Thursday, December 28, 2017

CHUYỆN NGƯỜI TÙ CHẾT 30 TẾT

 

CHUYỆN NGƯỜI TÙ CHẾT 30 TẾT



  Một bí ẩn của tâm linh

Hình như suốt đêm qua tôi không ngủ, lại lơ mơ nhớ đến một lời hứa với con của người tù đã chết chiều 30 Tết năm 1977 tại vùng Sơn La, Việt Bắc thâm u những mồ hoang mả lạc. Chuyện thật 100%, không hư cấu, cũng không phải chuyện ma, nhưng cứ như một cơ duyên bí ẩn của tâm linh, tình cờ mà đến, phải chăng vẫn có một thế giới vô hình không hiểu được.

Khoảng đầu năm nay, tôi đang lơ mơ ngồi đọc email của mấy người bạn, thì một lá thư của người bạn thân từ bên Úc gửi qua, bạn nhờ có quen ai ở Trà Vinh thì tìm giùm thân nhân của anh Chung Hữu Hạnh, một giáo sư biệt phái bị đi cải tạo và đẩy ra miền Bắc, anh đã chết trong một xó xỉnh nào đó cuả miền Việt Bắc, may là còn lại tấm bia mộ.

Anh gốc người Trà Vinh, vợ con sau khi mất tin chồng đã tìm đường vượt biển, chẳng biết bây giờ ở đâu. Tôi nhanh nhẩu ngồi liền vào máy viết thư cho nhà thơ Huỳnh tâm Hoài, một nhà thơ gốc Trà Vinh có những bài thơ được phổ nhạc rất hay trong đó có bài Lời Ru Sóng Vỗ, do nhạc sĩ Nguyễn hữu Tân phổ nhạc.

Như một bí ẩn của tâm linh, anh Huỳnh tâm Hoài vừa là bạn tù, vừa là bạn học cùng thời với anh Chung hữu Hạnh. Đọc tin anh buồn vui lẫn lộn, buồn vì nhớ bạn mình đã chết đơn độc, vùi thân nơi rừng sâu núi thẳm, vui vì đã tìm được mộ thì hy vọng sẽ có ngày bạn mình được về hưởng hương khói gia đình.

Chỉ trong năm ngày tin phóng đi, một người đã tìm ra thân nhân của anh Chung Hữu Hạnh, và tháng 6 năm nay chị Hạnh cùng các con đã tìm ra miền Bắc bốc mộ chồng đem về an táng tại Trà Vinh. Anh Chung hữu Hạnh là thầy của vợ bạn tôi, chắc thầy sống khôn thác thiêng nên tìm tới cô học trò để rồi cái đường dây loanh quanh trong cõi vô hình, cuối cùng thầy cũng tìm được về quê nhà, được sự chăm sóc khói hương của vợ hiền và các con.

Bạn tôi gửi cho tôi xem những tấm hình cảnh bốc mộ của anh Hạnh, nhìn nắm xương phù du còn lại được bươi lên từ đất cát khô cằn của miền Bắc, tôi cảm thấy ngậm ngùi, tất cả đều là vô thường, một ngày nào đó ai cũng phải tan thành tro bụi. Sẵn trớn tôi viết thư kể cho bạn tôi nghe về người tù chết chiều 30 tết, tôi cũng chả biết anh ta là ai, chỉ nghe chồng tôi kể lại, ngay cái tên cũng không nhớ. Câu chuyện từ mùa đông năm 1977 tại trại tù vùng Sơn La, nằm trên con đường đến Nghĩa Lộ.

Chiều cuối năm rét mướt, trong cảnh u ám thê lương của trại tù miền Bắc, cùng  nỗi đói khát của những người tù gầy guộc và bịnh tật. Cả lán đang xôn xao ngoài sân chờ được phân phát thức ăn của ngày Tết, quanh năm đói khát vất vả vẫn hy vọng có chút thức ăn ngon, khẩu phần là hai cái bánh chưng to hơn bàn tay, và mấy miếng thịt bé bằng ngón tay cái. Trong lán, hai đầu nhà là hai đống củi lửa cháy bập bùng, sưởi chút ấm áp cho người tù vì trời vô cùng giá rét mà chăn chiếu lại thiếu. Mọi người ai cũng buồn vì nhớ gia đình, cám cảnh “gặm một mối hờn căm trong cũi sắt”. Ngay cửa ra vào ở cuối phòng có một chỗ nằm giăng mùng xùm xụp, một người bạn không thấy anh bạn tù ra lãnh món bánh chưng mà mấy ngày hôm trước anh ta thường than thở rằng chỉ thèm một miếng bánh chưng, nên đã tốc mùng xem thì thấy anh bạn tù nằm chết tự bao giờ.

Cả lán lại chìm trong nỗi buồn, giữa đêm tận cùng cuả năm mà hình ảnh người bạn tù chung nằm chết trong lán, như một ám ảnh khiến ai cũng nghĩ đến phận mình, một ngày nào sẽ bỏ xác nơi đây, gia đình thân nhân không ai hay biết. Báo cho quản giáo xong, họ xem xét thấy anh đã ngưng thở, nhưng vẫn hỏi ai có thể làm hô hấp nhân tạo cho anh ấy được không?

Mọi người lặng im, lúc ấy không hiểu sao thì chồng tôi lại xung phong làm việc ấy đối với một xác chết, nuôi một chút hy vọng nếu anh ấy thở lại được thì sao? Nhưng hoàn toàn vô vọng, bốn người tương đối trẻ và khoẻ được chọn để khiêng xác anh bỏ ra cái lò rèn, nằm đó chờ đến ngày mùng hai mới đem chôn, vì kiêng ngày mùng một tết(síc). Một vị tuyên úy Phật giáo ở cùng phòng thấy vậy đã lẻn đem phần ăn ngày Tết của anh ra nơi quàn xác để âm thầm gọi là tiễn đưa linh hồn người bạn tù được “no nê” khi về thế giới bên kia. Thảm thật!

Ngày liệm xác anh vào cái hòm gỗ thô sơ, xác anh được cuốn vào một cái bao cát, thay cho anh một bộ dồ tù mới, chồng tôi thấy tội nghiệp đã lấy chiếc áo thung xanh của người chết để anh gối đầu lên cho đỡ thảm cũng như là một kỷ vật đánh dấu để thân nhân nhận biết khi đi tìm anh sau này. Người ta còn cố tuột cho được cái nhẫn cưới trong bàn tay gầy guộc của người tù ốm đói. Sau này nghe con anh kể, chiếc nhẫn ấy đã được gửi về trả lại cho gia đình, nhưng mộ phần thì không biết thất lạc nơi đâu vì trại tù đã bị dời đi, trả lại cái nền hoang cho dân chúng địa phương canh tác ruộng bắp. Anh là người tù đầu tiên chết ở miền Bắc mùa xuân năm 1977.

Ngày mùng hai, lại bốn người tù được chọn lầm lũi đẩy chiếc xe “cải tiến” có  quan tài của người tử sĩ đem đi chôn. Không có một nghĩa địa nên buộc lòng phải vùi anh một nơi nào đó dọc theo sườn núi. Tất cả suy nghĩ rồi quyết định chôn anh trong một lòng huyệt nông vì đá tai mèo cứng quá không đào nổi, bên một dòng suối, thoai thoải là sườn núi chênh vênh với cây rừng, anh nằm đó để linh hồn được thanh thản nghe tiếng suối reo, nghe cây rừng than van với bốn bề hiu quạnh. Trước khi về, họ còn ráng khiêng những tảng đá lớn chất lên mộ để đánh dấu, hy vọng một ngày nào đó thân nhân sẽ tìm được mộ của người thân ….

Đường Tìm Về Với Thân Nhân:

Tôi gõ “meo” kể câu chuyện này cho bạn tôi nghe, rồi đi ngủ, lòng không mảy may vướng bận. Sáng hôm sau, khi xong việc nhà tôi vừa mở email thì đã thấy thư của bạn, với chữ Khẩn trong Subject. Tôi đọc thư, vắn tắt bạn viết:

“Đây là chuyện thật, không phải hư cấu để nhà văn viết truyện. Làm ơn hỏi ông xã giùm hồi xưa anh bạn tù chết chiều 30 tên gì, vì con anh đi tìm mộ cha ba năm rồi mà không ai biết, chỉ mơ hồ nên không biết chính xác mộ nằm ở đâu.
Please! Hồi âm cho biết vì rất mong, con anh sắp trở về VN tìm lần nữa vào tháng 7 này.”

Tôi giật mình, lại một chuyện lạ, chẳng lẽ hồn anh Chung hữu Hạnh lại dẫn bạn tù về tìm đúng người để  về với gia đình sao? Ớn lạnh, tôi là tác gỉa của một loạt truyện Cõi Mù Sương viết về thế giới bên kia, nhưng thật ra tôi toàn mượn chuyện người sống để nói về người chết, hư cấu 100%. Chờ chồng tôi đi làm về, tôi kể chuyện, sau đó liên lạc với con anh người tử sĩ, anh là Đại úy Huỳnh tự Trọng, sinh quán ở Đà Nẵng hay Quảng Nam gì đó.

Người con của anh liền xin số phone để liên lạc, cháu yêu cầu chồng tôi cố nhớ lại vị trí của trại tù ngày xưa, và nhất là vị trí cuả nơi chôn cất anh Huỳnh tự Trọng. Hơn 30 năm vật đổi sao dời, dâu hoá biển, biển hoá dâu là chuyện thường, bây giờ chẳng biết cảnh cũ thay đổi ra sao, nhưng may ra còn dãy núi, còn con suối làm chứng cho cái trại tù heo hút ngày xưa. Đầu óc một người đã từng sống trong cảnh tù đầy thiếu ăn thiếu mặc, thêm nhiều năm vất vả với cuộc đời để tìm nguồn sống cho cả gia đình, chắc chắn là không nhớ hết được, thế nhưng như một sức mạnh thiêng liêng, từ linh hồn người  tử sĩ, chồng tôi đã vẽ được sơ đồ cho con anh bạn tù bạc mệnh đi tìm lại mộ cha.

So sánh với sơ đồ anh vẽ, và những hình ảnh các cháu đã chụp lại trong chuyến đi kỳ trước, khó mà tìm ra mộ vì tất cả chỉ còn một màu xanh của ruộng bắp, không thấy suối, rừng xanh đã biến thành đồi trọc khô cằn, hòn đá cao chắn ngang lối mòn năm xưa cũng không còn, lấy gì để xác định được ngôi mộ nằm ở chỗ nào!

Hành Trình Đi Tìm Mộ Cha:

Thư qua tin lại với con của tử sĩ Huỳnh tự Trọng, nhiều câu hỏi được đặt ra qua những thông tin của cháu, sự tha thiết tìm lại ngôi mộ của người cha bất hạnh vẫn nung nấu trong lòng những đứa con. Có lúc cả hai bên tưởng như tuyệt vọng, dù cháu cố nài nỉ “Chú ơi! Làm ơn nhớ giùm con, lúc ấy chú đi từ trại ra nơi chôn ba cháu ra sao? Chú chấm thử một địa điểm lần chót nữa đi, cháu hy vọng ba cháu sẽ chỉ cho chú…”Cảm động đến rơi nước mắt, chỉ còn hai hôm thôi hai đứa con anh lại lên đường đi tìm mộ cha, lần này nếu không được là thôi, hết hy vọng.

Tối hôm đó ngồi thần thừ trước tấm sơ đồ trại tù miền núi năm xưa, chồng tôi thầm cầu nguyện rồi khoanh tròn màu đỏ lên tấm ảnh mà cháu gửi qua. Anh nghĩ nó nằm ở chỗ này, làm một phép tính nhỏ (anh học ban B, vốn giỏi toán từ hồi đi học), lấy khoảng đứng từ ngoài đường vào trại tù cũ, gần một ngã ba của con đường tẽ vào Nghĩa Lộ, rặng núi đánh dấu cho địa điểm chính xác, ngôi mộ sẽ nằm ở khoảng này, khoanh một vòng tròn màu đỏ, anh đi ngủ để mai đi làm mà lòng nặng trĩu…

Theo chuyện kể của các cháu, chuyện người tử sĩ Huỳnh tự Trọng ly kỳ như một cuộn phim tâm linh khó giải thích, dọc đường đi anh đã phù hộ cho con anh ra sao, và khi đến nơi, lần trước các cháu đã biết có một ngôi miếu do một người bộ đội phục viên kể lại. Chính anh ta vì được một linh hồn khuất bóng lảng vảng nơi này cứu giúp trong cơn hoạn nạn, nên đã tự lập một ngôi miếu để thờ, mà chẳng biết là ai. Anh ta về quê làm rẫy, thường hay thấy một bóng người đi ra đi vào ruộng bắp, nhưng chỗ ấy không có nhà cửa thì lấy làm lạ, có khi cái bóng ấy còn đi vào nhà anh, nên anh tin là có một điều gì lạ lùng trong thế giới vô hình mà không diễn tả được. Trước khi đến đây làm nhà, anh ta nghe dân địa phương nói chỗ sườn núi này có một ngôi mộ nhưng bây giờ không biết nằm đâu rồi. Khi gia đình gặp chuyện không may, anh van vái người khuất mày khuất mặt phù hộ gia đình anh thoát nạn, anh sẽ cất miếu thờ, chính vì vậy mà có miếu thờ tử sĩ Huỳnh Tự Trọng (nhưng vẫn không có tên).

Trước khi các cháu lên đường tìm mộ cha, chồng tôi chỉ bảo một lần chót: “Chú không tin lắm ở trí nhớ của mình, nhưng khuyên cháu là khi về nên đến cái miếu thờ ấy van vái ba cháu cho tìm được mộ. Nếu linh hồn ông thiêng thật, nhất định các cháu sẽ tìm ra mộ cha.”

Một tin tưởng để vớt vát niềm hy vọng cho con của người bạn tù năm xưa, chúng tôi không tin rằng các cháu có thể tìm được mộ cha dưới gần 3 thước đất, vì sau khi gặp được người địa phương nổ mìn phá núi để lấy đá, ông ta nói ngày xưa nơi đây có cái suối nước nhưng bị lấp mất rồi, còn hòn đá to chặn ngang đường mà các bạn khi chôn anh đã chọn làm điểm mốc để dễ tìm sau này vì nó rất lớn, sức người không cách nào di chuyển nổi thì đã bị nổ mìn phá vỡ để lấy đá làm đường. Nhiều xe đất đã đuợc đổ lấp lên nơi chôn anh để làm đường cho xe vận tải vào lấy đá đã đẩy ngôi mộ sâu xuống nhiều thước đất nên không còn dấu vết  gì có thể nhận ra đuợc.

Nghe xong những chi tiết này, con anh Huỳnh tự Trọng liền suy nghĩ và tính toán xem mộ cha sẽ nằm ở khoảng nào, đúng với cái vòng tròn màu đỏ và quyết định không bỏ cuộc. Cộng thêm giấc mơ anh Huỳnh tự Trọng báo mộng, xác anh nằm gần một mô đất cao, cháu nhìn thì thấy có một mô đất cao hơn đường đi nên nhất định đào sâu thêm nữa theo hình tam giác của sợi dây giăng làm chuẩn. Mấy người đào mộ thấy đào sâu quá bèn hỏi bộ định đào ao nuôi cá sao?

Vậy mà khi nhát xẻng chạm vào một khoảnh đất cứng hơn, mọi người mới bàng hoàng nhận ra những mảnh gỗ mục và hiện ra hình dạng một bộ xương người nằm trong cái bao cát tẩm liệm 33 năm dài trong lòng đất, loại bao này bằng ni lông cuả quân đội VNCH, được cắt ra chia cho tù dài khoảng 2 mét để làm tấm trải ngủ. Khi mở ra, cái đầu lâu khô của tử sĩ Huỳnh Tự Trọng còn gối lên chiếc áo thung xanh mà chị Trọng nhận ra được đúng là chiếc áo của anh mang theo năm xưa, chỉ bị hủy hoại khoảng 20%...

Một buổi chiều tháng bảy ở quê người, trong khi tôi đang nói chuyện qua phone với Đỗ Dung, cô bạn văn có ngòi bút trung thực và tính tình điềm đạm nhất của tôi thì chồng tôi báo tin, các con anh Trọng đã tìm được xác cha. Tôi cảm thấy lạnh cả sống lưng, và kể chuyện cho bạn tôi nghe. Chao ơi! người chết tìm về, tin hương linh người tử sĩ không quen tìm về với gia đình anh đã làm tôi xúc động, tôi cũng cảm được sự xúc động của bạn tôi qua giọng nói từ xa vọng tới…

Đây là câu chuyện về người tù chết chiều 30 tết trong một ngày cuối đông rét mướt đã ba mươi ba năm về trước, anh đã tìm về được với gia đình, trở về với mảnh đất quê nhà và hưởng hương khói gia đình. Hôm nay còn lại một vài ngày nữa để bước sang một năm mới, tôi nhớ đến lời hứa với con của người tử sĩ, nên viết một mạch cho tâm hồn thanh thản.

Xin mời những nhà thơ nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động như cung đàn muôn điệu cùng với gió với mây, hãy cảm tác mấy vần thơ cho ấm lòng người tử sĩ nha.

Phần tôi, quá mệt cho một đêm không ngủ để nhớ lại từng chi tiết vì  câu chuyện không thể nào hư cấu được.

Viết xong buổi sáng cuối năm 2010.
                                                                            Nguyên Nhung



Sau đây là một số bài thơ đã được cảm tác sau khi đọc câu chuyện này:

Nẻo  Về Tử Sĩ

Mênh mông mây bạc trôi mênh mông
Đất Bắc vùi thây những anh hùng
Không chết sa trường mang kiếm thép
Mà trong tù ngục chốn cùm gông
Thây vùi cát lạnh manh chiếu rách
Vùi nông đất núi đá chông chênh
Tử sĩ hồn mang nhiều tủi hận
Chạnh nhớ miền quê bạt gió ngàn
Quấn quýt kêu gào sườn núi lở
Cây khô mưa gió thét gào than
Đường về hồn hướng mây ứng mộng
Mong ước tương phùng đất phương Nam
Tử sĩ  oan hồn thời chiến quốc
Nương nhau về lại chốn quê hương
Nhang khói hương trầm câu khấn nguyện
Cho hồn lỉnh hiển nhớ liệt oanh.

                                                                 Huỳnh Tâm Hoài


NGƯÒI TÙ CHẾT CHIỀU 30 TẾT

Một ngày buồn theo lệnh.....
Người lính cũ Cộng hoà vác gói lên vai
Vợ con nhìn theo nén tiếng thở dài
Đâu biết được đó là  lần chia xa mãi mãi
 
Rừng núi thâm u ngút ngàn Việt bắc
Những người tù trong lạnh gía rét căm
Tấm vải gai (bao cát) dùng lót ấm chỗ nằm
Giờ phút cuối làm áo choàng liệm xác
 
Anh ra đi ngay chiều 30 Tết
Xác thân xưa giờ còm cõi ốm gầy
Bởi vì đâu anh phải đến nơi đây?
Lặng lẽ chết không người thân vuốt mắt.
 
Chiến trường xưa anh cầm quân chống giặc
Anh hiên ngang, anh kiêu dũng, oai hùng
Giặc đến đây vì chủ thuyết cuồng ngông
Anh hiện diện trong đoàn quân tự vệ.
 
Ai dám nghĩ có ngày buồn đau thế?
Những quân nhân cán chính ngày nào
Bị đoạ đày sống cực khổ thế sao
Thể xác, tinh thần ! nỗi đau nào phải kể?
 
Cái chết của Anh đã làm người ứa lệ
Giữa những người tù cùng cảnh ngộ đói cơm
Cái bánh chưn xanh được "ưu đãi" cuối năm
Nhưng anh vĩnh viễn không thể cầm chiếc bánh.
 
Khi bạn tù biết thì xác thân anh đã lạnh
Họ bàng hoàng, cố cứu sống lại anh (!)
Trong cổ áo quan gối đầu chiếc áo màu xanh
Và chiếc bánh,  cúng tiễn hồn người chết!!!!
 
 
Bao năm qua có kẻ còn người mất
Trại tù xưa cũng nay đổi, mai dời
Mộ phần anh cũng phó mặc đất trời
Bên dòng suối, nghe rừng than , đá khóc.
 
Vợ con anh với lòng tin Chúa -Phật
Van vái khẩn cầu đi tìm kiếm mộ chồng- cha
Linh hồn anh phù hộ vợ con nhà
Đã xui khiến người bạn tù chỉ lối
 
Xuân năm xưa anh là người tù nhân chết vội
Bao nhiêu năm rồi vợ con lặn lội tìm mồ.
Giờ tro cốt anh được hương khói phụng thờ
Nén nhang đốt , xin hồn linh siêu thoát

Lê thị Hoài Niệm.

ANH ĐÃ VỀ NHÀ.
       (Viết theo câu chuyện một người lính VNCH chết trong trại tù tại Sơn La năm 1977.
                                  Năm 2010 vợ con đã tìm ra mộ và cải táng hài cốt)


Anh đã chết giữa rừng núi Sơn La,
Trong một lán tù chiều Ba Mươi Tết,
Người tù ốm đau, người tù đói khát,
Ngày Tết về thèm miếng bánh chưng xanh.

Chiếc bánh chưng các bạn vẫn để dành,
Cúng cho anh trước khi về mộ huyệt,
Khẩu phần hiếm hoi trại vừa phân phát,
Hồn hãy ăn cho qua phút đói lòng.

Các bạn chôn anh rừng đang mùa Xuân,
Bên sườn núi đá tai mèo thoai thoải,
Một mai bạn ra tù, anh còn nằm lại,
Suối chảy ru anh, gío núi thở dài.

Bao năm qua, bao dâu bể đổi thay,
Một góc rừng xưa nay thành ruộng bắp,
Dòng suối nhỏ bên mộ anh đã cạn,
Người ta mở đường mất dấu quen xưa.

Ngôi mộ anh tàn lụn với nắng mưa,
Không hương khói giữa dòng đời xa lạ,
Gío bụi thời gian cuốn đi tất cả,
Nắm xương tàn anh thất lạc nơi đâu?

Hồn người chết đau, người sống cũng đau,
Vợ con anh đã tìm về nơi đó:
Rừng núi Sơn La, con đường Nghĩa Lộ,
Vách núi chôn anh như chuyện hoang đường.

Qúa khứ đã chìm trong cõi mù sương,
Hồn anh linh thiêng chỉ đường dẫn lối,
Nấm mộ năm xưa bạn anh chôn vội,
Vẫn còn đây với một chút xương tàn.

Hôm nay anh đã gặp lại vợ con,
Người tù chết từ bao nhiêu năm trước,
Với nấm mộ hoang không tên tội nghiệp,
Thanh thản đi anh. Anh đã về nhà.

Nguyễn thị Thanh Dương
(Dec.30-2010)

Nấm mộ cho Anh .

Đời binh nghiệp ngẫm sao mà cay đắng
Ngựa bọc thây thử hỏi ở đâu ra !
Nam nhi hề chí hướng mộng xông pha
Kia nhục thể gởi lại miền hoang dã !

Tấm poncho không vẹn nguyên dưới đá
Mảnh hình hài còm cõi lắm thương đau
Một đời trai dẫu mai một mai sau
Ai thương tưởng ...hay vợ con thương tưởng ?

Tấm lòng trung bây giờ Anh nào hưởng
Nghĩa chân tình dân tộc mấy người hay
Đồng đội ơi thân xác bị lưu đày
Tâm vẫn vẹn thủy chung cùng đất nước

Ngày Anh sống hẳn không nhiều mộng ước
Súng đạn bom sẽ im tiếng ...yên vui
Trả gươm đao rồi lặng lẽ ....bùi ngùi
Quay trở lại với mái nhà Hạnh Phúc

Oan nghiệt thay đời người lại có lúc
Hai tay buông mà mắt mở trân trân
Đôi chân quỳ gục ngã dạ bâng khuâng
Người thua trận khác gì thân bại liệt  !

Lòng nén chịu lửa trong Anh bất diệt
Chí nấu nung ...năm tháng sẽ qua đi
Tiếc thương Anh... mơ ước bỗng dị kỳ
Nơi huyệt lạnh , oai linh Anh hiển thánh ?

Nấm mồ sâu đợi trời quang mây tạnh
Tấm lòng con xui ước nguyện viên chu
Thân dù cho lụy ngã chốn ngục tù
Tâm thanh thản rồi cũng về miên viễn

Đời là những khổ đau đừng ái luyến
Phận con người vay trả lẫn trả vay
Mang ơn ai đừng mang tiếng mai này
Đền đáp nghĩa Anh là ANH mãi mãi !

Kính tưởng nhớ Anh CHUNG HỮU HẠNH  .
Tình thân .
Thiên Phương
(Những ngày cuối năm 2010 )


VONG HỒN LINH HIỂN
( Cảm tác theo chuyện thật 100% của nữ sĩ Nguyên Nhung ) (1)

Nhiều chiến sĩ hiền lành
Vì động viên đi lính
Không trốn tránh quẩn quanh
Bị cải tạo rừng xanh.
Bất hạnh!

Anh tù chết cuối năm
Quá đói khổ bệnh tật
Thèm ăn miếng bánh chưng
Nhớ gia đình ngày Tết.
Thảm thật!

Vị Thượng Tọa chung tù
Nhịn phần ăn buổi tối
Đem cúng hồn âm u
Đang đói khổ mịt mù...
Vụng tu!

Các bạn tù thương xót
Nghĩ lại tủi phận mình
Đọa đày đau khổ quá!
Chắc bỏ xác rừng xanh...
Cô quạnh!

Bạn tù khiêng hòm anh
Chôn cạn bên sườn núi
Hồn tử sĩ quẩn quanh
Trong cô đơn sương lạnh.
Quạnh hiu!

Hồn bay vào nhà dân
Tìm sưởi ấm bếp lửa
Độ (2) mọi người bình an
Nơi hoang vu lạnh giá.
Khổ quá!

Thương hồn anh linh hiển
Người dân lập Miếu thờ
Không biết tên kẻ mất
Chỉ hương khói đơn sơ.
Bơ vơ!

Người bạn tù năm xưa
Kể chuyện chôn người chết
Vợ con khóc như mưa
Tìm đường ra Việt Bắc(3)
Đoạn trường!

Hồn cha báo mộng con
Tìm đúng nơi chôn cất
" Mộ gần mô đất cao"
Giúp bao người khai quật...
Khóc ngất!

Moi nơi vùng đất đá
Luôn khấn vái hồn cha
Xác thân đã tan rã
Đầu lâu (4) khô hiện ra
Khóc òa!

Các con đau đớn quá
Ôm hũ cốt về Nam
Hồn cha theo phù-hộ(5)
Ba mươi ba năm rồi...
Than ôi!

Hồn muốn gần thân nhân
Được thương yêu cầu nguyện
Được tưởng nhớ ân cần
Mong đầu thai kiếp khác...
Bi ai!

Hàng vạn hồn chiến sĩ
Vất vưởng nơi núi đồi
Nơi rừng xanh - biển cả...
Cần siêu thoát nhanh thôi.
Hỡi ơi!

                                 Minh Lương
                                      Cali.ngày 30/12/2010

(1) Chuyện Người Tù Chết Chiều 30 Tết...( năm 1977 ), Tử sĩ Huỳnh Tự Trọng.
(2) Độ là phù-hộ . Cứu độ là giúp cho vong linh sớm được siêu thoát.
(3) Tỉnh Sơn La
(4) Sọ người chết.
(5) Phù hộ là vong linh trở về giúp đở ngưới sống qua khỏi tai nạn , bệnh tật , thành công...


Kính Dâng Một Nén Nhang

Chiều 30, một ngày đông rét mướt
Anh ra đi trong lặng lẽ âm thầm
Rũ nợ đời sau bao ngày cùm xích
Không oán than chỉ đơn lạnh lìa trần

Hồn bay cao giữa núi rừng sâu thẳm
Vẫn loanh quanh bên nấm mộ lấp vùi
Ba ba năm dưới huyệt sâu quạnh quẽ
Mãi mong chờ hơi ấm của gia đình

Tết lại đến năm nay anh đoàn tụ
Chút hương lòng xin kính gửi đến anh
Huỳnh tự Trọng với hồn thiêng sông núi
Hãy bình yên trong giấc ngủ thiên thu
                                                                           
                                                                       Nguyễn thị Bạch Liên

Cảm tác chuyện Người Tù Chết Chiều 30 tết

                                                            Bảo Như

Trên đất Bắc đầu xuân 77
Nơi lán tù giá rét
Các bạn tù xôn xao,
chờ lãnh mẩu bánh chưng ngày Tết
Anh nằm lặng,
Sâu trong cõi chết
Tự bao giờ ?

Miền Nam xa, anh có vợ con thơ
Chiếc nhẫn cưới trở về - kỷ vật cuối
Bạn bè chọn đặt anh bên dòng suối
Núi chênh vênh, đá tảng chắn làm bia

Đời dâu bể ...
Đêm khuya tàn, ngày sáng
Con thơ dần khôn lớn, đến tráng niên
Công biển trời, con chẳng thể quên
Canh cánh trong lòng ... đâu thân xác bố?
Thời gian mãi không là huyệt mộ

Vật đổi sao dời,
Thiên lý xa xôi ...
Cha hiền - con hiếu - Lòng Trời
Kết trọn câu chuyện khiến người lệ rơi.

(Xin kính tặng tử sĩ Huỳnh Tự Trọng, vợ và các con)



NÉN HƯƠNG LÒNG THẮP MUỘN.

Anh nằm đó, giữa núi rừng cô quạnh,
Với nắng mưa, trong huyệt lạnh tiêu điều.
Lối mòn xưa, giờ cũng đã xanh rêu,
Vắng bước chân những bạn tù “cải tạo”…
Tiếng gió reo, nghe thê lương ảo não.
Tựa hồn anh, đang u uẩn thét gào,
“…Trả lại tao, hãy trả lại cho tao,
Thời trai trẻ với bao nhiêu mộng ước…”
Thế sự đảo điên, ngả nghiêng vận nước.
Cởi chinh y, khoác chiếc áo lao tù.
Nẻo tương lai là bóng tối âm u.
Vẫn ngạo nghễ vang tiếng cười quá khứ.
Nhân sinh tự cổ thùy vô Tử.
Lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh.
Nén hương lòng thắp muộn gởi đến anh,
Của một  người bạn tù còn liêm sỉ.
Còn nghĩ đến các anh hùng tử sĩ.
Còn xót xa bao đồng đội ngày xưa,
Cùng thiếu ăn, cùng giãi nắng dầm mưa,
Cùng chia sẻ những đớn đau tủi nhục.
Anh nằm đó, nhưng không hề cô độc.
Quê hương rồi, có lúc sẽ bình yên.
Và  anh rồi,  bia đá sẽ đề tên.
Sẽ sống mãi trong lòng dân tộc….

                              Mũ Nâu 11
                                     Thủy Gia Trang, cuối mùa đông lạnh giá

No comments: