Sunday, March 13, 2016

LÊ QUANG VINH * CHỊ CẢ

CHỊ CẢ

LÊ QUANG VINH

Vinh 
Bà Lê Thị Toán

CHỊ CẢ

Nhà báo Lê Quang Vinh 
          

QTXM: Ngày mai 30/1/Bính Thân (8/3/2016) – là 15 năm ngày Giỗ chị Cả Nhà báo Lê Quang Vinh – Bà Lê Thị Toán. Số phận bà chị này tội nghiệp lắm. Đội CCRĐ vận đông đấu tố mẹ, khùng lên chửi lại chúng; liền bị đánh cho vọt thai ra suýt chết. Qua hồi ức của hai người em trai: Đại tá Lê Phương và em út – Nhà báo Lê Quang Vinh, người chị gái là một phụ nữ nghèo khó, đảm đang thay chồng mọi việc gia đình vì anh rể đang thoát ly tham gia 2 cuộc kháng chiến đánh Pháp và Mỹ. Chị Cả một mình nuôi 6 đứa con và một mẹ già (bên chồng) trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt,
QTXM xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những ký ức rất đáng được chia sẻ đối với người chị Cả luôn vất vả với “một nắng, hai sương” này của Nhà báo Lê Quang Vinh. Tình cảm hai người em trai dành cho chị Cả thật da diết, cảm động.
            Bà Lê Thị Toán – tục danh là Chắt Ả – sinh tháng 10 năm Bính Dần (tháng 11/1926), tại tư gia ông bà ngoại là cụ Ngô Nhật Tuyên và cụ Lê Thị Liên, ở thôn Thượng Phường, làng Lộc Điền, tổng Phong, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ Lê Duy Tiếu (tục danh là “Chắt Tíu”), sinh năm Nhâm Dần (1902) – mất 26/10/năm Mậu Tý (26/11/1948), quê ở làng Hòa Ninh, tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình;  thân mẫu là cụ Ngô Thị Kiêm, sinh ngày 12/8/năm Bính Ngọ (29/9/1906) – mất ngày 18/9/năm Mậu Thìn (28/10/1988), quê ở thôn Thượng Phường, làng Lộc Điền, tổng Phong, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
      Vinh1
Chị Cả và em trai Lê Quang Vinh trước cổng nhà ông ngoại – Cụ Ngô Nhật Tuyên.

  Bà Lê Thị Toán là con gái đầu lòng trong gia đình người trưởng tộc họ Lê Duy làng Hòa Ninh – cụ Lê Duy Tiếu (ông nội là cụ Lê Duy Trinh, bà nội là cụ Đoàn Thị Diệp); là  thế hệ “chắt” trong đại gia đình ông bà ngoại là cụ Ngô Nhật Tuyên và cụ Lê Thị Liên – nên mới có tục danh là “Chắt Ả”. 

            (Cụ Ngô Nhật Tuyên với người vợ đầu là Cụ Nguyễn Thị Bẹn – tục danh là “Mệ Thí” – có người con đầu là Ngô Thị Nậy. Bà Ngô Thị Nậy sinh được 3 người con (2 trai và 1 gái). Người con trai thú 2 tên là Nhuyền, lớn hơn bà Lê Thị Toán 3-4 tuổi, là chắt thứ 2 của các cụ. Vào thời gian CCRĐ, người này đã đấu tố chính ông Ngoại của mình là cụ Ngô Nhật Tuyên vô cùng tàn nhẫn. Bà Lê Thị Toán là chắt thứ 4 của cả đại gia đình; nhưng lại là chắt đầu (Chắt Ả) của bên bà ngoại Lê Thị Liên).
             Tuổi ấu thơ và niên thiếu, bà Lê Thị Toán cùng mẹ và ba em ở quê ngoại; khoảng 13 – 14 tuổi, mới chuyển về sống bên quê nội là làng Hòa Ninh. Về Hòa Ninh, cuộc sống hoàn toàn đổi khác không như quê ngoại. Quê ngoại là chốn quê có cuộc sống dựa vào nghề buôn bán “trên bến dưới thuyền”; bởi thế con trẻ – nhất là ở gia đình khá giả, công việc thường ngày không quá thúc bách, vất vả như vùng “thuần nông”; sinh hoạt vật chất khá phong phú, ít kham khổ…Còn Hòa Ninh quê nội – vùng nông nghiệp pha nghề thủ công, cư dân vô cùng vất vả với bát cơm manh áo. Thế mà khi chuyển đổi cuộc sống, bà Lê Thị Toán cùng hai em gái là Lê Thị Hạnh Phúc và Lê Thị Chanh (em trai Lê Phương và em gái Lê Thị Châu còn quá nhỏ), không khó lắm đã hòa nhập ngay; để rồi cũng “thức khuya dậy sớm” phụ giúp cha mẹ công việc như con cái mọi nhà của quê nội Hòa Ninh. Các bà hiền thục, siêng năng, tảo tần cùng lớn lên trong ngôi nhà mới.
Tuổi thơ và tuổi thiếu niên của bà Lê Thị Toán – với vai trò là người con cả, người chị cả, bà đã cống hiến xuất sắc từ việc chăm bẵm đàn em tới mọi sinh hoạt trong nhà như xay lúa giã gạo, giặt giũ áo quần, bèo rau cám bã cho lợn gà và bao nhiêu công việc của vườn tược cũng như ngoài đồng áng. Ông Lê Phương – em trai bà – đã có những dòng văn thơ vô cùng cảm kích, trong đó ẩn chứa bao thông tin về đoạn đời vô cùng tươi đẹp của người chị gái mến yêu của mình: 
                       …. “Cho em hôn đôi bàn tay Chị
                         Ôi bàn tay “một nắng, hai hai sương” 
                         Bàng tay bồng bế đàn em nhỏ
                         Sài ăn sưng phồng Chị nhớ không?”…
  Cổ nhân có câu: “Thiên duyên giai ngẫu” (Duyên Trời đẹp đôi). Có lẽ thế nên khi bà Lê Thị Toán tới tuổi “cập kê”, không ngẫu nhiên chút nào, đã bén duyên cùng ông Đinh Duyệt – nó như là “tiền định” của “Duyên Trời”; cho nên mối duyên đầu này mới “đại hỷ tác thành” để nay được “sum suê cành nhánh”, đông đúc đàn con chau. 
Làm người vợ mà có chồng là cán bộ thoát ly tham gia hai cuộc kháng chiến và sau đó là hàng chục năm nuôi con một mình trong thời kỳ kinh tế “bao cấp” khốn đốn;  bản thân là xã viên của HTX nông nghiệp, làm gạch ngói vô cùng nặng nhọc mà gần như không có thu nhập…thế nhưng bà Lê Thị Toán đã gáng vác trọn vẹn việc nhà; đảm đang thay chồng nuôi đàn con trong vô vàn thiếu thốn, trong vô vàn những ngặt nghèo của đồng tiền lương và trợ cấp ít ỏi của chồng chỉ đủ cho rau dưa khoai sắn; nên có khi đứt bữa, có khi bạc hồn bởi bệnh tật rình rập và đã bao phen quật ngã bà thành trọng bệnh như ho lao, tràng nhạc (lao hạch)…
                   ..“Dành trọn tình thương cho chồng con,
              Bao phen đói kém bạc vìa hồn;
              Bốn mùa chân lấm, tay không nghỉ
              Một đàn con nhỏ quấn bên hông”…
Ông bà Đinh Duyệt – Lê Thị Toán, có cả thảy 6 người con – nhưng vô cùng thương tiếc, người con thứ hai là Đinh Thị Minh, mất khi mới 3 tuổi – còn lại 5 người, gồm hai trai là: Đinh Công Bình, Đinh Quang Thái; ba gái là: Đinh Thị Thảo, Đinh Lê Vịnh, Đinh Thị Vân Đào, họ luôn là những người con hiếu thảo, thương yêu cha mẹ, anh em hòa thuận đùm bọc nhau lúc còn nhỏ cũng như khi đã trưởng thành. Đó chính là công đức giáo dưỡng của ông bà có thể ví như “núi Thái sơn cao vòi vọi, biển Đông trập trùng”; dĩ nhiên phần vất vả trực tiếp là thuộc về người mẹ. Thế nhưng, suốt cả cuộc đời gian lao khổ cực, Bà Lê Thị Toán đã luôn vượt lên tất cả để dành trọn vẹn mọi yêu thương cho chồng con.
           Bà Lê Thị Toán là người con gái chí hiếu của cha mẹ. Cụ thân mẫu Ngô Thị Kiêm lúc sinh thời, đã luôn dành cho con gái biết bao tình cảm vô cùng điển hình của “tình thâm mẫu tử”. Hiểu thấu tình cảng của con, cụ thường xuyên san sẻ cho con gái từng lon gạo, bát canh đến đồng quà tấm bánh cho các cháu.
Thời gian sau “cải cách ruộng đất” cho tới khoảng năm 1966, cứ mỗi buổi chiều đi chợ Trường, mẹ mua sắm thức gì thường sẻ chia cho con thứ ấy. Mẹ thì rán ram, bánh rán, có thời gian bán bánh “rò” (tiếng địa phương – bánh chưng nhỏ) rồi nấu cả cháo canh…; con gái ngồi phụ giúp mẹ, cùng nếm trải bao vất vả buồn vui của chợ quê. Cứ như vậy, các cháu ngoại của cụ Ngô Thị Kiêm thường xuyên được bà “chi viện” rau dưa, cá mú. Hễ hôm nào mà cụ nấu món ngon ngon, thì dứt khoát dì hoặc cậu cũng phải vượt sông (có đò thì đi đò, không có đò thì lội sông) để mang sang cho chị gái và các cháu.
Tình cảm hai mẹ con vốn rất hợp nhau, trọn vẹn cho tận cuối đời cụ thân mẫu, khi cụ đi đi về về Hà Nội – Quảng Bình. Ở Quảng Bình thì nhà con gái là nhà của cụ.
Đối với các em, bà Lê Thị Toán luôn là người chị hiền thảo, được các em vô cùng yêu thương, kính trọng. Chúng ta rất dễ dàng nhận rõ điều này qua những dòng viết (thơ và hồi ký) của người em trai vô cùng yêu dấu của bà – Đại tá Lê Phương: 
               “Em thương chị cả đời lam lũ­
               Chẳng có khi nào được thảnh thơi
               Dù đói no, nghĩa tình chung thủy
               Chị của em như ngọc sáng ngờ”
          “Tôi kính yêu cha mẹ, những người đã sinh ra tôi. Tôi yêu mến hai người chị thân thương và những đứa em đang sống bên lòng mẹ.
Những năm tháng liền kề trước và sau Cách mạng Tháng 8, những ngày đất nước còn hòa bình, hạnh phúc; trong đám hoa khôi cùng làng, hai chị gái tôi, chị Lê Thị Toán và chị Lê Thị Hạnh Phúc, luôn được cái “may mắn” người làng xếp vào hạng nhất nhì. Những lời ưu ái, bình phẩm vô tư đó, không hiểu có làm cho hai chị tôi phải “hỏi mình” trong gương không? Nhưng tâm lý mà xét, với các cô thiếu nữ đang độ xuân xanh như hai chị, những lời khen chê cũng làm cho tâm hồn các chị vui sướng lâng lâng hay âm thầm đau khổ.
Người chị cả giống tính cha nhiều hơn và chị thứ hai giống tính mẹ. Cũng như tôi, hai chị gái thuở nhỏ được nuông chiều của quê ngoại. Thế nhưng khi về Hoà Ninh thì đã chớm lớn khôn; nên như bao cô gái Hoà Ninh khác, các chị cũng phải “thức khuya dậy sớm” để đỡ đần cha mẹ.
Vốn có “nhan sắc” cộng với tính nết hiền lành, công việc siêng năng, đã làm cho hai chị nức tiếng tăm. Mẹ thường nhắc lại, lúc còn sống bên mẹ, hai chị rất hoà thuận và thương yêu nhau. Chị ngã em nâng, em nhường chị, chị yêu em, không bao giờ cãi lộn nhau.
 Hai chị gái vào ngữ 15 – 18 tuổi,  trai “trong làng ngoài xứ” thật nhiều “nơi” ngấp nghé. Rồi trong một chuyến đò dọc, sau khi đi chợ phiên Ba Đồn về Hoà Ninh, một chàng trai đất Vĩnh Lộc cùng đi chuyến đò ấy, đã bị “hút hồn”. Đó là cuộc gặp gỡ đầu tiên của cuộc tình duyên sau này của chị cả.
Và một chàng trai hàng xóm sau bao năm bôn ba trở về làng đã thành người anh rể thứ 2 của tôi trong lúc chị hai chưa hiểu trọn nghĩa chữ “yêu đương”.
Tôi cũng luôn tìm thấy ở hai người chị nhiều đức tính của mẹ tôi, đó là tình thương anh chị em và lòng chân thật. Không như một số cô gái Hoà Ninh con nhà giàu khác thường hay ẻo lả, đanh đá chanh chua; hai chị tôi có một vẻ thùy mỵ, nết na, chân chất của những cô gái làng, khiến ai ai cũng thường khen. Lấy ngay trong dòng họ mà so sánh; thuở nhỏ nếu những người con của họ (o tôi) mồm mép liến thoắng, tinh ranh thì trái lại, hai chị tôi quá thật thà, nếu như không muốn nói là “khờ dại”!
Lúc nhỏ, hai chị cùng học với nhau một lớp. Hằng ngày, sau khi dọn dẹp việc nhà cửa xong xuôi, phải có tiếng kẻng vào lớp thì hai chị mới tất tả cắp sách chạy bộ đến trường. Chị cả không thích đi học nên bỏ dở lớp ba thời Pháp thuộc. Trái lại, chị hai ham học nên rất chuyên cần; vì thế học khá giỏi – nhất là môn Pháp ngữ. Đó cũng là một thiệt thòi cho chị cả, sau này bước vào đời, chị đã vô cùng cực khổ do “văn hóa thấp”.
Hai chị tôi giống nhau mà cũng khác nhau. Nếu chị hai hiền từ và dịu dàng (lúc nhỏ, đôi khi mẹ mắng yêu là “mảnh khảnh như người không ăn”), thì chị đầu mạnh bạo, “ăn to nói lớn”.
         Hai chị bước vào đời cũng khác nhau. Lấy chồng thì phải theo chồng, đẻ con và nuôi con. Trong luỹ tre làng, với mảnh ruộng con bò, chân  lấm tay bùn; từ người con gái chưa bao giờ cày cuốc, chị cả đã thực thụ thành một người nông dân. Chồng đi công tác, một mình sống nuôi con với những đường bờ của mảnh ruộng nhỏ hẹp. Cuộc sống bình thường phẳng lặng, trông vào giọt mồ hôi đổ xuống cánh đồng, ngày qua tháng lại với đường cày để ra lúa, đậu, ngô khoai; con gà, con lợn…Dưới nách 3 con dại (thời điểm 1956), ràng buộc vì con cái bếp núc, đó cũng là một khó khăn để tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài, ít được học tập, tầm mắt còn hạn chế trong luỹ tre…
Chị tôi còn mang nặng đầu óc bảo thủ. Đó cũng là một khó khăn trong phong trào “Cải tạo nông thôn xây dựng cuộc sông mới” hiện nay, của cái gia đình bé nhỏ của anh tôi (chị vào HTX nông nghiệp khá muộn, đợt cuối cùng).
Anh chị em chúng tôi đã khuyên bảo nhiều lần nhưng đầu óc chị còn quá nặng nề, tiếp thu “tư tưởng mới” còn vất vả. Anh rể tôi dự định “điều” chị vào cơ quan – chỗ công tác – để mở một lớp “huấn luyện đoản kỳ” để dạy vỡ toang cái màng “bong bóng nước” đó trong đầu chị.
Trong sai lầm của “Cải cách ruộng đất”, chị tôi cũng bị quy sai là “phú nông có liên quan với địa chủ” (mẹ đẻ, ông ngoại, bà nội đều bị quy “địa chủ” tất) – Cũng một thời đảo điên, là một người “bảo thủ nặng”, nên thù mang nặng oán ghi sâu, chưa xoá hết.
          Nói đến chị cả, không thể không nói đến người anh rể mà lòng tôi kính mến, trọng vọng từ ngày đầu. Tôi luôn tin anh là một người chân thật và tốt.
Nếu trong tình chị em của một số người luôn bị vẩn đen vì sự tính toán thiệt hơn, có khi còn vụ lợi; thì giữa chị em chúng tôi, lúc nào cũng thành thật thương yêu, nổi lòng luôn cởi mở. Tôi mong rằng những đứa em của tôi sau này lớn lên cũng như chúng tôi. Và chúng tôi, những người anh người chị, sẽ giữ mãi mối tình ruột thịt đằm thắm đó, không để một chút bụi đời hoen ố tình cảm của mình.
Tôi yêu quý hai người chị gái thân thương; yêu người anh rể rất thương vợ, thương con – Người đã mở cho đầu óc tôi những nhận thức đầu tiên về Cách mạng, về Đảng.
Tôi nhớ mãi câu dặn dò của anh tôi trong một bức thư gửi cho tôi năm 1945 –  lúc tôi đang học ở Vinh. Trong buổi đầu tiên xa nhà, nhớ gia đình, tôi buồn và đã khóc… Anh viết: “Em đã là “cháu Bác Hồ” thì không nên buồn vì nhớ nhà; nếu có buồn thì buồn vì máu đồng bào ta đã chảy ở Nam Bộ bởi bọn Thực dân tàn ác”.
Và cũng người anh đó – anh Đinh Duyệt – những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, trong căn nhà của dì họ tôi ở Tuyên Hoá (dì Cửu Nhạn), hai anh em nằm bên nhau, anh đã nói cho tôi nghe nhiều điều về cuộc sống, về lý tưởng và nghĩa vụ của người thanh niên trong thời đại mới…
Tôi yêu mến đứa em gái – con nuôi của gia đình mà được xếp thứ bậc sau tôi – em Chanh. Chanh là giọt máu của dòng họ Ngô, con một người cha lưu lac (ông là anh họ của mẹ, tên là cụ (cậu) Đái Ưu, vì đói khổ, vợ lại chết sớm, phải dắt díu người con trai cả lang bạt sang Lào – sau là Thái Lan – tìm kế sinh nhai). Do quá nhỏ, bị bỏ lại ở quê, Chanh phải đi ở nhà người và không sống nổi với họ; mẹ tôi quá thương tình, đã đưa về nuôi từ lúc thơ dại. Mẹ tôi và chúng tôi vẫn luôn coi Chanh thực sự là đứa con, đứa em ruột thịt trong gia đình, không hề phân biệt “con nuôi” hay “con đẻ”. Với tấm lòng nhân hậu và tầm nhìn xa trông rộng, Mẹ đã chọn người để “tác thành” nên vợ nên chồng cho Chanh. 
Ngày cải cách ruộng đất, Chanh được xếp là đối tượng “cố nông”, được cốt cán huấn luyện thành nhân tố chính, cơ bản để đấu tố tội trạng “bóc lột” của mẹ đang bị quy “địa chủ”. Thế nhưng khi được gọi lên để đấu tố, Chanh đã ôm lấy mự (mẹ) mà khóc; nói rõ trước “tòa án nhân dân”: “Mự tôi luôn thương yêu tôi! Tôi luôn được đối xử tử tế không khác con đẻ trong nhà, ăn uống no đủ; làm việc như mọi đứa con khác…”. Chanh khóc gào lên và ngay lập tức bị đội cải cách đuổi ra ngoài. Người em gái đó đã gắn liền với gia đình tôi từ lúc còn nhỏ và hiện nay tình cảm vẫn như xưa…
          Tôi yêu thương những đứa em của tôi hiện trong cuộc sống còn chật vật, tuổi thơ ấu đã chịu đựng nhiều đắng cay. Chúng tôi – những người anh, người chị đã và đang cố gắng giảm một phần gánh nặng của mẹ, cho các em được học hành như các em nhỏ khác”.
                                                                    Lê Phương
                                           (Rút trong tập hồi ký “Những tiếng lòng của tuổi xuân”  
                                                          Viết xong ngày 27/7/1959) 
Hôm nay, chúng ta quần tụ về đây trên quê hương, mừng phúc lớn của đại gia đình: ông Đinh Duyệt bước sang tuổi 90. Chúng ta tin rằng, bà Lê Thị Toán cũng như đang hiện diện cùng chúng ta; đang phù hộ cho chồng luôn vui khỏe, an lành để tiếp tục sống trường thọ, trường trường thọ!
Cầu mong bà linh thiêng, nơi suối vàng luôn an lạc để các cậu dì, chồng, các em, con cháu mãn nguyện bởi lòng nhớ thương!
Cầu mong Bà phù hộ độ trì cho tất cả đại gia đình ta luôn được sức khỏe dồi dào, an lành mọi việc!
                                                 Hà Nội, 21 giờ 48’, ngày 14 – 7 – 2009
                                           Em trai út của chị cả thương cảm vô cùng
                                                                  Lê Quang Vinh

MỜI CÁC BẠN ĐỌC BÀI THƠ CẢM ĐỘNG CỦA CỐ ĐẠI TÁ LÊ PHƯƠNG TẶNG CHỊ GÁI

CHỊ !

Lê Phương        
Tặng chị Toán kính yêu
Ngày 4/3/1973, khi em đang nằm ở Quân y viện 108 – một sự bất ngờ: Mự, chị, cùng các em Liệu, Cấu, Lài đến thăm. Đã gần 5 tháng nay nằm bệnh viện, vì sơ tán, nên hôm nay mới gặp Mự – Người mẹ già nua, bệnh tật ấy rất thương con thương cháu; và chị Toán, ôi người chị cả mà cả cuộc đời vất vả – Ngưòi chị mà cả cuộc đời hi sinh vì chồng vì con – Người chị mà thời con gái cũng vào loại xinh đẹp bậc nhất ở Hoà Ninh – Người chị đã hy sinh, chịu thiệt thòi nhiều nhất để phần sung sướng cho các em; đã thay Mự bón cháo, mem cơm cho đàn em; đã phải bỏ học để ở nhà bế các em Liệu, Lài; bị sài của các em lây sang ăn sưng phồng cả hai bàn tay rất đau đớn.
Hai cuộc chiến tranh, chị vẫn lặn lộn với đồng ruộng quê nhà. Từ năm 1964, hôm nay em mới gặp lại chị. Trong 6 chị em, chị là nguời vất vả nhất vì đông con, trình độ có hạn. Gặp chị, là em khóc – và chị cũng khóc vì thưong xót đứa em đau ốm. Lòng tôi quặn đau khi thấy chị già yếu đi nhiều quá. Chị có một đứa con đầu (Cu Bình) đang chiến đấu ở Campuchia. Với sự xúc động và thương nhớ khi chị giã từ để về lại quê hương, em làm mấy vần thơ về chị.
Chị đến thăm em một buổi chiều,
Em buồn mây gió cũng hiu hiu
Chị ơi! Sáu năm trong đất lửa,
Gặp em sao lệ ứa ngậm ngùi…
Chín năm rồi nhỉ, ít gì đâu?
Hai chị em mình chẳng gặp nhau;
Bom đạn ngăn chia tình rụôt thịt,
Lòng em trăn trở tháng ngày đau.
Ôi chao! Chị đã thế này sao?
Tóc bạc, thân gầy, má xanh xao;
Còn đâu bóng dáng ngày xưa ấy,
Nón trắng quai thao, áo lụa đào…?
Phiên chợ Ba Đồn ai đã thấy,
Cô gái Hoà Ninh bán cúi bông.
Cúi trắng như lòng trong trắng ấy,
Một miếng trầu tươi má ửng hồng…
Cũng là con của mẹ cha sinh,
Mà sao đời chị lắm gian truân
Bốn mùa chân lấm, tay không nghỉ,
Một đàn con nhỏ quấn quanh mình…
Gặp chị như thấy cả quê hương,
Mảnh đất chôn rau – đất kiên cường,
Sáu năm bom Mỹ ngày đêm giội,
Mỗi người dân hoá một anh hùng.
Cho em hôn đôi bàn tay Chị
Ôi bàn tay “một nắng, hai hai sương”
Bàng tay bồng bế đàn em nhỏ
Sài ăn sưng phồng Chị nhớ không?
Dành trọn tình thương cho chúng em
Trăm năm tạc dạ chẳng hề quên
Nhớ khi măng sữa trên tay chị
Bón cháo, mem cơm… thay mẹ hiền.
Em thương chị một đời lam lũ,
Chẳng có khi nào được thảnh thơi
Dù đói no, nghĩa tình chung thủy,
Chị của em như ngọc sáng ngời*.
Chị về mang hộ đứa em xa
Ơn sâu, nghĩa nặng gửi quê nhà
Đất mẹ nuôi em từ thơ ấu
Mỗi làng, mỗi xóm một bài ca…
Quân y viện 108, một chiều năm 1973
Em chép tặng Chị để khi nhớ chúng em, Chị đọc cho đỡ nhớ.
Lê Phương  

No comments: