Saturday, August 26, 2017

SƠN TRUNG * NƯƠC PHÁP VÀ VIỆT NAM


NƯƠC PHÁP VÀ VIỆT NAM
  SƠN TRUNG

I. PHÁP VÀ THAM VỌNG THỰC DÂN

Từ thế kỷ XV, nước Anh vượt trội vì đã làm một cuộc cách mạng khoa học ,kỹ thuật, tiếp theo ở các thế kỷ sau, khoa học,kỹ thuật càng phát triển, các nước châu Âu đã dùng tàu thuyền vượt đại dương chiếm thị trường. Các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh quốc là những đế quốc xâm lược. Trong bối cảnh quốc tế đó, nước Pháp cũng vươn lên thành một nước thực dân, xâm chiếm Á Phi. Việt Nam nằm trong tầm ngắm của thực dân Pháp. Pháp thuộc là một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam kéo dài 61 năm, bắt đầu từ 1884 khi Pháp ép triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp cho đến 1945 khi Pháp mất quyền cai trị ở Đông Dương. Tuy nhiên, nhiều tài liệu khác cho rằng thời kỳ Pháp thuộc cần được tính từ năm 1867 (tức là kéo dài gần 80 năm), khi Nam Kỳ Lục tỉnh bị nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp, trở thành lãnh thổ đầu tiên Pháp chiếm được trong quá trình Pháp xâm lược Đại Nam.

Kế hoạch xâm lược Việt Nam đã được thông qua từ tháng 4-1857 và đến khi cuộc can thiệp của Pháp ở vùng biển Trung Hoa tạm ngưng bởi hiệp ước thiên Tân lần thứ nhất ngày 27-6-1858, hạm đội Pháp lập tức quay mũi về phía Đà Nẵng.

Rạng sáng 1-9-1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Quân triều đình bắn trả, nhưng do vũ khí lạc hậu và không được luyện tập thường xuyên nên kém hiệu quả, không thể ngăn chặn được Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Vũ khí hiện đại đã tạo cho liên quân Pháp-Tây Ban Nha lợi thế ngay từ đầu, các đồn An Hải và Điện Hải (Trà Sơn) bị vỡ, quân triều đình phải lui về Hòa Vang.
Sau đó, Pháp chiếm Nam Kỳ rối lấm chiếm Trung kỳ và Bắc Kỳ. Từ khởi đầu, triều đình đã chống Pháp mạnh mẽ, trong đó giai cấp sĩ phu như Phan Thanh Giản, Thủ khoa Nghĩa, Thủ Khoa Huân,Phan Đình Phùng, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết... đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ tổ quốc.
Chúng ta đã thất bại vì vũ khí thô sơ, và vì nội phản. Một số người đi theo Pháp  tàn sát nghĩa quân như Đỗ Hữu Phưong, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải...Một số người không kết tội thực dân mà quay sang kết tội các lực lượng chống Pháp, rằng vì triều đình cấm đạo, rằng ta không mở cửa cho Pháp vào...

 Trên hết, việc chống Pháp là bổn phận của người dân yêu nước. Từ Trương Công Định, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, dân ta đã thể hiện tinh thần bất khuất ngoại trừ một số bán nước cầu vinh. Sau đệ nhị thế chiến, Anh, Pháp kiệt quệ nhưng vẫn muốn tái chiếm các thuộc địa mà phần lớn đã đứng lên giành độc lập. Anh mềm dẽo hơn nên còn giữ  liên lạc với các thuộc địa cũ với quy chế Liên hiệp Anh, còn Pháp tham quá nên mất sạch. Tuy vậy, Pháp vẫn cố gắng chèo kéo với người Việt Nam và quốc tế để có thể trở lại Việt Nam. Người Pháp dù cộng sản hay thực dân đều muốn cai trị Việt Nam,  đừng tưởng cộng sản là chống thực dân, đế quốc, thực ra cộng sản cũng là một dạng đế quốc!


Khi Pháp trở lại Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, dân ta cũng quyết liệt chống Pháp. Công việc chống Pháp lúc này là việc của toàn dân. Các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt đảng, và các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo đã đứng lên chống Pháp. Sau Việt Cộng, nhờ Trung Cộng giúp người và vũ khí, lương thưc đã chiếm các đô thị, đồng bằng và rừng núi. Truớc họ giả đò thân thiên, kêu gọi kết đoàn nhưng thật tế họ tiêu diệt các đảng phái và tôn giáo quốc gia. Vì vậy, các giáo phái và đảng phái quốc gia phải về vùng quốc gia. Cuộc kháng chiến chống Pháp trở thành chống Cộng. Khốn khổ thay, khi trở về vùng quốc gia, Pháp tỏ ra tử tế trong khi Ngô Đình Diệm lại ra sức diệt giáo phái và đảng phái để giành độc quyền cho tập đoàn của ông.!

Nhìn chung, khi Pháp chiếm Việt Nam và trở lại Việt Nam, đa số nhân dân vì yêu nước đã chống Pháp. Một số theo các đảng phái quốc gia và giáo phái chống Pháp, một số theo Việt Minh kháng Pháp. Tất cả đều vì lòng yêu nước.  Nhưng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm có điều mỉa mai, cay đắng.

Phe quốc gia chống Pháp là có tinh thần quốc gia thật sự, còn phe cộng sản mượn cớ giải phóng dân tộc để xich hóa nước ta và thế giới. Điều này đã nói rõ trong Tuyên Ngôn Cộng sản:
"Though not in substance, yet in form, the struggle of the proletariat with the bourgeoisie is at first a national struggle. The proletariat of each country must, of course, first of all settle matters with its own bourgeoisie.
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã."


Nếu không có Việt Minh - Cộng sản  thì đất nước ta sẽ biến chuyển theo dạng hòa bình phát triển, nhưng có cộng sản thành ra đại họa.  Khi có Cộng sản, một khối cộng sản vĩ đại bên cạnh nước ta thì không thể nào có hòa bình, dân chủ và tự do. Cộng sản phải cướp chính quyyền để cuớp tài sản và cai trị nhân dân bằng bàn tay sắt mà họ gọi là " chuyên chính vô sản". Khi Trung Cộng đã đưa quân đội, vũ khi vào chiến trường Việt Nam từ 1945 cho đến nay, thì chúng ta cũng có thể việc cướp chính quyền 1945 cũng có mặt quân Trung Cộng. Và đại họa cho đến ngày nay.

Những Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống), Hữu Loan (Đèo Cả)... đã theo kháng chiến, ca tụng kháng chiến nhưng về Hà Nội họ thấy địa ngục cộng sản.  Trước 1954, Việt Cộng kêu gọi toàn dân đoàn kết chống Pháp, nhưng khi chiếm được nửa nước, Việt Cộng ra tay tiêu diệt tư sản, địa chủ, ngay cả những chiến sĩ, cán bộ theo Việt Cộng cũng bị  dũ sổ. Những ông GPMN, sau 1975 bị quét sạch mới thấy rõ các ngu dại kháng chiến của mình! Té ra kháng chiến chống ngoại xâm là để cho cộng sản lớn mạnh, ra tay tàn sát dân mình! Và nay, nhân dân ta thấy rõ, Trung Cộng dùng Hồ Tập Chương để biến Việt Nam thành châu quận của Trung Quốc, và Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười...  là bọn nước cầu vinh!

Một mưu thâm của cộng sản Trung Quốc mà it ai biết là Mao dùng chiến tranh Đông Dương để Nam tiến. Trần Đĩnh đã nói rõ âm mưu độc địa của Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình  xâm lược Việt Nam, dùng Việt Cộng như là đội quân Partisan của Trung Cộng trong chủ trương xâm chiếm thế giới:
“thằng Tây nó tếch thằng Tàu nó sang!”. (ĐC,40)
Xúi Hà Nội đánh đuổi Mỹ, Mao giấu đi mục tiêu chiếm Biển Đông (ĐC,42)
 Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Hoa vào ... Thằng Tây nó tếch, thằng Tàu nó sang.(ĐCII,48)

Chính Lê Duẩn cũng tố cáo chủ nhân Trung Cộng của ông:
Ý đồ bành trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt lộ rõ ở câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963:
“Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông nam châu Á”

Chủ tịch Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965:
“Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”.

(TÀI LIỆU VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM -TRUNG QUỐC-
http://sontrung.blogspot.ca/search/label/T%C3%80I%20LI%E1%BB%86U%20V%E1%BB%80%20QUAN%20H%E1%BB%86%20VI%E1%BB%86T%20NAM%20-TRUNG%20QU%E1%BB%90C

Trong khi đó tài liệu Trung Quốc khoe khoang việc họ đã gửi lính, lưong thực và vũ khi cho Việt Cộng và tiến hành việc tàn sát nhân dân Việt Nam
Từ tháng giêng 1965 đến tháng 3/1968, TH đã gởi qua VN trên 320.000 binh lính vào những đơn vị phòng không, công binh, hỏa xa và tiếp liệu, có lúc đến 175.000 người trong một năm. TÀI LIỆU VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM -TRUNG QUỐC

Tuy nhiên, Pháp có nhiều cái thiếu khôn ngoan vì  coi thường Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam, quân Trung Ciộng đã tham chiến trong các chiến dịch biên giới:
Trong những cuộc chiến đánh dấu khởi đầu, quân đội Trung Cộng đã thiệt mạng gần 10.000 binh sĩ, tù binh 541 binh sĩ, tuy nhiên Trung Cộng chiếm được 5 thành phố, 13 thị xã biên giới Trung-Việt, giải phóng mở rộng miền Bắc Việt Nam, củng cố các căn cứ vừa chiếm được, đường giao thông vận chuyển biên giới Trung Quốc-Việt Nam được lưu thông, tiếp tục vận chuyển đến Việt Nam những phương tiện chiến tranh. Hồ Chí Minh cho biết về chiến dịch: "Chúng ta đã khởi sự chiến thắng vĩ đại, đầu tiên chúng ta loại bỏ những kẻ thù và giải phóng Cao Bình (Kopin-高平), Đông Khê (Dongxi-东溪), Thất Khê (七溪), thứ hai là chúng ta thấy những điểm yếu và điểm mạnh của riêng mình.(Giải mã nhân vật Hồ Chí Minh - Kỳ 25/27.Huỳnh Tâm.
https://huynh-tam01.blogspot.ca/2016/09/giai-ma-nhan-vat-ho-chi-minh-ky-2527.html
Sau những trận chiến tiếp theo, quân Trung Quốc làm chủ Thái Nguyên, kiểm soát được bảy dòng suối, những núi nhỏ, bình nguyên Lương Sơn, làng xã và thị trấn Thái Nguyên. Hội đồng quản trị Cộng sản dưới danh nghĩa Nhân dân thành lập chính quyền địa phương. Quân Việt Minh không chiến đấu nhưng vẫn được hưởng chiến thắng, nhờ quân Trung Quốc đội lốt quân Việt Nam! Từ nay, Trung quốc mở rộng đường ranh biên giới, phong tỏa được một vùng rộng lớn phía Bắc Việt Nam. Biên giới Việt Bắc bước sang một giai đoạn mới và đánh một dấu ngoặt lớn cho cuộc chiến tranh sau này. Lúc này, Hồ Chí Minh tin tưởng và đánh giá cao vai trò quan trọng của Tập đoàn cố vấn, do Trung Quốc thiết lập cho chiến tranh Việt Nam.Giặc Hán Đốt Phá Nhà Nam (11) (Huỳnh-Tâm) .http://vietnamdefence.info/southeast_asia_sea/ht_giac-tau-dot-pha-nha-nam11.html

Trung Cộng áp dung chiến thuật biển người lấy 3 chọi 1.
Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu - sau đợt 1 được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155 ly (4 khẩu), 2 đại đội súng cối 120 ly (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng). Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân (Wikipedia)

Trong khi đó, lực lương riêng quân Trung Cộng  có quân số 19 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn kỹ sư vũ khí cơ động, 1 Lữ đoàn xe tăng, 450 xe ô tô tiếp vận vũ khí, quân tài, 12 nhóm không quân, đúc kết sức mạnh của Trung Quốc hơn 38.000 binh sĩ, đủ đè bẹp "Kế hoạch Navarre". (Giặc Hán đốt phá nhà Nam - Kỳ 11 .Huỳnh Tâm.
https://huynh-tam01.blogspot.ca/2015/12/giac-han-ot-pha-nha-nam-ky-11-huynh-tam.html

Cũng nói thêm, bên cạnh quân Trung Cộng, quân Việt Cộng có 50.000 quân chính qui, 55.000 người hậu cần, 150.900 dân công.(Đảng CSVN phiên bản Trung Cộng - kỳ 12 -Huỳnh Tâm. https://huynh-tam01.blogspot.ca/2015/12/ang-csvn-phien-ban-trung-cong-ky-12.html

Quân sự Pháp đã kém, Tình báo của Pháp cũng non nớt. Về kế hoạch, Pháp ngây thơ bị Việt Cộng xỏ mũi,  như vụ Ôn Như hầu, Pháp giúp vũ khí cho Việt Cộng tiêu diêt Việt Quốc.
Trong tác phẩm "No More Vietnam", tổng thống Richard Nixon viết: HCM và Pháp đã bắt tay nhau sát hại hàng trăm lãnh tụ quốc gia và hàng ngàn chiến sĩ quốc gia. Pháp đã trao vũ khí cho HCM, binh sĩ và xe cộ. Tháng 7-1946, quân Việt Cộng tấn công căn cứ của phe quốc gia trong khi quân Pháp bao vây hàng ngoài. Một số lãnh tụ bị bắt, một số bị giết".(Quang Doãn. Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 3 http://tennguoidepnhat.net/2011/09/21/t%E1%BA%A7m-nhin-h%E1%BB%93-chi-minh-qua-con-m%E1%BA%AFt-m%E1%BB%99t-nha-bao-m%E1%BB%B9-k%E1%BB%B3-3/ )

Pháp tưởng rằng giúp Việt Cộng thì Việt Cộng sẽ đem Việt Nam dâng hiến cho họ, nếu không thì cũng tạo dễ dàng cho chính sách xâm thực của Pháp! Họ vuốt ve, nịnh bợ Việt Cộng chán và cũng quay sang cộng tác với Trung Cộng để mong có cơ hội đặt chân trở lại Việt Nam.
Rõ rệt nhất là trong khoảng 30-4-1975, tướng Pháp Vanuxem đã khuyên tướng Dương Văn Minh cầu cứu Trung Cộng, nếu Duơng Văn Minh đồng ý thì trong nháy mắt Trung Cộng sẽ vào Việt Nam đánh tan người "đồng chí anh em Việt Cộng"!

Các ông tưóng tá cao cấp, chính trị gia hàng đầu sao lại tin vào việc Trung Cộng đánh Việt Cộng? Trung Cộng hay Việt Cộng đều là cộng sản, cọp hay beo cũng thế thôi, mong gì mà mong! Vũ Văn Mẫu không nói thật khi  Ông nói ông hối hận vì không nghe lời Vanuxem!

Theo Cựu đại sứ Pháp, Vũ Văn Mẫu xun xoe cầu tài:"
Ông đặt tiếng "nếu" ở mỗi mệnh đề để thảo luận. "Nếu" chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v.." Ông cũng ngỏ lời cam ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam . (Jean Marie MÉRILLON, Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA .http://nhd18.nhansinh.com/vanuxem/phubandacbiet.html )

Mặc dầu có người tìm ra sự gian dối của tác phẩm này. Năm 1989 nhà sử học Hoàng Ngọc Thành nghe tiếng cuốn “Saigon et moi” và nhân dịp qua Paris tìm mãi không ra quyển sách đó, ông đành liên lạc với chính tác giả Mérillon lúc đó đang là Đại Sứ Pháp tại Mạc Tư Khoa. Merillon trả lời và phủ nhận ông không phải là tác giả Saigon et moi và không viết bất cứ cuốn sách nào về VN.
(Trọng Đạt .Hồi ký cựu Đại sứ Pháp Mérillon ,  Bịp bợm Lịch sử lớn nhất Hải ngoại . https://www.facebook.com/hoinhungnguoighetphandong/posts/347355088702770


nhưng việc tướng Vanuxem khuyên tướng Dương Văn Minh cầu cứu Trung Cộng là việc có thực.
Vương Tân kể rằng:
"Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 giáo sư Vũ Văn Mẫu vị thủ tướng cuối cùng của VNCH khi làm bộ từ điển Từ nguyên tiếng Việt có nhờ Lão Hủ và nhà thơ Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường hiệu đính dùm,trong dịp này ông đã nói với Lão Hủ rằng sai lầm lớn nhất trong đời làm chánh trị của ông là đã không nghe lời vị tướng người Pháp tên Vanuxen Theo giáo sư Mẫu thì sáng 30 tháng tư vào lúc 10 giờ tướng Vanuxem người từng là trưởng ngành quân huấn của quân đội Pháp ,ông thầy của tướng Dương Văn Minh tới dinh Độc Lập gặp tướng Dương văn Minh và ông ,dịp này tướng Vanuxem không gọi tướng Dương Văn Minh là Tổng Thống mà gọi là ông tướng. Tướng Vanuxem hỏi tướng Minh rằng ông tướng có muốn đường lối trung lập của ông tướng được thực hiện không, nếu muốn ông tướng chỉ cần bước qua phòng bên kia có đài phát thanh riêng của dinh Độc lập đọc nhật lệnh tử thủ thì lập tức 20 sư đoàn Hồng quân Trung Quốc sẽ tiến đánh Hà nội, lúc đó các mũi tấn công của Cộng quân vào Saigon sẽ chùn lại liền và một chính phủ Trung Lập sẽ xuất hiện ở Saigon do ông tướng cầm đầu. 

Tướng Minh nghe tướng Vanuxem nói vậy vội hội ý với giáo sư Mẫu, gíao sư Mẫu nóí với tướng Minh, ông ngại chuyện dính với người Tầu lắm. Thế là tướng Minh trả lời tướng Vanuxem, ông không muốn làm những chuyện dính với người Tầu và mọi chuyện diễn ra như mọi người đã biết. Tuy nhiên theo giáo sư Mẫu mặc dù tướng Minh và ông đã bác bỏ giải pháp Vanuxem nhưng người Tầu họ vẫn thực hiện kế hoạch ngăn VC xóa sổ chính phủ Cộng Hòa miền Nam VN bằng cách ra lệnh cho Khờ me đỏ đánh chiếm đảo Thổ chu và biên giới Tây Nam. Theo giáo sư Mẫu ông đã sai lầm khi không tán thánh kế hoạch Vanuxem để mất VNCH, nếu ông và tướng Dương văn Minh tán thành kế hoạch tình hình đã khác vì ông không tán thành mà có các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc xẩy ra nhân dân VN vì vậy chịu nhiều đói khổ và chết chóc hơn đất nước VN do đó tụt hậu hàng thế kỷ.

Những gì giáo sư Mẫu nói sau này Lão Hủ thấy đều được nhà báo Hồng Hà viết trên báo Nhân Dân theo lời kể của tướng Văn Tiến Dũng và trung tướng VNCH Nguyễn Văn Vỹ nguyên bộ trưởng quốc phòng VNCH cũng xác nhận với Lão Hủ là giáo sư Mẫu nói đúng, bản thân ông “kẹt” tại VN cũng vì cái kế hoạch Vanuxem. (CHUYỆN QUÊ NHÀ- Chuyện ngày 30 tháng 4 năm 1975-
 BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 362
http://www.gio-o.com/VuDinhKH/VuongTanLaoHu.htm)

Trần Đĩnh cho ta một tin tưc tương cận :"Mao đã lộ cho Kissinger biết Mao có thể chấp nhận được việc Sài Gòn yên lành sau hiệp định Paris 1973. Và theo một số nguồn đáng tin cậy thì Bắc Kinh đã gợi ý Dương Văn Minh bẳt tay với Bắc Kinh để ngăn Hà Nội xé hiệp định Paris. Minh từ chối. Nếu ông nhẹ “quốc gia”, nặng “quốc tế” như Hà Nội mà hợp tác với Bắc Kinh thì chưa biết sự đời sẽ ra sao! (ĐCII,5)

Sao mà nói năng lung tung quá. Nếu không thich trung lập Vanuxem thì bỏ mà đi, còn ở lại là muốn xôi thịt mà dính chấu! Sao lại bảo là không nghe lời Vanuxem?
Thất bại 1975, Pháp vẫn tiếp tục ván bài trở lại Việt Nam bằng cách làm đầy tớ cho Trung Cộng. Năm 1985, vụ Trần Văn Bá, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Quân chính là sự thúc đẩy của Pháp. Thật không ngờ các giáo sư, tiến sĩ mà vẫn theo Trung lập của Pháp mà Pháp là anh chàng hèn yếu, chỉ làm tay sai cho Trung Cộng!

 Tại sao ân hận? Vì lúc đó ông không cương quyết, nếu ông tich cực cầu cứu Trung Cộng thì sau 1975, ông đã làm Tổng thống, chủ tịch, bộ trưởng hoăc như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Dương Văn Ba... làm dân biểu quốc hội,chứ đâu phải làm thằng tù, thằng dân đen! Nhưng lời ông nói là không thật. Chắc ông đã đi dêm với Vanuxem nên tin tưởng giải pháp Vanuxem mà ở lại. Nếu ông ghét Trung Cộng và Việt Cộng, ông đã cao chạy xa bay! Vũ Văn Mẫu, Vũ Quốc Thúc, Vũ Quốc Thông, Bùi Tường Huân, Trần Chánh Thành, ông nọ, ông kia không phải là khờ, thế mà ở lại , họ cực kỳ tin vào trung lập của Vanuxem, Họ ở lại cho đến phút chót, tại sao Bắc quân không nhập địa? Trung Cộng sợ ai? ngần ngại gì? Đây cũng là một bí mật của lịch sử! Ông Mẫu  còn lên giọng thương dân Thổ Chu và biên giới!


Nhiều người liên quan đến Trung lập của Pháp, nói ra thì động chạm bốn bề. Phải chăng người ta giết anh em ông Diêm kể cả Ngô Đình Cẩn vì sợ họ Ngô cầu cứu Bắc quân? Phải chăng Nguyễn Khánh nổi loạn cũng do Mỹ muợn  tay ông để khử đám sĩ quan đào tạo tại Pháp vì sợ họ theo Trung lập của Pháp?  Khi các ông Dương Văn Minh, Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn bị gãy cánh thì cái đám cowboy Nguyễn Cao Kỳ mới  nổi lên ầm ĩ!   Phải chăng Việt Cộng thống nhất gấp, một phần vì muốn cướp tài sản miền Nam mà một phần cũng sợ bọn GPMN vẫy tay kêu gọi  họ Mao, họ Đặng? Tại sao Lê Quốc Túy tự tử? Tại sao trong chiến tranh, Cao Đài đứng trung lập, không nhận viện trợ Mỹ mà năm 1985 lại dính với Trung Lập của Pháp? Phải chăng họ nghĩ rằng theo Pháp và Trung Cộng trong vụ này cũng là Trung lập đúng chánh nghĩa ? Nhiều vấn đề bí mật chưa được lịch sử làm sáng tỏ!


Nay mấy tay thực dân cũng muốn ngo ngoe ván bài Trung lập. Ngày xưa Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tăc đòi Trung lập, nay thì Vũ Quốc Thúc và 36 cái nõn nường cũng muốn Trung lập chống Mỹ. Trung lập chống Mỹ tất là trung lập theo Trung Cộng chứ gì? Mấy khứa ăn nói ngược ngạo, dối trá nhưng dân ta biết tỏng mấy cụ ăn phân (fund) Trung Cộng và Pháp rồi! Các bạn Langsa ơi! Làm chủ được thì làm. Làm anh hùng đưoc thì làm còn theo đóm ăn tàn, theo voi ăn bã mía , đi xách dép cho Trung Cộng, đừng làm chuyện tào lao, chẳng được gì mà hao tốn nhân mạng . Napoléon anh hùng sao con cháu De Gaulles hèn mạt như thế? Thật tủi nhục cho vong linh Napoléon quá! Sau 1954, Pháp quay ra chống Mỹ, ủng hộ Cộng sản. Quay quắt và dổi màu. Chả trách sau đệ nhị thế chiến, người Mỹ coi De Gaulles như loài sâu bọ là phải!

Pháp dai dẳng lắm. Thua keo này bày keo khác. Thất bại vụ Trần Văn Bá, họ xoay sang Vũ Quốc Thuc, đốc thuc ông kêu gọi Trung lập - đừng theo Mỹ! Đã trung lập thì không theo ai cũng không chống ai. Không theo Mỹ nghĩa là theo Trung Cộng. Theo Trung Cộng, Việt Cộng là trung lập ư? Buồn cười cái đám 36 con bú dù chạy theo Vũ Quốc Thuc mà còn đứng xa xa coi bộ rón rén như những tên ăn trộm!
Đã mấy năm qua, coi bộ đám Vũ Quốc Thuc chẳng làm nên trò trống gì, bây giờ lại mọc ra gánh hát Lê Trọng Quát, chắc cũng theo kế hoạch Nuvaxem. Coi chừng lại xảy ra vụ Trần Văn Bá nữa! Đằng sau danh nghĩa tái lập chính phủ VNCH họ có mục đich gì?


II. TÍNH VIỄN MỘNG  CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

La Fontaine có truyện Cô gái bán sữa là chuyện viễn mộng trong đời của mọi người từ cô gái bán sữa , nhà tu hành cho đến  chính trị gia.

Một số thanh niên và  chính trị gia rất ấu trĩ và rất mơ mộng. Tiếc rằng họ không là thi sĩ  "mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây" để rồi cho chúng ta những vần thơ tuyệt diệu!


 Nhiều người đã mơ thiên đường Cộng sản. Vũ Anh Khanh chống Pháp đã viết bài thở nổi danh là bài Tha La xóm đạo. Ông cùng một nhóm cộng sản nằm vùng như Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà...quậy phá ở Sài Gòn. Ông yêu Cộng sản tập kết ra Bắc nhưng it bữa chán thiên đường cộng sản, bỏ vào Nam,nhưng bị Cộng sản bắn tên độc giết chết khi ông bơi qua sông Bến Hải. Sự kiện ông "hồi kết" rất được các nhà văn miền Băc XHCN lưu tâm.
Tô Hoài viết:"
 Vũ Anh Khanh là cây bút trẻ ở Sài Gòn rồi vào chiến khu. Đoàn nhà văn Việt Nam đi thăm ấn Độ Lưu Qui Kỳ giớt thiệu với tổ chức và Vũ Anh Khanh được đi cùng Nguyễn Công Hoan. ở ấn Độ về,
Vũ Anh Khanh lại trở về đơn vị. Nhưng cái anh tiểu đội trưởng đội phó Vũ Anh Khanh đã mờ mờ đi đâu mất rồi. Người ta được Thủ tướng Nêru tiếp, người ta dong thuyền chơi sông Hằng. Về đơn vị cảm thấy đây chật chội quá, đây không phải đất dung thân. Nửa đêm, Vũ Anh Khanh đã bơi qua sông Hiền Lương. Vũ Anh Khanh gặp nước cường bị chết đuối hay Vũ Anh Khanh mới ra đến cái bãi cát giữa dòng đã bị dân quân tóm được
.(Chiều Chiều. Ch.VIII)
  
Xuân Vũ viết:" Tôi quen với Vũ Anh Khanh một cách bất ngờ. Hồi 1950 -1951 chi đó, trong một buổi họp của Phòng Chính trị Phân Liên Khu miền Tây (tức khu 9), người ta giới thiệu hai cán bộ mới từ trường Lục quân Trần Quốc về công tác ở đây. Một tên là Nguyn văn Trị, em ruột của tưng Thanh Sơn, Tư lệnh Chí nguyện quân Việt Nam ở Cao Miên và Vũ Anh Khanh, nhà văn Saigon. Tôi ngạc nhiên không hiểu sao nhà văn Saigon lại ra kháng chiến và đã trải qua khóa Lục quân đầu tiên cũng là khóa cuối cùng ở Nam Bộ.
Vũ Anh Khanh chắc tuổi cỡ Sơn Nam hay Huy Hà lúc bấy giờ cũng đang công tác ở đây. Cả ba vị đều nổi tiếng ở Saigon hoặc trong chiến khu, còn tôi mới tập tành viết phóng sự chiến trường, khi nộp bài bị sửa lên sửa xuống và rất mừng khi được ký tên Xuân Vũ đầu tiên trên báo.
Vũ Anh Khanh người cao, tóc ngn, đen thiệt đen, chân mày và ria mép đều thật đậm, răng vàng ênh khói thuốc. Tôi để ý thấy anh luôn luôn mặc đồ lục quân đen, vai có con đỉa và quần thường xắn lên chừng một ngón tay, áo xăn vô nửa cánh tay trước. Vì mới ra trường nên anh còn giữ tác phong của trưng. Mấy ông thầy ở ngoài hang Pác Pó vô trong Nam luôn luôn khoe khoang và phách lối với dân Nam Kỳ, nên khi dạy lục quân thì bắt học sinh phải ăn mặc theo đúng tác phong trung ương, quần phải xăn lên mấy phân, áo xăn vô tới đâu và chào hỏi cấp trên, đi đường phải rất quân sự chính qui, trong lúc đó thì trường không có chỗ ở và phải di động bng xuồng bể như một lũ tàn quân nhất là khi đóng Cạnh Dền.
Những học sinh vì đi đứng ăn mặc không đúng chánh qui thì bị phạt lăn, lê, bò xoài rất thảm khổ. Các bà má thấy vậy mủi lòng bèn chửi: "Tụi Bc Kỳ vô hành hạ con tao quá vậy, thôi đừng thèm học, các con! Đ Tây cho tụi nó (Bc Kỳ) oánh!"
Thế nhưng Vũ Anh Khanh đã qua hết khóa học kéo dài 12 tháng, dời địa điểm chừng 101 lần vì sợ Tây bỏ bom. Lần đầu tiên về Phòng Chính trị, Vũ Anh Khanh được ông bạn đồng song giới thiệu ngâm bài thơ dài mà anh đã từng trình bày ở trường và được bầu làm chiến sĩ văn nghệ của nhà trường.
Bài thơ dài cả trăm câu ca ngợi lòng dũng cảm chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam mà tác giả tự làm cho chính mình, khởi đầu bàng câu:
Vũ Anh Khanh!
Quê hương mày ly loạn!
Trong kháng chiến có nhiều nhà thơ như Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Thanh Bình nhưng chưa có ai làm một bài thơ dài hơi như vậy.
Sau đó, tôi đi chiến dịch Long Châu Hà với Sơn Nam và Vũ Anh Khanh. Sơn Nam bị kiểm thảo tơi bời vì thiếu tác phong quân sự còn Vũ Anh Khanh thì làm gì ở đâu tôi cũng không rõ, chỉ biết là lúc về cơ quan Vũ Anh Khanh không có viết gì hết. Cuối cùng tòa báo "Tiếng Súng Kháng Địch" ra một số đc biệt về chiến dịch đó nhưng không có bài nào của anh. Sau đó hình như người ta tống anh đi ra khỏi Phòng Chính trị, cho về đâu trên tỉnh đội Long Châu Hà thì phải, còn tôi thì bị giản chính cho về tỉnh đội Cần Thơ.
Bây giờ ngồi viết những dòng này tôi vẫn còn thấy như in trước mặt hình dáng anh Vũ Anh Khanh, áo lục quân xập xệ, quần thì ống thấp ống cao, miệng lúc nào cũng cười hề h. Mỗi lần đi ăn cơm thì anh cầm cái chén bng muỗng vùa gọt láng với đôi đũa tre tự túc, hai đầu đũa buộc vào nhau bng một sợi nhợ ngn, còn chiếc muỗng vùa cũng có quai, để khi ăn xong thì treo phơi trên vách cho khô, nếu không phơi thì nó tanh lắm, không xài được. Ở trường Lục quân không có chén nên học sinh phải dùng muỗng vùa, khi đi dã tập thì đeo nó luôn trong lưng để đến giờ cơm thì có mà dùng ngay.
Vũ Anh Khanh vừa đi vừa gõ lóc cóc, còn vài ba người đi sau thì nhại theo giọng của anh: "Vũ Anh Khanh! Quê hương mày ly loạn!" Anh quay lại cười dễ dãi. Lần nào có liên hoan, anh em cũng bắt anh lên ngâm thơ. Mãi cho đến khi tập kết ra Bắc tôi mới gặp lại Vũ Anh Khanh, nhưng không biết anh ở cơ quan văn nghệ nào. Đó là thời kỳ "tan đàn rã nghé" như nhà văn Đoàn Giỏi viết trên báo. Nghĩa là mạnh ai nấy kiếm sống, không có sự thân ái như trong kháng chiến nữa.
Tôi cũng không nhớ năm đó là năm nào. Tôi bỗng gặp Vũ Anh Khanh ở ngôi nhà của văn nghệ sĩ Nam Bộ gồm có Đoàn Giỏi, Bùi Đức Ái, Huỳnh Thế Phương (Trung đoàn phó Trung đoàn 99 của Đng văn Cống nhưng vì là dảng viên đng Dân chủ nên bị gạt ra cho làm báo Thống Nhất), Hoàng Tố Nguyên, Nguyễn Quang Sáng, Đinh Phong Nhã. Vũ Anh Khanh cho biết anh được cử đi "Hội nghị văn chương quốc tế" sắp khai mạc tại New Delhi bên "Anh Bảy Chà Và". Cùng đi với anh có Phạm Hữu Tùng. Tùng là chồng của nữ ca sĩ Khánh Vân, không phải là đảng viên cộng sản, không hiểu tại sao lại được cử đi theo Vũ Anh Khanh như một chính trị viên của anh. Chúng tôi hiểu ngầm như thế chớ bên ngoài thì Tùng cũng được coi như một đoàn viên như Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Tú Mỡ...
Chúng tôi càng không hiểu tại sao cộng sản lại chỉ định một văn sĩ gốc Saigon đi như thế để phải tốn thêm mt chính trị viên?
Không biết đi bao lâu, bỗng một hôm tôi lại gặp Vũ Anh Khanh cũng tại ngôi nhà này. Đúng ra không phải gặp tình cờ mà là Vũ quân tìm đến "tụi mày để nhậu chơi". Số là Vũ quân có đem về một chai rượu ngoại quốc, ở Hà Nội mà đòi nhậu rượu ngoại quốc thì chắc không có ai dám liều lĩnh hay hoang phí đến thế.
Tôi cũng không nhớ là rượu hiệu gì của nước nào nữa. Vì bất ngờ, không có toan tính trước nên cứ khui ra rồi uống không, để nghe Vũ quân nói chuyện về hội nghị văn chương bên xứ Chà Và:
Chẳng có con mẹ gì cả. Nó nói nó nghe, mình nói mình nghe. Chỉ được cái là mình được đi coi vài ba chỗ cổ tích và một cái đền thờ lạ lùng.
Chúng tôi hạch mãi thì anh mới nói rng đền thờ "cái đó" và "cái ấy". "Cái đó" thì to bng cây cột và "cái ấy" thì to bng cái nia. Chúng tôi nghe mà cười với nhau muốn bể nhà. Vũ quân kể xong còn dặn tụi tui:
Tụi bây đừng có nói tùm lum ra ngoài h nghe họ kiểm thảo tao bỏ mẹ, rồi có hội nghị khác họ không cho tao đi, chẳng còn ai đem rượu về cho tụi bây uống nữa đâu, nghe không?
Vũ Anh Khanh nhậu xong thì mượn xe đạp của một đứa trong bọn nói là đi lên Phòng Áo Quần của Bộ Ngoại Giao để trả bộ đồ vía "ăng tơ nuy" đi hội nghị. Do đó chúng tôi  mới biết rng dân Hà Nội được cử đi ngoại quốc đều đến cái phòng này để mượn quần áo, cà vạt, giày vớ để kên vào mà đi chớ không ai có nổi bộ đồ Tây. 
Ri thôi, mạnh thằng nào thàng nấy bươn chải kiếm ăn, không gặp Vũ quân nữa. Bng một hôm có một cái giấy triệu tập khẩn cấp đến số nhà 94 Phố Huế tức là Câu lạc bộ văn nghệ sĩ. Nói là Câu lạc bộ nhưng thực ra dùng để phổ biến nghị quyết của Trung ưưng, nhưng nó ọp ẹp nên Tố Hữu không khi nào đến đây. Trong cuộc họp này nhân vật nói chuyện là Võ Hng Cương, Cục phó Cục Tuyên huấn Quân đội. Cương được điều động ra chủ trì cái hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật do Đặng Thái Mai gà mờ làm chủ tịch sau vụ đè bẹp Nhân Văn Giai Phẩm. Võ Hồng Cương là một tên đầu bò chẳng biết gì về văn học nghệ thuật nhưng giỏi cái lập trường vô sản. Trong cuộc hội nghị này họ Võ dùng một cái giọng áo não:
- Tôi xin báo cáo các đồng chí biết rng anh Vũ Anh Khanh đã vượt tuyến và bị công an bn chết. Cương ngưng một chốc rồi tiếp - anh ta xin giấy phép đi Vĩnh Phúc do tôi ký nhưng lại sửa ra Vĩnh Linh.
Hội nghị tản ra về. Không ai nói gì. Có gì để nói. Có cũng không dám nói. Đó là vào khoảng 58-59 chi đó, tức là vào cái thời gian mà tôi đã trốn lên Ủy Ban Quốc Tế (UBQT) ở phố (phố gì sau Gô Đa cũ, hình như Ngô Quyền thì phải) và đã bị anh lính gác QĐND phản phé báo về cơ quan. Vụ án Nhân Dân vừa lắng im vài tháng thì đến vụ Vũ Anh Khanh. Tôi ớn lm. Sợ người ta lôi tôi ra mà giằn mặt. Và sự thực là sau vụ UBQT tôi âm thầm tìm đường chui nhưng không thoát nên cứ tỉnh bơ công tác tích cực như thường lệ. Trong chuyến đi vào Vĩnh Linh, có Nguyễn Tuân, Đoàn đóng tại Ty Thông Tin Vĩnh Linh do Rum Bảo Việt làm Trưởng Ty. Ban ngày đi lấy tài liệu. Ban đêm về ngụ tại đây. Riêng tôi tìm cách xé lẻ để có hoàn cảnh đi ngược lên dòng Bến Hải. Tôi đã lên ti Ku Bay và lên công trường gì đó có em ruột của nhà văn Đoàn Giỏi làm việc. Tôi phải đi bng voi mấy đoạn đường và lên đến tận nguồn sông Bến Hải, thấy mấy cái bảng đóng trên thân cây rừng "Ligne de démarcation provisoire" (Gii tuyến tạm thời), nhưng nhìn sang bờ Nam không có trạm canh, núi lại cao lỏm chỏm. Tôi đành trở về. Hôm sau tôi và Nguyễn Tuân ra bờ Cửa Tùng, Nguyn Tuân ngồi dựa gốc thùy dương mơ mộng còn tôi thì thay đồ đưa anh ôm giùm để xuống tm biển. Cửa Tùng vào lúc nước ròng cạn lm, tôi dư sức bơi qua, nhưng lính canh kỹ quá tôi không thể bơi. Nếu tôi không điều tra kỹ mà bơi qua thì bị nắm đầu ri.
Hôm sau tôi đi đến cầu Hiền Lương rồi đi ngược lên, đến khoảng giữa hai cái đồn thì dừng lại, không thấy có bóng lính, tôi ngồi xuống ngó chung quanh lần nữa, lần nữa... Từ bờ Bc ngó sang bờ Nam gần quá! Nếu không ai biết, tôi sải một hơi là tới. Ngồi nhìn đồng bào đi trên bờ Nam mà thèm thuồng vô cùng. Tôi quyết định nhào xuống sông bơi qua. Nhưng chân tôi vừa chạm nước thì tôi nghe lạnh buốt óc. Tôi chợt nhớ lời thng bạn tôi ở Bộ Công An, cách đó không lâu, đến nhà tôi choi có nói (có lẽ nó muốn nhc tôi chăng?):
- Vũ Anh Khanh bị bn bng tên thuốc độc. Tôi rùng mình, rút chân lên mà quay tr lại. Trên đường về Ty Thông Tin tôi cứ nhìn những môt nhấp nhô mà xương sống tôi cứ rợn lên. Tôi cứ quay lại nhìn xem có ai đuổi theo không. Tôi tự hỏi: Vũ Anh Khanh, ông bạn vong niên của tôi đã yên nghỉ nơi đây và cho rng mình đã qua được phía nam sông Bến Hải và giở mũ (tai bèo) ra mà quay lại xá lia. "Ông vái cả mũ cái xã hội chủ nghĩa". Câu "vái cả mũ" của min Bắc thật có ý nghĩa trong trường hợp này. Vũ Anh Khanh ơi! Quê hương mày ly loạn vì cái hội chủ nghĩa quái gở.
Sau chuyến "nhúng chân xuống nước Cửa Tùng" tôi về Ty Văn Hóa Vĩnh Linh gp Nguyễn Tuân đang ngồi nhâm nhi với dĩa tôm luộc. Tôi xà vào và xin một ly nốc cạn ngay để che giấu sự bất thường trên nét mặt mà tôi cảm thấy chắc có.
Nguyễn Tuân hỏi tôi: "Có lấy được tài liệu nhiều không, có gặp người thiểu số không?" Tôi lơ mơ đáp cho qua vì trong bụng hãy còn run. Nguyễn Tuân lại nhc chuyện hôm qua: "Sao anh không bơi? Người Nam bơi giỏi lắm cơ mà."
Tôi càng sợ lộ tẩy
Quê hương mày ly loạn!
Trong kháng chiến có nhiều nhà thơ như Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Thanh Bình nhưng chưa có ai làm một bài thơ dài hơi như vậy.
Sau đó, tôi đi chiến dịch Long Châu Hà với Sơn Nam và Vũ Anh Khanh. Sơn Nam bị kiểm thảo tơi bời vì thiếu tác phong quân sự còn Vũ Anh Khanh thì làm gì ở đâu tôi cũng không rõ, chỉ biết là lúc về cơ quan Vũ Anh Khanh không có viết gì hết. Cuối cùng tòa báo "Tiếng Súng Kháng Địch" ra một số đc biệt về chiến dịch đó nhưng không có bài nào của anh. Sau đó hình như người ta tống anh đi ra khỏi Phòng Chính trị, cho về đâu trên tỉnh đội Long Châu Hà thì phải, còn tôi thì bị giản chính cho về tỉnh đội Cần Thơ.
Bây giờ ngồi viết những dòng này tôi vẫn còn thấy như in trước mặt hình dáng anh Vũ Anh Khanh, áo lục quân xập xệ, quần thì ống thấp ống cao, miệng lúc nào cũng cười hề h. Mỗi lần đi ăn cơm thì anh cầm cái chén bng muỗng vùa gọt láng với đôi đũa tre tự túc, hai đầu đũa buộc vào nhau bng một sợi nhợ ngn, còn chiếc muỗng vùa cũng có quai, để khi ăn xong thì treo phơi trên vách cho khô, nếu không phơi thì nó tanh lắm, không xài được. Ở trường Lục quân không có chén nên học sinh phải dùng muỗng vùa, khi đi dã tập thì đeo nó luôn trong lưng để đến giờ cơm thì có mà dùng ngay.
Vũ Anh Khanh vừa đi vừa gõ lóc cóc, còn vài ba người đi sau thì nhại theo giọng của anh: "Vũ Anh Khanh! Quê hương mày ly loạn!" Anh quay lại cười dễ dãi. Lần nào có liên hoan, anh em cũng bắt anh lên ngâm thơ. Mãi cho đến khi tập kết ra Bắc tôi mới gặp lại Vũ Anh Khanh, nhưng không biết anh ở cơ quan văn nghệ nào. Đó là thời kỳ "tan đàn rã nghé" như nhà văn Đoàn Giỏi viết trên báo. Nghĩa là mạnh ai nấy kiếm sống, không có sự thân ái như trong kháng chiến nữa.
Tôi cũng không nhớ năm đó là năm nào. Tôi bỗng gặp Vũ Anh Khanh ở ngôi nhà của văn nghệ sĩ Nam Bộ gồm có Đoàn Giỏi, Bùi Đức Ái, Huỳnh Thế Phương (Trung đoàn phó Trung đoàn 99 của Đng văn Cống nhưng vì là dảng viên đng Dân chủ nên bị gạt ra cho làm báo Thống Nhất), Hoàng Tố Nguyên, Nguyễn Quang Sáng, Đinh Phong Nhã. Vũ Anh Khanh cho biết anh được cử đi "Hội nghị văn chương quốc tế" sắp khai mạc tại New Delhi bên "Anh Bảy Chà Và". Cùng đi với anh có Phạm Hữu Tùng. Tùng là chồng của nữ ca sĩ Khánh Vân, không phải là đảng viên cộng sản, không hiểu tại sao lại được cử đi theo Vũ Anh Khanh như một chính trị viên của anh. Chúng tôi hiểu ngầm như thế chớ bên ngoài thì Tùng cũng được coi như một đoàn viên như Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Tú Mỡ...
Chúng tôi càng không hiểu tại sao cộng sản lại chỉ định một văn sĩ gốc Saigon đi như thế để phải tốn thêm mt chính trị viên?
Không biết đi bao lâu, bỗng một hôm tôi lại gặp Vũ Anh Khanh cũng tại ngôi nhà này. Đúng ra không phải gặp tình cờ mà là Vũ quân tìm đến "tụi mày để nhậu chơi". Số là Vũ quân có đem về một chai rượu ngoại quốc, ở Hà Nội mà đòi nhậu rượu ngoại quốc thì chắc không có ai dám liều lĩnh hay hoang phí đến thế.
Tôi cũng không nhớ là rượu hiệu gì của nước nào nữa. Vì bất ngờ, không có toan tính trước nên cứ khui ra rồi uống không, để nghe Vũ quân nói chuyện về hội nghị văn chương bên xứ Chà Và:
Chẳng có con mẹ gì cả. Nó nói nó nghe, mình nói mình nghe. Chỉ được cái là mình được đi coi vài ba chỗ cổ tích và một cái đền thờ lạ lùng.
Chúng tôi hạch mãi thì anh mới nói rng đền thờ "cái đó" và "cái ấy". "Cái đó" thì to bng cây cột và "cái ấy" thì to bng cái nia. Chúng tôi nghe mà cười với nhau muốn bể nhà. Vũ quân kể xong còn dặn tụi tui:
Tụi bây đừng có nói tùm lum ra ngoài h nghe họ kiểm thảo tao bỏ mẹ, rồi có hội nghị khác họ không cho tao đi, chẳng còn ai đem rượu về cho tụi bây uống nữa đâu, nghe không?
Vũ Anh Khanh nhậu xong thì mượn xe đạp của một đứa trong bọn nói là đi lên Phòng Áo Quần của Bộ Ngoại Giao để trả bộ đồ vía "ăng tơ nuy" đi hội nghị. Do đó chúng tôi  mới biết rng dân Hà Nội được cử đi ngoại quốc đều đến cái phòng này để mượn quần áo, cà vạt, giày vớ để kên vào mà đi chớ không ai có nổi bộ đồ Tây. 
Ri thôi, mạnh thằng nào thàng nấy bươn chải kiếm ăn, không gặp Vũ quân nữa. Bng một hôm có một cái giấy triệu tập khẩn cấp đến số nhà 94 Phố Huế tức là Câu lạc bộ văn nghệ sĩ. Nói là Câu lạc bộ nhưng thực ra dùng để phổ biến nghị quyết của Trung ưưng, nhưng nó ọp ẹp nên Tố Hữu không khi nào đến đây. Trong cuộc họp này nhân vật nói chuyện là Võ Hng Cương, Cục phó Cục Tuyên huấn Quân đội. Cương được điều động ra chủ trì cái hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật do Đặng Thái Mai gà mờ làm chủ tịch sau vụ đè bẹp Nhân Văn Giai Phẩm. Võ Hồng Cương là một tên đầu bò chẳng biết gì về văn học nghệ thuật nhưng giỏi cái lập trường vô sản. Trong cuộc hội nghị này họ Võ dùng một cái giọng áo não:
- Tôi xin báo cáo các đồng chí biết rng anh Vũ Anh Khanh đã vượt tuyến và bị công an bn chết. Cương ngưng một chốc rồi tiếp - anh ta xin giấy phép đi Vĩnh Phúc do tôi ký nhưng lại sửa ra Vĩnh Linh.
Hội nghị tản ra về. Không ai nói gì. Có gì để nói. Có cũng không dám nói. Đó là vào khoảng 58-59 chi đó, tức là vào cái thời gian mà tôi đã trốn lên Ủy Ban Quốc Tế (UBQT) ở phố (phố gì sau Gô Đa cũ, hình như Ngô Quyền thì phải) và đã bị anh lính gác QĐND phản phé báo về cơ quan. Vụ án Nhân Dân vừa lắng im vài tháng thì đến vụ Vũ Anh Khanh. Tôi ớn lm. Sợ người ta lôi tôi ra mà giằn mặt. Và sự thực là sau vụ UBQT tôi âm thầm tìm đường chui nhưng không thoát nên cứ tỉnh bơ công tác tích cực như thường lệ. Trong chuyến đi vào Vĩnh Linh, có Nguyễn Tuân, Đoàn đóng tại Ty Thông Tin Vĩnh Linh do Rum Bảo Việt làm Trưởng Ty. Ban ngày đi lấy tài liệu. Ban đêm về ngụ tại đây. Riêng tôi tìm cách xé lẻ để có hoàn cảnh đi ngược lên dòng Bến Hải. Tôi đã lên ti Ku Bay và lên công trường gì đó có em ruột của nhà văn Đoàn Giỏi làm việc. Tôi phải đi bng voi mấy đoạn đường và lên đến tận nguồn sông Bến Hải, thấy mấy cái bảng đóng trên thân cây rừng "Ligne de démarcation provisoire" (Gii tuyến tạm thời), nhưng nhìn sang bờ Nam không có trạm canh, núi lại cao lỏm chỏm. Tôi đành trở về. Hôm sau tôi và Nguyễn Tuân ra bờ Cửa Tùng, Nguyn Tuân ngồi dựa gốc thùy dương mơ mộng còn tôi thì thay đồ đưa anh ôm giùm để xuống tm biển. Cửa Tùng vào lúc nước ròng cạn lm, tôi dư sức bơi qua, nhưng lính canh kỹ quá tôi không thể bơi. Nếu tôi không điều tra kỹ mà bơi qua thì bị nắm đầu ri.
Hôm sau tôi đi đến cầu Hiền Lương rồi đi ngược lên, đến khoảng giữa hai cái đồn thì dừng lại, không thấy có bóng lính, tôi ngồi xuống ngó chung quanh lần nữa, lần nữa... Từ bờ Bc ngó sang bờ Nam gần quá! Nếu không ai biết, tôi sải một hơi là tới. Ngồi nhìn đồng bào đi trên bờ Nam mà thèm thuồng vô cùng. Tôi quyết định nhào xuống sông bơi qua. Nhưng chân tôi vừa chạm nước thì tôi nghe lạnh buốt óc. Tôi chợt nhớ lời thng bạn tôi ở Bộ Công An, cách đó không lâu, đến nhà tôi choi có nói (có lẽ nó muốn nhc tôi chăng?):
- Vũ Anh Khanh bị bn bng tên thuốc độc.
Tôi rùng mình, rút chân lên mà quay tr lại. Trên đường về Ty Thông Tin tôi cứ nhìn những môt nhấp nhô mà xương sống tôi cứ rợn lên. Tôi cứ quay lại nhìn xem có ai đuổi theo không. Tôi tự hỏi: Vũ Anh Khanh, ông bạn vong niên của tôi đã yên nghỉ nơi đây và cho rng mình đã qua được phía nam sông Bến Hải và giở mũ (tai bèo) ra mà quay lại xá lia. "Ông vái cả mũ cái xã hội chủ nghĩa". Câu "vái cả mũ" của min Bắc thật có ý nghĩa trong trường hợp này. Vũ Anh Khanh ơi! Quê hương mày ly loạn vì cái hội chủ nghĩa quái gở.
Sau chuyến "nhúng chân xuống nước Cửa Tùng" tôi về Ty Văn Hóa Vĩnh Linh gp Nguyễn Tuân đang ngồi nhâm nhi với dĩa tôm luộc. Tôi xà vào và xin một ly nốc cạn ngay để che giấu sự bất thường trên nét mặt mà tôi cảm thấy chắc có.
Nguyễn Tuân hỏi tôi: "Có lấy được tài liệu nhiều không, có gặp người thiểu số không?" Tôi lơ mơ đáp cho qua vì trong bụng hãy còn run. Nguyễn Tuân lại nhc chuyện hôm qua: "Sao anh không bơi? Người Nam bơi giỏi lắm cơ mà."
Tôi càng sợ lộ tẩy, mặc dù đó chỉ là câu hỏi bình thường, không có ý xoi mói tâm can của tôi. Sự thực nếu tôi bơi ẩu qua bờ Nam thì tôi cũng tới nơi nhưng sẽ bị bắt và gởi trả lại bờ Bc vì ở cửa Tùng có đồn Liên Hiệp tức là bên bờ Nam có lính Bc Việt và bên bờ Bắc có lính Saigon. Hễ dân bên Bc bơi qua bờ Nam thì có sn lính Bắc Việt ở đấy thộp đầu liền.
Khi tôi sp tới mí nước, tôi gp anh lính Bắc Việt đang đứng canh ở đó, tôi lấy tư cách nhà báo hỏi anh ta: - Bãi biển mênh mông thế này, nếu dân lén trốn làm sao ta kiểm soát được? Anh ta bèn cho tôi biết về cái đồn Liên Hiệp như đã kể trên. Do đó tôi teo quá, trở lại bỏ hẳn ý định bơi qua Cửa Tùng. Vào thời buổi nước ròng, Cửa Tùng không lớn lắm, tôi dư sức bơi qua. (Vì không bơi qua được 100 thước nước mà về sau phải lội 1.000 cây số núi non để về Nam).
Cả một tuần lễ đóng trại ở Ty Thông Tin Vĩnh Linh tôi thường đến đầu cầu Hiền Lương để coi sơ hở của trạm gác. Một lần tôi bị xét giấy. Tôi đưa cho chúng xem. Từ đó chúng mới tin tôi là người được tín nhiệm của trung ương nên chúng cho đến gần đầu cầu. Nói là gần nhưng cũng cách trên 100 thước. Nếu ai cả gan chạy thì cũng phải vọt qua một cái cổng rồi một cây cản và sau cùng là một tên đứng giữa cầu đối diện với anh lính Saigon. Có lẽ chúng đã rút kinh nghiệm sau hai vụ táo bạo vượt tuyến mà tôi có nghe đn. Một anh cán bộ điện ảnh tên là Phúc, người Cần Thơ, cũng lại là bạn của tôi, vọt qua làn mức rất sớm, trước khi tôi lên UBQT. Và một ông tư sản thầu xây cất trại cho bộ đội ở đầu cầu. Thừa lúc chiếc cổng dở lên hạ xuống cho xe xoay trở, ông ta vọt ào lên cầu và qua luôn. Bây giờ khi tôi đến đây thì không thể nào áp dụng cái chiến thuật "dụt" ào đó nữa.
Tôi cũng biết một chuyện vượt tuyến khác nhưng thất bại. Một anh chàng bơi qua sông Bến Hải leo lên bờ Nam và vô đồn chửi bác H om xòm. Chng ngờ giữa sông (phía trên cầu một quãng), sông rẽ làm hai nhánh, ở giữa có một cù lao. Khi chia ranh giới tạm thời thì cù lao ấy thuộc về Bắc. Anh chàng vượt biên không biết (tôi cũng không biết), nên leo lên bờ tưởng đã qua Nam. Tụi cộng Bắc Việt đểu lắm, chúng không mặc quân phục Bắc Việt, không treo cờ đỏ, cứ âm thầm núp chờ... Chc có nhiều người nhầm lm. Vũ Anh Khanh ơi! Quê hương mày ly loạn nên thiên hạ trốn đi tìm nơi khác để sống...
Khi chuyến đi kết thúc, tôi về Hà Nội, chỉ có một người dám hỏi tôi về Vũ Anh Khanh:
Mày vô đó có thấy mộ Vũ Anh Khanh không?
Tôi đáp gọn lỏn:
Không
(Chắc chn chúng lôi xác anh lên mà vùi vội đâu đó để nhẹm tiếng sát nhân). Người hỏi tôi đó là nhà văn Đoàn Giỏi, thành phần địa chủ ở Mỹ Tho, bị kết tội có dính với Nhân Văn Giai Phẩm. Người mà ở trên nhận định là "tiến bộ lắm" nên đã cho đi Liên Xô, và nhận định "tiến bộ hơn nhiều" sau khi đi Liên Xô về. Và sau đó thì Đoàn Giỏi viết bài "Thao thức" đòi úp cái l. mẹ nó lên đầu Lê Đức Thọ vì Ban Tổ chức qui kết anh nặng n.
Đoàn Giỏi buồn rầu nói một câu đầy tình nghĩa đồng hương và đồng nghiệp: 
- Phải biết ngày nó chết (Vũ Anh Khanh) thì mình cơm canh cúng nó một bữa cho đỡ tủi vong hồn nó.
Tôi không dám nói gì thêm, nhưng trước mắt tôi vn còn chập chờn những mô đất trên khoảng đng hoang hai bên đường từ cầu Hiền Lương về Ty Thông Tin. Vũ Anh Khanh nằm ở đâu trên cánh đồng đó, nhưng không biết là mô đất nào. Vũ Anh Khanh ơi! Quê hương mày ly loạn!
Khi tôi về Saigon năm 1968, gp Sơn Nam, uống nước đá ở vỉa hè, tôi có k lại trường hợp cái chết của Vũ Anh Khanh: Anh bị bn bng tên thuốc độc. Sơn Nam kinh ngạc: "Sao kỳ vậy?". Tôi không biết tại sao, nên chỉ lc đầu. Có thể là chúng bn vậy để không có tiếng động, để không ai biết. Chúng sợ bờ Nam tố cáo và ủy Ban Quốc Tế đến điều tra thì sẽ bị kết tội vi phạm Hiệp Định chăng?
Chuyện về cái chết của Vũ Anh Khanh đã vùi lp đúng ba con giáp rồi, anh Nhuệ Hồng ạ. Còn biết bao nhiêu chuyện thương tâm không giấy bút nào tả hết. Phải tổ chức 1.000 đêm không ngủ mới tạm đủ thời gian để kể cho nhau nghe những chuyện đau lòng ở miền Bắc mà Vũ Anh Khanh chỉ là một trường hợp được biết tới. Viết những dòng này tng anh tôi cũng tiếc như anh vậy. Tiếc rng: Nếu hồi ở Ấn Độ, anh dấn thân một bước nữa thì có lẽ...
"Vũ Anh Khanh ơi! Quê hương mày Ly loạn và còn ly loạn mãi vì cái xã nghĩa mọi rợ này". 
(Trích từ cuốn “Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết” của Xuân Vũ, Đại Nam xuất bản 1997)
  Sự thật theo tiết lộ của Võ hồng Cương, phó Tổng thư ký Hội cũng là Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân dân Bắc Việt thì năm 1956, Vũ Anh Khanh được nghỉ phép ở Vĩnh Phúc nhưng ông đã sửa giấy phép thành Vĩnh Linh, Quảng Trị và từ đó bơi qua sông Bến Hải quãng trên cầu Hiền Lương vài cây số, quyết tâm về Nam tìm tự do. Nhưng hỡi ơi Trời không thương người hiền, nên khi sắp tới bến tự do thì bị Bộ đội biên phòng bờ Bắc phát giác và để khỏi bị Ủy ban quốc tế làm biên bản vi phạm Hiệp định ngưng bắn, thay vì dùng súng, Việt Cộng dùng tên tẩm thuốc độc bắn chết Vũ Anh Khanh. Không riêng Vũ Anh Khanh, rất nhiều người Bắc vượt Bến Hải vào Nam đã bị cộng sản dùng tên độc hạ sát một cách êm thấm. Và còn vô số người miền Nam bị Việt Cộng bắt và chôn sống. Theo Trần Đĩnh, Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại.(ĐC II, 44)


Khoảng 1960, Mỹ lên tiếng chỉ trich nhà Ngô, muốn tống xuất hai vợ chồng Ngô Đình Nhu, và dọa cắt viện trợ. Họ Ngô muốn chạy theo Pháp, mong Pháp viện trợ và bảo vệ họ trong chính sách Trung lập của Pháp. Lúc bấy giờ Pháp thân cộng cho nên Pháp -Trung Cộng bắt tay đưa họ Ngô mật đàm với Việt Cộng. Năm 1963, họ Ngô bị đảo chánh và giết tuyệt. Một số Cần Lao đâm ra thù Mỹ, các tướng lãnh và Phật giáo. Họ cho rằng người ta xuyên tạc, hai ông Nhu Diệm không phải là bọn Judas phản chúa, phản quốc, phản đồng minh! Một số người nói ông Nhu làm eo làm xách với Mỹ thôi chứ không phải là đầu hàng thật sự. Trái với những luận điệu trên, các chân tay thân cận nhà Ngô lại xác nhận việc ông Nhu gặp Phạm Hùng, liên lạc với Pháp là có thực. Đó là Bùi Kiến Thành, Huỳnh Văn Lang, Cao Văn Vỹ và Nguyễn Văn Châu. Những ông này cho rằng nhà Ngô thương dân, muốn chấm dứt chiến tranh nên bắt tay với cộng sản.
Bên cạnh việc họ Ngô bắt tay với cộng sản, ta thấy còn có hơn ba trăm linh mục biểu tình chống Mỹ chống Thiệu.

Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng.  
(trang 436)
 
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng
 
Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, tưởng cần nhắc lại một số hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.
 
Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris (từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam.
Tháng 12-1969, Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ: “Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon.”
Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada),  với đề-tài giải-phóng các dân-tộc ViệtLàoCampuchia, đã “tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ, khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.”
Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Nam, giáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồng, không còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa.
 
Ngày 20-9-1970, Linh-Mục Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze (Ý, nơi có Tòa Thánh Vatican): “Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.”
Tháng 3-1971, Linh-Mục Nguyễn Viết Khai tuyên-bố: “Từ chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào.”
Tháng 11-1971, Linh-Mục Trương Bá Cần, Tuyên-Úy Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết: “Giáo Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền-hành trong xã-hội này... Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ...”
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương.
 
Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 [chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam], thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền Nam.
 
Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”: “Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.”
 
      Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với Miền Bắcđối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu.
 
Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-NamSài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu. Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi.
Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng
(Lê Xuân Nhuận-TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA - trong cuốn hồi-ký “Biến-Loạn Miền Trung” http://lexuannhuan.tripod.com/BienLoanSL.html)


Nói chung, nhà Ngô, Cần Lao và một số linh mục yêu cộng sản đã  âm mưu triệt hạ Việt Nam Cộng Hòa và đầu hàng Cộng sản.


Có bốn kịch bản cho sự kiện này:

1. Họ Ngô và Việt Cộng thỏa hiệp, đi đến  thống nhất đất nước.
 
 Tất nhiên hai bên phải thống nhất:thống nhất quân đội, thống nhân bộ máy hành chánh. Quân Cộng Hòa sẽ được sát nhập vào Quân Đội Nhân Dân, các ông Diệm Nhu sẽ trở thành Phó chủ tich nươc hay phó chủ tịch Quốc Hội. Lê Xuân Nhuận  thuật lời một nhân vật:"-Giáo-Sư Tôn Thất Thiện, Tiến-Sĩ Lâm Lễ Trinh, Đổng-Lý Quách Tòng Đức... Họ đã xác-nhận là đã có tiếp-xúc giữa hai Miền, nhưng chưa thành-công, như mọi người đã biết. Tuy nhiên, riêng tôi thì khác: tôi có bằng-chứng là đã có kết-quả cụ-thể thành-công bước đầu. . . .
Ngoài những tin-tức đã lọt ra ngoài, thật ra thì chính Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã có nhiều đường dây liên-lạc khác, bí-mật, trực-tiếp với Ông Hồ Chí Minh. Không lẽ tự dưng mà vào đầu năm 1963 Ông Hồ gửi vào biếu một cành đào─tất-nhiên là đã từng có trao-đổi, thông-cảm, thỏa-thuận những gì trước rồi, đến lúc chín muồi thì mới bày-tỏ cảm-tình công-khai.

Cả hai, Ngô─Hồ đã qua quá-trình dài ngày mặc-cả với nhau.
Đồng-thuận trước nhất là không còn có binh-lính Hoa-Kỳ hiện-diện tại Miền Nam.
Miền Bắc gặp nhiều khó-khăn: đối-ngoại thì Nga-Cộng muốn “sống chung hòa-bình” (hòa-hợp Bắc─Nam, ai lo phần nấy, không còn chiến-tranh); Tàu-Cộng thì muốn chiến-tranh, quyết đòi thống-nhất (thôn-tính Miền Nam); đối-nội thì Hồ muốn theo ý Nga, trong lúc Lê Duẩn & Lê Đức Thọ thì muốn theo ý Tàu. (Việc này là một trở-ngại chỉ mới xảy ra sau khi Ông Hồ đã gửi cành đào vào biếu Cụ Ngô.)

Miền Nam cũng có khó-khăn: đối-ngoại thì bị Hoa-Kỳ đòi đưa quân vào, trong lúc Giáo-Hoàng Giôn XXIII ủng-hộ một nước Việt-Nam thống-nhất dưới quyền của Hồ Chí Minh; đối-nội thì Mặt Trận Giải Phóng ngày càng lớn lên, Phong-Trào Phật-Tử Tranh-Đấu rộng ra. (Cả hai cũng đòi đuổi Mỹ như “ta”.)

Đề-nghị mới nhất là: Thống-Nhất Đất Nước, với Cụ Hồ Chí Minh là Chủ-Tịch, Cụ Ngô Đình Diệm là Phó Chủ-Tịch, Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa. Như thế thì: về đối-ngoại, Miền Bắc đáp-ứng được yêu-cầu của cả Liên-Xô lẫn Trung-Quốc, Miền Nam thoát khỏi áp-lực của Hoa-Kỳ, cả hai Miền thỏa-mãn được ý-đồ của Vatican cũng như ước-muốn của thế-giới qua Pháp, Ý, Ấn-Độ, Ba-Lan; về đối-nội, Miền Bắc hết đổ xương máu, noi gương Miền Nam mà tái-thiết và phát-triển, Miền Nam vừa xóa bỏ Mặt Trận Giải Phóng vừa dẹp tan Phong Trào Phật-Tử Tranh-Đấu. (Trước đó, Cụ Ngô đòi làm Thủ-Tướng, hay ít nhất cũng là Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ tức Bộ Công-An, như đã yêu-cầu từ hồi 1945-46, để có thực-quyền, và có thể dành vài ghế Phó Thủ-Tướng, hay Bộ-Trưởng, Thứ-Trưởng, hay Tổng-Cục-Trưởng, cho Cố-Vấn Ngô Đình Nhu và Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn; nhưng đến phút chót thì phe Duẩn+Thọ không chịu, nên Cụ Hồ khuyên Cụ Ngô nhận chức Phó Chủ-Tịch Nước để có vai-vế tương-đương mà cũng có thể có vài Trợ-Lý cho Phủ Phó Chủ-Tịch Nước. Cụ Hồ hy-vọng là có Cụ Ngô và Ông Nhu bên cạnh thì sẽ vượt được thế-lực của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.)

Kết-luận là cả Tổng-Thống Ngô Đình Diệm lẫn Cố-Vấn Ngô Đình Nhu đều cần ý-kiến thuận của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, trước khi chính-thức thỏa-hiệp với Chủ-Tịch Hồ Chí Minh, dự-trù sẽ cùng thình-lình công-bố một lần, để đặt cả thế-giới trước một “sự đã rồi”, trong năm 1964 (sẽ thảo-luận thêm, là vào ngày 7-7 hoặc 26-10 theo đề-nghị của Cụ Ngô, hay là vào ngày 19-5 hoặc 2-9 theo đề-nghị của Cụ Hồ). .
. .(NGÔ ĐÌNH DIỆM-PHÓ CHỦ-TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA. http://lexuannhuan.tripod.com/PhoChuTich.html
Như vậy là Việt Nam Cộng hòa tiêu tan nhưng không biết hai ông Nhu Diệm tồn tại bao lâu? Chúng tôi nghĩ rằng theo gương GPMN, số phận nhà Ngô và Cần Lao e không qua một con trăng!


2. Sau khi thỏa hiệp, Cộng sản trở mặt khủng bố, tàn sát.
Đây là kịch bản của thực tế đã xảy ra. Sau 1975, Việt Cộng đã bắt giam , giết hại các lãnh đạo Thiên Chúa Giáo như  Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, linh mục Hoàng Quỳnh và bà Nguyễn Thị Thanh khiến cho các ông linh mục và tín hữu Kitô yêu Cộng sản phải bỏ chạy như linh mục Trần Hữu Thanh. Linh Mục Cao Văn Luận được giáo hoàng bảo về Việt Nam khuyên  tín đồ Thiên Chúa giáo nên ở lại Việt Nam, đừng chạy theo Mỹ Ngụy thế mà ngài cũng cong đuôi chạy mất!


3. Kich bản Hồ Tôn Hiến 

 Kịch bản này giống kịch bản trên.  Kịch bản hai sau thỏa hiệp thì đánh đuổi. Còn kịch bản này chưa làm lễ quy hàng thì đã bị giết!Trong khi  hòa đàm, Việt Cộng biết đối phương bị Mỹ bỏ rơi và nhân dân oán ghét, họ quyết tâm giết họ Ngô và Cần Lao. Cái t\âm lý của một số chính trị gia và tướng lãnh là muốn chiến thắng, muốn đâm gươm vào cổ đối thủ hơn là cho đầu hàng. Cộng sản thường áp dụng đả đả đàm đàm. Cộng sản đánh tới, họ Ngô có sức kháng cự không? Việt Cộng có hậu phương Trung Quốc, cần bao nhiêu lính, bao nhiêu vũ khí cũng có. Thế là họ Ngô khó cầm cự và bị sát hại.

4. Kịch bản  tướng lãnh đảo chánh hoặc Mỹ trừng phạt

Đây là kịch bản của thực tế. Trong khi toàn dân, toàn quân chống cộng, anh em họ Ngô bắt tay với cộng sản, các tướng lãnh và chính trị gia yêu nước sẽ không im lặng ngồi nhìn.  Người Mỹ đã tha thứ cho họ Ngô năm 1960, nhưng họ Ngô vẫn quyết tâm phản bội, cho nên họ Ngô phải nhận phán quyết cuối cùng. Lúc tôi đi quân trường, viên thượng sĩ già nát rượu nói như một triết gia với giọng hài hước khi dạy  về mìn Claymore:"Mìn Claymore có hai mặt, một lồi một lõm. Các anh nên nhớ cái phần lồi là hình ảnh yêu quý nên hướng ra ngoài.  Nếu lầm là chết tan xác. Trong chiến tranh, it ai có được may mắn hai lần"!


Tóm lại, kich bản nào cũng bất lợi cho kẻ thất thế. Bắt tay, hòa đàm thật sự là một cuộc đầu hàng. Các ông Cần Lao có tin tưởng, có "phấn khởi hồ hởi" khi Ngô Đình Diệm bắt tay với Cộng sản không? Không lẽ các ông cao cả và trí tuệ như linh mục Hoàng Quỳnh, Lâm Lễ Trinh, Huỳnh Văn Lang, LS Nguyễn Văn Chưc, Bùi Kiến Thành, Tôn Thất Thiện ...lại tin tưởng  thiên tài Ngô Đình Nhu  với nguồn yên sĩ phi lý thuần của ả Phù Dung?  Họ dễ dàng tin tưởng rằng bắt tay với cộng sản là được cộng sản cho họ hưởng đặc quyền như thời mồ ma thực dân và họ cùng các  đồng chí Cần Lao sẽ sống an vui với cộng sản ư? Không lẽ các đấng này vô cảm đến độ im lặng nhìn Ngô Đình Nhu xả súng bắn họ Ngô và thủ hạ Cần Lao rồi tự sát?



Một số người Việt Nam ta  quá hiền lành, quá tin đời, và quá mơ mộng  ! Trong vụ Hoàng Cơ Minh, một  thanh niên vì yêu nước đã đi theo họ Hoàng về Thái Lan, Việt Nam thì  bị bắt. Một thanh niên Canada trở về kể lại với báo Khai Thac Thị Truờng của Nguyễn Bá Long rằng anh ta vào chiến khu mà chẳng luyên tập quân sự chi cả. Anh ta được hứa hẹn sẽ được lãnh 300 ngàn đô. Khi anh ta về Việt Nam đến ngân hàng lãnh tiền thì bị bắt. Anh này có ba cái   ngây thơ của trẻ lên ba, lên bốn:
-Có lương tiền công xá tại sao không trả tại Canada mà trả ở Việt Nam? Anh không thấy đó là cái bẫy của Việt Cộng sao?
-Về Việt Nam đến ngân hàng lãnh tiền là nộp mạng!Tại sao dễ tin như vậy?
-Thời buổi này, vác 300 ngàn đô đi ngoài đường mà an toàn ư?Không những mất tiền mà còn toi mạng!

Trông anh ta mặt mũi khôi ngô mà lại  như vậy. Tội nghiệp, anh ta đã phí bao năm trong nhà tù cộng sản, không có tiền bạc, về Canada lại bị vợ ly dị! Thật là phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.
Sau anh ta sang Mỹ, gặp đám Biệt kích Mỹ, họ nói:"Mày cũng ngu như chúng tao!"
Lúc đó, tôi đem chuyện này hỏi ông Trần Bình Nam , ông bảo làm gì có! Thế là tôi hiểu tất cả. Hiểu ông Trần Bình Nam và ông Hoàng Cơ Minh!

 
Anh chiến sĩ trẻ kia ngây thơ đã đành, còn mấy tay chính trị gia, luật sư thì sao? Một số đưa ra đưa ra chủ trương hồi phục, phục hoạt, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa. Đa số chúng ta mất miền Nam, nay có chủ trương tái lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thì thich thú. Ông Nguyễn Bá Cẩn tái lập chính phủ VNCH vì ông là Thủ tướng cuối cùng của VNCH.  Ông ra sức kiện Việt Cộng nhưng nửa đường đứt gánh. Luật sư Lâm Chấn Thọ là trụ cột pháp lý cho mộng tái lập chính phủ VNCH.  Nguyễn Ngọc Bich cũng đã tiêu diêu cưc lạc, VietnamFoundation nay chỉ còn đôi vợ chồng nọ với mười triệu Mỹ kim như thiếu tướng Lý Tòng Bá đòi kiện.

 Nhưng ông tướng cũng đã quy tiên. Nay luật sư Lê Trong Quát cũng tiếp tục tái lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Luật sư Lâm Chấn Thọ và luật sư Lê Trọng Quát là hai vị luật sư nổi tiếng.  Luật sư Lâm Chấn Thọ ở Canada. Luật sư Lê Trọng Quát hiện ở Pháp, gần 90 tuổi nhưng xem ra còn minh mẫn. Ông là cánh tay mặt của Ngô Đình Cẩn, đã bảo vệ ông Cẩn thoát tội bán gạo cho Cộng sản.Vì vậy năm 1959, ông được nhà Ngô tin cậy, đưa  vào Quốc Hội. Sau 1963, ông bi8 bắt giam và tịch thu tài sản. Thiệu lên phóng thich Cần Lao và được Thiệu đưa làm thứ trưởng Thông Tin. Tháng4-1975, ông làm Quốc vụ khanh trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn.

Theo thiển kiến, đường lối này chỉ là viễn mộng. Ngày trước, hiệp định Paris do Mỹ đề xướng và các cường thỏa thuận nên có hội nghị này. Các bên và các nước tham dự ký hiệp ươc là để ngưng bắn, lập hòa bình ở Việt Nam.
Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.Điều khoản cuối của hiệp định và cũng không có điều khoản cưỡng chế: hiệp định không đưa ra được biện pháp và lực lượng cưỡng chế nếu một bên vi phạm hiệp định.

Sau 1975, Việt Cộng vi phạm hiệp định, người ta cũng bỏ qua chứ không tức giận, đòi Việt cộng phải tuân thủ hiệp định vì hiệp định này không có khoản chế tài những ai vi phạm. Tại sao không đòi tái lập VNCH sau 1975-1980  mà nay mới đòi?
Hiệp định Paris không có khoản chế tài thì lấy lý do gì mà triệu tập hội nghị tái lập Việt Nam Cộng hoà và trừng phạt Việt Cộng tội cưỡng chiếm miền Nam, vi phạm hiệp định Paris?
Nay ai đứng ra triệu tập hội nghị này? Nếu Việt Cộng không chịu hội nghị thì sao? Như vậy kế hoạch các ngài chỉ là kế hoach cột chuông cổ mèo!


Tôi nghĩ rằng Mỹ không có chủ trương này. Trươc khi đi đến hội nghị Paris, Mỹ đã liên lạc với Liên Xô và Trung Quốc. Mục đich là Mỹ thay đổi chiến thuật. Như Trần Đưc Thảo nhận định là Mỹ muốn chuyển sang tấn công hòa bình.
+Mỹ tiêu diệt hết phần lớn Việt Cộng trong mậu thân 1968,vậy mà Mỹ lại nhương bộ, chấp nhận các điều kiện của ta, đặc biệt là điều kiện phải để cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng do ta chủ động ở miền Nam được tham dự hội nghị ngang hàng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, gọi là Việt Nam Cộng Hoà.
+Cuộc oanh tạc của Mỹ vào miền Bắc năm 1972, lúc đó ta vô cùng bối rối, đến mức nếu nó đánh bom kéo dài thêm vài tháng nữa thì ta sẽ phải nhượng bộ trong bất cứ điều kiện nào. Vậy mà bỗng Mỹ ngưng ném bom, để cho cuộc thương thảo ở Paris bước vào giai đoạn kết thúc, mà cả thế giới đều thấy là có lợi cho ta. Phía ta thì khoe đó là do tài trí của trưởng đoàn Lê Đức Thọ (Tri Vũ. Những Lời Trối Trăng Ch.XIII). 

Mỹ chủ động trong chiến tranh, uyển chuyển tiến và thoái, cương và nhu chứ không phải Mỹ
thất bại như cộng sản  nổ tùm lum tà la!
Theo Burchett thì Mỹ nhúng tay vào miền Nam Việt Nam vì coi đó là một thị trường của khối tư bản, và tuyên bế quyết tâm bảo vệ Nam Việt Nam, vì đấy là một “tiến đồn của thế giới tự do”. Điều này có nghĩa là Mỹ muốn giữ vùng này không để nó lọt vào trong bức màn sắt của khối cộng sản. Nhưng Mỹ cũng dứt khoát không tính diệt “Bắc Việt Cộng sản” để tiến tới thống nhất Việt Nam bằng cách này hay cách khác. Bởi chiến tranh đối với Mỹ luôn luôn nằm trong sách lược của kinh tế thị trường toàn cầu. Cuộc chiến tranh bảo vệ thị trường Nam Việt Nam đã bị sa lầy vì tốn kém và bị dư luận nhân dân Mỹ chán ghét. 

Thế nên các nhà chiến lược Mỹ, đứng đầu là Kissinger, đã đề xa một giải pháp khác. Vì đã không bảo vệ được thị trường miền Nam Việt Nam bằng chiến tranh, thì phải quay qua giải pháp tìm thị trường thay thế bằng con đường hoà bình: cách này ít tốn kém mà bền vững hơn. Bởi Mỹ, trên nguyên tắc, không hề tính tiêu diệt chế độ Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, nên khi thấy cuộc tổng tiến công nổi dậy hồi Tết Mậu Thân, 1968, đã làm cho “cộng sản” kiệt sức, thì đó là lúc tốt nhất để đưa “địch” ngồi vào bàn hội nghị. Cũng như khi thấy cuộc oanh tạc miền Bắc Việt Nam hồi 1972, đã đủ cho Hà Nội thấm đòn, thì Mỹ liền ngừng ném bom, rồi đưa ra những điều kiện, thuận lợi cụ thể, để Hà Nội chịu kỷ kết chấm dứt chiến tranh, để Mỹ rút chân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tất cả là dùng lá bài hoà bình thay thế cho lá bài chiến tranh. (Tri Vũ.Những Lời Trối trăng.Ch.XIII)


Mỹ thay đổi chiến lược , chiến thuật, Mỹ chỉ nói chuyện thẳng với Hà Nội, và mục đich là rút binh Mỹ ra khỏi Việt Nam. Những việc khác không quan trọng. Việt Nam chỉ là con tốt trong một bàn cờ! Mỹ đã thi hành không thành kế, không những rút lui khỏi Việt Nam mà rút lui Trung Quốc, Thái Bình Dương để cho Trung Công lấn chiếm. Việt Nam và Trung Hoa Dân Quốc cùng chung một niềm đau.  Nhưng nỗi đau đớn , tủi nhục của người Mỹ còn lớn hơn trăm lần vì Mỹ là cường quốc mà phải đóng vai thất trận. Kết quả như ta đã thấy, các nước căm ghét Trung Cộng và đoàn kết xung quanh Mỹ. Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ đã xiết chặt vòng vây chờ ngày tiêu diệt Trung Cộng. Mỹ sẽ trở lại không phải vì một nửa Việt Nam mà  cả nước Việt Nam và Thái Bình dương. Tái lập miền Nam thìMiền Bắc và Trung Cộng sẽ tiếp tục gây chiến cho đến người Việt cuối cùng. Mỹ và Miền Nam sẽ thiệt hại vì Trung Cộng sẽ đưa hết triệu quân này đến triệu quân khác vào đất Việt. Cuộc chiến này sẽ đánh vào đầu não Trung Cộng chứ không phải nơi khác. Cổ nhân nói đánh rắn thì phải đập đầu. Phải đánh cho cái đầu và cái mình Trung Cộng tan tành thành trăm ngàn mảnh thì thế giới mới an lòng.


Như đã trình bày, cuộc chiến Thái Bình Dương giai đoạn đầu là miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến sau này là trên đất nước Trung Quốc. Cho nên giải pháp tái lập chính phủ Việt Nam cộng hòa không thuộc chính sách Mỹ. Như vậy Mỹ đâu triệu tập hội nghị tái lập Việt Nam cộng hoà. Vậy ai triệu tập? Phải chăng là Pháp và Trung Cộng? Trung Cộng nay nắm cả Việt Nam rồi, cần gì lập hội nghị tái lập Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy không ai  thiết đến việc tái lập Việt Nam Cộng Hòa! Các ông ấy nêu lên trường hợp De Gaulles lập chính phủ lưu vong. Nếu không có đồng minh ủng hộ và Mỹ không giải phóng nước Pháp, De Gaulles chẳng làm được gì! Đã thế, De Gaulles không biết ơn Mỹ lại quay ra chống Mỹ, ninh hót Liên Xô và bao bọc Việt cộng! Thái độ quay cuồng phi lý và phi nghĩa của De Gaulles đáng bị Mỹ khinh bỉ!


Nếu tái lập chính phủ Việt Nam Cộng hòa, nước nào sẽ viện trợ? Việt Nam là một tiểu quốc, đừng nói tự lực, tự cường mà xấu hổ. Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm cũng do ngoại quốc đào tạo và yểm trợ! Cái thời Gia Long mà còn chạy vạy cầu đông cầu tây đó thôi! Pháp không đủ sức, Mỹ phủi tay rồi! Ai thay Pháp và Mỹ? Chỉ còn Nga và Trung Cộng. Nhưng hai nước này là cộng sản, làm sao họ tái lập Việt Nam Cộng Hòa? Nay Nga không còn là cộng sản nhưng vẫn là một đế quốc! Theo Nga hay Trung Cộng thì không thể nói là tái lập Việt Nam Cộng Hòa!


Tái lập Việt Nam Cộng Hòa có thoát khỏi bàn tay Trung Cộng không? Chắc chắn là không. Công hàm Phạm Văn Đồng, hội nghị Thành Đô, số nợ Trung Quốc lên mấy ngàn tỷ Mỹ kim, làm sao thoát Trung? Hơn nữa, dù có Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng vẫn tuyên bố Việt Nam là đất cũ Trung Quốc, và đường lưỡi bò và chín đoạn đi sát thềm lục địa Việt Nam. Chẳng ăn thua chi cả. Chỉ có đường liên minh với thế giới tự do, chống Trung Cộng xâm lược và Việt Cộng bán nước để giữ Việt nam độc lập, Tự do và Dân chủ.

Nói tóm lại, những chương trình, tuyên ngôn, tuyên bố các đấng cũng chỉ là ảo vọng. Họ chỉ xây dựng cái cầu khỉ bằng những cây tre mục nát!
Nói dông dài cũng vô ich vì cái chủ trương này ra đời trên mười năm rồi mà chẳng ra sao cả, như vậy chủ trương này đã được  thực tế chứng nhận là vô giá trị!

 
Như đã trình bày, năm 1972, Mỹ đã nghĩ tới việc lui quân, thực hiện kế hoạch con ngựa thành Troy.  Để đạt mục đich này, Mỹ hứa tặng Việt Cộng hơn ba tỷ Mỹ kim. Cộng sản bao giờ cũng tham tiền.Mỹ muốn giải phóng các sĩ quan cải tạo, các tù nhân lương tâm đều phải chi tiền chứ không phải tư nhiên mà có chương trình Ra Đi Trong Trật Tự. Băc Triều Tiên bao lần dọa thử bom hạch nhân mà kết cục Clinton, Obara đều xì tiền cho êm chuyện. Nay KimJong Un cũng theo sách đó nhưng rủi thay Trump cứng cựa và kẹo quá không chịu cho Ủn cục xôi của thằng Bờm cho nên Cậu Ủn phải mệt sức nhiều phen mà chẳng đến đâu!


Còn về VNCH, họ cũng bày ra nhiều chiêu thức. Vì tính viễn mộng, nhiều trí thức, nhiều nhà tu hành và nhiều chính trị gia đã nhảy vào cái bẫy dân chủ. Lúc này, Mỹ bày ra quốc hội nọ, quốc hội kia chẳng qua là họ muốn VNCH tự thắt cho mình một cái thòng lọng. Trong quốc hội này ta thấy có những khuôn mặt lãnh tụ đảng phái Việt Nam Cộng Hòa ngồi cùng các tay thân cộng và cộng sản nằm vùng. Họ cũng theo Mỹ bày ra Thượng Viện, Hạ Viện rất xôm tụ:
Hạ viện khóa đầu tiên (1967-1971) có 137 đại biểu, gọi là "dân biểu" do người dân trực tiếp đầu phiếu căn cứ theo từng địa phương. Đến khóa 2 (1971-1975) thì tăng lên thành 159 dân biểu. Tính đến năm 1974 thì cứ 50.000 cử tri thì có một dân biểu. Nhiệm kỳ dân biểu là bốn năm. Các dân biểu được phân bổ làm việc trong 18 ủy ban thường trực. Trụ sở Hạ viện là nhà Quốc hội ở Công trường Lam Sơn, sau năm 1975 là Nhà hát Lớn Saigon.
Hạ viện cuối cùng trước khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được bầu lên vào Tháng Tám năm 1971, tức khóa 2. Kỳ tuyển cử kế tiếp đáng ra sẽ diễn ra vào năm 1975.
Thập niên 1970 Hạ viện có sáu khối:
  1. Khối Cộng hòa, 50 dân biểu, thân chính phủ
  2. Khối Độc lập, 39 dân biểu
  3. Khối Dân tộc Xã hội, 27 dân biểu, đối lập với chính phủ dưới lãnh tụ luật sư Trần Văn Tuyên
  4. Khối Quốc gia, 9 dân biểu
  5. Khối Dân quyền, 16 dân biểu
  6. Khối không liên kết.

Thượng viện

Thượng viện có 60 đại biểu, gọi là "nghị sĩ" do người dân đầu phiếu theo liên danh với nhiệm kỳ sáu năm. Mỗi liên danh là 10 người nên Thượng viện là sáu liên danh được nhiều phiếu nhất. Khác với dân biểu bên Hạ viện vốn phụ thuộc vào một địa phương, liên danh nghị sĩ là đại diện toàn quốc. Trụ sở Thượng viện là Hội trường Diên HồngTòa nhà này năm 2000 được dùng làm Sở Giao dịch Chứng khoán Saigon.
Thượng viện cuối cùng trước khi Việt Nam Cộng hòa tan vỡ gồm hai nhóm. Một nhóm thuộc nhiệm kỳ bầu lên năm 1970. Phân nửa kia thuộc nhiệm kỳ bầu lên năm 1973, tức là mỗi ba năm thì 30 trong 60 ghế Thượng viện phải ra tranh cử. Thượng viện có 11 ủy ban thường trực.
Tính đến năm 1974 Thượng viện có năm khối:
Khối Dân chủ, 22 nghị sĩ, thân chính phủ
Khối Thống nhất, 17 nghị sĩ hối Bông Huệ, 8 nghị sĩ, đối lập với chính phủ Khối Hoa Sen, 7 nghị sĩ, đối lập với chính phủ Khối không liên kết. Các nhân vật chính có:
Nguyễn Bá Lương: Chủ tịch Hạ viện 1967-1971
 Nguyễn Bá Cẩn: Chủ tịch Hạ viện 1971-75
Nguyễn Văn Huyền: Chủ tịch Thượng viện 1967-1973
 Trần Văn Lắm: Chủ tịch Thượng viện 1973-1975
 Hoàng Xuân Tửu: Phó chủ tịch Thượng viện -1975.

Các ông thân cộng và Việt Cộng ra sưc đánh phá  VNCH, mà các lãnh tụ quốc gia ngây thơ cũng hùa theo tố VNCH. Chừng đó cũng đủ cho Mỹ có bằng cớ để cắt viện trợ và rút quân một cách danh chính ngôn thuận.
Thế cũng chưa vừa. Người Mỹ mời Thich Nhất Hạnh đến Thượng Viện Mỹ  tố cáo   ” Năm 1966 , không quân Mỹ và VNCH cho máy bay thả bom oanh tạc tiêu diệt 300,000 căn nhà và giết it nhât  là 300 ngàn dân Bến Tre .
Thich Nhất Hạnh không phải là một nhà tu chân chính cho nên kiến thức của ông  nằm trong tài liệu tuyên truyền đối trá của Cộng sản.

 Đi xa hơn nữa, người Mỹ chiều theo đòi hỏi Nguyễn Văn Thiệu ra đi cho nên có phong trào tố Thiệu tham nhũng, trong đó Trần Văn Hương, tướng Nguyễn Văn Hiếu hùng hổ  tố cáo Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 02-10-1974, một nhóm dân biểu Hạ viện chính quyền Sài Gòn trong lực lượng của phong trào nhân dân chống tham nhũng lên tiếng phản đối trước các ký giả về bài biện minh bản Cáo trạng số 1 ngày 01-10-1974 của Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 03-10-1974, các dân biểu Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, nghị sĩ Hà Thế Ruyệt và cựu nghị sĩ Thái Lăng Nghiêm không ngần ngại cho phổ biến trước báo chí bản tài liệu nhan đề “Chúng tôi đòi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức”, lên tiếng tố cáo Thiệu với lời lẽ gay gắt:
“Sau 10 năm nắm chính quyền, ông Nguyễn Văn Thiệu đã đưa đất nước vào tình trạng kinh tế, xã hội, chính trị và quân sự càng ngày càng bi đát..

Ngày 07-4-1975, tuần báo “Time” sau khi tường thuật về cuộc họp mặt của một số nhân vật dưới sự chủ trì của Nguyễn Cao Kỳ, đã bình luận về các khả năng trên chính trường Sài Gòn:
“Diễn biến đáng chú ý nhất là cuộc họp mặt của các nhân vật chống cộng do cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ khoản đãi. Trong số các quan khách, người ta ghi nhận sự hiện diện của bác sĩ Trần Văn Đỗ và Linh mục Trần Hữu Thanh.
Nguyễn Cao Kỳ lúc này cũng nuôi mộng lớn chí cao, tưởng hạ Nguyễn Văn Thiệu là cơ hội tốt cho ông lên ngai vàng! Đã thế, các cha cố của Nguyễn Văn Thiệu cũng đòi phanh thây xé xác con chiên Nguyễn Văn Thiệu.
Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng.

Tất cả các đám tưởng rẳng lớn tiếng chống Thiệu là họ đã thực hiện quyền dân chủ ư? Hạ bệ Thiệu là Việt Nam Việt Nam sẽ có một chính phủ thương dân, yêu nước và đủ sức chống Cộng ư? Tội nghiệp quá. 30-4-1975 đã mở mắt cho những con thiêu thân, những con rối đui mù!

No comments: