Tuesday, October 31, 2017

THAI CONG TUNG * GIA DINH



Gia đình như một tế bào của xã hội,


                 nhìn theo quan điểm hệ thống

                        

                                           Thái Công Tụng



This essay discusses about family, using the systems theory  approach. Family is not formed by independent entities but rather as  a complex system in which all members are interconnected and interrelated. Family as a system is influenced by other systems: education, economy, health, values... Vietnamese folk songs and poems are used to illustrate different aspects of a Vietnamese family.

 


1.Tổng quan.

Từ 1975 đến nay, ngưòi Việt Nam phải bỏ xứ ra đi, hàng hàng lớp lớp. Cuộc thoát hiểm bằng ghe thuyền đã tạo cho văn học thế giới một thuật ngữ mới: boat-people, thuyền nhân. Thuyền nhân Việt Nam ngày nay có mặt khắp năm châu bốn bể: Âu Châu thì từ Ý đến Anh, từ Na Uy đến Thụy Điển; Á Châu thì hiện diện ở Phi Luật Tân, Đại Hàn, Nhật Bản; Úc Châu, Mỹ Châu thì đã đành mà ngay Phi Châu cũng có, Do Thái cũng có
Nhiều lớp thành công nhưng cũng nhiều lớp ít thành công hơn; nhưng cái quan trọng đề cập ở đây là gia đình. Gia đình Việt Nam bị một cơn bão lốc thổi vào dữ dội: chồng đi cải tạo, con chết trên Kampuchia, vượt biên chết, được các nước nhân đạo giúp đỡ thì phải hội nhập với một nền văn hoá xa lạ, từ ngôn ngữ đến cư xử . Sau vài chục năm định cư, ngưòi Việt cũng gặp phải các vấn nạn xã hội như trong xã hội Tây phương đủ mọi cám dỗ, khác nhau về phong tục, đủ mọi thử thách về ngôn ngữ, về học hành, về công việc. Các vấn nạn liên hệ đến gia đình như li dị, li thân, sống chung hoà bình không hôn thú, gia đình tái cấu trúc, đó là chưa nói đến con cái lớn lên không nói được tiếng Việt, bạo hành, băng đảng, rồi đến chuyện bảo trợ cha mẹ qua nhưng cha mẹ không thích nghi đòi về lại Việt Nam .Thật vậy, đó là truyện dài 'ngàn lẽ một đêm', kể không hết vì trong các báo xuất bản hàng tháng, hàng tuần luôn luôn có các mục 'gỡ rối tơ lòng', 'nhỏ to, to nhỏ' khi nào cũng có thư hỏi và lời giải đáp đề cập đến các vấn nạn về tình yêu, về gia đình v.v..
Như vậy, gia đình qủa là một chủ đề nóng bỏng của thời đại; nó liên quan đến nhiều nhân tố khác nhau: xã hội, kinh tế, tâm linh, giáo dục, định chế, các nhân tố này có tương quan nhiều chiều vì chúng đan xen, lồng ghép và ảnh hưởng quan hệ với nhau rất phức tạp.
Muốn phân tích vấn đề cho kỹ, ta cần sử dụng quan điểm hệ thống, nhìn gia đình như một hệ thống chịu tác động cả bên trong lẫn bên ngoài, mới thấy được hết chiều sâu của các hiện tượng, các cảnh ngộ, biến đổi, suy thoái, phát triển. Hệ thống chính là một toàn thể phức hợp gồm cả yếu tố trong và ngoài phụ thuộc lẫn nhau và khi có một biến động nào liên quan đến một yếu tố thì các yếu tố khác đều chịu ảnh hưởng, cũng như toàn bộ hệ thống. Và ta phải phát hiện được các mối tác động bản chất quyết định sự phát triển của hệ thống thì mới điều khiển được sự hoạt động của nó .

2. Quan điểm hệ thống là gì ?
Ta vẫn thường nghe và sử dụng hầu như quen thuộc các danh từ như hệ thống tuần hoàn, hệ thống tiêu hoá, hệ thống thần kinh (thần kinh hệ), hệ thống học đuờng, hệ thống y tế, hệ thống giáo dục, hệ thống thái dương (thái dương hệ ).
Trong khoa học nhân văn như tâm lý học, ngôn ngữ học, phân tâm học, càng ngày các học giả càng sử dụng các quan niệm về hệ thống như tính toàn bộ (globalité), sự tương tác (interaction), cấp độ (niveau) . Vài ví dụ :
Hệ thống xã hội bao gồm: dân số, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội ; các yếu tố này ảnh hưởng lẫn nhau
Hệ thống kinh tế bao gồm: công việc làm ăn, sự thất nghiệp, tiền tệ, lạm phát, giàu nghèo và các yếu tố này cũng có ảnh hưởng lẫn nhau..
Các hệ trên tương tác với nhau, trao đổi năng lượng (energy), vật chất (matter) và thông tin (information).
Vậy hệ thống là gì ? Hệ thống là một tập hợp những mối tương tác giữa các bộ phận theo thời gian. Hệ thống gồm nhiều yếu tố, nhưng nhiều yếu tố không phải là hệ thống khi chúng chỉ là một tập hợp hỗn loạn, mất trật tự. Hệ thống có 4 điểm cơ bản sau đây:

.sự tương tác. Có nghĩa là sự tương quan giữa hai yếu tố không phải chỉ theo đường một chiều, do A tác động trên B mà nó có thể do B tác động trên A nữa . Các tương quan giữa các hiện tượng là những tương tác có ảnh hưởng qua lại. Sự tương tác có thể đa dạng và tế nhị giữa hai cá nhân như : thầy-trò, vợ chồng, ông-cháu. Trong các khoa học truyền thông, sự tương tác ấy có thể là một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói, một gợi ý v.v . Một dạng đặc biệt của tương tác là thông tin phản hồi (feedback)

. tính toàn bộ. Bản thân hệ thống không phải là con số cộng của các bộ phận mà các bộ phận cùng hoạt động, tương tác với nhau để sinh ra một cái toàn thể (holisme) mà cái toàn thể là cái gì lớn hơn số cộng của các bộ phận. Người Tây Phương nói là ' The whole is more than the sum of its parts'. Khái niệm toàn bộ dẫn ta đến nguyên tắc cấp bậc (hierarchy) giữa các hệ thống. Các vấn đề gặp phải không phải là một sự cộng lại các sự cố mà là một toàn thể có đặc tính riêng.

. sự tổ chức. Tổ chức là một sự sắp xếp các tương quan, các quan hệ giữa các thành phần để tạo ra một hình thức mới có những đặc tính riêng mà các thành phần tự nó không có. Tổ chức còn là một tiến trình theo đó vật chất, năng lượng và thông tin chúng kết hợp lại nhau để có một chức năng. Tổ chức cũng hàm nghĩa có sự điều tiết (regulation).

.sự phức tạp. Một hệ thống bao giờ cũng phức tạp, do nhiều nguyên nhân nội tại (do nhiều quan hệ giữa các thành phần) cũng như ngoại tại (vì có may rủi, ngẫu nhiên, duyên may ..)

Giữa hệ thống này với hệ thống kia và ngay giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống, có những dòng chảy (flux) : dòng chảy năng lượng, dòng chảy thông tin, dòng chảy tiền tệ, dòng chảy vật chất. Các dòng chảy này chạy qua các kho dự trữ của hệ thống và chịu các chuyển hoá để tạo ra các sản phẩm và các phế phẩm .
Các tương quan giữa hệ thống với môi trường xung quanh là các đầu vào (input) và đầu ra (output).
Sử dụng tư duy hệ thống giúp ta hiểu là mọi việc có tương quan nhiều chiều, phi tuyến tính, do tác động nhiều yếu tố xã hội, văn hoá, kinh tế, nhân văn, truyền thống.. vậy cần có cái nhìn toàn bộ chứ không phải cục bộ; ta cần phân tích toàn hệ thống thì mới tìm được giải pháp hữu hiệu.

3 Ứng dụng quan điểm hệ thống vào gia đình
3.1. Gia đình ngày xưa bị chi phối bởi những điều kiện khác xa ngày nay vì
-có một hệ thống giá trị khác (hệ thống Nho giáo giáo điều một chiều, trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức, tam cương, ngũ thường, chủ trương kế, thuật, vô cải nghĩa là nối tiếp, làm theo, không thay đổi v.v. ). Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị Phụ Nữ Thế Giới của Liên Hiệp Quốc đã họp trước đây ngay tại Bắc Kinh , mục đích để thay đổi nhận thức và đánh dấu vai trò ngang hàng của phụ nữ trong một xã hội vốn coi trọng nam giới của xã hội Trung Hoa. Hôn nhân gò bó trong môn đăng hộ đối, nghĩa là hai bên sui gia phải cân xứng nhau về tiền tài, địa vị xã hội, nhà cửa, như ca dao sau đây :
Đứng ngoài trông thấy nóc nhà cao
Thấy vườn cau rậm muốn vào làm dâu
Làm dâu coi trước coi sau
Coi nhà mấy cột, coi cau mấy hàng
Coi nhà mấy cột để biết nhà lớn hay bé, coi cau mấy hàng để xem vườn rộng hay hẹp
- hệ thống kinh tế khác (hệ thống nông nghiệp, phần lớn ở nông thôn). Vì vậy, gia đình phải đông con để có người lo việc đồng áng.
- hệ thống y tế khác (thấp kém, tin vào bùa phép, ma qủy ..). Vì vậy, tỷ lệ chết sơ sinh nhiều, tuổi thọ thấp. Cái này kéo theo cái kia, do đó muốn tái lập cân bằng, phải lập gia đình sớm, sinh ra tục tảo hôn.

Xưa kia, tình cảm đôi lứa bị đặt xuống hàng thứ ba, sau hai chữ hiếu, trung:
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình
Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy: 'con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu' và gả con căn cứ vào giai cấp, địa vị, quan hệ thâm tình, môn đăng hộ đối, toan tính tiền bạc:
Mẹ em tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như đôi đủa lệch, so sao cho bằng.

Đũa lệch có nghĩa là chênh lệch qúa nhiều về tuổi tác,
-có thể chồng già như:
Vô duyên lấy phải chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng
Nói ra đau đớn trong lòng
Cái nợ truyền kiếp, phải chồng em đâu
-có thể chồng trẻ như:
Mang danh thân gái có chồng
Chín đêm trực tiết, nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười
Má hồng bỏ qúa thiệt đời xuân xanh
Hoặc chênh lệch về chân giá trị của mỗi bên như các câu ca dao sau:
-Tiếc thay hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

-Cổ tay em trắng như ngà
Răng đen rưng rức, chồng xa kém người
Khốn nạn thay, thân nhạn ở với ruồi
Tiên ở với cú, người cười với ma
Con công ở lẫn con gà
Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên ?

3.2. Gia đình ngày nay bị chi phối bởi nhiều hệ thống khác xưa:
-hệ thống giá trị khác: ngày nay, phụ nữ chiếm những địa vị trước kia dành cho nam giới, nam nữ bình quyền nên người phụ nữ cũng có thể làm Tổng Thống, Thủ Tướng như nam giới (Phi luật Tân, Anh, Tích Lan, Hồi quốc, Ấn độ là các chứng cớ gần đây). Xã hội ở hải ngoại đã có các qui chế hưu bổng, dưỡng lão nên trai hay gái cũng không quan trọng như xưa.
Trai mà chi, gái mà chi
Con nào có nghĩa, có nghì là hơn
Trai hay gái không quan trọng bằng chất lượng: chỉ cần đứa con nào biết cách ăn ở đối xử với cha mẹ, làm tròn hiếu thảo với cha mẹ là hơn hết .
Thực vậy, nếu chỉ thích đẻ con trai thì tình trạng nam thiếu, gái thừa sẽ lại là một vấn nạn về nhân khẩu học. Nhiều xứ, đặc biệt là Trung Quốc, vì chính sách 'một con ' đã khiến người Hoa phải chọn lựa và họ đã chọn con trai nên tình trạng không cân đối này diễn ra ở mức độ đáng ngại : cứ 117 trẻ sơ sinh nam thì mới có 100 trẻ sơ sinh nữ, trong khi tỷ lệ bình thường là 105-107 bé trai so với 100 bé gái. Như vậy, khi lớn, có chênh lệch quan trọng giữa nam và nữ .
Chính vì vậy, có tình trạng buôn gái Việt sang Trung Quốc, gả chồng Đài Loan. Hiện nay, ở Trung Quốc, số đàn ông nhiều hơn phụ nữ đến 70 triệu, nghĩa là có 70 triệu đàn ông phải sống độc thân vì không thể kiếm vợ, vượt quá toàn bộ số phụ nữ Đài Loan và NamHàn hợp lại! .
- hệ thống kinh tế khác: thương mãi được xem trọng, sự đô thị hoá và toàn cầu hoá khiến lưu thông hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn trưóc, sự cạnh tranh thị trường mãnh liệt hơn chứ không phải giới hạn chỉ trong nông nghiệp với tầm nhìn giới hạn ở lũy tre xanh, cái cổng làng như xưa.
-hệ thống y tế phát triển mạnh với khoa học và dụng cụ tân tiến, trẻ em sơ sinh chết rất ít. Tại các xứ tiền tiến, tỷ lệ em bé sơ sinh chết chỉ là 9 trên 1000 em và ngay cả tại những xứ kém mở mang như Mexique trước kia năm 1960, tỷ lệ chết trẻ em sơ sinh là 87 em trên 1000 nhưng ngày nay chỉ 26 em (chỉ có vài xứ chậm tiến mới có tỷ lệ trẻ sơ sinh chết còn cao như Haiti (105 tức một bé trên 10), Bolivie (88), Perou (65), Nicaragua (58).Trai cũng như gái chủ động được sự sinh đẻ vì có phương tiện như thuốc ngừa thai, tránh thai.

- hệ thống xã hội cũng đổi thay: Biến đổi kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa quốc tế đang mang đến cho gia đình Việt Nam nhiều giá trị nhân văn mới mà tiêu biểu là bình đẳng giới và quyền trẻ em. Với bình đẳng giới, người vợ và người chồng cùng có bổn ph ận và trách nhiệm ngang nhau trong công việc gia đình; quan niệm "trọng nam khinh nữ", không còn chỗ đứng trong xã hội ngày nay, khác với xã hội xưa kia, chịu ảnh hưởng Kh ổng Mạnh..Quyền trẻ em cũng được đề cao trong gia đình.

- hệ thống truyền thông chuyển tải cực nhiều, loan truyền cực nhanh qua các phương tiện hiện đại như Internet, thâm nhập cực sâu (đến mọi nơi ), tác động cực mạnh có ảnh hưởng hoặc tích cực xây dựng hoặc tiêu cực đến tâm trạng, ý thức . Ngày nay, nhờ công nghệ Internet, kết nhau qua mạng, nói chuyện trên phone, không cần môi giới, không cần những bức thơ tình nồng cháy dài, 'chat ' trong Internet, không cần bông hồng trao tay, chỉ click bông hồng trên máy là người yêu có ngay trên màn máy tính! Nhiều bạn trẻ đã tìm được một nửa của mình bên ngoài biên giới thông qua các trang mạng xã hội và tán gẫu trực tuyến..

Vì toàn bộ các hệ xã hội, hệ kinh tế, hệ giáo dục đều khác xa ngày xưa dưới chế độ phong kiến nên cũng có ảnh hưởng đến hệ phụ gia đình:

-gia đình ngày nay nhỏ hơn. Gia đình càng nhỏ đi, một phần vì đời sống kinh tế, phần khác vì tiến bộ của y tế nên phụ nữ chủ động được sự sinh đẻ. Họ lập gia đình muộn hơn, ngại sinh con sẽ phổ biến hơn do đó số con thường 1 đến 2 con mà thôi. Sinh suất ở Viet Nam quãng 1.8 con, có nghĩa là 1000 phụ nữ sinh ra 1800 con. Còn trung bình phụ nữ Đài Loan và Hàn Quốc hiện chỉ sinh 1.4 con; HongKong 1.25 .Trung Quốc thì chỉ cho phép đẻ một con. Tỷ lệ sinh sản ở Âu Châu cũng thấp, thấp hơn mức cần có để tạo ra thế hệ thay thế. Ở Bresil, năm 1960, số con cho mỗi phụ nữ là 6, ngày nay chỉ còn 2 và Mexique cũng vậy, do đó số di dân lậu qua Mỹ cũng giảm đi..

-gia đình ngày nay thì tỷ lệ ly dị rất lớn .Tỷ lệ ly hôn ngay tại các nuớc châu Á cũng càng ngày càng cao: từ vài % cho đến dưới 20% tuy còn xa tỷ lệ 50% của Mỹ, 46% tại Úc, 37% của Pháp nhưng cũng là hồi chuông cảnh báo về sự phân rã gia đình, tế bào của nền tảng xã hội . Vì ly dị nên nhiều gia đình ngày nay chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ : ta gọi đó là gia đình đơn độc (famille monoparentale); ly dị thì con cái phần lớn tòa án cho bà mẹ giữ, cha chỉ có thể đến thăm con vào những ngày giờ nhất định, do đó trẻ mất định hướng.

Con chung, anh để tôi nuôi

Tình chung anh nỡ để xuôi mặc đời

Làm ra to tiéng nặng lời

Im đi hoạ có đất trời biét chăng



Ở Mỹ, năm 1991, chỉ có 50.8% trẻ em Mỹ dược sống trong gia đình truyền thống bên cạnh cha mẹ đẻ . Người Mỹ gốc Hispanic thì tỉ lệ đó giảm xuống 38%, gốc châu Phi lại càng đáng ngại: 27% . Mà các trẻ em sống trong các gia đình này thường không ai dạy dỗ, con không cha như nhà không nóc và dễ hư hỏng, dễ trở thành đối tượng của cần sa, ma túy, bỏ học, phạm pháp. Và hậu qủa là xã hội gánh vác

.-từ 1986 đến 1996, số người Canada sống chung không cưới hỏi (union libre) tăng lên xấp đôi.

-nhiều 'bà mẹ trẻ độc thân' (teenager mothers) nghĩa là các thiếu nữ ở tuổi vị thành niên có con không biết cha là ai, nói nôm na là đẻ con hoang. Các thống kê cho thấy năm 1960, chỉ có 5.3% trẻ em ở Hoa Kỳ là con hoang. Năm 1990, tỉ lệ là 28%. Nhiều thiếu nữ này có con cái với các bạn trai khác nhau . Như vậy, cưới hỏi ít hơn, còn đã kết hôn thì lại ly dị nhiều hơn và sớm hơn thời trước. Hệ luận là dân số thấp xuống.

Tóm lại gia đình vừa nhỏ lại, vừa nổ tung (rapetissement-éclatement). Các nhà dân số học cũng không biết diện mạo tương lai của gia đình trong 50 năm nữa sẽ ra sao. Không có dấu hiệu là tỷ lệ sinh đẻ sẽ cao hơn trong những thập niên sắp đến . Thực vậy, phụ nữ lập gia đình càng ngày càng trễ, nên không thể sinh đẻ nữa; nhiều cặp vợ chồng đi làm cả hai và không muốn có con, được gọi dưới danh từ DINK nghĩa là double income, no kids.

Xã hội hoá già nhanh chóng; chỉ vài chục năm nữa thôi, các thế hệ baby boom (sinh trong khoảng 20 năm sau đệ nhị thế chiến) sẽ già hết; lúc đó trên toàn thế giới sẽ có 20% dân số là trên 65 tuổi. Vì dân số đông nhất ở Á Châu, nên người ta sẽ chứng kiến lão hoá rõ ràng nhất ở Châu Á.

Thay vì baby boom, thì sau đây là vài tiêu chí của baby blues :



Số li dị cứ 100 hôn nhân ở Canada : 34.6%
Số trung bình con ở những cặp vợ chồng có cưới hỏi : 1.89
Số trung bình con ở những cặp sống chung không cưới hỏi : 1.64
Tỷ lệ sinh đẻ ngoại hôn nhân ở Quebec : 56%
Số phá thai cứ 100 lần sinh ở Quebec, năm 1999 : 38
Số phá thai cứ 100 lần sinh ở Quebec, năm 1989 : 20
Số phá thai cứ 100 lần sinh ở Quebec năm 1980 : 14.7
Số phá thai cứ 100 lần sinh ở Ý : 24
Tỷ lệ gia đình một cha hoặc một mẹ ở Montreal 20.4%
Tỷ lệ cặp cưới nhau năm 1985 và
đã li dị trước khi kỷ niệm 10 năm một trên năm

Vì tỷ lệ li dị nhiều hơn, phá thai nhiều hơn nên sinh con cũng ít đi, nên trong vài chục năm nữa, các nhà dân số học tiên đoán sẽ có đến 20% trong xã hội sẽ là người già
Sẽ có danh từ papy-boom để chỉ hiện tượng xã hội này. Tháp dân số trước kia thì lớn ở đáy, nhỏ ở trên; trong tương lai gần vì trẻ con ít, người già nhiều nên tháp dân số sẽ là tháp đảo ngược .

4. Mười nguyên lý của học thuyết hệ thống .
Hệ gia đình, vốn là một hệ thống mở vì hệ gia đình có quan hệ với hệ xã hội, hệ kinh tế, hệ văn hoá (truyền thống, niềm tin..) và các nguyên lý sau của tư duy hệ thống giúp phân tích sâu hơn.
4.1. một hệ thống sống gồm nhiều cá thể để tạo thành khối của hệ thống
Một hệ thống sống gồm những cá thể như tế bào, cơ quan, người, nhóm, tổ chức. Nếu áp dụng vào gia đình thì gia đình cũng là một hệ thống sống : gia đình hạt nhân gồm cha mẹ, con cái còn gia đình rộng hơn thì phải kể thêm ông bà nội, ông bà ngoại, dâu, rể, cháu, chắt; xa hơn nữa phải kể luôn anh chị em ruột. Các cá thể này có các quan hệ qua lại, tác động hỗ tương lẫn nhau và tác động với nhiều yếu tố khác và cuối cùng tạo thành nếp sinh hoạt gia đình: xung đột hay hoà nhập, cản trở hay thăng tiến.
Gia đình mang những đặc tính riêng, không thể có ở mỗi cá nhân. Những dặc tính đó phản ánh cấu trúc của gia đình bao gồm những cá thể trai, gái ở mọi lứa tuổi khác nhau: anh em, chị em hoặc sự biến động của những cá thể theo năm tháng như lấy vợ, lấy chồng.

4.2. Một hệ thống luôn luôn có những hệ thống phụ và lại nằm trong một hệ thống lớn hơn
Trong một hệ thống có những hệ thống phụ chúng gặp nhau, cắt nhau, xuyên qua nhau, luồn vào nhau theo đủ mọi chiều hướng, nói khác đi có những tác động hổ tương. Chúng có những quan hệ có tính cách biện chứng tức là chúng có ảnh hưởng lẫn nhau; cái này ảnh hưỏng đến cái kia (một cách tích cực hoặc tiêu cực); cái này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm cái kia và ngược lại.
Khi nói đến hệ thống, ta phải hiểu rằng không những nó bao gồm nhiều hệ thống phụ cấu tạo nên nó, mà các hệ thống phụ này lại nằm trong những hệ thống lớn hơn và các hệ thống này lại nằm trong các hệ lớn hơn nữa. Nói khác đi, mỗi một cấu thành trong một hệ thống cũng tự nó là một hệ thống phức hợp, cho nên trong một đại hệ có những tiểu hệ Môi trường ngoại cảnh gồm nhều lớp tác động lên nhau:
. tiểu hệ (microsystem): Có mối quan hệ giữa những cá thể trong gia đình và với những nơi hoặc các hoàn cảnh cá nhân có tiếp xúc trực tiếp với những người khác (ví dụ: câu lạc bộ thể thao, sở làm, hàng xóm ..)
. trung hệ (mesosystem): đó là toàn bộ các tương quan của các vi hệ thống, là các nơi cá nhân có tham gia tích cực . Ví dụ: làm việc vui vẻ ở sở có thể ảnh huởng đến lối xử thế tại nhà hoặc yêu người trong sở làm có thể gây gổ với vợ con khi về nhà
. ngoại hệ (exosystem): đó là toàn bộ các nơi hay các hoàn cảnh chi phối đến cuộc sống cá nhân, dù cá nhân không tham dự vào (ví dụ: tình hình công việc làm ăn..)
. đại hệ (macrosystem): có mối quan hệ giữa gia đình với ngoại cảnh như hệ kinh tế (công việc), hệ xã hội (phong tục, tín ngưỡng, tập quán), hệ tinh thần (các giá trị, các niềm tin, tâm linh), hệ tâm lý (nâng đỡ tinh thần, tương trợ) và các hệ này có thể xem như nền một bức tranh (ví dụ: cá nhân chủ nghĩa, tiêu thụ, tiết kiệm, chuẩn mực xã hội ..)

Vài ví dụ để thấy sự tương quan các hệ phụ trên:
Trên truyền hình hàng ngày, ta thấy chiếu phim về bạo hành, cá nhân bỏ nhà ra đi , bạo hành về gia đình khiến cho trẻ em bị ảnh hưởng.(macrosystem)
Vài hoàn cảnh cha mẹ không chủ động được cũng ảnh hưởng đến chất lượng của quan hệ cha-con (exosystem). Ví dụ: thất nghiệp, con cái học không được, thu nhập thấp làm cha mẹ bực mình, gây gổ, đánh con
Làm việc bị chủ rầy la, bị căng thẳng do đau ốm, do tiếng động, do buồn bực gia đình cũng ảnh đưởng đến các đối xử qúa lố với trẻ em (mesosystem)
Gia đình, nhà ở là những nơi có tương quan mạnh giữa cha-con, mẹ-con, anh-em, chị-em (microsystem). Môi trường gia đình ảnh hưởng đến con cái: nếu cha hoặc mẹ hoặc cả hai không để ý gì đến học hành, bạn bè của con cái, giao du thì chúng đâm ra hư hỏng.
Từ sự tương quan các hệ phụ, ta thấy muốn tác động trên một vấn đề, phải nhìn xa và muốn có hiệu qủa, phải để ý đến tương quan giữa nhiều vấn đề khác nhau và chú ý đến cả cộng đồng, trên mọi mặt và trên nhiều cấp độ

43. Mọi hệ thống sống được xem như là các vật thể trong chuyển động theo cặp đôi
Trong hệ thống gia đình, có những quan hệ vợ-chồng, cha-con, mẹ-con, nàng dâu-mẹ chồng, anh-em, chị-em; xa xa hơn thì có ông-cháu, bà-cháu v.v. Các quan hệ này có thể là tương trợ (cộng sinh, hội sinh, hợp tác ..) hay quan hệ đối địch (cạnh tranh, ngoại tình, ghen tuông ..) Ngoài xã hội, các mối quan hệ cơ bản như thầy-trò, bác sĩ-bệnh nhân cũng đang thay đổi dưới tác động của các biến đổi kinh tế-xã hội vĩ mô.

431 Các quan hệ tương trợ :
-cộng sinh (symbiosis) là cả hai bên đều có lợi:
.cộng sinh giữa anh chị em: chị giúp em nhưng cũng đồng thời hiểu thêm bài
.cộng sinh giữa ông bà và cháu: ông bà giúp đỡ giữ cháu để bố mẹ đi làm vừa vui tuổi già, nhưng con cũng đưa cho cha mẹ tiền tiêu như một ủy lạo giữ trẻ ông bà còn có thể giúp các cháu như nói chuyện, đưa đón cháu đi học về, kềm bài vở, dạy Việt ngữ vào dịp hè
Già thì bế cháu ẳm con
Già đâu lại muốn cau non trái mùa ! ..
Không những ông bà đem lợi ích cho các cháu mà chính ông bà cũng học được ở các cháu . Vì cần có sự hiểu biết cập nhật hoá của giới trẻ nên qua nói chuyện biết thêm được đời sống trẻ hiện đại, nhờ vậy ông bà sống trẻ trung hơn, hiểu các thanh thiếu niên hơn và cảm thấy không bị bỏ rơi tụt hậu. Tóm lại, sự ràng buộc ông bà và cháu là một quan hệ cọng sinh vì cả hai thế hệ đều có lợi.
. cộng sinh giữa vợ chồng:
Cộng sinh giữa vợ chồng như chồng đứng nấu ăn trong bếp, vợ làm bồi bàn trong một quán cơm; như chồng cày, vợ cấy trong canh tác đồng áng

-hội sinh (commensalism) là quan hệ giữa hai người nhưng chỉ một bên có lợi cần thiết, còn bên kia không có lợi và cũng không có hại gì.
Thực vậy, người chồng đi làm kiếm tiền, nhưng nếu không có người vợ lo toan, tính toán thì cuộc sống cũng không chu toàn

-hợp tác: cũng giống như quan hệ cộng sinh, nhưng không nhất thiết phải thường xuyên chung sống với nhau . Ví dụ: anh em giúp vốn cho nhau để mua nhà, để kinh doanh, thay vì ra ngân hàng mượn tiền lãi xuất cao.
Anh em giúp nhau khi dời nhà, đau ốm cần anh em nương tựa, lúc hoạn nạn, vui buồn có nhau. Vô số câu tục ngữ để nói lên anh em, bà con ruột thịt trong gia đình luôn gắn bó với nhau 'Lá lành đùm lá rách', 'một giọt máu đào hơn ao nước lã', 'mười đời chưa rời cánh tay' v.v Biết bao nhiêu người sau khi định cư ở nước ngoài, đã tìm cách bảo trợ cho anh chị em còn ở lại bên nhà hoặc gửi tiền về giúp

432 Các quan hệ đối địch:
- ức chế cảm nhiễm
Ví dụ quan hệ nàng dâu, mẹ chồng thường gay cấn, nhưng phải che dấu mặt ngoài, để tỏ ra mình là con dâu hiếu thảo, như ca dao:
Thương chồng phải khóc mụ gia
Chứ tôi với mụ, chỉ là người dưng
hoặc:
Thật thà như thể lái trâu
Yêu nhau như thể ..nàng dâu mẹ chồng!
Lái trâu là hay tráo trở, không thể tin được, chừng nào mà họ thật thà trong nghề buôn bán thì lúc đó mẹ chồng mới hoà hợp với nàng dâu
Cảnh người vợ than chồng về cảnh khổ khi làm dâu:
Anh qua làm rễ bên em ăn cơm với cá
Em qua làm dâu bên anh ăn rau má với rạm đồng

- ghen tương.
Hồng nào hồng chẳng có gai
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng
hoặc:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

Nhưng ghen không đâu vào đâu sẽ làm mất hoà khí, vì chồng/vợ có những quan hệ giao tiếp với xã hội, vì có ngoại cảnh, môi trường chi phối. Chính vì có tác động của môi trường chung quanh, nói khác đi đó là một hệ thống mở, do đó, phải thích nghi với môi trường mới.

-ganh ghét
Đây là nét đặc thù của quan hệ dì ghẻ, con chồng. Truyện Thoát ly của của Khái Hưng có chủ đề này và thật ra cũng phản chiếu hiện thực ngoài đời như câu ca dao sau đây:

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng

- ngoại tình
Ngọại tình trong tư tưởng của người vợ cũng đã khiến người chồng hững hỡ:
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chét
Vẫn dấu trong tim bóng một người
(Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh.)
Người đàn ông cũng ngoại tình, cũng 'bay bướm', dù đã có vợ, nhưng vẫn 'còn ước cau non trái mùa':
Đàn ông năm bảy lá gan
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người

Và ngoại tình là nguyên nhân đổ vỡ:
Có oản anh phụ tình xôi,
Có cam phụ quít, có ngưòi phụ ta
Có mực anh phụ tình son
Có kẻ đẹp giòn, anh phụ nhân duyên
Có bạc anh phụ tình tiền
Có nhân ngãi mới, anh quên em rồi
Cũng có trường hợp, một người con gái dù đã đi lấy chồng mà còn nhận qùa tặng của người tình đầu tiên mà không thông báo cho chồng mình biết, dấu diếm, như vậy cũng có thể gây hiểu lầm, đi đến đổ vỡ . Chẳng thà dứt khoát như ngưòi con gái trong ca dao:
Vẽ gì một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ ?
Chim vào lồng biết thuở nào ra ?

-cờ bạc: Đây cũng là một yếu tố khiến gia đình tan vỡ. Hãy nghe lời một người vợ than vãn:
Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xóc đĩa nó thì chơi hoang
Nói ra xấu thiếp hổ chàng
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà
Gần casino, có thể bị quyến rũ. Nói về casino, hiện nay cũng vì cái casino mà nhiều gia đình tan nát, mất cửa mất nhà. Một tờ báo ở Montreal, nơi tác giả ở, chạy tít lớn trên trang đầu: Le casino fait des ravages dans la communauté asiatique ; tỷ lệ nguời Việt không nhiều nhưng đỏ đen với casino thì rất đông:
Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà
Chính vì không thể chuyển động theo cặp đôi nghĩa là chỉ chú ý đến mình mà không chú ý đến người khác do cá nhân chủ nghĩa chi phối, tính toán nhiều qúa, nên nhiều thanh niên thanh nữ sống độc thân càng ngày càng nhiều.


Xưa kia thì một (chồng) với một (vợ) là một; ngày nay, một với một là ba (tôi, anh, chúng ta). Tại Mỹ, có đến 43 triệu phụ nữ sống độc thân. Ở Quebec, 40% phụ nữ độc thân, nhiều xấp đôi cách đây 40 năm.

44 các hệ thống sống nhận năng lượng vào từ ngoài, khác với hệ thống kín.

Nếu ứng dụng vào gia đình, thì:

-năng lượng ở đây có nghĩa là sự tìm hiểu đối tượng trước hôn nhân, chứ không yêu cuồng sống vội như trong bài hát:'tình cho không biếu không, tình là tình khi không mà có, tình là tình nhiều lúc có như không ..' Những câu lạc bộ, những giới thiệu, những gặp gỡ, những trao đổi trong Internet giúp các bạn trẻ có dịp gặp gỡ nhau trên thực tế ngoài đời hay trên thực tế ảo (virtual reality) để trao đổi quan điểm về tình yêu, về gia đình, về ứng xử lứa đôi, thay vì khi cưới xong rồi, người chồng và vợ khác biệt nhau, tị nạnh nhau về giữ con, rửa chén, làm giường, săn sóc hoặc chồng lo T.V., vợ đánh casino. Nếu qua tìm hiểu đối tượng mà thấy không có mẫu số chung để thành bạn đời thì cũng có thêm được một người bạn ngoài xã hội. Các thanh niên thanh nữ cần có bạn bè để cùng nhau học tập vui chơi và nếu có bạn khác phái thì dễ chững chạc hơn, có phong cách cư xử đẹp hơn.

--năng lượng ở đầu vào của hệ thống cũng có thể là niềm tin, tin vào chính mình, tin vào gia đình vì mất đi niềm tin là mất tất cả. 'Những con mắt buồn phiền xin cấy lại niềm tin' vì mất đi niềm tin có thể dẫn đến sự tự hủy hoại đời sống và đây cũng là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, do đó cha mẹ phải nói chuyện với con cái trong tình thương mặn nồng:

Có con thì phải dậy con

Dạy con nên khéo, nên khôn mọi đàng

Lấy lời hơn thiệt bảo ban
Tìm câu êm ái, dịu dàng nhủ khuyên
Dạy con nên thảo nên hiền
Dạy cho em dưới anh trên thuận hoà

- năng lượng ở đầu vào (input) của hệ thống cũng có thể là những lời ru con của mẹ in sâu vào tiềm thức đứa bé:
Con ơi mẹ bảo con này
Học buôn học bán cho tầy người ta
Con đừng học thói chua ngoa
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cưòi
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan

Đời sống tinh thần của đứa bé được nuôi nấng từ những lời ru con, ru mây vào hồn, từ những âm thanh mộc mạc, đơn sơ, không màu mè, dạy con từ thuở còn thơ nhưng thấm dần với tiếng thời gian . Và chính đây là nguồn dưỡng liệu trong tiến trình trở thành một nhân cách văn hoá của trẻ em, đúng như nhận xét của nhà xã hội học Mỹ Packer khi ông cho rằng: Người ta không đẻ ra người, đứa trẻ trở thành người trong qúa trình văn hoá . Thực vậy, môi trường đầu tiên để mỗi người tự tác thành là gia đình vì gia đình đem lại cho trẻ em nhiều kỷ niệm sinh động và các kỷ niệm này chồng chất trong tiềm thức từ thuở ấu thơ sẽ giúp trẻ em có một văn hoá gia đình. Gia đình đáp ứng nhu cầu tự nhiên về tình thương, về an toàn tâm lý, ấm áp tình người


-năng lượng ở đầu vào có thể là giáo dục trẻ em, giúp chúng có một nhân cách tốt: biết thương yêu lẫn nhau, đùm bọc. Giáo dục trẻ em có nghĩa phải để ý từng cá tính, không nên ép trẻ em quá sức và so sánh với trẻ em con nhà này, con nhà kia, mục đích xây dựng cho trẻ em tính tự giác cao. Khi nhỏ kềm học bài vở; khi lớn lên thì khuyến khích hoặc tìm khuyết điểm để cải thiện.


45 Mỗi hệ thống phụ được xác định bởi khả năng tiếp nhận đầu vào (input) về vật chất, năng lượng, thông tin, dự trữ, chuyển hoá và đầu ra (output)
Trong sinh thái học, gồm các hệ thống phụ như thực vật, động vật, đất đai, nước.., các hệ phụ này có tác động qua lại với nhau: chúng nhận năng lượng, dự trữ năng lượng và chuyển hoá các năng lượng thành sản phẩm. Gia đình cũng vậy: nhận năng lượng như lời khuyên, giáo dục, cha mẹ nuôi con, tình yêu, công cha, nghĩa mẹ để nuôi con đến khi khôn lớn, học hành, thành tài, dựng vợ gả chồng. Các lời khuyên răn, dạy dỗ giúp các em bé nhiều dự trữ văn hoá . Dự trữ có nghĩa là có khả năng chịu đựng sự thay đổi, khả năng thích nghi và linh động, uyển chuyển, mềm dẻo . Dự trữ cũng còn có nghĩa có khả năng đối phó linh hoạt với những biến cố ngẫu nhiên ngoài dự kiến. Nếu căn bản văn hoá càng sâu, càng rộng như dạy con cháu biết nói, viết, đọc Việt ngữ thì ít mất gốc hơn. Với vốn tiếng Việt, dù lưu lạc bốn phương, họ vẫn giữ được bản sắc Việt tính, bản sắc giống nòi, dù họ có biến thái theo môi trường xứ họ đang sống, vì ngôn ngữ là cốt lõi của văn hoá.
Sự thích nghi và tính đàn hồi, mềm dẻo làm cho hệ vững vàng hơn: cây sậy tuy yếu mà vẫn đứng vững trước gió. Cũng như trong thiên nhiên, nhiều hệ sinh thái rất yếu ớt, mảnh khảnh, không thích ứng vì không có sức đàn hồi nên khi điều kiện sinh thái thay đổi thì bị mất đi, còn các hệ sinh thái thích ứng với môi trường mới có thể trì kéo lại được.

46 Cấu trúc của một hệ thống tùy thuộc vào các hệ thống phụ và vào các hệ thống lớn chi phối. Các hệ thống phụ được khởi động để phản ứng lại với các thay đổi của các hệ phụ khác.
Cấu trúc một hệ thống là toàn bộ các quan hệ của những hệ thống phụ . Các quan hệ này là xuyên qua các kênh giữa các hệ phụ trong đó đầu vào là vật chất, năng lượng, thông tin và đầu ra là các sản phẩm. Ví dụ khi cơ thể ( hệ thống) bị bệnh xâm vào thì miễn nhiễm (hệ phụ) sẽ được kích năng để chống lại bệnh tật.
Thực vậy, gia đình chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống lớn hơn như:

. hệ thống chính trị .Chính vì hệ thống chính trị cọng sản mà người Việt Nam mới hàng hàng lớp lớp bỏ xứ ra đi tìm tự do. Các chiến tranh, các xung đột địa phương hay thế giới đã khiến lớp trai tráng hi sinh nhiều, để lại qủa phụ:
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê,
để lại bao em bé mồ côi hoặc các phụ nữ phải sống độc thân vì thiếu đàn ông. Hệ thống chính trị qui định bắt buộc như Trung Quốc chỉ cho gia đình một con mà thôi

. hệ thống kinh tế dĩ nhiên ảnh hưởng đến gia đình nhiều nhất vì nếu không công ăn việc làm, nếu bị thất nghiệp thì hạnh phúc gia đình cũng bị chi phối. Thực tế là trong hệ gia đình, khi tài nguyên,-tiền bạc- tăng hay giảm, sẽ có nhiều hậu qủa.

. hệ thống xã hội nhân văn:
Gia đình ngày nay, vì cả cha lẫn mẹ đều đi làm, đi sớm, về trễ nên không còn thì giờ để ý đến con, con đâm ra hư hỏng. Gặp thêm bạn xấu ở học đường lôi cuốn đâm ra chích choé, hút sách, rượu chè ; xem các chương trình khiêu dâm hay bạo hành trên truyền hình lôi cuốn các em trong các hành vi tiêu cực và đó là trái bom nổ chậm của thiếu niên. Thực vậy, trên màn hình nhỏ, nhiều chuyện không nhỏ xảy ra!
Nhiều bà mẹ lo cho con đã phải dời chổ ở nhiều lần, tránh các khu phố có ngoại cảnh xã hội tiêu cực như gái bán hoa ngoài đường, thanh niên chích choé.
Sự xáo trộn môi trường gia đình như cha mẹ bất hoà, hoàn cảnh thất nghiệp là môi trường tạo điều kiện (enabling environment) cho sự mất hứng thú trong học tập của thiếu niên.

. hệ thống văn hoá bao gồm mọi yếu tố tinh thần, tâm lý, tâm linh, truyền thống. Hệ thống này có tác động thẩm thấu lâu dài nhất vì chìm sâu trong tâm thức để rồi có ảnh hưỏng gián tiếp ở một bình diện rộng và lâu dài.

Cả bốn hệ thống phụ này đều tương quan với nhau, lồng ghép lên nhau . Do đó trong sự nghiên cứu mọi hiện tượng nhân văn và xã hội, ta phải chú ý đồng bộ đến các hệ đó để phân tích vấn đề.


















































Hệ gia đình luôn luôn chịu sức ép bên ngoài cũng như bên trong hệ thống:
. sức ép bên ngoài ở đây trong truờng hợp gia đình Việt, bị nhiều yếu tố như chồng cải tạo, vợ ở nhà nuôi con; khi chồng may mắn còn sống không chết trong tù cải tạo trở về gia đình thì mối tình cũng khác năm xưa.
. sức ép bên trong như con cái qua xứ lạ, học hành phải gấp rút để đuổi kịp chúng bạn, sống trong môi trường khác, nói tiếng khác.
Nếu hệ thay đổi quá nhanh theo sự thay dổi của ngoại cảnh thì hệ không ổn định đưọc. Hệ phải tự điều chỉnh để giữ được thế ổn định, chỉ khi nào tác động vượt qúa giới hạn của tính đàn hồi thì hệ mới thay đổi. Nhiều khi chỉ những việc đâu đâu mà hệ thống mất ổn định:
Rõ ràng sự nhỏ cỏn con
Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn

Hệ thống mất ổn định và có thể đến diễn thế phân hủy với li hôn li dị; sau đó sẽ ảnh hưởng đến các hệ phụ khác. Ví dụ: con cái không ai chăm sóc sẽ dễ trở nên bạo hành và chính phủ phải cho chúng vào các trung tâm thiếu nhi phạm pháp, gây thêm gánh nặng cho toàn xã hội . Riêng về các nguyên nhân li hôn li dị, các nhà nghiên cứu về gia đình cho rằng không phải mức độ cũng như mật độ các vụ cải vã đã làm hủy hoại hôn nhân mà do tiến trình bốn giai đoạn: chỉ trích, khinh thường, chối bỏ và xa lánh. Đó là bốn giai đoạn then chốt mà nhà tâm lý học Mĩ John Gottman sau 20 năm nghiên cứu trên 2000 cặp vợ chồng luôn trong tình trạng xung đột. Theo ông, không phải vì tiền bạc, thiếu thoả mãn tình dục hoặc không hợp tính khí sẽ gây ra việc chia tay. Nguyên nhân 'anh đi đường anh, tôi đi đuờng tôi' là do một diễn thế tiềm tàng, từ lời chỉ trích nho nhỏ, nghĩa là không tôn trọng nhau ( 'anh ăn bận lôi thôi', 'anh chả để ý đến vợ con', 'chỉ lo ba cuốn sách', 'bạn bè anh sao sao ấy', 'anh cứ bừa bãi', 'anh cứ hút thuốc lá hôi cả nhà' ..) sẽ đưa đến cảm giác khó chịu và từ đó biến thành sự khinh thường.
Chị em ơi, người ta trông thấy mặt chồng thì mừng
Sao tôi trông thấy mặt chồng thì lại như gừng, như vôi !
Khi người bị chỉ trích chối bỏ tất cả những lời kết tội, từ chối tranh luận và đi đến chỗ rút lui vào yên lặng thì hai vợ chồng sẽ xa lánh nhau một cách nguy hiểm. Do đó sự truyền thông (communication) trở thành quan trọng để dung hoà quan điểm. Sự trò chuyện có tác dụng hai chiều, trò chuyện để đả thông tư tưởng, và trò chuyện trong ái ngữ, vì 'một lời là một vận vào khó nghe ' (Kiều). Việc tôn trọng nhau giúp vợ chồng nhận biết sự khác biệt về quan điểm của nhau và việc mong muốn cả hai người có cùng một quan điểm trên mọi vấn đề là không thiết thực.

47 Một hệ thống có thể sử dụng năng lượng ở đầu vào để thay đổi các quan hệ giữa các hệ thống phụ hoặc để sản xuất một đầu ra
Năng lượng có thể là tiền bạc, thông tin, lời khuyên, tình thương v.v. . Năng lượng ỏ đầu vào có thể thay đổi các liên kết giữa các hệ thống phụ, đó là giáo dục gia đình, khuyên răn sự chịu đựng, kiên nhẫn, sự tha thứ, sự bao dung để gia đình có được phát triển bền vững hài hoà không gây gổ, không bạo hành. Người vợ khuyên nhủ chồng và đàng sau một người chồng thành công luôn luôn có hình bóng người vợ đứng ở phía sau, tuy âm thầm lặng lẽ .
Năng lượng ở đầu vào có thể là giáo dục, nâng cao nhận thức. Ngày nay, muốn tạo được sự bình đẳng giữa nam nữ, giữa người này với người kia thì phải tự tin, phải chịu khó học tập, phải có tinh thần tự lập. Phụ nữ mỗi ngày một vươn lên cao nhờ học vấn, nhờ kinh doanh, nhờ tham gia sinh hoạt cộng đồng và xã hội và do đó có nhiều năng lực chuyển hoá đưọc các quan hệ vợ chồng. Thực vậy, giáo dục là một phương cách để xây dựng năng lực (capacity building).
Giáo dục cải thiện được các quan hệ giữa các hệ phụ và rất hiệu năng trong sự sử dụng năng lượng và thông tin và góp phần vào sự nâng cao vai trò (empowerment) cho phụ nữ.
Giáo dục về sinh lý và tình dục: theo International Planned Parenthood Federation IPPF có trụ sở chính ở Anh thì vì giới trẻ ngày nay thiếu các thông tin về sinh lý và tình dục mà trên toàn cầu, có đến 14 triệu các cô gái tuổi 18 và thấp hơn thụ thai và sinh con, trong số đó phần lớn là thụ thai ngoài ý muốn.
Riêng tại Việt Nam ngày nay, theo thống kê, hằng năm có khoảng 1,4 triệu ca nạo hút thai . Khoảng 30% số ca nạo hút thai thuộc về các em gái ở lứa tuổi vị thành niên và 50% số người nhiễm HIV/AIDS ở các độ tuổi từ 15-24. Khoảng 34% số gái mại dâm nằm trong tuổi vị thành niên.
Tại Việt Nam, biết bao thanh thiếu niên ở Việt Nam hiện nay đi vào con đường nghiện ngập ma túy vì không tin tưởng vào ngày mai, vì gia đình nuông chiều, hay thờ ơ bỏ bê hoặc bị lừa gạt, bị tình phụ v.v. Con đường nghiện ngập cắt ngang mọi mặt phẳng: mặt phẳng giai cấp (giàu, nghèo, công nhân, nông dân), mặt phẳng ý thức hệ (con cán bộ hay con thường dân), mặt phẳng giáo dục (có học, không học), từ Nam chí Bắc. Con nhà giàu thì nuông chiều, hút xách để tỏ ra ta đây, dân con nhà nghèo thì sản phẩm ma túy càng ngày càng rẽ tiền, đa dạng. Các thuốc Metamphetamine đưọc bào chế chui trong nước, rẽ tiền lại là mối nguy cho xã hội vì nghiện ngập sinh ra trộm cắp, cướp bóc, hôi của ..

Do đó, phải giáo dục nhiều cấp: giáo dưỡng thông qua môi trưòng gia đình từ thuở còn thơ (ví dụ: cha mẹ dạy con cái, nói chuyện trong giờ cơm trong không khí thoải mái,) thông qua học đường từ tuổi cắp sách đến trường, thông qua các định chế tôn giáo (lời giảng của chùa hay trong nhà thờ vào ngày chúa nhật), thông qua các mối quan hệ ứng xử lành mạnh ngoài xã hội (lớp dạy Việt ngữ, các hội thảo như Đại học hè, giúp về nguồn, các cháu tham gia vào lớp ca vũ dân tộc vừa giúp vui, vừa trở về văn hoá dân tộc)



4.8 .tăng trưởng tạo ra hình dạng. Khi hệ tăng trưởng, hình dạng thay đổi; hệ thống càng lớn rộng, càng phải thêm năng lượng ở đầu vào. Gia đình lúc đầu nhỏ, nhưng sinh con đẻ cái, càng lúc mỗi năm càng lớn. Khi lớn rộng, nhà cửa cũng phải rộng hơn, nhưng chị lớn có thể dắt dìu các em nhỏ thay bố mẹ và cha mẹ càng lúc phải trông cậy vào người anh cả, chị cả: anh Hai, chị Hai chứ không thể cáng đáng mọi việc.

49 nếu xài năng lượng mà không có năng luợng nhập vào thì hệ sẽ rối loạn
Như trong hệ nông nghiệp nếu sản xuất mà không có năng lượng ở đầu vào như phân bón thì hệ sẽ không cho thêm hoa màu, đất bị kiệt quệ.
Năng lượng nhập vào để có một gia đình hạnh phúc là một tình yêu chân chính (true love) và một cơ sở kinh tế ổn định. Chồng hay vợ thất nghiệp sẽ đem đến sa sút tài chính, cổ phần bị lỗ, casino thua bạc, làm ăn lổ lã do đó có nhiều yếu tố chi phối .Các gia đình lợi tức cao có cuộc sống ổn định; các gia đình nghèo, chạy ăn ba bữa toát mồ hôi thì sống bấp bênh, trẻ em không có thời gian làm bài hay học bài, dẫn đến thất bại trong học hành, và lúc đó đi móc túi, cướp bóc, gây xáo trộn xã hội.
Tình yêu không có sự nghiệp, không có công việc thì chỉ sau một thời gian ngắn, hạnh phúc sẽ nhanh chóng vụt bay khỏi tầm tay và hệ sẽ bị rối loạn. Cũng như một tình yêu chỉ được gọi là chân chính khi cả hai bên đều có tinh thần trách nhiệm cao để lo cho hạnh phúc gia đình.
Trong hệ gia đình, tình thương là một năng lượng, lời khuyên răn cũng là một năng lượng. Ông bà giúp cháu, đưa đón cháu đi học về, giúp bố mẹ các cháu là đóng góp thêm năng lượng cho gia đình con cái; khi các cháu lớn lên thì ông bà nhẹ gánh hơn.
Năng lượng ở đầu vào như :
Xã hội cần tạo ra những điều kiện cho mỗi gia đình có cơ hội thiết lập một tổ ấm: các khu đông dân cư, nhà ổ chuột, ở dưới thuyền (nôốc), cuộc sống phố phường nhếch nhác không phải là môi trường tốt cho sự vững bền của gia đình; nói khác đi, trong chiến lược xã hội, phải có những cơ cấu mục đích tạo thêm dòng chảy năng lượng như xây cất các khu gia cư sạch sẽ, tạo các cơ sở cho các em thiếu nhi phạm pháp, các trung tâm cao niên, các nhóm yễm trợ an ủi những người bị ung thư, các điện thoại giúp đỡ tránh tự vẫn.
Xã hội cũng phải tạo điều kiện giúp người mẹ mới sinh con và nuôi con mọn đủ thời gian chăm sóc con như nghĩ hộ sản lâu hơn cũng như giúp cha mẹ trả tiền khi đem con ban ngày đến những nhà trẻ giữ em (Quebec có những nhà giữ trẻ em, trả 5$ mỗi ngày, còn bao nhiêu, chính phủ trả thẳng cho nhà trẻ )
Xã hội cũng cần tổ chức những nơi vui chơi công cọng như sân đá banh, hoà nhạc cũng như giúp các gia đình có con bị khuyết tật hay cơ sở giúp trẻ em bụi đời v.v
Trung tâm Nguyễn Trường Tộ tổ chức các Đại học hè hàng năm, các cộng đồng tổ chức các buổi gặp gỡ để con em trở về nguồn, gặp gỡ nhau. Nhiều môn học như xã hội học giúp tìm hiểu diễn tiến của gia đình qua các trào lưu truyền thống đến hiện đại; tâm lí học soi rọi về đặc điểm và nhu cầu của con người để con người hiểu nhau nhiều hơn, các môn tâm lí trị liệu, tư vấn tâm lí, gia đình trị liệu (family therapy) nhằm giúp các gia đình vượt khó khăn khủng hoảng. Những môn học nghiên cứu về tâm lý của ngưòi già (gerontocracy) được dạy giúp hỗ trợ cho họ sống vui và tích cực hơn .Xã hội cũng đề ra các phương pháp dự phòng như lớp chuẩn bị hôn nhân, lớp dạy làm cha mẹ, giáo dục giới tính cho đứa trẻ. Để tránh khoảng cách thế hệ giữa già và trẻ, thì người già phải luôn học hỏi để thích nghi với xã hội luôn luôn đổi mới. Thấu cảm (empathy) có nghĩa đặt mình vào vị trí của người khác. Đúng như Tây phuơng có câu: 'phải biết đặt chân mình vào đôi giày của ngưòi khác '. Ngày nay, không thể ép đặt, ra lệnh, cấm đoán mà phải hiểu biết để thuyết phục .

4.10 Cấu trúc giới hạn tăng trưởng
Hệ gia đình bị chi phối bởi ngoại cảnh nghĩa là có các vĩ hệ thống chi phối nên hệ này sẽ còn thay đổi với thời gian. Ngay từ bây giờ, nhiều nhà dân số học đã thấy rõ xã hội hoá già rất nhanh chóng. Trong các xứ Âu châu thì Ý và Tây Ban Nha có tỷ lệ người già cao nhất, do đó trẻ phải đi làm lâu hơn để nuôi già, đóng tiền hưu mỗi tháng phải nhiều hơn để có hưu bổng nếu không qũy hưu sẽ cạn. Tuổi thọ ngày càng tăng hơn trước, do tiến bộ y tế. Muốn cho hệ thống bền vững, chính phủ trù liệu những cấu trúc mới như tăng di dân (trường hợp Canada), có nhà già, có chuyên ngành giúp người già cả.
Riêng về người Việt ở hải ngoại, để giúp cho thanh thiếu niên về nguồn, các cấu trúc như truyền thông, giáo dục, truyền bá văn hoá, các trung tâm sinh hoạt văn hoá, thư viện Việt học, các lớp dạy văn hoá, dạy Việt ngữ cần củng cố và phát triển để cho các cháu có một môi trường thoang thoáng văn hoá Việt :giữ các truyền thống như Tết, lễ Vu Lan, hội hè; tôn giáo như chất keo ràng buộc mọi nguời: đi nhà thờ, đi chùa nghe các vị lãnh đạo tinh thần giảng lời rao, lời kệ, giáo lí giúp bỏ giận giữ, kềm chế lung lạc; ông bà chuyển giao các truyền thống như chúc Tết, mừng tuổi vào dịp Tết; các lễ hội, cúng kị giúp tăng gia niềm tin và đoàn kết; vai trò giáo dục của gia đình trong sự giữ bản sắc văn hoá Việt; gìn giữ gốc nguồn (appartenance); dạy con cháu biết nói, biết đọc và viết tiếng Việt để chuyện trò, nền tảng của cảm thông và liên đới cũng như tương quan giữa các thế hệ .Văn hoá Đông phương tôn trọng kỷ luật, kính trên nhường dưới, thờ cha kính mẹ; đặt nặng vào gia đình , xem gia đình như một điểm tựa tinh thần và vật chất.

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững trong gia đình
Gia đình như vậy qủa thật là một yếu tố to lớn trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ. Gia đình, tế bào của xã hội, như vậy rất đúng. Tế bào mà hư thì sinh ra ung thư khó chữa; gia đình mà hư hỏng thì xã hội cũng hư luôn. Tương tự một vật xúc tác trong một phản ứng hoá học, gia đình giúp các vật thể trong đó tạo các hỗ tương để phản ứng chóng hơn, thuận lợi hơn để tạo ra đầu ra tốt hơn và với một hiệu qủa trọn vẹn hơn.
Gia đình là một định chế có tầm quan trọng đặc biệt về tinh thần, tâm lí và xã hội. Nhưng hiện nay, gia đình rạn nứt. Nhiệm vụ của các nhà tâm lý học, xã hội học là xác định được bản chất của mối quan hệ, đâu là nguyên nhân, đâu là kết qủa. Biết được các yếu tố chi phối đến sự bền vững sinh thái của gia đình (ngoại tình, cờ bạc, bạo hành lời nói hay bạo hành về cử chỉ) và hiểu cái gì tạo ra cân bằng là chìa khoá hiểu được bản chất của hệ thống. Một khi hệ thống trục trặc, mất cân bằng thì lúc đó, hệ phải tự điều chỉnh lại, nhưng nếu khả năng tự điều chỉnh vượt qúa ngưõng, hệ sẽ bị phá vỡ. Muốn hệ cân bằng trong gia đình, đạt đến sự vững bền, các yếu tố sau đây cần chú trọng:

. chữ Hoà . Hoà theo các nghĩa hoà hoãn, hoà thuận, dung hoà, hoà hợp, hoà thuận v.v.. Đừng bao giờ giận nhau lâu cũng đừng bao giờ ghét nhau. Hãy quên hết sự giận hờn để rồi thương yêu nhau nhiều hơn. Hãy tin vào cái tốt hơn là cái xấu do đó nếu biết chồng hay vợ có một tật xấu nào đó thì tìm cách sữa chữa, không nên chê bai, làm nhục vợ hay chồng. Phải dung hoà cách biệt bằng cách san bằng các dị đồng về mọi phương diện: sinh lý, sở thích, nhu cầu. Ở đời ai cũng có khuyết điểm; nên nhìn vào ưu điểm của vợ hay chồng; nói khác đi, không nên lý tưởng hoá qúa người bạn đời bằng cách chê bai:
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra
Và cũng đừng qúa lý tưởng hoá đối tượng, lý tưởng hoá cuộc sống vợ chồng về mọi mặt tinh thần, cảm xúc, tình dục, tri thức v.v vì khi đặt mục tiêu phấn đấu qúa cao, nhảy không qua mức, bổ xuống sẽ thất vọng. Thực vậy, người thiếu nữ mới lớn luôn luôn mơ đến người yêu lý tưởng, nhưng trên thực tế, người đó chỉ có trong phim ảnh: đẹp trai, lãng mạn và 'ga lăng', nhưng khi va chạm thực tế ngoài đời lại khác.

. tính thích nghi: trong sinh vật học, các cá thể phải thích nghi với các biến đổi môi trường, nếu không sẽ bị chết. Và trong xã hội cũng vậy .Vì các điều kiện xã hội, kinh tế thay đổi do đô thị hoá, do truyền thông đại chúng nên cá nhân cũng phải thích nghi, phải biến đổi, phải tái phối trí trong các các điều kiện mới; nếu không thích nghi được, không nhẫn nhục, không muốn trách nhiệm chung sống trọn đời với người hôn phối thì hệ thống sẽ bị phân hủy.. Mềm mỏng và dễ chịu tức là dễ thích nghi với sự thay đổi: cây sậy nhờ mềm mỏng nên không bị gió lốc cuốn đi
Người vợ ngày nay đi làm để tự túc về tài chính, để phụ thêm kinh tế gia đình; nhiều người thích hoạt động xã hội do đó hay giao tế nhưng chồng lại không thích nghi vói môi trường mới và hay ghen nên có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ vợ chồng. Bảo lãnh gia đình qua sẽ thêm hạnh phúc, nhưng nếu các cụ không thích nghi mà vẫn giữ các giá trị cũ như đòi ăn trầu, hút thuốc Cẩm lệ thì dĩ nhiên khó thoả mãn. Qua sống các nước Tây phương, không còn cảnh mẹ chồng nàng dâu nữa, không còn cảnh chồng chúa, vợ tôi như xưa ở Viet Nam.

. chữ Nhẫn
Nhẫn như trong các từ nhẫn nại, nhẫn nhục, kiên nhẫn. Nếu viết chữ Nhẫn theo Hán ngữ, thì chữ Nhẫn có chữ đao ở trên chữ Tâm, có nghĩa dao đâm vào tim như vậy vừa tượng hình, vừa gợi nhiều ý nghĩa.
Trong gia đình đông người bá nhân bá tính, sự thích nghi đòi hỏi sự nhân nhượng. Chữ nhẫn rất cần. Tinh tấn và nhẫn nhục là hai từ trong Phật giáo. Một sự nhịn là chín sự lành. Vợ chồng cần tin tưởng, nhường nhịn lẫn nhau.
Mặc dầu:
Thế gian được vợ mất chồng,
Nào phải như rồng mà được cả đôi
Nhưng khi có bất đồng, nhẫn nhục là điều cần:
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê
Khi bất hoà thường không kiểm soát được lời nói, cử chỉ, cảm xúc và gây bạo động trong gia đình. Điều này được các nhà tâm lý học gọi là thiếu thông minh cảm xúc (loss of emotional intelligence) hay là Emotional Quotient (EQ) . Nói khác đi, phải học giá trị của sự tự chủ: thắng vạn quân không bằng tự thắng lòng mình.
Trong sách bán rất chạy ở MỸ 'Người vợ chịu thua' (The Surrendered wife) của Laura Doyle, bà này đề nghị phụ nữ nên nhìn nhận sự khác biệt giữa 2 phái tính, bớt đòi hỏi ở các ông chồng hơn, nhất là đừng ..chê bai, chỉ trích chồng... Thực ra trong đời sống gia đình, những vấn đề phức tạp do cả hai vợ chồng gây ra chứ không phải chỉ do một người: hôn nhân không còn là thời kì lãng mạn như khi làm quen và tỏ tình với nhau mà hôn nhân chính là ..thực tế với nhiều chuyện lỉnh kỉnh cần đối diện và giải quyết như con đau, con học không được, không con, mất job..Nỗ lực nhẫn nhịn phải đến từ hai phía.

.sự chân thành và quan tâm
Việt Nam có danh từ tình nghĩa vợ chồng. Ngoài tình lại còn có nghĩa:
Rủ nhau xuống biển mò cua
Đem về nấu qủa mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nưóc bạc ta đừng quên nhau
Ta đừng quên nhau, có nghĩa là phải biết cùng nhau chia sẻ tương lai, chia sẻ các dự tính để xây dựng tương lai, bàn luận, xây dựng như nhà văn hào Pháp Antoine de St Exupéry viết: Tình yêu không phải là nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng

. nên có một không gian riêng
Trong gia đình ở chung với nhau, bố mẹ chồng, em dâu, anh rể v.v thế nào cũng có chuyện lục đục; do đó, nếu có sự nghiệp thì nên ở riêng, không nên ở chung. Nhà ai nấy ở, việc ai nấy lo. Biết bao nhiêu trục trặc khi sống chung trong một mái nhà sẽ giảm bớt nếu ở riêng. Nhiều truyện của Khái Hưng (trong đó truyện dài 'Gia Đình') mô tả các quan hệ lủng củng trong các thành viên sống trong đại gia đình, cốt để chuyên chở quan điểm đả phá đại gia đình thời kì phong kiến .

Nhờ cả hai yếu tố trên: gia đình và xã hội, trẻ em có thêm niềm tin, củng cố niềm tin vì mất đi niềm tin là mất tất cả. 'Những con mắt buồn phiền xin cấy lại niềm tin' vì mất đi niềm tin có thể dẫn đến sự tự hủy hoại đời sống và đây cũng là một hiện tượng xã hội khá phổ biến.


7 Kết luận

Gia đình là một yếu tố năng động, chịu sự biến đổi do có nhiều hệ thống chi phối. Ngày nay, xã hội càng ngày càng đô thị hoá, công nghiệp hoá .Xã hội luôn luôn đổi thay và ta không thể đảo ngược được xu thế chung của sự tiến hoá với sự hội nhập khu vực, với sự toàn cầu hoá chứa chất mọi ảnh hưởng hoặc tích cực, hoặc tiêu cực.
Gia đình không còn là đơn vị sản xuất cơ sở như trong xã hội nông nghiệp truyền thống mà bị nhiều hệ thống chi phối.Nhưng cái vấn nạn quan yếu nhất hiện nay là sự thiếu tình thương
Gia đình, tiếng Anh là Family mà Family cũng có nghĩa là Father And Mother, I Love You! ( Ba và Mẹ, con yêu ba mẹ)
Thực vậy, lòng yêu thương như hơi thở, nó tan toả, nó thăng hoa đến mọi người . Khi biết yêu thương và cảm nhận được sự yêu thương, trẻ em sẽ sống có trách nhiệm với chính mình và với mọi người.
Mà muốn tình thương nẩy nở thì môi trường thuận lợi nhất để gieo hạt giống tình thương chính là gia đình: hạt giống muốn ra hoa, ra trái thì phải có hệ thống rễ tốt để bám chặt, hút chất bổ mới có lá hoa sum sê. Còn hạt giống bị ném vào các môi trường xa lạ thì dĩ nhiên con người bị vong thân, phóng thể .
Tình thương là hơi thở tiếp tế sinh lực và thiếu tình thương cũng như thiếu dưỡng khí.
Nhà nghèo nhưng con cái đầm ấm, trên thuận dưới hoà thì vẫn vui như trong thơ của Tản Đà:
Xa xa con đã tới gần
Các con về đủ quây quần bữa ăn
Cơm dưa muối khó khăn mới có
Của không ngon, nhà khó cũng ngon
Khi vui câu chuyện thêm dòn
Chồng chồng vợ vợ con con một nhà ..

Như vậy phải củng cố gia đình với tình thương, với nụ cười ở trong tim, nhìn cuộc đời với niềm vui trong ánh mắt thì tình thương sẽ rạng rỡ. Tình thương đem đến sự bình yên, sự vững mạnh, vì không tình thuơng thì gia đình rời rạc, kéo theo hệ qủa về xã hội. Nhưng xã hội cũng là môi trường để gia đình phát triển; đó là một xúc tác như trong một phản ứng hoá học. Tương tự một vật xúc tác trong một phản ứng hoá học, gia đình giúp các cá thể tạo các hỗ tương để phản ứng xẩy ra chóng hơn, thuận lợi hơn và với một hiệu quả trọn vẹn hơn. Gia đình như vậy quả thật là một yếu tố to lớn trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ và từ đó, làm cho xã hội vốn có nhiều vấn nạn sẽ bớt vấn nạn hơn, bớt nhà tù hơn với tình thương tỏa rộng và chiếu sáng hơn.

Thái Công Tụng


Tài liệu tham khảo sơ luợc

Catherine Clément. Ce siècle qui nous a changé la tête Albin Michel 1999
Fernand Seywert. L'évaluation systémique de la famille. PUF 1990
Đỗ Minh Trí, SJ .Gia đình năm 2000. San Diego
Evan Imber-Black. Le poids des secrets de famille. Robert Laffont 1999
Robert J. Vallerand. Les fondements de la psychologie sociale. GaetanMorin éditeur 1994






Những câu nói hay về gia đình

-Gia đình là trường học của lòng khoan dung, vì nó luôn tồn tại và dạy chúng ta cách sống với những người khác - Karen Armstrong

- Hãy dành thời gian cho gia đình ngay cả khi bạn không hề biết điều gì đã và đang xảy đến với cuộc đời của mình.

- Bạn có thể có nhiều bạn bè nhưng bạn chỉ có duy nhất một gia đình - Eugene Lebid

- Gia đình là điều quan trọng nhất trên thế giới này - Công nương Diana

- Tôi lấy cảm hứng từ những con người tôi gặp trên những chuyến đi, với những câu chuyện của họ, thấy được những khó khăn mà họ đã trải qua, lòng nhiệt huyết và những nguyên tắc riêng của họ. Cảm hứng của tôi được tạo ra từ tình yêu mà mỗi bậc cha mẹ dành cho con cái của mình. Và nguồn cảm hứng đó tôi còn nhận được từ những đứa con của tôi, chúng làm trái tim tôi trở nên ấm áp và tràn ngập tình thương. Chúng làm tôi muốn làm việc để cải thiện thể giới dù chỉ là đôi chút. Và hơn cả những đứa con làm tôi trở thành một người tốt hơn - Barack Obama.

- Bạn được sinh ra từ gia đình của mình và gia đình được sinh ra từ trong bạn. Không mưu cầu. Không đổi chác - Elizabeth Berg

- Mọi thứ thay đổi chúng ta, nhưng chúng ta luôn bắt đầu và kết thúc mọi thứ với sự quan tâm của gia đình - Anthony Brandt

- Tôi củng cố bản thân mình với tình yêu của gia đình - Maya Angelou

- Trong tất cả những điều có thể tưởng tượng được, thì gia đình như là một đường kết nối với quá khứ và cây cầu nối với tương lai của mỗi chúng ta - Alex Haley

- Khi mọi thứ dường như trở nên tồi tệ, chỉ có một vài người luôn đứng bên bạn mà không hề do dự - đó chính là gia đình - Jim Butcher

- Gia đình không phải là một điều quan trọng, mà nó là tất cả mọi thứ - Michael J. Fox

- Trân trọng từng giây phút với những người bạn yêu thương trong mỗi giai đoạn của con đường đời - Jack Layton

- Gia đình là sự nghiệp cuối cùng. Tất cả mọi sự nghiệp khác đều phục vụ cho một mục đích - đó chính là gia đình.

- Gia đình là một cái tên, một ngôn từ mạnh mẽ; mạnh hơn lời của những pháp sư hay tiếng đáp của các linh hồn; đó là lời nguyện cầu hùng mạnh nhất - Charles Dickens

- Có một nơi để về, đó là nhà. Có những người để yêu thương, đó là gia đình. Có được cả hai, đó là hạnh phúc.

- Hãy lấp đầy một ngôi nhà bằng tình yêu, nó sẽ trở thành gia đình

- Gia đình là một món quà - thứ luôn tồn tại mãi mãi - Terri Burrit

- Hãy nhớ rằng, dù bạn có đi bất cứ nơi đâu, bạn vẫn có thể trở lại với chính ngôi nhà của mình - Jason Mraz

No comments: