Nguyễn Quang Sáng kể chuyện về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Có lần ông Võ Văn Kiệt tới gặp anh em văn nghệ đang ghi chép ca dao hò vè, ông hoan nghênh lắm. Ông bảo: “Ở Bắc, con đi học nước ngoài, bố mẹ chuẩn bị hai thứ, một là truyện Kiều, hai là cuốn ca dao tục ngữ”. Anh em hỏi tại sao, ông bảo: “Đọc Kiều để yêu thêm tiếng Việt, còn ca dao tục ngữ, lúc khó khăn giở ra là có lời giải hết trơn à”.
Chiều qua, 13.2.2014, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã ra đi vì tuổi cao sức yếu khiến gia đình và người hâm mộ vô cùng thương tiếc. Trong cuộc đời và sự nghiệp của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Cách đây gần 2 năm, ông cũng đã hoàn thành kịch bản bộ phim Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt dài 30 tập. Nhà văn Lưu Trọng Văn đã có dịp trò chuyện với tác giả của Chiếc lược ngà về những câu chuyện xunh quanh vị lãnh đạo kiệt xuất này. Bài viết này đã đăng vào cuối năm 2012 trên Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam, Một Thế Giới xin được đăng tải lại:
Kịch bản mô tả khoảnh khắc cuộc đời Võ Văn Kiệt vào năm 1973 nhưng lại vẽ “ra” được toàn bộ tính cách con người Võ Văn Kiệt.
Nguyễn Quang Sáng qua đường như sên bò nhưng lại viết như ngựa phi. Ông bảo, chạy đua với thời gian thôi. Tôi hỏi, năng lượng của “cỗ máy” của ông là gì, ông khà khà cười không còn hào hùng như cách đây vài năm nữa: “Vẫn là rượu”. Đêm qua ông đi uống rượu với anh bạn người Đức Frank Greke, còn được gọi là “ca sĩ” Trịnh Công Long (vì mê hát nhạc Trịnh Công Sơn và mê uống rượu với Trịnh Công Sơn mà lấy tên này). Nhưng sớm nay ông tỉnh queo chuyện trò với tôi về Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt. Ông nhà văn nhấp ly cà phê đen, rít điếu thuốc rồi tái hiện lại một vài cảnh phim cho tôi “xem”.
Phải “chiến” cứu dân!
“Đầu năm 1973, ta và Mỹ ký hiệp định Paris đình chiến, quân của ai thì ở đó. Nhà thơ Tố Hữu đi từ Bắc vô Nam truyền lệnh của Trung ương: “Cấm đánh”. Ừ thì không đánh! Tôn trọng hiệp định mà. Nhưng khổ nỗi, phía bên kia lại cứ “chiến” trong khi chúng ta “đình”. Ở khu 9 do ông Võ Văn Kiệt phụ trách, mất rất nhiều đất và dân, vùng giải phóng teo tóp lại. Ông Kiệt tức lắm, không đánh lại thì mất hết vùng giải phóng thôi. Và, như mọi lần trong cuộc đời “chinh chiến” của ông, khi mà trong ông có gì đó xáo động, trăn trở, dày vò không yên, ông lại “vi hành”.
Ông đi chiếc xuồng tới một ngã ba, ông bảo cho ông lên bờ. Ông lang thang dọc dòng sông, thấy chiếc ghe của dân, ông vẫy lại xin quá giang. Đó là chiếc ghe của vợ chồng nông dân, trên ghe đủ các thứ nồi niêu, bàn ghế, hũ gạo. Ông hỏi: “Đi đâu?”. Ông nông dân đáp: “Tản cư”. Ông hỏi: “Sao tản cư?”. Ông nông dân đáp: “Tụi nó đánh thì phải chạy chứ”. Ông hỏi: “Tản cư đến đâu?”. Ông nông dân đáp: “Thì vô lại cứ, mình là dân cách mạng mà”. Sau khi quá giang một quãng đường, ông xin táp vô một làng.
Đang lội bộ ông gặp một anh bộ đội xỉn quắc cần câu đang lò dò qua cây cầu khỉ. Đột nhiên anh bộ đội trượt chân té cái “oàm”, nước kênh bắn lên tung tóe. Anh bộ đội chới với cánh tay, ông Kiệt liền “tùm” xuống kéo anh bộ đội lên. Ông hỏi: “Đi đâu về?”. Anh bộ đội đáp: “Nhậu!”. Ông Kiệt lại hỏi: “Mới sớm mai đã nhậu?”. Anh bộ đội rung mình cho nước tóe ra, ngoắc cái miệng đã tỉnh hơn vì nước sũng: “Tụi nó “chiến” còn mình “đình”, “đình” thì nhậu thôi chớ còn biết làm gì?”. Đi đâu ông Kiệt cũng nghe vậy, ông về khu ủy tập hợp toàn bộ lãnh đạo khu ủy lại, ông phân tích tình hình ta, địch, tình hình dân rồi ra quyết định: “Phải chiến cứu dân”.”.

Đi xiếc trên dây không bảo hiểm
Chuyện đang vào hồi gay cần thì nhà văn Nguyễn Quang Sáng im bặt, mắt ông dõi theo một người đàn bà với mớ tóc bạc phơ đang đi về phía mình. Khi người đàn bà nở nụ cười với ông, ông hỏi: “Bà kiếm ai vậy?”. Người đàn bà vẫn chỉ nở nụ cười rất hiền lành rồi đi về phía cây sa kê rợp bóng mát trong sân nhà ông.
Tôi đùa: “Chắc bà chị sợ ông anh ngồi uống cà phê với cô nào đó thôi”. Ông Sáng bỗng bừng đôi mắt lên làm cả thân hình của ông nhúc nhích: “Ê, cái khoản đó ông Võ Văn Kiệt “mạnh” lắm mày!”. Tôi giả ngây ngô hỏi: “Khoản đó” là “khoản nào”? Ông Sáng cười: “Thì… tùy mày hiểu! Chuyện đến đâu rồi? À, sai Nghị quyết Trung ương! Sai mệnh lệnh của Trung ương chớ còn gì nữa? Các cán bộ khu ủy nhao nhao phản ứng ông Kiệt cái chuyện ông ra lệnh “chiến” chớ không “đình” nữa”.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng lim dim đôi mắt còn ứa rượu đêm qua lại, ông biết đây là phút gay cấn nhất trong phim. Tôi hình dung ra ông Võ Văn Kiệt mặc bộ đồ xanh rêu quân giải phóng, đeo đôi kính mắt… vuông  rất hợp với khuôn mặt vuông của ông, chuẩn bị nói một câu rất hệ trọng đối với cuộc đời ông, đối với những gì là tinh hoa nhân văn nhất trong con người ông. Và lời nói ấy đã được nhà văn Nguyễn Quang Sáng rành rẽ lại: “Mệnh lệnh của Đất và của Dân, đó là mệnh lệnh thiêng liêng nhất”. Rồi ông Kiệt thả thêm một câu rắn đanh nữa: “Nếu kỷ luật, cá nhân tôi xin chịu trách nhiệm”. Ông Sáng không thể không rít thêm hơi thuốc. Lần này ông vừa rít xong đã vội nhè khói ra vì ông muốn nói ngay một câu nói mà ông rất “sướng”: “Người ta đi xiếc trên dây có bảo hiểm, còn ông Võ Văn Kiệt đi xiếc trên dây không có bảo hiểm”.
Vâng, lịch sử đã chứng minh quyết định của Võ Văn Kiệt là đúng, với tinh thần chủ động tiến công giành lại đất, lại dân ở khu 9, dẫn đến vùng giải phóng được bảo vệ. Các khu khác trong toàn miền Nam “hùa” theo ông Võ Văn Kiệt, tạo thế cho ta tiến tới thống nhất toàn vẹn non sông vào 30.4.1975.

Thèm chết người vẫn không uống…
Tôi hỏi ông Sáng: “Khi ra mệnh lệnh “chiến” ấy, ông Kiệt động viên gì với bộ đội?”.
Ông Sáng bảo: “Ông Kiệt xuống các đơn vị quân đội, ông hổng động viên gì hết trơn mà ra  ngay cái lệnh “cấm uống rượu!”.” Lính tráng ta phản ứng dữ lắm. Ông Kiệt quắc mắt: “Từ mai không uống nữa! Lệnh là lệnh”. Đám lính hỏi lại: “Thưa thủ trưởng: “Không uống rượu thì mần gì?”. Ông Kiệt gọn lỏn: “Đánh!” .Vậy là bộ đội vỗ tay rần rần: “Nếu “goánh” thì tụi em xin thề đứa nào uống một giọt rượu sẽ bị đòn tét mông”.
Tôi hỏi ông Sáng: “Ông Kiệt là người uống rượu cũng dữ lắm, liệu ông có làm gương?”. Ông Sáng đáp: “Làm gương chớ!”. Rồi ông Sáng kể: “Sau này khi về già, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương yêu cầu ông Kiệt không được uống rượu mạnh mà chỉ được uống rượu vang. Có lần tôi và Trịnh Công Sơn tới thăm ông, ông đem chai whisky ra rót cho tôi và Trịnh Công Sơn, còn ông rót rượu vang cho mình. Thấy có khách, bà Cầm vợ ông đi “kiểm tra” liền, liếc thấy ông Kiệt chỉ uống rượu vang, bà yên tâm đi về phòng của mình. Bà Cầm vừa đi khuất, ông Kiệt liền uống một ngậm whisky, ông cười: “Thèm quá!”. Tôi hỏi ông: “Thời chiến tranh ông ra lệnh cấm uống rượu thì…”. Ông Kiệt cười vẫn với nụ cười cởi mở thoải mái như thuở nào: “Thèm chết người vẫn quyết không uống”.
Bảo vệ văn công
Trở lại chuyện phim “Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt” ông Sáng rất tâm đắc một trường đoạn của kịch bản cũng là một chi tiết trong chính cuộc đời ông Võ Văn Kiệt. Ông Sáng kể: “Ông Kiệt rất khoái văn nghệ, một lần ông tới đoàn Văn công Giải phóng, thấy mặt anh chị em văn công rầu rầu, ông hỏi: “Chuyện gì? Cứ nói thật ra!”. Văn công mới bảo: “Lệnh trên bảo giải tán đoàn văn công vì hết tiền… nuôi”.
Ông Kiệt trợn mắt lên: “Giải tán là thế nào? Hừ! Mấy ngài chính trị lên thuyết giảng ai nghe, văn công diễn, dân đốt đuốc đi coi rần rần. Lệnh của tôi, không giải tán! Nuôi mấy sư đoàn còn được huống hồ nuôi một “gánh hát””. Có lần ông Võ Văn Kiệt tới gặp anh em văn nghệ đang ghi chép ca dao hò vè, ông hoan nghênh lắm. Ông bảo: “Ở Bắc, con đi học nước ngoài, bố mẹ chuẩn bị hai thứ, một là truyện Kiều, hai là cuốn ca dao tục ngữ”. Anh em hỏi tại sao, ông bảo: “Đọc Kiều để yêu thêm tiếng Việt, còn ca dao tục ngữ, lúc khó khăn giở ra là có lời giải hết trơn à”.
Tất cả những chi tiết trên đều được ông Sáng cho vào phim trước cái giờ phút mà ông Kiệt nói: “Mệnh lệnh của Đất của Dân là mệnh lệnh thiêng liêng nhất”. Tôi hỏi ông Sáng: Qua 30 tập phim, những phẩm chất gì của ông Võ Văn Kiệt được ông khắc họa rõ nhất?”. Ông Sáng đáp:
1.      Luôn đi với dân. Luôn nghe dân. Luôn vì dân.
2.      Sáng tạo, linh hoạt, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
3.      Chịu chơi.
Cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng và vợ
Lần đầu gặp Võ Văn Kiệt
Ông Võ Văn Kiệt có rất nhiều bạn, đặc biệt trong đó có nhiều văn nghệ sĩ trí thức như Trịnh Công Sơn, Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Sáng, Tương Lai, Lý Quý Chung… Trước khi ông mất, một lần cùng Đặng Lê Nguyên Vũ đến thăm ông, tôi gặp cả vợ chồng nhà toán học Nguyễn Ngọc Giao chủ biên tạp chí Diễn đàn có nhiều ý kiến độc lập về chính sự nước nhà, từ Paris về chuyện trò với ông. Đa số các trí thức, văn nghệ sĩ bạn bè với ông đều là người có cá tính mạnh mẽ và trung thực. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể: “Khi Trịnh Công Sơn khủng hoảng tinh thần, tôi đã đưa Sơn đến uống rượu với ông Kiệt. Chính tình cảm và nhân cách của ông Kiệt đã giúp Sơn lấy lại thăng bằng trong cuộc sống”.
Để kết thúc câu chuyện “cà phê vỉa hè” với tôi, ông Sáng kể lý do nào mà ông quen được với ông Kiệt:
“Đó là năm 1980, đâu đâu cũng thiếu lương thực, Nam bộ lúa bị sâu rầy dữ lắm, dân Nam bộ mà đói. Dở quá! Tôi đi Mỹ Tho gặp nông dân tên là Hai Trung, cánh đồng của ông Hai không “miếng” sâu rầy, ông được mùa, cung cấp giống lúa kháng rầy cho cả Tiền Giang. Tôi xin ông Hai một bọc lúa đem về Sài Gòn gửi cho ông Kiệt lúc đó là Bí thư thành ủy. Ông Kiệt lập tức đi kiếm ông Hai Trung, kiểm tra thấy điều tôi nói là đúng. Lần sau ông kiếm tôi, rủ tôi đi cùng. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông, tôi rủ cả Trịnh Công Sơn đi cùng. Và đó cũng là lần đầu tiên Trịnh Công Sơn gặp ông. Ông Hai Trung rất “độc đáo”, có hai bà vợ êm thấm ở chung nhà, chị chị em em ngọt xớt.
Thăm ông Hai Trung xong, ông Kiệt rủ tôi và Sơn gặp lãnh đạo tỉnh Tiền Giang, ông chất vấn: “Ông nông dân Hai Trung cấp giống lúa tốt cho cả tỉnh cứu dân đói, sao không được tỉnh khen?”. Ông lãnh đạo tỉnh nói: “Thưa anh Sáu, ổng cùng lúc có hai vợ lận”. Ông Kiệt bảo: “Nếu ông ấy cứ nhân giống lúa tốt kháng rầy cho nông dân, giúp dân cứu đói thì lấy vợ ba, tôi sẵn sang đứng ra làm chủ luôn”.
Tôi và Trịnh Công Sơn quý mến ông Kiệt rồi trở thành bạn thân thiết với ông bắt đầu từ câu chuyện như thế…”.
Bài: Lưu Trọng Văn – Ảnh: Nguyên Trương
Bài đăng trên tạp chí Duyên Dáng Việt Nam