Saturday, December 30, 2017

VƯƠNG TRÍ NHÀN * ĐỂ HIỂU THÊM TỐ HỮU


VƯƠNG TRÍ NHÀN * ĐỂ HIỂU THÊM TỐ HỮU

Không chỉ có Tố Hữu mà nhiều nhà văn miền Bắc cũng từng khóc Stalin
Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.
Về thơ: Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồiĐồng chí Stalin đã mất!Thế giới không cha nặng tiếng thở dài
Ở đoạn dưới:
Mẹ hiền ta ơiEm bé ta ơiĐồng chí Stalin không bao giờ chết
…Triệu triệu mẹ già em dạiĐều là súng Stalin để lạiGiữ lấy hòa bình thế giớiTiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời

Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Stalin của Huy Cận. Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.
Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyếnTừ bao lâu yêu Người tận tủy xươngTiếng khóc đây là tất cả can trườngThấy Người thật là bát cơm miếng bánhNgười gắn với chúng con trong vận mệnh


Về phần văn xuôi: Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:
Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.
Xin phép mở một dấu ngoặc. Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung Quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bướcDãy núi cao liền dãy núi caoQuê hương lãnh tụ mây thêu nắngThấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Nhà thơ bơ vơ

Trở lại chuyện Tố Hữu. Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớHiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đóBiết chăng còn lắm bạn đi đầy




 
Image caption Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Tố Hữu là nhà thơ có nhiều sách viết về ông nhất ở Việt Nam

Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình.
Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ. Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.

Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định. Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta. Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa. Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất. Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Ngược điều mình nghĩ

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích - sang Hội nhà văn nghe ngóng về. Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm! Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.

Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua.




Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó. Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông.

Nguyễn Khải sát hạch tôi: -Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người: -Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi: -Không được. Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ: -Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

Trong ngày Tố Hữu mất, báo, đài đều cho đăng bài thơ Từ Ấy sáng tác năm 1938 như một tác phẩm tiêu biểu.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
(...)
Lời thơ nhẹ nhàng, êm ái nhưng sâu sắc. Nhưng trong số trên dưới 300 bài thì thể loại và nội dung này rất hiếm. Nói về nội dung, thì chúng ta có thể chia các tác phẩm của Tố Hữu ra bốn loại: Tình cảm (hiểu là tình cảm lãng mạn), chống Pháp chống Mỹ, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản, ca ngợi các lãnh tụ cộng sản mà đặc biệt là Hồ Chí Minh; và dĩ nhiên không phải bài thơ nào cũng êm ái như Từ Ấy, và đây chính là con người Tố Hữu mà nhà nước không muốn người dân biết đến:
(...)
Những quân cướp ruộng cướp nhà
Những quân đè cổ lột da giống nòi
Bọn địa chủ cắm vòi hút máu
Phải vùng lên mà đấu thẳng tay!
Thực dân địa chủ một bầy
Chúng là thú vật ta đây là người.
(...)
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta, 8/1955)
Đấu tố, trù dập văn nghệ sĩ
đặc biệt là Nhân Văn Giai Phẩm là những cơn ác mộng của đất nước trong thập niên 50. Hơn nửa thế kỷ sau - dù bất thành văn - nhưng chế độ cộng sản cũng ngầm xác nhận đó là những sai lầm của họ. Nhưng từ "ngầm hiểu" đến xin lỗi và phục hồi danh dự cho các nạn nhân còn xa, còn nhiều chuyện phải làm, và chuyện trước tiên là giấu kỹ hoặc "quên đi" những vần thơ sắt máu trên hoặc những lời lẽ thô tục:
(...)
Bọn cướp Mỹ với phường đĩ Diệm
Phải ngừng tay gian hiểm sát nhân
Bắc - Nam ruột thịt tay chân
Nước non không thể phân chia một ngày
(...)
(Chị là người mẹ, 9/1956)
Một trong những cái gai của CS là tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa Giáo cũng được Tố Hữu liệt vào các đối tượng công kích như một loại "thuốc phiện của dân tộc". Tất cả những căm thù này được gói ghém trong bài Rôm, hoàng hôn mà hầu như không
có một cuốn sách nào trích đăng vì nó có nội dung đi ngược lại đường lối "dỗ ngọt" của nhà nước đối với các tôn giáo ngày hôm nay:
(...)
Đức giáo hoàng, trên khung vàng cửa sổ
Sáng chúa nhật, ban phước lành cho con chiên dưới phố
Ngài biết có bao nhiêu nước mắt chúng sinh
Đã đông thành những lầu cao lóng lánh thủy tinh"
Tất cả đồi nho không làm nên một cốc rượu vui
Máu đổ nghìn năm, chưa được tự do một buổi
Lẽ nào nhạc cầu kinh mang phép lạ cho đời"
Và lũ vua thép, vua hơi không phải một lần rửa tội"
(Rôm, hoàng hôn, 3/1972)

* *
Tuy nhiên khối lượng thơ quan trọng nhất của Tố Hữu được dành để ca tụng ông Hồ Chí Minh (HCM). Đối với ông ta và của cả Đảng CSVN, HCM là vĩ nhân hàng đầu của dân tộc, vượt lên trên cả các bậc tiền bối như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... Ta cứ xem cung cách đặt tên thành phố, tên đường hoặc so sánh ngân quỹ để duy tu các lăng tẩm, hình tượng của ông HCM với các di tích lịch sử hoặc cung cách xác định các ngày lễ thì thấy ngay. Đối với Tố Hữu và Đảng CSVN, giòng sử đấu tranh của người Việt chỉ bắt đầu từ khi có Bác, cũng như thế giới chỉ được khai hóa từ khi có Mác:
Thuở Anh chưa ra đời
Trái đất còn nức nở
Nhân loại chửa thành người

Đêm ngàn năm man rợ
Từ khi Anh đứng dậy
Trái đất bắt đầu cười
Và loài người từ đấy
Ca bài ca tháng mười.
(...)
(Bài Ca Tháng Mười, 1950).
(...)
Cảm ơn Người, Hồ Chí Minh vĩ đại
Bốn ngàn năm ta lại là ta.
(Xưa... Nay, 1954)
(...)
Còn non còn nước còn người

Để hiểu thêm Tố Hữu

  • 19 tháng 8 2014
Image caption Không chỉ có Tố Hữu mà nhiều nhà văn miền Bắc cũng từng khóc Stalin
Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.
Về thơ: Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồiĐồng chí Stalin đã mất!Thế giới không cha nặng tiếng thở dài
Ở đoạn dưới:
Mẹ hiền ta ơiEm bé ta ơiĐồng chí Stalin không bao giờ chết
…Triệu triệu mẹ già em dạiĐều là súng Stalin để lạiGiữ lấy hòa bình thế giớiTiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Stalin của Huy Cận. Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.

Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyếnTừ bao lâu yêu Người tận tủy xươngTiếng khóc đây là tất cả can trườngThấy Người thật là bát cơm miếng bánhNgười gắn với chúng con trong vận mệnh
Về phần văn xuôi: Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:
Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.
Xin phép mở một dấu ngoặc. Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung Quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bướcDãy núi cao liền dãy núi caoQuê hương lãnh tụ mây thêu nắngThấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Nhà thơ bơ vơ

Trở lại chuyện Tố Hữu. Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớHiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đóBiết chăng còn lắm bạn đi đầy
 
Image caption Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Tố Hữu là nhà thơ có nhiều sách viết về ông nhất ở Việt Nam
Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình.
Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ. Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.

Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định. Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta. Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa. Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất. Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Ngược điều mình nghĩ

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích - sang Hội nhà văn nghe ngóng về. Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm! Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.

Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua.
Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó. Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông.

Nguyễn Khải sát hạch tôi: -Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người: -Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi: -Không được. Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ: -Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

No comments: