Saturday, November 18, 2017

SƠN TRUNG *ANH MẸT TRIỀN

ANH MẸT TRIỀN
SƠN TRUNG

Ở quê tôi, ai sinh con trai thì được danh hiệu Cu, còn sinh con gái thì gọi là Mẹt trước tên cúng cơm của mình. Tôi và anh người cùng làng, anh lớn hơn tôi khoảng 10 tuổi. Lúc bấy giờ là thời kỳ Việt Minh lên, cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng lên khắp nơi. Quê tôi là vùng xôi đậu. Ban ngày quân Pháp và lính Partisants đi ruồng bố, Việt Minh bỏ chạy lên núi, khi quân Pháp rút thì họ trở về. Ông Nguyễn Mạnh Hạp, biệt danh gọi là đầu xứ Hạp là một tay văn thơ khét tiếng. Ông có nhiều bài thơ mà nay tôi còn nhớ. Ông chế riễu Việt Minh bỏ chạy lên núi:
....Nền độc lập để tàu Pháp độ (đậu)
Trống tự do dè rú (núi) khiêng lên".
Nhìn xem hạnh phúc mà phiền
Cọng hòa dân chủ băng miền lánh xa"...


Ông cũng bị Pháp bắt giam khi ruồng bỏ, ông bị tra tấn, đánh đập, ông có bài thơ nay tôi chỉ nhớ một câu:
..."Thịt da ai cũng là người".
Biết sao ướm hỏi cơ trời thế nao ?..."



Làng tôi có hai giáp, giáp đông và giáp Đoài. Tôi ở giáp Đông giáp làng La Hà. Giáp Đông có một dãy huyền vũ cây cối rậm rạp che mưa gió cho giáp Đông, trong đó có nhiều cây dầu cao khoảng 20,30 mét, bề ngang cũng hai ba người ôm. Thời kháng Pháp, lính Pháp thường đi càn quét. Thường là họ dùng cano tuần tiễu trên sông Gianh. Việt Minh bèn cho người làm chòi canh trên các cây cao trong vùng. Hễ thấy cano Pháp xuất hiện là đánh kẽng báo động. Dân quân du kich sẵn sàng tác chiến nhưng các cán bộ thì đã chạy lên núi từ lâu.


Anh Mẹt Triền là một dân quân, có nhiệm vụ canh gác trên chòi cao ở một cây dầu cạnh nhà tôi. Khi anh tới phiên canh, tôi ra chuyện trò cùng anh. Anh có tài cắt tóc rất đẹp. Tôi thường nhờ anh cắt tóc cho tôi mỗi khi đến phiên canh của anh. Lúc bấy giờ tôi là một học sinh trung học, trường của huyện Quảng trạch đặt tại làng Tùng Châu, Tùng Chất gần Roòn.

Chúng tôi gồm hai người bạn là Nguyễn Bá Sinh và Đinh Hữu Hồ vừa là bà con, vừa người làng cùng trọ tại nhà dân chúng. Chúng tôi thay nhau đi chợ và nấu ăn. Thời buổi khó khăn, chúng tôi cũng phải ăn khoai, ăn ngô, ăn sắn độn. Nhưng cuộc sống rất vui. Trường học tọa lạc trên chùa trong núi, bàn ghế là những thân cây tạo thành.Chúng tôi thường học ban đêm để tránh máy bay Pháp bắn phá. Suốt mấy năm trung học, tôi và Bá Sinh, ông anh họ luôn thay nhau đứng nhất lớp. Trong lớp tôi, có mấy anh bạn và cô bạn Cảnh Dương là trai thanh, gái lịch.

Anh họ tôi, Thạc sĩ  Nguyễn Bá Sinh có viết bài tưởng niệm "Ngày 20 tháng 11 tưởng nhớ Thầy Liệt sỹ"
Viết bài này tôi muốn các bạn ai đã học trường PT trung học Phan Bội Châu, trường PT cấp 2 Quảng trạch thuở 1950 -1954 nhớ lại dành 1 phút tưởng nhớ thầy :
- Liệt sỹ Lương Duy Khánh,
- Liệt sỹ Nguyễn Duy Khuyên
đã hy sinh năm 1954 tại làng Pháp Kệ , h. Quảng trạch , Quảng Bình.

Năm 1953 lần đầu tiên cả huyện Quảng trạch có trường cấp 2 đầy đủ lớp 5, lớp 6 , lớp 7.Lúc này Ba đồn đã giải phóng.Trước đó ở trường ở Lâm Xuân, Pháp kệ chỉ có đến lớp 5. Muốn học lên trên phải lên Tuyên Hóa có trường Phan bội Châu.

Mừng lắm , được “gần”. Những học sinh ở Quảng trạch trọ học xa Tuyên Hóa , Kỳ anh, Hà tĩnh nô nức tụ tập về quê học.
Trường quá đơn sơ, đóng ở làng Tùng chất : lớp 5 học ở trong làng, lớp 6 ở chân đồi đầu làng, lớp 7 ở chùa trên đồi.(Hồi ấy cấp 2 có 3 lớp : 5,6,7. Cấp 3 có 2 lớp :8,9 theo hệ giáo dục 9 năm. Hết cấp không phải thi tốt nghiệp)

Có 3 thầy : -thầy Lương duy Khánh hiệu trưởng dạy Văn,.
-thầy thầy Nguyễn duy Khuyên dạy Sử , Địa.
-thầy Lê văn Hồng dạy Toán, Lý, Hóa.

Cơ sở vật chất không có gì, sách giáo khoa không có cả 3 thầy đã đem hết nhiệt tình và trí tuệ truyền đạt dạy dỗ chúng tôi nên người. Dù đã lâu lắm, nhưng không quên hình ảnh thầy Khánh bình giảng truyện kiều . Âm điệu và lời lẽ của thầy rót vào tâm trí…hiểu biết đến nay…

Học sinh ở quê mình lớp 7 có các anh chị : Đoàn Yên , Trọng Khả , Băn, Mỹ Vinh, Thái An (em chị Vinh) (Hòa ninh),Nguyễn đình Cống (Lũ Phong), Huê (Tiên Lệ)….

lớp 6 có : Bá Sinh, Thiên Thụ,Hữu Hồ (Vĩnh Lộc),Đoàn Thào, Hoàng minh Sơn (Hòa Ninh), Trâm, Mậu (Vĩnh phước), Cát , Đương (Hạ Thôn)…

Lớp học trò đó bây giờ đã trở thành giáo sư , tiến sỹ ,thạc sỹ, Kỹ sư, giảng viên , cán bộ cao cấp…đã học chữ thầy. Lớp học bằng lán tranh tre, không cửa liếp, bàn ghế quá sơ sài , thô sơ . Học sinh tự dùng củi làm sàn kê vài thanh ván làm bàn, ghế ngồi là thanh củi kê dọc ngồi chung cả bàn…Học ban đêm dưới ánh đèn dầu leo lét…

Năm đó anh em mình học quá giỏi :

*Lớp 7 : Khả đứng đầu, Cống thứ 2, An thứ 3…Yên, Băn, Vinh tiếp…
*Lớp 6: Sinh, Thụ cùng đứng đầu, Sơn thứ 3, Thào thứ 4…,Trâm, Hồ, Cát tiếp…Kết thúc năm học đầu tiên qua tốt…học sinh nghỉ hè…

Năm học sau, đã xong kỳ 1, hè1954 Huyện Quảng trạch tổ chức tổng kết và học chính trị cho giáo viên tại làng Pháp Kệ. Máy bay Pháp oanh tạc,ném bom trúng…Thầy Khánh và Thầy khuyên hy sinh tại chỗ…thi thể thầy bị biến dạng…nhờ thầy Hồng thoát chết: thi thể mà trong túi áo ngực có cái bút máy Parker ( thầy vẫn dùng) nhận ra đó là thi thể của thầy Khánh …. ( gia đình đã tặng cây bút đó cho thầy Hồng làm vât kỷ niệm…)

Thầy Khánh người làng Lệ Sơn dáng cao, trắng trẻo hiền lành, yêu trò, hy sinh lúc 27 tuổi , có 1 con gái 2 tuổi…..Từ đó , tôi có tìm hỏi về gia đình Thầy …nhưng thông tin …lờ mờ…Đến gần 40 năm sau, qua giao lưu, chúng tôi gặp lại thầy Lê văn Hồng lúc này thầy là Tiến sỹ giáo sư trường ĐH Sư phạm HN.

…Một lần thầy Hồng đến thăm người cháu sinh viên trường ĐH thương mại, người cháu lại ở cùng phòng với 1 sinh viên người Lệ Sơn (Quảng Bình) có tên Lương Khánh Trâm(*)…quá đột ngột nhận ra con gái thầy Lương duy Khánh mà thầy Hồng đã chứng kiến sự hy sinh của thầy (lúc Trâm mới 2 tuổi)

…GS Hồng đã đã kể lại chi tiết về cha Trâm lúc hy sinh , khi cô còn thơ dại……Tôi cũng tìm được nhà chị Lương Khánh Trâm, gần nhà tôi, một đôi lần đến thăm chị, ngắm nhìn ảnh của thầy Lương Duy Khánh…chị giống cha…nước da trắng trẻo , hiền từ như Thầy…

(*)Chị Lương Khánh Trâm đã tốt nghiệp đại học TM, ở lại làm giảng viên và trở thành hiệu phó của trường ĐH thương Mại, có gia đình , có 2 con trưởng thành học hành đỗ đạt và làm ăn khá giả.


Sau 1954, tôi bỏ vào Nam. Anh Bá Sinh có trở lại thăm Quảng Châu, Tùng Chất và Cảnh Dương và có gặp cố nhân tại Hà Nội. Sau 1975, Đinh Hữu Hồ , giáo viên cấp ba ngoài Bắc, được điều vào Nam công tác tại Nha Trang.  Khi anh cùng phái đoàn giáo viên  cư trú tại một khách sạn Saigon, tôi đến thăm. Anh đi vắng.

Tôi đứng lẫn lộn với đám giáo viên ngoài Bắc. Khi anh về, anh nhận ra tôi ngay. Anh nói :"Ở xa, nhìn cái lưng Thụ là biết ngay". Chúng tôi xa cách đã lâu, ở hai chiến tuyến khác nhau, nhưng lúc gặp nhau, chúng tôi chỉ thấy tình thương, tình bè bạn, anh em trong đáy mắt. Rất tiếc, vào Nha Trang công tác it lâu anh từ trần vì hút thuốc lá quá nhiều. Sau 1985, tôi trở về quê. đến nhà anh thắp nén nhang trong khi chị và các cháu đang lo việc đồng áng. Tôi ghé thăm anh Đinh Xuyên, nhà cạnh Đinh Hữu Hồ. Hai chúng tôi uống chén rượu và nói chuyện thân mật. Anh Đinh Xuyên nói rằng ngày xưa dân ta khổ nhưng ra đồng còn bắt được con rạm, con tôm, nay thì trồng lúa thần nông, xịt thuốc trừ sâu cho nên ruộng đồng, chuôm ao không còn tôm cá!

Ngày ra đi, tôi đến thăm anh Mẹt Triền. Anh sai con mua cút rượu. Hai chúng tôi ngồi bên nhau, uống rượu , nhìn nhau mà không nói một lời. Tính tôi it nói. Hơn nữa, sống trong chế độ cộng cộng sản, con người phải thận trọng vì cổ nhân dạy :"bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất"( 病從口入,禍從口出)

Hình như cuộc sống của anh có nhiều khó khăn. Vợ anh bị bệnh lâu năm nằm một chỗ. Một mình anh phải cáng đáng mọi việc trong ngoài.

Anh dáng người thấp, da đen nhưng tính tình hiền lành trung hậu. Dù ở nơi xa xôi, tôi vẫn luân nhớ anh, người bạn vong niên thuở nhỏ!

Năm 1985, khi tôi về, dãy huyền vũ đã tiêu tan vì người ta lấy cớ chăt cây để kháng chiến nhưng sự thực, các ông cộng sản cũng như tổng giám mục Ngô Đình Thục đã bắt tay với cộng sản, chở cộng sản về dinh Độc lâp cũng chỉ vì gỗ, vì tiền! Nguyễn Văn Trấn là người duy nhất tố cáo bọn cộng sản đầu sõ cướp đoạt tài sản quốc gia. Chúng phá hoại núi rừng để bán gỗ cho ngoại quốc lấy tiền bỏ túi. Bùi Công Trừng đã nói với Nguyễn Văn Trấn như sau:

"Chúng nó cũng mấy thằng ấy, cũng những chính sách ấy, cai trị 17 triệu dân thì dân đã nghèo sát đất, không đầy 15 năm, hai cái rừng Việt Bắc và Tây Bắc bị cạo trọc lóc. Bây giờ ở miền nam,, cũng đào kép ấy( même acteurs), hải kịch ấy (même comédie) chưa chi đã giành đất Ban Mê Thuột, của Đà Lạt và Sông Bé thì chúng nó sẽ đua với miền bắc 15 năm, miền nam chỉ cần ba năm thì cũng trơn lu như mu bà bóng cho mày coi "(VCMVQH.tr.230).

Cái chi nhánh Linh Giang của tôi cũng bị người ta hành tội đủ thứ. Họ chắn sông, biến con sống nhỏ thành máng nước đưa nước từ nguồn về, nhưng dân chúng lao khổ và hao tốn tiền bạc, rốt cục con sông được giải phóng trở lại con sông nước mặn như xưa! Người ta mai mỉa thủy lợi thành thủy hại!
Công việc này phải do các kỹ sư thủy lơi phụ trách đâu đến các ông ủy ban nhân dân xã, huyện ủy trình độ lớp ba trường làng nhúng tay vào! Nhưng người ta cứ làm bừa! Đảng bách chiến bách thắng mà!
Dù chính sách thay đổi, cuộc đời đổi thay, cái dãy huyền vũ ngày xưa đã biến mất trong cuộc sống êm ả của làng tôi!

No comments: