Wednesday, December 27, 2017

CÁC Ý KIẾN VỀ THƠ TỐ HỮU




CÁC Ý  KIẾN VỀ THƠ TỐ HỮU
 

Tố Hữu là một nhà thơ lớn của Cộng sản Việt Nam, của văn học Việt Nam cận đại. Ông có ảnh hưởng lớn trong văn học Việt Nam, nhất là văn học cộng sản. Không những ảnh hưởng về văn học mà còn có ảnh hưởng  lớn về chánh trị. Động chạm đến Tố Hữu là động chạm đến đảng, chê bai, bình phẩm Tố Hữu là chống đảng, là ohản động. Bởi vậy mà  dám phê bình thơ Tố Hữu mà đệu tàn!

XUÂN TRƯỜNG TÊN LÍNH TIÊN PHONG CỦA TỐ HỮU

Xuân Trường
Vài ý nghĩ sau khi đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Trong thời kỳ cách mạng chưa thành công, chế độ thực dân còn chà đạp lên đời sống của nhân dân ta, bóp nghẹt tâm hồn của chúng ta, thơ Tố Hữu đã có tác dụng làm ấm lòng người đọc, bồi dưỡng lòng yêu Tổ quốc của quần chúng, khuyến khích người cán bộ nằm trong nhà tù giữ vững lòng tin đối với tiền đồ vẻ vang của dân tộc. Tập thơ Việt Bắc chủ yếu gồm những bài thơ sáng tác trong thời kỳ kháng chiến từ sau thu đông thắng lợi 1947, những bài thơ đã làm ấm lòng của chúng ta; và một số bài thơ sáng tác sau khi hòa bình thắng lợi những bài thơ này cũng đã có tác dụng giáo dục, cổ vũ cán bộ và nhân dân. Tập thơ Việt Bắc vừa mới ra chưa được 2 tháng, con số phát hành đã lên gần 3 vạn quyển. Chưa có một quyển sách nào phát hành nhiều như thế trong một thời gian ngắn.

Ở đây tôi không giới thiệu toàn quyển và đi sâu vào tập thơ Việt Bắc. Tôi chỉ trình bày một vài ý nghĩ đầu tiên khi đọc lại những bài thơ trong tập thơ này.

Có thể nói chủ đề bao trùm tập thơ Việt Bắc là tinh thần thiết tha yêu nước, chí khí phấn đấu kiên quyết bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần đó là Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, linh hồn của kháng chiến và anh bộ đội anh dũng, thân mến, nổi nhất trong tập thơ Việt Bắc. Tố Hữu đã để cả tâm hồn, tất cả tình cảm đằm thắm nhất của mình để diễn tả những hình ảnh yêu kính và quý mến nhất ấy của thời đại chúng ta.

Ðối với anh bộ đội, chỉ "gần nhau là thân thiết", chỉ "một thoáng lặng nhìn nhau" là "âm thầm thương mến". Trong đời sống bình dị của người nông dân Việt Nam có phút nào yêu nhau say sưa bằng chia cho nhau điếu thuốc lào:

Trưa nay trên đèo cao
Ta say sưa vài phút!
Chia nhau điếu thuốc lào
Nào anh hút tôi hút
Rồi lát nữa chia đôi
Anh về xuôi tôi ngược
Lòng anh và lòng tôi
Mang nặng tình cá nước

Tố Hữu thông cảm với anh bộ đội không phải chỉ qua bộ quần áo nâu. Tố Hữu thông cảm qua sức lao động của con người.

Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh Vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!

Tố Hữu đã từng mặc áo bộ đội, vai nặng ba lô, chân đạp rừng gai đá sắc, trèo đèo lội suối, cùng ăn cơm vắt thấm nước, dãi gió nằm sương với anh bộ đội. Nên Tố Hữu là nhà thơ thông cảm mãnh liệt đối với sức lao động ấy một khi nó dốc ra mặt trận đánh đổ quân thù. Xúc động biết bao khi đọc những đoạn thơ Tố Hữu để tình cảm của mình rung lên những nhạc điệu, những ý thơ hùng dũng:

Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Ðầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm

khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt

Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Ðầu bịt lỗ chân mai
Băng mình qua núi thép gai
ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện

Trong tập thơ Việt Bắc ngoài hình ảnh anh bộ đội, những hình ảnh bà mẹ, em thiếu nhi, chị phụ nữ cũng nổi lên đầy tình mến thương của nhà thơ. Nhưng Tố Hữu tha thiết yêu anh bộ đội, Tố Hữu không muốn tình yêu ấy bị chia xẻ. Tố Hữu muốn đặt tất cả những hình ảnh trong một cảm xúc chung đối với người chiến sĩ. Những bà mẹ trong thơ Tố Hữu là những bà mẹ của chiến sĩ, giản dị như cánh đồng quê, thiết tha yêu con nhưng lại yêu nước hơn.

Em thiếu nhi trong thơ Tố Hữu là chiến sĩ nhỏ tuổi, tâm hồn em hồn nhiên, nhưng lòng em thấm sâu tình yêu nước, em là những chú "đồng chí nhỏ" làm nhiệm vụ giao thông vượt qua mặt trận, không sợ đạn của giặc, không sợ hiểm nghèo. Những chị phụ nữ trong thơ Tố Hữu là những chị dân công dù con bế con bồng "em cũng theo chồng đi phá đường quan", những chị ngày đêm ra tiền tuyến phục vụ chiến trường. Có những lúc tình cảm của Tố Hữu đi ra ngoài biên giới, nhớ tới em bé Triều Tiên, nhân dân Triều Tiên đang anh dũng chiến đấu. Tố Hữu yêu em bé Triều Tiên và em bé Triều Tiên trong thơ Tố Hữu là con của người dân công tải đạn, con của người nữ cứu thương, con của anh bộ đội "mặt đen khói đạn, chặn đường giặc lui".

Tố Hữu để hết tấm lòng yêu nước, yêu Ðảng, yêu dân vào một người, người anh hùng kiệt xuất, người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và của Ðảng: Hồ Chủ tịch. Trong bài "Sáng tháng Năm", hình ảnh Hồ Chủ tịch là hình ảnh của người cha thân yêu và hiền từ, là hình ảnh chói lọi làm "trong sáng lòng anh xung kích", làm "vững tay người chiến sĩ nông thôn", vững tay anh công nhân quốc phòng, em học sinh đốt đuốc đến trường làng và "các chị dân công mòn đêm vận tải".

Lãnh tụ của chúng ta vĩ đại, vì Người là biểu hiện tập trung nhất những đức tính cao quý của dân tộc. Tố Hữu ca tụng lãnh tụ qua tình cảm của quần chúng đối với lãnh tụ.

Giọng của Người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước
... Người là Cha là Bác là Anh
Quả tim lớn lọc trăm giòng máu nhỏ

Qua những bài thơ ca tụng lãnh tụ, Tố Hữu đã tăng cường lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp của dân tộc dưới lá cờ vinh quang của Hồ Chủ tịch.

Ngoài bài "Sáng tháng Năm", trong những bài thơ khác cũng như hình ảnh người chiến sĩ, hình ảnh của Hồ Chủ tịch vĩ đại bao giờ cũng là hình ảnh tươi sáng nhất, bao trùm tất cả.

Ðiều làm người đọc thông cảm nhất với hình ảnh những người con yêu quý của nhân dân ta trong thơ Tố Hữu là những hình ảnh ấy gắn chặt với đất nước, dân tộc, quê hương. Ðây chính là phần mà thơ Tố Hữu hấp dẫn bạn đọc nhiều nhất, nâng cao tình cảm của chúng ta nhiều nhất. Và đây cũng chính là phần sáng tác tươi nhất trong tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Ðọc thơ Tố Hữu, chúng ta càng tin tưởng nhân dân ta anh hùng, đất nước ta đẹp đẽ, quê hương ta đầm ấm.

Hình ảnh vĩ đại của Hồ Chủ tịch là hình ảnh rộng lớn của đất nước:

Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non

Bên cạnh hình ảnh bộ đội gặp nhau lưng đèo Nhe là:

Cánh đồng quê tháng mười
Thơm nức mùa gặt hái
Người chiến sĩ trên chiến trường Tây Bắc
Mỗi bước, vàng theo đồng lúa chín
Lửa vui từng mái nứa tươi xanh

Và còn cảnh nào đẹp hơn khi chiến sĩ chiến thắng trở về:

Anh về cối lại vang rừng
Chim reo quanh mái, gà mừng dưới sân
Anh về sáo lại ái ân
Ðêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca

Em Lượm, em bé giao thông anh dũng hy sinh vì nhiệm vụ, thi sĩ lặng người lại trước "một giòng máu tươi", nhưng em Lượm hy sinh mà em Lượm không chết. Tố Hữu đặt em Lượm nằm trên cánh đồng lúa vàng rượi, tượng trưng cho lẽ sống:

Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng

Người chiến sĩ anh dũng tuyệt vời của chúng ta ở trên chiến trường một khi ngã xuống:

Máu của anh chị, của chúng ta, không uổng
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng

Ðất nước và con người, cảnh và người đối với Tố Hữu không thể xa rời, nhưng đất nước tốt đẹp là do người làm nên, cảnh vật vui tươi cũng là do người quyết định. Ðối với Tố Hữu cảnh vật đất nước của chúng ta bao giờ cũng vui cũng tươi cũng đẹp và cái vui tươi trong thơ Tố Hữu bao giờ cũng biểu hiện một lòng tin vững chắc ở tương lai, vì nhân dân chúng ta chiến đấu ngày nay đã nhìn thấy thắng lợi ngày mai. Tinh thần lạc quan cách mạng tươi sáng ấy xuất phát từ lòng thiết tha yêu nước và lòng tin tưởng ở quần chúng đã tác động mãnh liệt đến người đọc.

Trước cảnh chết, "Giữa thành phố trụi," thi sĩ nhìn thấy mầm sống, thấy sức mạnh, sức mạnh ấy bản thân cảnh vật không có, mà do chúng ta xây dựng nên:

Bàn tay đã nắm lời thề
Ra đi quyết phá, ngày về sẽ xây
Từ trong đổ nát hôm nay
Ngày mai đã đến từng giây từng giờ

Bài thơ "Ta đi tới" đã diễn tả nhân dân vui sướng, quang cảnh tưng bừng của hoà bình, của thắng lợi vĩ đại sau 8, 9 năm kháng chiến. Cảnh và người hoạt động sau thắng lợi của hoà bình ăn nhịp với nhau, con người của chúng ta anh dũng, đất nước của chúng ta đẹp đẽ vô cùng. Cảm xúc của Tố Hữu rạt rào trên rừng cọ, đồi chè, bến đò, trên những cánh đồng phì nhiêu bát ngát, cảm xúc của Tố Hữu vào tận đáy lòng của mỗi người. Vui quá, thi sĩ như muốn nhảy lên, ôm lấy mọi người, hát lên tiếng hát thắng lợi, nói lên tiếng nói của mỗi dân tộc anh hùng.

Nhưng còn nửa nước ta chưa giải phóng. Trong nỗi vui mừng của thi sĩ sáng lên lòng tin tưởng ở sự thống nhất nước nhà:

Dù ai nói ngả nói nghiêng,
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Dù ai rào rậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ
Sáng lên sức mạnh của dân tộc ta:
Ta đi tới trên đường ta bước tiếp
Rắn như thép, vững như đồng
Ðội ngũ ta trùng trùng điệp điệp
Cao như núi, dài như sông
Chỉ ta lớn như biển Ðông trước mặt!

Cảm xúc của Tố Hữu đối với những con người, đối với đất nước, Tổ quốc quê hương còn đằm thắm hơn một khi nó biểu hiện lên như tình yêu vợ chồng, tình mẹ con.

Ðối với anh bộ đội ra tiền tuyến xa xôi "yêu bầm, yêu nước, cả đôi mẹ hiền".

Việt Bắc là nơi chôn rau cắt rốn của cách mạng, là căn cứ địa của kháng chiến. Hòa bình trở lại, Chính phủ, Trung ương Ðảng về Hà Nội. Mỗi người chúng ta đều nhớ Việt Bắc, nhớ những bà mẹ, những người chị đã nuôi nấng chúng ta, nhớ anh du kích đã dẫn đường cho chúng ta, nhớ núi rừng đã giúp ta chặn tay giặc, nhớ suối, nhớ nương, nhớ rẫy, nhớ những bãi rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, những ngày xuân hoa mai nở trắng. Nỗi nhớ nhung ấy đối với Tố Hữu âu yếm lạ lùng. Trong những lời nhắn nhủ say tình của bài "Việt Bắc", chúng ta không còn phân biệt Việt Bắc và Tố Hữu, tiếng nói của Việt Bắc và của Tố Hữu là của hai người, nhưng nó lại nằm trong một người. Và thắm thiết gì hơn khi nỗi nhớ nhung ấy biến thành nỗi nhớ nhung của đôi trai gái yêu nhau hàng chục năm ròng mà phải xa cách!

Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu
Nhớ gì như nhớ người yêu

Tố Hữu, nhà thơ của chúng ta, đưa tình yêu vào trong thơ để nói lên lòng yêu chân thành đối với Tổ quốc với đất nước. Tình yêu đối với Tố Hữu cũng như đối với tất cả những người chiến sĩ cách mạng không phải là mục đích mà nó là động cơ cách mạng. Nói đến tình yêu trong tập thơ Việt Bắc, chúng ta không quên nhắc đến những bài thơ dịch của Tố Hữu "Ðợi anh về", "A-lê-sa nhớ chăng" (của Ximô-nôp).

Tố Hữu cảm thông với thi sĩ Ximô-nôp và đồng thời giới thiệu với chúng ta những tình yêu cách mạng. Con người cách mạng là con người xúc cảm nhất, con người biết yêu đằm thắm và cũng biết cách giữ gìn và bảo vệ tình yêu ấy, tình yêu ấy là động cơ thúc đẩy chúng ta thêm mạnh trên đường chiến đấu bền bỉ và lâu dài.

Bộ đội, cán bộ nhân dân thích đọc thơ Tố Hữu, nhớ thơ Tố Hữu, vì thơ Tố Hữu đã nói lên khá mãnh liệt tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu Tổ quốc, khêu gợi trong lòng chúng ta sức tin tưởng ở chúng ta, ở những con người lao động đã chiến đấu, sản xuất và đang xây dựng, bồi dưỡng thêm tinh thần lạc quan cách mạng của chúng ta của nhân dân ta, vì thơ Tố Hữu đã hun đúc thêm chí căm thù, nâng cao chí khí chiến đấu của chúng ta quyết tâm bảo vệ quê hương và đất nước.

Nhưng đọc tập thơ Việt Bắc, chúng ta chưa thỏa mãn. Tuy ca tụng người chiến sĩ bộ đội là Tố Hữu đã ca tụng người nông dân, tình cảm, sức mạnh của người chiến sĩ trong thơ Tố Hữu là tình cảm, sức mạnh của người nông dân, những bà mẹ, những người chị, người vợ trong thơ Tố Hữu là những nông dân lao động, nhưng chúng ta muốn những người nông dân lao động sản xuất ở hậu phương được nêu cụ thể hơn. Trong tập thơ Việt Bắc, hình ảnh người nông dân sản xuất bị mờ đi trong những tình cảm chung ca tụng đất nước, quê hương.

Tuy trong tất cả những bài thơ của Tố Hữu đã nói lên tư tưởng của giai cấp công nhân, đường lối chỉ đạo của Ðảng, ca tụng Hồ Chủ tịch, nhưng như vậy vẫn chưa đủ, chúng ta muốn hình ảnh Ðảng tiên phong của dân tộc, người công nhân được nêu cụ thể hơn, đầy đủ hơn, chúng ta rất tiếc rằng Tố Hữu chưa nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người đảng viên và quần chúng đối với Ðảng tiên phong của giai cấp công nhân,

 Tố Hữu chưa ghi lại cho chúng ta hình ảnh của người công nhân trên các ngành hoạt động luôn luôn nêu cao chí khí phấn đấu, khắc phục khó khăn, chưa ghi lại cho chúng ta hình ảnh người nông dân đã vươn mình dậy đánh đổ thế lực của giai cấp địa chủ. Chống đế quốc và chống phong kiến là hai nhiệm vụ không thể tách rời trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Trong cuộc đấu tranh chống phong kiến hiện nay của hàng triệu nông dân đang diễn ra gay go ở nông thôn, chúng ta hy vọng ở Tố Hữu những bài thơ nói lên khí thế của nông dân, cũng như Tố Hữu đã ca tụng khí thế của người chiến sĩ ngoài mặt trận.

Thời đại của chúng ta đẹp đẽ vô cùng, sinh hoạt hàng ngày của quần chúng muôn màu muôn vẻ, tình cảm của quần chúng thật dồi dào và chúng ta đang ở trong một thời đại biến chuyển dồn dập. Những màu sắc ấy, những tình cảm ấy Tố Hữu đã cố ghi lại một phần nào nhưng những màu sắc và tình cảm ấy ở một số bài thơ trong tập thơ Việt Bắc chưa được thể hiện cụ thể.

Bài "Ðời đời nhớ Ông" mới nói lên những tình cảm chung, nó chưa đi vào tình cảm, hành động cụ thể của nhân dân, nó chưa biểu hiện lên được lực lượng của quần chúng trong sự đau xót xé ruột xé gan khi nghe Sta-lin mất. Hòa bình lập lại, sung sướng nhất là những người lao động sản xuất, những người nông dân vùng tự do cũ cũng như vùng mới giải phóng. Nỗi sung sướng ấy nói lên chưa được hả dạ trong bài "Ta đi tới". Hà Nội sống tủi nhục dưới ách thực dân và phong kiến, tinh thần chiến đấu, chịu đựng của nhân dân Hà Nội, tinh thần quật khởi của công nhân thủ đô đáng lẽ phải được nói lên đầy đủ hơn, rõ ràng hơn trong một bài thơ như bài "Lại về"...

Những bài thơ đăng trong tập thơ Việt Bắc đã nói lên một phần tình cảm tốt đẹp nhất của con người mới của một thời đại mới, dưới một chế độ mới. Tình yêu thiết tha của Tố Hữu đối với quê hương, đất nước, Tổ quốc, lòng tin tưởng vững bền, tinh thần lạc quan cách mạng bao trùm tập thơ của Tố Hữu đã từng kích thích chúng ta trong những năm chiến đấu gay go gian khổ nhất, cũng như trong cuộc đấu tranh ái quốc gay go và phức tạp hiện nay. Ðọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu chúng ta được nuôi dưỡng thêm tinh thần và tình cảm mạnh mẽ đó. Về mặt nghệ thuật thì những thành công đó chính là những thành công của chủ nghĩa hiện thực cách mạng, của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng trong thơ.

Tố Hữu là một thi sĩ cộng sản. Tập thơ Việt Bắc trào lên lòng yêu nước nồng thắm chứng tỏ thêm một nguyên lý: những người cộng sản là những người tha thiết yêu mến Tổ quốc của mình, yêu mến nhân dân của mình và suốt đời tận tụy đấu tranh cho sự nghiệp của dân tộc.
Nguồn: Nhân dân, số ra ngày 24.1.1955



TRẦN DẦN                                                              
 Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu [1]

 Tôi muốn nói tới cách nhìn của nhà thơ Tố Hữu (trong tập Việt Bắc) đối với cuộc đời, đối sự thực.
 Điểm thứ nhất: thơ Tố Hữu không có cách nhìn mới nào rõ rệt.
 Điểm thứ nhất là cách nhìn của Tố Hữu không có gì là đặc sắc cả. Người ta hay nói tới cá tính của một nhà thơ. Đó là một điều rất hệ trọng. Vì rằng cá tính của nhà thơ rõ rệt hay mờ nhạt, đặc sắc hay tầm thường là nó chứng tỏ nhà thơ đó sống và viết có ý thức sâu sắc hay nông cạn về vị trí của mình, của nghề nghiệp mình trong mối liên quan chung xã hội. 


Nói cách khác, cá tính biểu hiện trình độ thức nhận của thi sĩ đối cuộc sống. Người ta có thể nhận ra câu thơ này câu thơ khác là của Huy Cận, là giọng Hoàng Cầm hoặc giọng Xuân Diệu … Vẫn biết rằng còn phải xem cá tính ấy thế nào, nhưng ít nhất nhà thơ phải tới mức có cá tính. Đằng này, người ta khó có thể nhận ra câu thơ nào gọi được là giọng Tố Hữu. Cá tính nhà thơ mờ nhạt quá. Tố Hữu có một số câu người đọc nhớ, những câu thơ hay ấy có thể ký Nguyễn Du, Tản Đà hay một loại ca dao nào đó. Đây không phải là chuyện “dựa vào vốn cổ” – mà là một lối dưạ kém phát triển, chưa tới mức dựa mà thoát ly khỏi nó, sáng tạo thành một cái mới hẳn hoi (như bài Voi ơi voi ơi thật là một kiểu bắt chước nhạt nhẽo). 

Những câu hay nhất của Tố Hữu mang cái không khí thơ xa. Tố Hữu nhìn cuộc sống mới, con mắt chưa xuyên qua được cái màng cổ cũ. Lê Đạt nhận xét cô đúc rằng, Tố Hữu nói tới những chuyện mới mà không hiện tại, là như vậy. Tôi đồng ý với Lê Đạt: Tố Hữu hay đẩy lùi hình ảnh mới vào quá khứ. “Trung ương, chính phủ luận bàn việc công…”, cái khí phách hội họp cuả trung ương, chính phủ không giống thế. Điều này làm ta suy nghĩ nhiều về phát triển vốn cũ. Nếu không tả được đúng dân tộc ta hôm nay, – nó vừa rất mới lại vừa rất kế thừa cái cũ, – thì không thể nói dân tộc tính được.


 Còn nói chung, thơ Tố Hữu rất nhiều cái lười biếng. Ý, lời tầm thường. Tầm thường chứ không phải giản dị phong phú. Như là lời thì rất nhiều cái kiểu: “lòng ta xao xuyến rung rinh”, “chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt, hai là tù binh”, hoặc “đời vẫn ca vang núi đèo”, hoặc“cụ Hồ sáng soi”.  Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy thử đọc lại tập Việt Bắc, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa. Cũng như lời, ý thơ Tố Hữu không đặc sắc. Tố Hữu nhìn vấn đề gì, chỉ thấy những công thức bề mặt của vấn đề ấy. Phá đường: nhà neo việc bận vẫn đi, – làm thì thi đua – thi đua kết quả thì mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc … xem ra thì có vẻ đúng chính trị.

 Nhưng xét sâu xem? Tinh thần phá đường nó yếu quá (mặc dầu giai đoạn phòng ngự). Ta đi tới nó tản mát quá. Thơ Tố Hữu hay nói dàn ra cho đủ vị. Người chính trị giỏi không phải là người chạy quanh cho đủ mọi vấn đề, mà là người biết xoáy mạnh vào điểm chính để giải quyết. Thơ hiện thực cũng đòi hỏi nhà thơ – như nhà chính trị – giải quyết cái chủ chốt của vấn đề cho tâm hồn người đọc. Chứ không đòi hỏi làm như một anh cán bộ tuyên truyền xoàng xĩnh, nói dàn mỏng vấn đề ra, la liệt đủ các mặt như bày hàng xén. 

Tố Hữu chú trọng quá nhiều cho đúng cái chính trị bề mặt, cố nói cho đủ, mà thường thường cái chính trị bề sâu không đúng: hơi thơ Tố Hữu yếu quá, khí thơ Tố Hữu thiếu cái tấn công mạnh mẽ của nhà chính trị biết dồn tâm sức, dốc khả năng vào điểm chính… Không phải như một số bạn bảo vì đây là loại “thơ trữ tình” nên nó mềm, nó nhẹ như vậy. Không! Con người mới rất khỏe trong mọi vấn đề lớn, nhỏ, chung, riêng. Cả trong những chuyện đời tư thầm kín, chuyện vui, chuyện buồn. Cả khi “trữ tình”, con người mới vẫn có cái khí phách mạnh mẽ của nó (xem ca dao hay Mai-a-kốp-ski tả ái tình chẳng hạn…). Điểm này làm ta suy nghĩ rất nhiều về thế nào là đúng chính trị. Nếu khí phách thơ thiếu cái tấn công, cái tích cực mãnh liệt thì không thể nói đúng cái chính trị được. Về điểm này, tôi đồng ý với Hoàng Cầm: kiểu chính trị như của Tố Hữu không phải là chính trị thực (Phải nắm cái tinh thần phê bình của Hoàng Cầm, không nên như bạn Đông Hoài căn cứ vào cái chữ mà bẻ quẹo đi).


 Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì lại là lắp lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao… Tố Hữu chưa đem tới một cách nhìn mới mẻ gì. Cách nhìn còn tầm thường. Đó là cái đau khổ của những người làm thơ: hát lên bằng một giọng hát tầm thường.
 Thơ hiện thực đòi hỏi người thi sĩ phải khổ công nghiên cứu tìm tòi trong cuộc sống. Gạt bỏ những công thức bề mặt, đi vào thực chất sự việc. Cũng như nhà chính trị, nhà thơ của công nông phải theo dõi từng hơi thở, từng cái giở mình của quần chúng, cuả thời đại, của dân tộc. 

Càng phải chú ý tới những cái đang sinh thành, hôm nay là gió nhẹ, ngày mai là bão táp. Phải tìm ra được những quy luật mới của khách quan. Không phải đòi hỏi thế là vì thích mới, ham chuộng lạ. Mà chính là vì cuộc sống luôn luôn đổi mới. Người thi sĩ – cũng như người chính trị – đứng dừng lại thỏa thuê với những cách nhìn đã tầm thường, đã công thức – là người sẽ bị cuộc sống vượt qua đầu, vứt bỏ lại. Pê-tô-fi bảo “hãy im đi” – và gọi tên là bọn “ca sĩ lạc hậu” những thi sĩ nào không đem tới một cách nhìn mới, – nói đúng hơn, không khám phá được những cái mới sẵn có trong thực tế.


 Phải nói ngay rằng thơ ca quần chúng tuy nói chung còn lõm bõm bản năng tự nhiên, nhưng có những viên ngọc thật sáng tạo. Sự làm việc sáng tạo của họ làm cho cách nhìn và thơ ca của họ nhiều sáng tạo. Họ không biết lý luận hiện thực, nhưng chính chủ nghĩa hiện thực ở quần chúng, cũng như xã hội tương lai. Đừng nên lo là họ sẽ rụt rè không dám làm thơ nữa. Bão to cũng không thể làm đổ trời, cuộc nghiên cứu này chỉ có khuyến khích chứ không ngăn nổi triệu triệu người tiếp tục làm thơ đâu. Có thể chỉ một số nhỏ đã hay sắp vào chuyên môn có thể rụt rè, sợ lý tưởng thơ cao quá. 

Tôi thường thấy con người ta kém cỏi, rụt rè chính là vì lý tưởng nó thấp. Hay không có lý tưởng. Chứ không phải vì lý tưởng nó cao. Thơ hiện thực là của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Nó cao thực, người thi sĩ phải mất máu trên một vần thơ như một chiến sĩ mất máu trên một lô-cốt địch. Nhưng nó cũng dễ thôi, quần chúng vẫn làm, đã đạt được một số câu. Ai muốn dễ thì phải cố chịu khó làm như quần chúng: sống chết nhọc nhằn, mồ hôi máu đỏ. Những vần thơ hay nhất mới nhất là những vần thơ lăn lộn trong cái thực tế mưa bão ấy. Cá tính thơ Tố Hữu còn mờ. Sự thiếu sót thực tế làm cho Tố Hữu chưa thoát khỏi cái nhìn tầm thường và ảnh hưởng thơ xưa.


 Điểm thứ hai là cách nhìn của Tố Hữu thật nhỏ bé quá.
  Nhìn vấn đề gì, vấn đề ấy thu hẹp lại. Yêu ai người ấy nhỏ đi.
Nhìn chiến sĩ: nhìn vào bề sâu lớn lao khí phách của chiến sĩ thì ít. Mà lại nặng về những tiếng kêu trừu tượng (Anh vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế?), những hình dung từ dồn dập (người bạn đường anh dũng – anh chiến sĩ hiền lành) – những cái nét hình thức (bóng anh nắng chiều, v. v…). Hình ảnh chiến sĩ thu nhỏ lại.
 Nhìn Hà Nội: yếu đuối, đợi chờ.
Nhìn bà mẹ bộ đội: thương xót, chán nản.

Nhìn Việt Bắc: xa vắng, heo hút. Người ở lại, người về xuôi đều nhỏ lại trong một khung cảnh hắt hiu.
Nhìn Triều Tiên: yếu ớt, ỷ lại. Không phải cái chính là vì Tố Hữu dùng hình ảnh em bé. Cái chính do cách nhìn em bé đó thế nào?
 Nhìn lãnh tụ: chỗ thì hình thức gượng gạo “chòm râu mát rượi hòa bình”. Chỗ thì tả thành một đạo sĩ tầm thường nhàn tản  “ung dung yên ngựa bên đường suối reo” (có thể tả lãnh tụ đi chơi, nhưng phải tả khác …). Nói chung thì “công thức cha già” nặng.

 Không thấy lãnh tụ vừa là cha, vừa là con đẻ của quần chúng. Chỗ thì tả lãnh tụ mênh mông, – thi sĩ và quần chúng bé nhỏ đi dưới cây chì đỏ của lãnh tụ. Lãnh tụ như núi, quần chúng li ti như kiến con. Hình ảnh không cân xứng, – định làm to – vô tình hóa ra làm nhỏ bé lãnh tụ đi, làm sai lệch sự liên quan giữa lãnh tụ và quần chúng. 

Không phải là phủ nhận một vài nét khá sáng tạo của Tố Hữu, như tả lãnh tụ “trẻ mãi không già”, nêu lên được nét Hồ chủ tịch là người thanh niên số một. Nhưng nói chung bản chất người lãnh tụ kiểu mới: Vừa phi thường vừa tầm thường, – vừa độ lượng vừa nguyên tắc, vừa hành động vừa trí tuệ, vừa giản dị vừa phong phú, vừa đạo đức vừa không công thức gò bó, … – bản chất ấy bị thu nhỏ lại trong kính thơ Tố Hữu. Chính vì lòng yêu lãnh tụ, gắn liền với lòng yêu giai cấp, yêu dân tộc thúc giục ta nên mạnh dạn làm thơ về lãnh tụ, – nhưng không thể khuyến khích ta thỏa thuê ở mức ấy.


 Nói thêm, Tố Hữu nhìn sự hy sinh của quần chúng thế nào? Như trong bài Phá đường, cứ tạm cho chị nữ dân công đó rõ là một quần chúng tốt, Tố Hữu tả chị ấy nhà neo, con bế con bồng, ngô sắn bề bộn. Vậy mà “em cũng theo chồng đi phá đường quan”. Sự hy sinh như thế mà buông nhẹ tênh trong một câu thơ như vậy!

 Người ta hay nói tới lòng yêu nước của thơ Tố Hữu. Người ta bảo đối với Tố Hữu, tổ quốc cụ thể ra là những bà mẹ, những người chiến sĩ, những công việc kháng chiến (phá đường, về Hà Nội, xa Việt Bắc, v.v…). Tôi cũng đồng ý vậy. Nhưng mà đối với những điểm cụ thể ấy, con mắt Tố Hữu đã thu bé nó cả lại. Không phải là đem cộng máy móc lại, nhưng vì những yếu tố tạo nên nó đã nhỏ yếu cả, hóa ra tình yêu nước của nó cũng bé bỏng đi. Lê Đạt cũng đã nhận xét cái căm thù rất yếu trong thơ Tố Hữu làm cho tình yêu nó mỏng mảnh. Yêu nước, căm thù, chúng ta đều muốn những vần thơ không nên “tí ti yêu nước, tí ti căm thù”. 

Chúng ta muốn như Mai-a-kốp-ski nói:
         Đồ sộ yêu thương
         Đồ sộ căm thù
Muốn thế, vì đó là thực tế của dân ta, thời đại ta, thực tế cuộc chiến đấu võ trang hôm qua và hòa bình hôm nay. Mỗi nhà thơ một cách nhìn, một cách nói khác nhau, nhưng đều có cái căm thù, thương yêu đồ sộ ấy.
 Có người bảo không thể đòi hỏi trong một tập thơ nhỏ mà tả chiến sĩ, người mẹ, phá đường, Việt Bắc, Hà Nội, v.v…đều là hay cả. Không, không! … Người thi sĩ có một cách nhìn lớn thì không cần một tập thơ đâu. Mà bất cứ một bài, một câu, một ý, nói cái gì cũng thành lớn, vạch một nét nào cũng là nét lớn cả. Chuyện lớn bé không phải chuyện dài ngắn, – cũng không phải là chuyện đề tài. Mà là chuyện cách nhìn, cỡ trình độ nhận thức sự vật.


 Điểm thứ ba là cách nhìn Tố Hữu hay bao phủ lên vấn đề một cái buồn yếu đuối.
 Điểm này Hoàng Yến, Hoàng Cầm và nhiều bạn đã phân tích nhiều. Những người bênh vực thơ Việt Bắc nhất trước kia không nhận, bây giờ cũng đã nhận rằng cái buồn trong thơ Tố Hữu là một sự thực khách quan, – không phải do bịa đặt người phê bình. Mà đây không phải cái buồn xốc người ta lên hành động, không phải cái buồn tới căm thù của những hy sinh mất mát, dổ vỡ trong chiến tranh. Mà lại là một thứ buồn nó “ru”, yếu đuối và nhẹ. Điều đó bây giờ đã được công nhận nhiều rồi. Cuộc nghiên cứu thơ Tố Hữu hôm nay đã tiến được một bước ấy. Nhưng mà vấn đề căn bản vẫn chưa chuyển nhích: chất tiểu tư sản là chính của thơ Việt Bắc hay chỉ là cái rơi rớt phụ?


 Tôi đồng ý với Hoàng Cầm, Lê Đạt và nhiều bạn khác rằng: căn bản thơ Tố Hữu là kiểu thơ tiểu tư sản đi theo cách mạng. Cách nhìn tầm thường, nhỏ bé, buồn yếu đuối, lại còn rơi rớt cách nhìn thơ xưa. Một cái kính thơ như vậy, thu hẹp cuộc sống lại như một hòn non bộ xinh xắn, chưa phải là cái kính thơ vĩ đại của công nông. 

Tôi nói tiểu tư sản cách mạng, tức là nói cái ưu cũng ở đấy, cái khuyết cũng ở đấy. Tiểu tư sản rất nhiều, mỗi người còn ít nhiều chút tiểu tư sản, nên thơ Tố Hữu cũng có thể ngâm ngợi được. Nó có ích trong phạm vi ấy. Nhưng nếu nói nó đã là công nông, là dân tộc, là thời đại, là hiện thực thì quả là sai sự thực. Dân ta, công nông ta, thời đại ta không phải là tầm thường nhỏ bé, yếu đuối như thế. Nếu không nhận rõ điều đó, thì thật là tai hại cho tác giả, cho quần chúng, cho thơ hiện thực.


 Rất rõ rệt là Tố Hữu có những thiện ý, có cố gắng. Cố phục vụ chính trị. Cố theo sát đề tài trước mắt. Cố quần chúng. Cố dân tộc. Cố điêu luyện thơ nữa. Nhưng chưa đủ mức thoát khỏi cách nhìn tầm thường, nhỏ bé, buồn, yếu ớt, – cho nên cái đạt được của Tố Hữu đi vào đường thơ hiện thực mới chỉ là hình thức. Không lấy làm lạ rằng thơ Tố Hữu có nhiều mâu thuẫn chưa thống nhất. Có vẻ chính trị mà chỉ là chính trị công thức. Có vẻ dân tộc, quần chúng mà thực chưa phải. Có vẻ phục vụ trước mắt mà thực là không hiện tại. Có vẻ điêu luyện thơ mà thực còn rất nhiều cái dễ dàng, lười biếng.


  Phê bình thế có phải là do tính khe khắt không? Có phải vì vị trí của Tố Hữu, vì Tố Hữu là một cây bút khá lâu năm nên ta cứ khắt khe không? – Một nghìn lần không phải.
 Người ta hay nói tới quần chúng, thời đại. Tôi rất đồng ý quần chúng, thời đại là người giám sát tối cao quyết định nghệ thuật. Thơ hiện thực là của quần chúng. Chính cuộc nghiên cứu thơ này tức là thời đại đang xét thơ Việt Bắc, mới là một lần đầu. Thời đại ta chưa có kết luận gì. Nhưng phải thấy rằng thời đại chúng ta vô cùng vô tư, khách quan, trọng sự thực. Và cũng rất vô cùng nâng đỡ nghệ sĩ. Không phải chỉ nâng đỡ ngòi bút mới – mà càng phải nâng đỡ ngòi bút cũ (tuy nhiên cách nâng đỡ khác nhau, vì khó khăn, điều kiện hai đằng khác nhau). 

Chúng ta nâng cao lá cờ thơ hiện thực, nên phải nhìn cho đúng thơ Tố Hữu đã cố gắng đi được tới tới mức nào, – con đường tiếp tục còn gian nan gấp mấy? Vậy ra chưa có thi sĩ nào hiện thực, chân chính của công nông ư? Tôi thấy quả như vậy. Không có gì mà sốt ruột, chuyện nghệ thuật phải tính hàng chục, hàng trăm năm. Chúng ta mới là lúc bình minh, ánh sáng còn non nhạt. 

Nhưng mà ta đã có hàng vạn vạn câu thơ còn tản mát do bàn tay quần chúng tạo nên, rất xứng đáng gọi là công nông. Chỉ có cái những người chuyên môn có chịu vất vả sống chết đấu tranh như quần chúng không? Nếu như vậy, ta sẽ đẩy được mặt trời lên đỉnh sáng. Đối với Tố Hữu cũng như mọi nhà thơ, chúng ta chân thành đề nghị: lăn xả vào thực tế, mở rộng cách nhìn, sáng tác mạnh bạo tự do. Tổ quốc khó khăn hôm nay đang gọi tên chúng ta với những vần thơ vất vả, tìm tòi, mới mẻ hơn.
   Tháng 5-1955  

 Nguồn: Trần Dần ghi, /Phạm Thị Hoài biên tập và hiệu đính/ Paris: td mémoire, 2001, tr. 141-148
 [1] Bài này của Trần Dần đương thời không đăng báo; người sưu tầm đã không đưa bài này vào bản in giấy sách Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ ‘Việt Bắc’ (in năm 2005).


LÊ ĐẠT PHÊ BÌNH THƠ TỐ HỮU

Tranh luận về tập thơ Việt Bắc: Giai cấp tính trong thơ Tố Hữu
Phê bình thơ Tố Hữu có phải để đánh giá một người không? Nếu thế thì chúng ta cũng chẳng phải tranh luận nhiều làm gì.

Yêu cầu của chúng ta lớn hơn. Chúng ta muốn nhân tập thơ Tố Hữu đề cập đến vấn đề hiện thực trong thơ, đến vấn đề đấu tranh cho chủ nghĩa hiện thực mới, nó là một vấn đề sống còn của văn nghệ hiện nay. Cán bộ chúng ta chịu trách nhiệm trước phong trào, cũng như trước quần chúng. Cho nên thích hay không thích cũng phải đứng trên yêu cầu đó. Trong những cái thích hay không thích lẫn lộn, nhiệm vụ của chúng ta là phải rút ra những nguyên tắc, những nhận định căn bản để hướng dẫn dư luận, hướng dẫn cái thích của quần chúng.

Một tác phẩm được hoan nghênh nhất định là có một giá trị nào. Nhưng hoan nghênh như thế không có nghĩa là đã hiện thực, đã tiêu biểu được cho cái mới.

Bây giờ không ai còn "bốc"như Xuân Diệu, ca tụng thơ Tố Hữu là tiêu biểu cho thời đại, là lá cờ dẫn đầu của thi ca Việt Nam nữa rồi. Người ta suy nghĩ chín chắn hơn và bắt đầu dè dặt.

Hoàng Cầm và một số anh em thấy thơ Tố Hữu buồn. Nhưng tại sao buồn? Thực chất của cái buồn đó như thế nào?
Hoàng Yến và một số anh em khác nhận xét tập Việt Bắc không hiện thực, không thể hiện được cuộc sống nhiều mặt của thực tế. Nhưng vì đâu mà không hiện thực?

Căn bản của vấn đề là ở đâu?
Nếu ta cứ trích từng bài hay từng câu, chẻ sợi tóc ra làm tư để phân tích, phê phán thì khó có thể dẫn đến kết quả mong muốn.

Tính chất hiện thực của một nhà thơ không phải chỉ nằm trong một câu hay một bài mà ở toàn bộ những bài thơ, không phải ở một vài chữ, một vài hình ảnh, một vài ý, mà ở toàn bộ điệu thơ nó là điệu tâm hồn của tác giả.

Mà nói đến hiện thực là phải nói đến giai cấp. Căn bản của vấn đề hiện thực là vấn đề giai cấp. Thực chất của cái buồn trong thơ Tố Hữu cũng là vấn đề giai cấp. Tách rời khỏi vấn đề giai cấp sẽ không thể nào bàn đến vấn đề hiện thực một cách sâu sắc và triệt để được. Tách rời khỏi vấn đề giai cấp thì cũng như thầy bói xem voi, người sờ được cái vòi, người sờ được cái tai, mà không hiểu được toàn thể con voi như thế nào.

Ði tìm tính chất giai cấp trong thơ Tố Hữu, ta thấy gì?

Ta thấy tác giả có nhiều cố gắng đi tới công nông, nhưng vì sự thâm nhập thực tế của tác giả còn thiếu sót nên trong thơ của Tố Hữu còn rơi rớt nhiều tính chất tiểu tư sản biểu hiện ở tính chất ngậm ngùi, buồn buồn, ít hành động, nó toát ra từ đại bộ phận những vần thơ của Tố Hữu, nó là cơ sở của điệu tâm hồn Tố Hữu. Cái điệu ngùi ngùi, heo hút ấy nó không phải là thực chất tâm hồn của công nông, tâm hồn yêu đời tự tin của những người chiến thắng, chiến thắng kẻ thù, chiến thắng hết thảy để xây dựng lại xã hội.

Người ta thường ca ngợi thơ Tố Hữu nhiều tình. Hình ảnh của những bà mẹ thật đằm thắm, nhưng ngùi ngùi làm sao! Bà mẹ giữa cảnh "heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn", "chân lội xuống bùn tay cấy mạ non" mong manh buồn tủi quá.

Nói đến bộ đội cũng thế, Tố Hữu nghĩ ngay đến
Người lính trường chinh áo mỏng manh

Bước run bước ngã, bước lầy, bước trơn

Lòng yêu của Tố Hữu làm người bộ đội bé hẳn lại. Tố Hữu mang cái ngậm ngùi, cô đơn tiểu tư sản của mình khoác cho thực tế.

Cái yêu mến của Tố Hữu còn nhiều rơi rớt xót xa của thời đại trước, cái xót xa của con người bất lực trước xã hội, con người chưa nhận thức được đầy đủ sức mạnh của tập thể, chưa khắc phục được cái buồn thương tiểu tư sản. Về bài “Việt Bắc” cũng thế, tác giả đã nhuộm bài thơ trong một màu ly biệt ảm đạm, heo hút:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già.

Ta thấy Việt Bắc nhỏ bé quá. Việt Bắc sướt mướt như một người đàn bà sợ bị tình phụ. Có người nói bài Việt Bắc âm điệu phong phú, hình ảnh đằm thắm nghe hay lắm.

Nhưng kết quả bài thơ dạy ta cái gì, cho ta cái gì? Ðọc xong bài thơ, thương nhớ ngậm ngùi tràn ngập lòng ta.

Bài thơ làm ta rung động. Nhưng thơ có phải chỉ là rung động thuần túy theo cảm tình đâu, thơ còn là tư tưởng, là hành động. Xét một tác phẩm không thể chiều theo những rung cảm chưa được giáo dục kỹ của mình.

Nói như thế không phải chúng ta không chủ trương nói buồn nói nhớ. Trong kháng chiến, trong cuộc đời mới lớn lên của chúng ta có bao nhiêu vui, buồn, nhớ, thương, giận, ghét, nếu bóc hết cả đi thì còn gì là đời sống con người nữa? Phải nói, nói hết, nhưng nói gì thì nói, kết quả cũng phải làm ta thêm yêu, thêm giận, thêm tin tưởng, thêm quyết tâm chiến đấu. Chúng ta chống là chống "tình cảm chủ nghĩa" tiểu tư sản, yếu ớt, cũng như chúng ta chống chủ nghĩa công thức bất cứ bài gì cũng phải nhét các thứ khẩu hiệu vào cho đủ mặt hàng.

Lại có người nói: "Bài ‘Việt Bắc’ phản ảnh được đúng sự nhớ thương của tôi khi tôi rời trên ấy về xuôi". Ðúng. Mới đầu tôi đọc tôi cũng thấy thế. Nhưng vấn đề là cái "tôi" nào? Trong mỗi người, ta không nên quên, đều có hai cái "tôi": cái "tôi" cũ và cái "tôi" mới. Nhiều lần ta cứ nhầm cho rằng cái "tôi" cũ, cái "tôi" tiểu tư sản, đại diện cho mình. Không! Cái "tôi" mới, cái "tôi" của thời đại, của Ðảng, mặc dầu sinh sau đẻ muộn, đôi khi còn non, nhưng cái "tôi" đó mới xứng đáng đại diện cho chúng ta.

Nhiệm vụ của văn nghệ là giáo dục những tình cảm lớn, giúp chế độ đào tạo thêm những anh hùng; nếu thấy gì viết thế, cảm xúc thế nào, viết thế ấy, sẽ rơi vào tự nhiên chủ nghĩa, không những không có lợi mà còn có hại.

Thơ Tố Hữu không những có nhiều rơi rớt tiểu tư sản mà còn nhiều rơi rớt phong kiến nữa.

Không thể quan niệm một cách quá giản đơn như Vũ Ðức Phúc, nhất định cho rằng "một người đã vào sinh ra tử bao nhiêu năm trời như Tố Hữu"... nhất định phải như thế này như thế khác. Suy luận như vậy rất dễ dẫn đến những nhận xét chủ quan sai lầm. Nếu thế thì cần gì phải xem thơ mới phê bình được, chỉ xem tên tác giả hay lý lịch tác giả có lẽ cũng quá đủ rồi.

Ðể dẫn chứng tôi xin phân tích một số tình cảm lớn của thời đại trong thơ Tố Hữu. Tôi sẽ không nói về tình cảm đối với Ðảng vắng mặt một cách quá rõ rệt trong tập thơ (ngoài mấy câu khô khan:

Buồm là Lao động
Gió là Ðảng ta

in ở đầu tập thơ, tình cảm đối với Ðảng còn có gì trong suốt tập thơ?) và tình cảm đối với chế độ cụ thể trong tình cảm đối với nông dân chuyển mình trong cách mạng ruộng đất.

Tôi chỉ đề cập đến vấn đề tình cảm đối với lãnh tụ. Trước hết phải nói ngay trong những bài thơ ca ngợi lãnh tụ của chúng ta những bài thơ của Tố Hữu tương đối là những bài trội nhất.

Nhưng cũng cần phải phê bình nghiêm khắc, vì tôi cho tình cảm trong những bài đó chưa thật đúng với nhân sinh quan mới. Còn nhiều rơi rớt phong kiến quá, chưa thể hiện được đúng bản chất của lãnh tụ cách mạng.

Nói về Bác, Tố Hữu viết trong bài “Việt Bắc”:

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Ta thấy một ông già tiên phong đạo cốt, nhàn tản đi giữa một cảnh thần tiên, thong dong một cách rất Lão Trang. Từ một người chiến đấu cách mạng kết tinh đến cao độ cái phần sâu sắc nhất của triết học phương đông với cái hành động mau lẹ, sáng suốt, quyết liệt của một người Bôn-sê-vích, tác giả do cái thích thú chủ quan của mình, đã đẩy lùi hình ảnh lãnh tụ vào quá khứ. Một người mới nhất, đẹp nhất, cao quý nhất của dân tộc, qua cái nhìn không đúng của tác giả, trở thành một đạo sĩ tầm thường.

Về bài “Sáng tháng Năm” cũng vậy, trong những câu thơ

Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng, ruộng đồng nước non...
Trán mênh mông thanh thản một vùng trời

tác giả truyền cho ta một cảm giác nguy hiểm là ta thấy ta nhỏ bé quá. Hình ảnh lãnh tụ choán hết cả. Lãnh tụ là một trái núi mà ta chỉ là một con kiến nhỏ.

Theo ý kiến tôi, ở đây bài thơ cũng mắc phải cái bệnh tôn sùng lãnh tụ nhuốm nhiều màu sắc thần thánh hóa phong kiến còn rất phổ biến trong chúng ta.

Lãnh tụ của ta và lãnh tụ phong kiến là hai vấn đề khác nhau ở căn bản. Lãnh tụ phong kiến biệt lập với nhân dân quần chúng. Lãnh tụ phong kiến tự tạo cho mình một uy thế dị thường đè bẹp những con người quần chúng. Lãnh tụ là trời, nhân dân là cát bụi, lãnh tụ là tất cả, nhân dân là không cái gì. Còn lãnh tụ của ta khác. Khác một trời một vực. Lãnh tụ với nhân dân là một. Lãnh tụ là cha của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là con của dân tộc. Hồ Chủ tịch lớn là do nơi đại diện cho những con người cũng lớn vì có đấu tranh cách mạng. Uy tín của Hồ Chủ tịch là uy tín của quần chúng. Cho nên đề cao Hồ Chủ tịch bằng cách xóa nhòa chúng ta đi, làm bé chúng ta đi, là thu nhỏ hình ảnh Hồ Chủ tịch lại.

Tôi lược dịch ra đây một đoạn thơ của Mai-a-kốp-ski nói về Lê-nin để so sánh cho dễ thấy điều đó.

Nếu trên đầu Lê-nin chúng đặt một vòng
hào quangTôi sợ chúng làm lấp mất
Vầng trán thật của Lê-nin
Vầng trán rộng, nhân đạo và sáng suốt
Tôi sợ những đám rước, những đền đài
Lòng chiêm ngưỡng, những nghi lễ
Sẽ làm chết đuối trong nước phép
Lê-nin và tính giản dị của Người
Có thể nào quan niệm Lê-nin
Như một lãnh tụ nhờ phước lành của thượng đế
Nếu Lê-nin có vẻ vua chúa hay thần thánh
Vô cùng căm phẫn và không giữ gìn nữa
Tôi sẽ chặn ngang đám tang
Và vứt vào bọn chiêm ngưỡng mù quáng
Những lời nguyền rủa [1]

Khoẻ mạnh chân tình và tự hào bao nhiêu! Chúng ta tự hào vì lãnh tụ, nhưng lãnh tụ cũng tự hào vì chúng ta.

Tôi nói về một thiếu sót lớn nữa trong thơ Tố Hữu: tính chất xa thực tế, xa quần chúng.

Thơ Tố Hữu nhiều người thuộc thật đấy, dễ hiểu thật đấy nhưng vẫn xa quần chúng, vì quần chúng tính của một tác phẩm căn bản là có nói lên được đúng những băn khoăn mơ ước hàng ngày của quần chúng hay không. Thơ Tố Hữu mới chỉ một phần nào quần chúng ở hình thức. Nội dung của thơ Tố Hữu chưa theo sát được cuộc đời.

Thơ của Tố Hữu thiếu nhiều hình ảnh mới đương nẩy nở trong cuộc đời mới. Thơ Tố Hữu nhiều nhớ thương hơn là hành động. Thơ Tố Hữu ít hiện tại và ít tương lai. Những câu thơ có nhiều truyền cảm của Tố Hữu là những câu thơ buồn thương và nhớ.

Còn khi Tố Hữu đề cập đến những vấn đề hiện tại thì nhiều chỗ sượng và tầm thường:

Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
...Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu

hay

Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tiêu diệt hai là tù binh

và đoạn cuối của bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên”:

Ở Việt Nam các anh nên nhớ
Chính nghĩa thật là đáng sợ...

Tính chất tiểu tư sản và thiếu thực tế còn ảnh hưởng cả đến hình thức những câu thơ. Lời thơ bàng bạc, đèm đẹp như ở một thời gian xa xa nào, những câu lục bát nhiều dáng dấp của Nguyễn Du hơn là của ca dao:

Trông nhau tủi tủi mừng mừng
Lời thề Ðộc lập vang lừng nước non
....................
Mười năm những mấy ngàn ngày
Nhớ không thấy mặt đợi rầy đợi mai
..................
Bao phen tan cửa nát nhà
Ðầu rơi máu chảy biết là mấy thân

Ðôi chỗ giống hệt những câu sáo nhất của thơ Tản Ðà:

Nước trôi nước có về nguồn,
Mây đi mây có cùng non trở về

Chính sự xa rời cuộc sống làm hơi thơ Tố Hữu càng ngày càng đuối. Tác giả phải tiêu dùng vào vốn cũ nhiều quá nên những bài sau (từ bài “Lại về” trở đi) hơi thơ yếu, điệu thơ và hình ảnh cũ lại xâm nhập vào rất mạnh.

Cứ so sánh những bài đầu tập thơ và những bài cuối tập thơ thì thấy rõ. Khi nào Tố Hữu chịu đi sát thực tế thì tính chất ngậm ngùi tiểu tư sản bớt đi, nhưng càng về sau càng xa thực tế, tính chất tiểu tư sản càng ùa vào. Con đường đi của tập thơ Việt Bắc có thể nói là đi từ chỗ tương đối thực tế, sa dần vào khái niệm trừu tượng. Hiện tại thụt chân vào trong dĩ vãng. Quá khứ tấn công mạnh vào thơ Tố Hữu. Nhiều khi ta thấy như thơ Tố Hữu bất lực trong việc diễn tả hiện tại.

Nói về mười năm trưởng thành của dân tộc, sau khi nhớ thương nhắc đến những ngày gian khổ đã qua trong những câu thơ tê tái xót xa:

Nhớ ngày súng mất đạn không
Mùa hè giặc quét mùa đông giặc về v.v...

Tố Hữu nhắc đến cái vĩ đại phấn khởi của hiện tại:

Lòng ta lại thấy ngày mai
Chân đi mỗi bước nở vài bông hoa
..................
Người đi thác chảy qua rừng
Hoa đâu về nở tưng bừng Thủ đô.

Sao mà vắng lặng và xưa cũ thế!

Nhất là bài “Quê mẹ” (chưa in trong tập Việt Bắc), từ ý thơ đến hình ảnh, đến âm điệu nhiều điểm cũ quá. Có những câu:

Mây núi hiu hiu chiều lẳng lặng
Mưa nguồn gió biển nắng xa khơi
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương
Mái nhì man mác nước sông Hương
À ơi tiếng mẹ ru nhè nhẹ
Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường
..................
Lòng ta như nước Hương Giang ấy.

Ta tưởng đâu như thơ hồi 1936.

Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu. Nó là nguyên nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ [2] .

Vì thiếu thực tế nên Tố Hữu phải suy luận. Suy luận lại không trải qua lao động sáng tác gian khổ nên bố cục lỏng lẻo, nhiều bài giống nhau, tham ý, tham lời, thiếu tính chất cô đọng sâu sắc và tổ chức chặt chẽ của một tác phẩm nghệ thuật (Xem “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên”, “Lại về”, “Mười năm” và cả “Ta đi tới” nữa).

Thiếu thực tế, thiếu nghiền ngẫm suy nghĩ thật thấu đáo, không sống bài thơ mình một cách thật sâu sắc, không thể tạo được một bài thơ hay.

Chắc có bạn sẽ nói: "Làm thơ khó thế thì còn ai dám làm?"

Tôi thấy đã đến lúc có thể nói thẳng với nhau là làm thơ rất khó, khó và nhọc như bất cứ một công việc lương thiện nào ở trên đời.

Người ta phải học năm mười năm mới thành một người thợ, sao người ta lại muốn "vẩy bút" thành thi sĩ.

Chúng ta làm thơ cũng như người thợ sản xuất, người nông dân cày ruộng, người cán bộ làm chính trị.

Một số anh em làm thơ hay than phiền là bị một số cán bộ các ngành khác coi thường. Theo ý kiến tôi, lỗi tại các cán bộ kia một phần (vì còn mang nặng cái lối đánh giá của thời đại cũ) nhưng một phần cũng lỗi tại chúng ta. Chúng ta còn chưa thật coi trọng nghề nghiệp của mình.

Từ nãy đến giờ tôi nêu ra toàn những khuyết điểm. Tập thơ không có chút ưu điểm nào chăng?

Không phải. Việc tập thơ còn được một số đông trong quần chúng hoan nghênh đủ là một bảo đảm cho giá trị của nó trong giai đoạn hiện tại.

Thơ Tố Hữu, đứng về một phương diện nào mà nói, là thơ có ích. Tố Hữu có nhiều cố gắng phục vụ công tác chính trị. Tố Hữu hơn một số anh em làm thơ ở chỗ giải thích chính sách bằng thơ có rung cảm mặc dầu rung cảm còn vương vất tàn tích tiểu tư sản. Thơ Tố Hữu nhiều chỗ là những bài học về chính sách tốt.

Nhưng là những bài học về chính sách tốt không phải là đã hiện thực, đã công nông. Ý tốt, ý đúng không phải đã là toàn bộ vấn đề nội dung của Thơ. Vấn đề nội dung, tôi nhắc lại, căn bản là vấn đề điệu tâm hồn của tác giả [3] . Tôi thấy mức giá trị của thơ Tố Hữu, của điệu tâm hồn tác giả tỏa ra trong tập thơ là mức tiểu tư sản cách mạng [4] . Ưu điểm của Tố Hữu là ở đó, nhưng khuyết điểm của Tố Hữu cũng là ở đó.

Chắc các bạn cho là tôi đòi hỏi nhiều quá.
Nhiều và không nhiều.
Nếu bạn chỉ đòi hỏi tập thơ xem được, một tập thơ của một người yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất và so sánh với một vài tập thơ khác để đánh giá thì quả là có nhiều.

Nhưng nếu các bạn muốn đòi hỏi hơn ở thơ Tố Hữu, một nhà thơ hoạt động cách mạng mà bạn tin là còn có nhiều khả năng đóng góp hơn nữa, nếu các bạn muốn đứng vững trên lập trường hiện thực xây dựng một nền thơ Việt Nam chân chính thì chẳng có gì là nhiều cả. Phê bình Tố Hữu cũng là tự phê bình, cũng là phê bình thơ hiện đại nói chung.

Viết đến đây, tôi không thể không nghĩ đến con người Tố Hữu, đến một nhà thơ tương đối được rèn dũa lâu năm trong Cách mạng, tha thiết muốn góp phần tâm hồn của mình vào nền thơ Việt Nam.

Và tôi thấy làm thơ thật là gian khổ. Có khi tư tưởng, trí tuệ mình đã chuyển rồi, mà tình cảm vẫn còn vướng víu ở những đâu! Những rơi rớt của con người cũ bám lấy chúng ta như những kẻ chết đuối vớ được cọc. Ðấu tranh chật vật và gian khổ. Nhưng chúng ta không sợ. Chúng ta là những người làm thơ có lý tưởng tha thiết với Cách mạng, với chủ nghĩa hiện thực như với hơi thở của mình. Và cũng như Cách mạng, hiện thực chính là vấn đề giai cấp, vấn đề công nông.

 Kiểm điểm lại, ta thấy nhiều khi ta quên mất điều đó trong sáng tác, chúng ta còn để buông ngòi bút chạy theo cảm hứng chủ quan của mình, chưa duyệt lại bản thân một cách nghiêm khắc, lấy tư tưởng, tình cảm của công nông làm một cái sàng, lọc những tình cảm yếu ớt tiểu tư sản ra ngoài. Công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi chúng ta nhiều cố gắng trau dồi tư tưởng, tình cảm, quyết tâm đi vào công nông, đồng cam cộng khổ với họ. Không phải một lúc đã có thể có những bài thơ hoàn toàn công nông ngay. Nhưng càng khó khăn, càng hăng hái, càng quyết tâm. Không phải khó khăn mà không dám làm thơ. Chúng ta sẽ còn làm thơ và làm thơ nhiều hơn trước. Qua mỗi bài thơ, ta sẽ tôi luyện tâm hồn của mình. Mỗi bài thơ sẽ là một bậc thang nâng chúng ta lên. Chóng hay chầy tùy khả năng, tùy cố gắng của từng người. Nhưng nhất định là tới, nhất định là xây dựng được một nền thơ hiện thực cống hiến cho Cách mạng. Ðó là lẽ sống của chúng ta.

Văn nghệ, số 68 (11.4.1955)

 Khi Lê Đạt chỉ  trich Tố Hữu, giáp sĩ của Tố Hữu liền nhảy  ra che chắn cho chủ.

Tp thơ Vit Bc thiếu cht sng thc tế

 HOÀNG CẦM

[Nguồn: Văn nghệ, số. 67 (1.4.năm 1955)]

 Sức truyền cảm của đa số bài thơ trong tập Việt Bắc thường thường là đi từ từ, nhẹ nhàng vào lòng người đọc, rồi đi vòng quanh, lởn vởn ở bên ngoài chứ không đột phá vào một khía cạnh nào của tâm hồn cho thật sắc bén.
 Bài “Cá nước”: tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng chỉ nhẹ nhàng lớt phớt:
Mt thoáng lng nhìn nhau
Mt đã tìm hi chuyn
Ðôi b áo qun nâu
Ðã âm thm thương mến.

Từ nguồn gốc sâu xa nào hai người “mới gặp nhau” mà trở nên “thân thiết”, bài thơ không gợi ra được. Ở đây tôi chỉ thấy hai người gặp nhau như một chút “duyên cá nước” rất ít mặn nồng như một cảnh gặp nhau thường, giữa hai người bạn. Sự gặp gỡ, cuộc nói chuyện giữa anh bộ đội và anh cán bộ chưa truyền cho người đọc một phút nào rung động mãnh liệt. Ðọc hết bài thơ tình cảm còn lại trong lòng tôi chỉ thoáng như một cơn gió mát của một buổi trưa hè, dịu dàng, thân mật và hơi gợn một chút buồn. Cái buồn ở ngoài lời. Lời ru cháu xa xôi văng vẳng của một bà cụ già, rồi “chia nhau điếu thuốc lào”, đến lúc “anh về xuôi tôi ngược”, thì cái buồn đã lên tới độ khá cao. Bài thơ êm êm rồi thoảng tan đi, không để lại trong lòng tôi một chút gì gắn bó thiết tha. 

Lòng anh cán bộ của thời đại yêu mến anh chiến sĩ bộ đội không những chỉ có cái bề ngoài ấy mà bên trong còn xoắn xít ràng buộc với nhau như gan với ruột, không thể có gì dằng xé ra được. Bài thơ không nói được bề sâu, chỉ mới thấy bề rộng. Ðọc lần đầu, cái không gian của bài thơ choán lấy tâm hồn tôi một lúc, như bóng rợp một đám mây giữa đường trời nắng. Bóng mây qua… “Tình cá nước” ở tên đề và ở câu kết cũng không bật lên được: cá nước từ đây dường như cũng cách biệt nhau, mỗi bên mang theo một kỷ niệm đẹp, lòng vấn vương như sau một giấc mơ. Ðâu, cái khăng khít, mật thiết cụ thể, từng giờ, từng phút của quân và dân trong một cuộc chiến tranh du kích?


 Ðến tình cảm bài “Phá đường” mở đầu bằng “rét” và kết thúc bằng “gió rét trăng lu”, còn đoạn giữa tả một cảnh lao động bình thường, cặm cụi trong lúc “trăng non mới hé”, tất cả chỉ truyền vào lòng tôi một chút hơi thở nhè nhẹ của công việc phá đường, vẫn đượm một chút hắt hiu. Tại sao lại gió rét? Gió rét ấy có cắt nghĩa được cái gian nan vất vả của việc phá đường không? Tuyệt nhiên là không! Nó chỉ gợi được ra cái buồn. Tôi đã đi qua những nơi nhân dân phá đường hồi đầu kháng chiến. Một buổi sáng mùa hè, một đêm mưa, một trưa nắng gắt. Nặng nhọc vất vả ở hai cánh tay và ở cả trong lòng những người phá đường. Nhưng giặc đã đến đầu ngõ, phải phá ngay, không thì nó đi được nhanh, nó sẽ giết con mình, đốt nhà mình! Ðau đớn, nhưng mạnh mẽ quyết liệt. Bài thơ “Phá đường” cũng lại không truyền được tình cảm đó của thời đại.
 Trong khi đó thì ở “Giữa thành phố trụi” không khí u tối, lạnh lẽo hiện lên ngay từ đầu:
Ðông lnh ghê người
Chiếc lá vèo rơi xung c
Ô ca mt tròn thăm thm
Ai lên tin tuyến đường muôn dm
 Tuy về sau, bài thơ cố gợi ra tương lai:
Ngày mai xanh li tng cây
Ngày mai li đp hơn ry, hơn xưa
T trong đ nát hôm nay
Ngày mai đã đến tng giây tng gi...
 Cái cảm giác chung vẫn là một sự tan vỡ, u uất. Mấy câu sau chỉ là suy luận, khái niệm chứ không truyền cảm. Cái hắt hiu cô đơn ấy lại rõ ràng trong “Bà bủ nằm ổ chuối khô”:
Ðêm nay tháng chp mng mười
Vài mươi ba na tết ri hết năm
Ngoài phên gió núi ù ù
Mưa đêm mưa t chiến khu mưa v...


 Cả bài, câu nào cũng ngậm ngùi, điu hiu vắng vẻ. Mà bà bủ lại “càng nghĩ càng căm thù”. Căm thù ai? Một ý nghĩ rất trừu tượng, đại khái. Cả bài là một tình cảm buồn vắng, nhớ con, nhớ đứa con bộ đội, con đi “bước run, bước ngã, bước ly, bước trơn” và “năm xưa cơm c ngon chi, năm nay cơm gié nhà thì vng con“. Thật rất thương tâm, não nuột! Có một đồng chí bộ đội đọc bài thơ này thấy buồn quá, nói với tôi: “Mẹ tôi không nhớ tôi thế này”.
 Tôi hỏi: “Thế nhớ thế nào?”
“Nhớ hơn thế này, nhưng mà… khó nói quá… không buồn thế đâu!”
 Buồn, lạnh lẽo đến ghê rợn khi tôi đọc:
 Xác ai nm ngn ngang
Bãi tuyết lng quanh làng
Ph đ nhà hoang vng
M ca em đy ư?
Cái thân trng lc lư
Ðu giây treo lng lng
Cha ca em đy ư?
Cái đu lâu rũ tóc
Máu chy dài thân cc
(“Em bé Triều Tiên”)

 Không căm thù, chỉ thấy ghê rợn. Tuy về sau bài thơ cố tạo ra cái không khí chiến đấu rộn ràng vẫn không át được cái ghê rợn ban đầu. Không khí buồn, xa vắng vẫn kéo dài sau cái chết của đồng chí Sta-lin:
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trng nhng băng tang
Ni lin khúc rut nh thương đi đi.


 Ðành rằng sau một cái chết thì buồn, nhưng sau khi Sta-lin mất, cái buồn đã biến thành sức mạnh. Không khí và tình cảm bài thơ “Ði đi nh ông” không phản ảnh được tình cảm thực của nhân dân ta sau cái chết đó: xót thương, nhưng rồi băng băng đi dân công, đi gánh thóc thuế, sôi nổi phát động đấu tranh chống giai cấp địa chủ toát ra “ngoài lời” ở khắp bài thơ, trong đó có cái ngậm ngùi trách móc của một đôi tình nhân chia tay, tuy miệng thì nói là chung thủy mà trong tình ý đã thấy là sẽ không gặp nhau bao giờ nữa.
 Mình v thành th xa xôi
Nhà cao còn thy núi đi na chăng?
Ph đông còn nh bn làng?
Sáng đèn còn nh mnh trăng gia rng?
Mình đi ta hi thăm chng
Bao gi Vit Bc tưng bng thêm vui?

 Ý hỏi thì nhẹ nhàng trách móc như thế, thấm thía như thế, mà trả lời thì gượng quá và hơi loanh quanh:
 Ðường v đây đó gn thôi
Hôm nay ri bn v nơi th thành
Nhà cao chng khut non xanh
Ph đông càng gic chân nhanh bước đường
 Người về xuôi không nói lên được là lòng vẫn ở Việt Bắc. Người ở lại núi rừng thì chỉ thấy xa xôi chia cách mà ít thấy hy vọng tin tưởng. Nhớ Hồ Chủ tịch, cũng lại thấy hình bóng người xa dần.
Nh chân Người bước lên đèo
Người đi rng núi trông theo bóng Người
 Hai câu này khiến tôi nhớ đến câu thơ Nguyễn Du:
Người lên nga, k chia bào
Rng phong thu đã nhum màu quan san
 Cô đơn vắng vẻ, đó là hai cảm giác của bài thơ gợi ra.

 Một cán bộ ở Việt Bắc về Hà Nội cuối tháng 10-1954 đã kể chuyện với tôi:
“Khi thấy bài thơ Việt Bắc tôi đọc và thích quá, tôi ngâm cho một gia đình ở vùng Chợ Chu nghe. Cả nhà sụt sịt khóc. Cảm động quá. Nhưng sau đó, tôi vẫn phải tạ từ, đeo ba lô đi. Nhìn lại, trong bóng tối nhà sàn: ông ké, bà mé và chị con gái vẫn ngồi im, khóc lặng lẽ. Tôi cũng cảm thấy như không bao giờ mình còn trở lại Việt Bắc nữa. Thật là một cảnh chia ly đau xót.”
Bài thơ “Việt Bắc” đã dựng lên cảnh chia ly ấy và bồi thêm mũi kim đau xót vào chỗ yếu đuối nhất của lòng người.


 Và bài thơ vớt vát lại ở hai câu kết giả tạo, gượng ép:
Cm tay nhau hát vui chung
Hôm sau mình nhé, hát cùng Th đô
 Người ở lại Việt Bắc thấy cầm tay gượng, ậm ừ với lời chào hẹn chiếu lệ nghe đã quá quen tai. Chưa kịp nghĩ đến bao giờ “hát cùng Thủ đô”, hát thế nào và cái hát ấy có sẽ bù được sự chia ly hay không thì… thôi thế là xa rồi!
*Với nội dung truyền cảm trình bày trên kia, tập thơ Việt Bắc đã tạo nên những hình ảnh như thế nào của những tình thế, nhân vật điển hình của thời đại?
 Ðầu tiên là hình ảnh anh bộ đội:
Git git m hôi rơi
Trên má anh vàng ngh
Rt đp hình anh lúc nng chiu
Bóng dài lên đnh dc cheo leo


 Có những hình ảnh cụ thể do tác giả vẽ nên và có những hình ảnh không vẽ ra, nhưng do toàn bộ bài thơ để lại, thí dụ như trong các bài “Bắn”, “Voi”, “Bao giờ hết giặc”, v.v…
 Nói chung hình ảnh bộ đội trong tập thơ Việt Bắc là hình ảnh đẹp một cách mỏng manh, mờ nhạt như dáng dấp một người lẩn trong sương, trong một bức tranh chấm phá. Con người bằng xương bằng thịt, có bao nhiêu tình cảm, lúc bồng bột, lúc vui buồn, hờn giận, thương xót, lúc vào bộ đội, khi nhớ quê hương đồng ruộng, cha mẹ vợ con, khi tác chiến anh dũng, khi nhịn đói hành quân, lúc chia sẻ ngọt bùi cay đắng với cán bộ, với đồng đội, tôi chưa tìm thấy trong thơ Việt Bắc.

Chỉ thấy những hình ảnh chung chung, gặp bất cứ ở chỗ nào, thoáng qua và mờ dần vì không rõ hình nét, không “thực” đến độ in sâu vào lòng người.
 Anh bộ đội trong bài “Cá nước” chỉ thấp thoáng trên lưng đèo rồi lại đi. Anh bộ đội Tây Bắc:
Quê hương anh đó, gió sương mù
Và rú rng đây ca chiến khu
C ngp đng khô m li cũ
Tan hoang làng cháy khói căm thù


 Anh đi rất nhiều, gian nan cũng lắm, lòng anh chưa có gì bật lên trong bài thơ và kết cục thì “anh nm sưởi nng mt lơ mơ“. Bà bủ nhớ con bộ đội, trong ý nghĩ của bà thấy anh bộ đội bé bỏng đáng thương:
Nó đi đánh gic đêm nay
Bước run, bước ngã, bước ly, bước trơn
Nhà còn chui la rơm
Nó đi đánh gic đêm hôm sưởi gì?
 Trong bài “Voi”, tôi thấy có anh bộ đội khiêng pháo lên đèo, thấy gian nan khó nhọc nhưng mới thấy ở “chữ”, chưa thấy ở “người”. Nghe như kể một câu chuyện vác pháo gian lao khó nhọc, bài thơ mới tả cảnh chứ không dựng được người “bộ đội khiêng pháo” anh dũng và vĩ đại trước mắt tôi.


 Còn ở bài “Bắn”, thì hình ảnh anh bộ đội là một tượng gỗ, tay cầm giây súng và có hình ảnh một anh bàng quan đứng ngoài hô hào gào hét ầm ỹ, giục pho tượng giật giây nổ súng bắn cho hả.
Năm phút na: Sao mà lâu thế nh
Anh pháo binh, anh còn đi ch?
 Không thấy anh pháo binh đâu, chỉ thấy một người nào đứng ngoài múa tay hoa chân giục bắn:
Anh pháo binh, anh chưa bn đi à?
Mt phút na. Ðu tôi cháy bng lên như cc la
Sướng bao nhiêu chc na s thành than.
 Anh pháo binh không trả lời (vì có anh ấy đâu mà trả lời). Người nào đó lại gọi:
Ơi các anh xung kích dưới c âm thm
Hãy sn sàng tay mác nhy lên đâm
Giết, bt sng không mng nào được thoát.

 Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra bàng quan lạ lùng. Việc bắn là việc của anh bộ đội, đứng ngoài hò hét như thế không những không động viên được bộ đội, mà còn làm cho anh pháo binh bực mình. Anh bộ đội trước khi bắn, tâm tư thế nào, không ai biết, lại chỉ thấy tiếng giục, và kết thúc bằng một câu rất khó chịu:
Anh đi bác, tôi ch anh đ hát!
 Còn hình ảnh chú bé liên lạc (trong bài “Lượm”):
Như con chim chích
Nhy trên đường vàng
Lượm là người thân yêu khi bị giặc bắn chết mà người còn sống lại thấy cái chết ấy đẹp và nhẹ:
Cháu nm trên lúa
Tay nm cht bông
Lúa thơm mùi sa
Hn bay gia đng


 Chú Lượm chết không khác gì một con chim trúng đạn chết ở giữa đồng lúa. Rồi cái chết ấy thoáng đi, trên đường vắng lại có những con chim chích khác.
 Hình ảnh một em bé liên lạc của kháng chiến, một em bé thân yêu ruột thịt của những cán bộ, của bộ đội của nhân dân, sống thế nào, chết thế nào? Sau cái chết ấy, hình ảnh của em còn lại trong lòng người thế nào, chua xót, đau đớn, nhưng trong trẻo, mạnh mẽ thế nào? Bài thơ chỉ để lại trong óc tôi hình ảnh của một con chim đẹp, sống hồn nhiên, chết tự nhiên. Nhà thơ đau đớn và căm thù ở chỗ nào?

 Ðến hình ảnh lãnh tụ, là đúc kết những tinh túy của quần chúng. Hình ảnh lãnh tụ chính là hình ảnh vĩ đại của quần chúng lao động đang đấu tranh, và cuồn cuộn đi đến một tương lai tốt đẹp.
 Ta thường ví Hồ Chủ tịch với “ngôi sao”, với “trời biển” với
Cây hi đăng mt bin
Bão táp chng rung rinh
La trường kỳ kháng chiến.


 Tôi chưa thấy bài thơ nào tả đúng lãnh tụ, tả đúng Hồ Chủ tịch, chỉ mới có những bài thơ, những đoạn thơ tả đúng một phần, hoặc tả bề ngoài hoặc thần thánh hóa, tách rời lãnh tụ với quần chúng.
 Trong tập thơ Việt Bắc, tôi thấy Hồ Chủ tịch:
Người ngi đó vi cây chì đ
Ch đường đi tng phút tng gi
… Bác H đó ung dung châm la hút
Trán mênh mông thanh thn mt vòm tri
… Bác đang cúi xung bn đ
Chc là nghe tiếng quân hò quân reo
 Lãnh tụ xa xôi và cách biệt, có lúc giống như một đạo sĩ đi nhàn du trong núi rừng:
Áo nâu, túi vi đp tươi l thường
Nh người nhng sáng tinh sương
Ung dung yên nga trên đường sui reo

 Hồ Chủ tịch của chúng ta không những chỉ có thế. Tất cả hình ảnh trên mới là một đôi chút bề ngoài của Hồ Chủ tịch. Còn những giờ Người ra tiền tuyến, đến bên cạnh dân công, bộ đội; Người ở nông thôn, bàn bạc chuyện trò với các cụ phụ lão nông dân, Người ở đâu đến đâu thì quần chúng thêm mạnh mẽ phấn khởi.


 Hình ảnh Hồ Chủ tịch trong tập thơ Việt Bắc thong dong nhiều hơn là hành động và lúc hành động tôi thấy “cây chì đỏ”, “cúi xuống bản đồ” và nhân dân nhìn lên Hồ Chủ tịch chưa thấy ấm áp gần gũi, dù có những câu: Ta bên Người, Người ta sáng ta, Ta bng ln bên Người mt chút, tôi vẫn chưa thấy “sáng” ở chỗ nào và “lớn” ở chỗ nào.
 Cách ca ngợi lãnh tụ như thế chưa phải là tình cảm của toàn dân đối với Hồ Chủ tịch.

 Nghệ thuật tập thơ Việt Bắc có nhiều sức thấm vào lòng người đọc, vì nó hay gợi cái buồn kín đáo, man mác. Thời đại chúng ta có nhiều cái buồn, nhưng cái hơi buồn của một số bài thơ tập Việt Bắc là một hơi thở đã trở thành cũ kỹ, lạc hậu, trong khi thời đại chúng ta đang tràn đầy một niềm vui lớn, một sức chiến đấu mãnh liệt, băng băng tiến tới…
 Tập thơ Việt Bắc cũng có “nói” đến những cái đó, nhưng chưa “xây dựng” những cái đó. Vì chỉ “nói” thôi, nên có thể êm tai, đẹp mắt, nhưng giả tạo, gò ép.


 Ðây, vui mừng giữa những người về giải phóng Hà Nội và những người ở Hà Nội giải phóng:
Hôm nay v li đây Hà Ni
Giàn gia vui lên ướt mt cười
… Ðường quen ph cũ đây ri
Th đô tươi dy mt người như hoa
…Tay vui sóng v rt rào
Người v k đi, mng nào mng hơn

 “Mừng nào mừng hơn” chưa thể bao hàm cái mừng vô cùng trong ngày lịch sử giải phóng Hà Nội.
 Và đây là quang cảnh Hà Nội giải phóng.
H Gươm xanh thm quanh b
Thiên thu hn nước mong ch by nay
Bây gi đây li gp đây
Quc kỳ đnh tháp, sao bay mt h

 Sao quang cảnh thủ đô giải phóng lại “tĩnh” và lặng lờ như thế? Bài thơ “Lại về” là tâm trạng của một người du lịch se sẽ rung động vì cảnh, vì người gặp lại, rồi trong lòng lại yên tĩnh như không. Lạnh lùng, bàng quan và giả dối.


 Biết đâu bao nhiêu đau đớn quằn quại, bao nhiêu lúc vùng lên, ngã xuống rồi lại quật khởi cho đến ngày giải phóng thì tất cả Hà Nội trào lên như sóng bể.
 Còn tình cảm chiến đấu? Cả bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” nói đủ ý về chiến thắng Ðiện Biên Phủ, nói đầy đủ quá nên không chen vào chỗ nào được những tình cảm con người của chiến dịch Ðiện Biên. Bài thơ đó là một bài tham luận về chiến dịch Ðiện Biên đã thi vị hóa bằng một kỹ thuật khá điêu luyện.
Ðao to búa lớn:
Hoan hô chiến sĩ Ðin Biên
Hoan hô đng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xung đu gic Pháp
 Một loạt hình ảnh một chiều, cứng nhắc, kém sinh động:
Chiến sĩ anh hùng
Ðu nung la st
…Nhng đng chí thân chôn làm giá súng
Ðu bt l chân châu mai
…Nhng bàn tay x núi lăn bom

 Những hình ảnh ấy đã có sẵn ở chiến trường và ở trong cảnh thực còn sâu sắc hơn trong bài thơ. Nếu bài thơ muốn ôm tất cả, cả đến Hội nghị Giơ-ne-vơ, thì còn hàng nghìn hình ảnh nữa cần phải nêu ra. Bài thơ đầy đủ quá cho nên thiếu thốn. Và kết luận:
Nhân dân Vit Nam anh dũng
Ðã cm súng tiến lên
Nht đnh hoàn toàn thng li.

 Một khẩu hiệu chính trị đã nêu lên ngay từ khi toàn quốc bắt đầu kháng chiến. Khẩu hiệu diễn biến trong tâm trạng người dân Việt Nam, trong lòng anh bộ đội thành những tình, những ý gì thầm kín, sâu sắc? Khẩu hiệu đó đã tạo ra bao nhiêu hình ảnh đẹp, mạnh, sinh động vô cùng trong thời đại chúng ta? Muôn sắc muôn màu, muôn hình vạn trạng trong chiến dịch Ðiện Biên, ta không thể tham vọng nói hết trong một bài thơ và lại kết luận bằng khẩu hiệu.

 Người đọc, đọc một bài báo tóm tắt về chiến dịch Ðiện Biên và đọc một bài thơ trên, có thấy gì khác không? Bài thơ dễ lọt tai hơn, thế thôi. Anh bộ đội đã chiến đấu ở Ðiện Biên Phủ, không thấy được ở bài thơ chút gì tâm sự, bè bạn thâm tình. Nhiều độc giả bộ đội khen bài thơ hay rồi hôm sau thì quên. Bộ đội muốn có những bài thơ để nắn nót chép vào sổ tay, đút vào túi ngực, giữa hai đợt chiến đấu lại giở ra đọc, lúc vui, lúc lo nghĩ là lại lấy bài thơ làm người bạn tâm tình. Ða số bài thơ về bộ đội đã có trong tập Việt Bắc chưa thành người bạn tâm tình của bộ đội.

 Vì nhiều bài thơ rộng quá, tổng hợp quá, “chính trị” quá, nên nó bao quát và tất nhiên trở nên chung chung đại lược. Ta đi tới, ta đi khắp cả và nhất định “ta đi tới” thống nhất đất nước. Lời đẹp, ý đúng, tình cảm bay rộng khắp nhưng không xoáy chặt vào lòng người. “Ta đi tới” cũng giống như “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” từ đầu đến cuối rất đầy đủ về ý nghĩa chính trị. Ở bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” tôi thấy những câu những chữ rắn chắc, sấm sét, hùng mạnh, đến bài “Ta đi tới” tôi thấy những chữ những câu bóng bẩy, tha thiết, trùng điệp những tên thị trấn địa phương để khêu gợi lòng yêu đất nước. Một cảnh lấp lánh ánh sáng khắp nơi, khi lại gần thì nhạt nhẽo, không thấy đẹp nữa.

 Ở một số bài thơ gần đây của Tố Hữu, tôi thấy như vậy: Ðầu tiên thì nêu lên một vấn đề rồi tiếp đến suy luận bằng những câu văn đèm đẹp. Thành phố đã phá trụi thì nhất định là ngày sau phải tưng bừng. Cha mẹ em bé Triều Tiên chết treo khủng khiếp, em bơ vơ lạc lõng thì nhất định là có cả một dân tộc ở bên em, săn sóc cho tương lai em, và nhất định em sẽ sung sướng. Ðã chia ly Việt Bắc thì sau phải nghĩ đến Việt Bắc và trao đổi hàng hóa với Việt Bắc. Ðiện Biên đã thắng thì nhất định ở Hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ thêm điều kiện thuận lợi đấu tranh với kẻ thù. 

Thật khó mà tìm thấy một khuyết điểm nào về ý nghĩa chính trị. Những bài thơ đó đầy đủ thế, nhưng rất ít chất của cuộc sống một dân tộc đã đấu tranh gay go phức tạp và đã giành được thắng lợi hòa bình. Tôi thấy bài “Ta đi tới” hoặc bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” giống như một vại nước to, đầy tràn, pha loãng một màu sữa. Loãng quá. Tôi thèm một cốc dù nhỏ thôi, nhưng chan chứa những chất sống nuôi dưỡng tâm hồn.

 Theo ý tôi, giá trị thơ không phải ở chỗ đầy đủ mạch lạc về một vấn đề chính trị. Thơ phải đi vào từng góc cạnh của tâm hồn từng lớp người đang xây dựng thời đại mới. Muốn nói tất cả phải đi sâu vào một khía. Và nhiều bài thơ góp lại, mỗi bài một góc tâm hồn khác nhau sẽ thành ra toàn bộ phản ảnh thời đại đi vào hiện thực chủ nghĩa. Như vậy từ con người đang dào dạt sức sống kết lại thành thơ, chứ không thể từ một khái niệm về đời sống, từ một luận đề chính trị viết ra thơ, dù rằng lúc viết, tác giả cũng cố tìm cảm xúc và tạo hình ảnh. Làm như thế, dễ rơi vào công thức, giả tạo. 

Và lập trường chính trị trong thơ chính là nói đúng được sự sống và xây dựng tâm hồn của con người đang sống trong một thời đại cách mạng. Ở thời đại chúng ta, cái hiện thực xã hội chủ nghĩa nhất là ở lòng người dân đang tiến lên đè bẹp đế quốc và phong kiến. Sức sống mãnh liệt này tôi thấy rất ít trong tập thơ Việt Bắc. Tôi đã ngâm nga những bài đứng về phía đánh đế quốc chủ nghĩa để xem con người Việt Nam đứng lên tiêu diệt đế quốc xâm lược ra sao?

Tôi thấy nhiều chữ, nhiều lời, nhiều cảnh đẹp và buồn, ít thấy hình ảnh con người điển hình của thời đại hiện ra bằng xương thịt rắn chắc, bằng đau đớn xót xa, bằng bước đi vững chãi. Thơ nói:
Ta đi ti trên đường ta bước tiếp
Rn như thép, vng như đng
Ði ngũ ta trùng trùng đip đip
Cao như núi, dài như sông
 Tôi vẫn chưa thấy con người bước đi rắn như thép cụ thể ở chỗ nào. Và “trùng trùng điệp điệp” chỉ là bốn chữ cố khêu gợi sức mạnh nhưng bản thân sức mạnh ấy không hiện ra.

 Còn những con người đau khổ tủi nhục vì bị giai cấp địa chủ bóc lột đến xương tủy, những người nông dân ngấm ngầm nuôi sức mạnh và rồi ào ào tiến lên, phá tung cảnh đọa đày của mấy nghìn năm phong kiến, tôi chỉ thấy vẻn vẹn có hai câu nói hăng hái nhưng trống rỗng:
Nhng bàn chân đã vùng dy đp đu
Lũ chúa đt xung bùn đen vn kiếp!

 Ðọc thơ và ngâm những bài thơ trong tập Việt Bắc, nhiều khi tôi thường có cảm giác buồn ngậm ngùi, đôi lúc xa vắng. Có ấm áp cũng là cái ấm áp mong manh chóng tắt và thấy cái đẹp cũng nhè nhẹ mơ màng. Ðôi khi thấy tha thiết mến thương nhưng không được bao lâu vì nhẹ quá và rộng quá. Tôi thèm ở Tố Hữu những bài thơ tâm sự với mình lâu dài. Nhưng trong tập Việt Bắc, phần lớn tôi chỉ gặp những bài rủ rỉ một lát rồi thôi.


 Rồi tôi suy nghĩ: Những bài thơ nào diễn tả lòng người sâu sắc nhất, lòng người của một thời đại, nhất định đều để lại trong lòng người ta những hình ảnh rung động lâu bền nhất. Tập thơ Việt Bắc ít chất thực tế để đúc thành thơ. Ðành rằng cần phải có những bài thơ do suy luận, nhằm mục đích hô hào, động viên, nhưng thực chất của bài thơ vẫn phải tìm trong cuộc sống sâu sắc. Thiếu sự sống phong phú, thơ trở nên vô duyên, khô khan, dù lời đẹp ý tốt. Tôi đã đọc nhiều bài thơ “mới nghe thì hay, nghe nhiều lần thì chán”. Ðó cũng là cảm tưởng cuối cùng của riêng tôi đối với tập thơ Việt Bắc.
 Nguồn: Văn nghệ, số. 67 (1.4.1955)
Lại Nguyên Ân sưu tầm.
 


Vũ Ðức Phúc Phản đối cái buồn của Hoàng Cầm khi đọc thơ Tố Hữu

Tôi không phải là người thích tất cả những bài thơ, những câu thơ của Tố Hữu. Nhưng có một điều không ai chối cãi được là từ trước đến nay, Tố Hữu thực tế được đặt lên hàng đầu những nhà thơ cách mạng của ta. Mặc dầu ý kiến mọi người khác nhau, nhưng nếu đặt một câu hỏi cho tất cả những người đã có đọc thơ: "Theo ý kiến anh hay chị, nhà thơ cách mạng nào của nước ta hiện nay đáng đặt lên hàng đầu?" Ai cũng sẽ trả lời: "Tố Hữu! Tố Hữu". Nhiều người lại cho rằng hỏi như thế thật là dớ dẩn, đánh đố trẻ con.

Thời đại ta có thể nhầm lẫn chăng làm cho vàng thau lẫn lộn? Việc thích thơ Tố Hữu có phải là một cái "mốt" chăng? Là do uy tín chính trị chăng? Là do theo đuôi chăng? Văn nghệ, nhất là thơ ta là "hạng bét" cho nên nhà thơ kém như thế cũng được đặt lên hàng đầu chăng? Thực tế không cho phép ta hoài nghi như vậy. Trong thời kỳ giai cấp phản động còn thống trị, ảnh hưởng của nó còn mạnh thì hoài nghi như vậy đối với các nhà văn tên tuổi "sách bán chạy nhất" là được. Nhưng nhân dân cách mạng không thể nhầm lẫn, hoặc có cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn, không đợi đến tổng khởi nghĩa thắng lợi, kháng chiến thành công rồi mà tối đại đa số vẫn còn nhầm.

Ở Liên Xô, căn cứ vào sự hoan nghênh của quần chúng, người ta đánh giá ngay được các nhà văn nghệ và ngay bây giờ người ta đã gọi A-lếch-xít Tôn-stôi (Alexis Tolstoi) là "văn hào cổ điển của Liên bang Xô Viết". Cũng không phải là do uy tín chính trị của anh. Người ta thích thơ Tố Hữu trước khi biết quá trình hoạt động cách mạng của anh và có đến hàng trăm hàng nghìn nhà cách mạng làm thơ, nhà thơ làm cách mạng, sao không thích ai, lại yêu ngay thơ Tố Hữu nhất? Cũng không phải là do theo đuôi, vì tôi thấy nhiều người, rất nhiều người ghi trong sổ tay một vài bài của Tố Hữu, khi người khác giật lấy sổ mở ra xem, thì họ giật lại như muốn dấu diếm một bức ảnh hay một kỷ niệm gì của người yêu. Hồi đầu kháng chiến, đi đâu cũng thấy "Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế", "Con ơi con ngủ cho ngoan, Sang canh trăng lặn buổi tan mẹ về". Sau đó lại có một dạo nhiều người nghêu ngao: "Cha em đây giữa chiến trường, mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui..." Và bây giờ thì: "Ðẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!" v.v...

Trong các hội nghị, hễ có giải lao, có ngâm thơ là có thơ Tố Hữu. Và người không ngâm thơ Tố Hữu lại ngâm cái bài thơ khác thì anh chị em thắc mắc, đặt vấn đề: "Sao không ngâm thơ Tố Hữu?"

Còn như nếu đã công nhận thơ Tố Hữu được hoan nghênh nhất, nhưng lại cho là "thùng nước loãng", tất sẽ đi đến kết luận là thơ ca của ta chẳng ra gì. Tôi chắc sẽ không ai dám nói như vậy.


Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống thực tế

HOÀNG CẦM
[Nguồn: Văn nghệ, số. 67 (1.4.năm 1955)]
 Sức truyền cảm của đa số bài thơ trong tập Việt Bắc thường thường là đi từ từ, nhẹ nhàng vào lòng người đọc, rồi đi vòng quanh, lởn vởn ở bên ngoài chứ không đột phá vào một khía cạnh nào của tâm hồn cho thật sắc bén.
 Bài “Cá nước”: tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng chỉ nhẹ nhàng lớt phớt:
Mt thoáng lng nhìn nhau
Mt đã tìm hi chuyn
Ðôi b áo qun nâu
Ðã âm thm thương mến.
Từ nguồn gốc sâu xa nào hai người “mới gặp nhau” mà trở nên “thân thiết”, bài thơ không gợi ra được. Ở đây tôi chỉ thấy hai người gặp nhau như một chút “duyên cá nước” rất ít mặn nồng như một cảnh gặp nhau thường, giữa hai người bạn. Sự gặp gỡ, cuộc nói chuyện giữa anh bộ đội và anh cán bộ chưa truyền cho người đọc một phút nào rung động mãnh liệt. Ðọc hết bài thơ tình cảm còn lại trong lòng tôi chỉ thoáng như một cơn gió mát của một buổi trưa hè, dịu dàng, thân mật và hơi gợn một chút buồn. Cái buồn ở ngoài lời. Lời ru cháu xa xôi văng vẳng của một bà cụ già, rồi “chia nhau điếu thuốc lào”, đến lúc “anh về xuôi tôi ngược”, thì cái buồn đã lên tới độ khá cao.

Bài thơ êm êm rồi thoảng tan đi, không để lại trong lòng tôi một chút gì gắn bó thiết tha. Lòng anh cán bộ của thời đại yêu mến anh chiến sĩ bộ đội không những chỉ có cái bề ngoài ấy mà bên trong còn xoắn xít ràng buộc với nhau như gan với ruột, không thể có gì dằng xé ra được. Bài thơ không nói được bề sâu, chỉ mới thấy bề rộng. Ðọc lần đầu, cái không gian của bài thơ choán lấy tâm hồn tôi một lúc, như bóng rợp một đám mây giữa đường trời nắng. Bóng mây qua… “Tình cá nước” ở tên đề và ở câu kết cũng không bật lên được: cá nước từ đây dường như cũng cách biệt nhau, mỗi bên mang theo một kỷ niệm đẹp, lòng vấn vương như sau một giấc mơ. Ðâu, cái khăng khít, mật thiết cụ thể, từng giờ, từng phút của quân và dân trong một cuộc chiến tranh du kích?


 Ðến tình cảm bài “Phá đường” mở đầu bằng “rét” và kết thúc bằng “gió rét trăng lu”, còn đoạn giữa tả một cảnh lao động bình thường, cặm cụi trong lúc “trăng non mới hé”, tất cả chỉ truyền vào lòng tôi một chút hơi thở nhè nhẹ của công việc phá đường, vẫn đượm một chút hắt hiu. Tại sao lại gió rét? Gió rét ấy có cắt nghĩa được cái gian nan vất vả của việc phá đường không? Tuyệt nhiên là không! Nó chỉ gợi được ra cái buồn. Tôi đã đi qua những nơi nhân dân phá đường hồi đầu kháng chiến. Một buổi sáng mùa hè, một đêm mưa, một trưa nắng gắt. Nặng nhọc vất vả ở hai cánh tay và ở cả trong lòng những người phá đường. Nhưng giặc đã đến đầu ngõ, phải phá ngay, không thì nó đi được nhanh, nó sẽ giết con mình, đốt nhà mình! Ðau đớn, nhưng mạnh mẽ quyết liệt. Bài thơ “Phá đường” cũng lại không truyền được tình cảm đó của thời đại.

 Trong khi đó thì ở “Giữa thành phố trụi” không khí u tối, lạnh lẽo hiện lên ngay từ đầu:
Ðông lnh ghê người
Chiếc lá vèo rơi xung c
Ô ca mt tròn thăm thm
Ai lên tin tuyến đường muôn dm
 Tuy về sau, bài thơ cố gợi ra tương lai:
Ngày mai xanh li tng cây
Ngày mai li đp hơn ry, hơn xưa
T trong đ nát hôm nay
Ngày mai đã đến tng giây tng gi...
 Cái cảm giác chung vẫn là một sự tan vỡ, u uất. Mấy câu sau chỉ là suy luận, khái niệm chứ không truyền cảm. Cái hắt hiu cô đơn ấy lại rõ ràng trong “Bà bủ nằm ổ chuối khô”:
Ðêm nay tháng chp mng mười
Vài mươi ba na tết ri hết năm
Ngoài phên gió núi ù ù
Mưa đêm mưa t chiến khu mưa v...

 Cả bài, câu nào cũng ngậm ngùi, điu hiu vắng vẻ. Mà bà bủ lại “càng nghĩ càng căm thù”. Căm thù ai? Một ý nghĩ rất trừu tượng, đại khái. Cả bài là một tình cảm buồn vắng, nhớ con, nhớ đứa con bộ đội, con đi “bước run, bước ngã, bước ly, bước trơn” và “năm xưa cơm c ngon chi, năm nay cơm gié nhà thì vng con“. Thật rất thương tâm, não nuột! Có một đồng chí bộ đội đọc bài thơ này thấy buồn quá, nói với tôi: “Mẹ tôi không nhớ tôi thế này”.
 Tôi hỏi: “Thế nhớ thế nào?”
“Nhớ hơn thế này, nhưng mà… khó nói quá… không buồn thế đâu!”
 Buồn, lạnh lẽo đến ghê rợn khi tôi đọc:
 Xác ai nm ngn ngang
Bãi tuyết lng quanh làng
Ph đ nhà hoang vng
M ca em đy ư?
Cái thân trng lc lư
Ðu giây treo lng lng
Cha ca em đy ư?
Cái đu lâu rũ tóc
Máu chy dài thân cc
(“Em bé Triều Tiên”)

 Không căm thù, chỉ thấy ghê rợn. Tuy về sau bài thơ cố tạo ra cái không khí chiến đấu rộn ràng vẫn không át được cái ghê rợn ban đầu. Không khí buồn, xa vắng vẫn kéo dài sau cái chết của đồng chí Sta-lin:
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trng nhng băng tang
Ni lin khúc rut nh thương đi đi.
 Ðành rằng sau một cái chết thì buồn, nhưng sau khi Sta-lin mất, cái buồn đã biến thành sức mạnh. Không khí và tình cảm bài thơ “Ði đi nh ông” không phản ảnh được tình cảm thực của nhân dân ta sau cái chết đó: xót thương, nhưng rồi băng băng đi dân công, đi gánh thóc thuế, sôi nổi phát động đấu tranh chống giai cấp địa chủ toát ra “ngoài lời” ở khắp bài thơ, trong đó có cái ngậm ngùi trách móc của một đôi tình nhân chia tay, tuy miệng thì nói là chung thủy mà trong tình ý đã thấy là sẽ không gặp nhau bao giờ nữa.
 Mình v thành th xa xôi
Nhà cao còn thy núi đi na chăng?
Ph đông còn nh bn làng?
Sáng đèn còn nh mnh trăng gia rng?
Mình đi ta hi thăm chng
Bao gi Vit Bc tưng bng thêm vui?

 Ý hỏi thì nhẹ nhàng trách móc như thế, thấm thía như thế, mà trả lời thì gượng quá và hơi loanh quanh:
 Ðường v đây đó gn thôi
Hôm nay ri bn v nơi th thành
Nhà cao chng khut non xanh
Ph đông càng gic chân nhanh bước đường
 Người về xuôi không nói lên được là lòng vẫn ở Việt Bắc. Người ở lại núi rừng thì chỉ thấy xa xôi chia cách mà ít thấy hy vọng tin tưởng. Nhớ Hồ Chủ tịch, cũng lại thấy hình bóng người xa dần.
Nh chân Người bước lên đèo
Người đi rng núi trông theo bóng Người

 Hai câu này khiến tôi nhớ đến câu thơ Nguyễn Du:
Người lên nga, k chia bào
Rng phong thu đã nhum màu quan san
 Cô đơn vắng vẻ, đó là hai cảm giác của bài thơ gợi ra.
 Một cán bộ ở Việt Bắc về Hà Nội cuối tháng 10-1954 đã kể chuyện với tôi:
“Khi thấy bài thơ Việt Bắc tôi đọc và thích quá, tôi ngâm cho một gia đình ở vùng Chợ Chu nghe. Cả nhà sụt sịt khóc. Cảm động quá. Nhưng sau đó, tôi vẫn phải tạ từ, đeo ba lô đi. Nhìn lại, trong bóng tối nhà sàn: ông ké, bà mé và chị con gái vẫn ngồi im, khóc lặng lẽ. Tôi cũng cảm thấy như không bao giờ mình còn trở lại Việt Bắc nữa. Thật là một cảnh chia ly đau xót.”
Bài thơ “Việt Bắc” đã dựng lên cảnh chia ly ấy và bồi thêm mũi kim đau xót vào chỗ yếu đuối nhất của lòng người.

 Và bài thơ vớt vát lại ở hai câu kết giả tạo, gượng ép:
Cm tay nhau hát vui chung
Hôm sau mình nhé, hát cùng Th đô
 Người ở lại Việt Bắc thấy cầm tay gượng, ậm ừ với lời chào hẹn chiếu lệ nghe đã quá quen tai. Chưa kịp nghĩ đến bao giờ “hát cùng Thủ đô”, hát thế nào và cái hát ấy có sẽ bù được sự chia ly hay không thì… thôi thế là xa rồi!
*Với nội dung truyền cảm trình bày trên kia, tập thơ Việt Bắc đã tạo nên những hình ảnh như thế nào của những tình thế, nhân vật điển hình của thời đại?

 Ðầu tiên là hình ảnh anh bộ đội:
Git git m hôi rơi
Trên má anh vàng ngh
Rt đp hình anh lúc nng chiu
Bóng dài lên đnh dc cheo leo
 Có những hình ảnh cụ thể do tác giả vẽ nên và có những hình ảnh không vẽ ra, nhưng do toàn bộ bài thơ để lại, thí dụ như trong các bài “Bắn”, “Voi”, “Bao giờ hết giặc”, v.v…

 Nói chung hình ảnh bộ đội trong tập thơ Việt Bắc là hình ảnh đẹp một cách mỏng manh, mờ nhạt như dáng dấp một người lẩn trong sương, trong một bức tranh chấm phá. Con người bằng xương bằng thịt, có bao nhiêu tình cảm, lúc bồng bột, lúc vui buồn, hờn giận, thương xót, lúc vào bộ đội, khi nhớ quê hương đồng ruộng, cha mẹ vợ con, khi tác chiến anh dũng, khi nhịn đói hành quân, lúc chia sẻ ngọt bùi cay đắng với cán bộ, với đồng đội, tôi chưa tìm thấy trong thơ Việt Bắc. Chỉ thấy những hình ảnh chung chung, gặp bất cứ ở chỗ nào, thoáng qua và mờ dần vì không rõ hình nét, không “thực” đến độ in sâu vào lòng người.

 Anh bộ đội trong bài “Cá nước” chỉ thấp thoáng trên lưng đèo rồi lại đi. Anh bộ đội Tây Bắc:
Quê hương anh đó, gió sương mù
Và rú rng đây ca chiến khu
C ngp đng khô m li cũ
Tan hoang làng cháy khói căm thù
 Anh đi rất nhiều, gian nan cũng lắm, lòng anh chưa có gì bật lên trong bài thơ và kết cục thì “anh nm sưởi nng mt lơ mơ“. Bà bủ nhớ con bộ đội, trong ý nghĩ của bà thấy anh bộ đội bé bỏng đáng thương:
Nó đi đánh gic đêm nay
Bước run, bước ngã, bước ly, bước trơn
Nhà còn chui la rơm
Nó đi đánh gic đêm hôm sưởi gì?

 Trong bài “Voi”, tôi thấy có anh bộ đội khiêng pháo lên đèo, thấy gian nan khó nhọc nhưng mới thấy ở “chữ”, chưa thấy ở “người”. Nghe như kể một câu chuyện vác pháo gian lao khó nhọc, bài thơ mới tả cảnh chứ không dựng được người “bộ đội khiêng pháo” anh dũng và vĩ đại trước mắt tôi.
 Còn ở bài “Bắn”, thì hình ảnh anh bộ đội là một tượng gỗ, tay cầm giây súng và có hình ảnh một anh bàng quan đứng ngoài hô hào gào hét ầm ỹ, giục pho tượng giật giây nổ súng bắn cho hả.

Năm phút na: Sao mà lâu thế nh
Anh pháo binh, anh còn đi ch?
 Không thấy anh pháo binh đâu, chỉ thấy một người nào đứng ngoài múa tay hoa chân giục bắn:
Anh pháo binh, anh chưa bn đi à?
Mt phút na. Ðu tôi cháy bng lên như cc la
Sướng bao nhiêu chc na s thành than.
 Anh pháo binh không trả lời (vì có anh ấy đâu mà trả lời). Người nào đó lại gọi:
Ơi các anh xung kích dưới c âm thm
Hãy sn sàng tay mác nhy lên đâm
Giết, bt sng không mng nào được thoát.

 Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra bàng quan lạ lùng. Việc bắn là việc của anh bộ đội, đứng ngoài hò hét như thế không những không động viên được bộ đội, mà còn làm cho anh pháo binh bực mình. Anh bộ đội trước khi bắn, tâm tư thế nào, không ai biết, lại chỉ thấy tiếng giục, và kết thúc bằng một câu rất khó chịu:
Anh đi bác, tôi ch anh đ hát!
 Còn hình ảnh chú bé liên lạc (trong bài “Lượm”):
Như con chim chích
Nhy trên đường vàng
Lượm là người thân yêu khi bị giặc bắn chết mà người còn sống lại thấy cái chết ấy đẹp và nhẹ:
Cháu nm trên lúa
Tay nm cht bông
Lúa thơm mùi sa
Hn bay gia đng

 Chú Lượm chết không khác gì một con chim trúng đạn chết ở giữa đồng lúa. Rồi cái chết ấy thoáng đi, trên đường vắng lại có những con chim chích khác.
 Hình ảnh một em bé liên lạc của kháng chiến, một em bé thân yêu ruột thịt của những cán bộ, của bộ đội của nhân dân, sống thế nào, chết thế nào? Sau cái chết ấy, hình ảnh của em còn lại trong lòng người thế nào, chua xót, đau đớn, nhưng trong trẻo, mạnh mẽ thế nào? Bài thơ chỉ để lại trong óc tôi hình ảnh của một con chim đẹp, sống hồn nhiên, chết tự nhiên. Nhà thơ đau đớn và căm thù ở chỗ nào?

 Ðến hình ảnh lãnh tụ, là đúc kết những tinh túy của quần chúng. Hình ảnh lãnh tụ chính là hình ảnh vĩ đại của quần chúng lao động đang đấu tranh, và cuồn cuộn đi đến một tương lai tốt đẹp.
 Ta thường ví Hồ Chủ tịch với “ngôi sao”, với “trời biển” với
Cây hi đăng mt bin
Bão táp chng rung rinh
La trường kỳ kháng chiến.
 Tôi chưa thấy bài thơ nào tả đúng lãnh tụ, tả đúng Hồ Chủ tịch, chỉ mới có những bài thơ, những đoạn thơ tả đúng một phần, hoặc tả bề ngoài hoặc thần thánh hóa, tách rời lãnh tụ với quần chúng.

 Trong tập thơ Việt Bắc, tôi thấy Hồ Chủ tịch:
Người ngi đó vi cây chì đ
Ch đường đi tng phút tng gi
… Bác H đó ung dung châm la hút
Trán mênh mông thanh thn mt vòm tri
… Bác đang cúi xung bn đ
Chc là nghe tiếng quân hò quân reo
 Lãnh tụ xa xôi và cách biệt, có lúc giống như một đạo sĩ đi nhàn du trong núi rừng:
Áo nâu, túi vi đp tươi l thường
Nh người nhng sáng tinh sương
Ung dung yên nga trên đường sui reo

 Hồ Chủ tịch của chúng ta không những chỉ có thế. Tất cả hình ảnh trên mới là một đôi chút bề ngoài của Hồ Chủ tịch. Còn những giờ Người ra tiền tuyến, đến bên cạnh dân công, bộ đội; Người ở nông thôn, bàn bạc chuyện trò với các cụ phụ lão nông dân, Người ở đâu đến đâu thì quần chúng thêm mạnh mẽ phấn khởi.

 Hình ảnh Hồ Chủ tịch trong tập thơ Việt Bắc thong dong nhiều hơn là hành động và lúc hành động tôi thấy “cây chì đỏ”, “cúi xuống bản đồ” và nhân dân nhìn lên Hồ Chủ tịch chưa thấy ấm áp gần gũi, dù có những câu: Ta bên Người, Người ta sáng ta, Ta bng ln bên Người mt chút, tôi vẫn chưa thấy “sáng” ở chỗ nào và “lớn” ở chỗ nào.
 Cách ca ngợi lãnh tụ như thế chưa phải là tình cảm của toàn dân đối với Hồ Chủ tịch.
 Nghệ thuật tập thơ Việt Bắc có nhiều sức thấm vào lòng người đọc, vì nó hay gợi cái buồn kín đáo, man mác. Thời đại chúng ta có nhiều cái buồn, nhưng cái hơi buồn của một số bài thơ tập Việt Bắc là một hơi thở đã trở thành cũ kỹ, lạc hậu, trong khi thời đại chúng ta đang tràn đầy một niềm vui lớn, một sức chiến đấu mãnh liệt, băng băng tiến tới…

 Tập thơ Việt Bắc cũng có “nói” đến những cái đó, nhưng chưa “xây dựng” những cái đó. Vì chỉ “nói” thôi, nên có thể êm tai, đẹp mắt, nhưng giả tạo, gò ép.
 Ðây, vui mừng giữa những người về giải phóng Hà Nội và những người ở Hà Nội giải phóng:
Hôm nay v li đây Hà Ni
Giàn gia vui lên ướt mt cười
… Ðường quen ph cũ đây ri
Th đô tươi dy mt người như hoa
…Tay vui sóng v rt rào
Người v k đi, mng nào mng hơn
 “Mừng nào mừng hơn” chưa thể bao hàm cái mừng vô cùng trong ngày lịch sử giải phóng Hà Nội.
 Và đây là quang cảnh Hà Nội giải phóng.
H Gươm xanh thm quanh b
Thiên thu hn nước mong ch by nay
Bây gi đây li gp đây
Quc kỳ đnh tháp, sao bay mt h

 Sao quang cảnh thủ đô giải phóng lại “tĩnh” và lặng lờ như thế? Bài thơ “Lại về” là tâm trạng của một người du lịch se sẽ rung động vì cảnh, vì người gặp lại, rồi trong lòng lại yên tĩnh như không. Lạnh lùng, bàng quan và giả dối.
 Biết đâu bao nhiêu đau đớn quằn quại, bao nhiêu lúc vùng lên, ngã xuống rồi lại quật khởi cho đến ngày giải phóng thì tất cả Hà Nội trào lên như sóng bể.

 Còn tình cảm chiến đấu? Cả bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” nói đủ ý về chiến thắng Ðiện Biên Phủ, nói đầy đủ quá nên không chen vào chỗ nào được những tình cảm con người của chiến dịch Ðiện Biên. Bài thơ đó là một bài tham luận về chiến dịch Ðiện Biên đã thi vị hóa bằng một kỹ thuật khá điêu luyện.
Ðao to búa lớn:
Hoan hô chiến sĩ Ðin Biên
Hoan hô đng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xung đu gic Pháp

 Một loạt hình ảnh một chiều, cứng nhắc, kém sinh động:
Chiến sĩ anh hùng
Ðu nung la st
…Nhng đng chí thân chôn làm giá súng
Ðu bt l chân châu mai
…Nhng bàn tay x núi lăn bom
 Những hình ảnh ấy đã có sẵn ở chiến trường và ở trong cảnh thực còn sâu sắc hơn trong bài thơ. Nếu bài thơ muốn ôm tất cả, cả đến Hội nghị Giơ-ne-vơ, thì còn hàng nghìn hình ảnh nữa cần phải nêu ra. Bài thơ đầy đủ quá cho nên thiếu thốn. Và kết luận:
Nhân dân Vit Nam anh dũng
Ðã cm súng tiến lên
Nht đnh hoàn toàn thng li.

 Một khẩu hiệu chính trị đã nêu lên ngay từ khi toàn quốc bắt đầu kháng chiến. Khẩu hiệu diễn biến trong tâm trạng người dân Việt Nam, trong lòng anh bộ đội thành những tình, những ý gì thầm kín, sâu sắc? Khẩu hiệu đó đã tạo ra bao nhiêu hình ảnh đẹp, mạnh, sinh động vô cùng trong thời đại chúng ta? Muôn sắc muôn màu, muôn hình vạn trạng trong chiến dịch Ðiện Biên, ta không thể tham vọng nói hết trong một bài thơ và lại kết luận bằng khẩu hiệu.

 Người đọc, đọc một bài báo tóm tắt về chiến dịch Ðiện Biên và đọc một bài thơ trên, có thấy gì khác không? Bài thơ dễ lọt tai hơn, thế thôi. Anh bộ đội đã chiến đấu ở Ðiện Biên Phủ, không thấy được ở bài thơ chút gì tâm sự, bè bạn thâm tình. Nhiều độc giả bộ đội khen bài thơ hay rồi hôm sau thì quên. Bộ đội muốn có những bài thơ để nắn nót chép vào sổ tay, đút vào túi ngực, giữa hai đợt chiến đấu lại giở ra đọc, lúc vui, lúc lo nghĩ là lại lấy bài thơ làm người bạn tâm tình. Ða số bài thơ về bộ đội đã có trong tập Việt Bắc chưa thành người bạn tâm tình của bộ đội.

 Vì nhiều bài thơ rộng quá, tổng hợp quá, “chính trị” quá, nên nó bao quát và tất nhiên trở nên chung chung đại lược. Ta đi tới, ta đi khắp cả và nhất định “ta đi tới” thống nhất đất nước. Lời đẹp, ý đúng, tình cảm bay rộng khắp nhưng không xoáy chặt vào lòng người. “Ta đi tới” cũng giống như “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” từ đầu đến cuối rất đầy đủ về ý nghĩa chính trị. Ở bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” tôi thấy những câu những chữ rắn chắc, sấm sét, hùng mạnh, đến bài “Ta đi tới” tôi thấy những chữ những câu bóng bẩy, tha thiết, trùng điệp những tên thị trấn địa phương để khêu gợi lòng yêu đất nước. Một cảnh lấp lánh ánh sáng khắp nơi, khi lại gần thì nhạt nhẽo, không thấy đẹp nữa.

 Ở một số bài thơ gần đây của Tố Hữu, tôi thấy như vậy: Ðầu tiên thì nêu lên một vấn đề rồi tiếp đến suy luận bằng những câu văn đèm đẹp. Thành phố đã phá trụi thì nhất định là ngày sau phải tưng bừng. Cha mẹ em bé Triều Tiên chết treo khủng khiếp, em bơ vơ lạc lõng thì nhất định là có cả một dân tộc ở bên em, săn sóc cho tương lai em, và nhất định em sẽ sung sướng. Ðã chia ly Việt Bắc thì sau phải nghĩ đến Việt Bắc và trao đổi hàng hóa với Việt Bắc. Ðiện Biên đã thắng thì nhất định ở Hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ thêm điều kiện thuận lợi đấu tranh với kẻ thù.

Thật khó mà tìm thấy một khuyết điểm nào về ý nghĩa chính trị. Những bài thơ đó đầy đủ thế, nhưng rất ít chất của cuộc sống một dân tộc đã đấu tranh gay go phức tạp và đã giành được thắng lợi hòa bình. Tôi thấy bài “Ta đi tới” hoặc bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” giống như một vại nước to, đầy tràn, pha loãng một màu sữa. Loãng quá. Tôi thèm một cốc dù nhỏ thôi, nhưng chan chứa những chất sống nuôi dưỡng tâm hồn.

 Theo ý tôi, giá trị thơ không phải ở chỗ đầy đủ mạch lạc về một vấn đề chính trị. Thơ phải đi vào từng góc cạnh của tâm hồn từng lớp người đang xây dựng thời đại mới. Muốn nói tất cả phải đi sâu vào một khía. Và nhiều bài thơ góp lại, mỗi bài một góc tâm hồn khác nhau sẽ thành ra toàn bộ phản ảnh thời đại đi vào hiện thực chủ nghĩa. Như vậy từ con người đang dào dạt sức sống kết lại thành thơ, chứ không thể từ một khái niệm về đời sống, từ một luận đề chính trị viết ra thơ, dù rằng lúc viết, tác giả cũng cố tìm cảm xúc và tạo hình ảnh. Làm như thế, dễ rơi vào công thức, giả tạo. Và lập trường chính trị trong thơ chính là nói đúng được sự sống và xây dựng tâm hồn của con người đang sống trong một thời đại cách mạng.

Ở thời đại chúng ta, cái hiện thực xã hội chủ nghĩa nhất là ở lòng người dân đang tiến lên đè bẹp đế quốc và phong kiến. Sức sống mãnh liệt này tôi thấy rất ít trong tập thơ Việt Bắc. Tôi đã ngâm nga những bài đứng về phía đánh đế quốc chủ nghĩa để xem con người Việt Nam đứng lên tiêu diệt đế quốc xâm lược ra sao? Tôi thấy nhiều chữ, nhiều lời, nhiều cảnh đẹp và buồn, ít thấy hình ảnh con người điển hình của thời đại hiện ra bằng xương thịt rắn chắc, bằng đau đớn xót xa, bằng bước đi vững chãi. Thơ nói:
Ta đi ti trên đường ta bước tiếp
Rn như thép, vng như đng
Ði ngũ ta trùng trùng đip đip
Cao như núi, dài như sông
 Tôi vẫn chưa thấy con người bước đi rắn như thép cụ thể ở chỗ nào. Và “trùng trùng điệp điệp” chỉ là bốn chữ cố khêu gợi sức mạnh nhưng bản thân sức mạnh ấy không hiện ra.

 Còn những con người đau khổ tủi nhục vì bị giai cấp địa chủ bóc lột đến xương tủy, những người nông dân ngấm ngầm nuôi sức mạnh và rồi ào ào tiến lên, phá tung cảnh đọa đày của mấy nghìn năm phong kiến, tôi chỉ thấy vẻn vẹn có hai câu nói hăng hái nhưng trống rỗng:
Nhng bàn chân đã vùng dy đp đu
Lũ chúa đt xung bùn đen vn kiếp!

 Ðọc thơ và ngâm những bài thơ trong tập Việt Bắc, nhiều khi tôi thường có cảm giác buồn ngậm ngùi, đôi lúc xa vắng. Có ấm áp cũng là cái ấm áp mong manh chóng tắt và thấy cái đẹp cũng nhè nhẹ mơ màng. Ðôi khi thấy tha thiết mến thương nhưng không được bao lâu vì nhẹ quá và rộng quá. Tôi thèm ở Tố Hữu những bài thơ tâm sự với mình lâu dài. Nhưng trong tập Việt Bắc, phần lớn tôi chỉ gặp những bài rủ rỉ một lát rồi thôi.

 Rồi tôi suy nghĩ: Những bài thơ nào diễn tả lòng người sâu sắc nhất, lòng người của một thời đại, nhất định đều để lại trong lòng người ta những hình ảnh rung động lâu bền nhất. Tập thơ Việt Bắc ít chất thực tế để đúc thành thơ. Ðành rằng cần phải có những bài thơ do suy luận, nhằm mục đích hô hào, động viên, nhưng thực chất của bài thơ vẫn phải tìm trong cuộc sống sâu sắc. Thiếu sự sống phong phú, thơ trở nên vô duyên, khô khan, dù lời đẹp ý tốt. Tôi đã đọc nhiều bài thơ “mới nghe thì hay, nghe nhiều lần thì chán”. Ðó cũng là cảm tưởng cuối cùng của riêng tôi đối với tập thơ Việt Bắc.
 Nguồn: Văn nghệ, số. 67 (1.4.1955)



Thơ Tố Hữu nịnh quá hóa lố.
Phe quốc gia bị Việt cộng cho là tay sai Mỹ nhưng không có nhà thơ, nhà văn nào phải bắt đầu sự nghiệp bằng lạy lục cho được vào hội nhà văn của Đảng, và ca tụng các lãnh tụ Mỹ!
Trẻ con mới sinh chỉ có thể nói vài tiếng âm môi như BA., Má. Trẻ con Nga mới sinh ra cũng không thể nào gọi tên Stalin  như một đời  Tố Hữu nịnh hót!

 

Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được bác Hồ ghé thăm
Nói về ông Hồ, thì nói BÁC là đủ. Còn nói với người khác thì mới nói rõ BÁC HỒ


Nạn buôn người gia tăng tại Việt Nam
RFA
2017-01-07

Tòa án tình Quảng Tây hôm 16/8/2016 xét xử một đường dây buôn bán phụ nữ và trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc.
Tòa án tình Quảng Tây hôm 16/8/2016 xét xử một đường dây buôn bán phụ nữ và trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc.
AFP photo 
Tệ nạn buôn người tiếp tục gia tăng tại Việt Nam, mà nguyên nhân chính được cho là do tình trạng nghèo khó, pháp luật không được thực thi nghiêm minh, biên giới quản lý lỏng lẻo.
Thêm vào đó, nhu cầu cô dâu nước ngoài gia tăng tại một số nước trong khu vực cũng khiến cho nhiều phụ nữ Việt Nam trở thành nạn nhân của các đường dây buôn người.
Truyền thông trong nước trích dẫn báo cáo của Bộ Công An cho biết, trong năm 2016 vừa qua số nạn nhân của buôn người tăng 12,8% so với năm 2015.

Cũng theo báo cáo của Bộ Công An, mặc dù con số các vụ án buôn người giảm bớt 6%, nhưng trong năm qua tổng số nạn nhân của buôn người mà công an phát hiện được lên tới 1.128 người.
Các số liệu của Bộ Công An không nêu rõ có bao nhiêu trường hợp nạn nhân bị buôn bán vào các đường dây nô lệ tình dục và bao nhiêu là nạn nhân của buôn bán lao động. 

Nhưng theo số liệu của Ủy ban Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS và Ma túy, Mại dâm thì trong năm 2016 vừa qua đã có 600 phụ nữ và trẻ em được giải cứu khỏi các đường dây buôn người.
Theo các cơ quan chức năng Việt Nam, hầu hết nạn nhân của buôn người được đưa qua ngả Trung Quốc, nơi đang xảy ra tình trạng mất cân đối về giới tính - nam thừa nữ thiếu, dẫn đến nhu cầu về cô dâu nước ngoài tăng cao.

 
Thơ Tố Hữu là thơ tuyên truyền. Ông kich động những nhười bần cùng (Lượm) và những gái giang hồ (Trên sông Hương).Khi Tố Hữu vào Sài gòn, có người hỏi:”Ngày nay cô gái sông Hương ra  sao”? Tố Hữu nghẹn lời vì dưới ảnh hưởng Cộng sản, nghề “bán trôn nuôi miệng” phát triển với nhiều hình thức như bia ôm, karaoké ôm…Dẫu sao thời quân chủ và thực dân,ngành  xuất khẩu phụ nữ chưa có ở nước ta . Đến thời đại Hồ Chí Minh thì phụ nữ là món hàng trọng yếu. Thi sĩ Trần Hồng Châu có nhiều bài thơ về Hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam:


NẠN BUÔN NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ XUẤT KHẨU PHỤ NỮ, MÓN HÀNG TƯƠI SỐNG CỦA CỘNG ĐẢNG
TIN AFP

Rao truyền khắp năm châu bốn bể
“Trong 5 năm gần đây (hay 50.000?) con gái Việt Nam đã được bán buôn dưới nhiều hình thức.”
Những người con gái từng thấy trong ca dao
Trong thơ Nguyễn Bính chân quê
Trong thơ Hàn Mặc Tử chị ấy năm nay còn gánh thóc dọc bờ song trắng
nắng chang chang?

50 năm trước đây, thời thực dân mấy đời bánh đuc có xương
Họ còn được là cô dâu trong trắng nón quai thao về nhà những chàng trai quan
họ quần chùng áo dài nguyên nếp tình quê

5000 người con gái Việt Nam ấy ,hôm nay sau cơn mê sảng ý thưc hệ, mà họ
không hề tạo nên, đã là món hàng tươi sống xuất khẩu…
1. Về những phường dạ lạc HồngKông
2. Về những xóm yên hoa Macao
3. Về đảo quốc Đài Loan xả xui ngàn vàng.
4. Về vùng Lưỡng Quảng chiều mưa biên giới em đi về đâu?
5. Về niềm tủi nhục ngữa nghiêng Vọng Các thủ đô ổ nhện suốt sang thâu đêm.
 
Người đi xa xuất khẩu hàng tươi sống
Suốt đời đánh mất mái chùa rêu phong
Mất giọng bồng mạc mát rượi đồng quê
Mất giọng hò mái nhì và lý ngựa ô
Mất tiêu mất tich!

Người ở lại
1. Bia ôm pha nước mắt
Đắng đầu lưỡi tê dại
Bia sóng sánh vàng
Ngàn vàng cũng mất
Mất tiệt mất trắng
Mất tich mất tiêu
Trong buồng khách sạn đen
Đêm trắng sex tours….
(Trần Hồng Châu-
Mẹ Âu Cơ hôm nay buồn hay khóc?)


 

Để hiểu thêm Tố Hữu


Về mục Chia sẻ
Các đường dẫn bên ngoài này sẽ mở ở cửa sổ mới




 
Bản quyền hình ảnh ap
Image caption Không chỉ có Tố Hữu mà nhiều nhà văn miền Bắc cũng từng khóc Stalin
Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.
Về thơ: Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồiĐồng chí Stalin đã mất!Thế giới không cha nặng tiếng thở dài
Ở đoạn dưới:
Mẹ hiền ta ơiEm bé ta ơiĐồng chí Stalin không bao giờ chết
…Triệu triệu mẹ già em dạiĐều là súng Stalin để lạiGiữ lấy hòa bình thế giớiTiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Stalin của Huy Cận. Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.

Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyếnTừ bao lâu yêu Người tận tủy xươngTiếng khóc đây là tất cả can trườngThấy Người thật là bát cơm miếng bánhNgười gắn với chúng con trong vận mệnh
Về phần văn xuôi: Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:
Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.
Xin phép mở một dấu ngoặc. Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung Quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bướcDãy núi cao liền dãy núi caoQuê hương lãnh tụ mây thêu nắngThấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Nhà thơ bơ vơ

Trở lại chuyện Tố Hữu. Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớHiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đóBiết chăng còn lắm bạn đi đầy




 
Image caption Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Tố Hữu là nhà thơ có nhiều sách viết về ông nhất ở Việt Nam
Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình.

Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ. Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.
Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định. Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta. Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa. Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất. Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Ngược điều mình nghĩ

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích - sang Hội nhà văn nghe ngóng về. Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm! Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.

Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua.

Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.



Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó. Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông.

Nguyễn Khải sát hạch tôi: -Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người: -Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi: -Không được. Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ: -Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

 

Tố Hữu- thơ tự thán cuối đời và những vần thơ giễu nhại

Phùng Hoài Ngọc
1.
Sau khi trở về làm một công dân bình thường, thơ Tố Hữu đổi giọng. Bây giờ ông ta bắt đầu trung thực với mình.
Tố Hữu  buông ra lời oán trách lúc cuối đời qua bài “Một tiếng đờn” (tập thơ cùng tên):
Một tiếng đờn
Mới bình minh đó đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi lệ bỗng tuôn
Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy
Khuấy động lòng ta biết mấy buồn.

Ôi kiếp trăm năm được mấy ngày
Trời xanh không gợn áng mây bay
Thủy chung son sắt nên tình bạn
Êm ấm lòng ta mỗi phút giây.

Còn khổ đau nào đau khổ hơn
Trái tim luôn sát muối oán hờn
Còn đây một chút trong đêm lạnh
Đầm ấm bên em một tiếng đờn.
(Tố Hữu 20-2-1991)

Bình luận
 Mới bình minh đó đã hoàng hôn”
Câu mở đầu có ý nghĩa gì?
Khoảng cách từ thành công tới thất bại ngắn ngủi quá? (mới đó…đã…)
Câu thơ nói về ai? Cái gì?
Về chủ nghĩa xã hội Liên Xô và các nước Đông Âu chăng?

Về chính cuộc đời Tố Hữu ?
– Không phải về thân mình, bởi Tố Hữu trèo lên tới chức vụ hàng cao nhất (UV Bộ CT, bí thư TW Đảng) hưởng thụ bao bổng lộc, tới năm 1986  vì nhiều sai lầm khi làm phó thủ tướng nên mới bị bãi bỏ hết chức vụ. Năm 1996, ông ta còn được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1.

Tóm lại khi Tố Hữu 70 tuổi mới dời khỏi vũ đài chính trị và tạm gác vinh quang. Thế là ông ta được ưu đãi quá hậu hĩnh so với bao người khác, sao còn than thở !
Do vậy, lời than thở Mới bình minh đó đã hoàng hôn” chỉ có thể nhằm vào số phận của chủ nghĩa cộng sản. Trong lịch sử, khái niệm “bình minh và hoàng hôn” có thể là hàng trăm năm, dài hơn đời người rất nhiều.

“Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy”. Tục ngữ Việt Nam bàn về tính người, tình người nông nổi, bất thường sẽ nói “sớm nắng chiều mưa”. Tố Hữu buồn bực vì bạn hữu, đồng chí của ông sớm bạc bẽo với ông ta ư? Thôi thì đó cũng là những dòng thơ thành thực. Nhưng nếu bảo rằng ông ta oán trách Đảng nhà nước bạc bẽo thì ông ta ngông cuồng lố bịch quá rồi. Nếu thế thì Tố Hữu chỉ là một kẻ tiểu nhân làm cách mạng, chỉ mong được đền đáp thỏa mãn lòng tham vô độ của mình.
Câu thơ này thì ghê sợ quá: “Trái tim luôn xát muối oán hờn”

Một  bạo chúa làm thơ như làm xiếc chữ, cuộc đời sung mãn như Tố Hữu vậy mà còn “xát muối oán hờn” ai đây?
Hai câu thơ kết có vẻ lãng mạn vớ vẩn
Còn đây một chút trong đêm lạnh
Đầm ấm bên em một tiếng đờn”.

 Tố Hữu nghĩ, cuộc đời ông chỉ còn lại bà vợ (em) nghỉ hưu với chức vụ khá cao (cựu phó ban Tuyên huấn trung ương) và…một tiếng đờn ! Ai đờn cho ông? Đờn bài gì? Câu thơ chót rất vớ vẩn, nghệ thuật trở nên non tay khi Tố Hữu bắt đầu thành thực với chính mình.
 Kỳ lạ thật, chỉ khi làm thơ tuyên truyền đại ngôn cường điệu Tố Hữu mới sảng khoái bay bổng, còn khi làm thơ tự đáy lòng mình thì rất ấp úng, nghe rất khó chịu. Điều này cũng trái hẳn với các nhà thơ chân chính khác.

 2.
NHÁI NHẠI THƠ TỐ HỮU
Lịch sử vốn công bằng, vay gì phải trả nấy.
Tố Hữu đã vay quá nhiều vinh hoa phú quý ở đời từ sự bất hạnh khốn khổ ngoi ngóp của đồng nghiệp nên thơ ông ta đã kịp chết ngay khi nhà thơ còn sống. Oái oăm thay, chính nhân dân đã dùng những vần thơ nhái, thay cuốc, xẻng gậy gộc để đào huyệt chôn thơ Tố Hữu, trả thù việc Tố đã dùng gậy của Đảng để đánh anh em trước đó.
Trong “100 chân dung các nhà văn”, Xuân Sách đã dùng bút thần để họa chân dung Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió * thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây

*“Nhà càng lộng gió”: Tố Hữu được cấp biệt thự rộng rãi, bề thế 1.500 mét vuông (76 Phan Đình Phùng) mà thơ (tập Gió lộng) lên gân hô khẩu hiệu, nhạt như nước ốc, ngược hoàn toàn với cảnh ăn ở khốn cùng của các nhà thơ Việt Nam lúc ấy.
Trong khi ông bà dạy “máu đổ một giây, di họa một đời”, thì Tố Hữu vung bút ca ngợi sự đổ máu :
Cứ xốc tới, cứ chảy máu, cứ rơi đầu
Mỗi xác thây sẽ là một nhịp cầu
Cho ta bước tới chân trời khát vọng
Câu này Tố Hữu viết thực thà quá:“Mỗi xác thây sẽ là một nhịp cầu /cho ta (TH) bước tới chân trời khát vọng”– như một lời tự thú vô tình ! (Bài thơ này về sau Tố Hữu lược bỏ khỏi các tập thơ Tố Hữu).
Ví như Bài ca mùa xuân 1968, Tố Hữu viết đầy ngô ngọng, thô kệch:
Mà nói vậy trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ …
Bị nhại thành thơ tiếu lâm:
Tháng lương anh chia ba phần to nhỏ,
Anh giành riêng trả nợ phần nhiều
Phần cho em và phần để anh tiêu
Em xấn sổ thế cũng đòi sòng phẳng
Rồi hai đứa tay bo, hai thằng lỏng chỏng …
Còi xe cấp cứu “ủ” váng đường
Khổ thơ đầu của bài Từ ấy, sau bao lần chứng kiến cảnh lũ lụt của đồng bào, trái ngược hoàn toàn với “tâm hồn hoa lá, chim muông” Tố Hữu, một thi sĩ vô danh của dân tộc phải ngậm ngùi thốt lên:
Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch hương và bặt tiếng chim ca …
Cả bài thơ bốn khổ được các bậc tiên chỉ trong làng thơ, mỗi người góp một ý, sửa một câu, thành một bài toàn bích, nội dung châm biếm bài Từ ấy:
Từ ấy trong tôi bừng chính trị
Một trời mưu kế cháy trong tim
Hồn tôi
là một hầm giam giữ

Máu người dân và xác nhà văn
Tôi đã là cha của mọi thằng
Là anh của một lũ háo danh
Là em của bọn người cơ hội
Không lương tâm, lừa dối mị dân
Tôi quyết trèo lên cổ giống nòi
Nhân văn Giai phẩm đánh không thôi
Từ: Đang, Cao, Thăng, tới Cầm, Tuân, Bão…*
Kìm kẹp tang thương trọn kiếp người
Tôi buộc người dân sống đoạ đày
Để tiền trượt giá, có như không
Để người dân sống trong cùng khổ
Không áo cơm, cù bất cù bơ
Dân gian đã họa thơ Tố Hữu cuối đời như sau (hai khổ thơ):
 Danh lợi đua chen được mấy ngày
Phù vân một thoáng gió xua bay
Thủy chung không dễ đâu bè bạn
Êm ấm hồn sao được phút giây .
Đúng vậy, còn gì đau khổ hơn
Đời nay đòi trả nỗi oán hờn
Còn đây một chút trong cỏ lạnh
Mới thấm nhân văn một tiếng đờn
(Có tham khảo bài viết của Hoàng Tiên Sơn, góc thành Nam 2004, Hà Nội)

(*) Chú thích
Nguyễn Hữu Đang: cựu Thứ trưởng Bộ thanh niên bị đi cải tạo 25 năm tại Lai Châu, sau khi về quê ở Thái Bình còn tiếp tục bị quản thúc.
– Văn Cao nhạc sĩ nhà thơ họa sỹ, tác giả của bài Quốc ca (Thiên thai từ giã về dương thế, nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta – Xuân Sách vịnh)
– Hoàng Cầm nhà thơ (Bên kia sông Đuống em trông/Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng– Xuân Sách vịnh)
– Phù Thăng tác giả cuốn “Phá vây” (Phá vây rồi lại chết mòn trong vây – Xuân Sách vịnh)
– Hà Minh Tuân: Tác giả cuốn tiểu thuyết “Vào đời “(Bốn mươi tuổi mới vào đời, ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ – Xuân Sách vịnh)
– Nhà văn Vũ Bão tức Phạm Thế Hệ với tiểu thuyết đầu tay “Sắp cưới” (Sắp cưới lại có thằng phá đám, Nên ông chửi bố chúng mày lên..-  Xuân Sách vịnh) v.v …

GNLT



No comments: