Monday, June 15, 2020

SƠN TRUNG * SƠ KHẢO VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

 Nho giáo Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

SƠN TRUNG
SƠ KHẢO VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM 


Theo Đào Duy Anh, thời thượng cổ, nước ta ở vào tình trạng mông muội, chưa có gì có thể gọi là học thuật  tư tưởng được.  Đến thời đại Bắc thuộc thì người nước ta mới bắt đầu có Hán học. Sử chép rằng Sĩ Nhiếp ở đời Đông Hán đem Thi Thư mà dạy dân ( Đào Duy Anh,Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.233). Cách tổ chức việc học và trình độ học thưc thời ấy như thế nào, hiện nay ta không thể tra cứu (tr.233), song ta cũng có thể đoán định được rằng việc học bấy giờ chỉ ở trong phạm vi luân lý và thực dụng tầm thường (ĐDA,1938, tr.233) .Tuy trước Sĩ Nhiếp đã có Lý Tiến (Hán Linh đế, 1681-189) là người Giao Châu, học giỏi được bổ làm Thứ sử, sau lại có Lý Cầm và Trương Trọng cùng it nhiều người đậu mậu tài và hiếu liêm được bổ làm quan nhưng đó là những người du học ở Tàu chứ không phải do các trường ở Giao châu tác thành (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.233).
Việc giáo dục trong nước là do tôn giáo mà phát triển. Khởi đầu Giáo dục phát triển do Phật học.

THỜI ĐẠI PHẬT GIÁO ĐỘC THỊNH
  
Thời Đông Hán xã hội ta chịu ảnh hưởng luân lý và lễ giáo của Nho gia (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.234). Thời kỳ Bắc thuộc còn sơ sài. Vào khoảng thời kỳ thứ II thứ III, Phật học ở Ấn Độ đã do Trung Quốc truyền sang nước ta.Từ đời Lục triều (từ thế kỷ III đến thế kỷ VI) cho đến đời Đường (618-907), Phật giáo cực thịnh ở Trung Quốc mà ở nước ta thì Phật giáo thịnh hơn Nho học (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.234).
 Hồi nội thuộc Đường , nước ta đã có mấy vị cao tăng như Vô ngại Thượng nhân, Phùng Đình Pháp sư - Các vị này có họa thơ với các thi sĩ đời Đường như Sầm Kỳ Thâm và Trương Tịch. Đến khi nước ta thoát ly Trung Quốc mà độc lập thì Phật giáo truyền bá trong dân gian đã rộng nên vua Đinh Tiên hoàng mới định giai phẩm các tăng. Đời Lê Đại hành sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước ta, vì trong nước không có ai lỗi lạc về Nho học để đối đáp với sứ giả, vua phải  sai hai vị sư là Lạc Thuận (1) và Khuông Việt ra đón tiếp. Hai vị sư ấy thường ngâm vịnh với sứ Tống khiến sứ Tống phải khâm phục (ĐDA,Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.234).
Hán học ở Trung Quốc truyền sang nước ta từ đầu thời kỳ Băc thuộc thế mà trải đến đời Đinh, Lê (thế kỷ thứ X), trong làng Nho học chưa thấy được những nhân tài xuất sắc (Đào Duy Anh, tr.234) mà chỉ trong Phật học thì mới thấy xuất hiện những người tài giỏi . Như vậy, ta có thể nói trong lịch sử học thuật nước ta, thời đại ấy là thời đại Phật học cực thịnh (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.234).
Nền Giáo dục nước ta phát triển mạnh trong các chùa. Và những vị sư lúc này là những văn thi sĩ kỳ tài. Khi sứ Trung Hoa là Lý Giác sang nước ta, không có tay nho học nào để nói chuyện với sứ Trung Hoa, vua phải sai hai vị sư là Lạc Thuận(1) và Khuông Việt tiếp sứ Trung Quốc.

Đến đời Lê, Phật giáo lại cực thịnh.Khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi, nhà vua xuất thân là sư, và những vị sư thời này cũng nổi tiếng văn tài  như Minh Tâm, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Minh Không. Qua triều Trần, Phật giáo vẫn thịnh. Có ba vị hòa thượng  tiếng tăm lừng lẫy là Tam Tổ:
-Đệ nhất tổ: Giác hoàng: vua Trần Nhân tông
- Đệ nhị tổ: Pháp Loa
-Đệ tam tổ Huyền Quang.
(Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.235).
Có những cao tăng chủ trương học thuyết riêng hoặc trước tác về đạo lý như Ngộ Ấn thiền sư có thuyết tam bản, lấy thân, khẩu, tâm làm gốc của đạo;  
Cửu Chỉ Thiền sư có: thuyết Tam pháp nhất như, Viên Chiếu thiền sư có Thập nhị nguyện văn, sách Tản Viên Giác kinh,Thập nhị Bồ tát hạnh tu chứng đạo tràng, sách Tham Đồ hiển quyết. Vua Trần Thái Tông tu tại gia có sách Thiền Tông Chỉ Nam (tr.ĐDA, 235) và Khóa Hư.
Theo các sách của Viên Chiếu thiền sư và Trần Thái Tông thì Phật học bấy giờ có tinh thần điều hòa tam giáo(ĐDA, 235) như Viên Chiếu nói về Phật và Khổng có câu rằng:
"Trú tắc minh ô chiếu, Đà lai ngọc thố minh"(Ngày thì mặt trời soi, đêm thì mặt trăng chiếu".
Sách Khóa Hư thì chỗ nào cũng dẫn Khổng, Lão, Phật (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương,1938, tr.233).
Đời Lý, Nho, Phật đồng thịnh.  
Vua Lý Thánh Tông (1054-1972) lập Văn miếu và đúc tượng Chu công, Khổng tử và Thất thập nhị hiền để thờ  (Đào Duy Anh, tr.235). Ở nước ta triều dình bắt dầu tôn thờ Khổng tử là từ đó.
Năm 1075, vua Lý Thánh tông lại mở khoa thi Tam trường để lấy người nho học bổ làm quan, tức là khoa thi đầu để lấy người nho học bổ làm quan, tức là khoa thi đầu tiên ở nước ta.Ông Tô Hiến Thành lấy tư cách một nhà nho học mà giúp vua
Anh Tôn còn trẻ đánh dẹp các nơi lập được công to, lại chăm khai hóa việc học trong nước đã nổi tiếng là người văn võ kiêm toàn (Đào Duy Anh, 236).
 Khi Lý Thường Kiệt đánh quân Tống chỉ tuyên ra một bài thơ mà cả quân sĩ đều phấn khởi đủ biết quân sĩ nhà Lý biết chữ và hiểu thơ. một vài chứng cớ ấy cho ta thấy Nho học thời ấy đã thâm thúy.
 Sang triều Trần, Nho học càng thịnh hơn. Vua Trần Thái Tông (1225-1258) mở khoa thi Thái Học sinh, khoa Tam khôi và lập nhà Quốc Học để giảng Tứ thư, Ngũ kinh. Các nhà Nho học đời Trần có nhiều tay kinh luân lỗi lạc như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão ...là những nho sĩ tài kiêm văn võ. Và những tay học giỏi như Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, những tay sử học giỏi như Lê Văn Hưu, Hồ Tôn Thốc song nhà nho nổi tiếng đời Trần là Chu An, học vấn cao minh, khí tiết cương nghị, cảm hóa khắp công khanh sĩ thứ rất sâu xa, khiến cho Nho học thắng Phật học, và chiếm địa vị quan trọng trong nước. Ông làm ra sách Tứ Thư Thuyết Ước, hiện nay thất truyền, nhưng theo sách Việt Sử Tổng Luận thì ta biết được "Cái học của ông là cùng lý, chính tâm, trừ tà, cự bế" (Đào Duy Anh, 236).
Ở đời Lý và đời Trần triều đình lại đặt khoa thi Tam giáo (Nho, Phật,Lão), xem thế đủ biết đời Trần Nho,Phật Lão thịnh hành. Đó là thời đại tam giáo đồng tôn vậy.
Năm 1076, vua lập trường Quốc tử giám ở kinh đô (Đào Duy Anh, 236).
Từ đời Chu An , Nho học bắt đầu  thắng Phật học nhưng sang đời Lê, đời Nguyễn, Nho học chiếm địa vi độc tôn (Đào Duy Anh, 237).Hai triều ấy đều có pháp luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành Phật giáo và Lão giáo.Tuy triều Lê và các khoa thi kinh điển riêng cho nhà tu hành nhưng đó là một cách hạn chế. Đối với Nho học thì các vua Lê và Nguyễn đều hết sức tôn trọng.  Nhưng từ khi người ta trải qua cuộc nhà Minh xâm lược thì sách nho học, Phật học và Đạo học bị quân Minh thu mất, rồi họ  phát cho những sách Tứ Thư, Ngũ kinh thể chú để dùng trong các trường công.Đến khi nhà Lê quang phục, những chế độ và thư tịch đời Lý, Trần đều mất tich nên đành bắt chươc chế độ Minh triều, lấy khoa cử làm (ĐDA, tr.237) trọng.
Thời Lê Nguyễn  là thời đại Nho học độc tôn. Hai triều ấy đều có pháp luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành Phật giáo và Đạo giáo.Tuy triều Lê có các khoa thi Kinh Điển nhưng đó là cách hạn chế. Đối với Nho học, các vua Lê và Nguyễn đều hết sức tôn trọng (tr.237). Nhưng từ khi nước ta bị quân Minh xâm lược thì sách Nho học, Phật học của ta bị quân Minh thu mất, rồi họ phát cho những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh thể chú để dùng trong trường.Thư tịch đời Lý Trần đã mất nên đành bắt chươc chế độ Minh triều lấy khoa cử làm trọng.

Luận về sĩ phong đời Lê, Quế Đường Lê Quý Đôn nói rằng:"Quốc gia khôi phục thừa sau khi nhiễu nhương thì nhà nho vắng vẻ, đến đời Hồng Đức mở rộng khoa mục thì kẻ sĩ xô về hư văn, đời Đoan Khánh về sau thì sĩ tập suy bại quá lắm"(Đào Duy Anh, tr233 - Nguyễn Trọng Thuật- Điều đình với cái án Quốc Học-Nam Phong 167)                   


 Vua Minh Mạng từng nói về việc học cử nghiệp rằng:" Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm.Văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những người làm văn cử nghiệp chỉ câu nệ hủ sáo, khoe khoang lẫn nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp nhân tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài mỗi ngày một kém đi "(Đào Duy Anh, tr233- Trần Trọng Kim- Việt Nam Sử Lược.)                   



Ngày xưa, việc giáo dục ta có những cấp bậc :
-Sơ học
-Trung tập,
-Đại tập
 Đại tập là giáo dục cấp Đại học. Chủ yếu dạy sĩ tử thi Hương.
Trước thời Pháp thuộc, việc giáo dục có tính tự do.  Ai muốn dạy cũng được chỉ cần hay chữ, và lúc này nhiều nhà khá giả rước thầy về nhà dạy cho con em. (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.80). Các ông đồ là những vị học vấn uyên bác (tr.80).  
Theo Sơn Trung, thời này, nổi danh nhất là các ông đồ Nghệ. Ông vào Nam ngồi dạy học tại tư gia, và được các gia chủ tín nhiệm. Ngày xưa, tổ tiên tôi cũng nuôi một ông đồ Nghệ, chết tại nhà tôi. Hằng năm, tháng chạp, nhà đi viếng mộ đều đến mộ ông thắp một nén hương.  Sau này, không biết các con cháu có nhớ viếng mộ ông hay không. 
      Thời xưa , những nhà giàu, thường nuôi các ông đồ Nghệ để dạy trẻ trong  nhà. Lẽ tất nhiên các gia chủ phải trả tiền thầy, thầy gửi tiền về quê cho vợ con thầy. Thường các vị hưu quan hay mở trường. Cũng có những vị thi đỗ không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Có những ông đồ tuy không đỗ đạt gì, nhưng có tiếng hay chữ đồn vang trong xứ nên thể theo lời dân làng mà mở trường dạy học. Trường là nhà tư gia khá giả, rộng rãi để chứa nhiều học sinh.Các ông Đồ cứ dạy trẻ cho đến khi khoa cử của ta bị bãi bỏ và không còn học trò nữa (Toan Ánh, Nếp Cũ,tr.81)
Sau thời kỳ này, các cậu giáo theo Pháp học thay thế các ông đồ. Các cậu giáo không thành đạt, không có cả bằng Sơ học, đành về nhà gõ đầu trẻ (Toan Ánh, tr.81)
Trước khi thi Hương, các tỉnh tổ chức cuộc thi để gạt bớt những kẻ kém. Ai đỗ đầu thì gọi là Ông Đầu Xứ. Có thời loạn trong giáo dục, đủ hạng người đi thi, vì mong trong trường thi có thể mua văn bài.
 Từ xưa tới trước thời Pháp thuộc , giáo dục tự do. Ai muốn dạy học đều được chỉ cần  hay chữ (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.80), được các nhà khá giả rước về nhà để dạy con em. Ngày xưa, ta thường rước các ông đồ Nghệ dạy tư gia.
Các bậc đại khoa một số không ra làm quan mà ở nhà dạy học (Toan Ánh,Nếp Cũ, tr.80)
Ông đồ rất được quý trọng vì xưa thứ bậc xã hội là QUÂN, SƯ, PHỤ.Thầy quan trọng hơn cha mẹ
Ngày xưa, học trò chỉ theo một ông thầy  từ lúc vỡ lòng đến lúc thi Hương, thi Hội cho nên tình thầy trò rất thắm thiết (Toan Ánh, tr.80)


Từ Lê mạt đến Tây Sơn, việc học thiếu tổ chức có lẽ vì nội  chiến .Vua Gia Long lên ngôi năm 1802 mới tổ chức việc học có quy củ.
Trong nước có bảy trường thi Hương . Trường thi đặt trên bảy mẫu ruộng, trên có nhà dành cho các khảo quan và văn phòng của họ (Toan Ánh, Nếp Cũ. tr.109). Giữa có đường thập đạo chia 4 mảnh gọi là bốn vi, mỗi vi quây rào, chỉ có một cửa ra vào (Toan Ánh-110)
Sĩ tử đi thi phải mang lều che mưa  và chõng để nằm viết, chiếu để trải, giấy bút , cơm ăn (Toan Ánh, tr.110).
Lều lợp tranh, khung tre, mái bằng giấy phất cậy. Cậy là quả hồng có nhựa cho giấy hết thấm nước.
Danh sách thí sinh yết tại 4 vi. Xung quanh trường thi la liệt hàng quán bán đủ thức ăn, nước uống, giấy bút, mực. Có cả nhà hát (Toan Ánh. Nếp Cũ, tr.112)
Ngày nhập trường, các sĩ tử đến từ nửa đêm với lều chõng kèm bên với ống quyển đeo trước ngực, bình nưóc cạnh sườn  (Toan Ánh.tr.112).Tại mỗi cửa trường, hai cây đình liệu thắp sáng một vùng.
Tại cỗng trường có lính xét hành lý của mỗi thí sinh , ngăn không cho mang sách, hoặc bài mẫu vào trường thi (Toan Ánh, tr.113). Tập quyển lúc đó mới giao cho đương sự để làm bài thi (Toan Ánh, tr. 113).Thí sinh đi thẳng đến vi của mình, cắm lều, kê chõng, trải chiếu, ngồi ăn lót dạ chờ thi (Toan Ánh,tr.113)
Sĩ tử vào trước, quan trường mới ra đầu bài (tr.114). Làm bài suốt ngày, đến trưa phải vào nhà Thập đạo để xin dấu Nhật trung đóng giữa bài.

Việc đóng dấu Nhật Trung là để tránh thay quyển. Lúc chép bài lên quyển, không được xóa, dập hoặc có vết ố để tránh mọi sự đánh dấu, hoặc sự thông đồng giữa các quan trường với sĩ tử (Toan Ánh, tr.113)
Nếu lỡ làm bị tỳ ố hoặc xóa dập, sĩ tử có thể trước một giờ trong ngày thi xin thay quyển. Phải có sẵn một quyển mới để đóng dấu kiểm soát. Những quyển tì ố, dập xóa, đương nhiên bị loại (Toan Ánh,tr.113)
Trong lúc thi luôn luôn có người đi kiểm soát, ngăn chận thí sinh gian lận.Từ trên lầu canh đường thập đạo, các vị giám sát luôn để mắt tới các lều. Khi tới gần giờ nộp bài, lại có ba hồi trống báo hiệu. Hết hồi trống thứ ba, hòm quyển bị khóa và đóng dấu lại (tr.113), những quyển nộp sau phải để ngoài hòm, gọi là quyển ngoại hàm đương nhiên bị loại (tr.114) . Những quyển bất thành văn lýphạm húy đều bị loại , mà còn mang tai họa (Toan Ánh, tr.114)

Thi cử ngày xưa rất khó khăn mà vinh quang cũng tột bậc. Vị tân khoa vào lạy vua và các thầy dạy mình.
Sau khi xướng danh xong các cử nhân, bảng danh sách được niêm yết tại  cửa Giáp. Các thí sinh đậu Tú Tài cũng thấy thỏa mãn vì từ nay dù sao cũng dự chân khoa mục (Toan Ánh,tr.116)
Sau lễ xướng danh, các quan trường các tỉnh dẫn các tân khoa tới Vọng Cung để bái vọng nhà vua khi nhà vua không có đấy. Sau đó Tổng Đốc đại thần tỉnh trưởng liền  đặt yến tiệc mời tất cả Hội Đồng Khảo Thí lẫn các tân khoa (Toan Ánh, tr.117).

THI HỘI 
Theo chỉ dụ Minh Mạng lục niên , các khoa thi Hội được mở vào tháng ba những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi tức là sau  những năm có thi Hương.

THI ĐÌNH


Những thí sinh đậu thi Hội được thi Đình. Trong các quyển thi đều do toàn thể hội đồng giám quan chấm và đệ lên nhà vua duyệt. Thi Đình chỉ có bài Đối Sách rất dài, nghĩa là trả lời một câu hỏi về luân lý, chính trị, hành chánh v.v... Đề thi Đình do vua tự chọn (Toan Ánh,tr.118). Những thí sinh đươc điểm cao thì đậu Tiến Sĩ, còn thấp là Phó bảng. Triều Nguyễn không có Trạng nguyên, Bảng Nhãn, và Hoàng giáp (Toan Ánh.tr.118)

Thành phần khảo quan vẫn do nhà vua chỉ định. Việc chấm bài khác với thi Hương. Số thí sinh tương đối ít nên chỉ có một văn phòng thơ lại độ 40  người, phải chép lại tất cả những quyển thi hợp lệ và không ngoại hàm nhưng không chép lại tên họ và chỗ ở của thí sinh (Toan Ánh, tr.118).
Những quyển chấm đậu phải trình vua và danh sách các tân khoa trúng tuyển sẽ được ấn định theo sự phê duyệt của nhà vua (Toan Ánh,tr.118) .
Không có lễ xướng danh những người đậu nhưng có lễ Truyền Lô tại Điện Thái Hòa rất long trọng.
Nhà vua hôm đó ngự triều, có đủ mặt bá quan văn võ triều thần.
Vị chánh chủ khảo tâu vua kết quả kỳ thi. Vị Giám thí đã cho mời tất cả các tân khoa lại và nhân danh nhà vua phát cho mỗi người một bộ áo mũ  triều đình có cân đai, một lá cờ và một tấm biển (Toan Ánh,tr.119).
Các quan tân khoa ăn vận triều phục. Quan Thượng Thư bộ Lễ sẽ tiến dẫn các ông vào sân Rồng quỳ trước bệ vàng nghe xướng danh rồi lễ nhà Vua. 
Bảng danh sách các ông tân khoa được niêm yết ở lầu Phú Vân ba ngày (Toan Ánh, tr.119).Lễ bộ thượng thư đặt tiệc ngay tại bộ để thết đãi, ở đây khảo quan và các tân khoa lại làm lễ bái mạng vua. Sau bữa tiệc, mỗi vị tân khoa phải làm một biểu tạ ơn vua (Toan Ánh, tr.119).Một bia đá ký danh các vị tân khoa được dựng lên để kỷ niệm.

THĂM VƯỜN THƯỢNG UYỂN


Các tân khoa được nhà vua cho đi thăm Ngự Uyển và sau đó đi thăm kinh thành (Toan Ánh tr.119).Lễ bộ thượng thư và các Giám thị hướng dẫn các tân khoa trong bộ triều phục  mới tinh, áo gấm lam thêu rồng gợn thủy ba, đai ngọc với những tấm gương lấp lánh , mũ cánh chuồn, cuỡi tên những con ngựa đủ yên cương đi rong khắp vườn Ngự, có người theo hầu che lọng rủ ngù ngũ sắc. Màu áo quần sặc sỡ hòa hợp với màu xanh lá cây trong vườn rất đẹp như tăng sự hân hoan của mọi người (Toan Ánh, tr.119).
Các tân khoa lúc đó được các nàng công chúa, các vị tiểu thư xa xa đứng ngắm. Các Ngài đã Đại Đăng Khoa còn chờ Tiểu Đăng Khoa.
Mỗi vị tân khoa được phép hái trong vườn Ngự Uyển một bông hoa theo ý mình lựa chọn. Bông hoa này đã có thợ kim hoàn trong cung đánh lại bằng vàng để quan tân khoa cài lên mũ.
Thăm vườn nhà vua xong, các vị tân khoa lại được quan Thượng Thư dẫn đi coi phố xá khắp kinh thành, và qua đường dân chúng khen ngợi (Toan Ánh, tr.120)

 VINH QUY BÁI TỔ
 Cũng như nhiều nước ở Phương Đông ngày xưa, sự thi đậu đại đăng khoa ở nước ta rất quan trọng. Thi cử xưa khó khăn, ba năm mới có một khoa, số tữ tử được chấm đậu không nhiều. Mỗi khoa tại các cỗng trường đều có treo máy chữ đại tự THIÊN TỬ CẦU HIỀN chứng tỏ người đỗ đạt được tôn trọng (Toan Ánh, tr.120). Một vị hàn nho hôm trước, hôm sau trở thành ông Nghè rồi đây đưởng ân vua lộc nước, và trở thành cha mẹ dân. Vì vậy các ông tân khoa khi vinh quy bái tổ được đón tiếp trong thể.Đậu Tú tài được hàng xã đón rước. Đậu Cử nhân hàng tổng đón rước. Đậu đại khoa nghĩa là từ Phó bảng trở lên  được hàng huyện đón rước , thật là vinh dự (Toan Ánh,tr.120). Mỗi người đậu đều được báo tin về làng. Hương chức trong làng vội vàng cử người đến gặp vị tân khoa để ấn định ngày vinh quy (TA,tr.121).
Đến ngày được ấn định, đám rước được tổ chức sẵn và đón đợi vị tân khoa ở đầu làng, đầu tổng, hoặc đầu huyện tùy theo sự đỗ đạt của vị tân khoa này.
Đậu đại khoa nhất là tiến sĩ đám rước rất long trọng, nước ta gọi là Đám Rước Ông Nghè (Toan Ánh, tr.121). Dù là ông Nghè, ông cử, ông Tú , đám rước cũng cử hành trọng thể (Toan Ánh, tr.121)
Đậu  Tú tài được hàng xã đón rước .Cử nhân được hàng tổng đón rước. Đậu Đại khoa nghĩa là từ Phó bảng trở lên được hàng huyện đón rước. Thật là vinh dự  (Toan Ánh,tr.120). Mỗi người đậu đều được báo tin về làng. Hương chức trong làng vội vàng cử người đến gặp vị Tân khoa để xin ấn định ngày vinh quy (Toan Ánh, tr.121). 
Đến ngày ấn định, đám rước được tổ chức sẵn và đón đợi vị tân khoa ở đầu làng, đầu tổng hoặc đầu huyện tùy theo sự đỗ đạt của vị này.
  Đậu  Đại khoa nhất là đậu Tiến sĩ, đám rước long trọng lắm, xưa gọi là Đám Rước Ông Nghè. Nhưng dù ông Nghè, ông Cử. hay ông Tú, đám rước cũng cử hành lộng lẩy.

Thời Pháp thuộc giáo dục nằm trong tay nhà nước.Pháp lập các trường công và cấm việc dạy tư nếu không được phép của chính quyền (Toan Ánh, tr.81). Tuy vậy việc cấm cũng không ráo riết lắm, các lớp học của các ông Đồ vẫn được mở cho đến khi khoa cử của ta bị bãi bỏ để thay thế bằng khoa cử  mới của Pháp (Toan Ánh, 81). Sau thời kỳ này, trong các làng vẫn còn đôi ba lớp học của một vài ông đồ nhưng chỉ có những học nhỏ. Học chữ Hán
lúc đó chỉ cốt biêt đọc, biết viết, để đọc các văn tự và sách cổ.Muốn tiến thân phải đổi sang học Quốc Ngữ và chữ Pháp (Toan Ánh, tr.81)
Tuy cấm nhưng cũng không ráo riết lắm nên các ông Đồ vẫn dạy cho đến khi không còn học trò nữa. Lúc đó thay thế các ông đồ tại các làng có các cậu giáo, là những người theo Tây học nhưng không đỗ đạt, bằng Sơ học cũng không có, đành về gõ đầu vài đứa trẻ ở xóm để sinh sống (Toan Ánh,  tr.81). Học trò theo các cậu giáo thời đó cũng như theo các ông đồ về trước, và có nhiều gia đình cũng rước cậu giáo về dạy con cũng như trước kia rước ông đồ (Toan Ánh, tr.81).
Các cậu giáo dạy học, có người không lấy tiền, tùy tâm bố mẹ học sinh, song  có người lấy lấy mỗi em một số tiền nhỏ, dăm ba hào hoặc một đồng bạc (Toan Ánh,tr.81-82)
Các cha mẹ nuôi con, khi con năm bảy tuổi, ở nhà nghịch ngợm, gửi chúng tới cậu giáo, chúng học được chữ nào hay chữ nấy. Vẫn theo nếp cũ, các cậu giáo dạy học, vẫn cầm chiếc roi mây để đe nạt học sinh. Vào thời kỳ này số trẻ trai gái được đi học đã nhiều hơn trước, và tại nhiều nơi đa số đã có trường nữ học dành riêng cho nữ sinh. Sau một  thời gian học các cậu giáo, các trẻ em lần lượt xin vào trường nhà nước để tiếp tục sự học cho đến khi trưởng thành (Toan Ánh, tr,82)

 VIỆC HỌC NGÀY NAY
Ngày nay trai gái đều đi học . Trẻ năm sáu tuổi được bố mẹ gửi đến các trường công hoặc trường tư. Có nhiều em gia đình khá giả hơn được gửi đến các lớp mẫu giáo từ khi ba, bốn tuổi, việc dạy dỗ các em trong các lớp mẫu giáo chỉ là việc giáo nhi. Ở các lớp mẫu giáo, các em vừa chơi vừa học. Các em thực sự học hành từ lúc lên lớp tiểu học. Thời Pháp thuộc, việc học chia thành ba cấp:
-Đồng Ấu
-Tiểu học 
-Trung học
-Đại Học
Ngày nay, Việt Cộng cũng tổ chức việc học theo đó. Dù xưa nay, trong thời kỳ còn nhỏ, sự săn sóc tới các em bao giờ cũng quan trọng ( Toan Ánh, tr.82)
Tập giữ tính thành con người ta hay hay dở nhiều khi bắt đầu ngay từ lúc bé. Bởi vậy, vấn đề giáo nhi cũng như việc học hành của các em sau thời kỳ này không bao giờ bị xem thường (Toan Ánh, tr.83)

VIỆC HỌC VÀ THI CỬ
 Ngày nay  việc giáo dục nước nào cũng chia ra câp bậc,  và mỗi cấp bậc đều có kỳ thi.Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 đã phải bỏ kỳ thi Trung học vì học sinh quá đông, nhà nước không tổ chức nổi khoa thi Trung học phổ thông trên toàn quốc. Bỏ khoa thi Trung Học phổ thông thì bằng Trung học phổ thông không còn giá trị. Vì vậy người ta đòi hỏi bằng Tú Tài ( Tú Tài I, Tú Tài II )
Tại Việt Nam, mỗi năm hoa phượng nở, sau chín tháng học hành, các kỳ thi được mở ra. Kẻ chấm thi, người đi thi, mỗi người một tâm sự (Toan Ánh, Nếp Cũ , tr.84).
Thời Đinh, Ngô và Tiền Lê, chiến tranh và triều đại ngắn ngủi, nên không mở nhà học, không mở các khoa thi.Chúng ta không thấy gì hơn ngoài  những điều sơ sài về học chế từ đời Hậu Hán.

GIÁO DỤC DƯỚI TRIỀU LÝ
Mặc dầu lo chống Tống xâm lược, vua Lý Thái tổ
ngay từ lúc lên ngôi đã chú ý đến việc học hành và giúp đỡ các chùa để phát triển sự học (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.87).Trong dân chúng cũng có nhiều trường học. Chính Lý Thái tổ trươc đây cũng là học trò tại cửa chùa, và thầy dạy nhà vua lúc nhỏ là sư Lý Khánh Vân (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.87). Nhà vua chú trọng Nho học. Ngoài việc mở trường, cho xây văn miếu tại Thăng Long để thờ Khổng Phu tử, lần lượt  các trấn, các xã xây Văn Chỉ. Nhà vua lại cho đắp tượng Chu Công, Khổng tử và thất thập nhị hiền để thờ kính.
Vua Lý Nhân Tông cũng chú ý đến việc  tuyển những bậc minh kinh bác học để ra trị nước an dân, đem sự học làm lợi cho Tổ Quốc (Toan Ánh, Năm Thái Ninh thứ tư  tức năm Ất Mão (1075)  (Toan Ánh, tr.88), nhà vua mở khoa thi Tam Trường, nghĩa là thi ba kỳ để kén nhân tài. Đây là khoa thi đầu tiên ở nước ta kể từ khi nền Hán học chuyển nhập sang nươc ta. Kết quả kỳ này là thủ khoa Lê Văn Thịnh, sau làm đến Thái sư, và là một ngưòi có tài (Toan Ánh,Nếp Cũ, tr.88)
Năm sau, năm Bính Thìn, Lý nhân Tông cho lập Quốc Tử giám để con cháu các công thần vào học. Trong dân gian, việc học càng phổ biến hơn, ở chùa chiền cũng như ở dân xã. Bắt đẩu từ đây, nước ta có những ông đồ dạy học (Toan Ánh,tr,88)
Cùng với việc lập Quốc tử giám, vua Nhân Tôn không ngớt khuyến khich sự học . Nhân tài được kén chọn qua các kỳ thi (Toan Ánh, tr.88), một viện mà nay chúng ta ước ao

Kỳ thi thứ hai, nhà vua mở năm Bính Dần (1088), nhà vua chọn những người giòi vào Hàn Lâm Viện (Toan Ánh,tr.89), là một Viện mà Việt Nam đến nay vẫn chưa có.
Vị thủ khoa khoa Bính Dần là Mạc Hiển Tich được bổ làm Hàn Lâm viện học sĩ (Toan Ánh, 89).
Vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông đều liên tục mở khoa thi.
Năm Đại Định thứ 13, Nhâm Thân ( 1152), vua Lý Anh Tông mở khoa thi Đình, và đến năm Ất Dậu (1165) nhà vua lại mở ra khoa thi Thái Học sinh để kén chọn người làm quan bổ đi các trấn (Toan Ánh,tr.89). Trong khoa thi Thái Học Sinh  có kỳ thi luận về CÁCH TRỊ DÂN (Toan Ánh, tr.89). Nhà vua lại mở các khoa thi Lại Điền, khảo về Hình, Luật, Thư ,Toán để kén hàng thơ lại nghĩa là quan lại các cấp (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.89).
Vua Lý Cao tông cũng cho mở nhiều khoa thi khác. Năm Trình Phù thứ mười ( Ất tị-1185) có khoa thi về Kinh Thi, Kinh Thư để chọn người học rộng tài cao. Khoa thi này có 20 người trúng tuyển. Ông Bùi Quang Khải đỗ đầu, sau trở thành công thần triều Lý. Mười năm sau, năm Ất mão (1195) nhà vua lại mở khoa thi Tam giáo (Nho Thich, Lão) để kén chọn những người tinh thông ba ngành Phật, Khổng và Lão. Tóm lại, đời Lý, hán học rất thịnh, và chánh các nhà vua đời Lý đã đặt nền tảng vững chăc cho sự học của nước ta. Nho học thịnh, Phật giáo, Lão giáo cũng đồng thịnh (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.89).


GIÁO DỤC DƯỚI TRIỀU TRẦN

Triều Trần thay triều Lý, tiếp tục phát triển việc học ngay từ đời Trần Thái tông. Việc giáo dục được tổ chức chu đáo hơn hai triều trước. Có trường học, có kỳ thi, và mục đich thi cử là tuyển dụng nhân tài (Toan Ánh, Nếp Cũ,tr.90).

NHỮNG PHÉP THI VÀ KHOA THI
Niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất, năm Nhâm Thìn (1232), vua Trần Nhân Tôn mở khoa thi Thái Học Sinh. Để phân biệt cao thấp, nhà vua phân chia tân khoa thành ba cấp: nhất giáp, nhị giáp và tam giáp. Nước ta có tam giáp bắt đầu từ đây. Vị Thủ khoa năm NhâmThìn , đệ nhất giáp đệ nhất danh là Trương Hanh được bổ dụng tại triều (Toan Ánh,Nếp Cũ, tr.90)
Đến năm 1247, nhân khoa thi, nhà vua lại chia ra đệ nhất giáp làm tam khôi: Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Những người Miền Bắc đậu Trạng nguyên gọi là Kinh Trạng nguyên , còn những người Thanh NghệTĩnh đậu Trạng nguyên thì gọi là Trại Trạng Nguyên. Nước ta có Trạng Nguyên từ đó.
Vị trạng nguyên đầu tiên, nghĩa là người đỗ thủ khoa năm đó là Nguyễn Hiền, 13 tuổi (Toan Ánh, tr.90). Lệ này được giữ suốt đời vua Trần Thái Tông đến đời vua Trần Anh Tông (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.90).
Niên hiệu Hưng Long thứ 12, năm Giáp Thìn (1304), vua Anh Tông định lại phép thi như sau:
-Khoa thi gồm có 4 kỳ:
Kỳ I. Ám tả
Kỳ II.Kinh nghĩa, Thi, phú
Kỳ III .Chiếu, chế biểu
Kỳ IV. Văn sách
Khoa Giáp Thìn này có hơn 40 sĩ tử trúng cử, và Trạng nguyên khoa đó là chính là ông Mạc Đĩnh Chi, người đã đi sứ sang Trung Quốc. Ông là tổ tiên Mạc Đăng Dung sau này lập ra nhà Mạc.
Dù các triều đại sau có thay đổi cũng quanh đi quẩn lại 4 trường thi như trên, Có thể Kinh nghĩa thi phú hoặc Chiếu chế biểu lên trên.
Đến đời vua Trần Duệ Tông phép thi lại được sửa đổi vào năm Long Khánh thứ hai, Giáp Dần (1374). Khoa thi Thái Học sinh đổi tên là Tiến sĩ bắt đầu từ đây.
Trong cac khoa thi tiến sĩ, các ông Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và Hoàng giáp đều gọi là Tiến sĩ cập đệ, còn các Tân khoa khác là Đồng Tiến Sĩ (Toan Ánh. Nếp Cũ, tr.91)
Vua Trần Duệ tông đặt ra thi Hương, những người đậu kỳ thi gọi là HƯƠNG CỐNG, và chỉ Hương Cống  mới được dự thi Tiến Sĩ.Vua Trần Thuận Tôn về sau cũng có sửa đổi theo phép thi, theo chế độ thi cử của nhà Nguyên, bỏ kỳ ám tả và chỉ còn lại bốn kỳ gọi là văn chế tứ trường (Toan Ánh tr.91)
Trường nhất: kinh nghĩa
Trường nhì:thi , phú.
Trường ba: Chiếu, chế, biểu
Trường tư: văn sách.
Phép thi mới này áp dụng từ khoa thi năm Quang Thái thứ IX 1396. Kể từ năm này, khoa Tiến sĩ gọi là khoa THI HỘI. Thi Hội tổ chức một năm sau thi Hương.
Phép thi ta đời Trần được tổ chức có quy củ và được sửa đổi để ngày càng kỹ lưỡng hơn. Chính trong đời Trần đã xuất hiện những bặc văn hào như NGUYỄN HIỀN, MẠC ĐĨNH CHI, HÀN THUYÊN, CHU VĂN AN v.v...
Đến đời Trần, việc học, việc thi đã có quy củ, có thể nói là hơn các thời trước (Toan Ánh,tr.92)
Chính vua Trần Thái Tông, vào năm Nguyên Phong thứ III, năm Quý Sửu 1253 đã lập Quốc Học Viện để giảng dạy văn chương cũng như lập Giảng Võ đường để giảng võ nghệ (Toan Ánh, tr.92). 
Đến đời vua Trần Thuận Tông , việc học hành,  việc thi cử được cải cách. Không kể Quốc học Viện ở kinh đô, nhà vua cho lập các Lộ, có các quan Đốc Học để dạy Sinh đồ, và các châu, Phủ, có chức Giáo Thụ để trông coi việc học (Toan Ánh, tr.92-93)
Hàng năm các Lộ chọn người tuấn tú cử về triều đình để thi, việc kén chọn này khuyến khich cho sự học (Toan Ánh, tr.93)
Về cuối đời Trần, trong các môn học có thêm môn Toán pháp cho nên đến đời Hồ, năm Khai Trí thứ 
III, khi Hồ  Hán Thương mở khoa thi Ất Dậu 1405, các sĩ tử phải thi môn này.Vì muốn thu phục lòng người nên khoa thi này nhà Hồ lấy đỗ rất nhiều tất cả 170 người . Thủ khoa năm đó là Hồ Ngạn Thần (Toan Ánh, tr.93)


GIÁO DỤC TRIỀU HẬU LÊ 
 Sau chiến thắng quân Minh, vua Lê Thái Tổ đã nghĩ đến việc tổ chức giáo dục. Trường Quốc Tử Giám ở kinh đô, và các  học hiệu được mở khắp Lộ, Châu, Phủ (Toan Ánh ,tr.93)
Ngay một năm sau khi lên ngôi, vào năm thuận Thiên Thứ II, kỷ Dậu, vua Lê Thái Tổ cho mở khoa thi Minh Kinh. Các quân nhân các lộ, các nhân sĩ, các quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống đều  ứng thí: Hai năm sau, vào năm Tân Hợi , 1531, nhà vua lại mở khoa Hoành Từ (Toan Ánh ,93). Hai kỳ thi này,` nhà vua mở để đám sĩ phu có tài, vì trong mấy năm loạn lạc, không thể tỏ tài được, nay được dịp để phô tài văn chương chữ nghĩa , và nhờ vậy việc kén dụng nhân tài cũng dễ dàng (Toan Ánh, tr.94).
Triều Lê cũng chủ trương như triều Trần nâng cao việc học, và việc khảo thí làm trọng. Năm Giáp Dần , Thiệu Bình nguyên niên 1434, vua Lê Thái Tôn, ngay khi  mới lên ngôi đã ấn định chương trình khảo thí có 4 kỳ:
Trường nhất: kinh nghĩa và Tứ thư nghĩa
Trường nhì: Chiếu, Chế, Biểu

Trường ba: Thi, Phú
Trường tư: Văn sách
Năm sau, năm Ất Mão, nhà vua cho  mở khoa thi Hương . Các quân nhân, các giáo chức, dân chúng ở các lộ đều được ứng thí.
Năm 1438, nhà vua ấn định ba năm mở một khoa thi, các thí sinh phải trải qua ba kỳ Thi Hương, Thi Hội và Thi Đình. Các thí sinh  trúng tuyển cũng được chia thành tam giáp như lúc đầu ở trièu Trần. Năm 1442, thi Hội và thi đình được mở kỳ đầu tiên và cũng trong năm này, nhà vua ra lệnh dựng bia ghi tên những vị tân khoa tại Văn Miếu, hồi đó là nhà Thái Học.
Vua Lê Thánh Tông, khi nối ngôi vua Thái Tôn cũng tiếp tục nâng cao sự học. Năm Quảng Thuận thứ III, Nhâm Ngọ (1462), nhà vua định lại phép thi Hương. Ai trúng tuyển Thi Hương, năm sau được dự thi Hội (Toan Ánh, tr 94). 
Cũng trong năm này,  nhà vua ấn định chia làm hai hạng những người trúng tuyển Hương thí. Hương Cống là những người đậu cà bốn trường, Sinh đồ là những người chỉ đậu ba trường (Toan Ánh, tr.95).
Việc học hồi đó rất thịnh, các thí sinh rất đông. Để lại bớt thí sinh, nhà vua buộc  các địa phương phải lọai trước những kẻ bất hiếu, bất mục, con cháu bọn phản lọan, hoặc con cháu bọn xướng ca. Rồi lại có một kỳ ám tả để lại bớt kẻ kém. Năm Hồng Đức thứ III, Nhâm Thìn 1472, nhà vua sửa lại phép thi, các thí sinh phải qua bốn trường thi:
Trường nhất: Tứ thư, Ngũ kinh
Trường Nhì:Chiếu, Chế, Biểu
Trường Ba: Thi, Phú
Trường tư:Văn sách.
Đặc biệt trong việc sửa đổi này là tại trường thứ nhất, vềTứThư có 8 đề, Ngũ kinh có 15 đề. Các thí sinh được Lựa Chọn Đề để làm như các thí sinh ngảy nay. 8 đề về Tứ thư, thí sinh chọn 4, mỗi thứ một, còn 15 đề về Ngũ kinh, thí sinh chọn 5 đề, mỗi kinh một.
Chính vua Lê Thánh tông đặt ra lệ Gọi Loa xướng danh và lệ Vinh Quy cho các vị tân khoa vào năm Tân Sửu 1481 để khuyến khich việc học (Toan Ánh,Nếp Cũ, tr.95). Năm Giáp Thân 1484, theo gương đời Trần, nhà vua lại đổi Tam khôi làm Tiến sĩ cập đệ nhưng hơi khác ở chỗ chính bảng là Tiến Sĩ xuất thân, còn các tân khoa ở phụ bảng là Đồng Tiến Sĩ. 
Và để giữ cho khoa bảng có giá trị riêng, cũng trong năm đó, nhà vua ra lệnh bỏ những ưu quyền của những người làm quan không phải là khoa bảng xuất thân muốn ứng thí (Toan Ánh, Nếp Cũ,tr.96).
Trước đây các quan miễn thi Hương, nhưng kể từ năm  đó, các quan cũng phải chịu những lệ khảo hạch như một thường dân , và muốn thi Hội thì phải đậu thi Hương.
Năm 1486, nhà vua định Lệ Đãi Yến các ông Tân Khoa. Sau vua Lê Thánh Tông, vua Lê Hiển Tông cũng có sửa đổi về lệ thi.Các xã trưởng được đề cử sĩ nhân trong xã thi Hương. Xã lớn cử 20 người, xã trung bình 15 người, xã nhỏ 10 người. Xã nào không có tay văn học thì thôi. Vua Hiến tông lại ra lịnh kiểm soát các sĩ tử rất nghiêm nhặt, ai vào trường thi mang theo sách vở, hoặc thi hộ nhau bị nghiêm phạt và cấm thi trọn đời (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.96). Trong đời  nhà Mạc, việc thi cử vẫn giữ nguyên lề lối đời Lê. Đến khi nhà Lê trung hưng, việc giáo dục và thi cử được tổ chức lại. Vua Lê Hy tông, vào năm Chính Hòa XIV, Quý Dậu 1693 ra lệnh trở lại lệ thi đời Hồng Đức, tức là đời vua Lê Thánh tông. 
Năm Vĩnh Thịnh thứ VII, Tân Mão 1711, vua Lê Dụ Tông định lại thể lệ thi Hương để tránh việc bán bài làm sẵn. Nguyên về trước lúc ra thi, hội đồng khảo thí thường lấy  trong sử sách tứ lục chẳng qua vài chục đề, phú cũng chỉ có một số  đề. Các sĩ tử trước khi vào trường thi  thường soạn sẵn  bài theo những đề tài ấy, rồi bán cho nhau. Các thí sinh kém cứ mua sẵn bài mẫu, mang vào trường thi, hoặc học thuộc lòng, rồi đến lúc làm bài cứ chép lại (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.96). Khi chấm quyển các quan trường lại không để ý tới sự giống nhau (Toan Ánh, Nếp Cũ, 97). Bởi vậy, sự kiểm soát tuy kỹ lưỡng nhưng vẫn có sự gian dối, và kẻ đậu không phải là người giỏi.
Kể từ năm Tân Mão  vua Dụ Tông cho phép các quan trường tự lựa chọn đề  không theo lệ cũ để tránh những tệ hại trên.
Ngoài ra, tại tam trường và tứ trường, các đề thi do chính vua chọn gọi là Ngự Đề, tuy nhiên ở các trường Thanh Nghệ và xa xôi, các đề tài tại các trường này vẫn do quan trường chọn lựa lấy (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.97). Năm Ất Tị 1725 đặt ra lệ khảo viện cộng đồng kiểm duyệt các quyển  khoa thi Hội, nghĩa là quyển thí được đọc lên để cả hội đồng cùng nghe và đồng quyết định.
Việc thi cử triều Lê được nghiêm chỉnh cho đến đời Lê Hiến tông thì thể lệ mất hêt tính nghiêm minh, vì trong nước lọan lạc.
Khoa thi năm Cảnh Hưng thứ II, Canh Ngọ 1750, một vị đại thần là Ngô Thế Giai đề nghị cùng vua Lê Hiển Tông miễn cho sĩ tử kỳ khảo hạch, nhưng sĩ tử mỗi người phải nộp ba quan gọi là THÔNG KINH TIỀN để dự kỳ thi Hương. Lệ này khiến cho những kẻ học kém cũng nộp tiền đi thi, và các thí sinh nộp tiền này được gọi là Sinh Đồ ba quan
 (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.97).Từ trước, chỉ Sinh Đồ mới được miễn khảo hạch. Lệ thi cứ rối rắm như vậy cho đến hết triều Lê, tuy vua Chiêu Thống Lê Mẫn Đế cũng đã cho sửa đồi.
 
 VIỆC GIÁO DỤC
Việc giáo dục nước ta bị gián đoạn trong thời Minh thuộc nhưng sau khi giành được độc lập, vua Lê Thái Tổ đã mở mang các trường học (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.97). Vua mở Quốc Tử Giám ở kinh đô, và đặt các học hiệu tại các lộ và các phủ để dân chúng học hành. Chương trình học phải đủ Tứ Thư, Ngũ Kinh, Chiếu Chế Biểu, Thi, Phú và Văn Sách để có thể ứng thí được (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.98).
Đến đời vua Lê Thánh Tông, học chế được cải tiến. Nhà vua mở rộng nhà Thái học đàng sau Văn Miếu để lấy nơi cho sinh viên học tập lập kho Bí Thư để tàng trữ sách vở.
Chính vua Thái tông đã bắt các quan không phải là khoa bảng xuất thân phải học hành để ứng thí ,  ngõ hầu tăng thêm kiến thức, và có thêm tài năng để làm việc dân, việc nước (Toan Ánh, Nếp Cũ, tr.98). Việc học hành tiến triển ngắn ngủi cho đến khi  nhà Mạc thoán ngôi.
Thời Pháp thuộc, sinh viên, học sinh đều nói và viết tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ.
Năm 1945, Việt Minh lên , một số vùng bỏ dạy tiếng Pháp. Đó là vùng xôi đậu hay chiến khu Việt Manh.Cuối niên học 1944-1945, chương trình Hoàng Xuân Hãn ra đời (Phạm Cao Dương, Bảo Đại- Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam,2017, tr. 205) Các kỳ thi Sơ Học Yếu Lược, Sơ Học Bổ Túc đều là bắt buộc. Phải rất lâu mới bỏ được. Và lúc này, muốn có việc làm về trí óc, it nhất người dân phải có bằng Trung Học Đệ nhất cấp.Năm 1954, chính phủ Trần Trọng Kim đã lập trường Thanh Niên Tiền Tuyến Huế, nhằm đào tạo cấp chỉ huy cho quân đội Việt Nam ngoài việc  luyện tập thân thể, tập lái xe, học nghề, học binh pháp Tôn Tử... để góp phần xây dựng đất nước. Sau trường này làm tay sai cho Cộng sản. (Phạm Cao Dương, Bảo Đại- Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam,2017, tr.217- 219). Ngày 22-9-1945, Hồ Chí Minh với tư cách chủ Tịch chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký sắc lệnh bãi bỏ các nghiệp đoàn. (PCD, 253). Hồ Tá Khanh cũng như một số người đã hối hận vì tin theo HCM (PCD, 264-265). Sau 1954, đất nước ta chia hai, Miền Bắc theo Cộng sản, nội dung giáo khoa là chính trị tuyên truyền với học thuyết Mác-Lê. Sách giáo khoa của Việt Cộng là Thép Đã Tôi Thế Đấy, Ruồi Trâu. Giáo viên các cấp phải soạn theo chuương trình của Đảng và được Cộng đảng kiểm soát thường xuyên...Trong khi đó miền Nam theo thể chế tự do, giáo dục không mang tính  chính trị. Sau 1975, Cộng sản xâm chiếm miền Nam, các giáo viên Miền Nam tỏ ra bực bội vì từ đó dạy học là làm cái loa tuyên truyền cho Cộng sản. Sau 1945, Cộng sản mở chiến dịch bài trừ nạn mù chữ. Bình Dân Học Vụ mở khắp nơi. Việt Cộng lập các trạm kiểm tra BDHV, ai không đọc được i tờ là không được đi chợ! Cao hơn BDHV là các lớp Chuyên tu và đã có thành tích trong nhân dân:DỐT NHƯ CHUYÊN TU, NGU NHƯ TẠI CHỨC!
Các giáo viên có quyền chấm, và chấm xong thì ra về, công việc còn lại  do Ban Tổ Chức Đảng  quyết định kết quả cuộc thi, và lập trường giai cấp là chính. Học sinh thường 18/ 20 điểm thì là đậu nhưng con em vô sản 5 điểm là đậu.
Ban đầu, nội dung giáo khoa chỉ là văn thơ Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Họ sa thải văn học cổ điển nhưng sau một thởi gian họ cũng phải dạy vài tác phẩm cổ điển theo kiểu ngồi phản lực xem hoa cho có lệ.
Họ làm cách mạng nghĩa là chúi đầu xuống đất, chỗng mông lên trời.Nực cười là trong lớp học phổ thông hay khóa học chính trị, những bài phản tỉnh hay nhất lại là những bài của sinh viên vượt biên!
Cộng sản áp bực, lừa dối dân thì họ cũng bị phản tác dụng.
Nội dung giảng dạy là tuyên truyền dối trá cho nên Văn, Sử trở thành môn học chính trị, chứ không phải là một môn văn chưong nhằm đưa con người vào  nghệ thuật, hiểu được cái đẹp của văn chương. Từ đó sinh viên học sinh chán Văn Sử. Lớp học trở thành nhà tù, sinh viên, học sinh bị tra tấn thường xuyên.

SƠN TRUNG
Khảo luận
Ottawa 18-VI-2020

___
1.Đỗ Pháp Thuận (915- 990) là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Đinh - Tiền Lê và cũng là trường hợp độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam. Tên tuổi, hành trạng của ngài không những được các bộ lịch sử Phật giáo Việt Nam nhắc đến mà còn có vị trí quan trọng trong các bộ hợp tuyển Lịch sử văn học ở nước ta.


1. Hành trạng Thiền sư Đỗ Pháp Thuận 


Về hành trạng Thiền sư Đỗ Pháp Thuận, sách Thiền uyển tập anh (禅苑集英) chép như sau:


Phiên âm:

Ải quận, Thứ hương, Cổ Sơn tự, Pháp Thuận thiền sư bất tri hà hứa nhân, tính Đỗ thị, bác học công thi, phụ vương tá chi tài minh, đương

thế chi vụ.Thiếu xuất gia, sư Long thụ phù trì thiền sư, ký đắc pháp, xuất ngữ tất hợp phù sấm. Đương Lê triều sáng nghiệp chi thủy, vận

trù định sách, dự hữu công yên. Cập thiên hạ thái bình, bất thụ phong thưởng. Lê Đại Hành hoàng đế dụ trọng chi, thường bất danh hồ, vi

Đỗ Pháp sư, ký dĩ văn hàn chi nhậm. Thiên Phúc thất niên, Tống nhân Nguyễn Giác lai sính. Đế mệnh hướng biến phục vi tân lại, chiêm Giác cử động. Hội hữu lưỡng nga phù ư thủy trung, Giác hý ngâm vân:

Nga nga, lưỡng nga nga,

Ngưỡng diện hướng thiên gia.

Sư bả trạo ư túc chi vân:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba.

Giác ư thị thán phục. Đế thường vấn sư dĩ quốc tộ đoản trường. Sư vân:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh.

Hưng Thống nhị niên, cáo chung, thọ thất thập lục. Thường tác Bồ đề hiệu sám hối văn nhất quyển hành tại thế.



GS Lê Mạnh Thát dịch: “Chùa Cổ Sơn, làng Thừ, quận Ải. Không biết người đâu. Sư họ Đỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, hiểu rõ việc nước. Nhỏ đã xuất gia, thờ Thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Sau khi đắc pháp, sư nói ra lời nào cũng phù hợp với sấm ngữ.



Đang vào lúc nhà Lê mới dựng nghiệp, trù kế hoạch, định sách lược, sư tham dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành càng thêm kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ Pháp sư và đem việc soạn thảo văn thư giao phó cho sư.

Năm Thiên Phúc thứ 7 (987), người Tống là Nguyễn Giác sang sứ, vua sai sư cải trang làm kẻ lái đò để theo dõi hành động của y. Gặp khi có hai con ngỗng bơi trên sông, Giác ngâm chơi rằng:
“Song song ngỗng một đôi

Ngửa mặt ngó ven trời”.

Sư đang cầm chèo, ngâm tiếp:

“Lông trắng phô dòng biếc

Sóng xanh chân hồng bơi”.

Giác do đó thán phục.

Vua thường đem vận nước dài ngắn hỏi sư. Sư đáp:

“Vận nước như mây quấn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên địa các

Xứ xứ hết đao binh”.

Năm Hưng Thống thứ 2 (990), sư tịch, thọ 76 tuổi. Sư thường viết Bồ tát hiệu sám hối văn 1 quyển, lưu hành ở đời.
(Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về “Thiền uyển tập anh”, NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1999, tr. 261- 262).


Bản dịch của Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga trong Thiền uyển tập anh (NXB Văn học, H. 1990, tr.180 - 181), về cơ bản không khác với bản của Lê Mạnh Thát, chỉ có một số điểm khác, như: hương Thư, quận Ái; Lý Giác,... Đối chiếu với nguyên tác, chúng tôi thấy phiên là hương Thừ và quận Ải thì chính xác hơn. Còn nguyên tác viết là Nguyễn Giác chứ không phải Lý Giác. Một chi tiết tuy nhỏ nhưng ý nghĩa lại không nhỏ, đó là chi tiết “Tống nhân Nguyễn Giác lai sính” (宋人阮觉來聘). Cả hai bản dịch đều bỏ qua chữ “sính”(聘). Chữ “sính” ở đây có thể hiểu là thăm hỏi, thông hiếu, một nghi lễ ngoại giao giữa hai nước có mối quan hệ hữu nghị gần gũi,

chứ không phải là việc đi sứ thông thường.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư, tập I (NXB Khoa học xã hội, H.1972, tr.171) không ghi quê quán, năm sinh của Pháp Thuận. Sách Thiền uyển tập anh (bản dịch của nhóm Ngô Đức Thọ, NXB Văn học, H.1990, tr.181), chép: “Sư qua đời năm Hưng Thống thứ 2 (990), thọ 76 tuổi...”. Theo cách tính tuổi ngày xưa (tính theo tuổi mụ) thì Đỗ Pháp Thuận sinh năm 915.

Về quê quán, các sách trên và sách Thơ văn Lý Trần, Tập I (NXB Khoa học xã hội, H.1977) đều không cho chúng ta biết quê quán của Đỗ Pháp Thuận. Sách Nghiên cứu về “Thiền uyển tập anh” của Lê Mạnh Thát (NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1999), căn cứ vào chi tiết ở ngay câu đầu “Chùa Cổ sơn, làng Thừ, quận Ải” và dựa vào sách Đại Nam nhất thống chí (mục tỉnh Sơn Tây) và Hồng Đức bản đồ (trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư) đã chú thích như sau:



“Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Sơn xuyên có ghi một ngọn núi tên Cổ Sơn, và nói “nó nằm tại phía đông huyện Tam Dương, cách huyện lỵ 6 dặm”. Rồi sau đó lại ghi thêm một ngọn khác tên Lộng Sơn và chua “tục gọi là núi Trống”. Núi này cũng “ở phía đông của huyện tại xã Tam Lộng, trên có miếu Long Sơn thần”. Cổ Sơn với Lộng Sơn như vậy là một. Thế thì, phải chăng chùa Cổ Sơn của Pháp Thuận nằm tại núi này? Đó là một có thể.


“Nhưng Hồng Đức bản đồ tr.78-79 trong Thiên nam tứ chí lộ đồ thư có ghi tên một chợ gọi là chợ Ải, rồi chua thêm “có núi Tượng bốn
bên như rồng bao bọc không hở”. Khảo Đại nam nhất thống chí, tỉnh Thanh Hóa, mục Phố thị, không thấy nói chợ nào tên là Ải cả. Nhưng về núi Tượng, nó viết ở quyển 16, tờ 40a rằng “núi Tượng nằm ở xã Bất Quần, phía tây huyện Quảng Xương, giữa đồng ruộng bỗng nổi lên một ngọn núi đá. Núi nhỏ mà cao, sắc xanh mà lạ, dáng giống như voi phục. Trạng nguyên Trịnh Huệ đời Lê dựng am đọc sách dưới chân núi đó”. Cổ Sơn của Pháp Thuận chẳng qua là núi tượng này? Và Ải quận phải chăng là chợ Ải đây?” (sđd, tr.512- 513 ).


Ở đây, học giả Lê Mạnh Thát đưa ra hai phỏng đoán là quê quán Đỗ Pháp Thuận có thể ở Sơn Tây, có thể ở Thanh Hóa. Chúng tôi cũng chưa có tư liệu nói về quê quán vị thiền sư này. Nhưng căn cứ vào điều kiện giao thông, phương tiện đi lại thời đó (thế kỷ X), chúng tôi cho rằng có thể quê quán Đỗ Pháp Thuận ở xã Bất Quần huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa.



Về tình hình tu tập, các nguồn thư tịch cổ cũng không ghi chép rõ. Sách Thiền uyển tập anh chỉ cho chúng ta biết Đỗ Pháp Thuận thuộc thế hệ thứ 10 dòng Tỳ ni đa lưu chi.



2. Sự tin tưởng và trọng dụng của Hoàng đế Lê Đại Hành đối với Thiền sư Đỗ Pháp Thuận



Cũng như các vị Thiền sư Lã Định Không, La Quí An, Vạn Hạnh,...Đỗ Pháp Thuận sống và hành đạo trong xã hội có nhiều biến động dữ dội.



Năm 930, quân Nam Hán do Lương Khắc Trinh cầm đầu đem quân xâm lược nước ta, Khúc Thừa Mỹ (con trai Khúc Hạo, cháu Khúc Thừa Dụ) đem quân chống cự nhưng thất bại. Nước ta bị người phương Bắc cai trị. Tháng 2 năm 931, Dương Đình Nghệ - một vị Hào trưởng ở đất Thanh Hóa đánh chiếm thành Đại La, giết Lương Khắc Trinh, đuổi Thứ sử Lý Tiến, giết tướng Trình Bảo, phá tan quân Nam Hán và xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, Kiều Công Tiễn, một nha tướng của Dương Đình Nghệ, giết chủ, đoạt chức Tiết độ sứ. Năm 938, Ngô Quyền (con rể Dương Đình Nghệ) đánh tan quân Nam Hán, giết chết tướng giặc là Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ trên đất Đại Việt.


Năm 944, Ngô Quyền mất, truyền ngôi cho con trai là Ngô Xương Ngập. Em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, xưng là Bình vương. Năm 950, Ngô Xương Văn (con trai thứ hai của Ngô Quyền) truất ngôi của Dương Tam Kha, xưng là Nam Tấn vương và phong anh trai là Xương Ngập làm Thiên Sách vương. Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh nổi dậy chống lại Nam Tấn vương và Thiên Sách vương. Năm 966, thổ hào nhiều nơi nổi lên, mỗi người hùng cứ một vùng.  Sử cũ gọi là “Loại thập nhị sứ quân”. Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp được các sứ quân, xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 979, Đỗ Thích giết Đinh Tiên hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn. Vệ vương Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn xưng Phó vương. Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp nổi lên chống Lê Hoàn, nhưng thất bại, đều bị giết. Năm 980, vua Tống sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực chia hai đường thủy bộ sang xâm lược nước ta. Tháng 7 năm đó, Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi vua. Năm 981, cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất do Lê Đại Hành lãnh đạo giành được thắng lợi hoàn toàn. Lê Đại Hành ban hành các chính sách nhằm phát triển đất nước, củng cố quốc phòng, trọng dụng nhân tài, trong đó có các nhà sư.



Để tránh nạn can qua, Lê Đại Hành có chính sách đối ngoại rất mềm mỏng, khôn khéo nhưng kiên quyết đối với nhà Tống. Để giúp triều đình thực hiện công việc này một cách có hiệu quả, cần phải dùng những người có trình độ. Thời đó, những người có trình độ học vấn và am hiểu thời cuộc có lẽ chỉ có các nhà sư và đạo sĩ. Trong số các vị tăng sĩ đó, nhà vua đã nhận ra tài năng và phẩm chất của Đỗ Pháp Thuận.



Chúng ta biết rằng, thời kỳ Lê Đại hành trị vì, đất nước Đại Việt không ít cao tăng, nhưng chúng ta chỉ thấy Thiền uyển tập anh chép: khi

triều Lê mới sáng nghiệp, Đỗ Pháp Thuận là người có công định liệu sách lược, trù tính kế hoạch (nguyên văn 運籌定策預有力) mà không thấy chép tình tiết này đối với nhiều vị cao tăng cùng thời. Điều đó, chứng tỏ, Đỗ Pháp Thuận là một vị tăng sĩ có vị trí quan trọng đối với triều đình đương thời.



Hai chi tiết sau đây khiến chúng ta thấy, một mặt, nhà vua rất trọng vọng, tin tưởng ông, nhưng mặt khác, Đỗ Pháp Thuận là người có uy

tín lớn đối với triều đình và có tinh thần nhập thế triệt để. Đó là chi tiết: nhà vua thường ủy thác cho nhà sư các công việc văn hàn và năm 986, khi Nguyễn Giác được cử sang nước ta thông hiếu, Đỗ Pháp Thuận được nhà vua cử đóng giả làm tân lại để đón tiếp Lý Giác và xem xét cử động của y.



Một chi tiết nữa cũng rất quan trọng để thấy Hoàng đế Lê Đại Hành đã tin tưởng và trọng dụng Thiền sư Đỗ Pháp Thuận như thế nào khi

được hỏi về vận nước dài ngắn thế nào. Chúng ta biết rằng, trong cơ cấu tổ chức của một vương triều, dù có đơn giản, gọn nhẹ đến đâu cũng có những cơ quan chuyên môn giúp việc hoàng đế với quần thần rất đắc lực và tin cậy. Việc tìm hiểu ý kiến của các các cận thần dâng kế sách làm cho vận nước được dài lâu là việc thường làm của các vị minh quân. Vào thời Tiền Lê, chắc chắn Lê Đại hành đã hỏi ý kiến của các cận thần và trong số họ chắc chắn có người đã thể hiện quan điểm. Nhưng nhà vua vẫn không quên hỏi một vị cao tăng để biết quan điểm của tầng lớp đặc biệt này. Ngài không hỏi ai mà chỉ hỏi Đỗ Pháp Thuận, điều đó chứng tỏ, nhà vua rất tin tưởng, tôn trọng vị tăng sĩ này và vị tăng sĩ tài ba đó đã có vai trò rất quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước của Lê Đại Hành. Sở dĩ Đỗ

Pháp Thuận có được sự tin tưởng và tôn trọng đó là vì ông là một nhà tu hành không màng danh lợi, giúp dập nhà vua không phải vì vinh hoa phú quí. Sách “Thiền uyển tập anh” cho chúng ta biết: “Khi thiên hạ thái bình, sư không nhận chức tước của triều đình phong thưởng” (sđd, tr.180). Đây là cách hành xử của một vị chân quân tử theo quan điểm Nho gia, nhưng cũng là cách hành xử của các anh hùng dân tộc Việt Nam đã được dân gian hóa, tiêu biểu như Thánh Gióng, Thạch Sanh,...



3. Ý thức công dân trong con người Thiền sư Đỗ Pháp Thuận



Từ xa xưa, các Nho sĩ Việt Nam có phương châm xử thế “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Là một tăng sĩ có am hiểu Nho giáo,

Đỗ Pháp Thuận chắc chắn ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước dưới triều Lê Đại Hành. Chính vì vậy, ngài dốc sức cùng nhà vua trù liệu sách lược dựng nước và giữ nước cùng nhà vua. Đặc biệt, ngài đã thẳng thắn thể hiện quan điểm của mình khi được nhà vua hỏi về vận nước dài ngắn. Quan điểm ấy được thể hiện cô đọng trong 20 từ:



Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh


(Vận nước như mây quấn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên địa các

Xứ xứ hết đao binh).

Đằng (藤) là một loại thực vật, thân dây leo, lạc (络) là quấn quít vào nhau. Lê Mạnh Thát dịch là “mây quấn”. “Đăng lạc” ở đây cần được hiểu là sự đoàn kết, gắn bó với nhau. Ý của Đỗ Pháp Thuận là muốn vận nước được lâu dài thì phải biết đoàn kết toàn dân như loại dây leo yếu ớt, muốn sống được phải quấn quít với nhau. Nếu làm ngược lại thì vận nước sẽ ngắn. Như vậy, quan điểm thứ nhất của Đỗ Pháp thuận để giữ được vận nước được dài lâu là phải đoàn kết. Quan điểm thứ hai của thiền sư là khi đất nước đã thái bình rồi thì “Vô vi cư điện các”. Ở đây cần hiểu đúng nội hàm của khái niệm vô vi mà Đỗ Pháp Thuận dùng. Chúng ta biết rằng, khái niệm vô vi (無为) được các nhà kinh điển của cả hai tôn giáo dùng, đó là Lão Tử và đức Phật Thích Ca. (Còn Khổng Tử dùng khái niệm vô vi (無違) nghĩa là không làm gì trái với đạo lý, khi trả lời Mạnh Ý Tử trong thiên “Vi chính”, sách Luận ngữ). Lão Tử sử dụng khái niệm vô vi (無为) khi thể hiện tư tưởng triết học của mình trong tác phẩm “Đạo đức kinh”. Tại chương 8, Lão Tử nói: “Chỉ không tranh chấp mới không lo lắng”, chương 37, ngài lại nói: “Không tham dục, luôn tĩnh lặng, thiên hạ sẽ tự ngay thẳng”, tại chương 66, Lão Tử nói rõ thêm: “Vì không tranh với ai nên thiên hạ không có kẻ nào tranh với mình”,... Còn khái niệm vô vi ((無为) được Đỗ Pháp Thuận dùng trong câu “Vô vi cư điện các”, theo GS Lê Mạnh Thát là thuật ngữ của Phật giáo. Thuật ngữ “vô vi” này có nghĩa là: cẩn thận, không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lắm bụi bậm của lục tình, không để cái ái nhỏ như tóc tơ che dấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt.



Theo chúng tôi, để hiểu đúng khái niệm “vô vi” mà Đỗ Pháp Thuận dùng khi trả lời vua Lê Đại Hành, chúng ta cần hiểu, ngài đã dùng nội hàm của khái niệm này của Phật và của cả Lão Tử. Ý thức công dân của Đỗ Pháp Thuận còn được thể hiện ở việc: khi triều đình một người có tài đối đáp, Ngài đã sẵn sàng thay đổi quần áo, cải trang làm người phục vụ ở bến đò (tân lại) với nhiệm vụ xem xét hành động của Nguyễn Giác trong những ngày y hoạt động trên đất nước ta. Bằng tài năng đối đáp và trí tuệ siêu việt của mình, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận đã khiến sứ nhà Tống Nguyễn Giác phải phục nể và vị thế của vương triều Tiền Lê được tôn trọng.



Cho đến nay, nhiều bộ sách lịch sử Phật giáo và lịch sử văn học Việt Nam có dành cho Đỗ Pháp Thuận và bài “Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn” vị trí trang trọng: sách “Thiền uyển tập anh” (thời Trần), “Thiền uyển kế đăng lục” (Phúc Điền hòa thượng biên soạn thế kỷ XIX), “Hợp tuyển văn học Việt Nam” của nhóm Lê Quí Đôn (1960), “Thơ văn Lý Trần” (Viện Văn học, 1977),... GS Lê Mạnh Thát cho rằng, bài “Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn” của Đỗ Pháp Thuận và những bài kệ của Khuông Việt thiền sư, Vạn Hạnh thiền sư ra đời vào thế kỷ X thuộc vào dòng văn học thời sự và đó là chủ lưu của văn học Việt Nam thời kỳ đó. Tóm lại, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử Phật giáo và lịch sử văn học Việt Nam. Mặc dù, trong sự nghiệp truyền đăng, các sách truyền đăng lục không ghi rõ các thế hệ truyền thừa của ngài; trong sự nghiệp trước tác, ngoài hai câu thơ đọc khi chèo thuyền chở Nguyễn Giác trên sông và bài “Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn”, sách “Thiền uyển tập anh” chỉ ghi: “Sư từng soạn sách “Bồ tát hiệu sám hối văn” một quyển lưu truyền ở đời”, ngoài ra không có bài kệ, bài tán nào, nhưng ngài lại có vị trí đặt biệt trong lịch sử Phật giáo và lịch sử văn học Việt Nam mà không ai có thể thay thế được. Chúng tôi nghĩ rằng, tỉnh Thanh Hóa có thể xem xét lấy tên Đỗ Pháp Thuận đặt tên một đường phố ở thành phố hoặc một thị xã nào đó.


Nguyễn Quang Khải Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/2016
-
Chú thích:

Theo GS Lê Mạnh Thát, câu “Nga nga lưỡng nga nga,...” chỉ là nhuận sắc tinh tế bài thơ “Vịnh nga” mà Lạc Tân vương làm khi mới 10 tuổi và “Toàn Đường thi” tập 2 quyển 79, tờ 864 chép:

Nga nga lưỡng nga nga
Khúc hạng hướng thiên ca.
Bạch mao phù lục thủy
Hồng chưởng bát thanh ba.

Như vậy, cả Nguyễn Giác và Đỗ Pháp Thuận chỉ thay đổi vài ba từ trong bài thơ của Lạc Tân Vương đời Đường khi xướng lên thôi.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép là Lý Giác, có lẽ là theo cách chép của đời Trần.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB KHXH, H. 1972, tr.171- 172: “Giác càng lấy làm lạ. Khi về sứ quán gửi thơ cho Thuận rằng:

Hạnh ngộ minh thì tán thịnh du,
Nhất thân nhị độ sứ Giao Châu.
Đông đô lưỡng biệt tâm vưu luyến;
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu,
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch;
Xa trì thanh chướng phiếm trường lưu,
Thiên ngoại viễn thiên ưng viễn chiếu,
Khê đàm ba tĩnh kiến thiềm thu.

“Thuận đem thơ này dâng vua. Vua cho gọi nhà sư Ngô Khuông Việt cho xem. Khuông Việt nói: “ Thơ này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì vua Tống”.



No comments: