Thursday, August 28, 2008

IV. VÀNG VÀ MÁU

Lúc bấy giờ vua Uy Mục và Lê Tương Dực nhà Lê tham dâm tàn bạo, các quan đại thần mỗi ngưởi mỗi phe như phe Trịnh Duy Sản, Trịnh Tuy, Nguyễn Hoàng Dụ, Trần Chân đánh nhau. .. Khắp nơi dân chúng bất mãn, cướp bóc nổi lên như rươi. Ở Kinh Bắc có Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng; Sơn Tây có Trần Tuân,Tam Đảo có Phùng Chương, Nghệ An có Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Văn Triệt. . .


Trong các đám giặc cướp này, có anh em Lê Vấn, Lê Đại người Hải Dương thanh thế khá lớn được bộ hạ tôn xưng là quận Hổ và quận Báo. Quận Hổ có sức mạnh địch trăm người, tinh thông thập bát ban võ nghệ. Trong tay quận Hổ có hàng ngàn quân binh mạnh khỏe, trong khi triều đình khí thế non kém. Mỗi phủ huyện chỉ có vài chục quân binh, còn các thừa tuyên (tức là tỉnh sau này) chỉ có một hai trăm binh. Quận Hổ cùng một trăm quân sĩ tinh nhuệ thường xông lên trước. Bất cứ nhà giàu nào tường cao cổng kín, bất cứ thành trì nào, quân sĩ của ông chẳng cần thang, cứ người nọ chồng lên người kia mà leo lên thành dễ dàng rồi đột nhập vào đốt nhà cướp của, chém giết quân binh. Sở dĩ ông nổi danh là quận Hổ vì tính khát máu của ông. Sau khi đã lấy sạch vàng bạc, ông có thú vui bắt chủ nhà quỳ trước chân ông, rồi ông lấy búa đập nát đầu gia chủ. Sau đó, ông lần lượt hãm hiếp vợ và con gái chủ nhà. Còn lính tráng thì được tự do thâu chiến lợi phẩm. Sau khi thỏa mãn, ông cầm dao cắt cổ họ. Đánh chiếm thành trì cũng vậy. Gặp quan giết quan, gặp lính giết lính, gặp dân giết dân, vì vậy nghe tin quân Hổ kéo đến, quan quan chưa đánh đã bỏ chạy, mặc sức quận Hổ chiếm kho lương và vàng bạc.



Cùng lúc này, Trần Cao nổi lên đánh phá kinh đô Thăng Long và chiếm cứ một vùng lớn rồi xưng vương, lập một triều đình gồm bá quan văn võ trong một thời gian khá lâu, còn vua quan nhà Lê bỏ chạy vào núi. Anh em quận Hổ, quận Báo đem quân đầu hàng Trần Cao. Trần Cao phong hai anh em làm đô đốc, rồi thượng tướng. Sau quận Hổ về làm trấn thủ Thái Nguyên, còn quận Báo làm Ngũ quân Đô Thống trong triều.



Trước đây, quận Hổ cướp vàng bạc của dân chúng rồi xây nhà cửa, dinh thự to lớn. Bây giờ được phong thượng tướng kiêm trấn thủ Thái Nguyên, ông lại càng đắc chí, xây dinh thự cao sang trăm phần. Công cuộc xây cất đền đài tốn kém, ông bắt dân chúng và quan địa phương cung đốn nhân công và vàng bạc. Quan trấn thủ muốn việc xây cất phải hoàn thành vào khoảng rằm tháng chạp để sau đó khánh thành vào dịp Tết, và làm lễ khánh thọ cho ông. Lễ khánh thành dinh thự và lễ mừng thọ cũng là một dịp ông thu tiền và lễ vật các quan trong tỉnh Thái Nguyên và trong triều, ngoài quận. Công việc cấp bách, các đốc công bắt thợ nhịn đói làm gấp ngày đêm. Ai chậm trễ hoặc bệnh hoạn thì bị đánh đập tàn nhẫn khiến cho một số dân phải chết thảm trong cơn mưa bão. Công việc xây cất cần nhiều gỗ, ngói và gạch, nhưng thời gian cấp bách, không lò gạch nào cung ứng đủ cho công trường. Và cũng vì gỗ quý khan hiếm ,không dễ gì đốn cây chở về Thái Nguyên, cho dù Thái Nguyên là nơi núi rừng.


Quan trấn thủ nghe lời bọn tả hữu cho quân lính đến giở chùa Linh Sơn để mang gỗ, gạch ngói về xây. Chùa này to lớn, có nhiều gỗ quý, đã xây dựng trước đó vài năm. Dù là gạch ngói cũ cũng không hề gì vì người ta sẽ bắt nhân công chùi đánh cho sạch rồi sơn lại thì cũng như mới. Còn gỗ cũng vậy. Cứ giở gỗ về đánh bóng và sơn phết lên là xong. Chư tăng trong chùa than khóc và phản kháng thì quan ra lệnh binh sĩ giết . Một số binh sĩ không dám giết kẻ tu hành thì quan liền khoa đao giết bọn lính hèn nhát này. Sau đó ông cùng bọn lính trung thành giết tất cả là 60 người, không bỏ sót một ai. Quan trấn thủ bèn ra lệnh san bằng chùa Đại Từ Bi, lấy đất xây hồ sen để mùa hè cho ông thưởng lãm.



Tại Thái Nguyên , phú ông họ Trần, và phú ông họ Lê có nhà cửa khang trang, quan trấn thủ cũng cho người đến mua nhà của họ để lấy gỗ và gạch ngói với giá hai mươi quan tiền, là một giá rất là tượng trưng cho nên cả hai ông không bán. Vài bữa sau, cả hai ông bị quân lính đến khám nhà và xét thấy trong nhà chứa nhiều gươm đao khiến cho hai ông bị kết tội phản loạn mà bị chém và gia sản bị tịch thu có đến hàng ngàn lượng vàng; vợ con họ phải làm tỳ thiếp cho quận Hổ và bọn chân tay. Ngày xử chém hai gia đình này, hai phú ông họ Trần và họ Lê đã khóc lóc thảm thiết và nguyền rủa quận Hổ:
-Mày tàn ác quá, mày sẽ bị báo ứng! Chúng tao thề không tha cho mày. Chúng mày sẽ chết thảm khốc!



Để chuẩn bị cho một cuộc sống vương giả sau này, xứng với đền đài nguy nga, tráng lệ, quan trấn thủ cho bọn thủ hạ đi bắt gái đẹp về làm hầu thiếp, và một số làm ca nhi để cho trong dinh thự, đền đài của ông lúc nào cũng có tiếng nhạc thánh thót, và tiếng ca véo von như cảnh Bồng Lai. Việc bắt gái đẹp này đã làm cho một số con gái liều mình tự tử nhưng quan trấn thủ vẫn không dừng bước.

Những gia đính có cây đẹp, trái quý, hoặc có chim biết nói, biết ca đều bị quan lính xông vào cướp đoạt đem dâng cho quan trấn thủ để quan làm một vườn hoa y như Ngự viên ở Cấm Thành.


Ngày tết nguyên đán đã đến mà việc xây lâu đài chưa xong, quan trấn thủ giận quá, ra lệnh chém vị chỉ huy xây dựng cùng năm đốc công. Công việc xây cất phải đến tháng bảy mới xong, nhưng vừa xây xong thì bão lụt kéo về làm sụp đổ toàn bộ lâu đài. Việc này khiến quan trấn thủ phải làm lại từ đầu.



Lúc bấy giờ quan có hai con trai. Thằng Cả nhờ thế cha mà làm Phó tổng binh Lạng Sơn, còn thằng Hai tuổi 18-20 thì không tham công danh quyền quý, chỉ thích ăn chơi nhưng lại có óc lãnh tụ giống cha. Nó làm lãnh tụ một băng đảng gồm ba, bốn mươi thanh thiều niên,tuổi 15-20, là con của các quan lớn nhỏ trong thành Thái Nguyên. Chúng đi khắp phố phường bắt gái đẹp về làm trò chơi tập thể. Nhiều khi chúng cầm gươm giáo chặn một khu phố bắt tất cả phụ nữ, không kể trẻ già. Chúng trùm bao bố, nhét giẻ vào miệng và trói chân tay họ lại, rồi đem đến khu vui chơi của chúng. Vô phước làm sao, một buổi tối, phu nhân của quan trấn thủ đi thăm mẹ ruột ở Bắc Ninh về, bà và hai thị tỳ đều bị đám du đãng bắt trùm bao bố và chở đến khu hành lạc tập thể của chúng. Bà kêu la thì chúng lấy giẻ bịt miệng bà lại. Bà chống cự thì chúng trói chân tay bà lại.


Hôm đó chúng chỉ bắt được năm, sáu phụ nữ. Chúng tắt đèn tối thui và chơi trò tập thể. Cả đám phụ nữ bị chúng thay nhau hãm hiếp. Bà nghe trong đám có tiếng thằng Hai con của bà. Chính thằng này đã ba, bốn lần dày vò bà. Bà không thể lầm được giọng nói của nó, và mùi hôi nách của nó. Bà cào nó một cái ở trên mặt và cắn một cái ở ngực. Thằng này tức giận thụi ba cái vào mặt bà làm bả chết ngất. Tưởng bà đã chết, cả bọn trùm bao bố đem quăng bà ngoài bờ sông. Sáng hôm sau có người tìm thấy xác chết bèn trình quan trấn thủ. Quan bèn sai nha lại đi điều tra mới biết nạn nhân chính là phu nhân của quan trấn thủ. Mặt bà bị dấm sưng vù, không mở mắt ra được, còn cửa mình máu me ra không ngớt. Sau hai ba ngày cấp cứu, quan trấn thủ hỏi đầu đuôi và được phu nhân kể lại mọi sự. Bà khóc lóc trong nhục nhã và uất hận. Chính bà bị con trai bà hãm hiếp. Bà khóc lóc van xin ông hãy giết chết thằng con súc sanh này. Khóc xong bà cắn lưỡi tự tử!


Quan sai lính tróc nã đám du đãng và bắt được cậu Hai. Nhìn mặt thấy thằng con ông bị cào ở mặt. Ông hỏi nó, nó bảo vết thương do đánh lộn với mấy đứa du côn. Ông bắt cậu Hai cởi áo ra thì thấy có vết răng cắn ở ngực. Quan tức giận cầm gươm chém chết cậu Hai.




Kể từ đó quan uống rươu say sưa và hành lạc mạnh mẽ hơn. Quan uống đủ thứ rươu rắn, rươu dê và các thuốc "nhất giao sinh ngũ tử" để bổ dương. Một ngày đêm phải có năm hay mười thiếu nữ phục vụ quan. Một hôm con dâu ông, vợ quan Phó tổng binh, về làm lễ trăm ngày cho mẹ chồng. Bà phải về một mình vì quan phó tổng binh phải đem binh đi dẹp loạn. Gặp lúc say rượu, ông ôm con dâu vào phòng và đóng cửa lại. Không hiểu vị phu nhân trẻ này có bí quyết gì màu nhiệm mà quan trấn thủ mê mệt, khiến quan trấn thủ giữ riết nàng lại, không cho về. Con trai ông, quan phó tổng binh đem binh đến đón vợ về thì bị quan trấn thủ đuổi đi và đóng cửa thành lại.




Quan trấn thủ có thói quen đi săn ở rừng Thái Nguyên, Tuyên Quang. Quan có khẩu súng điểu thương mua lại của người Tây dương bắn bách phát, bách trúng. Bữa đi săn nào quan cũng đại thắng, nếu không hạ được lợn rừng thì cũng hươu, nai. Quan ăn không hết thì cho bọn thủ hạ ăn nhậu say sưa thả dàn.



Mùa xuân là mùa săn bắn vì cây cối trong rừng nẩy lộc, loài vật kéo nhau ra ăn từng đàn. Hơn nữa mùa xuân có mưa lâm râm, đất mềm, ghi lại dấu chân thú vật, dễ theo dõi.
Ngày hôm đó đội thám báo cho quan biết khu rừng Sim có hươu nai về nhiều. Quan vội huy động binh mã lên đường. Sau một giờ tìm hươu nai, đoàn đi săn bỗng nghe hai phát súng nổ lớn và nhiều tiếng kêu la. Quan binh vội chạy đến thì thấy quan trợn mắt nằm trên vũng máu, tay buông khẩu súng . Người ta giải thích là quan bị súng của quan cướp cò. Cũng có người nói quan bị ông em là quan Ngũ quân Đô Thống giết vì mối thù trong gia đình. Cũng có kẻ nói quan Ngũ quân Đô Thống vâng lệnh Trần Cao hạ thủ anh vì anh có âm mưu phản loạn, chống triều đình. Lại cũng có tin chính Cậu cả bắn hạ cha ruột để trả thù cướp vợ!

Tuesday, August 26, 2008

XVIII. CƠN ĐẠI HỒNG THỦY

Buổi chiều, trên bờ sông, hoa xoan đã nở. Những đám mây hiện rõ và trôi lững lờ trên dòng sông. Đã mấy hôm nay, hình bóng của Mai hiện rõ trong tâm trí Long. Mai đã về quê ngoại mấy hôm rồi, khiến Long nhớ nhung mãi hoài. Cúc, cô hàng xóm , và cũng là cô bạn cùng trường của Long, bỗng đến ngồi cạnh Long:
-Sao trông anh buồn quá vậy? Anh nhớ Mai à? Anh có muốn đi chơi với em không?
Long bèn theo Cúc lên đồi sim vắng, rồi cả hai cùng ngồi xuống đám cỏ xanh. Cúc cần tay Long rồi ôm Long. Cả hai cùng nằm bên nhau suốt buổi chiều. Đến tối cả hai mới trở về. Nhưng từ ngày hôm đó trở đi, Long it khi gặp Cúc. Long mang tâm trạng chán chường vì người Cúc không thơm., không êm ái, và hai thân thể không có sự hòa hợp chặt chẽ như những lần bên Mai..

Mãy hôm sau, Long bỗng nhiên gặp lại Cúc tại chợ phiên. Cúc vui vẻ đi bên Long, và Cúc rủ Long đi chơi Suối Tiên. Khi cả hai đi ngang cửa hàng của một ông thầy bói, Cúc rủ Long vào xem bói. Long để cho Cúc vào xem một mình, còn chàng thì ngồi ở bên ngoài cửa. Xem xong, Cúc không trả tiền, nàng bảo thầy bói nói sai. Thái độ của Cúc làm Long vô cùng chán nản vì nàng quá bủn xỉn và cay nghiệt. Một cảm giác buồn nôn xâm chiếm Long khiến Long không còn muốn tiếp tục đi chơi với Cúc nữa. Chàng bảo nàng chàng cảm thấy đau đầu, muốn trở về, không đi chơi Suối Tíên nữa. Cúc có vẻ giận. Và từ đó, Long chấm dứt liên hệ tình cảm với Cúc. It lâu sau, Long kết hôn với Mai, và hai vợ chồng sinh được một trai, một gái. Tất cả sống trong một gia đình hạnh phúc cùng với cha mẹ ruột của Long.


Năm nay, nhân dịp năm ngưởi già thế giới, triều đình có chương trình y tế săn sóc người già. Tại thủ đô và vài nơi trong nước, bộ Y Dược đã xây dựng những cơ sở to lớn cho người già vốn là quan lại trong triều cho đến quan lại các quận huyện cùng thân nhân của họ. Triều đình cũng hứa hẹn sẽ xây dựng các cơ sở y tế cho người già thuộc diện nhân dân toàn quốc. Chương trình tiếp theo là khám bệnh tổng quát cho người già từ 60 tuổi trở lên. Việc khám tổng quát này chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là các cựu quan lại trung ương cho đến quận huyện cùng gia đình của họ. Các lão nhân này đã tập trung tại các bệnh viện đặc biệt, và chỉ một vài ngày hoặc một tuần thì họ trở về với giấy chứng nhận sức khoẻ tối hảo. Giai đoạn thứ hai là cựu cán bộ xã thôn và dân chúng. Họ nhận được giấy gọi tập trung tại một số trường học và nhà thương. Các cụ ông tập trung một nơi, các cụ bà tập trung một nơi khác.

Tại trường tiểu học tỉnh lỵ, các ông già tập trung đông đảo. Có khoảng hai ba trăm người. Ai cũng tay xách, nách mang. Nào y phục, nào thực phẩm, thuốc men. Lệnh trên ban xuống mỗi người phải chuẩn bị lượng thực trong một tuần. Ông Năm gặp lại các bạn gìà nên ông rất vui vẻ. Gặp ông Bảo, cựu giáo viên, ông tiến đến chào hỏi thân mật:
-Bác gái đâu mà tôi không thấy?
-Bà nhà tôi được lệnh tập trung tại bệnh viện Đa khoa.
-Còn bà nhà ông thị tập trung ở đâu?
-Bà nhà tôi tập trung tại trường trung học gần nhà.
Ông Bảo cười nói vui vẻ:
-Tụi mình già cả hết rồi, không bệnh kia thì bệnh nọ. Triều đình ta nay chú trọng việc chăn sóc sức khoẻ cho người già, thật là đáng hoan nghênh hết sức. Từ xưa đến nay, từ đông sang tây, chưa có chính phủ nào lo mặt y tế cho người già chu đáo như triều đình ta nay.
Hai ông đang nói chuyện thì ông Lưu, bạn hàng xóm ông Bảo tiến đến, ba ông vui vẻ chào hỏi nhau.
Ông Lưu hỏi:
-Các ông có biết tụi mình phải tập trung bao lâu không?
-Khám sức khỏe thì chỉ vài ngày là cùng.
- Triều đình ra lệnh những người già từ 60 tuổi trở lên phải tập trung để kiểm tra sức khoẻ, và chỉ mang lương thực một tuần. Như vậy là chúng mình chỉ xa nhà một tuần thôi.


Ba ông chào hỏi nhau xong thì phân tán mỗi ông mỗi nơi vì ai cũng muốn tìm kiếm ngườI quen để chào hỏi và hỏi tin tức. Các ông gặp khá nhiều người quen nhưng cũng không hỏi được tin tức gì mới lạ. Nhìn ra cổng trường thì họ thấy nhiều người trẻ dáng chừng là con cái những thân nhân đã đến tập trung tại trường. Họ không nỡ rời xa cha mẹ nên còn lẩn quẩn không bỏ về nhà. Họ tập trung khá đông đảo nên quan trên sai lính lệ đuổi họ về kẻo họ làm trở ngại lưu thông. Sau khi các bô lão đến đầy đủ , cửa trường đóng lại, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trước cổng trườ ng, lính canh phòng nghiêm nhặt.



Khi các ông già đến địa điểm tập trung thì họ liền trình giấy gọi tập trung để các thư lại ghi tên vào sổ. Sau đó họ liền được gọi điểm danh, rồi nghe quan trên giảng dạy. Các quan cho biết triều đình chăm lo sức khỏe của người già nên từ nay những người già từ 60 trở lên được tập trung để khám sức khỏe. Những ai không có bệnh thì được chích ngừa, rồi về với gia đình. Còn ai có bệnh thì sẽ được ở lại chữa bệnh cho đến khi lành sẽ về . Ai không có gia đình thì ở lại trung tâm người già, và được triều đình chăm lo mọi mặt. Nghe quan lại giải thích, các bô lão đều tỏ ra hân hoan. Có người cảm động khóc sụt sịt như trẻ con.



Buổi trưa và chiều, ai nấy đều đem lương thực ra ăn. Đến tám, chín giờ tối, một số các cụ đã lăn ra nền gạch nằm ngủ. Bỗng mười một giờ đêm, mọi người được lệnh ra sân tập họp để đến địa điểm mới. Có khoảng mười xe, xe nào cũng kín mít như xe chở hàng hóa xuyên liên bang, hay như xe chở tù nhân. Mỗi xe ba chục người, ai lên sau phải đứng. Xe chạy ra ngoài thành phố. Càng đi xa, con đường càng trắc trở khó đi. Đi được gần một ngày thì biến cố xảy đến. Mọi người muốn đi tiêu, đi tiểu nhưng cảnh vệ không cho phép, tài xế phải chạy suốt, không được ngưng lại giữa đường. Vì vậy mà đa số ông già đã tiêu tiểu ngay trong xe. Xe đóng kín mít, không làn gió mát, không ánh sáng. Mùi mồ hôi, nay lại thêm mùu xú uế của tiểu và phân người. Đâu đó có tiếng kêu:
-Có người té xỉu!
-Cấp cứu! Cấp cứu! Có người chết ngạt.
-Tài xế! Dừng xe! Có người đau tim!
Nhưng tài xế và lính lệ im lặng vì họ đã được chỉ thị trước là phải im lặng trong mọi tình huống. Cho đến sáng hôm sau, cả đoàn xe, và một số đoàn xe khác được phép tiến vào một thung lũng có khu trại rộng lớn, ở ngoài cổng có bảng đề năm chữ lớn “ Trại An Dưỡng Bồng Lai” . Đó là trại tù “Đại Gian ” nay đổi tên. Các tù nhân cũ đã được lệnh dờI đến một địa điểm khác nhường chỗ này cho các bô lão.


Khi bước xuống xe, một số lão nhân đã té xuống mà không đứng dậy được vì mấy ngày phải dứng trong xe, không có chỗ nhúc nhích. Họ không được ăn uống lại phải chịu cảnh hôi thối tồi tệ hơn trong một chuồng bò, chuồng ngựa. Một số bại liệt, các lính lệ phải khiêng xuống và đưa vào phòng y tế. Một số đã chết. Trong khoảng năm trăm trại viên mới đến đã có một trăm bại liệt và lâm bệnh trầm trọng, còn 50 trại viên chết trong xe khi di chuyển. Người chết thì trại lập biên bản riêng rồi đem chôn trên đồi. Người bệnh nặng thì cho vào bệnh xá, còn những ai khoẻ thì vào trại. Trại có 8 dãy nhà, trước đây do tù nhân lợp để cho tù nhân ở. Mái lợp tranh. Mỗi dãy nhà cách nhau khoảng 10 thước, ở giữa có hàng rào tre che kín. Tám dãy nhà này là khu tù nhân. Trong mỗi nhà có giường gỗ hoặc giường tre, làm bằng các cây tre để nguyên ống. Các chân giường là những cây gỗ to bằng bắp chân. Ngoài ra cũng có những khu khác như khu nhà ban quản đốc, khi cảnh vệ, khu bệnh xá, khu lao động, khu ẩm thực, khu vật liệu và khu văn hóa gồm thư viện và hội trường.. Giữa khu này qua khu kia có cổng đóng kín và có lính lệ mang súng canh gác.



Sau khi vào trại, các lão nhân được tập trung ở hội trường để nghe chúa trại giảng giải chính sách của triều đình và nội quy của trại. Nội quy của trại gồm những điều sau:
1. Tất cả tiền bạc, đồng hồ, đồ kim khí, đồ vật quý phải trình nạp cho trung tâm cất giữ.
2. Sau khi ăn chiều xong, mọi người có quyền tắm rửa giải trí, hoặc tập thể thao..
3. Chín giờ tối, lên giường ngủ. Không được nói chuyện, hay đi lang thang..
4. Sáu giờ sáng các trại viên phải thức dậy, đánh răng, rửa mặt và ra sân tập thể dục tập thể.
5. Trong đêm muốn đi tiêu, đi tiểu phải xin phép tổ trưởng.
6. Cấm ngặt ăn cắp của trại, của quan lại và các người khác.
7.Nghiêm cấm mọi sự tranh cãi, ấu đả .
8. Cấm dâm dục
9.. Cấm hối lộ.
10. Mỗi phòng, mỗi khu đều có lính trông coi. Trại viên phải tuân lệnh tuyệt đối, không được cãi cọ hay hành hung người triều đình.
11. Ai làm trái nội quy, nhẹ thì bị nhốt từ một ngày đến một tháng, nặng hơn nữa thì bị biệt giam từ vài ngày đến vài tháng.. Nếu ai phao tin đồn nhảm hoậc có ý chống triều đình sẽ bị đưa lên tòa án xử phạt theo luật định, hoặc chúa trại cũng có thể chấp hành pháp luật trừng trị thẳng tay.



Viên chúa trại cho biết triều đình rất quan tâm đến sức khỏe của nhân dân, mà chú ý đặc biệt về sức khoẻ của ngườI già. Người già thì suy yếu, nhiều bệnh tật nên triều đình phải tập trung để kiểm tra toàn diện. Ai không bệnh sẽ trở về, ai bệnh nhẹ thì ở lại một thời gian ngắn, ai bệnh nặng thì cần thời gian dài hơn. Sau khi lành bệnh, những ai không có gia đình hoặc muốn ở lại thì triều đình sẽ chấp thuận, vì triều đình luôn chăm lo đời sống của nhân dân, nhất là những nhân dân già cả. Viên chúa trại thuyết trình xong, hỏi ai có thắc mắc thì cứ hỏi.


Vì đường xa, quá mệt mỏi, it ai đưa ra thắc mắc hoặc tham dự cuộc tranh luận. Cuối cùng, các cụ chia thành tổ , rồi bầu tổ trưởng, tổ phó và được lính lệ dẫn vào các phòng. Lính lệ vào hướng dẫn cách sắp xếp đồ vật cá nhân, chỗ xếp quần áo, chân màn và chỗ nằm từng tổ. Sau khi các cụ vào trại, lính lệ kiểm soát lần nữa, rồi ra ngoài khóa cửa lại. Trong đêm, những ai muốn đi tiêu, đi tiểu thì phải kêu to, xưng tên, và nói rõ là xin đi tiêu hay đi tiểu. Khi tổ trưởng chấp thuận thì các trại viên mới được ngồi dậy đi vào một cái thùng đặt ở góc phòng.


Sáng ra, mọi người thức dậy từ sáu giờ sáng, đi tiêu, đi tiểu, đánh răng, súc miệng, rửa mặt và tập thể dục trong phòng. Tổ trưởng cử ngưởi đổ thùng phân và nước tiểu và quét dọn phòng. Khoảng 7 giờ, mọi ngưới ăn sáng rồi đi lao động. Nhóm mộc thì cưa đẽo, đục, lo đóng bàn ghế. Nhóm canh nông thì xúc phân, đổ nước tiểu và trồng lúa, khoai, sắn. Nhóm lâm sản đi săn bắn và hái củi. Mỗi trại viên ngày ăn ba bữa, mỗi bữa không đầy một bát cơm. Bữa ăn thường là cơm độn khoai sắn hay bắp. Thức ăn là một món canh và một món kho hay xào. Canh thường là rau muống. Mỗi nồi canh nấu cho trăm người, gồm rau muống để nguyên, không cắt, không chẻ, không loại bỏ rau già, chỉ rửa sơ sài, nấu với một con gà hay hai ba ký xương bò, xương heo. Món xào thường là rau muống xào thịt bò hay thịt heo, món mặn thường là cá hay thịt kho với bầu bí, cà chua, cà dái dê. Rau muống, bầu bí hoặc cà chua đều là trại viên trồng trong trại. Mỗi trại viên nói chung là được vài muỗng canh, một lát thịt hay một miếng cá kho nhỏ. Phần lớn các cụ không ăn nổi, Mỗi tuần, các trại viên mỗi phòng thực hiện việc kiểm điểm hàng tuần. Cụ Lâm là một thương gia ở kinh đô thắc mắc:
-Tại sao triều đình lại đối xử với chúng tôi như tù nhân?
Viên phó chúa trại tuổi khoảng ba mươi giải thích:
-Đây không phải là trại tù mà là trường học. Các anh xưa nay sống cá thể, nay các anh phải làm cuộc cách mạng, phải sống một đời mới của tập thể nghĩa là mọi người cùng làm, cùng ăn và cùng ngủ. Có sống cuộc sống tập thể thì mới tiến lên đại đồng, không còn phân chia giai cấp, không còn biên cương quốc gia, mọi người trên toàn cầu là anh em một nhà.

Viên trưởng ban chính trị, tuổi khoảng bốn mươi, lên tiếng giảng dạy:
- Các anh đã già không nên ăn nhiều mà phải ăn theo quy định y tế để đảm bảo sức khỏe. Các anh lại phải lao động vì lao động là vinh quang, lao động là luyện tập cơ thể. Tất cả các anh hiện nay đang được triều định giáo dục và bồi dưỡng. Các anh phải cố gắng học tập tốt, cố gắng lao động tốt để khỏi phụ tấm lòng đại nhân, đại nghĩa của hoàng thượng và triều đình!
Cụ Nhân, một cai đội hưu lên tiếng:
-Tại sao không kiểm tra trong thành phố mà phải vào nơi rừng núi hoang vu?
Viên chúa trại trả lời:
-Ngày nay, quả địa cẩu nóng lên và sinh ra nhiều bệnh dịch. Triều đình ta biết trước việc này nên phải đưa các anh lên chốn núi rừng để tâm hồn các anh được thanh tĩnh, đồng thời tránh sự lây lan trong dân chúng.
Y sĩ Nho hỏi:
-Tại sao chuyên chở chúng tôi như chuyên chở súc vật, không cho chúng tôi ăn uống, nghỉ ngơi, và đi tiêu, đi tiểu?
Viên phó chúa trại trả lời:
- Triều đình ta có nhiệt tình săn sóc sức khoẻ cho nhân dân nhưng vì thiếu phương tiện nên bọn các anh phải ngồi chật. Việc xe chạy liên tục là để tránh chậm trễ, triều đình săn sóc các anh nên muốn đưa các anh mau đến nơi an dưỡng.Tất cả là do lòng yêu nước và yêu nhân dân của hoàng thượng và triều đình..
Cụ Văn là một giáo viên xin hỏi:
-Triều đình ra lệnh tập trung một tuần sao đã mấy tháng qua, chúng tôi chưa được về mà còn phải lao động như tù nhân, như nô lệ? Triều đình nói kiểm tra sức khoẻ mà đến nay chúng tôi vẫn không thấy bóng y sĩ hay y tá đâu cả. Xin các quan lớn giải thích rõ ràng, đừng lừa dối nhân dân.
Viên chúa trại trả lời:
-Triều đình ra lệnh các anh mang lương thực một tuần chứ không nói các anh chỉ đi một tuần. Hiện nay, trung tâm chưa thực hiện được việc khám tổng quát là vì thiếu y sĩ. Các anh phải chờ đợi một thời gian nữa!
Tuy các quan đã bào chữa và cố gắng thuyết phục nhưng một số các cụ vẫn phản đối. Cụ Vân là một đại thương gia, luôn sống trong cảnh phú túc, không chịu nỗi cư cực. Và cụ Minh, một luật sư không chấp nhận hành động phi pháp của triều đình, quyết tâm tuyệt thực. Hai cụ còn vận động một số bạn già tuyệt thực tập thể. Chúa trại cho gọi mấy ngườI này lên văn phòng, và khuyến dụ họ, song họ không chịu. Cụ Vân nói:
-Chúng tôi không phạm tộI, tại sao đối xử như tù nhân? Dù chúng tôi phạm tộI gì, chúng tôi phải được pháp luật triều đình xét xử công minh.

Cụ Minh phát biểu:
Không thể đưa chúng tôi vào rừng sâu bỏ cho chết đói như thế này. Yêu cầu triều đình phải đối xử công bằng và nhân đạo với nhân dân.
Viên chúa trại tức giận, đập bàn quát lớn:
-Chúng bay là những thằng già vô ích, không sản xuất, không làm gì có ich lợi cho nhân dân, cho đất nước. Giết sạch chúng bay hàng triệu đứa thì triều đình thu lợI hàng triệu, hàng ức lạng vàng hàng năm. Chúng bay cũng gần kề miệng lỗ, chết sớm vài năm thì cũng tốt thôi. Nuôi chúng bay chỉ tổn hại cơm gạo. Đáng lẽ chúng tao cho chúng bay chết đói từ ngày đầu tiên vào đây, nhưng chúng tao còn chờ lệnh trên. Chúng bây là những tử tộI sắp lên đoạn đầu đài mà không biết thân còn biểu tình, tranh đấu vớI tuyệt thực!





Sau khi la mắng xong, viên chúa trại ra lệnh đem các cụ giam tại khu biệt giam (khu này còn gọi là khu kiên giam). Khu biệt giam là một hòn đảo giữa một cái hồ rộng nuôi cá sấu. Có một cái cầu bắc từ trong bờ ra khu kiên giam. Khu kiên giam là một gò đất, là một cái nhà hay cái chuồng làm bằng gỗ, trên lợp tôn, xung quanh có lứới sắt bao bọc. Có hai tầng, cách biệt nhau bằng những thân cây đóng khít nhau.Mỗi tầng co hai hay ba phòng, mỗi phòng có thể nhốt một hai người. Các trại viên bị kỷ luật thì bị xiềng xích chân tay, mỗi ngày chỉ được ăn một bữa.. Những ai đã vào đây khoảng hai tuần cho đến một tháng đều chết hết. Nhưng ở tầng trên thì thoải mái hơn.



Đến tháng bảy âm lịch, tại miền Bắc là mùa mua lũ. Cơn mưa càng ngày càng dâng nước lên cao khiến các trại viên phải ở nhà không đi lao động được. Đêm đến như thường lệ, các thầy đội ra lệnh nhốt các trại viên vào phòng và khóa trái cửa bên ngoài. Khoảng nửa đêm, chúa trại ra lệnh tập họp các thầy cai, thầy đội và lính lệ mang hành lý ra bên ngoài trại. Tại đây có xe lớn, xe con đợi sẵn. Họ lặng lẽ lên xe đến một nơi khác, bỏ mặc sau lưng đám người già sắp bị chết đuối.
Nước dâng mỗi lúc một cao, nước đã vào phòng ngủ của trại. Các cụ hoảng hốt kêu gọi nhau:
-Nước lụt các bác ơi! Nước lụt ngập trại!
-Dậy mau! Dậy mau!
- Các thầy cai, thầy đội ơi ! Mở cửa! Mở cửa! Cứu chúng tôi!
-Người ta giết chúng tôi! Xin TrờI Phật phù hộ chúng tôi!
-Lạy Quan Thế âm bồ tát! Xin bồ tát cứu khổ, cứu nạn chúng con!.
-Lạy chúa! Xin cứu vớt chúng con!



Trong trại toàn là tiếng kêu than, nguyền rủa. Một vài cụ khoẻ mạnh đã leo được lên mái nhà hoặc chạy ra ngoài. Những ai chạy ra ngoài liền bị nước cuốn trôi đi ra sông, ra biển.


Trận lụt năm này đã làm cho núi rừng ngập lụt. Nước từ núi cao chảy về. Nước từ biển cả dâng lên. Hàng vạn dân chúng miền núi và miền xuôi bị trôi ra biển. Triều đình thông báo trận lụt đã cuốn trôi một số đông quan lại bộ Y, quan quân, và giết hàng vạn các lão nhân tại các trung tâm an dưỡng toàn quốc. Việc này đã gây ra một phản ứng dữ dội trong toàn quốc. Những ai có cha mẹ thiệt mạng trong trận bão lụt đã lên tiếng chỉ trích chính sách vô trách nhiệm của triều đình. Có kẻ gửi thư lên vua, có kẻ viết thư cho Đô ngự sử hoặc phủ huyện kêu oan, có người viết cáo thị dán khắp nơi kêu gọi dân chúng lên tiếng phản kháng.. Vua quan tức giận, cho họ là phản động nên ra lệnh bắt giam họ hoặc sa thải họ.



Thân phụ của Long nhờ bám vào một thân cây cho nên trôi vào một bờ sông. Cụ được một ngườI chài lướI vớt được đưa vào nhà cấp cứu và nuôi dưỡng. Sau vài bữa, cụ tỉnh lại, cụ thuật mọI việc cho ngườI thuyền chài nghe. Sau vài ngày, ngườI chài này dùng thuyền âm thầm đưa cụ về làng cũ. Chờ nửa đêm khuya vắng, ông dắt cụ về nhà. Nửa đêm, nghe tiếng gõ cửa, mọi người trong nhà Long lo lắng vì sợ lính lệ hay tuần phu đến xét nhà. Khi thấy một ngườI lạ dẫn bố mình về, Long vô cùng ngạc nhiên và vui sướng. Long mờI khách vào nhà ngỏ lờI cảm tạ. Long đem tiền bạc biếu người thuyền chài nhưng ông ta từ chối. Ông xin phép về ngay vì ở lại lâu bất tiện.

Sau khi khách ra về, Long hỏi bố mọi việc, Long mới biết bố mình đã thoát hai đại nạn. Long dặn mọi người trong nhà không được tiết lộ bí mật. Mẹ Long cũng đã đi trình diện thế là đã chết trong cơn đại hồng thủy. Long thương xót mẹ già. Long giấu bố trong chuồng heo. Chuồng heo nhà Long khá lớn, có hai phần. Một phần nuôi heo, còn phần bên cạnh để chứa dụng cụ và đồ cũ. Long đào một hầm bí mật tại đây, xây gạch đá vững chắc. Một tấm gỗ làm cửa, trên phủ rơm. Khi làm xong hầm, Long đưa bố vào ẩn lánh trong này. Hàng đêm, đích thân Long đưa cơm nước cho bố.




Mỗi buổi chiều, các cô gái thường ra sông giặt quần áo. Cúc thường gặp Lan, Hạnh, Hường và Hoa. Giặt quần áo xong, Cúc thường ngồi trên tảng đá trên bến chuyện trò với các bạn gái.
Hạnh nói:
-Con Mai xấu thế mà được anh Long yêu và cưới làm vợ! Số phận chúng mình thật thua kém!
Hoa nói:
- Vợ chồng là do duyên phận, so sánh làm chi cho mệt!
Cúc mang những thư trong túi ra khoe cùng bè bạn:
-Nhiều chàng trai làng và ngoài tỉnh gửi thư cho tao mà tao không chưa yêu ai cả! Trước khi cưới Mai, Long đã cầu hôn tao mà tao không chịu. Nay Long đã cưới Mai mà Long vẫn chạy theo van nài ban phát chút tình yêu! Anh chàng thật trơ trẽn!



Ban đêm, Cúc thường nhìn sang nhà Long, thấy cảnh Long âu yếm Mai mà lòng nàng tức giận vô cùng. Nhà Long và nhà Cúc cách nhau một hàng rào dâm bụt. Nhiều đêm, Cúc bò qua hàng rào sang nhà Long nhìn vào phòng vợ chồng Long. Trong khi vợ chồng Long ngủ say, Cúc đứng thẩn thờ lòng đầy uất hận. Bỗng một đêm, Cúc thấy Long mở cửa ra sau vườn, tay mang một thúng nặng. Cúc đi theo và thấy Long vào chuồng heo. Cúc tính liều xông ra ôm đại Long. Nhưng Cúc thấy Long nâng tấm ván và chui vào một hầm bí mật. Cúc biết Long có sự bí mật. Long giấu một kho tàng ư? Hay Long giấu một tên cướp? Hay Long nấu rượu lậu?


Theo dõi một thờI gian, Cúc thấy đêm nào Long cũng vào chuồng heo và bưng theo một cái thúng vào. Cúc bèn bỏ thư rơi cho viên lý trưởng, báo cho biết có tên cướp ẩn náu trong chuồng heo nhà Long. Đêm đến, viên lý trưởng bèn đem tuần phu vây nhà Long và bắt được thân phụ Long và giải lên huyện. Quan huyện kết tội bố Long trốn trại, và Long chấp chứa phản động. Bố Long bị đày ra đảo, ít lâu sau rồi chết. Còn gia đình Long bị đuổI ra khỏi làng, phải lên tập trung sản xuất tại rừng núi xa xăm, mà sau cũng không ai biết tông tích.




Trong thời gian nước Đại Lạc bị cơn hồng thủy, mấy chiếc tàu quốc tế nghiên cứu môi trường đại dương có mặt ngoài biển. Họ đã vớt được một số nạn nhân của cơn hồng thủy. Những người trẻ thì sau vài ngày chữa trị , họ đưa vào bờ . Còn những lão nhân thuộc các trung tâm An Dưỡng, thì được đưa về trung tâm y tế thế giới. Sau một thời gian trị bệnh, các cụ tỉnh lại và tường thuật lại những sự thực tại các trung tâm an dưỡng. Sau đó, hội Bảo vệ nhân quyền, hội bảo vệ người già cùng nhau nghiên cứu và đi đến những khám phá mới về các chính sách của triều đình Đại Lạc quốc. Họ kết luận:


Trung tâm an dưỡng sự thực là những lò sát sanh. Họ theo đường lối cách mạng đỏ là đường lối duy vật vô nhân đạo nhằm đối phó nạn nghèo đói. Chính sách này có những điểm sau:
-Không nuôi nấng, không chữa bệnh cho người già từ 60 tuổi trở lên, mà phải giết họ đem bón cây để khỏi hao tốn tài nguyên quốc gia.
-Không cho thanh niên nam nữ kém sức khỏe được kết hôn và sinh đẻ. Nếu không giết thì phải thiến hoặc hoạn những người này.
-Trẻ con đẻ non, yếu đuối bệnh tật thì giết đi đem bón phân hay làm thực phẩm gia súc
-Mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh được một đứa con.
-Những người tự tử thì không được cứu chữa, để cho họ chết theo ý nguyện. .
-Tất cả thuốc men và phương tiện ưu tiên phục vụ quan lại triều đình vì triều đình là người tổ chức mọi thắng lợi cho tổ quốc..
-Không cứu chữa những người không có tiền trả viện phí.
-Những người chết không được chôn xuống đất, đất để sản xuất chứ không dùng để chôn ngườI chết. Những người chết phải đem thiêu, lấy tro bón cây.
-Những nhà dưỡng lão, viện tế bần, nhà thương của chế độ cũ là tàn tích phong kiến và thực dân, phải triệt tiêu hoàn toàn bằng cách giao cho các nước bạn xử lý thích đáng..



Sau khi nghe tin tức của hội Nhân quyền, dân chúng khắp nơi phẫn nộ, kết tội vua quan vô nhân đạo, là một lũ quỷ sống, phạm tội diệt chủng. Triều đình ra thông báo phủ nhận tin tức trên, cho rằng tin trên là hoàn toàn thất thiệt, do bọn địch có dụng tâm đánh phá triều đình ta.

Saturday, August 23, 2008

III. ĐÔNG ĐỊNH VƯƠNG NGUYỄN LỮ

Tháng ba năm đinh hợi (1407), quân Minh đánh vào thành Đa Bang, Mộc phàm giang, và Hàm Tử quan, rồi tiến vào Thăng Long như chỗ không người. Quân nhà Hồ đại bại, cha con họ Hồ phải chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An rồi Hà Tĩnh thì bị bắt, và bị giải về Kim Lăng. Cùng lúc này, nhà Minh bắt một số nhân sĩ sang Kim Lăng giam tại đó để làm cho trong nước không còn ai có tài sức chống lại quân Minh. Đàng khác, nhà Minh dụ dỗ một số ra làm quan. Ai ra làm quan thì được thưởng vàng bạc, châu báu. Tuy nhiên một số ra đầu phục nhà Minh mà cũng bị đem sang Trung Hoa lấy cớ là cho đi tu nghiệp, nhưng sự thực là giam lại bên đó. Con cháu họ Hồ và dân chúng, nhất là các trí thức không muốn ra làm quan với nhà Minh nên đã bỏ trốn vào rừng. Sau khi Lê Lợi thống nhất đất nước, gia đình họ Hồ lại trở về huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc (thế kỷ XVII), quân Nguyễn chiếm đánh Nghệ An, lúc bấy giờ là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, một số dân chúng Nghệ An bị bắt đưa vào vùng Thuận Quảng, trong đó có gia đình họ Hồ, tức tổ tiên Nguyễn Nhạc. Ban đầu gia đình này định cư ở ấp Tây Sơn, thôn An Khê, thuộc phủ Hoài An, đất Quy Nhơn. Đến đời Hồ Phi Phúc thì gia đình dời về ấp Kiên Thành, sau là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn sinh ba con , con đầu là Nhạc, con thứ là Lữ và con út là Huệ.


Nhạc trước làm biện lại ở Vân Đồn cho nên được gọi là biện Nhạc. Ông say mê cờ bạc nên đem tiền thuế nướng vào sòng bạc hết sạch, rồi bỏ trốn lên núi làm giặc. Đến năm tân mão ( 1771), Nhạc lập đồn trại ở đất Tây Sơn, chiêu mộ quân sĩ. Lúc bấy giờ dân chúng tôn phù họ Nguyễn, anh em họ Hồ bèn đổi sang họ mẹ để thu phục nhân tâm, thành ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.


Nguyễn Nhạc là người đa mưu kế, thường lấy của nhà giàu chia cho người nghèo cho nên dân chúng theo về rất đông. Nguyễn Nhạc muốn mở rộng đất đai bèn mưu cướp thành Quy Nhơn. Ông lập mưu ngồi vào cũi, cho thủ hạ khiêng vào thành Quy Nhơn nộp cho tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên. Nguyễn Khắc Tuyên tưởng thật, mở cửa thành cho vào. Đến đêm, Nguyễn Nhạc phá cũi, mở cửa thành cho quân Tây Sơn tràn vào chiếm thành. Thành Quy Nhơn trở thành căn cứ của anh em Nguyễn Nhạc.



Lúc này, chúa Nguyễn là Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền, phong con thứ chín là Nguyễn Phúc Hiệu làm thế tử. Sau Vũ vương gần mất, mà thế tử đã chết sớm, nên để di chiếu lập người con thứ hai nối nghiệp, song quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu, lập người con thứ 16 của Vũ vương mới 12 tuổi lên làm chúa, tức Định vương. Sau khi Hoàng Ngũ Phúc giết Trương Phúc Loan và đánh Phú Xuân, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam, lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung. Khi quân Tây Sơn chiếm Quảng Nam, chúa Nguyễn đem cháu là Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, để Đông cung ở lại Quảng Nam cự địch. Nguyễn Nhạc cho người rước Đông cung về để lấy lòng dân. Quân Hoàng Ngũ Phúc đã tiến qua Hải vân, Nguyễn Nhạc sai Lý Tài, Tập Đình là quân người Quảng Đông (Trung Quốc) đánh Hoàng Ngũ Phúc nhưng bị thua quân Trịnh, Nguyễn Nhạc muốn giết Lý Tài, Tập Đình nên Tập Đình phải chạy về Quảng Đông sau bị quân Thanh giết. Quân Nguyễn lúc này có quan Lưu thủ đất Long Hồ là Tống Phước Hạp đã lấy ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Bình Khánh, rồi tiến đánh Phú Yên. Ngoài Thuận Hóa có Hoàng Ngũ Phúc. Tây Sơn lâm thế lưỡng đầu thụ địch. Nguyễn Nhạc bèn sai bộ tướng là Phan Văn Tuế đem vàng bạc lụa và xin nộp đất Quảng Nghĩa, Quy Nhơn, Phú Yên dâng Hoàng Ngũ Phúc, và tình nguyện đem quân đánh họ Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc cũng muốn dùng sức Tây Sơn đánh Gia Định nên dâng sớ xin chúa Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc làm Tiên phong tướng quân, Tây Sơn hiệu trưởng. Chúa Trịnh chấp thuận, Hoàng Ngũ Phúc bèn sai Nguyễn Hữu Chỉnh vào Quy Nhơn mang ấn kiếm cho Nguyễn Nhạc.


Nguyễn Nhạc không lo mặt Bắc nữa, bèn tính mưu kế đánh họ Nguyễn . Ông đem con gái là Thọ Hương dâng cho Đông cung, và sai người đến nói với Tống Phước Hạp xin đầu hàng để hiệp sức khôi phục Thuận Hóa. Tống Phước Hạp mắc mưu. Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ tiến đánh khiến cho quân Tống Phước Hạp thua. Nguyễn Nhạc sai người báo tin thắng trận cho Hoàng Ngũ Phúc. Hoàng Ngũ Phúc tâu xin chúa Trịnh phong Nguyễn Huệ làm Tây Sơn hiệu tiên phong tướng quân. Quân Trịnh chiếm Thuận Hóa và Quảng Nghĩa. nhưng bị bệnh dịch mà chết rất nhiều. Hoàng Ngũ Phúc tâu chúa Trịnh xin lui binh về Thuận Hóa. Chúa Trịnh thuận cho. Hoàng Ngũ Phúc về Thuận Hóa thì mất. Chúa Trịnh sai Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn vào giữ Thuận Hóa. Thế là đất Quảng Nam thuộc Tây Sơn. Năm bính thân (1776), Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ vào đánh Gia Định, chiếm Sài Côn ( Sài Gòn), chúa Nguyễn chạy về Trấn Biên ( Biên Hòa). Đỗ Thanh Nhân ở Đông Sơn khởi binh chống Tây Sơn, chiếm lại Sài Côn, Nguyễn Lữ lấy một số thóc gạo rồi lui về Quy Nhơn.


Nguyễn Nhạc thấy mình đã mạnh, bèn sửa lại thành Đồ Bàn của nước Chiêm , rồi xưng là Tây Sơn vương vào tháng ba bính thân (1776). Cũng thời gian này, Đông cung trốn vào Gia Định.được Lý Tài rước về Sài Côn làm Tân Chính vương, tôn Định vương làm Thái thượng vương. Năm đinh dậu (1777), Nguyễn Nhạc tâu chúa Trịnh xin làm Trấn thủ Quảng Nam. Lúc này miền Bắc rối loạn, giặc giã nổi khắp nơi khiến kho tàng trống rỗng, Trịnh Sâm bèn chấp thuận cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Tuyên Úy đại sứ, Cung quận công. Nguyễn Nhạc không lo mặt Bắc nữa, bèn tính tiến công Gia Định. Ông sai hai em vào đánh chúa Nguyễn. Lý Tài thua chạy, Tân chính vương lui về Vĩnh Long còn Thái thượng vương chạy về Long Xuyên. Nguyễn Huệ đuổi theo bắt được cả hai rồi giết đi. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong Gia Định giao cho đô đốc Chu trấn thủ, rồi về Quy Nhơn. Năm mậu tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu là Thái Đức, lấy Đồ Bàn làm hoàng đế thành, phong Nguyễn Lữ làm Tiết chế , Nguyễn Huệ làm Long nhương tướng quân.


It lâu sau, Nguyễn Ánh tái chiếm Gia Định, xưng là Đại nguyên soái, Nhiếp quốc chính. Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem binh đánh thành Bình thuận và thành Diên Khánh. Năm nhâm dần (1782), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem 100 chiến thuyền vào Cần Giờ, người Pháp là Manuel phải đốt tàu mà chết. Nguyễn Ánh phải chạy ra Phú quốc..Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh trở về chiếm Gia Định, Nguyễn Huệ vào đánh Gia Định, Nguyễn Ánh chạy ra Phú Quốc rồi Côn Lôn. Nguyễn Ánh cầu cứu Pháp và Xiêm La. Tháng hai năm giáp thìn (1784), vua Xiêm sai tướng đem quân sang giúp Nguyễn Ánh nhưng bị quân Nguyễn Huệ đánh tan ở gần Rạch Gầm và Xoái Mút tại Mỹ Tho. Nguyễn Huệ lui về Quy Nhơn, giao Đặng Văn Chân trấn thủ Gia Định.
Tháng năm, năm bính ngọ (1786), Nguyễn Huệ đem binh chiếm Thuận Hóa rồi kéo binh ra Bắc diệt họ Trịnh. Vua Hiển Tông phong Nguyễn Huệ làm Nguyên soái Uy quốc công, và gả Ngọc Hân công chúa cho Nguyễn Huệ. It lâu sau, vua Hiển tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi. Khi Nguyễn Nhạc nghe tin Nguyễn Huệ đem binh ra Bắc thì vội đem quân cản lại, nhưng Nguyễn Huệ đã ra Bắc và dẹp xong họ Trịnh. Anh em Nguyễn Nhạc gặp nhau tại Thăng Long, sau đó, anh em Tây Sơn về Nam. Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn xưng là Trung ương hoàng đế, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định vương ở Gia Định, Nguyễn Huệ làm Bắc bình vương ở Thuận Hóa.



Nguyễn Lữ không trí trá như Nguyễn Nhạc, và cũng không có tài quân sự như Nguyễn Huệ. Ông đã lập gia đình, có hai vợ và ba con. Thuở nhỏ, ông có khuynh hướng siêu hình. Ông theo học đạo với một đạo sư Ấn Độ và trở thành một đạo sư của một nhóm dân chúng vùng Quy Nhơn bao gồm người Việt và người Chiêm Thành. Đường lối tu tập của ông rất phóng khoáng, không lập chùa chiền, không tụng kinh kệ mà chú trọng về tu Thiền. Ông tu như kiểu cư sĩ Phật giáo. Hằng ngày và hàng đêm, ông tu tập Thiền định cho dù là ở trong chiến trường đầy khói lửa. Ông đã đạt nhiều tiến bộ trong thiền định. Tâm ông đã được hỷ lạc và an tịnh khá nhiều.
Tự nhiên, những chuyện lúc ấu thơ sống lại trong lòng ông. Những việc bí ẩn trong gia đình, trong đời ông, ông đều hiểu rõ nguyên nhân. Trong giấc mơ, có lần ông thấy ông tìm về dưới hang núi Thiếu Lâm. Cũng có lần ông thấy mình trở về chốn cũ trên non cao ẩn khuất trong mây mù, sương khói, bạn bè với những con khỉ, con hươu và bầy hạc.
Một hôm, ông thấy trong cung điện nhà Trần, Đế Hiễn bàn với các cận thần mưu giết Lê Quý Ly vì y quá chuyên quyền, nhưng có người mật báo cho Lê Quý Ly, Quý Ly sai quân bắt vua,. Thượng hoàng bênh Lê Quý Ly, xuống chiếu trách Đế Hiển trẻ con làm hại công thần, làm nguy xã tắc. Thượng hoàng giáng vua làm Minh Đức đại vương và lập Chiêu Định vương là con Nghệ Tông lên ngôi. Các tướng bèn xông vào cứu giá, nhưng vua viết hai chữ “giải giáp”. Quý Ly bèn ra lệnh thắt cổ Đế Hiễn. Các tướng sĩ theo phò Đế Hiễn bị giết hết.


Khi Nguyễn Nhạc nổi lên ở đất Tây Sơn, có bọn Lý Tài Tập Đình theo giúp, lực lượng rất mạnh. Nguyễn Nhạc tiến đánh Quảng Nghĩa, chiếm một dải đất rộng cho đến Bình Thuận. Nguyễn Lữ là người có vị trí thứ hai trong lực lượng Tây Sơn. Ông đã vào Gia Định chiến thắng nhiều lần nhưng tâm ông không thiết tha đến việc binh đao. Tại Gia Định thành sau khi tọa thiền rồi nằm ngủ, ông thấy một giấc mơ:
Trên một bãi cỏ rộng trước cung vua, Lê Quý Ly ra lệnh hành quyết 370 tướng sĩ nhà Trần trong đó có những danh tướng như Trần Nguyên Hãng, Trần Khắc Chân. Máu phun thành vòi, thây của họ vẫn đứng sừng sững. Họ lên tiếng chửi mắng Lê Quý Ly, nguyền rủa Lê Quý Ly. Trong khi các nạn nhân bị giết dã man, Lê Quý Ly cười khoái trá và ngày càng lộng hành. Ông tự xưng là Quốc tổ Chương hoàng, ở cung Nhân Thọ, ra vào dùng nghi vệ thiên tử. . .


Một đêm tại thành Đồ Bàn, sau khi ngồi thiền xong đi một vòng kiểm tra quân sĩ, ông bèn lui về nghỉ ngơi.
Ông thấy quân Thanh ào ạt sang Việt Nam. Lê Quý Ly phải bỏ thành Thăng Long mà chạy rồi bị bắt tại Hà Tĩnh, vài bị đem về Kim Lăng sống kiếp tù binh nhục nhã..

Một đêm khác tại Quy Nhơn sau khi quân Tây Sơn chiếm thành Quy Nhơn, trong khi thiền định, ông thấy trước mắt một vùng hào quang xuất hiện.
Nguyễn Huệ đem binh đánh Phú Xuân, rồi tiến thẳng ra Bắc diệt tan họ Trịnh rồi lui về Phú Xuân.



Một vài năm sau, cũng tại thành Quy Nhơn, một đêm hè nóng bức, thiền định xong, ông ra sân đứng ngắm sao trời, rồi lui vào phòng an nghỉ. Ông thấy trong giấc mơ:
Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, tự mình thống lĩnh binh sĩ, ngồi lưng voi, tả xông hữu đột tiến vào Thăng Long đánh tan quân Thanh ra khỏi đất nước. Tôn Sĩ Nghị và bọn tàn binh giành nhau chạy dẫm đạp mà chết, xác chất thành đống. . .



Sau khi Nguyễn Huệ tiêu diệt họ Trịnh, Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn xưng Trung ương hoàng đế, danh tiếng nhà Tây Sơn lên cao, nhất là sau khi Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh (1788) nhưng cũng từ đó, bao tệ nạn trong gia đình, trong quốc gia xảy ra. Nguyễn Nhạc hiếp vợ Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đem binh vây thành Quy Nhơn. . .suýt gây nên cảnh huynh đệ tương tàn. Việc này làm cho lòng Nguyễn Lữ cay đắng và chán nản. Ông nhận thấy cuộc thế là một đấu trường tanh hôi, là chỗ cho con người tranh giành, chém giết. Vinh nhục, thành bại chỉ là một giấc Nam kha.


Sau khi được phong Đông Định vương trấn đóng Gia Định ông lại thấy những giấc mơ hãi hùng.
Tại Đồ Bàn và Thuận Hóa, trời đất đen tối, quan tài của Nguyễn Nhạc rồi Nguyễn Huệ lần lượt bay về trời. . . Tại Quy Nhơn, các tướng sĩ tranh chấp, gây nên cuộc long tranh hổ đấu, người Tây Sơn giết người Tây Sơn, máu chảy thành sông. . ..
Vài tháng sau, ông lại thấy giấc mơ khác:
Quân Nguyễn Ánh người ngựa và chiến thuyền tới tấp ra Thuận Hoá, Tây Sơn thất trận, anh em nhà Tây Sơn chạy ra Bắc Hà , lớp bị bắt, lớp bị chém giết, lớp tự tử rất thê thảm.Cuối cùng, mồ mả nhà Tây Sơn bị đào bới, thi hài bị ném xuống sông, và những người còn sống, trẻ già đều bị giết tuyệt.
Đặc biệt là giấc mơ này luôn luôn lập đi lập lại nhiều lần khiến cho ông thấy rõ cuộc thế vô thường và công danh phú quý là bi thảm, và tai họa. Ông đã vào đạo thánh, đã đi và đến, đã nghe và thấy tất cả, không u mê, lầm lẫn như bao người thế cõi trần!



Khoảng tháng bảy năm đinh vi (1787), Nguyễn Ánh trở về Long Xuyên, Nguyễn Lữ lui về Biên Hòa giao cho tướng Phạm Văn Tham giữ Sài Côn . Sau Nguyễn Lữ bỏ về Quy Nhơn giả bệnh, giả chết rồi đem gia đình trốn đi một nơi thật xa, không ai hay biết. Mười lăm năm sau, năm 1802, Nguyễn Ánh đem quân ra Bắc, quân Tây Sơn đại bại, Nguyễn Ánh lên ngôi, hiệu là Gia Long, giết con cháu Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, đào mả Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ mà không tài liệu sử nào của nhà Nguyễn nói đến việc đào mả Nguyễn Lữ và giết con cháu Nguyễn Lữ bởi vì ông đã bỏ đi thật xa, có thể là sang Xiêm La hay Ấn Độ.. .

II. DUYÊN KIẾP

Tôi tên là Đào Duy Kỳ, dòng dõi Đào Duy Từ, là một trung úy trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp trường Võ Bị Thủ Đức, ra đơn vị tác chiến khoảng hai năm thì ngày 30-4-1975 xảy đến. Cũng như mọi sĩ quan Việt Nam cộng hòa, tôi đã bị giải ra Bắc và ngồi tù qua các trại Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn. . .


Tôi vốn sinh trưởng trên sông nước Cửu Long giang, khí hậu an lành và trong mát cho nên khi ra Bắc, tôi rất khốn khổ. Tại Lạng Sơn, Thái Nguyên, mùa hè nóng ghê gớm, đến nỗi ban ngày không dám nằm giường chiếu hoặc dựa cột, ngồi ghế hay gốc cây. Mùa hè, dân nơi đây phải chui xuống gậm giường mà nằm. Mùa đông thì rét như cắt thịt, nhất là cơn gió bấc và mưa phùn đã cộng tác chặt chẽ làm tội chúng tôi, những tù nhân thiếu áo, thiếu cơm. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, tôi cũng đã quen thuộc với khí hậu Lạng Sơn, Thái Nguyên.


Những ngày ra Bắc đầu tiên, chúng tôi rất khổ sở. Chúng tôi bị bọn công an ngu dốt chửi mắng, đánh dập và hành hạ. Chúng dốt nhưng lại có nhiều tự hào. Tư hào chiến thắng. Tự hào yêu nước. Tự hào thông minh và tự hào giàu mạnh. Chúng thực thà tin rằng chúng là người trí tuệ, còn tất cả nhân dân miền Nam là ngu dốt nên đã theo Mỹ và thất bại. Chúng tự hào là chúng yêu nước nhất còn phe quốc gia là bán nước cho nên chúng đề cao khẩu hiệu " Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa", hàm ý chỉ có người cộng sản là yêu nước. Chúng không biết Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đàn em sau này của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã ký tên bán Việt Nam cho Trung Quốc . Họ khinh người Nam ngu dốt, không có tình yêu quê hương, tổ quốc cho nên khi có người xuất cảnh, họ mở nhạc cho nghe bài " Quê hương là chùm khế ngọt" để dạy người xuất ngoại lòng yêu nước. Họ không biết những người bỏ nước ra đi cũng rất yêu nước, yêu nhà, yêu mẹ già, em dại và yêu tự do nhưng vì cộng sản tàn ác nên phải bỏ tất cả mà ra đi! Họ coi họ là bậc thầy, còn chúng tôi là kẻ ngu dốt phải nhờ họ dạy dỗ cho nên người. Danh từ " học tập cải tạo" ý nghĩa là thế! Dưới mắt cộng sản, nhân dân miền Nam là cầm thú, chỉ có cộng sản là con người, con người trí tuệ, bách chiến bách thắng! Sự khinh bỉ cộng với lòng căm thù cho nên một số người Bắc đã chạy sang Hongkong mà còn làm lễ mừng chiến thắng 30-4 và đánh đập người Nam tại đây!Bọn công an, bộ đội đa số nhiễm độc cộng sản, học đường lối tàn ác từ Liên Xô, Trung Quốc,lại muốn tỏ ra hăng hái tích cực để lập công cho nên chúng đày đọa chúng tôi đủ điều. Hể một tù nhân có lỗi gì là cả lũ công an, bộ đội xúm lại đánh hôi. Đánh hội chợ coi như là một đặc tính của con người xã hội chủ nghĩa. Nếu không xúm vào mà cứ đứng trơ mắt nhìn, có lẽ họ sẽ bị phê bình là không có tinh thần đồng đội, không có ý thức căm thù quân địch. Chúng lại dùng khí hậu khắc nghiệt, và cái đói và rét để đọa đày chúng tôi. Chúng bắt chúng tôi lao động cực nhọc để trả thù chúng tôi. Nhất là những ngày đầu tiên ra đất Bắc, chúng tôi thường bị dân chúng, nhất là đàn bà và trẻ con ném đá, ném đất và chửi bới thô bỉ nặng nề. Có khi họ đã tập trung đông đảo trên đường chúng tôi đi lao động để ném đá, hô đả đảo và chửi bới. Có thể là do dân chúng đã bị nhiễm nọc độc cộng sản. Có thể địa phượng bắt dân đả đảo để trấn áp chúng tôi, mong lập thành tích kia nọ. Có đôi khi chúng tôi đột nhiên gặp vài đồng bào thì họ ngại ngùng, tránh né. Có lẽ họ sợ liên lụy, sợ bị công an bắt bỏ tù vì liên lạc với tù nhân!Sống trong chế độ ác ôn, con người phải đeo mặt nạ, nếu không thì dễ bị quỷ tha, ma bắt.Tất cả đều là nạn nhân!



Ban đầu thì chúng tôi chao động, có người sợ hãi, nhưng rồi thì cũng quen đi vì mình đã ngồi xuống đất đen thì còn gì để mất và để sợ hãi. Chúng tôi cho rằng cuộc đời chúng tôi đã chấm dứt vì ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam trước đây, những tù binh hay phản động là ngồi tù rục xương mà thôi. Chúng tôi im lặng để mặc cho họ ném đá và chửi bới. Nếu ai bị thưong thì chúng tôi săn sóc, băng bó. Nếu dân chúng quá dữ tợn thì chúng tôi dừng lại, để quản giáo giải quyết rồi mới tiếp tục đi. Tôi hiểu dân chúng miền Bắc đa số tin theo lời tuyên truyền xuyên tạc của cộng sản, và tin những lời cộng sản nói. Họ tin vào ông Hồ, họ cất giấu cán bộ, và góp lương thực ủng hộ cộng sản. Nhiều bà bảo rằng đảng lúc nào cũng đúng. Công an không bắt oan ai bao giờ. Con cháu bà nếu bị giam giữ thì bà bảo chúng nó cố gắng hoc tập tốt để sớm trở về. Nhiều ông bố thấy con ngỗ ngáo, bèn đem con cho bộ đội hay giao con cho công an để họ giáo dục thành người tốt. Ngay tại miền Nam trước 1975, nhiều người tin Nguyễn Hữu Thọ là người quốc gia, không phải cộng sản. Ông Hồ là người yêu nước, là bậc đạị nhân, đại nghĩa. Khi dân Bắc di cư vào Nam, đồng bào Nam kỳ thắc mắc:" Ngoài Bắc đã độc lập tự do, sao còn bỏ xứ mà đi?" Tất cả đã nhiễm độc quá nặng nên tôi cũng không oán trách họ. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, tôi nhận thấy có sự biến đổi trong dân chúng. Mấy năm sau, họ không chửi bới hay ném đá, ném đất vào chúng tôi nữa. Trái lại , có những đôi mắt lặng nhìn chúng tôi như biểu lộ một niềm thông cảm.


Sau ngày 30-4-1975, nhiều đồng bào và cán bộ miền Bắc đã vào Nam. Khi vào thì họ ốm yếu xanh xao, khi trở ra thì béo tốt, áo quần sang trọng, lại mang cả vải vóc, xe đạp, xe Honda, TV, tủ lạnh, radio, casette là những thứ mà chỉ có cán bộ cao cấp đi Liên Xô là có thể mua về được. Họ cũng nghe những câu chuyện về Miền Nam thanh bình thịnh vương, khác với hình ảnh ghê tởm, hãi hùng do cán bộ nhà nước đã tuyên truyền trước đây như lính ngụy “xé xác, uống máu, moi gan quân thù”. Họ nhìn kỹ những tù nhân thì thấy những tù nhân này tuy bị đày đọa khổ sở nhưng vẫn toát ra sự thông minh, hiền lành. Họ nghe nói sĩ quan miền Nam phần lớn có bằng đại học, it nhất cũng tốt nghiệp trung học phổ thông chứ không phải là hạng cán bộ ị tờ như ở miền Bắc sau cuộc Cải cách ruộng đất.


Khoảng 1980, tù nhân đã được gia đình thăm nuôi. Lúc này thì dân chúng miền Bắc đã tới gần dân chúng miền Nam hơn khi họ gặp những bà mẹ, người vợ sĩ quan miền Nam ra thăm nuôi. Họ thấy miền Nam nhiều tình cảm, đầy tình chồng nghĩa vợ, và có tài nguyên phong phú mà thăm nuôi chồng con trong bao nhiêu năm. Vì thế, họ thấy miền Nam có một cái gì đó khác với miền Bắc nghèo khổ, cằn cỗi về vật chất và tinh thần. Những sĩ quan miền Nam trung hậu đã trở thành đầu đề cho các câu chuyện đầu môi của dân Bắc.


Một hôm, ông giáo Thào qua sông Gianh, là một sông rất rộng ở miền Trung. Trên đò chật ních người. Thuyền chở nặng không đi nổi. Ông giáo Thào thường qua lại sông Gianh cho nên quen biết ông lái đò. Ông lái đò kêu to lên: “Ông giáo ơi, xin giúp một tay”. Ông giáo Thào bèn đứng dậy cầm chèo. Mấy bà đi chợ cười to mà nói:
“Ông giáo giỏi quá!”
Lúc bấy giờ trên đò có mấy người trẻ, to cao, mập mạp nhưng đen đúa đồng loạt đứng dậy nói với ông giáo:
“Thầy để chúng em chèo cho!”.
Việc này làm cho dân Bắc vĩ tuyến đã hiểu biết đôi phần về tinh thần “tôn sư trọng đạo”, và “ nhân nghĩa lễ trí tín” của sĩ quan miền Nam trong khi miền Bắc đã mất hẳn từ khi cờ đỏ xuất hiện trên thủ đô Hà Nội!.



Kỷ luật trại giam rất khắc nghiệt và tàn bạo. Tù nhân không được hái trộm khoai, sắn, rau trong trại. Tù nhân nam không được liên hệ tình dục với nữ phái, nếu bị bắt quả tang thì bị biệt giam ở hầm kín. Ai trốn trại thì bị giết chết không tha. . . Ngoài ra còn nhiều điều lệ lạ lùng khác nữa. Giữa trại tù thực dân và cộng sản có nhiều khác biệt, nhưng điều khác biệt rõ nhất là cái đói.Trong trại tù cộng sản, tù nhân luôn luôn đói. Lúc đi lao động, lúc nằm ngủ, chúng tôi đếu bị cái đói dày vò. Chúng tôi đa số không vi phạm điều thứ nhất là vì lúc nào cộng sản cũng canh chừng tù nhân rất ngặt. Ban đêm chúng khóa cửa lại, không ai ra ngoài để đào khoai, nhổ sắn. Chúng tôi có thể giải quyết vấn đề dạ dày bằng nhiều cách.Khi đi lao động, chúng tôi có thể hái rau rừng, đào khoai rừng, hoặc bắt những con vật như rắn, cắc kè, kỳ nhông, hay đào bắt bò cạp, và những côn trùng trong lòng đất. Đôi khi chúng tôi cũng giăng bẫy bắt chồn cáo, mễn và thỏ rừng. Chúng tôi vừa lao động vừa nấu ăn rất nhanh và rất gọn cho nên cũng đỡ đói it nhiều. Điều chẳng may là không phải lúc nào chúng tôi cũng thu hoạch kết quả vì tù nhân thì quá đông. Không những tù nhân mà bọn bộ đội, công an cũng đói phải kiếm thêm lương thực. Tuy nhiên, từ khi được gia đình tiếp tế, đời sống vật chất của chúng tôi tạm đủ. Điều khoản thứ hai thì miễn bàn, vì trại tù của chúng tôi giam toàn đàn ông, Cán bộ, công an, văn phòng và y tế cũng đều là nam nhân, không có một bóng nữ. Còn việc trốn trại thì cũng hiếm.



Trong trại tôi có hai công an trẻ, tên là Hoạt và Liêm rất hiền lành. Hai anh thường dẫn chúng tôi đi lao động. Các anh rất dễ dãi, không quát nạt, bắt khoan, bắt nhặt như các công an khác. Hai anh hỏi tôi nhiều điều:
-Nghe nói sĩ quan các anh đều tốt nghiệp đại học Sài Gòn?
-Đa số sĩ quan tốt nghiệp đại học, là giáo sư, kỹ sư, bác sĩ. Một số là sinh viên. Như tôi là sinh viên khoa học phải đi lính vì lệnh động viên.
-Trong Nam phải chăng con nhà giàu và quyền thế tay sai Mỹ ngụy mới được học đại học phải không?
-Trong Nam ai cũng được học. Con cái của Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Trương Như Tảng. . . theo cộng sản nhưng chính phủ miền Nam vẫn cho con cái họ học hành, không ngăn cấm, bắt bớ, giam cầm và trả thù vợ con họ. Mọi người đều được học trung học, đại học nếu có học lực khá. . .Học trung học xong thì các học sinh có thể xin học các đại học. Có hai loại đại học tại miền Nam: Một là học tự do nghĩa là vào học khỏi cần thi tuyển như Y khoa, Duợc khoa, Văn Khoa, Luật khoa. Một loại là phải thi vào là đại học Sư Phạm, Đại học Hành chánh. . . Nói chung là ai học giỏi đều có thể học đại học. Có nhiều bà buôn thúng bán mẹt cũng nuôi con học kỹ sư, bác sĩ.
Sau đó, cả hai công an xin tôi dạy Anh ngữ, riêng anh Liêm còn xin học nhạc với đại úy Thêm. Tôi nói:
Chúng tôi rất sẵn sàng giúp các anh học hành, nhưng không biết cấp trên có chấp thuận, và việc này có trái nội quy trại hay không.

Hai anh cho biết việc này đã được cấp trên thông qua. Sau hai năm chúng tôi chuyển trại thì việc học của hai anh công an trẻ tạm ngưng. Có lẽ các anh sẽ tìm thầy khác. Trong xã hội cộng sản, ngay cả tại Trung Quốc lục địa, hầu hết cán bộ không thich học tiếng Nga, mà thích học tiếng Anh để mong có cơ hội làm việc tại các nước tư bản. Có lẽ hai anh công an kia có dự tính xin chuyển sang ngành ngoại giao hay xin đi lao động xã hội chủ nghĩa, hay hoạt động gián điệp tại các nước tư bản. Tại Sài gòn, sau 1975, con em đảng đua nhau học tiếng Anh, còn con em “ngụy” yếu thế nên bị bắt học tiếng Nga. Sự đời tréo cẳng ngỗng là thế!



Tôi vốn là một sinh viên trường Đại Học Khoa học Sài gòn, bị động viên mà vào trường võ bị Thủ Đức. Tôi có người yêu là Bạch Yến, người Huế, sinh viên Dược Khoa, dòng giõi tôn thất. Hai chúng tôi gặp nhau tại một “bal de famille” nhân sinh nhật của một người bạn, và từ đó chúng tôi thường gặp nhau rồi yêu nhau. Những khi rảnh rỗi tôi thường đến nhà nàng. Ba nàng đi làm việc ở bộ Giáo dục, còn mẹ nàng lo việc buôn bán ở chợ Bến Thành, chị nàng dạy học ở trường tiểu học Bàn Cờ. Tôi thường đến thăm nàng vào trưa thứ năm vì ngày đó, thời khắc biểu của hai chúng tôi đều trống. Thỉnh thoảng chúng tôi đi xem ciné với nhau. Khi tôi đến thăm nảng tại nhà hay khi chúng tôi đi xem ciné, nàng thường mang hai ba lớp quần, nhất là nàng thường mang quần tây, hay quần jean để bảo vệ an toàn cá nhân. Và khi tôi đến thăm nàng, nàng cẩn thận đóng các cửa sổ lại kẻo xóm giềng xoi mói mà sinh ra điều nọ, tiếng kia. Tôi được phép cầm tay nàng, ôm nàng và hôn nàng mà thôi. Nàng hay khóc. Mỗi khi xúc động thì nàng chạy vào buồng khóc và lau nước mắt sau đó mới trở ra chuyện trò với tôi. Cuộc tình duyên của tôi đứt đoạn vì tôi phải đi động viên, rồi ra tiền đồn. Rồi biến cố 30-4-1975, tôi đi tù còn nàng thì đã theo gia đình ra đi trong ngày 29-4-1975 và chúng tôi xa nhau mà không một lời từ giã. Và cũng từ đó về sau, tôi không được tin tức gì về nàng và gia đình nàng.


Khoảng năm 1983, chúng tôi bị chuyển trại về Vĩnh Phú. Một hôm nhóm tôi gồm 20 người đi đốn cây trong rừng. Buổi trưa là giờ ăn, tôi bèn đi sâu vào rừng để tìm chuối rừng hay rau rừng để cải thiện. Bổng nhiên tôi thấy có một cánh tay phụ nữ trắng trẻo giơ lên vẫy tôi. Tôi nhìn quanh rồi bước lại thì một người con gái hiện ra ôm lấy tôi và kéo tôi vào một cái hang ở dưới một gốc cây. Nàng ôm tôi và nói bằng tiếng Việt rất rõ ràng, rành mạch :
“Em yêu anh! Anh hãy yêu em đi”
Tôi không kịp phân biệt, như một cái máy, tôi ôm nàng và cởi y phục nàng. Tôi không suy nghĩ, do dự. Tôi như con hổ đói vồ mồi. Tôi như con trai mới lớn lần đầu yêu một cô gái trắng trinh. Nàng còn là một con gái và thân thể thơm mùi con gái. Tôi như đi vào một thế giới mới mẻ đầy cảm xúc tuyệt vời. Xong việc, nàng ngồi dậy, hôn tôi và bảo tôi:
“Anh hãy đi nhanh đi. Em tên là Mỹ Lan”.


Tôi vội chỉnh đốn y phục và nói:
"Cảm ơn em đã đến, đã cho anh những giây phút tuyệt vời".
Tôi ôm nàng nhưng không nói tên tôi vì tôi không mong được gặp lại nàng lần thứ hai trong đời vì việc này rất khó đối với một tù nhân giữa núi rừng âm u! Hơn nữa, tôi sợ câu chuyện có thể bị vỡ lỡ mà mang tai họa.


Trước khi ra khỏi hang, tôi nhìn ngược nhìn xuôi lỹ lưỡng. Thấy không có ai theo dõi,tôi nhanh nhẹn bước ra rồi tiếp tục công việc như chẳng có việc gì xảy ra. Mấy hôm sau, khi đi đốn cây rừng, tôi cố ý trở lại nơi này, nhưng không hề thấy bóng dáng nàng hay một vết tích nào của nàng. Tôi cố ý lắng nghe trong trại có tin tức gì một người con gái nào bị bắt ở gần trại không, nhưng tuyệt nhiên không nghe ai nói gì cả. Tôi mừng nàng được an toàn. Tôi phục nàng can dảm, dám xông pha hiểm nguy. Nếu chuyện vỡ lỡ, nàng có thể bị bắt về nhiều tội. Nàng có thể mang tội gián điệp và bị tù mãn kiếp, héo úa một đời xuân. Tôi bị tù đã đành, nhưng nàng tại sao lại mạo hiểm? Ngoài đời thiếu gì trai tơ? Thiếu gì đàn ông? Tôi không thể hiểu nguyên do nào mà nàng hành động như thế! Nàng là con gái miền núi, đâu phải ngưởi Tây phương mà có lối " yêu cuồng sống vội" như vậy? Quả thật tội không hiểu. Dẫu nàng thế nào đi nữa, tôi vẫn yêu nàng, trân quý nàng. Nàng là một vị tiên đã hiện đến trong đời tôi. Nàng đến một lần và chỉ ban ân sũng một lần thôi!Tôi nhớ nhung nàng. Tôi nhớ làn da trắng ngà của nàng, hương thơm trên thân thể nàng, nhất là nốt ruồi bên mép trái, đặc biệt là một nốt ruồi son giữa ngực của nàng. Nàng chợt đến rồi chợt đi như con bướm vàng trong giấc mộng. Thỉnh thoảng tôi nhớ đến nàng. Trong giấc mơ, tôi thấy nàng cùng tôi âu yếm.Tôi thắc mắc không hiểu nàng là ai. Nàng là một cô gái Mường hay cô gái Kinh? Nàng là một sơn nữ hay một cán bộ ở trong vùng? Nàng lãng mạn muốn tìm của lạ miền Nam hay nàng là một cô gái bụi đời? Dẫu sao, đối với tôi, nàng là một vưu vật!
Tuần sau, chúng tôi được lệnh chuyển trại về Sơn La. Việc di chuyển này làm cho lòng tôi thêm chua xót.Thế là tôi xa cách Vĩnh Phú, không còn cơ hội gặp lại Mỹ Lan.



Năm 1985, tôi được phóng thích.
Trước đây, tôi nghe nói một số sĩ quan cộng hòa bị giải ra Bắc bằng xe lửa thì bị dân chúng ngoài Bắc ném đá.NHưng lần này từ Hà nội đến Quảng Bình , chúng tôi không thấy có trở ngại nào. Khi về Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, chúng tôi bước xuống tàu cho giản gân cốt, thì đồng bào bu lại hỏi han, nắm tay, sờ đầu, kẻ cười, người khóc làm cho chúng tôi rất xúc động. Khi chúng tôi lên tàu, đồng bào ném quà bánh cho chúng tôi rất nhiều. Tình cảm quê hương miền Nam rất nồng thắm với những đứa con bất hạnh như chúng tôi!

Sang năm 1986, tôi cùng anh chị em trong gia đình tổ chức vượt biên và may mắn đến Poulo Bidong, sau đó, năm 1987, tôi được định cư tại Hoa Kỳ. Tại Houston, tôi vừa đi làm vừa ghi tên vào đại học. Sau mấy năm, tôi đỗ bằng kỹ sư điện toán và làm việc cho hãng Corel. Sau tôi gặp Mai Linh người Mỹ Tho và chúng tôi kết hôn. Thỉnh thoảng tôi nhớ đến kỷ niệm Vĩnh Phú, nàng đã đến rồi đi như giấc mộng Liêu Trai. Tôi nghĩ giờ nàng có lẽ đã lấy chồng, hằng ngày vợ chồng mang gùi vào núi bẻ măng, đào khoai sọ, nhổ sắn như hình ảnh những người dân thiểu số mà tôi thường thấy khi đi Đà Lạt chơi. Tôi thấy bóng nàng ẩn hiện trong núi rừng Vĩnh Phú và lòng tôi cảm thấy luyến tiếc bâng khuâng. Tôi nghĩ cuộc đời nàng sẽ héo úa trong chốn rừng sâu. Giỏi lắm thì nàng sẽ thành một cán bộ thương nghiệp hay Hợp tác xã trong bản làng, tay dắt con lớn,vai địu con nhỏ, ngực teo, mặt mũi xanh xao như bao cô nàng Thổ Mán nơi thượng du miền Bắc.Hay cao hơn nữa là một nữ đảng viên cấp xã, cấp huyện, mang áo bộ đội bỏ ngoài quần, đội nón cối, đi dép râu, vai mang săc-cốt, tay đeo đồng hồ,thân gầy ốm, dáng lom khom bước trong cơ quan. Những hình ảnh của nàng, lúc ẩn lúc hiện trong tâm trí tôi làm thành một kho kỷ vật êm đềm.


Cuộc hôn nhân của chúng tôi rất hạnh phúc. Chúng tôi sống bên nhau được ba năm thì Mai Linh bị bệnh ung thư rồi mất. Tôi buồn rầu mấy năm trời. Hình ảnh Mỹ Lan lại hiện đến trong tôi rất ngọt ngào và thần bí. Hương thơm của thân thể nàng như còn vương vấn trong mũi tôi và thân thể tôi. Tôi có ý định về Việt Nam du lịch, thăm lại Vĩnh Phú, mối tình tôi. Nhưng tôi lại không dám vì cuộc đời như nước chảy mây trôi, thuyền trôi mà bến bờ cũng đổi thay, quá khứ e đã tan vỡ như xác pháo mùa Xuân, không thể nào tìm lại được. Nếu đào bới quá khứ,chỉ thêm đau lòng như Lưu Nguyễn khi trở lại quê xưa!


Các bạn bè khuyên tôi nên đi du lịch một chuyến để quên sầu. Tôi mua vé máy bay đi du lịch Đức, Pháp, và Ý vì Tây phương đối với tôi có nhiều quyến rủ. Hơn nữa, tôi có bà chị họ định cư tại Tây Đức. Chị tôi có con du học tại Tây Đức trước 1975, đỗ tiến sĩ, sau 1975 xin ở lại, rồi bảo lãnh gia đình qua đây. Khi tôi đến Tây Đức, gặp anh chị và các cháu, tôi vui mừng hết sức. Các cháu lái xe đưa tôi đi la cà trong thành phố . Một hôm các cháu đưa tôi đi ăn phở của người Việt nổi tiếng là ngon nhất tại đây. Khi bà chủ tiến tới chào hỏi chúng tôi thì tôi ngạc nhiên hết sức, vì nàng là Mỹ Lan, người tình một khắc mà tôi ghi nhớ ngàn đời. Bên môi trái của nàng vẫn in rõ một nốt ruồi duyên. Tôi liền đứng dậy, kéo nàng ra một bên, rồi hỏi nhỏ:
-Phải chăng em là Mỹ Lan? Chúng ta đã gặp nhau tại trại tù Vĩnh Phú?

Sau một phút ngỡ ngàng, nàng cũng nhận ra tôi. Tôi hỏi nàng và kể lể mọi sự. Chúng tôi ôm nhau mà khóc. Nàng giao công việc cho người nhà rồi đưa tôi về nhà nàng. Còn tôi, tôi quay lại bảo các cháu tôi:
-Bà chủ nhà hàng là bạn quen của cậu ở Việt Nam. Bà ấy mời cậu lại nhà. Các cháu về trước, cậu sẽ về sau" . Dặn dò các cháu xong, tôi theo nàng ra xe.


Nhà nàng ở tại một khu yên tĩnh trong thành phố. Nàng ở một mình với con trai. Các anh em thì đã có nhà riêng. Người thì đi làm các hãng tư, người thì phụ giúp nàng trông coi tiệm phở. Khi còn hai chúng tôi, nàng kể lể sự tình. Quê nàng ở Sơn Tây, tổ tiên đỗ cử nhân, tiến sĩ, làm chức quan nhỏ ở triều Lê, triều Nguyễn. Năm 1954, cộng sản về Hà Nội, mở cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, gia đình nàng bị quy là địa chủ. Mẹ nàng và anh em nàng thu vén tài sản trong tay nải, bỏ trốn lên mạn ngược. Ban đầu, gia đình nàng giả làm thương gia lên buôn bán để tìm hiểu, sau đó làm nhà cửa gần bản Mường, lán Thổ tại Vĩnh Phú. Gia đình nàng ăn mặc, nói năng và sinh hoạt đều theo phong tục bản Mường, Mán. Nhờ khéo giao thiệp, gia đỉnh nàng được cảm tình dân chúng nơi đây, dược họ giúp đỡ và che chở. Nàng nghe tin các sĩ quan miền Nam bị đưa ra giam giữ tại Vĩnh Phú, là một nơi gần bản Mường của nàng. Tuy chưa gặp những người miền Nam, nhưng lòng nàng chan chứa cảm tình với các tù nhân miền Nam vì họ với nàng là cùng chung cảnh ngộ, là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nàng quyết gặp một sĩ quan miền Nam và sẵn sàng hiến thân cho chàng ta để giữ lấy dòng máu trong sạch của người quốc gia. Nàng cam tâm mang tiếng “ không chồng mà chữa” còn hơn ở góa trong rừng thẳm, hoặc phải lấy anh Mán, anh Thổ hay anh cộng sản làm chồng! Nàng đã nghiên cứu địa hình địa vật, và đã đào hang ẩn náu đưới một gốc cây trong rừng, nơi tù cải tạo thường tới lao động. Nàng đã chờ đợi vài ngày đêm; cuối cùng nàng đã gặp tôi, và đã toại nguyện.



Sau buổi gặp gỡ đầu tiên, nàng đã có thai. Lúc này, mẹ nàng đã mất, anh em nàng chung sống với nhau. Hằng ngày, anh em nàng phải tô mặt cho đen thêm một chút để tránh cặp mặt cú vọ của cộng sản, mặc dầu nơi đây hoang vắng, người kinh it khi lên đây Gia đình nàng cũng theo nếp “ du canh” của người thiểu số mà di chuyển nơi này nơi nọ. Cứ vài năm là một lần di chuyển, như vậy cũng có lợi là tránh được sự theo dõi của công an. Nhân dịp người Hoa bị đánh đuổi trong vụ nạn kiều, anh em nàng theo họ sang Hoa Lục, rồi sang Hongkong. Tại đây, chính phủ Hongkong bắt anh em nàng vào trại tập trung. Sau một thời gian, gia đình nàng được phái đoàn Tây Đức nhận định cư tại Tây Đức. Anh em nàng lúc đầu xin làm công nhân cho các hãng xưởng, sau cả nhà quyết định góp vốn mở hàng phở, và anh em nàng đã thành công. Khách hàng vào ra nườm nượp, người Việt Nam đã đành mà người Đức, Pháp, Mỹ cũng thích dùng phở của nhà nàng. Con trai nàng nay đã lớn, được mười tuổi, đang theo học trung học và nàng thì vẫn phòng không chiếc bóng. Còn tôi, tôi cũng kể đời tôi từ nhỏ cho đến nay, qua bao chuổi ngày sóng gió và đau thương.
Chúng tôi ngồi nói chuyện một hồi thì nàng rủ tôi theo nàng đón con đi học về. Chúng tôi ra xe do nàng lái, và chờ đợi ở cổng trường. Vài phút sau thì học sinh tan học. Con nàng ra xe. Nàng giới thiệu tôi với con nàng:
-Hưng, đây là bố ruột của con từ Mỹ sang và gặp mẹ.
Tôi nhìn thấy Hưng giống tôi nhưng cao to hơn, và trắng trẻo hơn. Tôi ôm con tôi và con tôi cũng ôm tôi trong xúc động. Tôi rất mừng vì bất chợt mà tôi đã có một đứa con trai khôn lớn.



Tối hôm đó, chúng tôi sống trong đêm tân hôn. Đêm đó cũng là đêm thứ hai tôi thấy lại bộ ngực trần trắng như ngọc với một nốt ruồi son nằm ở giữa hai gò bồng đảo rất xinh đẹp.
Tôi ngỏ lời xin cưới nàng làm vợ, nàng sung sướng cười trong hàng nước mắt. Tôi hỏi nàng muốn sang Mỹ hay ở lại Đức, nàng trả lời nàng muốn sang Mỹ cùng tôi chung sống. Mấy tháng sau, chúng tôi tiến hành thủ tục hôn nhân và bảo lãnh. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức đơn giản tại Đức, gồm anh chị họ và các cháu của tôi, cùng anh em nhà nàng với bạn bè. Sau đó, vợ chồng và con chúng tôi về Mỹ và sống một đời tự do và hạnh phúc.

Thursday, August 21, 2008

XVII. NGÀY VỀ QUANG VINH

Trước của hội trường, cờ đỏ, cờ xanh, cờ vàng cấm chật ních như là một ngày lễ hội. Trong hội trường tỉnh, quạt máy chạy vù vù. Hội trường tưong đối rộng , có khoảng hơn 100 ghế được bày biện ngay ngắn, lịch sự. Trên tường, trước mặt hội trường là ảnh Hồ Chủ tịch với hàng khẩu hiệu: "Bác Hồ sống Mãi Trong Sự Nghiệp của Chúng Ta ", "Quyết Tâm Xây Dựng Xã Hội Chủ Nghĩa Văn Minh và Giàu Mạnh ".




Khách tham dự gồm có ủy ban nhân dân tỉnh, hội đồng nhân dân tỉnh, đảng ủy cấp tỉnh, công an tỉnh, tỉnh đội và các cán bộ tỉnh và huyện. Dân chúng đứng hàng trong hàng ngoài có đến vài trăm, trong đó có học sinh các trường, kể cả học sinh lớp Măng non đã đưọc huy động từ 6 giờ sáng.Các em Măng Non đeo khăn quàng đỏ, mồ hôi nhễ nhại, các cô giáo ốm o gầy gò luôn luôn che miệng ngáp.




Khoảng mười giờ các cán bộ đến rải rác. Đến mười một giờ hơn, đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân đến, rồi đồng chí tỉnh ủy đến. Cán bộ càng cao thì đến càng trễ. Trong hội trường cũng như ngoài sân, công an đứng đầy, lăng xăng chạy qua chạy lại ra vẻ bận rộn và tích cực. Ngoài cổng, hai hàng bộ đội bồng súng chào rât trang trọng uy nghi như là để đón tiếp chủ tịch Hồ Chí Minh đội mồ trở về thăm tỉnh.




Ngồi trong hội trường, bên trái là đồng chí bí thư tỉnh ủy và bên phải là đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, Thìn cảm thấy mình vô cùng vinh hạnh. Hình như cái đinh hôm nay là Thìn. Dường như cả mấy trăm, mấy ngàn cặp mắt đều đổ dồn vào chàng, người Việt kiều yêu nước của tỉnh. Chàng trở thành nhân vật số một của cấp lãnh đạo tỉnh và của nhân dân tỉnh bởi vì trong mấy năm vượt biên rồi sống ở Đan Mach, chàng nay đã trở thành triệu phú. Chàng được tòa đại sứ Việt Nam tại Đan Mạch tôn làm thượng khách, thường mời chàng đến đãi tiệc và trân trọng mời chàng về đầu tư. Trung ương Hà Nội và Uỷ ban Nhân dân tỉnh đều gửi thư mời chàng trở về đóng góp tài năng vào công cuộc dựng xây chủ nghĩa xã hội. Khi chàng về đến Nội Bài, chủ tịch tỉnh và bí thư tỉnh ủy cùng một lúc đưa xe con ra đón chàng và đưa chàng về tận nhà. Họ còn để xe lại cho chàng sử dụng. Họ ân cần hết sức khiến cho chàng cảm động. Ngày hôm nay là ngày lễ cách mạng tháng tám, mấy năm nay vì khó khăn kinh tế, người ta bỏ quên không tổ chức, nay chàng về, người ta tổ chức mừng chàng y cẩm hồi hương và kỷ niệm cách mạng tháng tám luôn thể. Sau phần nghi lễ chào cờ, suy tôn Hồ chủ tịch, mặc niệm chiến sĩ trận vong, viên tỉnh ủy lên đọc diễn văn, ca tụng cách mạng tháng tám và ca tụng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, đồng thời kêu gọi đồng bào trong nước và hải ngoại tích cực đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. Tiếp tục, đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân lên giời thiệu chàng là một Việt kiều yêu nước, đã tích cực hoạt động ở nước ngoài, được tòa đại sứ Việt Nam tại Đan Mach khen ngợi, và đuợc đảng ủy cấp tỉnh và hội đồng nhân dân tỉnh cấp phát văn bằng Việt kiều yêu nước hạng danh dự. Thìn cảm động hết sức, nước mắt chảy hai hàng, nghẹn ngào không nói nên lời, tay run run khi lên nhận bằng danh dự do chính tay chủ tịch tỉnh ban phát. Từ tổ tiên chàng đến cha ông, không ai được vinh dự chánh tổng đến nhà, và mời ăn uống.




"Con hơn cha là nhà có phúc". Nay thì chàng không những được huyện, mà còn tỉnh và trung ương đến thăm tận nhà, xưng hô ngọt ngào, lịch sự, mời dự tiệc khắp nơi với đủ các món sơn hào hải vị mà ngay khi ở nước ngoài chàng cũng không hề nếm qua dù chàng đã trở thành triệu phú. Chàng thấy sống ở Việt Nam là thần tiên, như là bay bổng trên chín tầng mây. Còn ở nước ngoài, dù chàng là triệu phú hay tỉ phú cũng chẳng ai biết, ai quan tâm. Tiến sĩ, kỹ sư, tỷ phú, anh thợ hồ, anh thợ mộc, anh hầu bàn đều là những con kiến trong một xã hội đông đúc và xa lạ, chẳng ai biết ai. Nay về Việt Nam, chàng đi đâu cũng được trẻ con cho đến lãnh đạo cao cấp, ai cũng trầm trồ, khen ngơị, ca tụng và chào đón rât nồng hậu!




Chàng là người lanh lợi và có số hên. Bố mẹ chàng là nông dân nghèo tại Nam Định. Nhà nghèo không áo che thân và không đủ ăn hai bữa, chàng phải ăn cắp, ăn trộm vặt để mưu sinh. Chàng bị công an tỉnh bắt đánh nhừ tử, nhốt vài ngày lại thả ra vì không có chỗ chứa và không có lương thực cho chàng. Bị công an theo dõi, hết đất làm ăn, chàng theo đám trẻ sống bụi đời, lên Hà Nội sinh sống. Chàng cũng làm nghề cũ, cộng thêm nghề xếp hàng mua gạo tổ. Giờ tan sở, các con đường Hà Nội đều nghẽn lối đi,người ta phải chờ đợi hàng giờ mới về đến nhà, nhưng với tài uốn lách của chàng, chỉ mười lăm phút hay nửa giờ là qua cầu Long Biên cái rụp. Cuối cùng chàng đã xung phong đi bộ đội lúc 16 tuổi để có cái mà sống. Trong bao nhiêu năm đi bộ đội, chàng cũng đã có cơm ăn dù không no, và áo mặc dù là chỉ hai bộ trong người. Vì trẻ cho nên chàng phải làm mọi việc lặt vặt trong quân đội, từ cấp dưỡng cho đến chiến đấu tại mặt trận. Tại đây chàng đã ăn bớt gạo, ăn cắp đường sữa bán ra ngoài lấy tiền tiêu xài. Chàng bị bọn chỉ huy ghét bỏ thường bắt giam chàng vì cái tội tham ô và hủ hóa. Họ phê trong hồ sơ chàng là vô sản lưu manh. Đơn vị chàng đồn trú tại Mông Cáy. Lúc bấy giờ Việt Nam và Trung quốc có xung đột, đảng và nhà nước đuổi Hoa kiều về nuớc. Chàng nghe nói các nước tư bản rất giàu, sang được bên đó dù đi làm cu ly vẫn no ấm chứ không như ở xã hội chủ nghĩa, lao động vinh quang suốt ngày nhưng bao tử vẫn lép kẹp. Chàng nghe thiên hạ làm giấy giả theo nạn kiều chạy sang Trung quốc. Chàng bèn lẩn vào trong đám nạn kiều và sang Trung quốc ngon lành. Một số Hoa kiều và người Việt xin ở lại Trung quốc, đuợc cho vào các nông trại . Một số xin đi sang các nước tư bản. Chàng cũng theo họ xin đi đến một quốc gia trung lập và Đan Mạch đã nhận chàng.




Sang đây, chàng gặp một thiếu nữ người Việt, con gái của một gia đình Việt Nam, nhờ làm giấy giả mạo Hoa kiều nên sang được Hồng Kông. Ở đây ít lâu, gia đình nàng đuọc Đan Mạch nhận cho cư ngụ. Hai vợ chồng sống hạnh phúc. Hai vợ chồng xin làm công nhân xưởng dệt, lương bổng cũng tương đối khá. Một hôm hai vợ chồng vào một tiệm phở người Việt, thấy khách hàng vào ra tấp nập. Hai vợ chồng bàn nhau đem số tiền dành dụm được để mở tiệm phở vì nhà nàng trước kia ở Việt Nam cũng đã mở tiệm phở. Công việc làm ăn ngày càng khấm khá. Hai vợ chồng mở thêm nhiều chi nhánh. Ngoài bán phở, hai vợ chồng anh còn làm bánh giò, chả lụa, chả quế,bánh bao. Nhưng trong các món, chả giò và phở là được người Vịệt và người ngoại quốc yêu thích nhất. Anh phải thuê hàng chục người vừa Việt nam vừa Đan Mạch làm phụ. Trong vài năm, anh trở thành triệu phú. Anh đã gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà cửa. Ngôi nhà tranh rách nát năm xưa nay thành ngôi biệt thự rất khang trang. Anh cũng đã giúp các anh chị em mỗi người một số tiền làm vốn. Và lúc này, bên nhà, chính sách mở cửa đã bắt đầu, cán bộ toà đại sứ Việt Nam đã cho người bắt liên lạc với anh, mời anh về đầu tư. Họ cho người vận động riêng với vợ anh, và cha mẹ vợ của anh nữa. Họ đưa ra bao hứa hẹn . Anh ban đầu không thích trở về Việt Nam làm ăn vì anh đã chán một nước Việt Nam nghèo khổ và đầy rẫy cường hào ác bá mà anh đã từng là nạn nhân. Nhưng vì vợ anh, và bố mẹ vợ thúc dục, cộng thêm anh em, cha mẹ bên nhà tuân theo chỉ thị của đảng, đã liên tiếp gửi thư thúc dục anh sớm về đầu tư kẻo lỡ dịp. Khi về, chính anh cũng bị chinh phục vì thái độ thưong yêu, nồng nhiệt và cởi mở của các cán bộ huyện tỉnh đối với khúc ruột thừa xa ngàn dặm quê hương!




Sau khi tham khảo ý kiến bạn bè, anh em, cha mẹ trong gia đình, cùng nghiên cứu thị trường với sự tham gia chỉ đạo của các cán bộ cao cấp của tỉnh, anh quyết định mua một miếng đất rộng lớn của tỉnh xây một nhà khách bốn tầng lầu, gồm 50 phòng với phí tổn sáu trăm ngàn mỹ kim. Anh cũng mua đất xây một cửa hàng ăn rộng rãi, có thể chưá 500 người một lúc, với phí tổn ba trăm ngàn mỹ kim. So với bên Đan Mạch, mọi thứ đều rẻ. Anh hy vọng năm du lịch Việt kiều và người ngoại quốc sẽ đổ về không chỗ ở và nhà khách của anh sẽ thu hút mọi người vì đó là một nhà khách tối tân nhất tỉnh Nam Định. Anh cũng hy vọng cửa hàng ăn của anh có thể là nơi tổ chức tiệc tùng cưới gả, hay nơi ăn uống của Việt kiều và ngoại quốc khi về Nam Định du lịch.




Vì Việt kiều không được phép kinh doanh hay mua nhà đất, cho nên anh nhờ anh Hai đứng tên mua và xây nhà khách, còn cửa hàng ăn thì nhờ anh Ba đứng tên hộ. Còn vợ chồng cô em gái thì anh giao đứng tên và trông coi cửa hàng kim khí điện máy. Theo luật nhà nước, muốn kinh doanh, các hộ phải có tiền mặt bỏ vào ngân hàng ít nhất là 50 ngàn mỹ kim. Ba cơ sở trên, anh đã bỏ tất cả gần triệu rưỡi mỹ kim chưa kể tiền biếu xén và ngoại giao trà nước. Anh thấy mình quả vĩ đại không thua gì Hồ chủ tịch vì anh đã xây những cơ sở vật chất to đẹp, tối tân cho tỉnh. Anh đã đem lại công ăn việc làm cho bà con, cho nhân dân. Dĩ nhiên bà con anh đã được thu nhận vào làm việc tại các cơ sở của anh. Ngoài ra những người của công an, ủy ban, tỉnh ủy cũng đưọc thâu nhận vào làm việc. Anh thấy anh là người nhân hậu, quảng đại vì anh đã thu nhận tất cả mọi người, bà con cũng như không bà con, nhất là những người do chính quyền giới thiệu. Anh cũng thấy anh là người có tài xã giao rộng rãi, luôn luôn làm vui lòng bà con cũng như chính quyền. Anh là niềm kiêu hãnh cho bố mẹ, anh em và họ hàng, làng xóm. Anh rất là vui vẻ vì anh thấy anh là một vị anh hùng , ít nhất là anh hùng của tỉnh vì trong tỉnh không ai giàu bằng anh và yêu nước bằng anh!




Anh đi về Đan Mạch thăm vợ con rồi trở lại Việt Nam. Đây là lần thứ ba anh trở lại thành Nam. Anh được Ban Việt Kiều trung ương mời lên Hà Nội tham dự một cuộc họp đại biểu Việt Kiều yêu nước. Anh cảm thấy vô cùng vinh dự. Tiếng tăm của anh không những vang lừng khắp tỉnh Nam mà con vang dội đến thủ đô, và có lẽ sẽ vang lừng khắp nuớc và khắp hoàn cầu. Anh nghĩ người ta cưng chiều anh cũng là phải, vì anh là người đầu tiên trở về đầu tư, họ phải kính trọng anh để lôi cuốn các Việt kiều ở Anh, Pháp, Mỹ.




Ở Hà Nội, sinh hoạt với các cán bộ trung ương độ nửa tháng, mọi chi phí đều do trung ương đài thọ. Anh được đi xem lăng Hồ chủ tịch và đi du lịch nhiều nơi như hang Pac Bó là cái nôi của cách mạng,và bải biển Đồ sơn là nơi nghỉ mát của các lãnh đạo trung ương.




Khi anh ở Hà Nội về, mọi công việc kinh doanh đã tiến hành tốt đẹp. Nhà khách, nhà ăn đều có khách ra vào, tuy chưa đông đảo như ý muốn nhưng buồi sơ khởi thế là tốt lắm rồi.




Một buổi trưa, anh ngồi làm việc tại văn phòng nhà khách thì một cô nhân viên bước vào phòng. Sau câu chào hỏi, cô ta ngồi vào lòng của anh, rồi bạt tai anh một cái như trời giáng. Anh xô cô ta ra, cô xõa tóc, tuột áo ra làm mất cả hàng nút áo, rồi kêu la ầm ĩ rằng anh ta hãm hiếp cô ta. Ngay tiếng kêu đầu tiên của cô ta, các nhân viên nhà khách và công an ập vào, làm biên bản, chụp hình. Mọi người đều nhất trí kết tội anh ta hãm hiếp công nhân nhà khách và họ tuyên bố sẵn sàng ra tòa làm chứng vụ này.Công an bắt anh lên trụ sở làm việc, rồi tống giam. Trong lúc đó, mọi người trong gia đình của anh được gọi lên công an kinh tế làm việc. Ba anh chị em của anh đều được mời lên trụ sở công an một lúc nhưng lại được ngồi ở ba văn phòng khác nhau do những công an gộc của tỉnh thẩm tra.




Khi vợ chồng anh Hai của anh bước vào, họ nghiêm nghị chỉ ghế cho anh chị của anh ngồi xuống. Họ ôn tồn nói:




- Vì gia đình anh chị thuộc diện kinh doanh cao cấp cho nên chúng tôi mời anh chị đến để bổ túc hồ sơ theo luật định. Xin anh chị thành thực trả lời để chúng tôi làm việc. Xin anh chị cho biết tên họ, dịa chỉ, số chứng minh nhân dân.




Anh thành thực trình bày, và những lời khai của anh được một ủy viên thư ký ghi chép đầy đủ.

-Xin anh cho biết xây nhà khách hết bao nhiêu ? Và tiền ở đâu mà anh có?
-Thưa cán bộ, tiền đó là do người em tên Thìn đem về để xây cất nhà khách. Phí tổn mua đất, xây nhà, và đồ trang trí nội thất hết 800 ngàn dô la Mỹ.
-Anh chị xây nhà khách, vậy có giấy phép không?
-Chúng tôi chưa xin được giấy phép nhưng tỉnh uỷ đã khuyến khích chúng tôi cứ xây, giấy phép sẽ về sau.

Viên công an đổi sắc mặt quát tháo:
-Láo! Làm nhà phải có giấy phép, không có giấy phép sao tự ý xây cất? Anh lại còn vu khống cho tỉnh ủy à?


Cuối cùng vợ chồng người anh Hai phải ký nhận vào lời khai rồi ra về trong nước mắt. Hoàn cảnh vợ chồng anh Ba và cô Út cũng không khác gì hơn. Có lẽ họ khá hơn vợ chồng anh Hai vì vợ chồng anh Hai đã rơi vào lão Ba Búa là tay hùm xám Nam Định. Còn họ đuợc viên công an già ngọt ngào thuyết phục, phải thành thực khai báo thì đuợc trọng thưởng, nhà nước rất tôn trọng Việt kiều yêu nước, và gia đình Việt kiều. Nếu kê khai rõ ràng thì sẽ đươc vĩnh viễn làm chủ mọi thứ đã được đúng tên. Những người này trước sau đều thành thực khai rằng tiền của đầu tư, mua đất, xây nhà, mua sắm máy móc là của người em là Lê Văn Thìn, Việt kiều yêu nước ở Đan Mạch về. Họ khai xong ký tên vào biên bản và ra về trong lo âu, thắc mắc, không hiểu tại sao. Cả bố mẹ Thìn cũng đưọc kêu lên làm việc. Họ hỏi:

-Tiền đâu cụ làm nhà?
-Dạ thưa cán bộ, tiền tôi làm nhà là do con tôi tên Thìn mang về.
-Khi mang tiền vào Việt Nam , anh Thìn có xin giấy phép không? Có khai báo cho tỉnh hay huyện biết không ?
-Thua cán bộ, việc đó thì tôi không đuợc rõ.

Người ta đưa bút cho hai cụ ký và cho hai cụ ra về trong cay đắng nghẹn ngào.


Tòa án tỉnh tuyên cáo anh phạm nhiều tội nhưng những tội chính là:
-Thứ nhất: chuyển tiền vào Việt nam bất hợp pháp ( không kê khai và xin phép.)

Thứ nhì: Đầu tư bất hợp pháp ( Chính phủ chưa cho anh đầu tư mà anh đã đầu tư gian lận bằng cách cho anh chị em đứng tên, đó là một hình thức gian lận, phá hoại kinh tế Xã hội chủ nghĩa. Điều này luật đầu tư đã nói rõ).

Thứ ba: Mua nhà bất hợp pháp ( chính phủ chưa cho mua nhà mà đã mua nhà, cho anh chị em đứng tên, đó là một hình thức gian lận, luật nhà đất cũng đã nói đến việc này).

Thứ tư: chiếm đất công, xây cất bất hợp pháp.
Thứ năm: trốn thuế.
Thứ sáu: cưỡng hiếp nữ công nhân.


Họ tuyên án anh hai muơi năm tù , phạt vạ hai triệu mỹ kim, tịch thu tất cả cửa hàng và tài sản do anh xây dựng, ngay cả ngôi nhà của cha mẹ anh . Còn các anh chị em vì thành thực khai báo nên mỗi người chỉ bị tù sáu tháng.


Một sáng, người ta thông báo Thìn đã tự tử . Một số bảo rằng anh uất ức mà tự tử. Một số lại xì xào bàn tán rằng Thìn đã bị người ta giết bịt miệng.

Tuesday, August 19, 2008

XII.CHÙM KHẾ NGỌT

Trương Thế Phát là một thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội, và chiếm Bắc Ninh, Thái Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình ông đến Xiêm La, rồi định cư tại đây. Nhờ có tàu bè, ông mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa tiệm vải vóc lụa là, và trà thất Mây Tần.


Là một nhà kinh doanh, công việc bận rộn, nhưng òng luôn thương nhớ quê hương . Ông nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc . .. má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ phở , nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột. . . Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội chùa Hương.. . Ông nhớ những bài hát ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải, cam, quít. . . Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng, phong tục xa lạ, thực phẩm khác mùi vị làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái.


Lúc bấy giờ nhiều người trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết , một lý tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động. Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở lại Xiêm mà cũng có người đi qua , đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế .

Trà thất Mây Tần do con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất, cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh doanh trà thất Mây Tần .

Trà thất Mây Tần ở thủ đô Bangkok là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất Mây Tần uống trà, uống rưọu , Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt Nam. Ông bèn tới chào hỏi, mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người Bắc, người Trung, và người Nam. Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng hai bên thật vui vẻ như câu thơ “ Thiên lý tha hương ngộ cố tri ”. Họ hỏi ông tại sao đặt tên trà thất là Mây Tần. Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa” Dần dần, hai bên quen nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật. Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như Liên Xô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột người. Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có khoảng mười triệu đảng viên. Lực lượng đảng trong nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc. Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và hoạt động của đảng cách mệnh. Ông được chi bộ đảng khen ngợi là “ nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo cộng sản được gọi là “ Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với cách mạng.
Sau 1945, đệ nhị thế chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ cộng sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe cộng sản càng mạnh. Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa giao thương với Xiêm La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Bangkok. Những đảng viên cộng sản Việt Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động Việt kiều tại Thái Lan về xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào, Miên. . .Họ bảo đất nước ngày nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên xã hội chủ nghĩa, nông dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội bây giờ không còn nạn người bóc lột người. Sinh viên học sinh được tự do học hành, không phài đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở cho đến khi thành tài. Trong nước ai cũng có công ăn việc làm, không ai thất nghiệp. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ. Trần Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội, và và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.

Quê hương là chùm khế ngọt. ..
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học,
Con về rợp bướm vàng bay
. . . . . . . .

Quê hương là cầu tre nhỏ,
Mẹ về nón lá nghiêng che.
Là hương hoa đồng cỏ nội,
Bay trong giấc ngủ đêm hè. . .

Lúc bấy giờ công việc buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được cán bộ cộng sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê hương. Ông nay được ban khen là gia đình có công với cách mạng. Nếu về Việt Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở trước mắt ông.

Ta về ta tắm ao ta!
Ông muốn trở về tắm ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai !


Ôi! Nước ta nay đã độc lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân dân ta khốn khổ điêu tàn . Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến thảnh sự thực. Ông lo bán nhà cửa, hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã đến tòa đại sứ Việt Nam tại Vọng Các (Bangkok) ghi tên hồi hương. Toà đại sứ Việt Nam tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả Việt kiều tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cambodge rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.


Sau khi đoàn Việt kiều Thái Lan về đến Cambodge, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Xô là loại xe bốn bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả đám được cán bộ cộng sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề rào kín và có lính gác.


Họ bảo các Việt kiều tạm ở lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước. Họ ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó.Họ bảo mọi người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép. Họ đưa mọi người vào hội trường. Viên thủ trưởng tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:


Chào các đồng bào và các đồng chí,
Hôm nay tôi xin thay mặt mặt đảng và chính phủ chào mừng những người con yêu trở về tổ quốc.

Ông vừa dứt lời, mọi người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo.
Tiếp theo, ông nói:
Thưa các đồng chí và đồng bào,
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người ngoại quốc đã ước mơ trong một đêm được trở thành người Việt Nam. Các đồng bào và đồng chí nay đã thành người nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Trước tiên, yêu cầu mọi người giao nộp thẻ căn cước, thẻ quốc tịch và khai sinh ngoại quốc để Nhà nước làm thủ tục hành chánh.

Ông nói xong thì lui bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hạt xoàn và đô la. Trong khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào phòng khám xét hành lý của Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra. Ngay hôm đó, họ bắt mọi người giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.

Ông cán bộ nói:
Đảng phải giữ tài sản cho đồng bào vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được ổn định.

Các gia đình Việt kiều được cán bộ rút sổ tay, xé giấy viết biên nhận bằng những tờ giấy vàng úa xấu xí với những giòng chữ nghệch ngoạc, không rõ chữ viết và con số, và cũng không ghi ngày tháng, tên chủ nhân tài sản cũng như chữ ký và tên người nhận:

Đã nhận 300 miếng kim loại bề ngoài màu vàng. . . Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài. . . Đã nhận hai mươi viên đá nhỏ óng ánh. . .


Tiếp theo, mọi người làm thủ tục y tế. Mọi người phải vào phòng kín, cởi hết áo quần để y sĩ khám xét. Không thử máu, không nghe tim mạch, mà chỉ khám tổng quát. Thủ tục này thì cũng nhanh thôi, ngoại trừ những ai còn cất giấu tài sản trong người là bị tịch thu và bị phê bình, kiểm thảo.


Đến đây thì các Việt kiều đã biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp Mã giám sinh đã kêu lên:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già!.


Vài ngày sau, các Việt kiều được phân phối về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Minh được phân phối về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ :
-Chúng tôi xin về Hà Nội là quê hương của tôi và đã được tòa đại sứ Việt Nam ở Bangkok chấp thuận. Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?

Tên cán bộ trong ban Việt kiều yêu nước nói:

- Nay chúng ta đang xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười, hơn trăm lần xưa. Hà Nội tương lai sẽ có những tòa cao 100, 200 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau.


Biết rằng phản đối cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ xuống quốc lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số. Ông là một kẻ ngụ cư. Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để phá hoại xã hội chủ nghĩa. Tiền của mất sạch, gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. Ở Thái Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên quê hương mình. Ông suy nghĩ xa gần mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa, giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy vọng của ông! Kẻ sát nhân cướp bóc chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh để rồi làm hại mình và con cháu!



Vài năm sau, chiến tranh Việt Mỹ bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh bắc tử nam”. Trương Thế Minh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào bộ đội rồi tử thương tại chiến trường miền Nam. Con gái ông phải đi thanh niên xung phong, lâm bệnh rồi chết trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cắng đắng nhau. Bà trách ông nhẹ dạ tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận về bị lường gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu say rồi chửi cộng sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù Thái Nguyên.

Monday, August 18, 2008

DÂN TỘC VIỆT NAM HAI LẦN BỊ LƯỜNG GẠT

Sơn Trung

Trong lịch sử hiện đại, dân tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt. Lần thứ nhất là tập đoàn Hồ chí Minh, lần thứ hai là tập đoàn Ngô Đình Diệm. Hai kẻ này đã dùng nhãn hiệu tự do, dân chủ, nhưng thực sự họ chỉ là bọn gian manh xảo quyệt, buôn dân bán nước, không kể gì đến vận mệnh đất nước, tưong lai dân tộc và đời sống của nhân dân Việt Nam.


I.TẬP ĐOÀn CộNG SẢN


Tập đoàn cộng sản Việt Nam tuyên bố giương hai ngọn cờ giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và gỉải phóng giai cấp vô sản thoát cảnh nghèo khổ và bị bóc lột.


Về mục tiêu giải phóng dân tộc, họ chỉ là kẻ thay chủ Pháp Mỹ bằng chủ Nga Hoa. Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản thực tế là những kẻ nô lệ của cộng sản quốc tế. Ngày nay, Nga Sô và Trung quốc nghiễm nhiên trở thành bọn đế quốc mới. Sau 1975, người ta đã bắt dân miền Nam học tiếng Nga, và họ đã bắt dân miền Trung vào Nam làm đồn điền cho Liên Sô( hai việc này dều bất thành). Việc Pol Pot đánh phá miền Nam làm cho chương trình kinh tế mới và chương trình làm đồn điền Liên Xô bị phá sản. Phạm Văn Đồng trước đây đã hoan hô việc Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, và nay Lê Khả Phiêu đã nhượng đất cho Trung quốc đã nói lên bản chất nô lệ, mãi quốc cầu vinh của những con người cộng sản.
Về mục tiều giải phóng giai cấp vô sản lại càng vô cùng giả dối.


Mác tuyên bố thiết lập xã hội chủ nghĩa không giai cấp, không còn chủ và thợ, không còn giai cấp cai trị và bị trị, nhưng thực tế trong chế độ cộng sản có nhiều giai cấp, nhất là giai cấp mới nay đã trở thành tư bản đỏ với bao đặc quyền đặc lợi.


Hồi Mác còn sống đã tuyên bố xanh dờn rằng giai cấp tư bản đang dẫy chết và giai cấp vô sản sẽ là kẻ đào mồ chôn giai cấp tư bản. Mác còn bảo chủ nghĩa xã hội sẽ gấp năm gấp mười tư bản( cũng như tư bản đã gấp năm gấp mười phong kiến), nhưng than ôi, chế độ cộng sản chỉ gây chiến tranh và nghèo đói và là một chủ nghĩa đc tài vô nhân đạo. Vậy thì rõ ràng là Mác là kẻ hoang tưởng và không tưởng nếu không là kẻ gian giảo, lường gạt thiên hạ. Nay thì cộng sản đã sụp đổ tại Liên Xô và Đông Âu trong khi Trung Quốc, Việt Nam đang chạy theo tư bản để cầu xin cơm thừa canh cặn của tư bản! Trong hành động, cộng sản lại càng tỏ ra gian manh xảo quyệt. Sau 1954, cộng sản cải cách ruộng đất, chia ruộng cho dân nghèo nhưng được vài tháng, hay một năm là họ thu hồi đắt đai, bắt nông dân phải làm nông nô trong các hợp tác xã. Họ tuyên bố sẽ giải phóng nông dân khỏi ách trâu cày nhưng ngoài bắc từ 1955 cho tới nay, nông dân vẫn phải còng lưng cày thay trâu. Lần nữa, chúng ta thấy cộng sản chỉ là kẻ lừa bịp, dùng chiêu bài chia ruộng đất, của cải cho dân nghèo để họ tin mà theo mình.


Mỗi nông dân xuất sắc trước đây làm ở HTX mỗi ngày chỉ đuợc 1 ký lúa. Ngày nay nông dân làm khoán thực ra cũng chỉ là kiếp làm đầy tớ nộp tô nộp tức chẳng khác gì nông dân nghèo trước 1945. Sau 1975, cộng sản tuyên bố từ nay dân Việt Nam sẽ được các nước anh em tái thiết, nhân dân ta ai cũng sẽ có nhà mới, mỗi nhà đều có TV, máy lạnh, quạt máy...nhưng cho đến nay nhân dân ta nghèo vẫn hoàn nghèo, chỉ có bọn cán bộ tỉnh, thành phố và truơng ương là béo bở. Rõ ràng cộng sản vẫn gian giảo, xảo quyệt, hứa hẹn hão huyền , cho dân chúng đi tàu bay giấy.


Ngày nay cộng sản chủ trương đổi mới, vì đổi mới kinh tế sẽ đem lại lợi nhuận cho chúng về nhiều mặt. Ngày nay, chúng đã làm chủ nhiều công ty, nhiều ngân hàng. Con cái chúng sang Âu Mỹ du học, và chúng đã tẩu tán tài sản ra ngoại quốc để phòng khi hữu sự. Chúng bán đất đai nông dân để lấy tiền bỏ túi trong khi nông dân thiếu đất canh tác. Các cuộc nổi loạn ở Thái Bình, Hà Đông đã bị dẹp yên và những chiến sĩ cách mạng đã chết hoặc ngắc ngoải trong lao tù. Bao giờ những chiến sĩ này đưọc thấy ánh mặt trời tự do, dân chủ thực sự?


Tóm lại, cộng sản đã hoàn toàn lừa đảo nhân dân Việt Nam, nhất là dân nghèo. Trong khi dân chúng ngày càng nghèo khổ, bọn cộng sản gộc ngày càng giàu sang phú quý, chúng dã cho ta thấy tất cả những lời hứa hẹn của chúng về độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng chỉ là những lời xàm láp, không đáng nửa đồng xu. Nếu chúng bất lực thì còn đáng tha thứ nhưng chúng đã giết hại và giam cầm bao nhiêu người, làm tốn bao xương máu đồng bào và chúng là một lũ lưu manh , gian tham để cho dân chúng nghèo đói thì tội ác của chúng không thể tha thứ. Đồng bào ta phải vùng lên, tiêu diệt chúng để đòi lấy cơm no, áo ấm cho chính mình.


II. TẬP ĐOÀN NGÔ ĐÌNH DIỆM


Tập đoàn Ngô Đình Diệm đã tạo cho họ một nhãn hiệu chống cộng cho nên họ đã được Mỹ trong giai đoạn chống cộng ủng hộ họ. Nhìn về bề ngoài, gia đình Ngô Đình Diệm quả xứng đáng nhận lãnh vai trò chống cộng ở xứ này bởi các lý do sau:


a. Gia đình Ngô Đình Diệm theo Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đã bị Cộng Sản coi là kẻ thù số một, rất nhiều tín đồ Thiên chúa giáo đã bị cộng sản giết hại.


Vả lại, khi đến Việt Nam, người Pháp cũng như người Mỹ thường muốn dùng những người Thiên chúa giáo là những người cùng tín ngưỡng với họ.


b. Gia đình Ngô Đình Diệm là kẻ thù của cộng sản vì cộng sản đã sát hại cha và anh của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả , và Ngô Đình Khôi.


c. Người Mỹ thích dân chủ, ghét quân chủ . Sau thắng trận đệ nhị thế chiến, Mỹ tính bỏ chế độ quân chủ tại Nhật nếu không có sự can thiệp của đại sứ Mỹ tại Nhật .


Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ ủng hộ Khomeni ở Iran, kết quả ông dân chủ này lại quá độc tài dã man hơn ông quân chủ! Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ không ưa Bảo Đại, muốn đưa một nhân vật khác, và họ đã chọn Ngô Đình Diệm là một kẻ đã sống lâu năm tại Mỹ, được thế lực tôn giáo tại Mỹ và Vatican ủng hộ. Vì Pháp đã rút lui và người Mỹ lại muốn Ngô Đình Diệm thay thế mình, Bảo Đại thấy mình hoàn toàn mất chỗ đứng. Nếu trái ý họ thì một là ông sẽ bị giết, hai là ông sẽ bị Ngô Đình Nhu đảo chánh! Đằng nào thì cũng mất hết cho nên Bảo Đại đành nhượng bộ, bằng lòng cử Ngô Đình Diệm làm thủ tướng, để từ đó Ngô Đình Diệm cướp chính quyền.


Bọn Cần Lao đã tô điểm cho tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra những huyền thoại nào là yêu nước, thương dân, và chống cộng, chống thực dân triệt để( bài phong, phản thực, chống cộng).


Khi lên cầm quyền, Ngô Đình Diệm đã đi cái lốt chống cộng và đạo đức yêu nước thương dân cho nên nhiều người trong đó có Mỹ đã lầm tưởng gia đình họ Ngô là tốt. Đó chỉ là bề ngoài. Bề trong , họ Ngô chi vì quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm mà thôi. Họ cần ông Diệm làm tổng thống để họ có cơ hội bóc lột, đàn áp nhân dân Viêt Nam và ăn chận viện trợ Mỹ. Họ không quan tâm chút xíu nào đến quốc gia dân tộc, họ chỉ vì cá nhân họ , và vì phe nhóm họ. Tự do, dân chủ, chống cộng chỉ lằ nhãn hiệu dán ở bên ngoài. Họ bất chấp thủ đoạn, họ đã làm lợi cho cộng sản và họ đã bắt tay với cộng sản ngay từ buổi đầu.


1. LÀM LƠI CHO CỘNG SẢN


Khi lên cầm quyền, tập đoàn Ngô Đình Diệm chỉ nghĩ đến việc củng cố quyền lực mà không nghĩ đến tương lai đất nước. Những ngày đầu tiên, họ Ngô đã bắt bớ, giết hại những người không thuộc phe đảng của mình, nhất là những người quốc gia đang làm việc cho chính quyền quốc gia thời bấy giờ bởi vì họ ra sức triệt hạ vây cánh Bảo Đại. Họ khủng bố các tôn giáo, đảng phái vì họ bắt chước cộng sản, muốn chỉ một mình Ngô Đình Diệm làm chính trị, một mình Ngô Đình Diệm được tôn sùng và một mình Thiên chúa giáo ngự trị ở xứ này. Gia đình họ Ngô xem đất nước này tài sản của họ, họ mặc sức chia chác, chiếm đoạt. Ngô Đình Cẩn thao túng miền Trung như là một vương quốc. Ngô Đình Nhu quản lý thanh niên,và vợ y cai trị phụ nữ, và Ngô Đình Thục cai quản tôn giáo. Họ coi khinh luật pháp. Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân không có chức vụ chánh thức trong guồng máy quốc gia thế mà nắm trọn mọi quyền hành khiến cho tướng lãnh và trí thức phải sụp lạy, tôn thờ. Ngoài Ngô Đình Diệm là tổng thống, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu đều có công an mật vụ riêng, chúng muốn bắt ai, giết ai là tùy ý. Ngô Đình Cẩn đã vì đãu thầu thua mà bắt nhà thầu Nguyễn Đắc Phương tra tấn đến chết, đoạn quăng xác xuống đất mà bảo là tự tử! Ngô Đình Cẩn đã hãm hại Nguyễn Văn Yến để chiếm khách sạn Morin ở Huế. Ngoài ra những linh mục thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm đã ra sức thao túng, bóc lột, cướp tài sản dân chúng như linh mục Đinh Xuân Hải ở Sàigon. Có những linh mục bắt các quận trưởng phải nộp tiền bạc, để làm cái này, làm cái kia, nếu ai không tuân lệnh, chúng sẽ báo cáo xấu lên tổng thống mà bị mất chức hoặc bị ngồi tù. Vì muốn Ngô Đình Thục đuợc làm hồng y, bọn Ngô Đình Diệm đã dùng mọi thủ đoạn để gia tăng giáo dân trong đó có việc cưỡng bách sĩ quan, binh sĩ và dân chúng theo Thiên Chúa giáo, ai không theo bị chúng vu khống là cộng sản rồi bắt bỏ tù. Họ khủng bố Cao Đài , Hòa Hảo, tận diệt Quốc dân đảng và Đại Việt. Nguyễn Chánh Thi đã nhận định rất đúng về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm Nhu:


"Cứ hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại Miền Trung, cứ mỗi một tỉnh có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau linh mục là sức mạnh chánh quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải xử theo ý của linh mục, không thì mất chức. Các ông linh mục ở dưới chế độ Ngô Đình Diệm, phần đông sống
như các ông vua của một xứ xưa kia! "(1).


Tài liệu của Nguyễn Mạnh Quang rất đầy đủ về tội ác của họ Ngô, gồm có những điểm chánh yếu như:


- Ngô Đình Cẩn độc quyền khai thác quế ở miền Trung.


- Ngô Đình Thục dùng quân đi và quân xa bảo vệ và vận chuyển trong việc khai thác gỗ rừng trong các tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, lấy vật liệu của công và nhân viên chính quyền để xây cư xá Vĩnh Long, tổ chức Ngân khánh 1963 cưỡng ép công chức cao cấp và thương gia nộp tiền.


- Nguyễn Văn Thuận lấy vỏ đồng đại bác đem bán.


- Bà Cả Lễ nắm độc quyền xây cất, cung cấp quân nhu và thực phẩm quân đội, thầu cơm lính tại các trung tâm huấn luyện quân sự.


- Ngô Đình Cẩn giết 300.000 người ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa.


- Chính quyền Diệm giết các nhà chính trị như Hồ Hán Sơn, Vũ Tam Anh, Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Võ Côn, Phạm Xuân Gia, Lê Quang Vinh, Vương Quang Nhường, Hoàng Thụy Năm.(2).


Làm như thế là họ đã vì quyền lợi cá nhân, coi khinh quyền lợi tổ quốc. Hành động của họ chẳng khác gì hành động của bọn lưu manh ngoài chợ, thấy vàng bạc, cá thịt là cướp giật, coi thường luân lý, pháp luật và dư luận quần chúng trong nước và quốc tế . Làm như thế là họ cố tình bôi xấu chế độ, làm dân chúng bất mãn, họ làm cho cộng sản thêm vây cánh, thêm lợi thế chính trị, và rõ ràng là đẩy dân chúng chạy về cộng sản. Việc tập đoàn Ngô Đình Diệm khủng bố dân chúng và các tôn giáo, đảng phái chỉ làm cho nước mất về tay cộng sản như lời của Võ Văn Hải, chánh văn phòng đặc biệt của ông Diệm nói với Nguyễn Chánh Thi trước 1960:


Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chẳng mấy chốc Việt Cộng sẽ thay thế ông Diệm trong dinh Độc lập này (3).


Và sau này, ngày 7-7-1963, nhà văn Nhất Linh đã viết trong di chúc của ông để kết tội và cảnh cáo Ngô Đình Diệm và bè lũ: Sự bắt bớ và xử tử tất cả các phần tử đối lập Quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay cộng sản(4).


2. BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN


Vì tiền bạc, vì mưu chiếm lợi ích cá nhân, gia đình Ngô Đình Diệm thủơ đãu tiên đã bắt tay với cộng sản. Đó là việc Ngô Đình Cẩn và bà Cả Lễ đã bán hàng tấn gạo cho cộng sản năm 1956, Mỹ phát giác nhưng nhờ thế lực Ngô Đình Diệm mà Ngô Đình Cẩn trắng án, trong khi phó tỉnh trưởng Quảng Nam là Bùi Quang Sơn làm vật tế thần, bộ trưởng kinh tế Trần Văn Mẽo và Ung Bảo Toàn bị đầy Côn Đảo đến 30-4-1963 mới được tự do(5) .



Chính nhờ vụ này mà luật sư Lê Trọng Quát được bè lũ Ngô Đình Diệm ban ơn cho làm chân tay thân tín , đuợc ban cho nhiều ân huệ lớn lao.


Quyển hồi ký của Nguyễn Chánh Thi đã cho ta biết ông là một con người trung trực, yêu nước, có lập trường quốc gia thực sự vì khi ông bôn đào sang Cao Miên, dù khó khăn vẫn giữ lập trường quốc gia, không vì tức giận Ngô Đình Diệm mà chạy theo cộng sản như một số người khác. Điều quan trọng nhất là quyển này nói lên một sự thực quan trọng mà ít người quốc gia lưu tâm. Quyển hồi ký này cho ta biết lịch sử Việt Nam hiện đại mà trong đó tập đoàn Ngô Đình Diệm đã cấu kết với cộng sản, làm giàu trên xương máu quân đội và nhân dân Việt Nam. Bọn Ngô Đình Diệm dùng chiêu bài chống cộng để ăn tiền viện trợ Mỹ và ngồi trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam nhưng thực chất chúng nuôi chiến tranh, sống và làm giàu nhờ chiến tranh. Nói rõ hơn, tập đoàn Ngô Đình Diệm đã buôn bán với cộng sản, bắt tay với cộng sản, bọn họ không yêu nước Việt Nam mà yêu tiền bạc.


Trong khoảng 1958, mặt trận Giải phóng đã hoạt động mạnh mẽ. Ngô Đình Diệm cấm người vào rừng chặt cây đốn củi vì sợ họ liên lạc với cộng sản. Nhưng sự thực là họ giành độc quyền khai thác lâm sản cho Ngô Đình Thục. Làm sao Ngô Đình Thục có thể ra vào Long Khánh và các nơi núi rừng? Xin thưa là họ đã bắt tay với cộng sản! Làm sao một vị lãnh đạo Thiên Chúa giáo, một vị chống cộng, từng khởi xướng thuyết cần lao nhân vị. ..lại có thể làm ăn tại mật khu cộng sản? Chính là họ đã đem quốc gia trao đổi cho cộng sản để lấy tiền! Chúng ta cũng chẳng cần có trong tay một văn kiện mật, hay một băng cassette thu buổi mật đàm giữa tập đoàn họ Ngô với cộng sản mới hiểu biết việc này. Chỉ cần nhìn những đoàn xe chở gỗ từ Long Khánh chạy về sờ sờ giữa thủ đô Sài gòn là chúng ta biết có việc làm ăn, buôn bán giữa tập đoàn Ngô Đình Diệm mà đại diện là Sáu Tộ và cộng sản. Nguyễn Chánh Thi đã viết về việc này:


Riêng chúng tôi trong chiến dịch đốt nhập chiến khu D của Việt cộng, tuy kế hoạch đã thực hiện đúng mức trăm phần trăm, niềm vui của chúng tôi không được trọn vẹn. Vì ngay giữa trung tâm sào huyệt của đối phương, chúng tôi lại có thêm bằng chứng phản bội của lớp ngưòi cầm quyền. Trong các căn cứ của chúng, Việt cộng ăn thứ gạo hạng tốt, thắp đèn bằng dầu hôi và xăng, dùng một số xa xỉ phẩm nhập cảng như xà phòng thơm, thuốc đánh răng ngoại hóa, thuốc lá thơm Anh, Mỹ. Để ấn hành các tài liệu tuyên truyền, chúng dùng máy ronéo và có đủ các loại giấy tốt. Theo lời khai của các tù nhân, những thứ này đều do nhóm thợ rừng tiếp tế từ Biên Hòa lên. Những lúc cần, Việt cộng chỉ cần cải trang thành công nhân theo xe gỗ về tận Sài gon. Các xe này thường đưọc gọi là xe chở gỗ của Đức Cha, và các cơ quan kiểm soát không bao giờ dám đụng tới. Thế là công ty làm gỗ đã đem lại cho Đức Cha Ngô Đình Thục hàng tỷ bạc lãi. Các xe này đã chở luôn cả cộng sản về tận thủ đô để chúng gây ra cảnh máu đổ xương rơi trong đám quần chúng hiền lương vô tội (6)




Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thành cũng xác nhận việc này. Ông viết:


"Tổng giám mục Ngô Đình Thục giao cho ngưòi tin cẩn là Sáu Tộ lo viêc khai thác ( gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh và Biên Hòa). Sáu Tộ trả thuế cho cộng sản để được tự do khai thác và thâu lợi tức lớn. Sau khi đức cha Thục thuyên chuyển ra Huế làm tổng giám mục, bà Nhu tiếp tục việc này."(7)

Ông Ngô Đình Diệm yêu nước, gia đình Ngô Đình Diệm chống cộng là như thế đó! Trời cao đất dầy ơi! Chúa ơi! Phật ơi, tội nghiệp dân tộc tôi bị người ta lừa gạt, buôn bán trên xương máu mình mà đâu có hay! Chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng. trong khi hành quân vào mật khu cng sản, quân ta thấy rõ từng kho thuốc men, dụng cụ y khoa của các nhà tư bản thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm như là Trang Hai, La Thành.. Làm sao cộng sản có cả những kho hàng lớn lao như thế nếu những nhà tư bản này không chở từng xe lên chiến khu cho Cộng sản? Và chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng nhiều đơn vị hành quân trong rừng, nửa chừng đuợc lệnh bỏ lại vũ khí, đạn dược, xe tăng.. .Ai đã tiếp thu những thứ này? Tất nhiên là cộng sản. Họ Ngô tiếp tay cho cộng sản để cộng sản giết hại nhân dân ta, chiến sĩ ta. Trong thời gian chiến tranh, tập đoàn Ngô Đình Diệm thỉnh thoảng vẫn tiếp xúc mật với cộng sản. Để làm gì? Chính là để thương lượng, để buôn bán, trao đổi với cộng sản. Nếu hiểu đưọc điều này, chúng ta sẽ không còn thắc mắc về việc cộng sản nằm trong dinh Độc Lập. Đàng sau những tên nằm vùng là có cả các ông cha lừng danh chống cộng. Chính là tập đoàn Ngô Đình Diệm đã chịu điều kiện với cộng sản, đúng là bánh ít đi, bánh quy lại. Tôi để cho anh vào mật khu thì anh phải đem tôi vào thành, vào dinh! Tập đoàn Ngô Đình Diệm không yêu đất nước Việt Nam mà là yêu tiền. Họ yêu quyền lực vì quyền lực đem lại tiền bạc cho họ.


Khoảng 1960, ngưòi Mỹ đã thấy rõ con người tham lam, lạm quyền thế của vợ chồng Ngô Đình Nhu nên đã khuyến cáo vợ chồng y nên đi ra nước ngoài. Tức giận vì bị người Mỹ ngăn cản hành động của vợ chồng y nên Ngô Đình Nhu càng lộng hành hơn, tỏ ra thách đố với người Mỹ. Tâm lý của Ngô Đình Nhu là tâm lý trả thù của kẻ cùng quẫn. Vợ chồng tổng thống Marcos của Phi Luât Tân, bị Mỹ khuyến cáo, họ quay ra thân thiện với Liên Xô để chọc tức Mỹ. Ngô Đình Nhu cũng thế. Ngô Đình Nhu lúc này bèn mật đàm với cộng sản, ôm chân cộng sản để mong cộng sản cho họ tồn tại.


Về việc tập đoàn Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản dã có nhiều tài liệu đề cập đến. Khởi đầu có lẽ là Mặc Đỗ trong cuốn Bốn Mươi xuất bản tại Sài gòn sau 1963 . Trung tướng Trần Văn Đôn cũng như Mặc Đỗ đã nói đến việc đại sứ Ba Lan Manelie, và Robert Shaplen đứng ra làm trung gian mật đàm giữa Hà Nội và Sài gon. Các tạp chí Mỹ cũng đăng tải tin tức này.


Trung tướng Trần Văn Đôn đã cho biết việc ông Nhu tiếp xúc với Phạm Hùng:


"Đầu tháng hai, 1963, trung tá Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở ông Nhu và ông C. đi săn. Trung tá Bường đưa ông Nhu đến chỗ hẹn. Đến nơi trung tá Bường và ông C. chờ ngoài xe. Chỉ có ông Nhu vào. Người đương nói chuyện là Phạm Hùng, có hai ngưòi nữa ngồi bên cạnh. Ông Nhu hứa khi nối xong xe lửa thì bà Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy sẽ đi xe đầu tiên ra Hà Nội."(8)


Việc mật đàm là chuyện bí mật nhưng anh em ông Diệm đã cố ý khoe cho mọi người biết. Đó là chuyện cành đào mừng xuân. Trần Văn Đôn cho biết đầu năm quý mão (1963), tổng thống Diệm chỉ một cành đào trong dinh Độc lập và bảo đó là của Văn Tiến Dũng gửi (9).

Nhiều tài liệu khác lại nói là của Hồ Chí Minh gửi cành mai. Dù ai thì cũng là cộng sản trung ương gửi, dù mai hay đào cũng không có gì khác biệt nhưng đó là một sự kiện chứng thực việc mật đàm giữa ông Diệm và cộng sản. Tại sao ông Diệm lại công khai nói điều này? Ông tin chắc là mật đàm đã thắng lợi, ông đã thoát khỏi gọng kìm của' đế quốc Mỹ'? Ông càng kiêu căng, thách đố thì ông càng chết sớm!


Người Mỹ có biết việc tập đoàn Ngô Đình Diệm thỏa hiệp với cộng sản không ? CIA Mỹ nhất định là biết. Tài liệu của Ngũ Giác Đài cho thấy là họ đã được báo động về hành vi phản bội của Ngô Đình Diệm đối với tổ quốc Việt Nam và nước Mỹ.


Sự báo động của người Mỹ về những ý định của chế độ ông Diệm gia tăng kể từ tháng 9 năm 1963. Trong tháng ấy, các bản tường trình được công bố tiết lộ rằng ông Diệm đã bí mật hi kiến với một nhà ngoại giao người Pháp, đuợc cử sang Hà Nội, sau khi chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh công khai đề cập đến một cuộc ngưng bắn có thể có trong cuộc chiến, và tổng thống De Gaulle ở Ba Lê bất thần kêu gọi mới, loại bỏ hết ảnh hưởng ngoại quốc khỏi toàn thể Việt Nam (10).


Theo tài liệu Ngũ Giác Đài, Ngô Đình Nhu đã nửa úp nửa mở khi tuyên bố với báo chí:


"Đại diện Ba Lan trong ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến tại Việt Nam là ông Miecayslaw Manelli, tiếp theo đó có gặp ông Nhu, và có tin đã mang theo một thư của thủ tướng Bắc Việt. Ông Nhu tuyên bố rằng trong thư ấy thủ tướng đã xin tôi mở các cuộc thương thuyết trên căn bản đề nghị ngưng bắn của Hồ Chí Minh và đã nêu ra nhiều chi tiết có thể coi hầu như là một đề nghị hấp dẫn "(11).


Theo Cao Thế Dung , bà Tố Liên ở Sài gon, có chồng là bạn với Ngô Đình Nhu, đuợc Ngô Đình Nhu trao cho nhiệm vụ sang Vientiane, trao một bức thư cho môt người từ Hà Nội sang, vốn là bạn cũ của Ngô Đình Nhu, trước cùng làm ở thư viện Hà Nội. Tết quý mão cũng người này đem cây mai quý của Hồ Chí Minh qua Hồng Kông, rồi qua Lào, từ Lào vào Saigon tặng Ngô Đình Diệm. Cao Thế Dung dã hỏi Trần Kim Tuyến, Cao Xuân Vỹ thì hai ông đều phủ nhận việc họ Ngô mật đàm với cộng sản mà chỉ có thể là sự thăm dò. Tuy nhiên, tình báo của Trung Hoa quốc gia thì quả quyết có sự tiếp xúc giữa ông Nhu và Phạm Hùng ở rừng Lá Phan Thiết năm 1962. Ông Vương Vũ Văn,trưởng lưới tình báo Trung hoa quốc gia tại Chợ Lớn khi về Đài Loan, được Tưởng Kinh Quốc cho xem tài liệu của CIA về ngày giờ và địa điểm ba lần ông Nhu gặp Phạm Hùng và một sứ giả đặc biệt của Hồ Chí Minh từ Hà Nội vào. Và cũng theo Cao Thế Dung, Lưu Thành Hữu, cựu sĩ quan tùy viên của ông Nhu, vào năm 1970 kể lại chi tiết với tác giả việc ông Nhu gặp Phạm Hùng ở Rừng Lá trong một chuyến đi săn mà Lưu Thành Hữu được tháp tùng vì ông là chuyên viên săn bắn "(12) .



Đỗ Mậu đã viết đầy đủ nhất về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản (13) .

Ông kể rõ mọi việc từ việc đại sứ Ba Lan , Ấn Độ và Pháp đã cùng nhau giúp Nhu Diệm mật đàm, và cuộc trao đổi giữa ông và Võ Văn Hải bí thư ông Diệm:


"Ông cụ và ông Nhu đã thay đổi lập trường rồi anh Mậu ơi. Bây giờ là chống Mỹ, bắt tay Pháp để nói chuyện với Hà Nội, chúng ta làm gì chứ? "(14).


Một tài liệu rất đặc biệt, đó là tác phẩm Ngô Đình Diệm , nỗ lực hòa bình dang dở của Nguyễn Văn Châu nói về việc ông Diệm và ông Nhu tiếp xúc với cộng sản. Tập tài liệu này là luận án cao học về sử học của ông ở đại học Paris VII, nhan đề tiếng Pháp là Ngô Đinh Diêm En 1963: Une Autre Paix Manquée . Ông Nguyễn Văn Châu là người phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, là người đồng châu và đồng tôn giáo với ông Diệm. Năm 1961, ông thăng trung tá, và làm chủ tịch quân ủy Cần Lao, đồng thời là giám đốc cơ quan phụ trách tuyên truyền bí mật ở miền Bắc Việt Nam. Ông lấy bà chị của Trần Lệ Xuân, là Trần Lệ Chi nhưng bàn dân thiên hạ lúc đó kháo nhau rằng bà Lệ Chi yêu người khác, một Pháp kiều, hai bên ly dị. Vì việc này, bà Nhu ban hành luật gia đình cấm đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ chồng, nhưng ông Châu bất tuân luật gia đình, bỏ sang Pháp học và tiếp xúc với cộng sản như thầy Nhu và Diệm của ông. Cái nhan đề tiểu luận và lời nói đầu của ông đã công nhận việc hai ông Diệm Nhu liên lạc với cộng sản là có thực. Ông viết:


"Ít người biết rõ là trong năm 1963, Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho một thỏa ước ngầm để chấm dứt cuộc chiến anh em bắc nam, đồng thời loại bỏ sự can dự của ngoại quốc "(15).


Nguyễn Văn Châu vốn là đệ tử họ Ngô, lại dày công tìm đọc ở thư viện Pháp, thư viện quốc hội Mỹ và gặp gỡ các viên chức tình báo Mỹ cho nên tài liệu của ông rât đáng tin cậy. Ông đã cho ta biết về việc Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản như sau:


"Không khí căng thẳng mà William Colby , Richard Nixon và một số tác giả, bình luận gia khác cảm nhận đó, trở nên sôi nổi khi các cơ quan thông tấn và thông tin Mỹ mở chiến dịch chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm nhân vụ Phật giáo nổi dậy. Sự chống đối người Mỹ càng lúc càng lớn mạnh cho hiểu tại sao tổng thống Diệm đã để cho ông Nhu nối lại dây liên lạc bằng hữu với nước Pháp để đi đến thỏa hiệp với anh em thù hận Bắc Việt đồng thời vẫn giữ thành đồng chống cộng tại Đông Nam Á.

Kể từ tháng 6-1963, vài liên lạc và thảo luận được thiết lập giữa hai chính phủ Nam và Bắc Việt qua trung gian của đại sứ Ấn Độ Ram C.Goburdhyn và đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy Hội quốc Tế kiểm Soát Đình Chiến đưọc thành lập sau hiệp định Genève 1954. Trong cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo thiên cộng người Úc Wilfred Burchett vào tháng 7 năm 1963, Hồ Chí Minh tuyên bố:


-"Sự can thiệp ngoại bang phải chấm dứt. Trong viễn tượng đó, cuc ngưng bắn sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp. Dù sao đi nữa, ông Diệm vẫn là một ngưòi yêu nước dù theo cách của ông ta. Cũng theo Wilfred Burchett, trong hai năm cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, đại sứ Pháp ở Sài gòn Roger Lalouette đã yết kiến thường xuyên ông cố vấn Ngô Đình Nhu, có lúc kéo dài nhiều giờ. Không ai biết rõ nội dung của những cuộc gặp gỡ này, nhưng bắt đầu có dư luận tung tin chính sách của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong thực tế nhằm che dấu một âm mưu nhắm thanh toán anh em tổng thống Diệm. Một thời gian ngắn sau đó có một sự kiện khá bất thường xảy ra. Chính quyền Băc Việt vẫn cấm tất cả mọi chuyến bay trực tiếp từ Hà Nội vào Sài gòn, nay cho phép tổng lãnh sự Pháp ở HàNội Jacques de Burzon bay vào Sài gòn để gặp tổng thống Diệm. Đại sứ Lalouette đưa ông tới dinh Gia Long trình bày với tổng thống Diệm rằng Hồ Chí Minh không còn coi ông là kẻ phản bội, bù nhìn trong tay người Mỹ mà nói về tổng thống Diệm như một con người tốt, một người Việt yêu nước dù thế nào đi nữa. Ngày 29-9-1963, tướng De Gaulle tuyên bố đề nghị một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, sau đó đại sứ Lalouette siêng năng tới yết kiến ông cố vấn Nhu thường xuyên hơn nữa và nhắc nhở ông Nhu nắm lấy cơ hội đề nghị của tổng thống Pháp. Trong khi đó, đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy hội quốc tế Kiểm soát đình chiến, nhìn nhận ông Nhu là một lý thuyết gia đứng đắn duy nhất ngoài thế giới cộng sản, về du kích chiến, đã đến gặp ông cố vấn để đưa tin riêng của thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng.


Khi về đến Sài gòn để dự đám táng người em linh mục của tôi bị tử nạn lưu thông tại Vũng Tàu, tôi được biết sứ điệp này có thật. Một phụ tá thân cận của ông Nhu cho tôi hay những liên hệ giữa một bên Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, một bên Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không còn là liên hệ giữa kẻ thù địch với nhau mà trở thành bạn . . .Phạm Văn Đồng đưa đề nghị mở những cuộc thương thảo trên căn bản đề nghị ngưng chiến của Hồ Chí Minh, đề nghị thảo luận về những liên lạc kinh tế buôn bán giữa hai miền, vấn đề chính trị sẽ giải quyết sau. Ngoài ra hai bên còn trao đổi sứ điệp bằng cassettes giữa Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm ( Những cassettes này hiện đuợc lưu trữ tại một viện đại học ở California, theo lời xác nhân của sư huynh giáo sư Gaselin Mai Thông Tâm khi tôi gặp sư huynh tại Orlean vào năm 1965. Những chi tiết này được hai ông Cao Thế Dung và Trần Kim Tuyến ( tức Cao Vị Hoàng và Lương Khải Minh) tác giả cuốn "Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống "xác nhận. Một người từng làm giám đốc Phòng Nghiên Cùu chính trị thuộc phủ Tổng thống, người kia từng là nhân viên phủ tổng thống (16).


Nguyễn Văn Châu tiếp theo cho chúng ta biết những điều sau:


- Ông Nhu tiết lộ với thị trưởng Đà Lạt Trần Văn Phước vào tháng 9-63, nhân cuộc đi săn cọp có sự tham dự của đại sứ Lalouette : Đã tới lúc phải hành động cách khác.


Với việc Cabot Lodge được cử làm đại sứ, chúng ta sẽ mất một phần lớn viện trợ Mỹ. Pháp đã hứa viện trợ cho chúng ta. Bắc Việt muốn thương thảo với miền Nam, tại sao ta không thử nói chuyện với họ xem sao!


- Ông Nhu tiếp xúc với đại diện cộng sản tại tư thất đại sứ Ấn Độ Goburdhijn, theo một lịch trình định trước hoặc hai, ba lần một tháng.


- Khi tuyên bố với ký giả Joseph Alsoph rằng ông không muốn thương thuyết mà không cho người Mỹ biết, là ông Nhu đã dấu việc tiếp xúc vói cộng sản.


-Tác giả có mặt tại Sài gòn khi ông Diệm liên lạc với De Gaulle xin viện trợ Pháp thay thế viện trợ Mỹ(17).


Tổng hợp các tài liệu về Ngô Đình Diệm, chúng ta thấy có những ý kiến sau:


- Một số cho rằng cho rằng họ Ngô yêu nước, không bao giờ bắt tay với cộng sản. Đây là quan điểm của bộ hạ Ngô Đình Diệm.


- Một số cho rằng ông Diệm bắt tay với cộng sản là sự thực, là để mưu cầu hòa bình. Đó là phe cánh khác của Ngô Đình Diệm, đại diện là Nguyễn Văn Châu.


- Một số có tài liệu Ngô Đình Nhu mật đàm với cộng sản nhưng lại cho rằng không biết thực hay hư. Đại diện khuynh hướng này là Cao Thế Dung.


-Ông Lê Tùng Minh cho rằng việc này là do Hồ Chí Minh tung ra mục đích là làm cho Mỹ và Ngô Đình Diệm mâu thuẫn nhau ( Tạp chí Cách Mạng của Đại Việt, VA, 2000).


Trong các tài liệu trên, tài liệu của Đỗ Mậu là đầy đủ nhất về tội ác của tập đoàn Ngô Đình Diệm. Tài liệu của Nguyễn Văn Châu cũng khá đầy đủ về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cng sản nhưng lập luận của ông sai lầm. Chúng ta thấy rằng nguồn tin tình báo của CIA , tướng lãnh và sĩ quan Việt Nam cộng Hòa trong đó có Nguyễn Văn Châu đã xác nhận việc tập đoàn Ngô Đình Nhu bắt tay với cộng sản là có thực .

Tại sao họ làm như vậy?


Như đã trình bày ở trên, tập đoàn họ Ngô là con đẻ của Mỹ, nhưng bọn này quá gian tham và độc ác,làm nhiều điều xấu xa, ảnh hưởng đến thanh danh và quyền lợi Mỹ như là tàn sát phe Bảo Đại, đàn áp các đảng phái, tôn giáo, trong đó có Phật giáo cho nên Mỹ phải cảnh cáo Ngô Đình Diệm. Người Mỹ thấy lỗi chính là vợ chồng Ngô Đình Nhu nên đã yêu cầu họ ra đi. Tập đoàn này không chịu, quay sang cầu cạnh Pháp và bắt tay với cộng sản. Và động cơ không phải là yêu nước, mà là muốn bám lấy địa vị quyền lợi của họ Ngô và tập đoàn, họ muốn bán đất nước này để cầu vinh, mong cộng sản thí cho chút ân huệ. Việc Ngô Đình Cẩn và bà Cà Lễ bán gạo cho cộng sản, việc tập đoàn họ Ngô bán thuốc tây và dụng cụ y khoa cho cộng sản, việc Ngô Đình Thục kinh doanh gỗ trong rừng đã nói bản chất bán nước buôn dân của tập đoàn này.


Đây là một sự phản bội dân tộc Việt Nam và phản bội đồng minh Mỹ. Người Mỹ có cơ quan mật vụ, cơ quan điều tra nổi tiếng là CIA, FBI, và có nhiều chuyên viên tài ba, nhiều máy móc, và phương pháp tinh vi nhưng vẫn sai lầm. Ai cũng nói Ngô Đình Diệm là người tốt, nhưng sự thực ông rất gian ngoan. Trần Văn Đôn cho biết ông Diệm đã theo Nhật. Lúc chưa đảo chánh, Nhật đem máy bay chở ông tại La vang và đưa ra Băc. Lê Văn Kim kể rằng một hôm thấy ba người Việt mặc quân phục Nhật đến tại nhà bác sĩ Trần Nhữ Lân, mà một trong ba người là Ngô Đình Diệm. Khi Trần Văn Đôn hỏi về việc này thì Ngô Đình Diệm chối phắt, bảo là ông rất ghét Nhật (19) .

Ông đã đặt tay lên thánh kinh và thề trung thành với quốc trưởng Bảo Đại nhưng vì quyền lợi cá nhân và phe nhóm, ông đã phản bội Bảo Đại và dất nước Việt Nam.



Đối với đất nước Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, một nhân viên cao cấp hay tầm thường, một quốc trưởng hay sĩ quan tiếp xúc với giặc đều phạm tội phản quốc. Hơn nữa, cộng sản rất gian trá, thương thuyết, giao thương với cộng sản chỉ là một hình thức đầu hàng, sớm hoặc muộn cũng bị cộng sản thanh toán. Họ Ngô khôn ngoan nhưng khôn ngoan sao bằng Mỹ và cộng sản! Nếu Mỹ không can thiệp , để cho Ngô Đình Diệm đàm phán thành công thì việc trước nhất là Mỹ phải cuốn gói một cách nhục nhã vì mục tiêu của cộng sản và Ngô Đình Nhu là loại bỏ ảnh hưởng ngoại quốc khỏi Việt nam, mà theo cộng sản, ngoại quốc là Mỹ, và Việt Nam sẽ rơi vào tay cộng sản một cách nhanh chóng chứ không phải là đạt hòa bình như ông Nguyễn Văn Châu suy nghĩ!



Chúng ta đã thấy nhiều bộ mặt phản trắc, nhiều bộ mặt trục lợi cầu danh, nhiều bộ mặt gian giảo quay quắt. Có nhiều người chạy theo Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu nhưng khi thấy gió đã xoay chiều, họ quay ra chống Diệm và Thiệu mà mục đích là rửa tay, là ve vản cộng sản, cầu xin chút ân huệ khi cộng sản vào Nam như Trần Hữu Thanh, Nguyễn Thị Thanh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung. . . Ngô Đình Diệm cũng thế . Cả gia đình họ Ngô làm tay chân cho Pháp nhưng thấy Pháp thất bại bèn quay sang thờ Mỹ, tuyên bố là chống thực dân Pháp, nhưng khi bị Mỹ khuyến cáo thì quay sang ôm chân De Gaulle và cộng sản. Tinh thần Ngô Đình Diệm là tinh thần gian xảo, bịp bợm, phản quốc hại dân. Ông Nguyễn Hữu Châu đã quá tô son điểm phấn cho Ngô Đình Diệm khi cho việc họ Ngô bắt tay với cộng sản là một nỗ lực hòa bình là thỏa hiệp với anh em thù hận Bắc Việt đồng thời vẫn giữ thành đồng chống cộng tại Đông Nam Á (20).



Ông Diệm Nhu đã cao mà ông Châu càng cao hơn! Làm sao có thể vừa bắt tay với cộng sản mà lại vừa ăn tiền viện trợ Mỹ và làm tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á hỡi ông Nguyễn Hữu Châu? Cộng sản bằng lòng chăng? Mỹ chấp thuận việc đó sao? Dân tộc Việt Nam tin vào điều đó chăng?

Sự tàn sát nào cũng là xấu, nhưng việc giết anh em nhà họ Ngô về chính trị và quân sự là việc khôn ngoan. Sau cách mạng 1963, nếu để anh em họ Ngô sống thì nhiều tai họa sẽ xảy đến cho Mỹ và Việt Nam, nhiều người sẽ chết hơn là hai cái mạng của anh em Diệm Nhu. Việc đầu tiên là bọn họ có thể tuyên bố đuổi Mỹ ra khỏi nước và đầu hàng cộng sản. Nếu không, họ sẽ gây một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến. Việc này sẽ làm tiềm lực quốc gia suy yếu, và giúp cộng sản nhanh chóng chiếm miền Nam. Hơn nữa, đời người chỉ một lần gặp may, và không ai bị lừa đảo hai lần. Anh em ông Diệm đã đuợc tha trong đảo chánh 11- 1960 của Nguyễn Chánh Thi, nhưng họ đã nuốt lời cam kết, lịch sử không cho họ tái diễn tấn tuồng lừa đảo! Đó là quy luật trong chính trị và trong cõi đời! Nhiều người cho rằng nếu anh em họ Ngô còn sống, thì đất nước Việt nam đâu có rơi vào tay cộng sản! Đây lại là một điều hão huyền. Bản thân họ Ngô là trục lợi, họ đã thương thuyết, buôn bán với cộng sản, đâu có nghĩ đến quốc gia dân tộc! Mỹ đưa họ về, chi viện mỗi năm 10 tỷ mỹ kim, trong lúc cộng sản chưa phát động vùng dậy thì ai cũng có thể làm tổng thống được. Còn ai có thể làm gì khi Mỹ cắt viện trợ, rút lui quân, trong khi Liên Xô viện trợ ào ạt cho cộng sản ? Anh em ông Diệm làm gì? Họ đã tính đầu hàng cộng sản chứ làm được ích lợi gì mà trông mong!


Vì việc này, người Mỹ và hội đồng cách mạng đã tiến hành việc lật đổ Ngô Đình Diệm. Nhìn cảnh tượng dân chúng hoan hô quân đội trong ngày 1-11-1963, chúng ta đã thấy lòng dân là như thế nào. Dường như trong ngày 1-11-63, báo chí, tướng lãnh và ngưòi Mỹ đều không nói gì về việc hai ông Diệm Nhu mật đàm với cộng sản cho nên người ta cứ tưởng vì Phật giáo mà Mỹ và tướng lãnh đã lật đổ họ Ngô! Người ta không nói rõ việc mật đàm, vì đó là một việc cơ mật, là niềm tủi nhục của Việt Nam cộng hòa, là nỗi đáng cay của Mỹ, nói ra sẽ làm cho lòng dân chúng và quân sĩ rúng động, chỉ có lợi cho cộng sản mà thôi! (Ai đời một ông tổng thống mà đi bắt tay với cộng sản thì còn nước non gì cái đường lối chống cộng nữa! Một hậu quả về việc này là một số chân tay Diệm theo đường lối của chủ quay ra bắt tay với cộng sản, trong đó có Nguyễn Hữu Châu). Đỗ Mậu sau này mới nói lên lý do cuộc cách mạng này:


Âm mưu thỏa hiệp với chánh quyền cộng sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng nếu không nói là đng cơ thách đố nhất, thúc đảy quân đi cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1-11-63 để ngăn chận và trừng phạt họ Ngô dâng miền Nam cho cộng sản (21).


Các tướng lãnh trong hội đồng cách mạng quả đã vì nước vì dân. Một số người trách Đỗ Mậu phản bội Ngô Đình Diệm nhưng Đỗ Mậu là người can đảm, dám nói sự thực. Và hành động của ông là chính nhân quân tử vì Nho gia không coi Kiệt, Trụ là vua, mà là kẻ giặc hại dân, hại nước phải giết! Nếu ai đó trung thành với ông Diệm dù ông Diệm bắt tay với cộng sản, kẻ đó là xuẩn trung. Họ trung với chủ Diệm Nhu, với danh lợi chứ không trung thành với đất nước Việt Nam. Nếu trách thì phải trách ông Diệm bất nhân, bất nghĩa với Bảo Đại, với nhân dân Việt Nam. Kẻ hại gia đình ông Ngô Đình Diệm chính là lòng tham sân si của Ngô Đình Diệm, và tập đòan của ông, và đám bộ hạ ác ôn, chỉ biết theo chủ làm ác mà không tôn trọng luật pháp, và yêu tự do, và dân chủ, và theo đường lối bác ái của Chúa.


Người Á Đông chúng ta cũng như người Tây phương rất tin tưởng lời thề. Một lời nói thường cũng ứng nghiệm huống chi lời thề! Ông Diệm đã đặt tay lên thánh kinh trước mặt Bảo Đại, ông Diệm lại nói trong lễ song thất 1963: Tôi tiến thì theo tôi! Tôi lùi thì bắn tôi! (22).



Lời thề và lời nói của ông đã ứng nghiệm! Ông bắt tay với cộng sản thì ông bị bắn hạ! Ông phản bội quốc gia thì ông phải chết! Không phải là đại úy Nhung, không phải Dương Văn Minh, không phải Mai Hữu Xuân, không phải Trí Quang, không phải Cabot Lodge, cũng không phải Kennedy! Chính ông Diệm hạ sát ông Diệm, gia đình ông, tập đoàn ông đã giết ông! Nhiều thông điệp của hữu hình và vô hình đã gửi đến ông, nhưng ông không thức ngộ. Khoảng 1957, sét đánh mả Ngô Đình Khả, một ngôi mộ gần cố đô Huế, do công binh giỏi nhât và vật liệu tốt nhất xây dựng . Việc Nguyễn Chánh Thi nổi dậy, việc Nguyễn Văn Cứ thả bom dinh Độc Lập, nhiều nhân sĩ trong và ngoài nước như Cao Văn Luận, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Chương, và rất nhiều người Mỹ cảnh cáo ông, khuyên bảo ông nhưng ông và tập đoàn ông trong đó có bà Nhu lại càng điên cuồng, dữ tợn hơn!


Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm và tập đoàn là một lũ buôn dân bán nước, lừa bịp dân chúng, họ dùng danh nghĩa quốc gia để chiếm đoạt đất nước này làm tài sản riêng, họ dùng danh nghĩa chống cộng nhưng thực tế là bắt tay với cộng sản từ khởi đầu cho đến chung cuộc.



Trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã đau khổ triền miên vì cộng sản và bè lũ Ngô Đình Diệm. Hai tập đoàn này khác nhau về nhãn hiệu, màu cờ, sắc áo, thành phần giai cấp và học thức, nhưng cùng chung tính chất là gian tham và tàn ác. Họ tuyên bố tranh đãu cho tự do, dân chủ, vì quyền lợi tổ quốc, vì nhân dân Việt Nam nhưng sự thực họ chỉ vì họ, họ đàn áp, giết hại nhân dân, họ làm mọi cách để vơ vét tài sản trong nước, trong khi dân chúng càng ngày càng đói khổ. Họ dùng danh nghĩa nào đi nũa thì nhân dân ta cũng thấy họ là kẻ lưu manh giả dối, đã phản bội nhân dân và đất nước Việt Nam. Ngô Đình Diệm đã mất nhưng cộng sản vẫn còn. Chúng ta còn phải tranh đãu để giải phóng đất nước khỏi ách cộng sản, thiết lập một nền tự do, dân chủ thực sự.



Sơn Trung

Chú thích:
1. Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam Một TrờI Tâm Sự, Xuân Thu, CA, 1987, 80.
2. Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cng Hòa Toàn Thư 1954-1963. tác giả xuất bản,
WA, 1998, 191-192.
3. Nguyễn Chánh Thi, 81.
4. Hồ sơ cái chết Nhất Linh .Văn Học, Saigon. số 109, th.10-1962.
5. Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Văn Nghệ, CA, 1993,.406.
6. Nguyễn Chánh Thi, 47-51.
7. Nguyễn Mạnh Quang, 400.
8. Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu, CA, 1989, 183-184.
9. Ibid, .597.
10. Hồ Sơ Mật Của Ngũ Giác Đài. Lan Vi, Hồng Hà, Dương Hùng dịch. Đai Nam, 1971, 199.
11. Ibid, 205.
12. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa. Alpha,1991,.545-548.
13. Đỗ Mâu, ibid. chương XVI, Từ đồng minh vớI Mỹ đến thỏa hiệp với cộng sản, 537 -602.
14. Đỗ Mậu, 556.
15. Nguyễn Văn Châu, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hoà Bình Dang Dở. Nguyễn Vy Khanh dịch.
Xuân Thu, CA, 1989, 13-14.
16. Ibid.,140-142.
17. Ibid.,142.
18. ibid.142-143.
19. Trần Văn Đôn, 37.
20. Nguyễn Hũu Châu, 140
21. Đỗ Mậu,568-69.
22. Nguyễn Văn Châu.246.