Saturday, December 30, 2017

LẠI NGUYÊN ÂN * THẢO LUẬN 1955 VỀ TẬP THƠ VIỆT BẮC (Phần III)

 

LẠI NGUYÊN ÂN * THẢO LUẬN 1955 VỀ TẬP

THƠ VIỆT BẮC (Phần III)



11.NHÂN DÂN
Ðẩy mạnh phong trào phê bình văn nghệ

Trong vòng hơn một tháng nay, một phong trào phê bình đã nhóm lên trong giới văn nghệ với những cuộc hội họp thảo luận về truyện Vượt Côn đảo của Phùng Quán, tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, và những bài phê bình về hai tác phẩm đó đăng trên các báo Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn Nghệ Việt Nam, Sinh hoạt văn nghệ, của quân đội và một vài báo khác. Báo Nhân dân, rất hoan nghênh phong trào phê bình văn nghệ hiện nay, vừa rồi cũng đã đăng bài của các bạn Ðức Minh, Thúc Ðạt phát biểu ý kiến về truyện Vượt Côn đảo, bài của Hoàng Yến về tập thơ Việt Bắc.


Ðó là một dấu hiệu tốt cho văn nghệ. Việc phê bình có tác dụng nâng cao lập trường, tư tưởng của anh chị em trong công tác văn nghệ, giúp anh chị em nhận rõ những ưu điểm cần phát huy, những khuynh hướng sai lầm cần sửa chữa, để tiến tới xây dựng những tác phẩm có giá trị hơn nữa về nội dung và nghệ thuật.


Cuộc phê bình truyện Vượt Côn đảo và tập thơ Việt Bắc đã được một số khá đông anh chị em công tác văn nghệ ở thủ đô sốt sắng hưởng ứng. Ðiều đó tỏ rõ trong các buổi họp thảo luận do Hội Văn nghệ Việt Nam và Phòng Văn nghệ quân đội tổ chức, hoặc bằng những bài phê bình gửi đăng trên các báo. Nhưng muốn thu được nhiều kết quả, cuộc phê bình cần được sự hưởng ứng rộng rãi hơn nữa của giới văn nghệ, không những ở thủ đô, mà cả ở các khu, các tỉnh. Ngoài ra cuộc phê bình cũng cần được sự hướng ứng và tham gia của quần chúng. Báo Sinh hoạt văn nghệ vừa rồi đã có sáng kiến trích đăng một số thư của bộ đội nhận xét về cuốn Vượt Côn đảo. Chúng tôi thấy đó là một ưu điểm. Vì những tác phẩm văn nghệ của chúng ta ngày nay đã có một số người đọc tương đối đông đảo trong hàng ngũ bộ đội, cán bộ, học sinh, trí thức, trong nhà máy và ở nông thôn. Do đó, việc thu thập những ý kiến phê bình của quần chúng là một điều cần thiết. Mặt khác, tiếng nói phê bình của quần chúng cũng đã đặt một sự liên hệ tốt giữa người đọc và nhà văn, một sự liên hệ chỉ có thể thực hiện dưới chế độ dân chủ của chúng ta, và có tác dụng khuyến khích nhà văn trên con đường tu dưỡng và sáng tác.


Ðể mở rộng phong trào phê bình, trước hết phải phát huy tự do tư tưởng trong phê bình, mỗi người cần mạnh dạn và thành thật nói lên những ý nghĩ đối với tác phẩm đề ra phê bình. Mục đích duy nhất của sự phê bình đúng đắn là giúp đỡ nhau học tập, tiến bộ, gây một không khí phấn khởi sáng tác. Các cuộc thảo luận phê bình truyện Vượt Côn đảo và tập thơ Việt Bắc cho thấy rằng nói chung anh chị em công tác văn nghệ có một thái độ phê bình xây dựng cần hoan nghênh.

Bên cạnh đó, cũng có một vài hiện tượng phê bình cần tránh là thiếu tinh thần xây dựng, giúp đỡ. Phê bình với thái độ đả kích hoặc thiên vị cố nhiên không đúng. Nhưng nay phong trào phê bình mới chớm bắt đầu, hiện tượng e dè còn nhiều, ta cần khuyến khích làm sao để mọi người hăng hái tham gia phong trào phê bình. Còn những lệch lạc có thể xảy ra thì không đáng ngại. Và nhất là khi phong trào phê bình chưa hăng hái rộng rãi mà ta nhấn mạnh quá về thái độ phê bình, e rằng khó gây được một phong trào rộng rãi hoặc khó gây được thành phong trào.


Muốn cho công tác văn nghệ của ta tiến lên mãi, chúng ta cần nhân dịp này mở rộng phong trào phê bình, tự phê bình về một số tác phẩm. Rồi do những cuộc phê bình ấy mà đi đến những kết luận cần thiết, giúp ích cho công tác của chúng ta từ đây về sau.


Báo Nhân dân rất hoan nghênh các bạn đọc có ý kiến phát biểu về hai tác phẩm trên. Vì hiện nay ta còn nhiều công tác lớn hơn rất quan trọng nên thì giờ và tâm sức để vào việc phê bình văn nghệ này chỉ có hạn. Cuối cùng báo Nhân dân sẽ phát biểu ý kiến của mình đối với hai tác phẩm nói trên để cùng các bạn trao đổi ý kiến [1] .

Nguồn: Nhân dân, 10.4.1955

[1] bài này không ký tên tác giả; có thể coi đây là một dạng xã luận, và tác giả là Ban biên tập báo Nhân dân.

12.VĂN NGHỆ
Tin văn hóa (trích)

Hai cuộc nói chuyện văn nghệ:

Tối 5-4-1955, trước 3000 sinh viên các ngành đại học và đại học nhân dân, anh Xuân Diệu đã nói chuyện về "Ðịch và Ta trong thơ Tố Hữu".

Tối 8-4-1955, nhân buổi Thành Ðoàn Thanh niên Việt Nam ở Hà Nội phát giải thưởng cho cuộc thi ca dao chống Mỹ, cùng một diễn giả đã nói chuyện trước 400 thanh niên về "Thơ ca kháng chiến của nhân dân".

Nguồn: Văn nghệ, số 68 (11.4.1955)

13.N.H.
Cuộc hội nghị phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu lần thứ 2: Sôi nổi và tiến bộ rõ rệt

Sau cuộc họp thứ nhất tối 31-3-1955, Ban văn học Hội văn nghệ Việt Nam lại triệu tập cuộc họp tối 7-4-1955 phê bình lần thứ hai tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Lần họp này chủ yếu vẫn dành riêng cho những anh chị em trong ngành thơ và một số bạn yêu thơ. Có 68 người dự, trong đó có 5 phụ nữ, nhiều anh em công tác văn thơ miền Nam và nhiều anh em văn nghệ bộ đội. Những nhà thơ quen biết đều có mặt: Tú Mỡ, Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hoàng Trung Thông, Bảo Ðịnh Giang, Tế Hanh, Hằng Phương. đồng chí Nguyễn Chí Thanh, chủ nhiệm Tổng cục chính trị cũng tới dự. Lần này lại có thêm các giáo sư đại học Hoàng Xuân Nhị, Trần Văn Giầu tham gia. Không khí thảo luận sôi nổi hơn lần trước.

Cũng như lần trước, cuộc họp này chứng tỏ dưới chế độ dân chủ cộng hòa, tự do tư tưởng đang được phát triển, và giữa thủ đô Hà Nội không khí phê bình, tự phê bình lành mạnh đang thu hút các bạn văn nghệ cùng nhau tìm rõ phương hướng tiến lên. Trong buổi họp, cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề mà Hoàng Yến đã đặt ra "thơ Tố Hữu đã hiện thực chưa? " Nhiều bạn đã đi sâu phân tích, so sánh thơ Tố Hữu trong thời kỳ đấu tranh bí mật và thơ Tố Hữu trong thời kỳ kháng chiến vừa qua.

Việc phê bình đang dần dần đi vào nề nếp suy luận chín chắn, căn cứ vào hoàn cảnh thời gian, không gian và xúc cảm thật của tác giả trong khi sáng tác mà đối chiếu với tiêu chuẩn tư tưởng của văn học, phê bình với tinh thần xây dựng. Nhà văn Nguyễn Hữu Ðang phát triển những ý kiến đã phát biểu trên báo của Hoàng Yến và Hoàng Cầm cho rằng trong tập thơ Việt Bắc cái buồn tiểu tư sản rơi rớt từ đầu đến cuối và không thấy con người Việt Nam qua kháng chiến thử thách lớn mạnh lên chút nào.

Giáo sư Hoàng xuân Nhị và thi sĩ Huy Cận bênh vực những bài thơ của Tố Hữu đã bị phê bình nhiều nhất. Theo giáo sư Hoàng Xuân Nhị, thơ Tố Hữu đã được nâng cao, đã đạt tới chỗ "thơ ở ngoài lời" mà người xưa đã nói. Thi sĩ Huy Cận muốn phân biệt chủ nghĩa hiện thực với tưởng tượng lãng mạn, và cho rằng chủ nghĩa hiện thực là đi từ thực tế theo một hướng phát triển có lãnh đạo của giai cấp công nhân mà sáng tác, như vậy thì thơ Tố Hữu trước kia có nhiều tính chất tưởng tượng lãng mạn, còn thơ Tố Hữu ngày nay là hiện thực chủ nghĩa: hướng chung là có đi lên trên cơ sở thực tế. Tuy vậy theo thi sĩ Huy Cận, tập thơ Việt Bắc chưa phải là kiệt tác, chất thơ có hạn, gợi đồng cảm còn ít, nhiều chỗ còn ngậm ngùi, rơi rớt buồn.

Thi sĩ Huy Cận nhường lời cho thi sĩ Lưu Trọng Lư, chưa nói hết ý kiến mình về điểm này. Nhiều người còn muốn phát biểu ý kiến nhưng vì thời giờ hạn chế nên phải để đến những lần khác.

Nguồn: Nhân dân, 11.4.1955


14.NHÂN DÂN
Cuộc họp thứ ba thảo luận về tập thơ Việt Bắc

Tiếp theo hai cuộc họp trước, tối thứ năm 14-4-1955 Ban văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam đã triệu tập cuộc họp thứ ba để thảo luận về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Ðến dự, cũng như trong hai cuộc họp trước, có đông đủ anh chị em quen biết trong ngành thơ và một số anh chị em yêu thơ hoặc hoạt động trong các ngành nghệ thuật khác.

Cuộc thảo luận rất sôi nổi vẫn xoay quanh vấn đề tính chất hiện thực trong thơ Tố Hữu.

Cuộc thảo luận vẫn tiếp tục.

Nguồn: Nhân dân, 17.4.1955


15.VĂN NGHỆ
Tin văn hóa (trích)
Các cuộc họp phê bình tập thơ Việt Bắc:

Tối 7 và tối 14-4-55 vừa qua Ban Văn học Hội Văn nghệ Việt Nam tiếp tục triệu tập các cuộc họp phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Các buổi họp này vẫn chủ yếu dành riêng cho anh chị em trong ngành thơ và một số bạn yêu thơ. Các giáo sư đại học, sinh viên, cán bộ phụ nữ, nhiều anh em công tác Văn nghệ miền Nam và nhiều anh em văn nghệ và cán bộ quân đội đều có mặt.

Nguồn: Văn nghệ, số 69 (21.4.1955)







16.HIỆN THỰC [1]
Sổ tay văn nghệ (trích)

Trong một bài thảo luận về tập thơ Việt Bắc, tác giả có viết một câu: "Phút công đồn là phút quyết liệt nhất trong cuộc đời người lính chiến đấu… Nhân dân nuôi cơm nghìn bữa để hôm nay đánh giặc một giờ…" [3]

Tôi rất hiểu tác giả muốn nói bộ đội biết ơn nhân dân, biết ơn công sức của nhân dân, nên quyết tâm vì nhân dân diệt địch. Nhưng cách nói không ổn. Ðọc câu này tôi liên tưởng nhớ đến thời nhỏ đọc sách truyện Trung Quốc, khi các nhà vua và tướng phong kiến đưa quân đi đánh trận, chúng thường kể ơn cho ăn cho mặc, đại khái nói: "Nuôi quân nghìn ngày, dùng quân một lúc", v.v... Câu văn của tác giả cũng vậy, có tính cách đếm ngày nuôi, đếm bữa ăn, đếm giờ đánh giặc, gợi ra một tương quan đếm lường không đúng. Nhất định chúng ta không bao giờ có ý nghĩ "ăn cơm bà chúa, bây giờ múa đi!"

Tinh thần tác giả muốn nói một đằng, câu văn tác giả lại nói một nẻo.

Nguồn: Văn nghệ, số 68 (11.4.1955).









[1]Hiện Thực là bút danh ký dưới các bài trong tiểu mục “Sổ tay văn nghệ” của báo Văn nghệ trong năm 1955. Chưa rõ những nhà văn nào thường viết cho mục này. Sang năm 1956, một trong số những người viết mục này ký là Bạch, tức là nhà văn Nguyễn Tuân.
[3]Ðây là ý và câu trích từ bài của Hoàng Yến.





17.LÊ ĐẠT
Tranh luận về tập thơ Việt Bắc:




Giai cấp tính trong thơ Tố Hữu

Phê bình thơ Tố Hữu có phải để đánh giá một người không? Nếu thế thì chúng ta cũng chẳng phải tranh luận nhiều làm gì.

Yêu cầu của chúng ta lớn hơn. Chúng ta muốn nhân tập thơ Tố Hữu đề cập đến vấn đề hiện thực trong thơ, đến vấn đề đấu tranh cho chủ nghĩa hiện thực mới, nó là một vấn đề sống còn của văn nghệ hiện nay. Cán bộ chúng ta chịu trách nhiệm trước phong trào, cũng như trước quần chúng. Cho nên thích hay không thích cũng phải đứng trên yêu cầu đó. Trong những cái thích hay không thích lẫn lộn, nhiệm vụ của chúng ta là phải rút ra những nguyên tắc, những nhận định căn bản để hướng dẫn dư luận, hướng dẫn cái thích của quần chúng.

Một tác phẩm được hoan nghênh nhất định là có một giá trị nào. Nhưng hoan nghênh như thế không có nghĩa là đã hiện thực, đã tiêu biểu được cho cái mới.

Bây giờ không ai còn "bốc"như Xuân Diệu, ca tụng thơ Tố Hữu là tiêu biểu cho thời đại, là lá cờ dẫn đầu của thi ca Việt Nam nữa rồi. Người ta suy nghĩ chín chắn hơn và bắt đầu dè dặt.

Hoàng Cầm và một số anh em thấy thơ Tố Hữu buồn. Nhưng tại sao buồn? Thực chất của cái buồn đó như thế nào?

Hoàng Yến và một số anh em khác nhận xét tập Việt Bắc không hiện thực, không thể hiện được cuộc sống nhiều mặt của thực tế. Nhưng vì đâu mà không hiện thực?

Căn bản của vấn đề là ở đâu?

Nếu ta cứ trích từng bài hay từng câu, chẻ sợi tóc ra làm tư để phân tích, phê phán thì khó có thể dẫn đến kết quả mong muốn.

Tính chất hiện thực của một nhà thơ không phải chỉ nằm trong một câu hay một bài mà ở toàn bộ những bài thơ, không phải ở một vài chữ, một vài hình ảnh, một vài ý, mà ở toàn bộ điệu thơ nó là điệu tâm hồn của tác giả.

Mà nói đến hiện thực là phải nói đến giai cấp. Căn bản của vấn đề hiện thực là vấn đề giai cấp. Thực chất của cái buồn trong thơ Tố Hữu cũng là vấn đề giai cấp. Tách rời khỏi vấn đề giai cấp sẽ không thể nào bàn đến vấn đề hiện thực một cách sâu sắc và triệt để được. Tách rời khỏi vấn đề giai cấp thì cũng như thầy bói xem voi, người sờ được cái vòi, người sờ được cái tai, mà không hiểu được toàn thể con voi như thế nào.

Ði tìm tính chất giai cấp trong thơ Tố Hữu, ta thấy gì?

Ta thấy tác giả có nhiều cố gắng đi tới công nông, nhưng vì sự thâm nhập thực tế của tác giả còn thiếu sót nên trong thơ của Tố Hữu còn rơi rớt nhiều tính chất tiểu tư sản biểu hiện ở tính chất ngậm ngùi, buồn buồn, ít hành động, nó toát ra từ đại bộ phận những vần thơ của Tố Hữu, nó là cơ sở của điệu tâm hồn Tố Hữu. Cái điệu ngùi ngùi, heo hút ấy nó không phải là thực chất tâm hồn của công nông, tâm hồn yêu đời tự tin của những người chiến thắng, chiến thắng kẻ thù, chiến thắng hết thảy để xây dựng lại xã hội.

Người ta thường ca ngợi thơ Tố Hữu nhiều tình. Hình ảnh của những bà mẹ thật đằm thắm, nhưng ngùi ngùi làm sao! Bà mẹ giữa cảnh "heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn", "chân lội xuống bùn tay cấy mạ non" mong manh buồn tủi quá.

Nói đến bộ đội cũng thế, Tố Hữu nghĩ ngay đến

Người lính trường chinh áo mỏng manh



Bước run bước ngã, bước lầy, bước trơn

Lòng yêu của Tố Hữu làm người bộ đội bé hẳn lại. Tố Hữu mang cái ngậm ngùi, cô đơn tiểu tư sản của mình khoác cho thực tế.

Cái yêu mến của Tố Hữu còn nhiều rơi rớt xót xa của thời đại trước, cái xót xa của con người bất lực trước xã hội, con người chưa nhận thức được đầy đủ sức mạnh của tập thể, chưa khắc phục được cái buồn thương tiểu tư sản. Về bài “Việt Bắc” cũng thế, tác giả đã nhuộm bài thơ trong một màu ly biệt ảm đạm, heo hút:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già.

Ta thấy Việt Bắc nhỏ bé quá. Việt Bắc sướt mướt như một người đàn bà sợ bị tình phụ. Có người nói bài Việt Bắc âm điệu phong phú, hình ảnh đằm thắm nghe hay lắm.

Nhưng kết quả bài thơ dạy ta cái gì, cho ta cái gì? Ðọc xong bài thơ, thương nhớ ngậm ngùi tràn ngập lòng ta.

Bài thơ làm ta rung động. Nhưng thơ có phải chỉ là rung động thuần túy theo cảm tình đâu, thơ còn là tư tưởng, là hành động. Xét một tác phẩm không thể chiều theo những rung cảm chưa được giáo dục kỹ của mình.

Nói như thế không phải chúng ta không chủ trương nói buồn nói nhớ. Trong kháng chiến, trong cuộc đời mới lớn lên của chúng ta có bao nhiêu vui, buồn, nhớ, thương, giận, ghét, nếu bóc hết cả đi thì còn gì là đời sống con người nữa? Phải nói, nói hết, nhưng nói gì thì nói, kết quả cũng phải làm ta thêm yêu, thêm giận, thêm tin tưởng, thêm quyết tâm chiến đấu. Chúng ta chống là chống "tình cảm chủ nghĩa" tiểu tư sản, yếu ớt, cũng như chúng ta chống chủ nghĩa công thức bất cứ bài gì cũng phải nhét các thứ khẩu hiệu vào cho đủ mặt hàng.

Lại có người nói: "Bài ‘Việt Bắc’ phản ảnh được đúng sự nhớ thương của tôi khi tôi rời trên ấy về xuôi". Ðúng. Mới đầu tôi đọc tôi cũng thấy thế. Nhưng vấn đề là cái "tôi" nào? Trong mỗi người, ta không nên quên, đều có hai cái "tôi": cái "tôi" cũ và cái "tôi" mới. Nhiều lần ta cứ nhầm cho rằng cái "tôi" cũ, cái "tôi" tiểu tư sản, đại diện cho mình. Không! Cái "tôi" mới, cái "tôi" của thời đại, của Ðảng, mặc dầu sinh sau đẻ muộn, đôi khi còn non, nhưng cái "tôi" đó mới xứng đáng đại diện cho chúng ta.

Nhiệm vụ của văn nghệ là giáo dục những tình cảm lớn, giúp chế độ đào tạo thêm những anh hùng; nếu thấy gì viết thế, cảm xúc thế nào, viết thế ấy, sẽ rơi vào tự nhiên chủ nghĩa, không những không có lợi mà còn có hại.

Thơ Tố Hữu không những có nhiều rơi rớt tiểu tư sản mà còn nhiều rơi rớt phong kiến nữa.

Không thể quan niệm một cách quá giản đơn như Vũ Ðức Phúc, nhất định cho rằng "một người đã vào sinh ra tử bao nhiêu năm trời như Tố Hữu"... nhất định phải như thế này như thế khác. Suy luận như vậy rất dễ dẫn đến những nhận xét chủ quan sai lầm. Nếu thế thì cần gì phải xem thơ mới phê bình được, chỉ xem tên tác giả hay lý lịch tác giả có lẽ cũng quá đủ rồi.

Ðể dẫn chứng tôi xin phân tích một số tình cảm lớn của thời đại trong thơ Tố Hữu. Tôi sẽ không nói về tình cảm đối với Ðảng vắng mặt một cách quá rõ rệt trong tập thơ (ngoài mấy câu khô khan:

Buồm là Lao động
Gió là Ðảng ta

in ở đầu tập thơ, tình cảm đối với Ðảng còn có gì trong suốt tập thơ?) và tình cảm đối với chế độ cụ thể trong tình cảm đối với nông dân chuyển mình trong cách mạng ruộng đất.

Tôi chỉ đề cập đến vấn đề tình cảm đối với lãnh tụ. Trước hết phải nói ngay trong những bài thơ ca ngợi lãnh tụ của chúng ta những bài thơ của Tố Hữu tương đối là những bài trội nhất.

Nhưng cũng cần phải phê bình nghiêm khắc, vì tôi cho tình cảm trong những bài đó chưa thật đúng với nhân sinh quan mới. Còn nhiều rơi rớt phong kiến quá, chưa thể hiện được đúng bản chất của lãnh tụ cách mạng.

Nói về Bác, Tố Hữu viết trong bài “Việt Bắc”:

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Ta thấy một ông già tiên phong đạo cốt, nhàn tản đi giữa một cảnh thần tiên, thong dong một cách rất Lão Trang. Từ một người chiến đấu cách mạng kết tinh đến cao độ cái phần sâu sắc nhất của triết học phương đông với cái hành động mau lẹ, sáng suốt, quyết liệt của một người Bôn-sê-vích, tác giả do cái thích thú chủ quan của mình, đã đẩy lùi hình ảnh lãnh tụ vào quá khứ. Một người mới nhất, đẹp nhất, cao quý nhất của dân tộc, qua cái nhìn không đúng của tác giả, trở thành một đạo sĩ tầm thường.

Về bài “Sáng tháng Năm” cũng vậy, trong những câu thơ

Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng, ruộng đồng nước non...
Trán mênh mông thanh thản một vùng trời

tác giả truyền cho ta một cảm giác nguy hiểm là ta thấy ta nhỏ bé quá. Hình ảnh lãnh tụ choán hết cả. Lãnh tụ là một trái núi mà ta chỉ là một con kiến nhỏ.

Theo ý kiến tôi, ở đây bài thơ cũng mắc phải cái bệnh tôn sùng lãnh tụ nhuốm nhiều màu sắc thần thánh hóa phong kiến còn rất phổ biến trong chúng ta.

Lãnh tụ của ta và lãnh tụ phong kiến là hai vấn đề khác nhau ở căn bản. Lãnh tụ phong kiến biệt lập với nhân dân quần chúng. Lãnh tụ phong kiến tự tạo cho mình một uy thế dị thường đè bẹp những con người quần chúng. Lãnh tụ là trời, nhân dân là cát bụi, lãnh tụ là tất cả, nhân dân là không cái gì. Còn lãnh tụ của ta khác. Khác một trời một vực. Lãnh tụ với nhân dân là một. Lãnh tụ là cha của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là con của dân tộc. Hồ Chủ tịch lớn là do nơi đại diện cho những con người cũng lớn vì có đấu tranh cách mạng. Uy tín của Hồ Chủ tịch là uy tín của quần chúng. Cho nên đề cao Hồ Chủ tịch bằng cách xóa nhòa chúng ta đi, làm bé chúng ta đi, là thu nhỏ hình ảnh Hồ Chủ tịch lại.

Tôi lược dịch ra đây một đoạn thơ của Mai-a-kốp-ski nói về Lê-nin để so sánh cho dễ thấy điều đó.

Nếu trên đầu Lê-nin chúng đặt một vòng


hào quang


Tôi sợ chúng làm lấp mất
Vầng trán thật của Lê-nin
Vầng trán rộng, nhân đạo và sáng suốt
Tôi sợ những đám rước, những đền đài
Lòng chiêm ngưỡng, những nghi lễ
Sẽ làm chết đuối trong nước phép
Lê-nin và tính giản dị của Người
Có thể nào quan niệm Lê-nin
Như một lãnh tụ nhờ phước lành của thượng đế
Nếu Lê-nin có vẻ vua chúa hay thần thánh
Vô cùng căm phẫn và không giữ gìn nữa
Tôi sẽ chặn ngang đám tang
Và vứt vào bọn chiêm ngưỡng mù quáng
Những lời nguyền rủa [1]

Khoẻ mạnh chân tình và tự hào bao nhiêu! Chúng ta tự hào vì lãnh tụ, nhưng lãnh tụ cũng tự hào vì chúng ta.

Tôi nói về một thiếu sót lớn nữa trong thơ Tố Hữu: tính chất xa thực tế, xa quần chúng.

Thơ Tố Hữu nhiều người thuộc thật đấy, dễ hiểu thật đấy nhưng vẫn xa quần chúng, vì quần chúng tính của một tác phẩm căn bản là có nói lên được đúng những băn khoăn mơ ước hàng ngày của quần chúng hay không. Thơ Tố Hữu mới chỉ một phần nào quần chúng ở hình thức. Nội dung của thơ Tố Hữu chưa theo sát được cuộc đời.

Thơ của Tố Hữu thiếu nhiều hình ảnh mới đương nẩy nở trong cuộc đời mới. Thơ Tố Hữu nhiều nhớ thương hơn là hành động. Thơ Tố Hữu ít hiện tại và ít tương lai. Những câu thơ có nhiều truyền cảm của Tố Hữu là những câu thơ buồn thương và nhớ.

Còn khi Tố Hữu đề cập đến những vấn đề hiện tại thì nhiều chỗ sượng và tầm thường:

Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
...Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu

hay

Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tiêu diệt hai là tù binh

và đoạn cuối của bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên”:

Ở Việt Nam các anh nên nhớ
Chính nghĩa thật là đáng sợ...

Tính chất tiểu tư sản và thiếu thực tế còn ảnh hưởng cả đến hình thức những câu thơ. Lời thơ bàng bạc, đèm đẹp như ở một thời gian xa xa nào, những câu lục bát nhiều dáng dấp của Nguyễn Du hơn là của ca dao:

Trông nhau tủi tủi mừng mừng
Lời thề Ðộc lập vang lừng nước non
....................
Mười năm những mấy ngàn ngày
Nhớ không thấy mặt đợi rầy đợi mai
..................
Bao phen tan cửa nát nhà
Ðầu rơi máu chảy biết là mấy thân

Ðôi chỗ giống hệt những câu sáo nhất của thơ Tản Ðà:

Nước trôi nước có về nguồn,
Mây đi mây có cùng non trở về

Chính sự xa rời cuộc sống làm hơi thơ Tố Hữu càng ngày càng đuối. Tác giả phải tiêu dùng vào vốn cũ nhiều quá nên những bài sau (từ bài “Lại về” trở đi) hơi thơ yếu, điệu thơ và hình ảnh cũ lại xâm nhập vào rất mạnh.

Cứ so sánh những bài đầu tập thơ và những bài cuối tập thơ thì thấy rõ. Khi nào Tố Hữu chịu đi sát thực tế thì tính chất ngậm ngùi tiểu tư sản bớt đi, nhưng càng về sau càng xa thực tế, tính chất tiểu tư sản càng ùa vào. Con đường đi của tập thơ Việt Bắc có thể nói là đi từ chỗ tương đối thực tế, sa dần vào khái niệm trừu tượng. Hiện tại thụt chân vào trong dĩ vãng. Quá khứ tấn công mạnh vào thơ Tố Hữu. Nhiều khi ta thấy như thơ Tố Hữu bất lực trong việc diễn tả hiện tại.

Nói về mười năm trưởng thành của dân tộc, sau khi nhớ thương nhắc đến những ngày gian khổ đã qua trong những câu thơ tê tái xót xa:

Nhớ ngày súng mất đạn không
Mùa hè giặc quét mùa đông giặc về v.v...

Tố Hữu nhắc đến cái vĩ đại phấn khởi của hiện tại:

Lòng ta lại thấy ngày mai
Chân đi mỗi bước nở vài bông hoa
..................
Người đi thác chảy qua rừng
Hoa đâu về nở tưng bừng Thủ đô.

Sao mà vắng lặng và xưa cũ thế!

Nhất là bài “Quê mẹ” (chưa in trong tập Việt Bắc), từ ý thơ đến hình ảnh, đến âm điệu nhiều điểm cũ quá. Có những câu:

Mây núi hiu hiu chiều lẳng lặng
Mưa nguồn gió biển nắng xa khơi
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương
Mái nhì man mác nước sông Hương
À ơi tiếng mẹ ru nhè nhẹ
Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường
..................
Lòng ta như nước Hương Giang ấy.

Ta tưởng đâu như thơ hồi 1936.

Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu. Nó là nguyên nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ [2] .

Vì thiếu thực tế nên Tố Hữu phải suy luận. Suy luận lại không trải qua lao động sáng tác gian khổ nên bố cục lỏng lẻo, nhiều bài giống nhau, tham ý, tham lời, thiếu tính chất cô đọng sâu sắc và tổ chức chặt chẽ của một tác phẩm nghệ thuật (Xem “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên”, “Lại về”, “Mười năm” và cả “Ta đi tới” nữa).

Thiếu thực tế, thiếu nghiền ngẫm suy nghĩ thật thấu đáo, không sống bài thơ mình một cách thật sâu sắc, không thể tạo được một bài thơ hay.

Chắc có bạn sẽ nói: "Làm thơ khó thế thì còn ai dám làm?"

Tôi thấy đã đến lúc có thể nói thẳng với nhau là làm thơ rất khó, khó và nhọc như bất cứ một công việc lương thiện nào ở trên đời.

Người ta phải học năm mười năm mới thành một người thợ, sao người ta lại muốn "vẩy bút" thành thi sĩ.

Chúng ta làm thơ cũng như người thợ sản xuất, người nông dân cày ruộng, người cán bộ làm chính trị.

Một số anh em làm thơ hay than phiền là bị một số cán bộ các ngành khác coi thường. Theo ý kiến tôi, lỗi tại các cán bộ kia một phần (vì còn mang nặng cái lối đánh giá của thời đại cũ) nhưng một phần cũng lỗi tại chúng ta. Chúng ta còn chưa thật coi trọng nghề nghiệp của mình.

Từ nãy đến giờ tôi nêu ra toàn những khuyết điểm. Tập thơ không có chút ưu điểm nào chăng?

Không phải. Việc tập thơ còn được một số đông trong quần chúng hoan nghênh đủ là một bảo đảm cho giá trị của nó trong giai đoạn hiện tại.

Thơ Tố Hữu, đứng về một phương diện nào mà nói, là thơ có ích. Tố Hữu có nhiều cố gắng phục vụ công tác chính trị. Tố Hữu hơn một số anh em làm thơ ở chỗ giải thích chính sách bằng thơ có rung cảm mặc dầu rung cảm còn vương vất tàn tích tiểu tư sản. Thơ Tố Hữu nhiều chỗ là những bài học về chính sách tốt.

Nhưng là những bài học về chính sách tốt không phải là đã hiện thực, đã công nông. Ý tốt, ý đúng không phải đã là toàn bộ vấn đề nội dung của Thơ. Vấn đề nội dung, tôi nhắc lại, căn bản là vấn đề điệu tâm hồn của tác giả [3] . Tôi thấy mức giá trị của thơ Tố Hữu, của điệu tâm hồn tác giả tỏa ra trong tập thơ là mức tiểu tư sản cách mạng [4] . Ưu điểm của Tố Hữu là ở đó, nhưng khuyết điểm của Tố Hữu cũng là ở đó.

Chắc các bạn cho là tôi đòi hỏi nhiều quá.

Nhiều và không nhiều.

Nếu bạn chỉ đòi hỏi tập thơ xem được, một tập thơ của một người yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất và so sánh với một vài tập thơ khác để đánh giá thì quả là có nhiều.

Nhưng nếu các bạn muốn đòi hỏi hơn ở thơ Tố Hữu, một nhà thơ hoạt động cách mạng mà bạn tin là còn có nhiều khả năng đóng góp hơn nữa, nếu các bạn muốn đứng vững trên lập trường hiện thực xây dựng một nền thơ Việt Nam chân chính thì chẳng có gì là nhiều cả. Phê bình Tố Hữu cũng là tự phê bình, cũng là phê bình thơ hiện đại nói chung.

Viết đến đây, tôi không thể không nghĩ đến con người Tố Hữu, đến một nhà thơ tương đối được rèn dũa lâu năm trong Cách mạng, tha thiết muốn góp phần tâm hồn của mình vào nền thơ Việt Nam.

Và tôi thấy làm thơ thật là gian khổ. Có khi tư tưởng, trí tuệ mình đã chuyển rồi, mà tình cảm vẫn còn vướng víu ở những đâu! Những rơi rớt của con người cũ bám lấy chúng ta như những kẻ chết đuối vớ được cọc. Ðấu tranh chật vật và gian khổ. Nhưng chúng ta không sợ. Chúng ta là những người làm thơ có lý tưởng tha thiết với Cách mạng, với chủ nghĩa hiện thực như với hơi thở của mình. Và cũng như Cách mạng, hiện thực chính là vấn đề giai cấp, vấn đề công nông. Kiểm điểm lại, ta thấy nhiều khi ta quên mất điều đó trong sáng tác, chúng ta còn để buông ngòi bút chạy theo cảm hứng chủ quan của mình, chưa duyệt lại bản thân một cách nghiêm khắc, lấy tư tưởng, tình cảm của công nông làm một cái sàng, lọc những tình cảm yếu ớt tiểu tư sản ra ngoài. Công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi chúng ta nhiều cố gắng trau dồi tư tưởng, tình cảm, quyết tâm đi vào công nông, đồng cam cộng khổ với họ. Không phải một lúc đã có thể có những bài thơ hoàn toàn công nông ngay. Nhưng càng khó khăn, càng hăng hái, càng quyết tâm. Không phải khó khăn mà không dám làm thơ. Chúng ta sẽ còn làm thơ và làm thơ nhiều hơn trước. Qua mỗi bài thơ, ta sẽ tôi luyện tâm hồn của mình. Mỗi bài thơ sẽ là một bậc thang nâng chúng ta lên. Chóng hay chầy tùy khả năng, tùy cố gắng của từng người. Nhưng nhất định là tới, nhất định là xây dựng được một nền thơ hiện thực cống hiến cho Cách mạng. Ðó là lẽ sống của chúng ta.

Nguồn: Văn nghệ, số 68 (11.4.1955)


[1] Trích dịch bài Lê-nin, một bài thơ trên 3.000 câu của Mai-a-kốp-ski, nhà thơ mà Sta-lin đã cho là lớn nhất của thời đại Xô-viết (nguyên chú của Lê Đạt)


18.VŨ ĐỨC PHÚC
Phản đối cái buồn của Hoàng Cầm khi đọc thơ Tố Hữu

Tôi không phải là người thích tất cả những bài thơ, những câu thơ của Tố Hữu. Nhưng có một điều không ai chối cãi được là từ trước đến nay, Tố Hữu thực tế được đặt lên hàng đầu những nhà thơ cách mạng của ta. Mặc dầu ý kiến mọi người khác nhau, nhưng nếu đặt một câu hỏi cho tất cả những người đã có đọc thơ: "Theo ý kiến anh hay chị, nhà thơ cách mạng nào của nước ta hiện nay đáng đặt lên hàng đầu?" Ai cũng sẽ trả lời: "Tố Hữu! Tố Hữu". Nhiều người lại cho rằng hỏi như thế thật là dớ dẩn, đánh đố trẻ con.

Thời đại ta có thể nhầm lẫn chăng làm cho vàng thau lẫn lộn? Việc thích thơ Tố Hữu có phải là một cái "mốt" chăng? Là do uy tín chính trị chăng? Là do theo đuôi chăng? Văn nghệ, nhất là thơ ta là "hạng bét" cho nên nhà thơ kém như thế cũng được đặt lên hàng đầu chăng? Thực tế không cho phép ta hoài nghi như vậy. Trong thời kỳ giai cấp phản động còn thống trị, ảnh hưởng của nó còn mạnh thì hoài nghi như vậy đối với các nhà văn tên tuổi "sách bán chạy nhất" là được. Nhưng nhân dân cách mạng không thể nhầm lẫn, hoặc có cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn, không đợi đến tổng khởi nghĩa thắng lợi, kháng chiến thành công rồi mà tối đại đa số vẫn còn nhầm. Ở Liên Xô, căn cứ vào sự hoan nghênh của quần chúng, người ta đánh giá ngay được các nhà văn nghệ và ngay bây giờ người ta đã gọi A-lếch-xít Tôn-stôi (Alexis Tolstoi) là "văn hào cổ điển của Liên bang Xô Viết". Cũng không phải là do uy tín chính trị của anh. Người ta thích thơ Tố Hữu trước khi biết quá trình hoạt động cách mạng của anh và có đến hàng trăm hàng nghìn nhà cách mạng làm thơ, nhà thơ làm cách mạng, sao không thích ai, lại yêu ngay thơ Tố Hữu nhất? Cũng không phải là do theo đuôi, vì tôi thấy nhiều người, rất nhiều người ghi trong sổ tay một vài bài của Tố Hữu, khi người khác giật lấy sổ mở ra xem, thì họ giật lại như muốn dấu diếm một bức ảnh hay một kỷ niệm gì của người yêu. Hồi đầu kháng chiến, đi đâu cũng thấy "Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế", "Con ơi con ngủ cho ngoan, Sang canh trăng lặn buổi tan mẹ về". Sau đó lại có một dạo nhiều người nghêu ngao: "Cha em đây giữa chiến trường, mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui..." Và bây giờ thì: "Ðẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!" v.v...

Trong các hội nghị, hễ có giải lao, có ngâm thơ là có thơ Tố Hữu. Và người không ngâm thơ Tố Hữu lại ngâm cái bài thơ khác thì anh chị em thắc mắc, đặt vấn đề: "Sao không ngâm thơ Tố Hữu?"

Còn như nếu đã công nhận thơ Tố Hữu được hoan nghênh nhất, nhưng lại cho là "thùng nước loãng", tất sẽ đi đến kết luận là thơ ca của ta chẳng ra gì. Tôi chắc sẽ không ai dám nói như vậy.

Phải nhận thấy một sự thực nó kêu to đến như thế trước khi đi vào chỉ trích thơ anh là "thùng nước loãng", là "không hiện thực", là "ít chất sống", "là nghe nhiều lần thì chán" nếu chưa đi vào nghiên cứu nguồn gốc, căn nguyên, nội dung, ý nghĩa của sự thực đó thì tốt hơn hết là "kính nhi viễn chi".

Phương pháp phê bình hiện thực đòi hỏi ta phải khách quan như vậy đối với thơ Tố Hữu. Tất nhiên cần phải chú ý đến cảm xúc của bản thân ta, nhưng trong khi đó phải thận trọng phân biệt trong cái "tôi" đó, cái gì là cảm thông, đồng điệu, ăn nhịp với tình cảm tiến bộ của thời đại, cái gì là cái "tôi đáng ghét" lỗi thời.

Tất nhiên khi trưng cầu ý kiến của nhân dân thì mọi người có quyền phát biểu cảm tưởng riêng. Nhưng những cảm tưởng riêng ấy cũng cần phải lọc đi những "cái riêng quá". Còn như đã gọi là phê bình khách quan thì trước tiên phải phản đối cái lối lấy mình làm vốn của quả đất, [1] lấy cảm xúc của mình làm thước đo giá trị văn nghệ. Những câu như: "Ta đã thích tất phải hay, không thích chắc là dở", "Văn thơ tôi ai hiểu thế nào cũng được, tôi có lối hiểu riêng", từng làm nguyên tắc cơ bản cho phương pháp phê bình của một số nhà phê bình đặc xịt cá nhân chủ nghĩa, đã thành ra những luồng gió lạnh lẽo cuối mùa. Hoàng Cầm đã rơi vào một phương pháp rất chủ quan, một chiều như vậy. Cái cảm giác buồn hiu hắt cô đơn của anh khi đọc thơ Tố Hữu mà anh suy luận là tình cảm chung, cái tâm trạng đó tôi xin hô to lên rằng đó chỉ là tâm trạng của một số ít con người.

Mở đầu tập thơ là bài “Cá nước” viết năm 1947. Phân tích một cách khách quan, ta thấy tình cảm chính của nó muốn gây lên trong lòng người đọc là cái khăng khít, đồng tình giữa những con người kháng chiến trong hoàn cảnh gian khổ; cái tình khăng khít đó đi tới sự vồn vã, vui vẻ kể cho nhau nghe những tin thắng lợi một cách phấn khởi nở nang quên mệt nhọc, trong khi ấy mùi lúa chín ở đồng quê thơm phức nổi lên, ở "đầu xóm tre xanh, có bà ru cháu nằm khoanh lòng già" gợi lên một trăm mối giây liên hệ giữa hai người với nhau, giữa hai người với đất nước thân yêu, với con trẻ, bà già, với cảnh chồng đi kháng chiến, vợ ở nhà tăng gia, tất cả quấn quýt lấy nhau trong mối tình cá nước và gây nên một lòng yêu quý đất nước với làng mạc, đồng lúa, vợ con, của ta. Tất cả tình cảm đó có trong bài thơ, tôi không thêm bớt. Ðộc giả thử đọc lại bài thơ. Vậy mà ở đây, Hoàng Cầm đọc xong không chú ý tới tất cả, không thấy "rung động mãnh liệt", lại có những cảm giác bối rối, mơ hồ như thấy "cái không gian của bài thơ choán lấy tâm hồn tôi một lúc, như bóng rợp một đám mây giữa đường trời nắng", lại thấy "hơi gợn buồn" và cuối bài thì thấy "buồn lên cao độ". Tôi không hiểu cái buồn của Hoàng Cầm nguồn gốc sâu xa tự đâu, nhưng nhất định không phải tại cái "hoàn cảnh khách quan" là bài thơ thắm thiết của Tố Hữu. Tôi lại nhớ đến một câu trong Truyện Kiều:

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Người đây là Hoàng Cầm mà cảnh đây là thơ Tố Hữu.

Ðến bài thứ hai: “Phá đường”, Hoàng Cầm viết: "Ðến tình cảm bài Phá đường mở đầu bằng "rét" và kết thúc bằng "gió rét trăng lu", còn đoạn giữa tả một cảnh lao động bình thường, cặm cụi trong lúc "trăng non mới hé" tất cả chỉ truyền vào lòng tôi một chút hơi thở nhè nhẹ của công việc phá đường, vẫn đượm một chút hắt hiu". Rồi anh hỏi: "Tại sao lại gió rét? Gió rét ấy có cắt nghĩa được cái gian nan, vất vả của việc phá đường không? Tuyệt nhiên là không! Nó chỉ gợi ra được cái buồn".

Trước hết cái tóm tắt của Hoàng Cầm là cụt đầu cụt đuôi, và không đúng: Mở đầu bài “Phá đường” là "rét" nhưng mấy câu sau đến "rét thì mặc rét". Cuối bài là "gió rét trăng lu" nhưng lại thêm một câu rất nhộn là "Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường". Ở giữa không phải là tả một cảnh lao động bình thường mà nói tới người phụ nữ bận việc, neo bấn, con mọn, nhưng hăng hái theo chồng đi phá đường (mà vẫn không kém thương con), mà không phải phá một cách cực nhọc, mặt nặng như chì, lại phá với một tinh thần thi đua vượt mọi khó khăn thấy vui vẻ trong công việc. Người ta quen với cái "buồn" của Hoàng Cầm rồi, nhưng đến đây thì rất ngạc nhiên! Toàn bài thơ không có tác dụng gì đối với Hoàng Cầm, chỉ có một chữ "rét" làm cho anh buồn đến thế! Có lẽ phải cấm Tố Hữu không được dùng đến gió rét để Hoàng Cầm khỏi ngẩn ngơ hỏi: "Tại sao lại gió rét" và anh đâm ra buồn bã. Kết tội là hai chữ "gió rét" làm cho mình buồn, anh Hoàng Cầm lại đòi hỏi khi tả cảnh phá đường phải tả "cái gian nan vất vả" nghĩa là tả với cái buồn nặng như đá đeo. Chỗ mâu thuẫn to đó, đi sâu vào chỉ thấy cái buồn của Hoàng Cầm ở ngoài thơ Tố Hữu.

Còn cảnh phá đường lần đầu kháng chiến, Hoàng Cầm đã chứng kiến và nhận xét "nặng nhẹ vất vả ở hai cánh tay và ở cả trong lòng người phá đường. Nhưng giặc đã đến đầu ngõ, phải phá ngay, không thì nó đi được nhanh, nó sẽ giết con, đốt nhà mình..." Nói chung là có đúng như Hoàng Cầm nhận xét không? Có một vài trường hợp đặc biệt đúng như thế, có phải là đáng khuyến khích không? Ở một số thôn kém động viên, có hiện trạng đi phá đường và làm các công tác kháng chiến một cách bất đắc dĩ. Có anh đi dân công, đi bộ đội, mặt ủ mày chau, chung quy chỉ do ngại khó và sợ hãi. Nhưng nói chung, đấy là trường hợp cá biệt. Tất cả các công tác kháng chiến người ta đều làm với một tinh thần phấn khởi, mặc dầu vất vả nặng nhọc đến đâu, mà nếu phải tả những anh chỉ thấy gian nan vất vả trong công việc, chỉ vì sợ quá nên phải làm, thì phải phết cho anh ấy những nét thật đích đáng, phải phê bình ra trò. Nhưng việc phá đường, rào làng, đào hầm, nhiều nơi già trẻ trai gái làm tíu tít, thanh niên phụ nữ khúc khích. Có khi họ im lặng lắm nhưng chọc một câu là cười như phá. Cách xa địch thì nào hò, nào hát. Những chuyện như thế sao Hoàng Cầm nhìn đã 10 năm không thấy? Nếu tả theo ý Hoàng Cầm thì không thể giáo dục được người đọc. Người ta sẽ chỉ thấy giao động và gian khổ. Nhận định của Hoàng Cầm có vẻ khách quan, có vẻ dẫn chứng, nhưng thực ra chỉ là lối nhìn chủ quan của một số người. Hoàng Cầm công kích thơ Tố Hữu là "buồn" nhưng nếu tả như Hoàng Cầm thì rất bi quan làm cho người yếu bóng vía thất kinh hồn. Do đó không nên trách thơ Tố Hữu ít chất sống, mà có buồn chỉ tại mình. Cái buồn đó kéo qua bài “Bà bủ nằm ổ chuối khô” cho nên Hoàng Cầm không thấy tình thấm thía xót thương căm giận: "Sao chúng chẳng để cho mụ ta yên hưởng tuổi già" [2] mà Hoàng Cầm chỉ thấy "buồn não nuột".

Ðến bài “Em bé Triều Tiên”, đoạn đầu tả tội ác của giặc đã giết cha mẹ em. Hoàng Cầm đọc đến đoạn ấy "không thấy căm thù, chỉ thấy ghê rợn". Nói về tội ác của giặc, có một số người yếu bóng vía nghe thấy là ghê, thậm chí có anh giở báo ra không dám đọc những bài đó. Nhưng trong nhiều cuốn sách của Liên Xô như cuốn Bão táp của Ê-răng-bua, họ còn tả tỉ mỉ, cặn kẽ hơn nữa. Tại sao lại ghê rợn trước cảnh một em bé chơ vơ lạc lõng trong một hoàn cảnh thương tâm đầy xác chết do địch gây ra, mẹ em bị hiếp và treo cổ, cha em bị chặt đầu cắm cọc? Trong khi đó thì khách bàng quan, trước kia tin tưởng ở đế quốc, như bà Phen-tơn (Monica Felton) khi chứng kiến những tội ác ấy, bỗng trở nên chiến sĩ hòa bình số 1, số 2...? Tôi nhớ khi treo những bức ảnh về tội ác của đế quốc Mỹ ở Triều Tiên, những ảnh như Tố Hữu tả, đa số nhân dân ta nhìn thấy là chửi cha thằng Mỹ, rất ít người có thái độ ghê rợn. Phổ biến là họ nói: "đế quốc dã man". Những giòng thơ của Tố Hữu, ngoài việc tả những cảnh thảm thiết, điển hình, có thực, cũng không có một chữ nào nói quá đi để làm cho người đọc ghê rợn. Ðoạn sau bài thơ mà Hoàng Cầm nói là: "Cố tạo ra cái không khí chiến đấu rộn ràng", đoạn đó có hai câu thơ người đọc đến ít ai quên được:

Cha em đây giữa chiến trường
Mặt đen khói đạn, chặn đường giặc lui.

Tình cảm giả tạo không thể bật ra những câu như vậy được.

Ðến bài “Ðời đời nhớ Ông”, Hoàng Cầm nói là "không phản ảnh được tình cảm thực của nhân dân ta sau cái chết đó" vì rằng nó "buồn". Rồi tiếp: "Xót thương, nhưng rồi băng băng đi dân công, đi gánh thóc thuế, sôi nổi phát động đấu tranh chống giai cấp địa chủ phản động. Trên đường vẫn những tiếng cười nói rộn ràng, [3] tin tưởng..."

Tôi không biết những người "nhân dân" đó, mà Hoàng Cầm bắt gặp, ở đâu. Nhưng tôi đưa ra một dẫn chứng không thể nói là không điển hình: Khi làm lễ truy điệu đồng chí Sta-lin, trên Việt Bắc Hồ Chủ tịch bước vào hội trường, nước mắt dàn dụa. Trước đó anh em đã khóc nhiều ngày và anh chị em còn cho biết rằng đã ba bốn ngày Hồ Chủ tịch đau đớn quên ăn quên ngủ. Sáu trăm cán bộ quân, dân chính suốt từ Nam chí Bắc khi thấy Người vào, bật lên khóc không ai cầm được nước mắt. Hồ Chủ tịch lau nước mắt, nghẹn ngào mãi mới nói được ta phải "biến đau thương thành hành động". Các vị lãnh tụ của ta khóc rất nhiều, ba bốn ngày sau, anh Trường Chinh, khi trình bày sự nghiệp của đồng chí Sta-lin, còn òa lên khóc mãi. Suốt trong mấy ngày tang tóc, không có một tiếng "cười", họa chăng chỉ tưởng tượng ra được nụ cười đểu cáng khả ố của thằng Ai-sen-hao. Không những cán bộ các ngành mà anh chị em công, nông, trí thức cũng khóc. Nỗi đau xót đó, Tố Hữu chưa nói ra được hết trong tiếng thủ thỉ âm thầm của mẹ con trong bài “Ðời đời nhớ Ông”. Những tài liệu phim ảnh về cái chết của đồng chí Lê-nin, đồng chí Ði-mi-tơ-rốp, hàng chục vạn con người khắp các nước, hoặc dự đám tang, hoặc lao động để "biến đau thương thành hành động" cũng không thấy dấu vết một nụ cười.

Hai nữa bài “Ðời đời nhớ Ông” không phải như thiên trường ca khóc Lê-nin của Mai-a-kốp-ski. Nó chỉ nói lên nỗi lòng người mẹ có con thơ, đau xót, căn dặn con đời đời nhớ Ông và:

Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng, yêu nước, yêu chồng, yêu con...

Như thế vừa thắm thiết mà cũng không có khuyết điểm gì về tư tưởng. Khách quan mà nói cũng nên thương bằng cách như vậy, cứ gì phải bắt chước Mai-a-kốp-ski. Một bài giữa mẹ con như thế, không thể đùng đùng nhét những thóc thuế hay chuyện phát động quần chúng vào trong đó cho nó thêm lài nhài.

Nhưng có ai trước cái chết đau xót như vậy, trước cái tổn thất không gì đền bù được như vậy lại vẫn "cười nói, rộn ràng"?

Trước cái tàn ác của địch thì ghê rợn, trước cái chết của lãnh tụ thì thương xót nhưng cần phải "cười nói, rộn ràng" cho nó có vẻ "nhân dân". Một người như vậy, chắc Hoàng Cầm cũng rõ là không mắc bệnh về thần kinh cũng mắc bệnh về tư tưởng.

Vì vậy không ai lạ gì khi thấy Hoàng Cầm buồn bã nhớ đến chia ly khi đọc đến một bài đằm thắm, xoắn xít, đầy tin tưởng vào tương lai, vào xây dựng như bài “Việt Bắc”.

Trên là nỗi buồn của Hoàng Cầm. Trong khi viết, tôi đã nghiên cứu trích dẫn cẩn thận, không có dụng ý cắt xén, thêm bớt. Ðộc giả đọc bài của tôi, xin đọc lại bài của Hoàng Cầm.

Ðoạn dưới, Hoàng Cầm nói về những "hình ảnh" trong thơ Tố Hữu: Về "hình ảnh bộ đội", lối phê bình của Hoàng Cầm là nhặt một số câu trong dăm bài nội dung khác nhau, viết vào những thời kỳ khác nhau, cái gì "có thể" chứng minh cho nhận xét thiên lệch của anh thì anh nhặt ra, cái gì không chứng minh cho cái nhận xét đó thì anh cố tình không biết tới. Tôi xin tạm gọi đó là phương pháp phê bình "cố tình". Với phương pháp cố tình đó, anh viết: "Nói chung, hình ảnh bộ đội trong tập thơ Việt Bắc là hình ảnh đẹp một cách mỏng manh, mờ nhạt như dáng dấp một người lẩn trong sương, trong một bức tranh chấm phá. Con người bằng xương bằng thịt, có bao nhiêu tình cảm lúc vui buồn, hờn giận, thương xót, lúc vào bộ đội, khi nhớ quê hương đồng ruộng, cha mẹ vợ con, khi tác chiến anh dũng, khi nhịn đói hành quân, lúc chia sẻ ngọt bùi cay đắng với cán bộ, với đồng đội, tôi chưa tìm thấy trong tập thơ Việt Bắc".

Trước hết, tôi mách thêm Hoàng Cầm là kể rất nhiều như thế cũng chưa đủ về anh bộ đội của ta. Những tác phẩm đã xuất bản mới dựng lên một phần nhỏ. Một vài bài thơ của Tố Hữu, dụng ý chỉ nói về một vấn đề gì, một khía nào, không có ý để Hoàng Cầm tổng kết về "hình ảnh đầy đủ hoàn toàn" của anh bộ đội.

Nhưng ngay trong "ý muốn" của Hoàng Cầm đó, có những cái Tố Hữu đã nói tới, mà nói đạt, một vài đoạn dưới đây phải chăng là không sinh động, đầy đủ buồn, vui, hờn giận, thương xót của một anh Giải phóng quân? Trong bài “Bà mẹ Việt Bắc”:

Bộ nó rõ oai
Vai thì đeo súng
Ngực tréo hai quai
Áo thì thắt bụng

(Bà mẹ ôm lấy con kể lể chuyện nhà cửa và những tàn ác của quân đế quốc, trong khi đó thì hình ảnh người con:)

Mắt nó đỏ nọc
Nó cầm tay tôi
Má ơi đừng khóc
Nước độc lập rồi

(Khi bà cụ nhắc đến chuyện lấy vợ:)

Nó chỉ cười khi
Vợ con gì gấp!
Con còn phải đi
Giữ gìn độc lập!
..................
Ở chơi ít bữa
Nó hát cả ngày
Dọn nhà sửa cửa
Xới vườn luôn tay

Những nét cụ thể như thế, sinh động như thế, sao lại nói là "hình ảnh chung chung"? Nhiều người đã nhắc tới, và trong một thời kỳ bài “Bầm ơi” đã thành bài thơ đáy bị của bộ đội, tại sao lại nói là chưa thấy tình cảm anh bộ đội nhớ mẹ cha trong thơ Tố Hữu?

Cũng với "phương pháp cố tình" Hoàng Cầm không nhìn thấy nội dung chính, tình cảm chính, chỗ rung động nhất của bài “Cá nước” như trên kia tôi đã phân tích, mà chỗ này lại cố đi tìm hình ảnh anh bộ đội. Ði vào khía cạnh như thế, tất nhiên "chỉ thấy anh bộ đội thấp thoáng trên lưng đèo rồi lại đi" nghĩa là Hoàng Cầm chỉ thấy cái đuôi, hoặc cái chân con voi tưởng là con voi. Trong bài “Voi”, Hoàng Cầm lại không nhìn thấy sau cái gian nan vất vả của công việc là cái lạc quan, phấn khởi, tin tưởng của anh bộ đội. Trong bài “Bắn”, anh lại cố tình không nhìn thấy cái tình cảm của người ở ngoài cũng là cái tình cảm của anh bộ đội, cho nên chỉ thấy anh pháo binh như tượng gỗ.

Cái cách cưa đầu xẻ tai các bài thơ, không cần đến nội dung chính, đến chủ ý của tác giả, đến tình cảm chính nó muốn gây nên trong tâm tình người đọc, dùng cái cách đó rồi nhặt lấy những câu, những mẩu vá chắp để chống đỡ cho cái nhận định thiên lệch của mình, thì khen ai cũng được, mà chê ai cũng xuôi. Có thể nói không có một bài nào trong tập Việt Bắc mà Hoàng Cầm không ít nhiều dùng cách đó để chê Tố Hữu.

Về "hình ảnh chú bé liên lạc" Hoàng Cầm xưa nay vẫn chê thơ Tố Hữu là "buồn", thì đến chỗ này lại thấy cái chết của Lượm "đẹp và nhẹ", "cái chết không khác gì một con chim trúng đạn chết ở giữa đồng lúa".

Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng.

Trước hết hình ảnh em bé liên lạc trong bài “Lượm” có phải chỉ là "hình ảnh em lúc chết" không? Cũng như hình ảnh các thanh niên trong cuốn tiểu thuyết Thanh niên cận vệ đội của Pha-đê-ép (Fadéev) có phải chỉ là hình ảnh một bọn người bị giết gần hết không? "Lượm" là điển hình của các em liên lạc, "như con chim chích, nhảy trên đường vàng", tinh nghịch, dí dỏm, không thắc mắc lo ngại gì về cá nhân, lao mình vào chiến đấu không chút giao động, khi bị giết ở giữa đồng lúa thơm mùi sữa, bàn tay vẫn nắm chắc lấy ngọn lúa đang đông sữa như nắm lấy sự sống, chết rồi mà hồn vẫn phảng phất trên đồng lúa, chết rồi mà vẫn "như con chim chích, nhảy trên đường vàng". Tả một em như vậy sao lại không thấy "thân yêu ruột thịt", sao lại không thấy cái chết của em "chua xót, đau đớn, trong trẻo và mạnh mẽ" như Hoàng Cầm nói? Tất cả những đòi hỏi của Hoàng Cầm về một em bé liên lạc đều có trong thơ Tố Hữu. Ðộc giả thử đọc lại bài đó. ở chỗ này thấy rõ chỗ "cố tình" chứ không phải vô tình không nhìn thấy của Hoàng Cầm.

Về hình ảnh Hồ Chủ tịch, Hoàng Cầm muốn người ta phải nói đầy đủ về lãnh tụ: "những giờ Người ra tiền tuyến, đến bên cạnh dân công, bộ đội; Người ở nông thôn, bàn bạc chuyện trò với các cụ phụ lão nông dân, Người ở đâu, đến đâu thì quần chúng thêm mạnh mẽ, phấn khởi". Hoàng Cầm cho như thế là đầy đủ về hình ảnh lãnh tụ ư? Xin nói rằng đó mới là tác phong đi sát, và tác dụng động viên của Người mà thôi. Cả một cuộc đời, hơn một nửa thế kỷ chiến đấu của Người biết bao nhiêu chuyện đáng tả! Cái mà Hoàng Cầm cho là "đủ" đó mới chỉ là bề ngoài, thực là bề ngoài.

Ở nhiều bài thì Hoàng Cầm nói là "rộng quá", trong bài “Sáng tháng Năm” và vài câu trong bài “Việt Bắc” thì lại kêu là "Hồ Chủ tịch không phải chỉ có thế". Cái mâu thuẫn đó bối rối, lủng củng trong bài phê bình của Hoàng Cầm rất nhiều. Người ta có cảm giác là không làm sao chiều anh cho được.

Bài “Sáng tháng Năm” chỉ tả tình cảm một người lên thăm Bác, nghĩa là chủ ý chỉ nói một phần. Nhưng nếu căn cứ vào vài câu như sau:

Người ngồi đó với cây chì đỏ
Chỉ đường đi từng phút từng giờ, v.v...

Rồi đi đến kết luận là tả lãnh tụ "xa xôi cách biệt" như Hoàng Cầm, thì tôi xin hỏi: bài thơ nổi tiếng trên thế giới của Nê-ru-đa (Pablo Neruda) trong đó có mấy câu thế giới dân chủ thường truyền tụng, tại sao lại chỉ là mấy câu tả "ánh sáng đến tận đêm khuya trên cửa sổ điện Krem-lanh"? Có lẽ thế giới dân chủ người ta ngu cả chăng? Hay là bảo đồng chí Sta-lin không được gần gũi với quần chúng? [4]

Và tại sao Hoàng Cầm lại cấm không cho "thần thánh hóa" lãnh tụ? Chính Hoàng Cầm còn nói đến Người với một chữ "Người" mà chữ N viết hoa kia mà. Ở Liên Xô, nhân dân đã thần thánh hóa Lê-nin. Ở Trung Quốc, đã có những "chuyện cổ tích" về Mao Chủ tịch. Ở ta, thử lắng nghe nỗi lòng người dân Nam Bộ! Thử nhớ đến những cảnh trong thời kháng chiến, người dân vùng tạm chiếm ra xem triển lãm vùng du kích, đứng trước ảnh Người, kể lể các nỗi khổ sở của nhân dân dưới ách địch và khóc lên! Thử nhớ lại hôm 1-1-1955 các cụ già thức suốt đêm và đi còm cọm cả ngày, mục đích chỉ để thoáng nhìn thấy Người một cái là thỏa mãn. Ðêm rừng Việt Bắc, anh em từ bốn phương tụ họp học tập, Người đứng lên: râu tóc bạc phơ, mắt sáng, mặt hồng hào, tiếng nói cổ kính, nghe văng vẳng như lời Mác, Ăng-ghen, Lê-nin. Hồ Chủ tịch không tách rời quần chúng, rất giản dị, thân mật, gần gũi, nhưng nhân dân coi Người là Cha của dân tộc, là cứu tinh đất nước, "còn hơn đức thánh Trần". Có gì là lạ đâu mà Hoàng Cầm cấm đoán "thần thánh hóa", bảo như thế là kém hiện thực? là "giống như một đạo sĩ"? [5]

Và trong hai câu thơ sau của Tố Hữu:

Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút.

Hoàng Cầm bảo "không thấy sáng chỗ nào và lớn chỗ nào". Nói như vậy thực là bật cười. Hồ Chủ tịch không thực là "sáng" hay sao? Ta không lấy làm vinh dự, không thấy sáng lên, lớn lên khi có một người sáng như Hồ Chủ tịch làm lãnh tụ dân tộc ta hay sao? Cái sáng của Hồ Chủ tịch không đào tạo ra, nghĩa là làm lớn lên, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn anh hùng chiến sĩ hay sao? Ở gần Hồ Chủ tịch, tư tưởng, tác phong, đạo đức của mình chẳng được tốt đẹp thêm lên hay sao? Từng ấy chân lý, những anh em tận góc rừng ở Phi châu còn rõ, tại sao Hoàng Cầm không cảm thấy, mà chỉ đòi hỏi mỗi một chuyện Hồ Chủ tịch đi sát để gây nên mạnh mẽ?

Cái "không nhìn thấy" của Hoàng Cầm cao đến một độ khá bi đát là không thể cảm thông được những câu thơ sáng sủa nhất của Tố Hữu.

Ðoạn cuối, sau khi chê thơ Tố Hữu là nhiều bài "rộng quá, tổng hợp quá, chính trị quá"; Hoàng Cầm viết:

"Ở một số bài thơ gần đây của Tố Hữu, tôi thấy như vậy: Ðầu tiên thì nêu lên một vấn đề rồi tiếp đến suy luận bằng những câu văn đèm đẹp. Thành phố đã phá trụi thì nhất định là ngày sau phải tưng bừng. Cha mẹ em bé Triều Tiên chết treo khủng khiếp, em bơ vơ, lạc lõng thì nhất định là có cả một dân tộc ở bên em, săn sóc cho tương lai của em, và nhất định em sẽ sung sướng. Ðã chia ly Việt Bắc thì sau phải nghĩ đến trao đổi hàng hóa với Việt Bắc. Ðiện Biên đã thắng thì nhất định ở Hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ thêm điều kiện thuận lợi đấu tranh với kẻ thù. Thật khó mà tìm thấy một khuyết điểm nào về ý nghĩa chính trị. Những bài thơ đó đầy đủ thế, nhưng rất ít chất cuộc sống một dân tộc đã đấu tranh gay go phức tạp và đã giành được thắng lợi hòa bình".

Về cái "cao chê ngỏng, thấp chê lùn" của Hoàng Cầm, tôi đã trình bày trên. Vấn đề không phải là tổng hợp hay phân tách đi sâu, không phải là rộng hay hẹp, không phải là ít hay nhiều chính trị. Cần phải có những bài tổng hợp cũng như cần phải có những khúc "đại hợp xướng". Vấn đề là ở chỗ tình cảm bài thơ có thật hay giả tạo, nó có rung động, xúc động lòng người, giáo dục tình cảm hay không.

Vấn đề là ở chỗ cái "chính trị", cái "đường lối chính sách" đã biến thành một cái mà anh Xuân Diệu gọi là "tình cảm cá nhân" của tác giả hay chưa, để có tác dụng truyền cho người đọc. Ở Tố Hữu, cũng có chỗ còn đại lược, còn chưa đạt, còn khô khan (rất ít) nhưng không thể nói là tình cảm giả. Nhiều người đã ngâm nga cái "đường lối xây dựng, kiến thiết đất nước", cái "đoàn kết giữa miền ngược và miền xuôi" ở trong bài “Việt Bắc” một cách khoái trá, dường như mới tìm ra một của quý mới lạ. Toàn bộ bài “Ta đi tới” rung lên lòng yêu nước, chí căm thù. Ở Tố Hữu, chính trị đã biến thành xương thịt, lòng yêu nước đã thành một tình cảm mê say thắm thiết không khác gì ái tình. Ði sâu vào lòng yêu con trẻ, bà già, ngọn lúa, khóm tre cũng có, mà tổng hợp cũng có. Phải chính trị đến đâu ấy chứ!

Và bài “Em bé Triều Tiên” có phải là "cả một mặt dân tộc [6] săn sóc bên em" với cái hiểu của Hoàng Cầm là "chính trị" là "chung chung, đại lược" là "suy luận" đâu? Việc săn sóc đó đã có cụ thể trên thực tế và trong thơ Tố Hữu. Trên thực thế [7] thì không những nhân dân Triều Tiên nuôi nấng những đứa con côi cút của mình mà Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Ba Lan đã cứu vớt săn sóc các em, gây dựng cho các em thành người. Ở trong thơ Tố Hữu thì không phải là "chung chung", "suy luận" mà mẹ của "Em bé Triều Tiên" là người dân công, người nữ cứu thương, cha em là con Bác Mao, là quân chí nguyện, là bộ đội.

Thực tế như vậy, tình cảm trong thơ Tố Hữu như vậy, cái đó an ủi lòng người biết bao nhiêu. Trong tập Việt Bắc, dân tộc ta với các hạng người đất nước yêu dấu của ta xoắn xít lấy nhau trong một mối tình đằm thắm, vùng lên chiến đấu và sản xuất như vậy.

Cũng vì vậy cho nên trong khi Hoàng Cầm kết luận một cách "nhẹ nhàng" rằng thơ Tố Hữu là "vại nước to, đầy tràn, pha loãng một màu sữa", là "ít chất sống", là "mới nghe thì hay, nghe nhiều lần thì chán", thì mười năm nay, thiên hạ người ta vẫn nói chan chát rằng người ta nhớ thơ, yêu thơ Tố Hữu, càng ngày càng nhớ nhiều và càng thêm nhiều người nhớ, mà không phải chỉ nhớ bài mới nhất rồi chán, mà nhớ cả những câu thơ hồi đầu kháng chiến, trong khi hòa bình trở lại, còn nghe văng vẳng tiếng hát “Phá đường”.

Tóm lại, Hoàng Cầm lấy tâm trạng và thái độ lạnh nhạt của mình mà "thưởng thức" thơ Tố Hữu. Ý kiến của anh, về tư tưởng trong văn nghệ thì có sai lầm, về phương pháp phê bình thì không hiện thực. Ở đây không phải tôi chỉ nói riêng anh mà muốn lên án chung cả một bệnh của thời đại trong Văn nghệ.

Gia Lâm, 4-1955
Nguồn: Văn nghệ, số 68 (11.4.1955)


[1] Chỗnày bản gốc in lầm; lẽ ra là “lấy mình là rốn của quả đất” như V.Đ.P. sửa lại khi đưa bài này vào tập “Trên mặt trận văn học” (sách in 1972) của mình (N.S.T.)
[2] Y-li-a Ê-răng-bua (nguyên chú của V.Đ.P.). N.S.T. lưu ý: chỗ này tác giả V.Đ.P. hoặc báo V.N. đã dẫn sai 1 từ trong câu trích của Ehrenbourg: đúng ra là “mẹ ta” chứ không phải “mụ ta” như trên.
3] Do tôi gạch dưới (in ngả) – V.Đ.P. (nguyên chú)
[4] Lưu ý: các đoạn này ở bản gốc (bản đăng báo lần đầu), về sau tác giả V.Đ.P. đã cắt bỏ, sửa đổi khi đưa vào tập Trên mặt trận văn học (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1972) của ông. Sưu tập Tố Hữu – Về tác gia và tác phẩm (Nxb. Giáo dục, H., 1998; tái bản 2001) sử dụng bản mà V.Đ.P. đã sửa (1972) chứ không dùng tư liệu bản gốc đăng báo lần đầu, bản thực sự tham gia cuộc tranh luận (N.S.T.)
[5] như chú thích [4]
[6] “cả một mặt dân tộc”: có lẽ bản gốc in thừa “mặt” (N.S.T.)
[7] “Trên thực thế”: có lẽ bản gốc in lầm, đúng ra là “Trên thực tế” (N.S.T.)

No comments: