Saturday, September 12, 2015

TRUNG ĐẠO MIDDLE WAY





TRUNG ĐẠO
Middle Way
***
Nội dung:
1. Khái quát về ý nghĩa Trung đạo.
2. Tư tưởng Trung đạo.
2.1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng Trung đạo.
 2.2. Giáo lý Trung đạo.
3. Trung đạo là Duyên khởi.
4. Trung đạo là Bát Chánh đạo.
 4.1. Chánh tri kiến
  1/. Lý  Vô thường - Lý  Vô ngã.
  2/. Lý  Ba-la-mật – Từ Bi – Trí tuệ.
  3/. Lý Nhân Quả.
4.2. Chánh tư duy.
4.3. Chánh ngữ.
4.4. Chánh nghiệp.
 4.5. Chánh mạng.
4.6. Chánh tinh tấn.
4.7. Chánh niệm.
4.8. Chánh định.
 1/. Tu tập 5  thiền chi  (P: jhananga)
  2/  Tu tập 4 tầng thiền.
5. Trung đạo và Trung Quán Luận.
Bài đọc thêm:
1/. Kinh Thuận Thế Phái - Lokayatika Sutta (SN 12.48).
2/. Kinh Một Vị Bà-La-Môn - Aññatra Sutta (SN 12.46).
NBS: Minh Tâm – 9/2015


TRUNG ĐẠO
Middle Way
***
1. Khái quát về ý nghĩa Trung đạo. 

Trung đạo (中道;  P: Majjhi-māpaṭipadā;  S: Madhya-māpratipad;  E: Central Path, Middle Path, Middle Way;  F: Voie du Milieu, Voie Médiane, Voie
Moyenne):  Là từ được dùng chỉ chung cho các phương pháp giảng dạy của đạo Phật, nhằm tránh những cực đoan trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tiêu biểu là lối sống buông thả theo dục lạc hay lối sống trói buộc trong khổ hạnh. 


 Tư tưởng Trung đạo được xem là mới mẻ so với các khuynh hướng tư tưởng triết học và tôn giáo đương thời, cả về phương diện triết lý lẫn thực hành.
Phương pháp thực hành Trung đạo mang tính cách thực tế, lấy nền tảng nhân bản làm trung tâm, nên được xem là chỉ có trong đạo Phật và hoàn toàn không có nơi các tôn giáo khác, bởi các tôn giáo này luôn lấy giáo điều thần linh làm trụ cột. 


Trong một cực đoan, có thể là một người tốt bụng nhưng dại khờ, và trong một cực đoan khác, có thể là một người có nhiều kiến thức nhưng lại không có tình cảm.  Đạo Phật dạy con người cần phát triển và giữ thật cân bằng trọn vẹn cả tình cảm và lý trí, mà đỉnh cao là Từ bi và Trí tuệ – đó là thứ tình cảm không trói buộc và một lý trí không vướng mắc.
Trong tiếp cận chân lý, thì bất thiện là một cực đoan mà thiện cũng là một cực đoan, lìa hai cực đoan này chính là Thực tướng Trung đạo.
Xem thêm: - Vận dụng thuyết Trung Đạo của Nhà Phật trong đời sống hiện nay 


 2. Tư tưởng Trung đạo.
Picture7Picture12Picture13Trung đạo – Wikipedia tiếng Việt Middle Way - Wikipedia, the free encyclopedia
2.1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng Trung Đạo.
  Đức Phật Thích Ca vốn là vị hoàng tử của nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila-vastu), là người con duy nhất của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana). Khi chưa xuất gia Ngài sống trong hưởng thụ hầu hạ của hoàng cung. Qua thời gian, tự Ngài cảm thấy sự hưởng thụ đó không phải là thứ hạnh phúc chân thật; cho nên vào năm 29 tuổi, Ngài quyết định từ bỏ lối sống hưởng thụ đó xuất gia tìm cầu chân lý hạnh phúc.
Sau khi xuất gia học đạo, trong 6 năm đầu tiên đó Ngài đã theo tu học pháp tu khổ hạnh với hai vị đạo sư danh tiếng đương thời là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Ngài đã thực tập khổ hạnh, nhịn ăn uống, cho đến một ngày chỉ ăn một hạt mè; thân thể gầy còm, chỉ còn da bọc xương, tuy rằng đã thành tựu những gì người hai vị thầy này thành tựu. Thế nhưng, do nỗ lực quá sức, Ngài đã ngã quị xuống và bất tỉnh. Sau khi tỉnh lại Ngài cảm thấy sự khổ hạnh không phải là con đường tu tập đúng đắn, chỉ phí sức sai lầm,  cho nên Ngài quyết định từ bỏ phương pháp tu tập khổ hạnh, đi đến dòng sông Ni Liên Thiền và thọ nhận bát sữa từ sự cúng dường của thiếu nữ Tu-xà-đề (Sujata); Ngài đã cảm thấy thân thể khỏe dần, 


tinh thần minh mẫn. Chính sự kiện này đã giúp Ngài nhận ra rằng, con đường đi tới chân lý không thể đạt được với một thân thể hoàn toàn  kiệt quệ như vậy (He realized that Enlightement could not be gained with such an exhausted body). 


 2.2. Giáo lý Trung Đạo.
Theo bản kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesana-sutta) thuộc Trung Bộ kinh, thì thì từ ngữ đầu tiên mà đức Phật dùng để chỉ giáo pháp mà Ngài chứng ngộ là Y tánh Duyên khởi (Idapaccayata Paṭiccasamuppāda). Tuy nhiên ở bài pháp đầu tiên nơi bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana-sutta) thuộc Tương Ưng Bộ kinh, do đức Phật thuyết giảng cho năm ẩn sĩ từng tu khổ hạnh với Ngài trước đó tại Sàrnàth, thì Ngài lại gọi giáo pháp của mình là Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā), nhằm xác nhận rằng nhờ thực hành con đường Trung đạo, từ bỏ các lối sống cực đoan mà Như Lai sở đắc trí tuệ, thành tựu an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn: 


"Này chư Tỳ khưu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai?
- Một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. 
- Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. 
Này chư Tỳ khưu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ Trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn. Này chư Tỳ khưu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát Chánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinh tiến, Chánh niệm, Chánh định".

Nhìn chung, Trung đạo có thể gọi là Phật đạo, với ngụ ý hai giáo lý sau:
 - Duyên khởi (縁起;  P: Paṭiccasamuppāda;  S: Pratītyasamutpāda;  E: Dependent origination, Dependent arising;  F: Coproduction conditionnée):  Còn gọi là Trung đạo-Duyên khởi, tiêu biểu cho nhận thức về thực tại. 
 - Bát Chánh Đạo (八正道; P : ariyatthangikamagga; S : aryastangikamarga;  E : The Eightfold Path;  F:  Noble Chemin octuple):  Còn gọi là Trung đạo-Bát Chánh Đạo, tiêu biểu cho mọi hành động trong cuộc sống trên nhận thức Trung đạo-Duyên khởi. 
Cụ thể hơn, lý giải và thực hành 37 pháp trợ đạo trong kinh Tăng Chi Bộ, cũng đều phải dựa trên luận thuyết Trung đạo-Duyên khởi  này. 
3. Trung đạo là Duyên khởi.
tanhkhong_t1Duyên khởi – Wikipedia tiếng Việt Pratītyasamutpāda - Wikipedia, the free encyclopedia
vong_387210083
Trung đạo – Wikipedia tiếng Việt Middle Way - Wikipedia, the free encyclopedia
2.1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng Trung Đạo.
  Đức Phật Thích Ca vốn là vị hoàng tử của nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila-vastu), là người con duy nhất của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana). Khi chưa xuất gia Ngài sống trong hưởng thụ hầu hạ của hoàng cung. Qua thời gian, tự Ngài cảm thấy sự hưởng thụ đó không phải là thứ hạnh phúc chân thật; cho nên vào năm 29 tuổi, Ngài quyết định từ bỏ lối sống hưởng thụ đó xuất gia tìm cầu chân lý hạnh phúc. 


Sau khi xuất gia học đạo, trong 6 năm đầu tiên đó Ngài đã theo tu học pháp tu khổ hạnh với hai vị đạo sư danh tiếng đương thời là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Ngài đã thực tập khổ hạnh, nhịn ăn uống, cho đến một ngày chỉ ăn một hạt mè; thân thể gầy còm, chỉ còn da bọc xương, tuy rằng đã thành tựu những gì người hai vị thầy này thành tựu. Thế nhưng, do nỗ lực quá sức, Ngài đã ngã quị xuống và bất tỉnh. Sau khi tỉnh lại Ngài cảm thấy sự khổ hạnh không phải là con đường tu tập đúng đắn, chỉ phí sức sai lầm,  cho nên Ngài quyết định từ bỏ phương pháp tu tập khổ hạnh, đi đến dòng sông Ni Liên Thiền và thọ nhận bát sữa từ sự cúng dường của thiếu nữ Tu-xà-đề (Sujata); Ngài đã cảm thấy thân thể khỏe dần, tinh thần minh mẫn. Chính sự kiện này đã giúp Ngài nhận ra rằng, con đường đi tới chân lý không thể đạt được với một thân thể hoàn toàn  kiệt quệ như vậy (He realized that Enlightement could not be gained with such an exhausted body). 


 2.2. Giáo lý Trung Đạo.
Theo bản kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesana-sutta) thuộc Trung Bộ kinh, thì thì từ ngữ đầu tiên mà đức Phật dùng để chỉ giáo pháp mà Ngài chứng ngộ là Y tánh Duyên khởi (Idapaccayata Paṭiccasamuppāda). Tuy nhiên ở bài pháp đầu tiên nơi bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana-sutta) thuộc Tương Ưng Bộ kinh, do đức Phật thuyết giảng cho năm ẩn sĩ từng tu khổ hạnh với Ngài trước đó tại Sàrnàth, thì Ngài lại gọi giáo pháp của mình là Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā), nhằm xác nhận rằng nhờ thực hành con đường Trung đạo, từ bỏ các lối sống cực đoan mà Như Lai sở đắc trí tuệ, thành tựu an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn:
"Này chư Tỳ khưu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai?
- Một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. 
- Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. 
Này chư Tỳ khưu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ Trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn. Này chư Tỳ khưu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát Chánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinh tiến, Chánh niệm, Chánh định". 


Nhìn chung, Trung đạo có thể gọi là Phật đạo, với ngụ ý hai giáo lý sau:
 - Duyên khởi (縁起;  P: Paṭiccasamuppāda;  S: Pratītyasamutpāda;  E: Dependent origination, Dependent arising;  F: Coproduction conditionnée):  Còn gọi là Trung đạo-Duyên khởi, tiêu biểu cho nhận thức về thực tại. 
 - Bát Chánh Đạo (八正道; P : ariyatthangikamagga; S : aryastangikamarga;  E : The Eightfold Path;  F:  Noble Chemin octuple):  Còn gọi là Trung đạo-Bát Chánh Đạo, tiêu biểu cho mọi hành động trong cuộc sống trên nhận thức Trung đạo-Duyên khởi. 
Cụ thể hơn, lý giải và thực hành 37 pháp trợ đạo trong kinh Tăng Chi Bộ, cũng đều phải dựa trên luận thuyết Trung đạo-Duyên khởi  này.  


3. Trung đạo là Duyên khởi.
tanhkhong_t1Duyên khởi – Wikipedia tiếng Việt Pratītyasamutpāda - Wikipedia, the free encyclopedia
vong_387210083
 Nguyên lý Duyên khởi là nguyên lý trọng tâm của đạo Phật, đại diện cho thực tại luận hay thế giới quan của đạo Phật. Theo đó, các đường lối tư duy và thực hành của đạo Phật được đặt để và ứng dụng được gọi là Duyên sinh hay Duyên hợp.
 Nguyên lý Duyên khởi theo ghi nhận trong Mahavagga thuộc Luật tạng Pali, rằng sau khi giác ngộ, đức Phật tiếp tục ở lại dưới gốc cây Bồ-đề để thực nghiệm giải thoát lạc và thẩm sát lý Duyên khởi theo cả hai chiều thuận nghịch, và đã chứng thực như sau:
 “Khi thấy rõ bản chất như thật của các pháp, nguyên nhân sinh khởi và đoạn diệt, vị Bà-la-môn như mặt trời soi sáng cả bầu trời, an trú vững chắc, trừ hết mọi nghi ngờ”
 Sự phát hiện ra quy luật sinh diệt do Duyên khởi của hiện hữu với kết quả là “Nhãn sinh, Trí sinh, Tuệ sinh, Minh sinh, Quang sinh” đã đưa đến một sự thấy biết hoàn toàn mới mẻ - giác ngộ (bodhi). Theo đó, đức Phật đã thấy biết rõ sự thật
về hiện tượng vô thường sinh khởi và đoạn diệt liên tục của các pháp đều tuân theo một nguyên lý gọi là Duyên khởi (hay Duyên sinh, Duyên hợp):
Cái này có         vì   cái kia có. 
Cái này không   vì   cái kia không. 
Cái này sinh      vì   cái kia sinh.   
Cái này diệt      vì   cái kia diệt.   
K. Tiểu Bộ 1. 


   Các pháp từ duyên sinh.          Tự không có định tính.          Biết được nhân duyên này.         Đạt thuộc tính các pháp.          
K. Tư Ích.
Thật vậy, các pháp do duyên hợp và vận hành tương tác biến đổi khôn cùng. Tuy nhiên, do con người không thấu suốt được lẽ thật này, cho nên đã nảy sinh ra những nhầm lẫn chấp thủ cực đoan trong nhận thức và hành động theo quan niệm nhị nguyên-hữu ngã như sau: 
   Hữu (atthita)  Vô (natthita)
   Thường (sassata)  Đoạn (uccheda)
   Một (eketta)   Khác (anna)
   Một (eketta)   Nhiều (puthutta)
  Từ các tư duy cực đoan, đã nảy sinh ra những ý niệm đẹp-xấu, tốt-xấu, hay-dở, lạc quan-bi quan … được cố chấp hóa, đưa tới ưa-chê, chiếm giữ-loại trừ,
…, đã đưa con người đến biết bao khổ nạn.  Tuy nhiên, trong cuộc sống thực tế, phải thấy rằng việc phủ bác triệt để những ý niệm nói trên kỳ thực vẫn là một cực đoan cố chấp. Vì thế, thấy biết ra lẽ thật là nhằm giúp cho chúng ta cảnh giác vượt qua, để không phải bị ràng buộc và trôi lăn trong cái thế giới đầy bất trắc này. 
gunluk_agactaadam_102223620812
Hình ảnh tu khổ hạnh của nhiều tôn giáo tại Ấn Độ
 - Trong kinh Tương Ưng bộ 5 - đức Phật dạy :
 “ Có hai cực đoan vô ích mà người sống đời cao thượng không nên hành theo, đó là sống kết hợp với dục vọng thấp hèn và sống kết hợp với tự hành hạ mình, tự  làm khổ mình “.
- Trong kinh Maha Nidana, Trường A Hàm - đức Phật nói : 
 “Vì không hiểu biết thấu đáo giáo lý Duyên khởi này, nên chúng sinh sống trong cảnh rối loạn như tơ vò”. 


4. Trung đạo là Bát Chánh đạo.
10375104_1043805425635508_1251861700396456922_n
Bát chính đạo – Wikipedia Noble Eightfold Path - Wikipedia, the free encyclopedia
Đúng lẽ thật được gọi là Chánh.  Đức Phật đã chọn 8 hành động căn bản hợp đúng lẽ thật làm 8 yếu tố chuẩn mực để rèn luyện tu học, đó là : Chánh tri
Nói cách khác, Bát Chánh Đạo là pháp hành xuyên suốt cả đời sống thế tục và đời sống giải thoát.

De30_zpsac492ac0
Bát Chánh Đạo và các cơ cấu tu học khác
photo
 4.1. Chánh tri kiến (正知見;  P: samma-ditthi;  S: samyak-drsti;  E: right view, right understanding;  F: vision juste ou compréhension juste) :  Đó là thấy (kiến) đúng lẽ thật và hiểu, biết (tri) đúng lẽ thật – đó là lẽ thật Duyên khởi.  Nói cách khác, sự thấy-biết đúng lẽ thật này được xác lập trên nền tảng của nguyên lý chân lý  Duyên khởi.
 Trong kinh Tương Ưng bộ 2 - đức Phật đã trả lời vị tỳ khưu :
  “ …Này Kaccayana, ai với trí thấy như thực - thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới này là không có.
    … Này Kaccayana, ai với trí thấy như thực - thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới này là có.
     …Vị ấy không nghi ngờ, không phân vân, không duyên vào ai khác; trí ở đây là của vị ấy.  Cho đến như vậy, này Kaccayana, là  Chánh tri kiến” 
Nguyên lý Duyên khởi là khám phá trọng đại và là nền tảng của toàn bộ sự nghiệp lớn lao của đức Phật. Trong kinh Tạp A Hàm, đức Phật đã từng khẳng định rằng : 
“ Lý Duyên Khởi là lẽ thật chỉ rõ thực tính  duyên hợp nơi mọi sự mọi vật – vật lý hay tâm lý – trong vũ trụ.  Sự thật này luôn tồn tại cho dù Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện nơi thế gian này …”. 


 Nguyên lý Duyên khởi là vũ trụ quan của đạo Phật, là nền tảng của Nam tạng và Bắc tạng.  Ý nghĩa khái quát của nó trông có vẻ đơn giản, nhưng kỳ thực lý Duyên khởi không những là giáo lý tối thượng dẫn dắt chúng sinh đi tới giác ngộ Vô thượng Bồ đề, mà còn là giáo lý căn bản của tất cả kinh điển Phật giáo.  Kinh Tương Ưng 3 có ghi : 
“ Ai thấy Duyên khởi là thấy pháp, ai thấy pháp là thấy Phật …”.
 Nguyên lý Duyên khởi được đặc biệt trình bày trong các kinh như kinh Đại Bổn, kinh Đại Duyên (Trường bộ 1), kinh Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng bộ 2), …, nói đến tính tương tác (không gian) và tính biến đổi (thời gian) của các duyên (= vạn sự vạn vật).  Lý Duyên khởi có các biểu hiện đa dạng qua các nhận thức và hành động sau : 
chukhongtrongnhaphat-01
1/. Lý  Vô thường - Lý  Vô ngã :  (無常;  P: anicca;  S: anitya;  E: impermanence;  F: impermanence) - (無我;  P: anattā;  S: anātman;  E: no-self, not self, non-ego;  F: non-soi):  Các pháp do duyên hợp, nên về mặt hiện tượng là sự biến đổi – sinh diệt vô thường,  và về mặt bản chất là không thực có (= không hằng hữu) – duyên sinh vô ngã.  Như vậy, tướng của vạn pháp là vô tướng.
- Kinh Sati Patthane, đức Phật dạy : “ Chúng ta hãy quán chiếu sâu sắc sẽ thấy rằng năm uẩn không phải là một thực thể, mà là hiện tượng của loạt các tiến trình vật chất và tâm thức; chúng (năm uẩn) sinh diệt một cách liên tục và nhanh chóng, chúng luôn biến đổi từng phút, từng giây; chúng không bao giờ tĩnh mà luôn động, và không bao giờ là thực thể mà luôn biến hiện ”.
 - Kinh Pháp Cú, câu 113 : “ Ai sống cả trăm năm. Không thấy pháp sinh diệt. Tốt hơn sống một ngày. Thấy được pháp sinh diệt ”.
21
2/. Lý  Ba-la-mật (# lý Tùy duyên, lý Như lý tác ý : khế cơ-khế lý):  (= 度 độ;   波羅蜜;   P: pāramī;   S: pāramitā;   E: perfection;  F: perfection):  Các pháp do duyên hợp và vận hành tương tác nhau, nên về mặt hành động (tác) thì thể hiện khéo thích nghi, tùy hoàn cảnh, tùy thời, tùy căn cơ chúng sinh để mang lại lợi ích
cho mình, cho người; mọi hành động đều được thực hiện trên nhận thức vượt thoát các tập tục văn hóa thiếu nhân bản hay các thành kiến cố chấp của cá nhân. Vì thế, hệ quả là nội tâm được an tịnh, không bị chướng ngại bởi các hành động đã thực hiện.  Như vậy, tác với vạn pháp là vô tác (# tinh thần dĩ bất biến, ứng vạn biến của Dịch học).
- Trong Cư Trần Lạc Đạo của Sơ tổ Trúc Lâm có viết :
    Ở đời vui đạo thảy tùy duyên
    Đói đến thời ăn, mệt ngủ liền
    Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
    Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.   
- Trong Thanh Tịnh Đạo luận có ghi :
    Không có người hành động, chỉ có hành động.
     Ngoài sự chứng ngộ, không có người chứng ngộ.
    Chỉ có những thành phần cấu tạo luôn trôi chảy.
    Đó là quan kiến thực tiễn và chân chánh. 



  Lý Từ Bi-Trí Tuệ  là một điển hình của lý Ba-la-mật ứng xử trong hành động nhập thế, và đó chính là nguyên lý đạo đức của đạo Phật, nó thể hiện như một tình cảm rộng lớn mà không trói buộc, song hành cùng một trí tuệ không vướng mắc. Đây là hai phẩm chất chủ đạo thể hiện Ba-la-mật.
 - Từ :  Phát nguyện độ sinh đạt được hạnh phúc cao thượng và cảm thán trước hạnh phúc cao thượng của chúng sinh.
 - Bi :  Phát nguyện độ sinh vượt qua khổ đau thấp hèn và cảm thông trước khổ đau thấp hèn của chúng sinh.
- Trí tuệ :  Sáng tạo hay dung nạp có chọn lọc các quan điểm, các ứng xử cho mọi hành động, sao cho hợp với nguyên tắc “ Lợi mình và người, không được lợi mình mà hại người, không được lợi người mà hại mình, không được hại cả mình và người “  
(Nội dung ở Trung bộ Kinh II, Kinh thứ 61 và 62 và trong Trung bộ Kinh III, kinh thứ 147). 



Một cách diễn đạt khác về nguyên lý đạo đức này như sau: “… Nếu bảo từ bi là một thứ tình yêu, thì tình yêu này không phải là thứ cảm xúc nông nổi, hời hợt và sẵn sàng dẫn đến hành động một cách mù quáng. Mà chính đó phải là thứ cảm xúc sâu thẳm, xuất phát từ cái nhìn rộng lớn, không lầm lẫn, đi liền với toàn bộ cuộc sống như là một tổng thể. Vì thế, không có từ bi thì đời sống chúng ta sẽ như một thân cây khô cằn, và không có trí tuệ thì đó chỉ là sự sống trong tăm tối …”.
Xem thêm: - Ý Nghĩa Tùy Duyên - TÌM HIỂU VỀ NHƯ LÝ TÁC Ý (Yoniso manasikāra) - TU ĐÚNG "NHƯ LÝ TÁC Ý " 


 3/. Lý Nhân Quả (因果;  P;S : Hetu-Phala;  E : Cause and Effect;  F: Cause et Effet) :  Đây là nói gọn của lý Nhân Duyên Quả ( duyên 緣: P: paccaya, paticca;  S: pratyaya, pratitya;  E:  condition;  F: condition), là hình thức biểu hiện mang tính ứng dụng của lý Duyên khởi trong thực tế, và thường được gọi là lý Duyên sinh hay lý Duyên hợp.
   + Nhân :  được xem là duyên chính, còn gọi là nội duyên. Ví dụ : con người là duyên chính, tổ hợp bởi 5 duyên (5 uẩn).
   + Duyên :  được xem là duyên phụ, còn gọi là ngoại duyên, nó có thể có lợi (thiện) hay có hại (bất thiện) cho duyên chính. 
   + Quả :  là duyên chính mới hình thành từ sự phối hợp duyên chính và duyên phụ.
    Nhân  +  Duyên  =  Quả
Xem thêm : - Nhan Qua Khong Sai (TT Nhat Tu) Video - Bai Hoc Nhan Qua (TT Nhat Tu) Video
Từ đây, đức Phật đã đúc kết 2 cặp nhân quả trên con người, đó là cặp thế gian Khổ - Tập và cặp xuất thế gian Diệt - Đạo, được gọi là  Tứ Đế hay Tứ Thánh Đế, và đây chính là nguyên lý giáo dục đạo đức của đạo Phật cho con người.
 +  Khổ đế.  +  Tập đế.  +  Diệt đế.  +  Đạo đế.
 -  Ô động  -  Chấp tướng -  Thanh tịnh - Vô tướng
 -  Trói buộc  -  Chấp tác  -  Tự tại  -  Vô tác
 -  Trầm luân  -  Chấp tánh  -  Giải thoát  -  Vô tánh
 Chánh tri kiến chỉ được hình thành trên sự thấu hiểu chánh pháp –  lý Duyên khởi, từ đó hướng tới tỉnh giác trên hợp thể ngũ uẩn là “Không”,  tỉnh giác trên mọi hành động bởi “Vô Ngã” (“Ngoài sự học chánh pháp, không có người học chánh pháp “),  nhằm viễn ly các chấp thủ về tướng, về tác, về tánh. 


Với Chánh tri kiến thì có thể chắc chắn rằng suy tưởng (tư duy) sẽ đúng lẽ thật và trong sáng, và khi suy tưởng này thuần thục thì lời nói (ngữ), hành động (nghiệp) và sinh sống (mạng) cũng sẽ đúng không khác.  Chánh tri kiến sẽ soi sáng sự nổ lực (tinh tấn) là có lợi hay có hại cho việc nhớ nghĩ (niệm) và việc chuyên chú (định).  Tất cả đều hướng về thấy-hiểu đúng lẽ thật.
Do đó, Chánh tri kiến được xem là chi phần quan trọng nhất, là động lực chính trong Bát Chánh Đạo, chủ đạo ý hướng cho bảy chi phần còn lại. Nói cách khác,  Chánh tri kiến chính là tư tưởng Trung đạo chi phối toàn bộ 7 chi phần còn lại của Bát Chánh Đạo, hay Bát Chánh Đạo là tiêu biểu cho sự thực hành tu học theo tư tưởng Trung đạo, vượt qua mọi nhận thức và hành động cực đoan.
photo


 4.2. Chánh tư duy (正思唯;  P: samma-sankappa;  S: samyak-samkalpa;  E: right thought;  F: pensée juste ou discernement juste) :   Đó là suy nghĩ, suy tưởng, nghiệm xét đúng lẽ thật, hợp với Chánh tri kiến.  Nội dung có thể thực hiện như sau :
  1/ Giải trừ các ý nghiệp bất thiện tham-sân-si đã tạo tác bằng cách thực hành các ý nghiệp thiện viễn ly như bố thí, khoan dung [xem 3 điều (hay 12 điều suy rộng) ở phần Ý của 10 điều đạo đức (thập thiện)].
  Ý dẫn đầu các pháp   Ý dẫn đầu các pháp
  Ý làm chủ tạo tác    Ý làm chủ tạo tác
  Nếu với ý nhiễm ô    Nếu với ý thanh tịnh
  Nói năng hay hành động   Nói năng hay hành động
  Khổ não bước theo sau   An lạc bước theo sau
  Như xe theo vật kéo.   Như bóng không rời hình.
    k. Pháp Cú 1.    k. Pháp Cú 2. 


  2/ Tư duy theo tinh thần của lý Từ Bi-Trí Tụê.
  3/ Quán chiếu “ Ngoài sự tư duy đúng lẽ thật, không có người tư duy đúng lẽ thật “.
 Chúng ta biết rằng tuy tham-sân-si được xếp vào các độn sử (khó đoạn trừ), nhưng si theo tinh thần của Bát Chánh Đạo là chướng ngại cần triệt phá sớm với Chánh tri kiến, nhằm để dần đoạn diệt 2 chướng ngại còn lại là tham, sân. Bát Chánh Đạo có nét của phương châm “Đốn ngộ, Tiệm tu”. 
photo


 4.3. Chánh ngữ (正語;  P: samma-vaca;  S: samyak-vaca;  E: right speech;  F: parole juste) :  Đó là nói để diễn đạt ý tưởng đúng lẽ thật, hợp với Chánh tri kiến.  Nội dung có thể thực hiện như sau :
  1/ Giải trừ các khẩu nghiệp bất thiện đã tạo tác bằng cách thực hành các khẩu nghiệp thiện [x. 4 điều (hay16 điều suy rộng) ở phần Khẩu của 10 điều đạo đức (thập thiện)].
  2/ Nói năng theo tinh thần của lý Từ Bi-Trí Tuệ.
  3/ Quán chiếu  “ Ngoài sự nói đúng lẽ thật, không có người nói đúng lẽ thật “.
photo
 4.4. Chánh nghiệp:  (正業;  P: samma-kammanta;  S: samyak-karmanta;  E: right action;  F: action juste) :  Đó là hành động của thân theo ý tưởng đúng lẽ thật, hợp với Chánh tri kiến.  Nội dung có thể thực hiện như sau :
  1/ Giải trừ các thân nghiệp bất thiện đã tạo tác bằng cách thực hành các thân nghiệp thiện [x. 3 điều (hay 12 điều suy rộng) ở phần Thân của 10 điều đạo đức (thập thiện)].
  2/ Hành động của thân theo tinh thần của lý Từ Bi-Trí Tuệ.
  3/ Quán chiếu “ Ngoài sự hành động đúng lẽ thật, không có người hành động đúng lẽ thật “.
photo
 4.5. Chánh mạng: (正命;  P: samma-ajiva;  S: samyak- ajiva;  E: right livehood;  F: moyens d'existence) :  Đó là chọn nghề sinh nhai hợp với Chánh tri kiến có các nội dung có thể thực hiện như sau :
      1/ Nghề sinh nhai không ảnh hưởng đến sự vi phạm 40 điều đạo đức (suy rộng từ 10 điều đạo đức), hơn nữa lại có điều kiện thực hiện các điều đạo đức này.
  2/ Nghề sinh nhai không đi ngược lại tinh thần của lý Từ Bi-Trí Tuệ. 


  Với nội dung này, có thể thấy ngay một số nghề cần tránh như buôn bán người, buôn bán vũ khí, thuốc độc, chất say nghiện…, đầu cơ tích trữ làm lũng đoạn thị trường, nghề cho vay nặng lãi, nghề lợi dụng lòng mê tín dị đoan của con người, các nghề dịch vụ bắt chẹt trên sự thiếu hiểu biết của khách hàng… Và có lẽ “ nghề tu sĩ ” chân chánh là nghề tốt nhất.
photo
 4.6. Chánh tinh tấn (正精進;  P: samma-vayama;  S: samyak-vyayama;  E: right effort;  F: effort ou persévérance juste) :  Đó là nổ lực, chuyên cần trên 7 chi phần còn lại của Bát Chánh Đạo, hợp với Chánh tri kiến, biểu hịên qua 4 phạmvi sau :


1/ Nổ lực tiêu trừ các bất thiện pháp đã gây ra các bất thiện nghiệp.
  2/ Nổ lực ngăn ngừa, dập tắt các bất thiện pháp đang hoặc chưa phát sinh (như phòng hộ các căn).
  3/ Nổ lực làm phát sinh các thiện pháp (như các phẩm trợ đạo).
  4/ Nổ lực làm tăng trưởng các thiện pháp đã phát sinh.
  Như vậy, chánh tinh tấn thể hiện năng lực hướng tới làm chủ thân-khẩu-ý. 
photo
 4.7. Chánh niệm (正念;  P: samma-sati;  S: samyak-smrti;  E: right mindfulness;  F: attention juste, pleine conscience ou prise de conscience juste):  Đó là nhớ nghĩ mang tính cảnh giác thường xuyên [= chánh niệm (nhân) - tỉnh giác (quả)] trên 7 chi phần còn lại của Bát Chánh Đạo, hợp với Chánh tri kiến, có thể nội dung sau :
  1/ Có thể thực hiện trên mọi việc ta tiếp xúc, ở mọi lúc như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống hay đại tiểu tiện… với các lý của Chánh tri kiến.
  2/ Có thể thực hiện trên 4 lãnh vực  thân, thọ, tâm, pháp  (Tứ niệm xứ) với lý Vô thường – Vô ngã.
 Như vậy, chánh niệm thể hiện năng lực an lập từ nhiệm vụ không quên.
photo
 4.8. Chánh định (正定;  P: samma-samadhi;  S: samyak- samadhi;  E: right concentration;  F: concentration, établissement de l'être dans l'éveil):   Theo kinh Đại Tứ Thập – Trung Bộ 3, đó là tập trung thuần nhất, không dao động trên sự thành tựu của 7 chi phần còn lại của Bát Chánh Đạo, hợp với Chánh tri kiến, có thể thực hiện với nội dung sau :



1/ Tu tập 5  thiền chi  (P: jhananga) để chế ngự 5 triền cái (P: nivaranani).
+ Tầm (P: vitakka):  là hướng vào đối tượng đang quán chiếu như hơi thở…, để tỉnh thức và chế ngự  Hôn trầm - Thụy miên (P: thina – middha) là  biếng nhác, mê ngủ.
+  Tứ (P: vicara):  là bám sát vào đối tượng đang quán chiếu và suy xét kỹ…, để chế ngự Hoài nghi (P: vicikiccha) là tâm ngờ vực, phân vân nơi khả năng chứng đắc các tầng thiền.
+  Hỷ (P: piti):  là tâm thanh thản, tươi mát, nhẹ nhàng…, để chế ngự Sân hận (P: vyapada) là tâm giận hờn, nóng nảy.
+  Lạc (P: sukha):  là tâm an vui, thanh thoát …, để chế ngự Trạo cử - Hối quá (P: uddhacca – kukkucca) là tâm bất an bởi - bứt rứt, lo âu, xao động - nơi thân tâm.
+  Xả (P: ekaggata):  là tâm buông xả chỉ tập trung vào một đối tượng (nhất tâm)…, để chế ngự Tham dục (P: kamacchanda) là  tâm chấp mắc vào nhiều đối tượng đã từng tiếp cận. 
  2/  Tu tập 4 tầng thiền.
+  Sơ thiền    : tâm thiền gồm 5 thiền chi, thành tựu từ sự chuyển hóa 5 triền cái.
+  Nhị thiền  : tâm thiền chỉ còn 3 thiền chi là Hỷ, Lạc, Xả.
+  Tam thiền : tâm thiền chỉ còn 2 thiền chi là Lạc, Xả.
+  Tứ thiền    : tâm thiền chỉ còn 1 thiền chi là Xả, lúc đó thiền giả hướng tâm tới việc thành tựu minh (vijja : thấy biết) về các đời sống quá khứ, về nghiệp và nghiệp quả, về Tứ Đế, và sau cùng là chứng quả A-la-hán, thành tựu Niết Bàn (giải thoát).  
 Trong kinh Đế Phân Biệt Tâm - Trung Bộ kinh, luận về tiến trình giải thoát, đức Phật nói : “ Chánh định được tu tập cùng với 7 chi phần khác của Bát Chánh Đạo sẽ dẫn đến Chánh trí, và Chánh trí (P: samma nana) sẽ dẫn đến Chánh giải thoát (P: samma vimutti) ”.
Chú thích:  Đây là phương pháp tu định à tuệ. Tuy nhiên, trên thực tế tùy theo căn cơ và để tránh sự rơi vào cực đoan của định, phương pháp định-tuệ song tu hay thiền Chỉ-Quán thường được áp dụng và thường nói gọn là thiền Vipassana (thiền Tuệ).  Một hình thức khác của phương pháp tu định à tuệ là hệ 10 kiết sử thay vì hệ 5 triền cái, và quá trình tu chứng được phân biệt thành 4 giai đoạn với sự tu chứng gồm 4 quả thánh là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Hai phương pháp 5 triền cái và thiền Vipassana không nói cụ thể đến 4 quả thánh.
Xem thêm: - Bát Chánh Đạo. - Quảng Đức - Phương Pháp Thực Hành Bát Thánh Đạo trong thực tiễn ...
5. Trung đạo và Trung Quán Luận.
trungluan-thichthiensieu-biaANd9GcQWaiV1tjwDZLt_-vzVMon6hdZMk9RZC2okt4zTpnAN1A859Ek1Trung luận – Wikipedia tiếng Việt Mūlamadhyamakakārikā - Wikipedia, the free encyclopedia
NagarjunaLong Thụ – Wikipedia tiếng Việt Nagarjuna - Wikipedia, the free encyclopedia 



 Long Thụ (龍樹; S: Nāgārjuna) được xem là vị tổ thứ mười bốn của dòng thiền Phật giáo và cũng là người đã đặt nền móng đầu tiên của Phật giáo phát triển. Ngài là tác giả của tác phẩm Phật học nổi tiếng là Trung Quán Luận (còn được nói gọn là Trung Luận).
 Các nhà nghiên cứu cho rằng Long Thụ dường như đã nắm bắt rất kỹ những bản kinh Pali nhấn mạnh về Trung đạo-Duyên khởi khi trước tác Trung Quán Luận.  Có thể nói rằng Long Thụ đã lập lại giáo lý Trung đạo của đức Phật khi mở đầu tác phẩm của mình bằng bài kệ “Quán Nhân Duyên” – Phẩm 01, được xem là yếu chỉ của tác phẩm về nguyên lý Duyên khởi, cùng phủ bác 8 quan niệm chấp thủ nhị nguyên-hữu ngã (bát bất) đã được nêu nơi mục [3. Trung đạo là Duyên khởi. ]
不生亦不滅  Không sanh cũng không diệt 
不 常亦不斷  Không thường cũng không đoạn 
不 一亦不異  Không một cũng không khác 
不 來亦不出  Không đến cũng không đi
能說是因緣  Hay thuyết nhân duyên ấy 
善 滅諸戲論  Khéo diệt các hí luận 
我 稽首禮佛  Con cúi đầu lễ Phật 
諸 說中第一  Bậc nhất trong các thuyết
 Nổi bật hơn, bài kệ “Quán Tứ Đế - Phẩm 24  đã chỉ ra mối tương quan nhất quán giữa lý Duyên khởi và các cách nhìn về Trung đạo và Không tính:
眾因緣生法 Các pháp từ nhân duyên
我說即是空 Ta nói tức là Không
亦為是假名 Cũng gọi là giả danh
亦是中道義 Cũng là nghĩa Trung đạo.
Một nhận xét khác, Trung Quán Luận được xem như đã trình bày Trung đạo khá nặng về mặt luận lý triết học phá chấp hơn là chỉ rõ con đường thực hành, trong khi Trung đạo nơi kinh tạng Pali lại bao hàm cả hai phương diện, luận lý và thực hành.
Giải thích về  Trung Quán Luận, đại sư Ấn Thuận đã phân tích tác phẩm như được cấu thành bởi Trung Quán và Trung Luận:  Dùng phương pháp quán sát Trung đạo gọi là Trung Quán và dùng phương pháp để luận lý chứng minh Trung đạo gọi là Trung Luận. Cả hai Trung Quán và Trung Luận đều không thể thiếu được để đi đến chứng ngộ chân lý Thật tướng Trung đạo.
Xem thêm: - Trung Quán Luận - Nàgàrjuna Long Thụ - Thư Viện Hoa Sen - Trung Quán Luận - Bồ Tát Long Thọ - Thư Viện Hoa Sen - 2001-03 Trung quán luận — Làng Mai - Trung Quán Luận - Đại Sư Ấn Thuận - TT. Thích Nguyên ...
- Trung đạo – Con đường chắc thật đưa tới Niết-bàn – Thích Tâm Minh.
--------------------
Bài đọc thêm:
 Trích từ  “Tương Ưng Bộ Kinh – Samyutta Nikaya”
1/. Kinh Thuận Thế Phái - Lokayatika Sutta (SN 12.48)
Trú ở Sàvatthi.
Rồi một Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế đi đến Thế Tôn. Sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:
- "Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?"
- " Này Bà-la-môn, tất cả đều có, là chấp kiến thứ nhất của thế gian."
- "Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?"
- " Tất cả đều không có, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ hai của thế gian."
- "Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là một?"
- " Tất cả đều là một, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ ba của thế gian."
-" Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là nhiều?"
- Tất cả đều là nhiều, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ tư của thế gian.
Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường Trung đạo.
----------
Staying at Savatthi. 
Then a brahman cosmologist 1 went to the Blessed One and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. 
After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One, 
-"Now, then, Master Gotama, does everything 2 exist?"
-"Everything exists' is the senior form of cosmology, brahman."
-"Then, Master Gotama, does everything not exist?"
-"'Everything does not exist' is the second form of cosmology, brahman."


-"Then is everything a Oneness?"
-"'Everything is a Oneness' is the third form of cosmology, brahman."
"Then is everything a Manyness?"
"'Everything is a Manyness' is the fourth form of cosmology, brahman.
Avoiding these two extremes, the Tathagata teaches the Dhamma via the Middle Way.
2/. Kinh Một Vị Bà-La-Môn - Aññatra Sutta.
Trú tại Sàvatthi.
Rồi một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động là người cảm thọ?
- Này Bà-la-môn, người hành động là người cảm thọ, ấy là một cực đoan.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động khác, người cảm thọ khác?
- Người hành động khác, và người cảm thọ khác, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Thế Tôn thuyết pháp theo Trung đạo.
------------
 Dwelling at Savatthi. 
Then a certain brahman went to the Blessed One and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. 
As he was sitting there he said to the Blessed One: 
- "What now, Master Gotama: Is the one who acts the same one who experiences [the results of the act]?" 
[The Buddha:] "[To say,] 'The one who acts is the same one who experiences,' is one extreme."
[The brahman:] "Then, Master Gotama, is the one who acts someone other than the one who experiences?"
[The Buddha:] "[To say,] 'The one who acts is someone other than the one who experiences,' is the second extreme. Avoiding both of these extremes, the Tathagata teaches the Dhamma by means of the Middle Way.
Xem thêm : Chiakhoachocphat - Phapluan.net 





No comments: