Tuesday, October 13, 2015

LÊ QUANG VINH * THẦY ĐẶNG NAM CƯỜNG

 LTS

Tác giả bài này là Lê Quang Vinh, một nhà giáo hưu trí, kể lại những điều ông nghe trong thời sinh viên Đại Học Sư Phạm, Hà Nội, trong đó có vài chuyện về  sự ngu dốt của mấy ông thầy dạy đại học miền Bắc. Đây là chi tiết có thực, rất thực "Đương thời, Cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nổi tiếng với câu gán của người đời: "Giỏi tiếng Pháp để lừa người Pháp; giỏi tiếng An Nam để lừa người An nam" nên mới làm được sách này - Cụ Tập nói với tôi vậy đấy. Thế mà, các thầy dạy tôi hồi đại học thì lại dẫn câu ngược lại: “Giỏi tiếng Pháp để lừa người An nam; giỏi tiếng An Nam để lừa người Pháp". Tôi tin câu của cụ Tập, bởi có lý hơn; như thế học giả Nguyễn Văn Vĩnh mới thực sự tài hoa hơn người chứ (?).".


THẦY GIÁO ĐẶNG NAM CƯỜNG, CHUYỆN CŨ VIẾT LẠI …

 Nhà báo Lê Quang Vinh


Anh Đặng Nam Cường chúc mừng LQV tại đám cưới – Hà Nội, năm 1976.
       Nền giáo dục nước nhà vốn có sẵn những thầy giáo rất tài năng – nhất là những người được học hành tử tế dưới “chế độ cũ”, như trường Bưởi trước năm 1954 ở Hà Nội. Thầy giáo Đặng Nam Cường là trong số đó. Nhưng rất không may cho Thầy Cường là do “thành phần tư sản” ở phố cổ Hà Nội, nên suốt cả cuộc đời,người thầy tài năng ấy không được chế độ trọng dụng, thầy thành “của bỏ đi”. Giỏi 3 ngoại ngữ Anh - Pháp - Nga, dạy Hóa học xuất sắc từ vùng bom đạn ác liệt ở Hà Tĩnh những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ, rồi Ninh Giang – Hải Dương…thầy âm thầm, lặng lẽ bên đồng nghiệp như một người “dị biệt”!  Nhà báo Lê Quang Vinh  kể với ta về một người thầy như vậy...

                 Trường Cấp III Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) hồi những năm tháng sơ tán tại xã Hồng Dụ, có mấy gian nhà tập thể khung gỗ nhưng lại lợp lá cọ hoặc cói. Đa phần vách đất trộn rơm rạ, chỉ ba dãy nhà hình chữ U ở khu Văn phòng trước “vườn cam các cụ” là bằng “toóc xi” (vôi vữa trát lên phên tre). Khi chuyển về nơi mới thị trấn Ninh Giang, năm đầu tiên thầy cô giáo vẫn ở trong các gian nhà lợp nứa. Không biết những năm sau còn thế nữa hay không, vì tôi đã chuyển đi rồi.
            Vui nhất ở nơi trường mới là việc phân các cặp thầy cô “chưa có gia đình” ở chung với nhau, mỗi gian phải ghép hai người, nam theo nam nữ theo nữ. Nguyên tắc là tổ nào ghép tổ đấy. Các tổ trưởng chuyên môn thì mỗi người một phòng, bởi còn là nơi “sinh hoạt tổ” hằng tuần. Oái oăm cho năm đó là tổ Lý - Hóa (hình như cả môn Sinh vật nữa ?), không ghép được ai vào ở chung với anh Đặng Nam Cường – giáo viên dạy môn Hóa học. Ai cũng đều “sợ” tính anh ấy quá “cẩn thận” (thực ra họ sợ anh “khó tính” đấy thôi). Trước đây, hồi còn ở Hồng Dụ, anh Cường rất sướng là luôn ở “thừa tiêu chuẩn”, cũng vì không điều được ai vào cùng phòng với anh. Nhưng nếu “bí” là gửi được (giáo viên) vào ở nhà dân, còn nay về thị trấn Ninh Giang, không thể thế được. Nên chả hiểu thế nào, người ta lại “điều” tôi từ tổ Văn sang ở chung với anh Đặng Nam Cường, rất chi là trái… "nguyên tắc” đề ra (?). Có lẽ hồi ấy hình như tôi luôn được coi là “giáo viên cá biệt” thì phải (trong giảng dạy cả trong sinh hoạt), nên "thừa", "thiếu" chỗ nào là nhét bừa vào chỗ đó cho gọn việc là được. Nhưng hóa ra “may hơn khôn”, năm đó tôi lại được ở với một người…"dễ tính nhất hành tinh"!
              Ngày đầu tiên ở chung, anh Đặng Nam Cường còn mời tôi cùng ăn "cơn chung” với anh ấy – tức là ăn “cá thể” với nhau. Lãnh đạo và Công đoàn nhà trường không khuyến khích kiểu này, vì như vậy là “không có tinh thần xây dựng bếp ăn tập thể”. Nếu một mình, đương nhiên là tôi “hổng dám” rồi! Thế nên riêng được ăn uống theo anh Cường, tôi đã sướng rơn lên. Chỉ mấy tháng  sau về nhà, mẹ tôi nói là dạo này con… “béo ra”. Chẳng biết có phải thế không.
             Phòng  anh Cường ở, chỗ nào cũng chất ngất sách vở, báo chí, họa báo  – rặt của nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh tiếng Pháp và tiếng Nga. Để trên giá sách bằng tre nơi vách cao là một dãy các cuốn Đại tự điển - Tự vị (Grand Larousse), Tiểu tự điển (Petit Larousse); Bách khoa toàn thư (Encyclope'die); các loại Từ điển: Anh,  Anh – Việt, Anh – Pháp; Pháp, Pháp – Việt; Nga, Nga – Việt; Nga – Anh, Nga - Pháp…Cuốn nào cũng được bọc giấy báo hoặc nylon bảo quản trông như  của… “hồi môn”. Hồi ấy, mỗi lần về Hà Nội, anh Cường thường tới hàng một bà đồng nát (lâu ngày đã thành "khách quen") để mua sách báo cũ. Nguồn “cung” là do các tòa đại sứ quán tuồn ra bằng con đường “giấy lộn”. Mỗi chuyến lên xuống Hà Nội – Ninh Giang, lúc nào anh cũng mang cả túi du lịch sách báo cũ, bánh mỳ. Bánh mỳ của Nhà máy bánh mỳ Tân Mai (Nhà nước) to và ngon lắm. Ở các điểm bán bánh mỳ Tân Mai, bà con sắp hàng mua theo tem phiếu rất đông.
               Một hôm, từ Hà Nội về; vừa đặt chiếc túi du lịch lên giường, anh Cường đã lôi một cuốn sách bằng tiếng Pháp ra đọc ngấu nghiến. Tôi đang nấu cơn, nồi rau cùng mấy quả trứng vịt đã chín, đến khi bày ra ăn rồi, anh vẫn chưa chịu gập cuốn sách. Tôi hỏi: “cuốn gì thế” ? Anh trả lời: “Faust”! Tôi dừng đôi đũa, quay sang bên anh và đưa mắt vào trang sách anh Cường đang đọc, với vẻ tò mò. Vì hồi học trong trường (Khoa Ngữ văn – ĐH Sư phạm Hà Nội), tôi từng học tới tác phẩm này nhưng chưa bao giờ được nhìn hoặc sờ mó tới tác phẩm văn học vĩ đại đó. Đang chưa hiểu “chi mô” thì cụ Tập ở bến xe vào chơi. Cụ Tập đến đúng bữa, nên anh Cường liền mở chai rượu nút “lá chuối” ra mời cụ. Thế là “cuộc rượu” giữa ba ông con diễn ra không hẹn trước mà thật chan chứa tình thân. Rượu vào, anh Cường được tiếp thêm "men hứng" nên vừa đọc vừa phân tích rành rọt về  vở kịch thơ Faust của Goethe.
            Anh cao giọng: “Faust là tác phẩm kịch của của thi sĩ - nhà soạn kịch - tiểu thuyết gia - nhà  khoa học - chính khách - nhà tiết học Đức lỗi lạc Johann Wolfgang Goethe (1749-1832). Tác phẩm gồm hai phần, phần I được xuất bản vào năm 1806, phần II được Goethe nhận sắc và hoàn thành vào năm 1832, trước khi tác giả từ giã cõi đời.
           Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Faust, một học giả thông minh, tài giỏi trong chế độ phong kiến, là một người luôn miệt mài nghiên cứu khoa học. Phòng làm việc của chàng là hàng lô những dụng cụ nghiên cứu và sách vở chất đến trần nhà. Faust đã học qua tất cả các khoa của trường đại học, đỗ tiến sĩ và làm giáo sư mười năm liền. Danh tiếng lừng lẫy, song kiểm điểm lại chàng thú nhận mình vẫn "thông minh như cũ" và những hiểu biết của chàng quá hữu hạn so với bao điều bí mật chưa tìm ra được trong vũ trụ. Sách vở nhà trường không giúp chàng hiểu được cội nguồn của vạn vật và những mối quan hệ bên trong của chúng. Chàng chán ngấy lối học kinh viện trong trường đại học với những "lý thuyết màu xám ngắt", muốn rời bỏ nó để tìm về "cây vàng của cuộc đời tươi xanh". Đã có lúc chàng định uống thuốc độc tự tử”...
            Tôi rất muốn anh Cường tìm đọc cho nghe lại “Màn độc thoại” của Faust. Cụ Tập “tớp” cạn ly rượu, liền giành lấy cuốn sách chiều tôi. Rồi với giọng “cực khan”, Cụ đọc như “ngâm” với âm điệu của “thơ Tây” lúc trầm lúc bổng, thật giống cha xứ trong nhà thờ giảng kinh. Tôi nghe khoái lắm.
             Cuối Thu năm 1976, biết tôi cưới vợ là Bác sĩ Phan Thị Xuân Hương; anh Đặng Nam Cường đến dự “tiệc trà” (bánh kẹo chứ không ăn uống như bây giờ) tại nhà riêng ở số 3 phố Hàng Chuối – Hà Nội. Anh tặng tôi một món quà cưới đựng trong chiếc phong bì viền vạch xanh đỏ. Ngày ấy, không ai người ta tặng “phong bì” (tiền), nên tôi không đoán được gì. Anh dặn: “Tặng Vinh – Hương cái này, trước khi đi ngủ, mới mở nhé”. (Anh tránh dùng thêm từ “đọc” nên tôi càng không biết). Nghe lời anh, khi vợ chồng tôi mở bì thư ra thì thấy có một trang giấy trắng kẻ dòng, loại giấy học trò “năm hào hai”, chữ chép tay bằng mực “Cửu Long”. Nội dung là “Màn độc thoại của Faust”. Trong đó có câu nổi tiếng thành triết lý xưa nay tầm nhân loại: Lý thuyết thì xám xịt, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”.Thật quý và độc đáo. Đêm tân hôn, đôi vợ chồng trẻ còn được thưởng thức lời hay ý đẹp của một nhân tài kiệt xuất - Johann Wolfgang Goethe. Chúng tôi chìm vào thế giới của bao ước mơ và dự định đang chờ sẵn, cùng lời nhắn nhủ của người anh thân thương: xây dựng một cuộc sống thực sự hạnh phúc (có thật) trên đời…
                Nhớ lại hình ảnh của cụ Tập làm “bảo vệ” và “giữ trậ tự” ở bến xe Ninh Giang xưa, bây giờ có thể gọi là “Lá lành” của “VTV24”. Ông làm thế nhưng chả lương hướng gì (“ăn cơn nhà, vác tù và hàng tổng”). Ông cụ gầy đét, áo quần rách rưới, ai ngồi gần cũng sợ; bởi họ đồn là đang bị “ho lao” nặng nên giọng lúc nào cũng khản đặc. Cụ đã ngoài 70 tuổi, vào thời đó là già lắm rồi thế mà tá túc ở bến xe cả đêm lẫn ngày để làm việc “không công”. Tôi và cả anh Cường nữa, không biết Cụ có vợ con không, vì chẳng bao giờ Cụ nói tới. Thầy cô giáo ở Hà Nội và các tỉnh xa, mỗi lần về thăm nhà là phải ra nhờ cụ Tập xếp hàng để mua vé cho. Xe mỗi ngày lên xuống Hà Nội – Ninh Giang hai chuyến nhưng đông khách lắm, toàn là người buôn chuyến thôi nên lúc nào cũng phải chen chúc rất khổ sở. Cụ Tập giỏi tiếng Pháp, thuộc nhiều thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten. Tôi chết mê chết mệt khi cụ Tập uống rượu vào rồi đọc liền mạch chuyện thơ “Chó sói và cừu” của Văn hào này.
           Trước khi tôi chia tay Ninh Giang chuyền công tác, cụ Tập tặng tôi cuốn sách “Truyện Kiều” song ngữ Pháp – Việt, do học giả Nguyễn Văn Vĩnh biên soạn. Đương thời, Cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nổi tiếng với câu gán của người đời: "Giỏi tiếng Pháp để lừa người Pháp; giỏi tiếng An Nam để lừa người An nam" nên mới làm được sách này - Cụ Tập nói với tôi vậy đấy. Thế mà, các thầy dạy tôi hồi đại học thì lại dẫn câu ngược lại: “Giỏi tiếng Pháp để lừa người An nam; giỏi tiếng An Nam để lừa người Pháp". Tôi tin câu của cụ Tập, bởi có lý hơn; như thế học giả Nguyễn Văn Vĩnh mới thực sự tài hoa hơn người chứ (?). Cuốn Kiều song ngữ cũ này in hồi “Pháp thuộc”. Rất tiếc nay nó đã thất lạc, nhưng không bao giờ tôi quên được hình ảnh cụ Tập ở bến xe Ninh Giang những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước – thời xuân xanh của thầy giáo trẻ Lê Vinh…
            Từ ngày ở chung cùng anh Cường, tôi hay “lục sự” anh đủ thứ mà rằn. Mỗi lần thế, anh hay dở mấy cuốn “Tự vị” - Grand Laroussera (là dạng đại “Bách khoa toàn thư” tiếng Pháp ấy), giảng giải cho tôi nghe. Lúc đầu tôi cũng có hơi ái ngại, nhưng như thế anh Cường lại thích. Có lẽ tôi đã “gãi đúng chỗ ngứa” của anh là luôn luôn tìm tòi, học hỏi mọi điều qua sách báo. Thế nên, dần dà anh đâm ra quý chú em hay “vặn vẹo” này. Nhờ anh Cường, tôi được “mở mắt” ra không biết bao nhiêu thứ ở nhiều nền văn hóa (đông tây – kim cổ); nhiều kiến thức về địa lý, lịch sử, tự nhiên, văn chương, âm nhạc, hội họa…trên hành tinh này. Tôi là "thầy Văn" nhưng được ông "thầy Hóa"... “khai hóa” văn chương ra cho rất nhiều thứ lắm…Thật nhớ ơn ông anh “khó tính” này.
            Anh Đặng Nam Cường là học sinh Trường Bưởi thời Hà Nội còn bị Pháp “tạm chiếm” trước năm 1954. Không biết hồi xa xưa dĩ vãng ấy, họ dạy dỗ thế nào mà có được người học trò giỏi đều cả “tự nhiên” lẫn “xã hội”; giỏi cả mấy sinh ngữ đến mức… “kỳ khôi” vậy?
            Vào một buổi đã sang chiều rồi, nhưng còn oi bức lắm. Từ trưa đã không ngủ ngáy gì được. Làm gì có điện đóm mà chạy quạt máy như bây giờ (tôi nhớ là hè năm 1974). Anh Cường rủ tôi đi tắm sông. Tắm sông là “sở trường” hồi nhỏ, nên tôi hào hứng nhảy dậy theo liền. Anh Cường có chiếc xe đạp “Vĩnh Cửu” (Trung Quốc) sơn màu đen (hàng “kém phẩm chất” bởi bị ngâm nước lâu ngày do trận lụt hồi năm 1971, mới được mua giá rẻ qua “bắt thăm” do Công ty Thương nghiệp cấp 3 Ninh Giang của bà Hoàn bán cho). Chiếc xe tuy “kém phẩm chất” nhưng còn tốt lắm, thế là anh đèo tôi ngược một mạch từ Cống Sao (đoạn đê trước cửa bệnh viện huyện Ninh Giang) lên tận bờ sông Luộc mạn xã Văn Giang, cách chừng mươi cây số (đường đê), để tắm. Anh nói phải lên xa vậy nhằm tránh dầu mỡ luôn lềnh phềnh ở phà Tranh cùng bến thuyền của Nhà máy xay Ninh Giang cạnh đấy loang ra. Dọc đường, anh cứ thắc thỏm, tại sao (nhánh sông Hồng chảy qua đây) tên là “Luộc” ? Bởi “Sông Luộc” nên ta cứ bị “luộc” mãi đất này sao?... Anh luôn buồn bực, vì xin chuyển về Hà Nội mãi, nhưng chẳng bao giờ đến phiên mình.
              Ngụp lặn sông Luộc quánh đặc phù sa xong, hai anh em còn đi lòng vòng mãi tận chiều tối. Vào đền "Mẫu Thỏa" (tức đền "Cây Sanh", trên đường Trần Hưng Đạo - thị trấn Ninh Giang), gặp ông “thủ đền” tên là Dậu, thân xác gầy tong teo. Ông thủ đền nằm trên phản gỗ, đang co chân lấy hết sức bình sinh rít thuốc phiện khói bay nghi ngút. Cạnh mép phản ông nằm là cô con gái bưng chiếc khay, trên đặt ấm nước trà nóng đến "xé lưỡi", đứng đó chờ sẵn cho ông nhả khói xong là ngậm luôn vòi uống. Nghe nói phải uống (liền vòi) nóng như thế mới "đã phê" (sướng lắm). Cô con gái “rượu” của người cha (chắc là) “bất đắc chí” kia, tên Phương (có một tên ở nhà nữa là Tường). Cô gái có nước da trắng trẻo nõn nà, khuôn mặ bầu bĩnh xinh xắn; đã làm "chết đứng" hồn tôi. Trong đền, trên tường phía cửa ra vào gian chính điện, treo một bức tranh có gam màu trầm tối, “thâm u”; lại nổi rõ hình một người con gái áo trắng với suối tóc buông dài trên lưng. Cô gái ở tư thế ngồi, khuôn mặt thẫn thờ, dõi mắt nhìn ra phía hồ nước tĩnh lặng, xa xăm. Bức tranh mang vẻ đượm buồn nhưng rất đẹp. Tôi đoán người trong tranh chính là hình mẫu của chính cô Phương ngoài đời kia chăng? Tôi và anh Đặng Nam Cường lân la hồi lâu, hỏi ra mới biết người đàn ông tiều tụy kia là tác giả của bức họa. Được gặp người tài hoa trong hoàn cảnh này, lòng tôi trào dâng bao cảm xúc (vui, buồn lẫn lộn). Bài thơ “Một chiều sông Luộc”, cứ thế tuôn trào ngay buổi hoàng hôn hôm “dã ngoại” đó...
             Chỉ vài tháng sau, tôi chuyển về Hà Nội. Thế là bài thơ thành một ức niệm dành tặng người anh, người đồng nghiệp rất đỗi thân thương - Thầy giáo Đặng Nam Cường tài hoa mà như "ẩn dật" ở một chốn quê đang rất khát thèm tri thức. Một chút “Hương chùa bay theo gió phân vân” này, chắc sẽ mãi trong lòng... Phải không người anh,người bạn tri âm yêu dấu?
MỘT CHIỀU SÔNG LUỘC
                                            “Một buổi trưa không biết ở thời nào, 
                                              Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao” 
                                                              (“Đi Giữa Đường Thơm” – Huy Cận)
  
Anh với em hai ngọn sóng một dòng sông
Trưa lao xao nghe rõ tiếng lòng
Cơn gió chở hồn ta bao tâm sự.
Sông Luộc(*) ơi, với muôn điều xưa cũ
Dòng thời gian nặng đỏ nỗi lòng anh
Và màu xanh rất xanh
Làm biếc tim ta một chiều say động.
Ta lại đến đài sen, tìm về cõi mộng
Những Đức Phật Thích Ca, Bồ Tát giữa trần
Hương chùa bay theo gió phân vân
Ôi chốn liêu cô chạnh niềm tơ tưởng.
Gặp lại nơi đây cuộc đời vất vưởng
Tài hoa quá khứ nên bặc giai nhân
Ta ngắm em qua dáng bộ phong  trần
Với đôi mắt xa xăm nhìn về hiện tại.
Giã từ nhau khi lòng còn vương vãi
Biết bao nhiêu ý nghĩ những ngày qua
Ta uống hồn sông thơm thảo đậm đà
Như thể ngày xưa một thời sữa mẹ...
                                      
                                                                                     Ninh Giang hè 1974
(*) Sông Luộc: Một nhánh của sông Hồng chảy qua 3 huyện: Ninh Giang tỉnh Hải Dương, Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình và Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
                                                                                      LQV
                                                            Hà Nội, 20 giờ 36’ ngày 11/10/201
         
      
Anh Cường bắt tay chúc mừng cô dâu Xuân Hương (1976).
Thầy cô giáo cũ cùng thầy Đặng Nam Cường (người cầm hoa) tựu trường nhân 20/11/2013.
Về thăm trường vào dịp 20/11/2013, các học sinh tặng hoa Thầy Đặng Nam Cường.

No comments: