Saturday, August 19, 2017

SƠN TRUNG * ĐẤU TRANH GIAI CẤP




ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ VÔ SẢN CHUYÊN CHÍNH

SƠN TRUNG


Người cộng sản vỗ ngực xưng là vô sản, là công nhân, là thợ thuyền lao động nhựng thực tế cộng sản với công nhân, vô sản khác nhau vì cộng sản là giai cấp lãnh đạo, giai cấp thống trị, còn vô sản, công nhân cũng như nhân dân là tầng lớp bị trị. ( The immediate aim of the Communists is the same as that of all other proletarian parties: Formation of the proletariat into a class, overthrow of the bourgeois supremacy, conquest of political power by the proletariat.)

I. CỘNG SẢN XƯNG LÀ VÔ SẢN ĐÁN ÁP, BÓC LỘT NHÂN DÂN

Marx đưa ra thuyết "đấu tranh giai cấp" và ông cho rằng mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản là vô sản là quan trọng nhất (Society as a whole is more and more splitting up into two great hostile camps, into two great classes directly facing each other -- bourgeoisie and proletariat).
Vì căm thù tư sản, Marx chủ trương tich thu gia sản tư sản, nhưng thực tế Marx chủ trương tich thu tài sản nhân dân, nghĩa là nhân dân cũng có tội như tư sản!
(you reproach us with intending to do away with your property. Precisely so; that is just what we intend.)

Cộng sản mạnh tay cướp đoạt tài sản nhân dân kể cả tài sản tư sản. Cộng sản nói chỉ chiếm hoạt công cụ bóc lột nhưng vợ con, nhà cửa, gà vịt của tư sản và nhân dân đều bị đàn áp, bị cướp , bị sung công, hoặc hủy diệt, hoặc , đâu có chừa chút nào!
(Communism deprives no man of the power to appropriate the products of society; all that it does is to deprive him of the power to subjugate the labor of others by means of such appropriations.)

II. CỘNG SẢN  NÓI ĐẤU TRANH GIAI CẤP NHƯNG SỰ THẬT LÀ PHÁ HUỶ XÃ HỘI VÀ LUÂN LÝ ĐẠO ĐƯC


Từ lâu, người ta vẫn tin như vậy nhưng thật ra trong Tuyên Ngôn Cộng sản, Marx có có một lý giải khác mà tuyệt đại đa số không chú ý. Đó là sự đấu tranh của những người cùng giại cấp. Với Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx hô hào mọi người, mọi nhà, mọi giới trong cùng một giai cấp hãy đấu tranh với nhau, tiệu diệt nhau.  Nói rõ hơn, Marx kết tội cha mẹ bóc lột con cái,  con cái là món hàng mua bán, nghĩa là hô hào con cái tố cáo cha mẹ, chống đối cha mẹ.
(The bourgeois claptrap about the family and education, about the hallowed correlation of parents and child, becomes all the more disgusting, the more, by the action of Modern Industry, all the family ties among the proletarians are torn asunder, and their children transformed into simple articles of commerce and instruments of labor.)

Marx cho rằng  vợ chồng cũng chỉ là quan hệ mua bán, bóc lột, là công cụ sản xuất, là trò chơi của đàn ông ( cộng thê)
(The bourgeois sees his wife a mere instrument of production. He hears that the instruments of production are to be exploited in common, and, naturally, can come to no other conclusion that the lot of being common to all will likewise fall to the women.)
Hồ Chí Minh nói trung với đảng nghĩa là con cái không cần hiếu với cha mẹ và trung với nước! Marx muốn xã hội nuôi dạy trẻ con nhưng Liên Xô và Trung Cộng đã bãi bỏ cưỡng bách giáo dục trong khi Âu Mỹ vẫn thực hiện phổ thông trung học.

                                                                 
III. ĐẤU TRANH GIAI CẤP BIẾN THÀNH ĐẤU TRANH NỘI BỘ, CỘNG SẢN GIẾT CỘNG SẢN

Ngôn ngữ và xã hội luôn có cuôc tự hủy, tự phủ định, tự diễn biến ngoài ý muốn của con người. Đó là hiện tượng " sư tử trùng thực sư tử nhục" . Con sư tử mạnh lắm không ai giết nó được. Chỉ có những con trùng của sư tử mới ăn thịt sư tử!
Đó cũng là ý nghĩa của Dịch. Dịch (易 ) có nghĩa là "thay đổi" của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi. Cực âm sanh dương, cực dưong sanh âm, hết thịnh đến suy, hết bỉ đến thái.
Cho nên đấu tranh giai cấp trong quy trình chuyển vận của một xã hội sói beo, đã đi đến tàn sát nhau để tranh quyền lợi.  Vi vậy, "Đấu tranh giai cấp" nghĩa là những người cùng giai cấp tranh đấu, tranh giành và tàn sát nhau. Nói rõ hơn là đồng chí giết nhau, chẳng phải giết giai cấp bóc lột. Đồng chí giết nhau rồi đổ cho đối phương là phản động, tay sai tư bản, kẻ thù của nhân dân...

Chuyên chính vô sản cũng vậy. Chuyên chính vô sản nghĩa là dùng giai cấp vô sản tàn sát, tiêu diêt giai cấp tư sản, hoặc tàn hại nhân dân  với danh nghĩa vì quyền lợi vô sàn. Nhưng thực tế xã hội tự nó chuyển biến trong quy trình tự hủy, tư phủ định. Chuyên chính vô sản nghĩa là chuyên chính ngay cả với vô sản, nghĩa là đồng chí giết đồng chí.

Năm 1917,  tại Nga có hai đảng Cộng sản, một là Menchevish do Martov lãnh đạo, và một là Bolchevish do Lenin lãnh đạo. Phe Menchevish chủ trương phải xây dựng dân chủ trước, còn Lenin chủ truơng cộng sản chuyên chính. Hai phe tranh đấu với nhau gây nên cuộc nội chiến. Lenin và Stalin dùng thủ đoạn gian ác cho nên đã diệt phe Nga hoàng và phe Menchevish mà lập chế độ cộng sản độc tài tại Nga. Sau khi bị bệnh liệt giường, muốn truất phế Stalin nhưng gốc rễ y quá lớn, y mặc sức thi hành chủ nghĩa cộng sản độc tài. Y giết Trotsky là lãnh tụ phe đệ tứ quốc tế. Cái đám Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thach, Tạ Thu Thâu  Pham Văn Hùm... bị khốn đốn vì phe đệ tam Stalin truy sát.
Sau khi phe Lenin đại thắng, Stalin lên cầm quyền, mở cuộc đại khủng bố.

Những cuộc thanh trừng của Stalin (tiếng Nga: Чистка, Чистки (Pl.), Tschistka, Tschistki) là cụm từ chỉ khoảng thời gian trong lịch sử Liên Xô, khi Josef Stalin nắm quyền lực, lúc mà đã xảy ra rất nhiều việc trù dập và giết hại những người, mà theo cái nhìn của Stalin, về chính trị không thể tin cậy được và những thành phần đối lập. Tổng số nạn nhân trong thời gian này không được biết chắc, và cũng khó mà kiểm tra được, theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo ủy quyền của Nikita Chruschtschow, dưới hầm của cơ quan KGB (cơ quan thay thế NKVD): Từ 1 tháng 1 năm 1935 cho tới tháng 7 năm 1940 mật thám của Stalin đã cho bắt 19 840 000 dân Xô Viết; 7 triệu trong số đó, hơn 1/3, đã chết trong các trại lao động, nhà tù.

Ngay từ trong thập niên 1920 Stalin đã bắt đầu loại trừ những đối thủ hoặc những người ông cho là đối thủ chính trị của mình ra khỏi đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó các nạn nhân thường bị chụp mũ với những cáo trạng giả tạo để xử họ qua những vụ án chỉ để tác động dư luận quần chúng, hay xử ngầm, bị xử tử, nhốt tù hay tù lao động trong các trại tù Gulag
Trong cái gọi là cuộc khủng bố vĩ đại (đại khủng bố) từ 1936 tới 1938, cũng còn được gọi là cuộc đại thanh trừng là đỉnh cao của các cuộc thanh trừng chính trị: trong khoảng thời gian này mỗi ngày có tới 1.000 bị giết chết. Với sự mất mát của ban lãnh đạo, những chức năng căn bản của Đảng, hành chính và quân đội cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Nhiều nơi toàn bộ các cán bộ Đảng đã bị bắt. Vì vậy năm 1938 cường độ của các việc trù dập theo lệnh của Stalin đã giảm đi nhiều nhưng cũng không ngưng hẳn.
Với nhu cầu ổn định tình hình đất nước trong sự hỗn loạn của Nội chiến Nga, Với sắc lệnh "Về cuộc khủng bố đỏ" vàp ngày 5 tháng 9 năm 1918, Lenin đã đề nghị sử dụng những biện pháp trấn áp có hệ thống chống lại kẻ thù giai cấp và áp dụng luật lệ riêng biệt cho cảnh sát mật Liên Xô:

" Trong tình trạng hiện tại thì thật là cần thiết là phải yểm trợ nhóm Tscheka..., phải cô lập những kẻ thù giai cấp trong những trại tập trung để mà bảo vệ chế độ Cộng hòa, bất cứ ai mà dính líu tới các âm mưu, các cuộc nổi dậy phải bị bắn chết ngay tại chỗ." Từ đó, nhóm Tscheka trở thành một nước trong một nước, một bộ phận quyền lực, thi hành những biện pháp trấn áp theo một quy trình khá rõ ràng.

Ngay dưới thời Lenin, các trại tập trung, trại trừng phạt đã được thiết lập, những thành phần bị kết án phản Cách mạng bị trù dập, bỏ tù, tra tấn hoặc xử tử. Đối với những người Bolschewiki, kẻ thù là bất cứ những ai cản trở con đường đi tới chế độ chuyên chính vô sản của họ, những người mà không ủng hộ quan điểm của Xô Viết, hay không theo sát ý thức hệ cộng sản chính thức. Kẻ thù đó là những người bất đồng chính kiến, những người có của, linh mục, người theo đạo và phe đối lập. Theo cái nhìn của người Xô Viết những kẻ thù đó như là mụn nhọt trong cơ thể cần được cắt bỏ.

Lenin là người mà đã chính thức hóa việc sử dụng quyền lực một cách chuyên chế. Ban đầu ông ta coi trọng Stalin, bở vì ông ta cần một người, để mà thi hành những công việc, mà những người khác không muốn làm bẩn tay mình. Tuy nhiên khác với Stalin, theo Lenin bạo lực chống lại những người cùng phe là một điều cấm kỵ. Thanh trừng tiếng Nga: "Tschistka" theo Lenin là một biện pháp, để cho những đồng chí không tin cậy được trở lại đúng con đường mà đảng hoạch định. Những thành phần này phải tự kiểm điểm công cộng và trong trường hợp còn nghi vấn sẽ bị khai trừ ra khỏi đảng.[
Stalin đã biến bộ máy cảnh sát mật thành một bộ máy tiêu diệt. Thanh trừng không còn có nghĩa là khai trừ khỏi chức vụ mà là tiêu diệt, và chỉ có ông là người quyết định và ra lệnh, ai là bạn và ai là thù, ai là kẻ phản bội bị bắt và bị xử tử, ai được phép sống còn.

Bối cảnh của những cuộc thanh trừng của Stalin là những thuyết âm mưu nối tiếp nhau, một số để đối phó với nhóm Trotzkisten. Bên cạnh phần lớn những người thành lập đệ Tam Quốc tế hầu như tất cả các lý thuyết gia của đảng Cộng sản Liên Xô là nạn nhân của các cuộc thanh trừng này. Vị kiểm sát tối cao các phiên tòa ở Moskva từ 1936 tới 1938 là Andrei Wyschinski.

Ngoài ra phần lớn các lãnh đạo quân đội chung quanh thống chế Michail Tuchatschewski bị buộc tội có âm mưu chống Đảng và bị sát hại. Nhiều người cộng sản có nguồn gốc ở nơi khác, di cư sang Liên Xô cũng trở thành nạn nhân. Năm 1940 chính người có trách nhiệm lớn trong việc thi hành các cuộc thanh trừng Nikolai Jeschow, mà từ 1936 tới 1938 bộ trưởng Bộ Nội vụ và ứng cử viên Bộ chính trị, cũng như người tiền nhiệm của ông Genrich Jagoda trở thành nạn nhân cuộc khủng bố Stalin. Thay thế ông vào ngày 24 tháng 11 năm 1938 là Lawrenti Beria, đã cùng với Iwan Serow tiếp tục các cuộc thanh trừng. Beria bị xử tử 1953.

Stalin không những chỉ cho trừng phạt những người mà ông cho là đối thủ chính trị, trong đó có nhiều người cộng sản ngoại quốc mà sống ở Liên Xô hay vì bị truy đuổi phải tị nạn ở đó, ngoài ra còn cả những dân tộc thiểu số ở Liên Xô bị đưa vào trại lao động (Gulag) do có hành động chống Nhà nước Xô viết. Ngay cả những chủ điền hay những người bị xếp vào hạng này, các linh mục, thầy tu và con chiên cũng trở thành nạn nhân của các cuộc thanh trừng. Những người thân nhân cũng không được để yên thân. Rất thường là những người không dính líu gì đến chính trị cũng bị bắt, để cho đủ số người dự định, để làm đầy các trại tù và các trại lao động.

Ngay cả người dân của các vùng mà bị Hồng quân chiếm đóng, cũng trở thành nạn nhân như người Baltic, Ba Lan, Hungary, Romania, Đức như vụ thảm sát Katyn với sự đồng ý của Stalin trên 20 ngàn tù binh người Ba Lan đã bị hành quyết. Nhiều phạm nhân sau khi bị kết tội bị đưa vào trại Gulag, nơi mà họ với những điều kiện sống khắc nghiệt ở những vùng rừng núi xa xôi, phải phá rừng, làm đường, đào sống rạch, làm đường sắt, xây nhà cửa, những công việc ở hầm mỏ.  Điều kiện sống và làm việc rất thấp. Nhiều khi họ chỉ nhận được 300 gr bánh mì đen ẩm và một tô canh, vào mùa đông họ cũng chỉ được cho mặc quần áo mùa hè và phải sống trong các dãy nhà bằng gỗ. Mỗi ngày họ thường phải làm trên 12 tiếng. Có những phạm nhân bị tra tấn hoặc bị xử tử do vi phạm nội quy của trại hoặc tìm cách bỏ trốn.

Con số nạn nhân mà đã chết trong các cuộc thanh trừng, luôn gây nhiều tranh cãi. Trước đây các nhà sử gia chỉ có thể phỏng đoán, có ước tính cho rằng số nạn nhân chết là đến 60 triệu người weit auseinander, je nachdem, wer sie zählte und was als Säuberungen galt.

Từ khi chế độ Liên Xô sụp đổ, người ta có thể tính toán con số chính xác bằng cách truy tầm tài liệu từ các cơ quan lưu trữ. Theo đó khoảng 800.000 tù nhân dưới thời Stalin đã bị xử bắn, 1,7 triệu phạm nhân chết trong khi bị giam ở các trại Gulag, ngoài ra 389.000 người đã chết khi di chuyển sang nơi khác sống – tổng cộng khoảng 2,8 triệu người chết do mọi nguyên nhân.

Theo chủ tịch hội đồng quốc gia Áo Ts. Heinz Fischer, qua nhiều năm nghiên cứu tại văn khố Nga, trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, chỉ có Stalin thoát khỏi tòa án "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có bảy người còn tại chức, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa chết hoặc bị bắt giam.
  • 13 thành viên cũ của bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô:
Bubnov:là một trong 7 thành viên bộ chính trị năm 1918, bị bắt vào tháng 10 và trục xuất khỏi ủy ban trung ương đảng vào tháng 11 năm 1937, bị kết án tử hình ngày 1 tháng 8 năm 1938 và bị bắn chết cùng ngày. Bubnov được phục hồi nhân phẩm vào năm 1958.
Bukharin: từ 1917 thành viên ủy ban trung ương, từ 1917 đến 1929 chủ nhiệm báo Đảng Sự thật, từ 1920 thành viện bộ chính trị, 1929 bị trục xuất khỏi bộ chính trị vì chống lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin, 1937 bị bắt vì tội làm gián điệp và âm mưu lật đổ Stalin, 1938 bị tử hình.
Kamenev:từ 1917 đến 1926 thành viên ủy ban trung ương, và từ 1919 tới 1926 trong bộ chính trị, cùng với Sinowjew và Stalin lập thành bộ 3 cô lập Trotzky. Vì phản đối việc sùng bá lãnh tụ Stalin, bị mất ghế bộ chính trị và cuối năm 1927 bị đuổi ra khỏi đảng. 1936 bị bắt và bị xử tử.
Kossior: 1925-28 bí thư ủy ban trung ương, 1930-38 thành viên bộ chính trị, mặc dù là người thâm cận của Stalin, nhưng vì bị vu khống từ Kiev, vẫn bị xử tử năm 1938, 1956 được Chruschtschow phục hồi nhân phẩm.
Krestinski, Rudsutak, Rykow, Serebrjakow, Sokolnikow, Sinowjew, Tomski, Trotzki (bị ám sát ở Mexico), Tschubar và 3 ứng cử viên bộ chính trị (Eiche, JeschowPostyschew)
  • 98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban Trung ương do Đại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt giữ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937-38) (Trong diễn văn Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó)
  • Trên 15 người là thành viên của chính phủ, không kể những người đã nêu trên Radek, Yagoda, Jeschow, Krylenko, Rosenholz, Grinkow, Brjuchanow, Anatow, Meshlauk
  • 3 trong số 5 Nguyên soái Liên bang Xô viết đầu tiên: Tukhachevsky, Blyukher, Yegorow
  • 13 trong số 15 tướng Hồng quân
  • 16 ủy viên chính trị của quân đội
  • 25 trong số 28 giám thị quân đội
  • Tất cả các phó giám thị bộ quốc phòng
  • 98 trong số 108 thành viên hội đồng quân sự tối cao (Wikipedia) 
 Tại Trung Quốc, Mao cũng đã giết hại nhân dân và các đồng chí của ông.
Các nhà phê bình phương Tây cáo buộc Mao Trạch Đông là một nhà độc tài, người đã phá huỷ văn hoá truyền thống Trung Quốc và thi hành các chính sách vi phạm nhân quyền. Họ ước tính rằng trong giai đoạn lãnh đạo của Mao Trạch Đông, đã có khoảng 40 đến 70 triệu người chết (khoảng 6% dân số Trung Quốc thời bấy giờ), chủ yếu là trong nạn đói năm 1959–1961, con số này đã đưa giai đoạn Mao cầm quyền trở thành giai đoạn tỷ lệ tử vong hàng đầu trong lịch sử nhân loại.Kế hoạch tiếp theo mà Mao Trạch Đông ủng hộ là cuộc "Đại Cách mạng văn hóa vô sản" vào những năm 60 của thế kỷ 20.

Cũng có quan điểm cho rằng đây là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt thất bại. Được thi hành bởi những đội Hồng Vệ binh gồm toàn những thanh niên trẻ tuổi, thừa nhiệt huyết nhưng thiếu kinh nghiệm, cuộc Cách mạng văn hóa từ mục tiêu ban đầu là thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội đã biến thành quy chụp, tố cáo, chỉ trích, đấu tố, thanh trừng lẫn nhau trên toàn Trung Quốc.


Cuộc cách mạng này làm tê liệt các hoạt động kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa của Trung Quốc; phá vỡ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và khiến nhà nước không còn duy trì nổi trật tự xã hội; gây chia rẽ nghiêm trọng trong Đảng Cộng sản, trong bộ máy nhà nước và trong xã hội Trung Quốc; phá hủy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Trong thập niên 1980, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó là Hồ Diệu Bang đã nhận xét rằng khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã chịu đau khổ của thời kỳ này. Mao đã giết Bành Đưc Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ

Tại Việt Nam, trong việc tranh chấp của hai phe thạn Nga và thaân Trung quốc đã xảy ra nhiều cái chết bí ẩn của các tay Cộng sản gộc như những cái chết của: Lâm Đức Thụ, Dương Bạch Mai,  Nguyễn Chí Thanh, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, thượng tướng Đinh Đức Thiện…
Trong vụ án Xét lại hiện đại, Lê Duẩn, Lê  Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn đã giết , bỏ tù nhiều yếu nhân cộng sản.

Những nhân vật bị bắt: gồm những nhân vật lão thành trong đảng, nhiều vị tướng cùng một số những nhà nghiên cứu và nhà báo như: Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính bị bắt ngày 27-7-1967); Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh (bị bắt ngày 18-10-1967); Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội) đại tá Lê Trọng Nghĩa; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa; Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên; Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng; phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Kiến Giang; Giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh; Phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hà Nội Trần Minh Việt; phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết; phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân; Tổng thư kí toà báo Quân đội Nhân dân Trần Thư; nhà báo Vũ Thư Hiên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn...

Những nhân vật không bị bắt nhưng bị khai trừ đảng: Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm; thiếu tướng Đặng Kim Giang ;Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh; phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng. Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm về bản tuyên bố chung "thân Liên Xô" trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 1963 của Chủ tịch Tiệp Khắc Novotny và bị thay thế bởi Xuân Thủy.

Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308, Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn.

Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, một trong những lý thuyết gia của đảng, ông Hoàng Minh Chính được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị TW9. Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý  phân phát bài viết mang tựa đề "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng.
Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng muốn vĩnh viễn làm vua nên đã  diệt Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, Đinh Thế Huynh...

Tóm lại, dấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản là những bãi chiến trường  đầy máu chảy xương rơi , là quần đảo Goulag, là cách mạng vô văn hóa, là  thảm sát Thiên An môn, là đại họa CCRD và mậu thân, chứ không phải là thiên đường hạ giới.
Hỡi các nô lệ ở thế gian, hay đoàn kết để tiêu diệt cộng sản để mở ra một kỷ nguyên hoà bình, dân chủ và tự do cho nhân loại!

No comments: