Sunday, January 21, 2018

NGUYỄN THIÊN THỤ * HỒ HỮU TƯỜNG

 HỒ HỮU  TƯỜNG

NGUYỄN THIÊN THỤ


 
HỒ HỮU TƯỜNG VÀ TRẦM TƯ CỦA MỘT TÊN TỘI TỬ HÌNH
NGUYỄN  THIÊN THỤ

Trầm tư của một tên tội tử hình (Lá Bối, 1965), Luận lâm I (Huệ Minh, 1965). Thông thường, hồi ký của tù nhân là nói về nhà tù, sư độc ác của cai tù và sự khổ sở của tù nhân, nhưng ở đây, tác giả lại viết về những suy nghĩ của tác giả về các vấn đề tôn giáo, triết học và nhân sinh. Sách có năm phần:
* Trầm tư thứ nhất – Cái nghiệp tiên thiên
* Trầm tư thứ hai - Về võ trụ
* Trầm tư thứ ba - Về hoà bình
* Trầm tư thứ tư - Về nạn đói kém
* Trầm tư thứ năm - Về nạn nhân mãn


Trầm tư thứ nhất là suy nghĩ về đạo Phật. Ông cho rằng đạo Phật cũng như các tôn giáo khác cần phải hiện đại hóa nếu không sẽ bị đào thải.


Đối với Phật pháp, sự sửa lại này gọi là chỉnh lại cái pháp. Và đạo Phật rất khoan dung đối với những sự chỉnh pháp như vậy. Năm trăm năm sau khi phát sanh, đạo Phật đã thay lốt một lần, do sự đụng chạm với các học phái Bà La Môn, mà phát xiển phần hình nhi thượng, mà sáng tạo lắm tượng trưng, đến đổi hoá ra hữu thần: ấy là buổi đầu của Phật giáo đại thặng. Cuối thế kỷ mười ba, dưới sự đô hộ của dân Mông Cổ, khắp nước Tàu tràn lan một chi phái mới, dưới tên là Bạch Liên giáo, truyền rằng Di Lặc giáng trần, để tổ chức tín đồ vào một giáo phái, nửa tôn giáo, nửa chánh trị Bạch Liên giáo này đã chủ động bao nhiêu cuộc khởi nghĩa làm rúng động cả nước Tàu, suốt mấy trăm năm, đến cuối thể kỷ mười tám mới dứt, mà dư ba hãy còn kéo dài đến cuối chiến tranh Quyền phỉ. Nay, trăm năm triệu tín đồ của Phật ở Trung Hoa lại lọt dưới sự chi phối của chủ nghĩa cộng sản, nếu không có một sự vươn mình thay lốt nào cả để tồn tại, thì chỉ còn một vài thế hệ thôi, đạo Phật sẽ rời bỏ xứ này... [..]. Trong viễn đồ này, mấy năm chót của thế kỷ hai mươi hình như là những năm chót của đạo Phật trong thế giới. Muốn tồn tại, ở Tàu cũng như ở ngoài nước Tàu, đạo Phật cần phải chỉnh lại pháp mình.

Tại sao phải sửa đổi? Ông nêu lên hai lý do là sự tấn triển của khoa học và nhất là của chủ nghĩa Marx,


Sửa đổi như thế nào? Ông cho rằng điều quan trọng hơn hết trong đại Phật, là xu hướng xuất thế. Ông cho rằng Phật giáo xuất thế là để giải thoát cá nhân, nhưng xã hội ngày nay  loài người càng tiến triển, liên hệ xã hội càng phức hoá, thì một cái khổ khác tràn lên, cái khổ tập thể bởi sự tiến triển này. Cái khổ tập thể này xảy ra thường xuyên, mà thỉnh thoảng dồn thành cơn ngặt nghèo là chiến tranh: là chiến tranh nội loạn và chiến tranh dân tộc, lần lần gom lại thành chiến tranh lý tưởng và chiến tranh thế giới. Đối với cái khổ mới và lớn này, nếu không có một lối diệt khổ thích đáng, thì quần chúng quên hẳn lối xuất thế của của đạo Phật, hay của bất cứ tôn giáo nào khác, nghe theo những khẩu hiệu tuyên truyền của các đảng phái chánh trị. Mà những người tu sĩ cũng không thể yên lòng được để nhập định.


Phật giáo phải nhập thế bằng cách nào? Ông cho rằng tôn giáo phải đồng nhất với chánh trị.
Đồng nhất với chánh trị để xử thế, không phải là tôn giáo chạy theo chánh trị để a dua theo kẻ có quyền thế và để ban phép lành cho họ. Kẻ làm chánh trị, hơn hẳn người thường, là những kẻ bản năng mạnh, nhiệt tình nồng, hay thiên về cực đoan, hay ngã về bạo lực. Để tránh những việc như đày hàng mấy chục triệu người vào trại giam, như đốt ngòi chiến tranh thế giới để củng cố địa vị cá nhân cha mình, thì không nên để cho sự ngẫu nhiên của tranh đấu, đưa kẻ tranh đấu lên dẫn đầu, mà phải tuyển trạch kẻ ấy trong hàng những người sáng suốt, bác ái và hiền lành hơn cả.


Ông gọi cái tôn giáo-chính trì này là văn minh tu sĩ:


Từ ngàn xưa, hễ bắt đầu có tôn giáo, thì đã có người tu hành. Có lắm lúc, kẻ tu hành này lại nắm luôn quyền chánh trị. Nhưng, những hình thức đó chưa lập nên được cái văn minh tu sĩ. Nay là lúc phải nâng sự tu hành này lên bực văn minh để nó dìu dắt loài người, từ trạng thái ly tán từng dân tộc, từng giai cấp, đến cái thế giới đại đồng, điều mà chánh trị chỉ thấy thực hiện được bằng máu lửa của chiến tranh và cách mạng..

Những điều ông suy nghĩ thì không có gì lạ. Trải qua một thời gian, các tôn giáo, học thuyết triết học, và chế độ chính trị đều đã thay đổi. Thiên chúa giáo cũng thay đổi. Từ Giáo hội chính thống, Giáo hội La Mã và giáo hội Tin Lành là những đổi thay lớn.


Phật giáo từ khi Phật thành đạo cho đến nay đã có nhiều thay đổi. Từ Phật giáo Nam Phương đến Phật giáo Bắc phương, từ phái Nguyên Thủy đến phái Lạt Ma Tây Tạng, Tịnh Độ tông, Thiền tông, Hoa Nghiêm tông..


Phật giáo có bốn hạng:
- Nam tu sĩ
-Nữ tu sĩ
-Nam cư sĩ
Nữ cư sĩ


Các tôn giáo khởi đầu lấy các tu sĩ độc thân . Còn đạo Phật thì ai đi tu cũng được. Thái tử Tất Đạt Đa đã có vợ con, sau đi tu thành Phật. Đạo Phật ban đầu không nhận nữ tu nhưng sau đức Phật phải chấp nhận lời cầu khẩn của bà di mà cho nữ nhân xuất gia. Tại Việt Nam, các cư sĩ lập chùa, thuyết pháp, in kinh sách, ra báo chí như hội Phật giáo Bác Kỳ, Hội Phật giáo Nam Việt. Các ông Mai Thọ Truyền, Đoàn Văn Còn là những cư sĩ nổi danh của miền Nam.Cao hơn nữa, chúng ta phải nghĩ đến đức Phật Thầy và Bửu Sơn Kỳ Hương. Bửu Sơn Kỳ Hương là một phối hợp giữa nhập thế và xuất thế khi Ngài đề ra đường lối tứ ân. . Nhiều người không hiểu, cứ cho Phật giáo là xuất thế, nhưng nếu đi sâu vào kinh tạng Pali của Phật giáo Nguyên Thủy, đức Phật đã dạy các đệ tử việc quốc gia, xã hội, gia đình và việc sinh sống. Đường lối phục vụ đạo pháp, quốc gia, xã hội và gia đình vốn là kinh điển của Phật giáo.


Hồ Hữu Tường nhiệt tình với Phật giáo nhưng chưa đi sâu vào Phật giáo.

Sư hiện đại hóa, sự canh tân là cần thiết cho mọi tôn giáo, triết học, chính trị, khoa học, giáo dục, công nghệ, nghệ thuật tuy nhiên đó là nỗi khổ của tôn giáo và chánh trị. Họ sợ thay đổi, họ không muốn thay đổi vì thay đổi sẽ mất bản sắc, đi đến mất gốc, hóa ra phản đạo, phản đảng, trái ý chúa, sai đường lối, chủ trương...

Hồ Hữu Tường thuộc vào lớp người sau Marx tôn thờ khoa học và kính trọng Marx, nhưng một thế kỷ trôi qua, khoa học không gạt tôn giáo ra khỏi loài người, trái lại, tại Việt Nam, sau cuộc xâm chiếm miền Nam thì tôn giáo bốc lên mạnh mặc dầu nhà nước đàn áp.. Tôn giáo và khoa học không chống đối lẫn nhau. Thế giới này bao la. Ai muốn vào nhà chùa, nhà thờ cứ đi, ai cặm cụi trong phòng thí nghiệm cứ ngồi. Âu Mỹ tôn trọng Thiên chúa giáo mà khoa học tiến triển. Các xứ cộng sản theo Marx, miệt thị tôn giáo mà khoa học nào có tiến lên? Marx và cộng sản chỉ là những kẻ khoa học giả mạo, họ tiêu diệt văn hóa cũ, các đảng phái quốc gia, dân chủ và tôn giáo là chỉ để độc quyền cai trị chứ không vì quốc gia, nhân loại. Nay thì chủ nghĩa cộng sản đã chết khắp nơi, chỉ còn thế lực quân sự của cộng sản ở Trung quốc, Bắc Hàn, Việt Nam, mà tôn giáo thì vẫn phát triển. Có gì mà sợ!


Ông chủ trương tôn giáo kết hợp với chính trị là ông lầm to. Nói thẳng ra các nhà tu phần lớn chủ quan, cố chấp, cuồng tín nếu cho họ nắm chính quyền thì họ chẳng khác gì các ông cộng sản tàn ác, bất nhân. Cứ lắng tai nghe. Bình thường thì chẳng sao, nhưng khi bàn luận về các tôn giáo khác, học phái khác, các nhà tu đều miệt thị đối phương là "tà kiến", "phù thủy", "dị giáo"... Rõ nhất là các tín đồ Hồi giáo hô hào mở rộng nước chúa bằng thanh kiếm. Các quốc gia lấy luật tôn giáo làm luật quốc gia, các ông thầy tu làm chính trị thì hãi lắm. Hãy xem lại lịch sử thế giới khi tôn giáo thời trung cổ nắm quyền chính trị. Các vị tu hành đã trở thành những quái vật thiêu người, thiêu luôn cả cha đẻ, tàn sát những khoa học gia và những ai tự do phát biểu ý kiến. Vì vậy, nước Pháp đã làm một việc đáng phục là đưa giáo quyền ra khỏi thế quyền. ..


Marx chủ trương văn minh cộng sản đã giết hàng trăm triệu người. Nay Hồ Hữu Tường lại xướng xuất văn minh tu sĩ. Nếu Hồ Hữu Tường, với các vị chủ trương dùng thanh kiếm mở rộng nước Chúa, và các vị khao khát làm Hồng Y, làm Giáo hoàng bất chấp thủ đoạn và các ngài thich tham sân si lập thành văn minh tu sĩ e đó là ngày nhân lọai tận diệt !


Về vấn đề hòa bình, Hồ Hữu Tường tỏ ra lúng túng. Ông cho rằng Bây giờ chiến tranh không còn là sự tranh giành quyền lợi nữa, như nước thắng trận vừa rồi bỏ tiền của ra mà nuôi các nước đã thua. Mà bây giờ, chiến tranh trở nên sự dùng quân lực mà ép buộc nước khác theo thế lý tưởng của mình.


Sau 1945, thế giới , chia thành hai phe: phe tư bản và phe cộng sản và đi vào chiến tranh lạnh. Cuộc chiến tranh bây giờ là chiến tranh ý thức hệ. Phe Âu Mỹ thì không thừa nhận phe cộng sản, mà phe Nga Tàu cũng không chơi với phe tư bản. Nhưng bên cạnh ý thức hệ, còn có quyền lợi. Nga thâu tóm các nước lân bang vào liên bang Xô Viết đặt dưới ách thống trị của Nga. Quốc tế III do Stalin nắm quyền cai trị các chư hầu cộng sản. Trung Quốc làm lãnh tụ một số đảng Cộng sản Á Phi. Trung Cộng đã chiếm Tây Tạng, Mông Cổ, Tân Cương. Và nay muốn chiếm trọn bể Đông và thế giới. Cộng sản là một đế quốc, nhằm khống chế, xâm chiếm và bóc lột tài nguyên, đất đai và biển cả, không phải chỉ thuần lý tưởng.


Ông cho rằng ngày nay các cường quốc chế ra nhiều vũ khí tối tân, có thể giết hàng triệu người một lúc vì vậy con người sẽ không dám gây chiến tranh. Nhưng Hồ Hữu Tường cũng không tin tưởng vào lý luận này: kết luận này có hơi vội vã: sự khả hữu của chiến tranh thứ ba tuy có giảm bớt nhiều, song không phải là mất hắn. Loài người phải hoạt động nhiều lắm mới tránh được cái tàn phá tập thể này.


Với mục đich hòa bình, ông chủ trương trung lập. Thuyết trung lập vì vậy mà phát triển mau lẹ và đã được thẩm xét trên thứ bực quốc tế trong Hội nghị Genève (1960).[..]. Trung đạo tách dang xa đường lối buông lung của tư bản chủ nghĩa, cái này làm cho bần phú cách biệt, kẻ nghèo làm vật bị bóc lột và áp bức của nhà giàu, làm cho bình đẳng và bác ái trở nên những tiếng trống rỗng, làm cho công bình mất hẳn, và do đó bao nhiêu bất bình nổi lên, gây xung đột, mầm móng của chiến tranh nội loạn. Trung đạo cũng tách dang xa đường lối độc tài chà đạp tự do và nhân phẩm của con người, ngăn đón sự phát triển của cá nhân về bề cao để san phẳng bề dưới. Vì vậy, mà đi ở giữa, trung đạo sẽ là một xã hội chủ nghĩa nhân đạo.


Trung lập là tốt nhưng khó mà ở vị thế trung lập. Khi có hai phe đối kháng nhau, ta sẽ ở trong một những trường hợp sau:
-bị hai phe lôi kéo hoặc đe dọa
-bị một trong hai phe đe dọa
-được cả hai phe cho đứng trung lập.


Là nước nhỏ, ta chỉ được trung lập khi được cả hai phe đồng ý. Ta không thể đứng trung lập khi bị một hoặc cả hai phe tiến đánh. Sau 1954, Pháp đã rút lui, ta bị Cộng sản xâm chiếm, làm sao mà thoát khỏi cộng sản, làm sao mà trung lập? Vì vậy, thuyết trung lập và hành động của ông cùng Phạm Công Tắc là thiếu sáng suốt.


Là một người theo Marx, hoạt động chính trị, đã tuyên bố từ bỏ Marx. Ông chỉ có một nhận định hữu lý về chủ nghĩa cộng sản: Từ mấy năm nay, nhiều nhà cách mạng cũ rời bỏ hàng ngũ của chủ nghĩa Marx, vì cái chánh trị của đảng này thiếu một cơ sở luân lý. Khroutchev, khi chỉ trích cái chánh trị của Staline, cũng đưa những lý lẽ thuộc nhơn luân.


Rất tiếc, đã sống trong chủ nghĩa Marx, sao ông không trầm tư nhiều về chủ nghĩa cộng sản, phân tích cho nhân dân ta những sai lầm của chủ nghĩa Marx?



Hồ Hữu Tường là một nhà báo. Quyển 41 Năm Làm Báo là một tài liệu quý cho những ai nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam. Sau 1963, được trả tự do, ông làm chủ bút tờ Hòa Đồng. Số đầu tiên ra ngày 2-1-1955, chủ nhiệm Nguyễn Lương Hưng, thư ký Nguyễn Ngu Ý. Lấy tên là Hòa Đồng, Hồ Hữu Tường có mục đích Hòa Đồng tôn giáo sau đó sẽ đi đến hòa đồng hữu thần và vô thần, giải quyết tranh chấp đông tây, chủng tộc, nước giàu và nước nghèo (Hoà Đồng 1, tr. 2). Ý kiến này thật tốt đẹp nhưng làm sao trung lập được giữa hai phe ? Trung lập một là bị hai phe tấn công, hoặc là một thứ trung lập thân cộng như Sihanouk. Trong tờ Hoà Đồng, chúng ta thấy một mình Hồ Hữu Tường bao sân, chứng tỏ ông cô độc.


Về biên khảo, các tác phẩm của ông trải rộng nhiều mặt nhưng thiếu bề sâu. Cụ thể là quyển Tương Lai Văn Hóa Việt Nam và Lịch Sử Văn Chương Việt Nam I (1950) quá mỏng manh và nghèo nàn. Ông không phải là một nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa. Ông là một nhà báo bình thường. Sau khi đã điểm qua các tác phẩm của ông, chúng tôi xin nói rõ hơn về những điều ông chứng minh thân thế của ông. Về sử liệu, ông sai lầm hoàn toàn. Nhiều thuyết nói bà Ngọc Hân trốn thoát, nhiều thuyết nói bà bị bắt và chết cùng các con. Theo Đại Nam Thực Lục, sau khi chiến thắng, vua Gia Long đã giết các con cháu giòng Tây Sơn và đào mả Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ vứt xuống sông. Theo Đại Nam Liệt Truyện của Quôc Sử Quán triều Nguyễn và Quốc Sử Di Biên của Phan Thúc Trực, vua Gia Long đã bắt được bà Ngọc Hân và Ngọc Bình. Bà Ngọc Hân không muốn sống cùng vua Gia Long nên được trả về quê Bắc Ninh, còn bà Ngọc Bình, em gái bà Ngọc Hân thì sống với vua Gia Long, sinh hạ hai hoàng tử ( Xem phần Văn Học Đời Lê về Lê Ngọc Hân; và Những nghi vấn về Triều Đại Tây Sơn, Dòng Việt số 15, 2004)


Ông đã trưng sử liệu trên Hòa Đồng, bảo đó là sự thực, nhưng đó là việc vua Gia Long giết dòng Nguyễn Huệ, chứ không phải việc Hồ Hữu Tường thuộc giòng Nguyễn Huệ.


Ông ngụy tạo nhiều điều:


(1). Hồ Hữu Tường nói rằng năm 1802, một thiếu niên 'có bà con gần xa với ba anh em Tây Sơn . . .tránh sự trả thù những sự đàn áp của Gia Long, Hồ Văn Phi trốn vào Nam lúc 14 tuổi' (Hoà Đồng 1, 13) . Hồ Văn Phi cưới vợ sinh hai gái. Lúc Lê Văn Khôi khởi binh, một người đàn bà bồng một đứa con trai đến nhà cho Hồ Văn Phi nuôi, nói ' Đứa nhỏ này là con của tôi. Cha nó họ Hồ. .. . Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó nêu lên hai chữ Kế thế mà thờ giữa hai chữ Hồ phủ và truyền lại mãi mãi cho con cháu. . .' ( HD1, 13). Người con nuôi này lớn lên sinh ra Hồ Văn Điểu là ông nội của Hồ Hữu Tường (HD1, 13-14).


Ông là nhà toán học mà chẳng có ''logic'' chút nào. Hồ Văn Phi thuộc bà con xa gần của ba anh em Tây Sơn, chưa chắc là con của Nguyễn Huệ. Hồ Văn Điểu là đứa con họ Hồ chưa chắc đã là dòng Nguyễn Huệ. Thế gian này thiếu gì họ Hồ! Người con nuôi này chưa chăc họ Hồ thì làm sao ông có thể vỗ ngực xưng họ Hồ dòng Nguyễn Huệ? Người Việt Nam tôn trọng việc nối dõi, nhất là giòng dõi hiếm hoi của Quang Trung, người mẹ có bổn phận phải bảo vệ giòng giống để ' nối dõi tông đường'. Người ta phải cho con là vì không đủ tiền nuôi con. Bà này có tiền tại sao lại đem con cho người khác?


(2). Việc đời ông cố của Hồ Hữu Tường, trong gia đình không biết, ông thầy Quảng tuổi bằng thân phụ Hồ Hữu Tường làm sao mà biết?


(3). Ông bảo Phật Thầy Tây An là dòng họ Hồ: Thầy Quảng đưa ra câu chuyện Ngọc Hân công chúa dắt Quang Thiệu trốn vào Nam, mẹ con đổi tên họ, Quang Thiệu sau ra lập đạo và được người đời tôn là Phật Thầy, và họ Hồ chúng tôi, thờ hai chữ Kế Thế trong nhà, là dòng dõi của Quang Thiệu ( Phân Trần, Hòa Đồng số 4 ngày 23-1-1965, tr. 2).


Hồ Hữu Tường còn đưa ra chứng cớ là pháp danh của Phật Thầy là Tây An mà giải thích bằng chiết tự là Tây Sơn Nữ cũng là một giải thích gượng ép. Tây An là tên chùa, tên có trước khi Phật Thầy dến tu tại đây. Đức Phật Thầy Tây An tên là Đoàn Minh Huyên, sinh năm 1807 mất năm 1856 đạo hiệu của Ngài là Giác Linh. Còn cái tên Phật Thầy Tây An có nghĩa là đức Phật sống tại chùa Tây An, thế thôi. Nguyễn Huệ mất năm 1782 mà Phật Thầy sinh năm 1807 thì rõ là không phải! Hai niên đại khác nhau xa dù Phật Thày thay tên đổi tuổi.


(4). Hồ Hữu Tường còn nói rằng quyển Hoa Dinh Cẩm Trận là vật gia bảo mà người đàn bà giao cho Hồ Văn Phi khi giao Hồ Văn Điểu. Ông cho rằng ' trong kho tàng nhà vua Quang Trung mới có của báu không có cái thứ hai và chỉ có hoàng hậu Ngọc Hân mới lấy được của báu ấy mà truyền cho hậu duệ' (3). Nếu Hoa dinh cẩm trận là thực thì cũng chỉ là một quyển sách như Tố Nữ Kinh hay Kama Sutra là sách dạy về bí mật gối chăn, người ta có thể in hoặc chép hàng trăm, hàng ngàn cuốn sao lại bảo là một quyển? Và sao lại bảo là chỉ có vua Quang là có, biết đâu vua Lê, chúa Trịnh, Trương Phúc Loan hay của họ Nguyễn Phúc? Vả lại, trong khi nguy khốn cần gì mang theo quyển này, một tài liệu của hoàng cung cũng như những bảo vật khiến cho bị lộ hành tích. Hơn nữa,việc này chỉ làm ô danh bà Ngọc Hân vì chồng chết, chạy giặc mà còn ôm theo sách ''sex''!


(5). Hồ Hữu Tường quả quyết rằng Phật Thầy Đoàn Minh Huyên là Hồ Quang Thiệu, 'bị áp lực của mẹ là Ngọc Hân và dì là Ngọc Mân, người phải thi hành sứ mạng 'chủng cây sơn cấm' (ông không biết Hán tự thì tội gì mà xổ nho cho lòi ngu ra) với người con của dì là Phượng, con hoang của Ngọc Mân và vua Gia Long' để năm 1836 sinh ra ông nội của Hồ Hữu Tường là Hồ Văn Điểu (3).


Năm giáp ngọ (1774), Hoàng Ngũ Phúc vào đánh Thuận Hóa, laị bị Tây Sơn tấn công, Nguyễn Ánh mới 14 tuổi chạy vào Gia Định, đến năm 1801 mới đem quân ra Thuận Hóa, bắt quan lại, các phi tần và con cháu Tây Sơn trong đó có Ngọc Hân, Ngọc Bình. Nếu Nguyễn Ánh gặp Ngọc Mân (?) thì chỉ gặp năm 1801 hoặc 1802, mà lúc này Hồ Quang Thiệu đã chạy vào Nam, làm sao có cô Phượng để sinh ra ông Hồ Văn Điểu? Nếu bà Ngọc Mân ăn nằm với vua Gia Long và có con, thì bà đã trở thành vương phi ở trong cung cấm, đâu phải lang thang vào Nam ẩn lánh? Và thiếu gì phụ nữ, bà Ngọc Hân lại bắt con trai phải làm điều mà luân lý và phong tục cấm đoán. Và căn cứ vào đâu để bảo rằng Phật Thầy là Hồ Quang Thiệu? Hồ Hữu Tường đã sai lầm và không khéo léo. Ngày nay ít người tin vào dòng dõi cha ông bởi vì lịch sử Việt Nam hiện tại đã cho thấy cha ái quốc, con phản quốc, cha đánh Pháp, con theo Tây. Và bây giờ trình độ dân chúng đã cao. Bá đạo sớm hay muộn đều thất bại. Hồ Hữu Tường không thuộc họ Hồ Quý Ly mà thuộc họ Hồ Ly!


Tiểu thuyết của Kim Dung vô lý nhưng mà vẫn làm độc giả tin đuợc và thích thú. Còn Hồ Hữu Tường không thể qua mặt được ai vì có sử liệu chứng minh. Ông không bẻ cong được sự thật. Hồ Hữu Tường đem bài thơ của của Phật Thầy Tây An làm nền tảng cho truyện nhưng ông lại bảo đó là sấm của Lưu Bá Ôn. Nguyễn Mạnh Côn. Phản ứng với quyển Kế Thế, Nguyễn Mạnh Côn viết: ' . mục đích chính trị ( của) cuốn Kế Thế có tác dụng chứng minh, gần như trực tiếp, rằng tác giả là hậu duệ của vua Quang Trung, và tác giả sẽ thành công trong nhiệm vụ thống nhât nước Việt Nam, đồng thời đưa nước Việt Nam lên đài vinh quang thế giới (Hòa Đồng 4, 1).


Chúng tôi nghĩ rằng Nguyễn Mạnh Côn là một nhà văn ngay thẳng và lịch sự vì thời ấy nhiều người mạ lị Hồ Hữu Tường không tiếc lời. Nguyễn Mạnh Côn đã phê bình đúng. Trong Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử có đoạn như sau mà Hồ Hữu Tường trích dẫn: Điều mà với tư cách đồng nghiệp nhưng hậu sanh, chúng tôi muốn bày tỏ một niềm ân hận chân thành, rằng nhà tư tưởng lão thành của chúng ta đã dùng đến quá nhiều phương pháp bá đạo trong khi xây dựng và phát huy ý kiến của ông. . .Ông đã dùng đến nhiều sấm ký, viện lẽ sự tin tưởng vào sấm ký hầu như một đặc tính dân tộc của người Việt. ( HD 1, 7).


Trong Phi Lạc Sang Tàu cũng Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, cái tư tưỏng chủ yếu của ông là kêu gọi hòa bình, khẩn cầu hai phe tư bản và cộng sản ngưng chiến, đừng để dân tộc điêu tàn, quốc gia tan nát. Nếu ông thực là một người cộng sản ly khai, ông phải lên tiếng về sự sai lầm của Marx, Lenin và Stalin. Ông cũng như ông Đạo Dừa, kêu gọi hai phe ngưng chiến, lập nền hòa bình chuột và mèo, nhưng kết cuộc ông cũng như Đạo Dừa đã chết vì bàn tay cộng sản.

Tóm lại, Hồ Hữu Tường đã đứng riêng ra một môn phái, khác hẳn các văn gia đương thời là dùng sấm ký, và trào phúng. Tiểu thuyết của ông có hai mục đích: quảng cáo về giòng dõi của ông và tuyên truyền về sự khôn ngoan của ông cùng tư tưởng kín đáo của ông. Nếu ông viết tiểu thuyết với tinh thần vô tư và vị nghệ thuật, có lẽ ông được độc giả yêu mến hơn.


Ông là một nhà văn, một nhà tranh đấu chống Pháp. Ông không làm tay sai cho Cộng sản và Ngô Đình Diệm là một điều quý. Ông hoạt động chống Pháp và lên tiếng từ bỏ chủ nghĩa Marx lại là một điều tốt. Thu Hương, Chi Tập là những tiểu thuyết có giá trị lịch sử. Tuy nhiên, những hoạt động chính trị và văn hóa của ông có nhiều sai lầm.


-Ông viết Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc náo Hoa Kỳ, chủ trương trung lập, muốn chứng tỏ ông có tài Trương Nghi, Tô Tần và trí óc Khổng Minh. Nhưng việc ông làm cố vấn cho Bình Xuyên và chủ trương trung lập thuyết là non kém. Pháp về nước, Bình Xuyên làm sao tồn tại mà ông chạy theo làm cố vấn! Khối Liên Xô, Trung Cộng muốn chiếm Việt Nam, Mỹ cũng muốn vào Việt Nam theo chủ thuyết Domino, thì Việt Nam làm sao mà trung lập?


-Mở đầu quyển Trầm Tư của Một Tên Tội Tử Hình, ông viết về bệnh đa dâm của ông là một điều khiếm nhã.
-Ông gian trá khi mạo nhận dòng dõi Quang Trung. Điều này chứng tỏ ông thiếu đạo đức. Ông không là nhà sư,  thế mà khi làm dân biểu, tại Quốc hội,  có lúc ông mặc cà sa, đeo tràng hạt. Như vậy bản chất ông là anh hề trên sân khấu. . Nếu ông nắm chính quyền chắc chắc ông cũng là quỷ vương
-Các tác phẩm như Xã Hội Nhập Môn (1945); Muốn Hiểu Chính Trị
( 1946); Tương Lai Văn Hóa Việt Nam (1949); Lịch Sử Văn Chương Việt Nam I (1950) rất hời hợt, nông cạn, nghèo nàn.. Ông là một văn gia, một chính trị gia hữu danh vô thực.
(Trich NGUYỄN THIÊN THỤ * VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ TOÀN THƯ - sẽ xuất bản)

No comments: