Saturday, February 13, 2016

SƠN TRUNG *NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NGƯỜI TÙ MIỀN NAM

 



NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NGƯỜI TÙ MIỀN NAM

Sơn Trung



Cộng sản rất vui mừng khi chiếm miền Nam. Trong nhân dân, có hai loại: Một loại căm thù  "Mỹ Ngụy, " một hạng thương xót kẻ bại trận. Thật ra, chỉ một số it vì nghe cộng sản tuyên truyền, một số bởi bản tính gian manh muốn biểu diễn tinh thần căm thù quân giặc, muốn moi gan xé xác quân thù.. Đó là trường hơp Tô Hoài. Trần Đĩnh kể lại trong " Đèn Cù" khi ông cùng Tô Hoài đứng bên đường nói chuyện:


“Khoảng hai trăm tù binh phi công Mỹ xếp hàng đầy hết lòng đường đi tới. Quần áo bà ba mầu xám khói nhạt. Tôi giật mình: tất cả đoàn người bị trói kia sao quá giống hệt nhau? Ở chiều cao, ở khổ người, ở dáng đi, ở nét mặt, ở tư thế và thần thái. Lầm lũi ngửng đầu nhìn thẳng vào cái không gian bao quanh đằng đằng sát khí và tiếng la ó. Thoáng rất nhanh tôi ngỡ xem một tập quần tượng đài di động được một đạo diễn tài ba điều khiển. Nhà đạo diễn đó là ý thức về giá trị tự thân. Và rất nhanh lại nghĩ ai đó đã dựng nên tập thể điêu khắc này để đối lại tượng đài Nạn nhân các trại tập trung Quốc xã.

Dân hai bên đường hò hét, đánh đấm, ném đá. Những cái đầu tù binh quay ngoắt tránh đá, tránh đấm rất nhanh. Những con mắt không một lúc nào cầu van, nao núng…

Ba chúng tôi đứng lặng trên hè. Tương quan sức mạnh quá chênh nhau tự nhiên làm se lòng. Đoàn tù binh đã đến đoạn cuối, chợt Tô Hoài nhào xuống đường, nhảy vội lên đấm một cái trượt vào mặt một người tù binh đi ở ngoài cùng.

Anh trở lại, tôi hỏi khẽ: – Đánh người ta làm gì?

Xung quanh căm thù như thế chả lẽ ba đứa mình đứng yên? – Tô Hoài che miệng tủm tỉm cười.”

( Đèn Cù. Chương 26) )



Một số bị bắt buộc phải diễn màn kịch khủng bố tinh thần các sĩ quan Cộng Hòa. Hạng này bao gồm đàn bà, trẻ con được tổ chức đứng sẵng sàng trên các tuyến đường có tù nhân đi qua để ném đá và chửi mắng.
Sau đây là những sự thật được các sĩ quan Cộng Hòa thuật lại trong các hồi ký của họ.



A. KHỦNG BỐ TÙ NHÂN

Ở đây tôi dùng tù nhân là chỉ chung các, sĩ quan, các cấp,linh mục, hòa thượng và văn nghệ sĩ cũng như thường dân khác.


I. LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ



Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã xuất bản tập hồi ký tù ngục "Tôi Phải Sống" xuất bản năm 2013. Sách có 12 phần, 50 chương, dày 306 trang.

LM nói đến việc CS huy động trẻ con ném đá tù nhân:

Thình lình, đá sỏi từ hai bên đường bay lên xe như mưa! Tôi vội vàng dùng tay tự do còn lại che mặt trước cơn “mưa đá” trái mùa này. Bằng mọi giá tôi phải bảo vệ đôi mắt vì nhỡ có hòn sỏi vô tình nào bay đúng vào kính đeo mắt tôi thì khốn nạn, có thể mù mắt như chơi. Anh em tù nhân trên xe cũng vội vàng lo chống đỡ theo phản ứng tự nhiên. Trong cơn hỗn loạn bất ngờ đó, tôi nghe loáng thoáng tiếng trẻ con la hét từ bên vệ đường: “ĐM chúng mày, lũ ngụy, lũ uống máu ăn gan người!” Tiếng chửi bới này càng lúc càng nhiều và to hơn. Một giọng nói khác, tiếng của cán bộ, vang lên trong xe:“Các anh thấy chưa? Nếu đảng không đưa các anh vào đây để bảo vệ các anh thì nhân dân đã giết chết các anh!” Lúc xe chạy ra khỏi vùng bão tố, tôi mới biết có vài anh tù trên xe bị thương nhẹ. Riêng tôi bị hòn đá ném đúng vào đầu u lên một cục khá to. Tôi cảm thấy đau, nhưng đau cho thân thể tôi thì ít mà đau cho số phận dân tộc tôi thì nhiều. Đoàn xe chạy trong đêm trên đoạn đường khá dài ( 82)


II. NGUYỄN HUY HÙNG

Ông sanh vào ngày 17-3-1929 tại Thị xã Lạng Sơn, Ðại tá Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị QLVNCH, kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến. 1975, Tù nhân chính trị 13 năm (từ sau 30 tháng 4 năm 1975 cho tới 13 tháng 2 năm 1988). Tháng 8 năm 1992, định cư tỵ nạn Cộng sản tại Liên Bang Hoa Kỳ.


HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM xuất bản lần thứ nhất năm 2004, tại Hoa Kỳ, gồm 742 trang, 39 đọan, Bản E Book của Geocities chia thành 36 chương

Một số dân miền Bắc ghét người quốc gia vì họ bị Việt Cộng tuyên truyền, nhồi sọ, một số bị Việt Cộng tổ chức đi đả đảo và ném đá.

Khi anh em Tù đi ngang, một bà già tiến ra sát bờ rào, xua chó sủa đuổi người lạ, và lớn tiếng chửi : “-Tiên sư cha chúng bay, loài qủy uống máu, ăn gan người. Sao chúng bay không chết bầm chết dập đi, mà còn vác mặt đến đây ăn hại cơm của nhân dân?” (Chương XI,122)

Trong khi người lớn đi lao động, mấy đứa trẻ trên dưới 10 tuổi, áo quần rách rưới, lem luốc bẩn thỉu, mắt mũi đầy ghèn, đùa giỡn bên lề đường, trước sân nhà ăn. Khi đi ngang, trong số anh em Tù chúng tôi có người lên tiếng thân thiện hỏi : “-Các cháu không đi học à ?” Lập tức có em lớn hơn cả trả lời ngay, không cần suy nghĩ :

“-Ông nội của chúng mày, chớ cháu chắt gì, đồ ngụy bán nướ
c.”( ChươngXVI, 182)
Cảnh vệ mắng chửi người tù (Ch.XXII, 280)


Mặt trời miền Trung bắt đầu xuống thấp, đoàn xe chúng tôi băng qua cầu Hàm Rồng trên sông Mã, qua Thị xã Thanh Hoá, tới khoảng giữa đồng không mông quạnh nơi ngoại ô, dừng lại bên phiá Trái đường, chẳng biết để làm gì. Tù không được xuống xe.

Chừng mươi phút sau, có một đoàn người độ hơn chục đứa trẻ nít cả trai lẫn gái, do một bà tuổi chạc trên dưới 30, chắc là Cô giáo, dẫn giắt di chuyển về hướng Thị xã. Tới ngang chỗ đoàn xe chúng tôi đang đậu, bầy trẻ nhỏ dừng lại nhìn ngó, chỉ chỉ trỏ trỏ. Một lúc sau có thêm mấy người đàn ông đứng tuổi, người vác cuốc, kẻ cằm đòn xóc đi tới, ngừng lại nói chuyện với người đàn bà. Thế rồi tự nhiên thấy người đàn bà bắt đầu xỉa xói vào chúng tôi, cất tiếng chửi rủa những câu rất tục tỉu. “Chém cha đẻ mẹ chúng bay, khi không sao lại pháo kích, xâm lấn đất đai của Nhân dân Việt Nam anh hùng của bà? Chúng bay mà rơi vào tay bà, thì bà phanh thây xé xác chúng bay ra.”... Rồi bà ta xúi giục bọn trẻ ném đá vào xe chúng tôi. Mấy người đàn ông cũng hung hăng xấn đến sát xe, dơ đòn gánh và cuốc tính đập vào dẫy cửa kính, nơi chúng tôi đang ngồi. Cán bộ Công an áp giải phải chạy ra can thiệp. Họ giải thích với nhau những gì, chúng tôi không nghe được, vì cửa kính đã phải đóng kín từ lúc bọn họ ném đá.

Mọi việc êm xuôi, Cán bộ bước lên xe giải thích : “-Họ thấy các anh mặc áo bông và đội mũ bông bịt tai chống lạnh của Quân đội Tầu, tưởng là tù binh Trung Hoa bị bắt tại các trận vùng biên giới giải vào, mới làm giữ như vậy.” Thật là phiền, những áo bông và mũ lạnh chúng tôi đang mặc, do Liên Trại 1 tại xã Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, phát cho từ hồi đầu năm 1977, đã kể rõ trong một đoạn trước.
(Ch.XXV, 336)

Việc này được Thượng tọa Thich Thanh Long giải thích: Xe đi qua cầu Hàm Rồng thì một hòn đá từ đâu liệng trúng vào tấm kiếng sát chỗ cụ ngồi.

Cụ hỏi tôi:
- Ông có biết tại sao họ ném đá vào xe mình không?
Tôi đoán chừng:
- Tôi chắc là đồng bào được nghe cán bộ tuyên truyền là sĩ quan “ngụy” ăn thịt người, nên xui họ tỏ thái độ...
Cụ Thanh Long vẫn cười, nhưng đầu cụ lắc lắc:
- Lần này ông... sai rồi! Đó là những năm trước khi chúng mình mới ra Bắc. Bây giờ thì đồng bào hiểu rồi.

- Vậy lần này...
Cụ chậm rãi:
- Lần này đồng bào bị lừa!
Tôi trố mắt:
- Đại sư nói đồng bào bị lừa?
Cụ gật gù:
- Lúc xe dừng lại bên này cầu Long Biên. Tôi được một anh tài xế xe Ba Đình cho hay trước, là anh ta nghe “chèo” nói với nhau lần này rỉ tai đồng bào dàn chào xe chở bọn tù binh “bành trướng Trung Quốc” mà “ta” bắt được trong trận chiến trên sáu tỉnh biên giới phía Bắc vừa qua. Tuyên truyền như vậy mới khích động căm thù trong dân chúng, vì Thanh Hóa cũng như các tỉnh, đều có bộ đội, dân công hy sinh trong những ngày Tầu “vượt biên”... xâm lược !


Tôi nói thêm:
- Và cũng để chúng ta hiểu lầm đồng bào còn căm thù mình... Tin tức nóng hổi như vậy mà Đại Sư cũng có sớm. Cụ thiệt thần thông quảng đại !
Cụ lại cười:
- Thần thông gì đâu? Có duyên may nên được biết, nên cũng... thông cảm với đồng bào.

( HOÀNG NGỌC LIÊN * NHÀ SƯ CỦA TÔI)



B. THƯƠNG XÓT TÙ NHÂN



III TRẦN TRI VŨ


Trần Tri Vũ trong Những Năm Mất Trắng (Tác phẩm này dịch Anh Văn, do Institute of East Asian Studies, California, ấn hành 1989, bản Việt văn do Nam Á Sud- Asia Paris, ấn hành năm 1991. Bản Việt ngữ gồm 2 tập, dày 537) đã cho chúng ta thấy những sự thật.


Tác giả cho thấy sự dối trá của cộng sản. Bọn cán bộ nói rằng họ phải giữ tù trong trại vì sợ thả ra là bị dân chúng căm thù mà trừng phạt họ:

Các anh mà về bây giờ là không được đâu. Nhân dân sẽ không để các anh yên đâu (61). Tại đây, một số tù nhân được lính dẫn ra ngoài rừng hái củi. Họ qua chợ búa, xóm làng, tiếp xúc với dân chúng. Nhưng khi ra chợ, đồng bào đối xử với họ rất tốt, bởi vì họ là người miền Nam, bản chất bác ái và nhân đạo. Trần Tri Vũ đã chiếu một vài đoạn phim rất cảm động:


Dân mới đầu thấy tụi tui thì đứng nhìn có vẻ tội nghiệp lắm. Có bà già đứng lề đường thấy tụi tui đi qua chạy xáp tới, tay cầm nải chuối bẻ từng trái phát cho chúng tôi, miệng thì nói với bộ đội đi cạnh: -Chắc các thầy cũng không nở cấm tôi cho họ vài trái chuối này mà! Tên bộ đội gần nhất như bị bỡ ngỡ, đành chạy lại lôi bà già ra xa và quát -Tất cả các anh phải trả lại hết không được lấy khi chưa có lệnh. Tụi tôi đành ném lại chuối ra lề đường vì ngại khi về bị phạt. Bà cụ giận lắm, nói lớn để mọi người nghe: -Bộ đội gì mà ác quá vậy? Bộ cụ Hồ dạy các anh như vậy sao? Đồng bào ruột thịt mà đói với nhau còn hơn thực dân nữa à? ( 62-63).


Cán bộ về báo cáo việc trên, lần sau họ cho tù cử người vào mua hàng. Trần Tri Vũ thuật lại việc ông đi mua hàng: Tôi tiến tới một tiệm chạp phô hỏi mua đường. Bà bán đường khônmg trả lời giá cả tôi hỏi mà hỏi lại tôi: -Thầy là tù cải tạo hả? Tôi không đáp mà chỉ gật đầu. Vẫn phải giữ ý vì bộ đội đi sát cạnh tôi. Tôi chìa ra hai trăm đồng và nói: -Bà làm ơn bán cho tôi thứ đường nào rẻ nhất. Bà bán đường vội đưa cho tôi hai gói đường tán đã gói sẵn và nói: ''Thôi, tôi tính rẻ đó. Mà không có gì đựng sao?''. Nói rồi bà ấy chạy vào trong nhà lấy ra một cái túi nhựa đã cũ, bỏ hai gói đường vào rồi đưa cho tôi, và quay sang và nói với tên bộ đội:-Cám ơn anh cho họ mua bán. Người Việt với nhau cả mà. Bây giờ hòa bình rồi rồi thì phải thương nhau chứ ai lại ác với nhau lảm chi. . . . Khi tới chỗ bán thịt, thì chỉ có hai sạp. Một của bà cụ già, một của một cô gái, má đỏ au và mập mạp. Tôi giữ ý tới hỏi bà già: - Bà làm ơn bán cho tôi 500 đồng thịt heo vừa nạc vừa mỡ. Thứ nào đừng đắt quá. Bà già cầm dao và chọn miếng thịt có vẻ đã ôi vì hơi ngã màu nâu.Bà để lên cân và cắt lại một miếng chắc vì dư cân. Nhưng cô bán thịt bên cạnh nói với sang:- Ông ấy tù cäi tåo đó má bán sao thì bán! Bà già ngước mắt nhìn tôi rồi phá lên cười: -Trời đất ơi! Mắt tôi rõ thật. . . tôi lại cứ tưởng ông này là dân đồn điền chứ! Trời ơi, tù cải tạo hả? Thôi mua với bán gì!


Nói rồi bà quơ một cáo bao bố nhỏ loại đựng cát để làm công sự chiến đấu, nhặt bỏ hết chỗ thịt đang cân, rồi gạt nguyên cả phần thịt bày trên sạp vào bao, kiếm dây cột lại. Cô gái cầm sơi dây chạy tới gói hộ bà già. Tôi đứng nhìn thấy sao cô gái này dễ thương thế . Có thể cô ấy không đẹp lắm nhưng mà duyên dáng mặn mà vô cùng. Chưa bao giờ tôi đi chợ mà lại vui mừng đến mức độ đó (64- 65)

Tiếp theo, tác giả cho ta một đoạn phim cảm động khác. Vì dân cải tạo thường vào rừng hái củi nên các bàk ể từ đó mỗi lần đi vác củi là lại được mua bán chút đỉnh. Đặc biệt là khi vào rừng cao su thì đã có nhiều bà, cô gánh quà núp chờ trong đó để bán cho tụi tôi. Nhiều người không có tiền mà họ cứ bán ủng hộ. Nhân dịp này, nhiều người đã nhắn tin về được tới nhà. Có bà còn từ Sài Gòn lên chờ cả tuần lễ để nhìn thấy mặt chồng. Anh chàng Quý, trước làm ở nha Kế toán gì đó, khi nhìn thấy vợ cắp chiếc rổ như người bán chuối luộc đã không nhận ra. Khi vợ gọi tên khẽ thì anh ta mới nhận ra và anh ta ú ớ được vài tiếng rồi xỉu luôn. Chúng tôi xúm nhau lại. Cả bộ đội cũng chạy tới. Chúng tôi nói:-Báo cáo anh này trúng gió. Bộ đội hỏi: -Có anh nào biết cấp cứu không? Chưa ai trả lời thì bà vợ nói:-Để tôi cạo gió cho, tôi có dầu cù là mang theo nè! Thế rồi bộ đội đứng canh. Họ rất ngạc nhiên khi thấy người thiếu phụ vừa cạo gió dùm anh tù cải tạo vừa khóc. Một hồi sau, anh Quý tỉnh. Khi biết có vợ ở bên cạnh, anh cũng òa khóc.. . Anh em nhắc khéo: Khóc lóc cái gì. May mà có bà này bà ấy có dầu và cạo gió cho. . không thì hết thấy mặt vợ con rồi! (66).


IV .VĨNH HẢO

Vĩnh Hảo tên thật Nguyễn Phúc Vĩnh Hảo sinh ngày 30-11-1958 tại Nha Trang Khánh Hòa nguyên quán Vỹ Dạ, Phú Vang Thừa Thiên khởi viết năm 1976, qua Hoa Kỳ năm 1988 định cư tại California Hoa Kỳ (từ tháng 8-1991)
Tác phẩm Cởi Trói gồm hai tập,

CỞI TRÓI I, II tức Phương Trời Cao Rộng 4 và 5, do Chiêu Hà xuất bản tại California, Hoa Kỳ, năm 1997. Cả hai tập có 27 chương, 716 trang.
Nhân dân ta thương mến người tù sĩ quan quốc gia.


Lúc xe chở tù sắp sửa rời rạp hát Long Thành (nơi được sử dụng làm tòa án) để trở về trại giam, đồng bào bất kể sự ngăn cản la lối của công an và lực lượng bộ đội bảo vệ tù nhân, xúm tới biếu xén đủ loại thức ăn, thức uống, thực phẩm khô… Có người còn dúi tiền cho tù nhân. Cảm động nhất là một bà già lụm khụm ráng cặp nách nguyên một thúng xôi đã gói sẵn từng gói nhỏ, đến dúi cho mỗi người tù. Vừa dúi xôi, bà vừa nói: “Mấy con của má, ăn xôi đi cho đỡ đói. Mấy con thương nước thương dân mà phải bị tù tội, má đây có bán hết nhà cửa để mua xôi cho mấy con, má cũng vui nữa.”(Ch.XIV)

Anh Nhiều, một tù nhân được bầu làm trưởng phòng giam, vốn có cha làm tỉnh ủy Sông Bé, sau bỏ đảng, cả nhà tham gia phục quốc. Anh nói : Hồi đó nghe tuyên truyền là Mỹ muốn lấy đất lấy vườn của mình: chống Mỹ! Cách mạng thành công mới biết rằng cái đế quốc tư bản dù sao hãy còn dành đất lại cho mình cày cấy, còn đế quốc cộng sản thì thu tóm hết, vơ vét hết, đất vườn này biến thành đất vườn chung do nhà cầm quyền Bắc Việt quản lý: chống Cộng! Trong khi người cộng sản Bắc Việt nhìn mảnh đất miền Nam và con người miền Nam như là một phần cơ thể ung nhọt cần được dẫn dắt và điều trị bởi đỉnh cao trí tuệ của chủ nghĩa Mác-Lê thì người nông dân miền Nam (điển hình là gia đình của Nhiều) nhìn người cộng sản Bắc Việt như là những người ngoại quốc, những kẻ xâm lăng vừa tham lam, vừa tàn bạo, vừa ích kỷ, cướp lấy miền Nam để nuôi béo những cán bộ ngoài Bắc (Ch.VII).


Cán bộ Trì từ Hà Nội vào điều tra vụ án tâm sự với Vĩnh Khang:

Dĩ nhiên tôi biết rằng một chế độ… khắt khe như chế độ ngoài Bắc thì chẳng làm sao mà đào tạo được cái gì xuất sắc, dị thường. Nhưng tôi vẫn lấy làm lạ là mảnh đất miền Nam, với chế độ mà ngoài tôi gọi là Mỹ-Ngụy tay sai, lại sản sinh ra nhiều con người tài hoa đến thế. Tôi chưa có cơ hội tiếp xúc nhiều với giới trí thức hoặc giới trẻ miền Nam nên không làm sao nắm được là thành phần nhân sĩ trí thức chiếm bao nhiêu phần trăm nhân số miền Nam, nhưng qua tiếp xúc những người trong gia đình anh khi tôi đến làm việc, tôi đã giật mình [...].Tóm lại là chế độ ấy không đào tạo ra những con người. Nó nghiền nát nhân tính một cách tàn bạo, khủng khiếp. Tuổi trẻ miền Bắc, mấy thế hệ nối tiếp nhau, được nuôi lớn trong cái giàn máy khổng lồ ấy, thử hỏi anh, chúng tôi có thể làm gì! Chỉ làm đồ hộp thôi. Chỉ nằm ì ra đó thôi [...]. Nếu không có cái ngày 30-4-1975 đó thì miền Bắc muôn đời vẫn thế, chẳng làm sao mà thay đổi được. Nhờ giải phóng miền Nam, nhìn thấy miền Nam, tiếp xúc với nhân dân cũng như các thành phần chính quyền cũ của miền Nam, người miền Bắc mới sáng mắt ra, mới thực sự nhận thức được rằng có một thứ đời sống khác hơn, tươi sáng hơn mà lâu nay họ tìm kiếm, mong đợi. Cho nên, có thể nói rằng miền Nam giải phóng miền Bắc thì miền Nam thắng, miền Bắc giải phóng miền Nam thì miền Nam vẫn cứ thắng như thường. Bởi vì lẽ thắng bại đôi khi không nằm ở chỗ chiếm lĩnh được cái vũ đài chính trị hay quân sự.”


“Mà phải chiếm lĩnh cái vũ đài nhân tâm,” tôi tiếp lời Tri.


Tri gật đầu tán đồng ngay:

Đúng, phải được lòng dân. Khi quân đội miền Nam cũng như Hoa Kỳ rã ngũ và rút đi không đánh nữa thì chính cái tinh thần dân chủ tự do ở miền Nam đã tràn ngập ra Bắc, chiếm lĩnh trận địa nhân tâm, đánh thức bao nhiêu cái đầu óc đã mụ đi vì mù quáng hoặc vì sức ép của giàn máy. Những người cầm quyền miền Bắc sau ngày giải phóng miền Nam đã phải đối đầu với một đạo quân vô hình nhưng khủng khiếp hơn đạo quân chính qui của quân đội Việt Nam Cộng Hòa nhiều. Người ta không sợ tàn quân miền Nam nổi lên đánh lại đâu. Điều này làm sao xảy ra được chứ! Khi chưa tan rã thì quân đội hai miền còn đánh cầm cự với nhau mấy chục năm, còn bây giờ một bên thì tăng cường quân số, kiểm soát toàn lãnh thổ, một bên thì giải thể, tan rã hoàn toàn… lấy cái gì mà quật lại! Người ta chỉ sợ cái tinh thần tự do dân chủ thôi. Rồi đây, trên đất nước này, chỉ còn một cuộc chiến tranh duy nhất là cuộc chiến giữa chế độ độc tài và phong trào đòi hỏi tự do dân chủ dấy lên từ nhân dân. Nhân dân ở đây không phải là nhân dân miền Nam hay miền Bắc, mà là nhân dân Việt Nam. Anh Khang có đồng ý với tôi quan điểm ấy không?”


Tôi gục gặc, không nói, nhưng thật xúc động. Ý nghĩ của anh cộng sản trẻ này làm tôi phấn khởi và tin tưởng vào tương lai của đất nước vô cùng. Té ra miền Nam đang giải phóng ngược miền Bắc bằng tinh thần tự do dân chủ! Cái điều này đơn giản như thế mà lâu nay tôi hầu như không để ý đến. Nhưng có thực vậy chăng? Miền Nam có tự do dân chủ thực sự để làm công việc giải phóng miền Bắc không?
Không.(Ch.IX)



V. NGUYỄN CHÍ THIỆP


Nguyễn Chí Thiệp là tên thật, sinh năm 1944 tại Quảng Nam, cựu học sinh Phan Chu Trinh Ðà Nẵng, Chu Văn An Sài Gòn, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh 1965.,1969

Năm 1975 không trình diện học tập, bị bắt tháng 9 năm 1976 trong khi chuẩn bị vượt biên. Bị giam tại các trại giam Sở Công An Thành Phố, Phan Ðăng Lưu và Chí Hòa. Cải tạo lao động tại các trại Z-30A Long Khánh, A-20 Xuân Phước Phú Yên. Ðược thả tháng 2 năm 1988. Vượt biên đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai, tháng 5 năm 1988. Cư trú tại Hoa Kỳ từ tháng 10 năm 1989.

Trại Kiên Giam, nhật ký trong tù của của ông viết xong tại San Jose tháng năm 1990, Xuân Thu xuất bàn 1992, gồm 20 chương , 642 trang.

Trần Tri Vũ trong Những Năm Mất Trắng đã cho ta thấy tình người dân thương mến người chiến sĩ quốc gia sa chân lỡ bước. Nguyễn Chí Thiệp cũng vậy.

Em bé gái lấy ra hai quả trứng cho tôi và hai quả cho San. Tôi muốn trả tiền cũng không được vì tiền công an áp tải giữ. Gọi em trả lại thì em bé đã chạy qua bên kia đường. Vài người cho chúng tôi các loại nào thuốc lá, bánh mì, chuối và nước uống, chúng tôi cảm ơn không nhận, họ cứ tự động bỏ vào chỗ ngồi rồi dang ra xa nhìn. Bọn áp tải chạy ra xua, đám đông chỉ dang ra xa, không giải tán.
Tôi nghĩ đến em bé bán trứng gà, 4 cái trứng trong số vốn cỏn con, mười trứng gà đựng trong một cái rổ nhỏ, cơ nghiệp thương mại của bé, mới từng ấy tuổi em đã phải bỏ học, buôn bán để nuôi gia đình, em đã quyết định cho chúng tôi một phần tài sản của em
.(Ch. XVI)


-Tù bị cấm tiếp xúc với dân chúng chung quanh vùng, dù dân vùng quanh trại là dân được chế độ tín nhiệm, dân vùng mật khu Kỳ Lộ đã ở trong vòng Việt Cộng kiểm soát từ năm 1965 không có hoạt động của chính quyền Cộng Hòa. Họa hoằn một vài lần gặp các người đi làm rừng băng qua trại, tù mới trao đổi một vài câu chuyện ngắn ngủi. Một lần, một mẹ già nói với chúng tôi: “Gia đình mẹ có ba đứa con bị lính Cộng Hòa bắn chết, nhà của mẹ bị đại bác bắn sập, nhưng mẹ không giận các con, chỉ tại chiến tranh, mẹ tưởng hòa bình rồi mọi người bớt khổ, mẹ không ngờ hòa bình rồi các con lại đi cải tạo, mẹ thì vẫn khổ, ai sướng đâu thì mẹ không có thấy, trước kia mẹ đã đau đớn khi con mẹ chết, mẹ hiểu cha mẹ các con hiện tại đau khổ như thế nào khi các con ở tù mãi không có ngày về.”( Ch.XVI)


VI. PHẠM BÁ HOA

Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng,
Lần lượt giữ các chức vụ:
Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng.
Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.
Tác phẩm :HỒI KÝ TRONG TÙ


1. GẶP DÂN


-Ngày đầu tiên họ được một đám đàn bà, trẻ con xỉa xói mắng chưi và ném đá. Đây là do Việt Cộng xúi giục.
Đám tù đã có lần bất ngờ gâp dân trong khi đi lao động.


(1). Gặp hai ông già trong núi

Cùng đứng giữa dòng suối cạn với chúng tôi là hai ông già rửa xe đạp, trong khi tiếng loa phóng thanh từ khu cư xá Lâm Trường trên sườn đồi, oang oang tiếng người xướng ngôn loan tin về vụ mùa thắng lợ” ở Hà Nam Ninh. Một trong hai ông già, vừa rửa xe vừa chửi đổng:

“Bố tiên sư nó, vụ nào cũng thắng lợi mà năm nào dân cũng đói. Nói khoét mãi mà không ngượng!”


Tôi ngẫng lên nhìn ông ta để đánh giá câu chửi của ông có phải là thật không. Ông ta cũng nhìn tôi kèm theo nụ cười héo hắt. Thấy thế tôi hỏi ông: “Có thật vậy không ông?”

Ông ta đáp ngay:
“Các anh sống trong Nam, các anh chưa hiểu được họ đâu. Tôi khuyên các anh hãy hiểu ngược lại lời họ nói thì đúng sự thật.”

(2). Anh bộ đội trẻ
Trong lúc đào lỗ trồng cột bằng cây rừng để kéo dây điện thoại, họ gặp một anh bộ đội trẻ, anh nói nhỏ với đám đại tá Hoa:
“Các anh có thiên đường mà các anh không biết giữ.”

“Tôi đã vào Sài Gòn và tôi đã hiểu các anh.”
-Gặp một gia đình. Ông già gọi các tù binh bằng ông. Có người gọi là anh.một thiếu nữ trong nhà dân. Cô nói:
Tôi có vào Nam rồi. Tôi thấy người miền Nam thành thật mà dễ mến nữa. Tôi nói thật đấy.”


VII. NGUYỄN HUY HÙNG


HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM cho biết

PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN

(1). Yêu quốc gia
+Trè con miền Nam chửi cộng sản

Sau Tết dương lịch, các đội được thay phiên đưa ra đồng, sát ngay bên thiết lộ Saigon-Biên Hoà, để cuốc đất vun luống trồng khoai mì. Một sự kiện đã xẩy ra vô cùng ngoạn mục không ngờ được là, khi đoàn xe hoả chạy ngang qua khu vực lao động của chúng tôi, trên các toa xe đầy đặc bộ đội Cộng sản mặc đồ tác chiến, súng lăm lăm nơi tay, thế mà có một nhóm trẻ em chơi sát đường rầy, đã can đảm ném đá khi đoàn xe chạy ngang, và lớn tiếng chửi : “-Ð..M.. Cách mạng giải phóng!”( ChươngVI, 81)

+Bà già tố cộng:

Được phóng viên hỏi về tết Cách mạng, bà lão thật thà trả lời : “-Vui mừng lắm, vì Giải phóng rồi, không còn Việt Cộng pháo kích vào Thành phố, vào Chợ, vào Trường học giết hại đồng bào và trẻ con nữa!” (Chương VI, 81)

-Yêu người chiến sĩ quốc gia. (Ch.XXIX,434)
-Nguyễn Thùy, trại trưởng Tân Lập ca tụng văn minh miền Nam (Ch.XXV, 255-258)
Một thượng sĩ công an nhờ tác giả đến nhà cắt tóc hỏi dò về đời sống trong Nam , ông tiỏ vẻ thich thú lắng nghe (412, 416)

-Tác giả lấy dầu Cù là cứu dân, được dân mến mộ
( XXVII, 374)
-Đồng bào bị cộng sản đày đọa, thông cảm với người sĩ quan quốc gia:


Tình cờ trong giờ giải lao giữa buổi lao động sáng, sương mù chưa tan hết, không khí còn ẩm lạnh căm căm, bà cụ nhà ở sát bên đường đon đả mời Cán bộ Quản giáo và Cảnh vệ, vào uống trà tươi và khoai luộc còn nóng hổi cho ấm lòng. Đúng lúc đó, một ông cụ từ bià rừng về tới, xà xuống bên chúng tôi, xin điếu thuốc lào hút cho ấm dạ. Chúng tôi phải mặc 2, 3 tầng áo len áo bông dài tay, còn cảm thấy lạnh. Trong khi ông già chỉ phong phanh có 1 bộ quần áo “kiểu bà ba” nâu, bằng vải mỏng đã bạc mầu, bên ngoài phủ chiếc “áo bông chấn thủ” cụt tay, đã rách phải vá víu nhiều chỗ. Da mặt ông cụ xám ngoét, môi tím bầm, co ro cúm rúm, xoa 2 tay vào nhau cho đỡ lạnh.

Một anh trong chúng tôi hỏi : “-Cụ năm nay đã đến 70 chưa, già nua vậy mà vào rừng chi sớm vậy?” Ông cụ trả lời : “-Cám ơn Trời cho năm nay mới được 60 thôi! Sống trong Xã hội Chủ nghiã, ai cũng phải lao động mới được chấm công, để lãnh phần “tiêu chuẩn” quy định hàng ngày. Chúng tôi dẫn trâu của Hợp tác xã đi ăn cỏ. Lợi dụng trong lúc chúng kiếm ăn, mình mò về kiếm chút khoai sắn đỡ dạ vậy mà. Bà nhà tôi ở nhà chăm sóc nhà trẻ cho xóm. Các cháu cỡ 6, 7 tuổi trở lên, phải đi hót phân cắt cỏ cho trâu ăn. Mỗi người một việc Qúy ông ạ!”


Chúng tôi lại hỏi : “-Phiếu vải được Nhà Nước cấp hàng năm để may quần áo đâu, sao Cụ không mua mà dùng?” Ông cụ trả lời : “-Ấy, hàng năm Nhà Nước có cấp Phiếu cho đấy. Nhưng vài năm nay, mỗi lần đến Hợp Tác Xã đều nói chưa có hàng về, nên mình phải đợi thôi! Từ ngày chấm dứt chiến tranh, không còn viện trợ của các nước anh em Xã hội Chủ nghiã nữa, cái gì cũng thiếu.”
Trong lúc nói chuyện, có dịp quan sát kỹ khuôn mặt ông cụ, Tôi ngờ ngợ thấy hình như mình đã có dịp gặp ông cụ này ở đâu, nhưng không nhớ ra được. Bèn hỏi : -Cụ và bà con Xóm này ở đây bao lâu rồi, mà trông các mái rạ còn mới quá vậy? Ông cụ trả lời : “-Ấy cũng chưa lâu lắm đâu. Trước chúng tôi ở vùng Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, đủ hạn kỳ Nhà Nước lại điều động đến đây khai phá làm ăn sinh sống.” Tôi hỏi tiếp : -Gia đình cụ tình nguyện đi lập vùng Kinh tế mới ở đây à? Ông cụ lắc đầu, đảo mắt liếc quanh không thấy bóng Cán bộ nào gần chỗ chúng tôi đang trò chuyện, mới hạ thấp giọng nói tiếp : “-Trước năm 1954, Cha của tôi làm Lý trưởng vùng Tề ở Thái Bình. Sau tháng 7 năm 1954, toàn miền Bắc được giải phóng khỏi tay Tây và phe Quốc gia, Cha tôi bị Toà án Nhân dân xử tử, vì tội Việt gian bán nước. Cả đại gia đình họ Nội, họ Ngoại chúng tôi được Nhà Nước khoan hồng tha tội chết, nhưng phải đi lao động tại các vùng Kinh tế mới. Cứ 4, 5 năm lại rời nơi lao động, miết từ bấy đến nay chẳng biết bao giờ mới được ở yên một chỗ. Khi còn ở Yên Bái, gia đình chúng tôi ở Hợp tác xã trong vùng Xã Việt Cường. Hồi đó, chúng tôi cũng đã có dịp gặp bạn bè của Qúy ông đến đắp đập cho Hợp tác xã. Gia đình chúng tôi phải hàng ngày cung cấp sắn bồi dưỡng cho các ông ấy đấy!”


Thảo nào! Tôi nhớ ra rồi và bây giờ mới hiểu, tại sao ông cụ này hồi đó cư xử rất tử tế với chúng tôi, trong khi nhiều người khác luôn luôn có thái độ căm thù. Hồi còn ở Liên trại 1, Đội chúng tôi được chỉ định đi đắp đập thuê ở quanh vùng xã Việt Cường, Yên Bái (Tôi đã kể trong một đoạn trước).


(Ch.XXVII, 376-378)

+Chào mừng người chiến sĩ trở về:
Những người bán hàng rong, nấp sau những toa xe bỏ trống trong sân ga ùa ra, rao hàng mời mua rối rít. Anh em chúng tôi dơ tay bị xích lên, cho họ biết mình là Tù làm gì có tiền để mua. Bỗng dưng, một trong những người bán hàng lên tiếng nói lớn : “-Các Anh là Chiến sĩ ra Bắc cải tạo trở về à? Vậy thì đâu cần tiền, cứ nhận lấy mà ăn, không phải trả tiền nong gì cả.” Rồi lần lượt những người bán hàng rong, đua nhau quăng bánh mì, trái cây... đủ thứ qua cửa sổ toa cho chúng tôi.(Ch.XXIX, 434)

Một số dân miền Bắc ghét người quốc gia vì họ bị Việt Cộng tuyên truyền, nhồi sọ, một số bị Việt Cộng tổ chức đi đả đảo và ném đá.
Khi anh em Tù đi ngang, một bà già tiến ra sát bờ rào, xua chó sủa đuổi người lạ, và lớn tiếng chửi : “-Tiên sư cha chúng bay, loài qủy uống máu, ăn gan người. Sao chúng bay không chết bầm chết dập đi, mà còn vác mặt đến đây ăn hại cơm của nhân dân?” (Chương XI,122)

Trong khi người lớn đi lao động, mấy đứa trẻ trên dưới 10 tuổi, áo quần rách rưới, lem luốc bẩn thỉu, mắt mũi đầy ghèn, đùa giỡn bên lề đường, trước sân nhà ăn. Khi đi ngang, trong số anh em Tù chúng tôi có người lên tiếng thân thiện hỏi : “-Các cháu không đi học à ?” Lập tức có em lớn hơn cả trả lời ngay, không cần suy nghĩ :
“-Ông nội của chúng mày, chớ cháu chắt gì, đồ ngụy bán nước
.”( ChươngXVI, 182)

Cảnh vệ mắng chửi người tù (Ch.XXII, 280)

+Mặt trời miền Trung bắt đầu xuống thấp, đoàn xe chúng tôi băng qua cầu Hàm Rồng trên sông Mã, qua Thị xã Thanh Hoá, tới khoảng giữa đồng không mông quạnh nơi ngoại ô, dừng lại bên phiá Trái đường, chẳng biết để làm gì. Tù không được xuống xe.

Chừng mươi phút sau, có một đoàn người độ hơn chục đứa trẻ nít cả trai lẫn gái, do một bà tuổi chạc trên dưới 30, chắc là Cô giáo, dẫn giắt di chuyển về hướng Thị xã. Tới ngang chỗ đoàn xe chúng tôi đang đậu, bầy trẻ nhỏ dừng lại nhìn ngó, chỉ chỉ trỏ trỏ. Một lúc sau có thêm mấy người đàn ông đứng tuổi, người vác cuốc, kẻ cằm đòn xóc đi tới, ngừng lại nói chuyện với người đàn bà. Thế rồi tự nhiên thấy người đàn bà bắt đầu xỉa xói vào chúng tôi, cất tiếng chửi rủa những câu rất tục tỉu. “Chém cha đẻ mẹ chúng bay, khi không sao lại pháo kích, xâm lấn đất đai của Nhân dân Việt Nam anh hùng của bà? Chúng bay mà rơi vào tay bà, thì bà phanh thây xé xác chúng bay ra.”... Rồi bà ta xúi giục bọn trẻ ném đá vào xe chúng tôi. Mấy người đàn ông cũng hung hăng xấn đến sát xe, dơ đòn gánh và cuốc tính đập vào dẫy cửa kính, nơi chúng tôi đang ngồi. Cán bộ Công an áp giải phải chạy ra can thiệp. Họ giải thích với nhau những gì, chúng tôi không nghe được, vì cửa kính đã phải đóng kín từ lúc bọn họ ném đá.

Mọi việc êm xuôi, Cán bộ bước lên xe giải thích : “-Họ thấy các anh mặc áo bông và đội mũ bông bịt tai chống lạnh của Quân đội Tầu, tưởng là tù binh Trung Hoa bị bắt tại các trận vùng biên giới giải vào, mới làm giữ như vậy.” Thật là phiền, những áo bông và mũ lạnh chúng tôi đang mặc, do Liên Trại 1 tại xã Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, phát cho từ hồi đầu năm 1977, đã kể rõ trong một đoạn trước.
(Ch.XXV, 336)

Việc này được Thượng tọa Thich Thanh Long giải thích: Xe đi qua cầu Hàm Rồng thì một hòn đá từ đâu liệng trúng vào tấm kiếng sát chỗ cụ ngồi.


Cụ hỏi tôi:
- Ông có biết tại sao họ ném đá vào xe mình không?

Tôi đoán chừng:

- Tôi chắc là đồng bào được nghe cán bộ tuyên truyền là sĩ quan “ngụy” ăn thịt người, nên xui họ tỏ thái độ...
Cụ Thanh Long vẫn cười, nhưng đầu cụ lắc lắc:
- Lần này ông... sai rồi! Đó là những năm trước khi chúng mình mới ra Bắc. Bây giờ thì đồng bào hiểu rồi.
- Vậy lần này...
Cụ chậm rãi:
- Lần này đồng bào bị lừa!

Tôi trố mắt:
- Đại sư nói đồng bào bị lừa?
Cụ gật gù:
- Lúc xe dừng lại bên này cầu Long Biên. Tôi được một anh tài xế xe Ba Đình cho hay trước, là anh ta nghe “chèo” nói với nhau lần này rỉ tai đồng bào dàn chào xe chở bọn tù binh “bành trướng Trung Quốc” mà “ta” bắt được trong trận chiến trên sáu tỉnh biên giới phía Bắc vừa qua. Tuyên truyền như vậy mới khích động căm thù trong dân chúng, vì Thanh Hóa cũng như các tỉnh, đều có bộ đội, dân công hy sinh trong những ngày Tầu “vượt biên”... xâm lược !
Tôi nói thêm:
- Và cũng để chúng ta hiểu lầm đồng bào còn căm thù mình... Tin tức nóng hổi như vậy mà Đại Sư cũng có sớm. Cụ thiệt thần thông quảng đại !
Cụ lại cười:
- Thần thông gì đâu? Có duyên may nên được biết, nên cũng... thông cảm với đồng bào. (HOÀNG NGỌC LIÊN * NHÀ SƯ CỦA TÔI)


Bao nhiêu năm sống dưới ách cộng sản, đa số đồng bào Việt Nam căm thù cộng sản, ngoại trừ một số đảng viên cao cấp nay trở thành tư sản đỏ. Họ bám lấy chế độ tàn ác, gian manh để hưởng lợi. Họ sẵn sàng làm mọi điều lưu manh gian ác như cướp ruộng đất của dân, đoạt ngân hàng và các địa vị chính trị, kinh tế, và họ sẵn sàng bán nước cho Trung Cộng, làm tay sai cho Trung Cộng. Người dân khi đã nhìn rõ chân tướng phản quốc, hại dân của Cộng sản, do đó họ hướng về quốc gia, thông cảm nỗi khổ đau của sĩ quan, viên chức và nhân dân miền Nam.





No comments: