Monday, February 26, 2018

NGUYỄN VĂN TUẤN * KÝ ƯC THUYỀN NHÂN

Ký ức: Thuyền nhân Việt Nam lênh đênh trong vịnh Thái Lan

Đây là một đoạn video quí hiếm về hình ảnh thuyền nhân Việt Nam trong những thập niên 80s-90s thế kỉ trước.
Họ là những người may mắn được cứu vớt và sống sót. Nhưng có hàng trăm ngàn người không may mắn đã không bao giờ đến bờ. Đoạn video này gợi nhớ lại hình ảnh của chính tôi 30 năm về trước.  NVT
Ngày 17 tháng năm 1990, chiến hạm USS-ROARK của Hoa kỳ, trên đừơng công tác sang Đông Nam Á, đã phát hiện một thuyền vượt biên từ Kiên Giang đang lênh đênh trong vịnh Thái Lan.
Trên chiến hạm, có ít nhất 3 sĩ quan và thủy thủ người Việt, trong đó có ông Đào Hữu Trí, sau này là hải quân trung tá, vốn cũng là một thuyền nhân 12 năm trước.
Chính nhờ sự can thiệp của ông, mà hạm trưởng chiến hạm USS-ROARK quyết định cứu chiếc thuyền vượt biên và đưa những ngừơi trên tàu đến Thái Lan.
Sau đây là một video clips ghi lại những hình ảnh đáng nhớ kể từ khi chiến hạm USS-ROARK phát hiện ra tàu vượt biên, quyết định cứu cho đến khi đưa được những người tỵ nạn đến đất Thái.
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/BoatPeople/video-vietnamese-boat-people-in-Gulf-of-Thailand-part1-05062009165315.html
Dưới đây là hình ảnh hoạt động cứu trợ của con tàu Pháp Jean Charcot, là kết quả của sự vận động của “Ủy ban báo nguy giúp người vượt biển” (Cộng đồng VN tại Mỹ) năm 1980 do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương chủ tọa để hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.


thuyền nhân VN


NHỮNG CHUYỆN HẢI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN

Khi quân đội Hoa Kỳ thất trận tháo lui, không còn ai muốn ỏ lại Việt Nam nữa. Những người thuộc giới cha chú đã được các bạn Mỹ chở đi trước, sót lại những kẽ bất hạnh thì chỉ còn bám víu vào những con thuyền mong manh hướng vịnh Thái Lan. Trên những chuyến vượt biên này họ đã xuất kỳ bất ý viết lại những mẩu chuyện có thật về hải tặc thuộc thế kỷ 20.


Hoàn cảnh vào thời đó rất thuận lợi cho bọn cướp của giết người trên biển cả, còn hơn những chuyện hải tặc trong lịch sử thế giới. Dân chài xứ Thái rất nghèo túng, luôn luôn tìm cơ may kiếm thêm chút tiền còm. Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam làm ngơ trước cơ sự, thì chính phủ Thái lại không muốn đón nhận những đợt tàu chở thuyền nhân ngày càng đông thêm. Không mấy ai quan tâm đến những lời tường thuật về vụ hải tặc. Chỉ đến khi những vụ cướp bóc giết người quá tàn nhẩn dã man xảy ra, và lại còn phải chịu áp lực quốc tế và Hải quân Hoa Kỳ thì chính phủ Thái mới cho mở vài vụ điều tra. Đến lúc đó thì hàng ngàn thuyền nhân đã bị cướp, hảm hiếp, giết chết trên biển cả. Sau đây là một vài vụ cướp bể đã được điều tra:

Vào đầu thập niên Tám mươi, ông Ted Schweitzer là người Mỹ đầu tiên đã cập bến vào một đảo sào huyệt hải tặc và mục kích chuyện 238 thuyền nhân Việt Nam bị đắm ghe, dạt vào đấy. Có 80 người bị giết, tất cả các phụ nữ đều bị hảm hiếp và buộc khiêu vũ khỏa thân cho chúng xem. Ông Schweitzer can thiệp yêu cầu họ chấm dứt tấn tuồng vô nhân đạo này thì bị bọn cướp  xúm lại đánh đập đến như gần chết. Thật may mắn mà ông còn sống sót để thuật lại. Khi lai tỉnh, ông thấy trước mắt những cánh tay, đùi chân còn rải rác đây đó. Đấy, bằng chứng có vụ ăn thịt người.

Cô Nguyễn Phan Thúy cùng với mẹ, dì và người em gái đã bỏ tiền ra mua chổ trên tàu để vượt trốn. Sau mười ngày lênh đênh trên biển cả, tàu bị mắt cạn, hết nước, hết cái ăn. Hải tặc đến bắn chết người dì. Một ông già có răng vàng bị chúng lấy kìm vặn khỏi miệng. Một người đàn bà đang có bầu bị chúng ném xuống biển. Các người sống sót bị chúng lột hết quần áo, xua cả lên bờ, và tầu bị nhận chìm. Chúng bắt các phụ nữ xếp hàng. Cô Thúy cùng một cô gái khác tên Liên bị chúng lựa ra rồi đưa sang chiếc thuyền đánh cá của chúng. Suốt ba tuần lễ sau đó, hai cô liên tiếp bị hảm hiếp. Cô Liên chịu không nổi, bị chúng chán rồi vứt cô xuống biển; còn cô Thúy thì chúng đem bán cho một động mải dâm trong làng mang tên là “Phòng đấm bóp nơi thiên đường”. Ở đây cô mang thai và vị người ta lấy một que tre trục bào thai ra. Cuối cùng cô thoát được và được cơ quan Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc tiếp nhận.

Năm 1989, một chiếc ghe chở 84 thuyền nhân bị hải tặc đến cướp. Tất cả đàn bà và trẻ con bị chuyển qua thuyền hải tặc và từ đó không còn nghe một tin gì về số phận họ nữa. Những người đàn ông thì bị nhốt dưới khoang tầu rồi, từng người một, chúng lôi lên đập cho đến chết. Sau cùng, những người còn lại liều mình sấn vào bọn cướp thì tầu hải tặc nhào đến đâm vào tầu thuyền nhân cho chìm đi. Một số người cố thoát liền bị chúng dùng cây sào nhận chìm xuống nước. Còn lại 13 người thoát chết nhờ bơi ra xa và được bóng đêm che phủ.
Vào tháng 4 năm 1989, có bảy tên hải tặc trang bị súng ống, đao búa đến tấn công một chiếc tầu nhỏ chở 129 thuyền nhân. Tất cả đàn bà đều bị hảm hiếp, đàn ông bị sát hại, trừ một thiếu niên tên là Phạm ngọc Nam Hung (hình chụp ảnh đang nhận diện các tên hải tặc). Anh này sống sót nhờ bám được vào một chiếc bè kết thành bởi ba xác chết.
Cuối cùng chính phủ Thái bị Cơ quan Cứu Trợ Quốc Tế cưởng bách tìm biện pháp đối phó. Các tầu đánh cá phải đăng ký và số đăng ký phải ghi rõ bằng chữ lớn ngay mủi tầu. Các tầu đều phải được chụp hình lúc ra khơi và lúc về cảng. Biện pháp này đã khiến nhiều hải tặc ngã lòng, lo sợ, nhưng những bọn còn lại bèn trở nên tàn nhẫn, hung dữ hơn trước! Chúng thủ tiêu hết  mọi nhân chứng để không còn một ai nhận diện được chúng nữa.
Vào cuối thập niên tám mươi thì các vụ hải tặc dần dần chấm dứt do con số người tỵ nạn giảm đi. Ngày nay, nhiều sử gia cho rằng sự tàn bạo của những vụ hải tặc đã được thổi phồng lên và các hải tặc vốn đã là phạm nhân chuyên nghiệp. Những câu chuyện được kể lại gần đây chắc chắn không phải chuyện được thêu dệt quá đáng, và như thế các vụ hải tặc trước kia chắc phải đúng như vậy.
Biệt Hải chuyển ngữ từ bài:
The suffering of the Vietnamese Boat people
http://www.fortunecity.co.uk/amusement/golf/200/viet.html




Cái giá của Tự Do

Thanh Quang, phóng viên RFA
2009-04-29
Thảm cảnh trên Biển Đông có lẽ sẽ không bao giờ nhạt nhoà trong ký ức của thuyền nhân Việt Nam, khi những chiếc thuyền mong manh đưa họ vượt trùng dương tìm đến bến bờ tự do sau biến cố 30/4/1975, hầu như thường xuyên gặp nạn.

ThuyenNhan06

Khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Mỗi năm cứ mỗi lần đến thời điểm 30 Tháng Tư là người Việt tị nạn tại hải ngọai không khỏi bùi ngùi nhớ lại thân nhân, bạn bè hay chính mình đã trải qua những chuyến vượt biển thập tử nhất sinh.

Thảm cảnh trên Biển Đông

Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.
Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Chẳng hạn như, chị Nguyễn Thị Hoa Hương, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, đã ra sức tìm đến bến bờ tự do hồi năm 1989 và gặp nạn, như chị mô tả:
“Mình không có ch nm, mình ch ngi mà co hai chân li, ngi đ ch thôi. Lâu lâu mình dui được cái chân thôi ch không có được nm. Đó là mt k nim mà em không bao gi quên khi mà tàu đi 7 ngày trên Thái Bình Dương thì đã b bão bin rt là ln và đã đánh tan chiếc tàu ra, ch còn li thân chiếc tàu, còn đu tàu và đuôi tàu thì b đt ra.
Trong cơn nguy cp đó thì người ta đã chuyn tt c mi người vô gia thân ca con tàu. Lúc by gi s chết knhư 90% ri, ti vì bão kéo dài my ngày tri liên tc. Con tàu không còn b phn lái gì hết, t con tàu trôi đi thôi. Trong my ngày như vy thì lương thc hết ri, mi người bt đu nhn đói, ch có nhng git nước đ dành li và mi người chia nhau ra đ mà ung.
Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.
Chị Nguyễn Thị Hoa Hương, Hoa Kỳ
Có nhng tiếng la khóc bi vì s chết đã đt ti (khóc). Bt đu có nhng người b kit sc quá mà bt đu xu, trong đó cũng có em mê man không biết gì hết, ch nh là nhng người xung quanh đc kinh cu xin nhn cho nếu mà có b chết thì xin cho linh hn được siêu thoát mt cách nh nhàng.
Trong lúc trôi như vy thì mt s may mn đến vi tt c nhng con người trên tàu đó là được tàu ca Hm Đi 7 M đang tp trn Thái Bình Dương cu vt. Khi cu lên sàn tàu thì các ph n và tr em đu vô phòng cp cu bi vì đã b kit sc quá ri, không còn s sng.
Mt k nim mà nếu nhng ai đi con tàu đó thì chc không bao gi quên là các người M h đã săn sóc, h điu tr nhng người chết đi sng li, cho phc hi sc kho ri mi bt đu đưa vô Thái Lan. Tri đó là tri Banatnikhon. Em đó là gn 9 năm.”
Một thảm cảnh khác trên Biển Đông có liên quan đến chị Lê Thị Sen, hiện cũng đang ở Mỹ. Tàu chị Sen gặp cướp biển như chị cho biết :
“Trên đường vượt bin thì gp cướp bin. trên tàu nó th canô xung qua tàu mình. My người đàn bà con gái b h hãm hiếp và h đnh đp cho tàu mình chìm na. Tin bc vòng vàng ai mà có đu np cho h hết. Khi bcướp xong chy được mt hi thì ti dàn khoan ca Mã Lai. Dàn khoan nó mi kéo tàu vô.
Nếu mà không gp dàn khoan đó thì chc chìm chết ri vì ti hôm đó sóng gió quá chng, mà tàu thì cũng nhna, ging như my chiếc thuyn đánh cá, mà dưới tàu là 126 người nm sát nhau. Có nhiu đa bé nó ói quá con mt trng d tưởng như nó chết ri.”
Ngược dòng thời gian hơn nữa, hồi năm 1979, bà Kim Liên, hiện định cư tại Bỉ, đã từ Vũng Tàu vượt trùng dương đến Indonesia. Nhưng thảm cảnh Biển Đông cũng không dung tha gia đình nữ thuyền nhân ấy :
“Trên đường bin c tri mưa dông gió, đã vào nhiu đo nhưng h không nhn, gp nhiu tàu cu cu không vt. Cuc hành trình lênh đênh trên bin c đã 13 ngày, chúng tôi gp mt chiếc tàu đu bin khơi  mà chúng tôi cnghĩ đy là mt hòn đo.
Lúc đêm thì mình thy như vy, đến 8 gi sáng thì trông nó lù lù ra là mt cái tàu, thì ra cái tàu du nó đu đó, bin khơi đó. Chúng tôi c chy vào cu cu, h chng vt, và thuyn trưởng ra lnh cho th máy nh neo chy.
Vì chiếc tàu nó ln, chân vt nó quay, nước xoáy quá mnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vt. Cánh qut chém tàu tôi hai phát, úp lt con tàu. Mi người tung xung bin vì tàu b b ra ri.
Lúc đó nó chng lên, mi chìm phân na, còn ni phân na. Người nào biết bơi thì bơi vào trong chiếc tàu vì nó chưa chìm hết thì h cũng bám vào đy. Người nào kho thì đi cu nhng người không biết bơi, lôi kéo nhau vào đó, bám chung quanh.
Tàu làm cho chúng tôi b chìm nó b đi na tiếng gì đó. Tàu này ca nước Libya. Tôi thy nó th 2 cái bo-bo xung, nó đi vt chúng tôi. Khi nó vt thì cũng đã chết hết 11 người ri. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vt được 3 người, nước cun đi 8 người trôi đâu mt ri, trong đó có con gái tôi.”
Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy. Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.
Bà Kim Liên, ở Bỉ
thuyền nhân

Khi người phải ăn thịt… người

Và một cảnh vô cùng đau xót và kinh hoàng đã xảy đến cho một chiếc tàu phát xuất từ Saigòn hồi năm 1978 chở theo hơn 100 người, khi chỉ có 43 người đến được bến bờ. Chị Kim Chi kể lại câu chuyện thương tâm này :
Ch Kim Chi : Ti lúc đó đói quá thì có người trước chết h mi nói là ti sao không ăn tht người đ sng. Thì người đó chết và người đó là người b ăn đu tiên đ nuôi v và con h được sng sót. Thì ý tưởng đó bt đu tlúc đó, sau đó thì nhng người khác h thy như vy h mi bt đu thôi.
Thanh Quang :  Thưa chị, xin lỗi chị. Chị ở trong chuyến tàu đó, phải không?
Ch Kim Chi : D.
Thanh Quang :  Thưa, như vậy chị có ăn thịt người không, do hoàn cảnh bắt buộc ?
Ch Kim Chi :  Có ch.
Thanh Quang : Cái cảm giác của chị lúc đó như thế nào ?
Ch Kim Chi :  Nói đúng ra thì cũng ghê ch. Ti vì nói chung là trong lúc người ta đói quá thì hình như là người ta không còn lý trí na nhiu đ mà suy xét na.
Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu ăn thôi
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ
Thanh Quang :  Dạ. Như vậy là đi bao lâu ngày mà rồi gặp nạn như vậy, thưa chị? Tàu đó có mấy người?
Ch Kim Chi : Tàu đi cũng đông lm, anh. 143 người tt c nhưng mà ch còn sng sót 34 người.
Thanh Quang : Tàu phát xuất từ đâu, thưa chị?
Ch Kim Chi : D, t Sài Gòn.
Thanh Quang : Đi bao lâu?
Ch Kim Chi : Đi khong 65 ngày.
Thanh Quang : Lâu như vậy bởi lý do ra sao, thưa chị?
Ch Kim Chi : Lúc đó còn bé thì cũng không nh rõ na, nhưng nếu không lm thì chân vt tàu b qun lưới, bgãy, không nhúc nhích được na nên tàu c lênh đênh thôi, thì nó c lênh đênh trên bin vy đó.
Thanh Quang : Dạ.
Ch Kim Chi : Ri cho ti ngày nó mc cn tp vô đo. Không phi là cái đo, nó thuc dng đo ngm ca Đài Loan. Cái đo đó nm gia bin, khi nước bin dâng lên thì như là cái bin vy thôi tc cái niveau ca nó bng mt nước bin, nhưng khi nó tt xung thì xung quanh mình là bin thì tàu mình b tt xung nhưng mà nước vn còn khong ti đu gi, tc là cn nht vn ti đu gi. Nói là cái đo thì cũng không hn nhưng mà nó là cái đo, đo gia lòng bin.
Thanh Quang : Dạ rồi tất cả thuyền nhân một trăm mấy chục người ở trên tàu đó rồi dần dà cạn lương thực, cạn thức ăn và thức uống, có phải không ạ?
Ch Kim Chi : Thì nói chung là vy. Ti vì tàu đi đâu có d đnh đi ti my chc ngày như vy, thì h mi không đ thc ăn ri mi  bt đu đói khát này kia ri mi sanh ra cái đó. Nói chung, người đu tiên là ông cu ca mình.
Người đầu tiên là ông cậu của mình. Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng.
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ
Ngày xưa ng là mt nhà giáo nhưng khi ng nhìn thy con ng đói ri v ng đói như vy đó, lúc đó ng cũng yếu sc lm, ng đói lã ri, tc là ng gn chết ri, ng mi nói là sau khi ng chết thì hãy dùng tht ca ng mà cho con ng ăn vi v ng ăn đi đ mà nuôi sng được v con ng.
Chính vì như vy cho nên khi ng chết ri thì mi ly ý tưởng ca ng đ mà bt đu ăn đ nuôi sng mình ri nuôi sng v con ng luôn ch không phi mt mình v con ng không đâu.
Ri nhng người trong tàu, nhng gia đình khác h thy như vy, lúc đu thì h cũng chi ra, phn đi d lm, ti vì h nói tàn nhn, vô nhân đo, thế này thế n tùm lum hết.
Nhưng mà qua mt đêm như vy, sáng ra thì h ăn căp hết trơn, tc là người ca ng ch còn là b xương thôi. Người ta chi thì vn chi nhưng người ta ăn cp thì người ta vn ăn cp tht ca ng đ người ta ăn.
Thanh Quang : Ăn sống như vậy?
Ch Kim Chi :  Thì đó là cái ý tưởng đu tiên ca ng đó.
Thanh Quang : Rồi sau đó những người khác tiếp tục, sắp hấp hối rồi chết đi thì những người sống còn lại cũng lóc thịt họ ăn?
Ch Kim Chi :  Thì nhng người đó, nói chung là gia đình nào thì ăn thân nhân gia đình đó. Không phi là mình được ăn tùm lum đâu, ti vì không phi là ai cũng ăn được đâu. Đa s nhng người mà h chết trong gia đình thì h mi được quyn dành xác đó mà ăn thôi ch không phi mnh ai mà ny ăn đâu. Hng phi người ta chết mà mình đè ra mà ăn đâu.
Thanh Quang : Thế thì những người trong gia đình không có người chết đói thì làm sao họ sống ?
Ch Kim Chi :  Thì h xin. Có nhiu phương pháp lm: xin, ăn cp. Ti vì xác chết đâu phi như miếng đ ăn mà ct vô t mà xác chết ch nm đó, sau mt đêm nhiu khi mình ng dy thì h ăn cp hết ri.
Thanh Quang : Thưa chị, lúc lóc thịt đó như vậy thì họ có nấu nướng gì không?
Ch Kim Chi : Lúc đó h bt du ny g tàu lên làm ci nu ch.
Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.
Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ
Thanh Quang : Dạ.
Ch Kim Chi : Nhng sàn g ca thân tàu thì h bt đu dùng cái đó đ nu nướng, nhưng mà riết ri cũng không còn na, ti vì nếu mà h c nu thì không còn ch nm, vi li mt phn na là thi gian hình như cui cùng nếu không lm thì ging như sng đánh cũng nhiu thành ra mt la. Không có la nên trong mt khong thi gian có người h ăn sng.
Thanh Quang : Dạ.
Ch Kim Chi : Ri sau đó có tàu đến cu kp. Nói chung tình trng đó kéo dài khong mười my ngày như vy thì v sau có tàu đến rước mi thôi.
Thanh Quang : Khi có tàu đến rước thì số người trên tàu còn 34 người như chị nói hồi nãy, phải không?
Ch Kim Chi : Không. Không. Lúc đó còn 64 người, nhưng mà ti vì xui là gp tàu đánh cá Đài Loan nó thuc dân tham lam, tc là khi nó gp người còn sng thì nó rước nhưng vi điu kin là nó bt phi np tin cho nó. Mt đu người là 7 ch vàng thì nó mi rước.
Mi người đng ý đóng tin cho nó. Đến lúc đóng xong thì nó mi ny ra lòng tham. Hu như nó cm thy người Vit mình giàu, có tin, nên nó mi ny ra ý đnh thay vì trên con đường v t cái đo chìm này cho ti đt lin là khong 3 ngày thôi nhưng nó kéo dài ra ti 17 ngày bng cách là nó cho tiếng máy tàu chy ging như mình tưởng là tàu đang chy mà thc s tàu đng ti ch.
Trong vòng 17 ngày như vy người ta bt đu đói ri người ta chết t t. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhn lm ti vì nó nghĩ là mình có tin, thành ra nhng ai mun ăn thì phi tr tin cho nó. Nó cũng có mt ba cơm chính thc, tc là ba đó nó cho ăn cháo. Ăn cháo nhưng mà cháo trng thôi, không có mui, không có tht, không có nước mm, không có gì hết.
Nhưng mà nếu ai mun thêm mt cái gì thì phi b tin ra, thành ra nó kiếm tin qua cái li nhun đó. Ri đến lúc nó cm thy người ta kit qu không còn tin và cũng không còn sc na, hu như nó cũng không quết đnh cho mình v đt lin, ti vì lúc đó có th nó tính ém luôn chuyn đó, nó cho người ta chết t t đ nó khi đưa v.
Nhưng mà xui hôm đó tàu b n ti vì gas b xì làm n c tàu và tàu bc cháy thì cũng làm cháy  nhiu người lm. H b phng nng và lúc đó tàu b chìm xung, nước vô.
Tt c tai nn đó xy ra cũng mt lúc trong vòng tích tc, tc là va b cháy va b chìm, thế là ông thuyn trưởng s quá nên lúc đó ng mi đánh đin v trong đt lin đ xin vin tr hay là xin đưa người vô mà mình không hiu na. Thì lúc đó Đài Loan mi chp nhn cho vô đt lin.
V ti Đài Trung thì cnh sát ra, ri xe cu ho, xe cu thương ra tùm lum hết. Ti vì lúc đó my người chết vì bphng nng quá thì nó mi đêm vô bnh vin.
Lúc đó cnh sát mi bt đu điu tra và h nói là khi ch tàu đánh đin tín gì đó kêu là 64 người mà ti sao bây gi còn 34 người, thì lúc đó h mi bt đu điu tra ng, bt ng tù, ti vì lúc đó h nghi ng.
Trong tình trng na sng na chết nên không có ai t cáo cũng chng có ai thưa kin, tt c nm trong bnh vin hết. Được vô nm trong bnh vin trong gn 2 tháng tri, lúc ra vin thì mi v tri t nn, lúc đó thì phái đoàn Mmi xung đ điu tra.
Vì có tuyên th đ đi M nên h mi bt đu điu tra thì h mi bt đu biết, t cái chi tiết lúc đó mi lòi ra chuyn ăn tht người.
Thanh Quang : Vừa rồi là chị Kim Chi, hiện định cư tại Vương Quốc Bỉ.
thuyền nhân10

Thuyền nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thuyền nhân, dịch từ chữ boat people trong tiếng Anh, là thuật ngữ thường chỉ những người nhập cư bất hợp pháp hoặc người tị nạn xuất cư bằng thuyền trong nhóm nhiều người. Thuyền thường cũ và được đóng sơ sài, không dùng thích hợp để đi biển và không an toàn. Thuật ngữ này được sử dụng từ cuối thập niên 1970 khi một số lượng lớn người tị nạn rời khỏi đất nước sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổCộng Sản.[1] vào cuối tháng 4 năm 1975 và Việt Nam trở thành một quốc gia theo chế độ
  Thuyền nhân từ Đông Dương
 Sau 30 tháng 4 năm 1975
100_0332
POULO BIDONG 1979(vợ con Tư Chơi khi Tư Chơi còn “học làm người xhcn trong trại tù cải tạo VN)
Di tản tháng 4 năm 1975 được hiểu là hành động rời khỏi Việt Nam theo cách chính thống và có tổ chức. Khi ấy, nhiều đợt rời khỏi Việt Nam của các nhân viên, gia đình các đại sứ quán và công ty nước ngoài được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh tổ chức. Bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford đã chính thức ra lệnh khởi động chương trình “Frequent Wind” để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Hoa Kỳ và một số người Việt đã từng cộng tác hay có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòađể rời khỏi Việt Nam. Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt ở miền Nam cũng đã quyết định di tản theo chương trình trên nhưng có thể bằng phương tiện riêng. Chương trình di tản “Frequent Wind” trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 đến đúng 21 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 – khi người lính Mỹ cuối cùng được trực thăng bốc khỏi Sài Gòn và trụ sở của Sở Tùy viên Quốc phòng (Defence Attachés Offfice, DAO) của Hoa Kỳ bị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cho phá nổ.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có rất nhiều người từ Campuchia, Lào nhưng đông nhất là từ Việt Namdiệt chủngKhmer Đỏ đã giết hàng triệu người khiến nhiều người tìm cách chạy khỏi đất nước. Tại Việt Nam, cuộc cải tạo công thương nghiệp, sự phân biệt đối xử đối với những người cộng tác với chính quyền cũ cùng thân nhân họ, cùng những khó khăn về kinh tế của xã hội đã làm cho rất nhiều người vượt biên bằng thuyền. cũng đã tìm cách vượt biên bằng thuyền sang các nước khác. Tại Campuchia, chế độ
Một số nguyên nhân được nêu ra là động lực khiến chính quyền Việt Nam chấp nhận tình trạng vượt biên ồ ạt, trong đó có:[2]
  1. Khó khăn kinh tế trong khi nhà nước cần ngoại tệ; người ra đi chính thức và bán chính thức phải bỏ tiền và vàng ra để mua chỗ
  2. Chiếm đoạt tài sản hầu triệt hạ tầng lớp tư sản và tiểu tư sản.
  3. Loại bỏ thành phần xã hội chống đối hoặc không tin cậy được như trường hợp Hoa kiều chiếm gần 10%[cần dẫn nguồn] thành phần vượt biên.
  4. Gây áp lực chính trị với khối ASEAN.
  5. Trục lợi trước một việc đã rồi vì không thể kiểm soát được hết 1.200 km duyên hải
  6. Gây áp lực với Hoa Kỳ để buộc Hoa Kỳ thực thi viện trợ tái thiết thời hậu chiến như ghi trong Điều 21 củaHiệp định Paris 1973.
  7. Gia tăng lượng hàng hóa và hiện kim số người Việt ở hải ngoại gửi về cho thân nhân trong nước.
Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ.[3] Theo số liệu của Indonesia, trong khoảng thời gian 1975-1996 đã có 250.000 người Việt Nam và Campuchia tá túc trên đảo Galang.
Một số thuyền nhân được các tàu khác (trong số đó có Hải quân Mỹ) cứu vớt; một số khác đến được các đảo trong biển Đông xung quanh Việt Nam; một số bị thiệt mạng trên biển. Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc đã thiết lập một số trại tị nạn ở những nước lân cận và đã nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1981, một phần là vì những hoạt động này. Hiện nay chưa có một con số thống kê chính thức về số thuyền nhân bị chết trên biển. Đã có những tượng đài được dựng lên để tưởng nhớ đến những thuyền nhân bị thiệt mạng trong các cuộc vượt biên, như ở Pulau Bidong (Malaysia), Pulau GalangIndonesia).[4]
Hiện tượng thuyền nhân được nhiều người xem là một trong những giai đoạn đau buồn của lịch sử Việt Nam.
traiGalang1

Trại Tỵ Nan thuyền nhân Galang Nam Dương



No comments: