi mọi tự hào vương quốc và cùng năm đó, tỉnh hoàng tộc cũ được đặt tên mới là Hoài-Đức để xóa bỏ mọi vết tích của quá khứ.
Một phần tư thế kỷ sau đó, vào năm 1831, hoàng đế Minh-Mạng, người con thứ tư của Gia-Long, bãi bỏ các trấn và chia Việt-Nam thành ba mươi mốt tỉnh. Chính trong cuộc cải tổ này thành phố mất hẳn tên Thăng-Long và mang tên mới Hà-Nội có nghĩa là “bên trong (Nội) khúc quanh con sông (Hà)”, được chọn bởi hình thể dòng sông nhưng nhất là để cho giống tên thủ phủ một quản hạt quân sự thời nhà Hán, ở ven sông Hoàng-hà. Tên mới cùa thành phố đã bị mất đi ý nghĩa con rồng, nay lại mất cả ý nghĩa bay lên, thế vào đó là một trích dẫn dựa vào thời kỳ xa xôi trong miền Bắc nước Tầu.


HÀ-NỘI thủ đô một thuộc địa

Người Pháp bắt đầu xâm nhập Việt-Nam vào hậu bán thế kỷ XVII qua các hội truyền giáo và mượn danh nghĩa cứu giúp, bảo vệ giáo dân Việt-Nam, mang quân sang xâm chiếm nước ta. Vua Gia-Long chấp nhận việc dân chúng gia nhập đạo Thiên chúa để trả ơn giám mục Pigneau de Béhaine, nhưng người kế vị ông, vua Minh-Mạng (1820-1840), rất tức giận thấy vương quốc có nhiều địa phận Thiên chúa giáo thoát ra khỏi sự kiểm soát của ông và ra lệnh cấm đạo ngay từ năm 1825, xử tử nhiều cố đạo Việt, Tây-ban-nha và Pháp.

Hiệp ước Nhượng địa Hà-Nội lần thứ nhất (1875) cung cấp cho chính phủ Pháp một miếng đất tươm tất ở gần sông Hồng làm chỗ cư ngụ cho viên công sứ Pháp và đoàn tùy tùng, và sau này cho các thương gia Pháp, có nghĩa là miếng đất nằm trong công sự phòng thủ Nam Hà-Nội. Hiệp ước thứ nhì cùng năm công nhận chính phủ Pháp có quyền thiết lập một tòa lãnh sự tại Hà-Nội. Đến năm 1882, viên quan hải quân Pháp Henri Rivière đem quân đánh chiếm hẳn Hà-Nội, kế đó các hiệp ước Harmand (1883) , Patenôtre (1884) công nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Trung kỳ và Bắc kỳ và Hà-Nội trở thành “đất Pháp”.



Hiệp ước Nhượng địa Hà-nội lần thứ hai (1888) nhường cho Pháp tất cả đất đai Hà-Nội. Vậy nước Pháp chứng tỏ quyền hành trong một thành phố đã bị giới trí thức ưu tú quan lại bỏ rơi từ lâu, đền đài dinh thự bị tàn phá trong các cuộc nội chiến,và kể từ khoảng 1870, đám người dân thấp cổ bé miệng cũng tủa về nông thôn để lánh nạn chiến tranh, các cuộc tấn công của Garnier và Rivière, những xách nhiễu của giặc Cờ đen và quân đội chính quy Tầu. Chính viên công sứ Bonnal cũng phải than : “Thành phố này xưa kia có hơn tám mươi nghìn người cư ngụ mà nay thì vắng tanh; Hà-nội có cái vẻ buồn thảm của một thành phố chết.” (1) Tuy nhiên cái thành phố tỉnh nhỏ, được Pháp tôn làm thủ đô của Đông-Dương năm 1902, đã phát triển một cách nhanh chóng, khởi từ 50 000 dân vào khoảng 1880 lên đến khoảng 200 000 năm 1940.


Trong thời gian đầu, nhà cầm quyền thuộc điạ tiếp tục sử dụng nhóm quan lại người Việt trong các công tác hành chính, nhưng ngay từ tháng ba 1889, Hà-nội trở thành đất Pháp, thủ phủ của tỉnh phải rời đi nơi khác, kéo theo khối quan lại và giới trí thức ưu tú. Ngay sau đó, thành phố đạt được một cơ chế tư pháp tự trị : một người Việt sống trong thành phố không bị xét xử cùng một phương thức với người anh em trong tỉnh. Vậy, ngoại trừ lãnh vực chính trị, người Hà-Nội được luật pháp nước Pháp bảo vệ và nhiều người Việt-Nam biết khai thác tình trạng này để chống lại sự tham lam về thuế thổ trạch của tòa đô chính, sự lạm dụng việc truất hữu hay sự đánh thuế bất công.


Cuốn Atlas colonial illustré đã mô tả Hà-Nội vào năm 1925 như sau : “Thủ đô và thành phố đông dân cư nhất Bắc-kỳ, ở giữa một hệ thống giao thông đường thủy trên sông Cái hay sông Hồng và cách biển 150 cây số. Dân số 105.000 người gồm 3.000 dân Tây phương, 100.000 dân An-nam và 2.000 dân Tầu. Được thành lũy phòng thủ và nhiều đường đi dạo đẹp đẽ vây quanh, Hà-Nội bao gồm khoảng trăm làng và chia thành bẩy khu phố cộng với một ngoại ô. Một thành phố quan trọng và duyên dáng, người ta thấy một khu dân Tây phương và một thành phố dân bản xứ. Một phần dân chúng sống nổi trôi trên thuyền bè. Đường khu Tây phương được lát bằng đá cẩm thạch, một hồ nhỏ có hình ảnh đẹp đẽ và dễ thương. Tương lai Hà-nội sẽ là trụ sở của chính phủ Đông-dương”.(2)



Nếu người Pháp đã theo đuổi một chính sách xây dựng những công thự to lớn, phi lý và tốn kém, nhất là đối với người Việt-Nam và người Tầu, chính là vì Hà-Nội có ba sứ mạng. Trụ sở của nền bảo hộ xứ Bắc-kỳ (kể từ 1885) và của hội đồng thị chính Pháp (kể từ 1888), thành phố trở thành vào năm 1902 thủ đô của năm <> thuộc Đông-dương - Bắc-kỳ (Tonkin), Trung-kỳ (Annam), Nam-kỳ (Cochinchine), Lào (Laos) và Cao-mên (Cambodge) - và vì vậy quy tụ cả một dẫy văn phòng..Các kỹ sư Pháp, rất quan tâm đến việc diễn tả qua gach đá sự hùng mạnh và sự tân tiến của chế độ thuộc địa, đã xây dựng rất nhiều công thự to lớn và huy hoàng để phục vụ từ những công vụ lớn thuộc Đông-dương (Chính quyền, Quân đội, Nội vụ, Kiểm soát tài chính, Thuế vụ, Các Sở thương mại và nông nghiệp, Sở tư pháp, Bưu chính, v.v.) cho đến những công vụ tương đương thuộc địa phương hoặc hàng nghìn dịch vụ khác dành cho nền hành chính Bắc kỳ và thành phố.


HÀ-NỘI trong mắt ai

Di sản thực dân Pháp để lại thật nặng nề và hiểm độc. Với chính sách chia để trị, chính quyền Đông Dương đã chia cắt đất nước Việt-Nam làm ba phần, Bắc-kỳ có Hà-Nội, Trung-kỳ có Huế và Nam-kỳ có Sài-Gòn. Vùng nào sống theo vùng đó và yêu thích thủ phủ của mình, vô hình chung Việt-Nam có tới ba “xứ sở” gần như biệt lập với ba lối cai trị khác nhau.



Bắc-kỳ và Trung-kỳ đều là những vùng đất theo quy chế bảo hộ của thực dân Pháp, theo lý thuyết chính phủ Pháp cai trị chung với quan lại của triều đình Huế, nhưng trên thực tế, người ta chỉ thấy sự liên hiệp này qua sự hiện diện của quan Pháp và quan An-Nam (theo tên gọi thời bấy giờ) trong các ngày lễ hội, còn tất cả mọi việc đều do viên Toàn quyền Đông Dương người Pháp quyết định. Hà-Nội là thủ đô của Đông Dương do Pháp dựng lên nên đã là mục tiêu của các cuộc nổi dậy, đánh phá của toàn dân quân kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng. Người Pháp rút về nước, Hà-Nội trở thành thủ đô của miền Bắc, niềm hãnh diện vô biên của người dân miền này.
Trong suốt thời kỳ Pháp chiếm đóng, triều đình Huế vẫn hiện diện song song với chính quyền Bảo hộ và như vậy, đối với người dân bản xứ, Huế vẫn là thủ đô của Việt-Nam cho đến khi vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, Bảo Đại, thoái vị vào năm 1945. Hội nghị quốc tế Genève 1954 tạm thời chia nước Việt-Nam thành hai miền : miền Bắc với thủ đô là Hà-Nội, miền Nam thủ đô là Sài-Gòn. Huế mất hẳn ngôi vị thủ đô Việt-nam.


Nam kỳ là vùng đất duy nhất được coi như thuộc địa của Pháp, chịu sự cai trị trực tiếp của chính quyền thuộc địa, và vì vậy được hưởng một quy chế đặc biệt với những ưu đãi riêng. Sài-Gòn, thủ phủ của miền Nam, cũng được xây cất lai với những công thự lớn lao và tráng lệ, những đại lộ rộng rãi. Tất cả những điều này đã gây cho người dân miền Nam có cảm tưởng như sống trong một xứ sở riêng biệt, một thứ “Nam-kỳ quốc” với Sài-Gòn là thủ đô. Hà-Nội đối với họ là cái gì mơ hồ, ở một nơi xa xôi nào đó. Sau này, khi Pháp rút khỏi Đông-dương, nước Việt-Nam lại bị chia cắt làm hai phần, ý niệm về Hà-Nội trở thành sâu sắc hơn, nặng nề và kém thân thiện hơn. Đến khi Việt-nam thống nhất, tư tưởng này chỉ còn bàng bạc trong lòng một số dân miền Nam mà thôi.


Trở về nguồn

Để xóa bỏ mọi tàn tích ác hại của chính sách chia để trị của thực dân Pháp đã làm cho bao nhiêu thế hệ con người có đầu óc thiển cận, đố kỵ hay ganh ghét và ích kỷ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân mà quên đi quyền lợi chung, cho đến nay còn rơi rớt lại trong một số người, để xóa bỏ những tỵ hiềm giữa người Bắc, người Trung, người Nam, những ý niệm xưa cũ về các thủ đô Hà-Nội, Huế, Sài-Gòn, chúng tôi xin đề nghị trở về nguồn, đổi tên thủ đô Hà-Nội thành Thăng-Long, cái tên đã tượng trưng cho một nước Việt-Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất và hùng mạnh từ thời xa xưa để hoàn thành một quốc gia tiêu biểu : nước Việt-Nam là một, dân tộc Việt-Nam là một.






1- Histoire de Hanoi, Philippe Papin, trang 225
2- www.belleindochine.free.fr, Sommaire/Hanoi



Tài kiệu tham khảo :

- Histoire de Hanoi, Philippe Papin, Fayard – Paris 2001
- Histoire de l’Indochine, Philippe Héduy, Société de Production Littéraire – Paris 1983
- Indochine, Charles Daney, Flammarion – Paris 1992
- www.belleindochine.free.fr