Saturday, September 26, 2015

NGUYỄN THIÊN THỤ *TÔ THÙY YÊN




TÔ THÙY YÊN

NGUYỄN THIÊN THỤ

Sau 1975 ông bị tù ba lần, tổng cộng 13 năm tù cộng sản, ông và gia đình đến Mỹ năm 1993, cư ngụ tại St. Paul, Minnesota, Mỹ (Bà Thụy Vũ còn ở lại Sài Gòn) .
Tác phẩm:
-Thơ Tô Thùy Yên xuất bản ở Mỹ năm 1995.
-Thắp Tạ. Houston, Texas, Hoa Kỳ, 2004.

Chúng ta có thể lấy mốc thời gian 1975 để phân định giai đoạn văn học, và giai đoạn sự nghiệp của đa số văn nghệ sĩ miền Nam . Do đó, chúng ta có thể chia thơ Tô Thùy Yên ra hai giai đoạn:




Giai đoạn I: Trước 1975
-Giai đoạn II. Sau 1975.


Trên tạp chí Sáng Tạo, Tô Thùy Yên thường làm thơ, viết truyện, nhưng thường xuyên là thơ. Ông làm thơ xuôi, thơ tự do không vần, nhưng phần lớn thơ ông lúc này rất bí hiểm như thơ Thanh Tâm Tuyền.
Anh thường tự cật vấn có phải bởi anh là quanh cảnh bãi cát biển khơi mùa rét mướt, có phải bởi anh là cánh chim lẻ bầy bị nhiễm hoàng hôn sao cuộc đời lại như triều nước con kinh, sao cuộc đời lại như ngày không hạt cơm nào?
( Nhân nói về một danh từ riêng. Sáng Tạo 24, tháng 9-1958)

Thi ca của Tô Thùy Yên sau 1975 là một bước trỗi dậy của tâm thức và của nghệ thuật. Sau 1975, ông đã nói lên tiếng nói của dân tộc, một dân tộc yêu chuộng hòa bình đang quằn quại trong gông cùm cộng sản. Tô Thùy Yên đã nói về những thăng trầm và khổ đau của đời ông trong cơn lốc thế kỷ trong nhiều bài thơ viết sau 1975. Hai chữ TA VỀ của ông mang nhiều ý nghĩa. Trước tiên là quy cố hương sau bao năm tù đày. TA VỀ cũng có ý nghĩa « sinh ký tử quy », ai rồi cũng về cõi vĩnh hẳng, nhất là lớp người thất thập lại thấy ngày về gần hơn !.



Mười năm trong trại tù, ông mới được thả về. Ông nói lên tâm trạng ông trên đường về:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
. . . . . . . . . .

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẫn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
.( Ta về)

Ông chấp nhận thực tại đắng cay của người thua thiệt:

Hề ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô
. . . . . . . . .

Hề ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày cho hết đời ta.

(Hề ta trở lại gian nhà cỏ)

-Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt săp vô danh.
. .( Ta về)


Một đôi khi, Tô Thùy Yên cũng có chút lạc quan yêu đời vì trong địa ngục ông vẫn thấy có hoa nở, có bếp lửa ấm:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui vì nỗi lẻ loi.

. . . . . . . .

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.
( Ta về )



Khi ông trở về ngôi nhà cũ, mọi sự đã là đổ vỡ. Nhà tan cửa nát, ông phải tu bổ lại, và phải xây dựng lại cuộc đời:

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa
Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi.
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.(
Ta về)


Nghĩ về mình, về quốc gia, dân tộc, Tô Thùy Yên không khỏi xót xa vì chúng ta đã bị lũ lang sói tàn sát:

Lâu rồi quên cả bao lâu,
Thí thân, há sá tóc râu rộ tàn.
Một lần núi đổ sông dâng
Vắt cơm, hớp nước, âm phần là đây
Đêm nằm lệ chảy mòn tay
Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều
Mịt mùng gió lửa hiu hiu
Bóng nào khóc, bóng nào kêu não nùng
Thịt rơi xương rụng trùng trùng
Một thời thế ngã với từng xác thân. (
Hái rau)


Cái hình ảnh 'thiên địa dậy binh lửa', ( cũng giống như Chinh phụ ngâm thiên địa phong trần) cái hình ảnh tan vỡ của ngày 30-4-75 luôn hiện rõ trong tâm tưởng thi nhân:

-Nhớ xưa thiên địa bày hoang hạn,
Sông cạn, đầm khô, rừng rụi tàn
Gió đuổi trùng trùng sa mạc chạy
Thú sẩy đàn, nhân loại lìa tan.. . . .
Người chết không còn người dọn cất
Bỏ mặc tình quạ mổ diều tha.
( Lão trượng )


-Nhớ xưa thiên địa dậy binh lửa
Xứ xứ rần lên người giết người
Xứ loạn rừng kêu rú nhật nguyệt
Ruộng hoang, thành trống, ai tìm ai?

. . . . . .


Nhớ xưa thiên địa làm ly tán
Anh em nhà không ngó mặt nhau
Người chạy về thành, kẻ nhảy núi
Dốc đời cho một cuộc chiêm bao. . ( Hái rau )

Tô Thùy Yên đã ghi dấu tội ác của cộng sản lên trang sử nuớc Việt:


Mòn mỏi, thành Nam, nghĩa sĩ tận
Kèn chiều mấy tiếng lạc trời quê. . .
Pháp trường úng máu, khí xung uất. .. .

( Nhớ có lần trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)


Thơ của Tô Thùy Yên sau Sáng Tạo, nhất là sau 1975, là thơ hiện thực, là thơ tranh đấu, là thơ phản chiếu lịch sử quốc gia.

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân.
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan
Đem thân làm gã tù lưu xứ
Xí xóa đời ta với đất trời
Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu
Bàng hoàng thân thế cụm mây trôi
Đã mấy năm nay quằn quại đói
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo. ( Tàu đêm)


Bao năm buồn cho phận mình lưu lạc, thương cho quê hương tràn ngập trong sương khói, bây giờ khoảng 70 tuổi đời, ông cũng giống như bao người đi trước ông, nặng lòng nghĩ đến một ngày phải lên đường trở về cõi Không. Cuối cùng, mọi người đều phải đi tàu tốc hành (đi tàu suốt), và chỉ mua vé một chiều ( One way ticket)


NHỮNG THÀNH PHỐ MÀ TA KHÔNG GHÉ LẠI


Anh cũng như em đều từng trượt lỡ, trượt lỡ
Những cơ may
Thoáng vụt
Không chừng đã mở sáng cho ta
Những con đường khác hẳn
Đưa về những trạm dừng cũng khác hẳn ...
Nơi ta được chính mình
Như được bạc
Ở một nhà sòng cực cao sang.
(Nhà sòng đó cuối cùng phải đóng cửa.)


Và ta đứng lên sừng sững rỡ ràng
Giữa trăm nghìn con mắt sửng lặng
Đích đáng một lần trên trần gian.
Ôi những trượt lỡ thương tâm
Hoặc do mình hoăc chẳng phải do mình,
Thường khi không hiểu nổi
Như tính tình phản trắc của tương lai.

. . . . . . . .


Mai ta đi rồi.
Mai ta đi rồi,
Họa chăng còn một ít tàn tro
Từ bếp lửa qua đêm ngoài quãng trống.
Gió thổi bay tan
Trong một khoảng luyến thương
Nghe chừng cũng ngắn ngủi.
Ôi những thành phố mà ta chỉ băng
Mãi còn mơ ước ghé.



Sáng Tạo là giai đoạn I của Tô Thùy Yên tuổi trẻ. Thơ Tô Thùy Yên sau 1975 là một bước nhảy vọt. Và Thắp Tạ là một chuyển mình. Nhưng ba giai đoạn đều là thơ triết lý. Ta về, Lão trượng, Hái rau là những tiếng thở dài của thời loạn, của một tù binh trở về nhà cũ đổ nát. Thắp Tạ là nỗi đắng cay khi nhìn bóng xế chiều tà.


Thắp Tạ có 45 bài thơ, gồm một số bài thơ cũ đã sửa chữa như Lão trượng, Nhớ có lần trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát, Hái rau. . .. Thắp Tạ có nhiều bài thơ hay, và đó cũng là nỗi niềm u uất của một thi nhân vong quốc.



THẮP TẠ

tặng Huỳnh Diệu Bích


Một mình nàng lên núi chan chứa
Hỏi tìm cho gặp đá tiên tri
Về sau, đời có ra sao nữa
Cũng đã đành tâm sẵn một bề


. . . . . . .


Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương
Biển Đông đã một ngày xe cát...
Đắm giạt, mơ lai kiếp dã tràng.


Trong Thắp Tạ ông bày tỏ lòng yêu thương lẫn thù hận .Cũng như Nguyễn Đính Chiểu, ông yêu kẻ hiền lương, giận quân gian ác. Hai câu này được đặt ở trang đầu :


Thắp tạ càn khôn một vô ích,
Thắp tạ nhân quần một luyến thương


và ở đoạn sau


Người nhớ người mà cũng sợ người

( Nhớ có lần trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)



Thắp Tạ cũng như trong các thơ trước, bi quan và lạc quan nối tiếp nhau


-Nhìn cuộc sống còn nửa thức nửa ngủ
Hỏi lại mình: Lòng ngất tạnh khuya.

( Đường trường đêm)


-Dưới đất ta, đất nào chẳng võng,
Đời quẫy gây chao đảo thất thần.
Thôi hãy mừng còn đứng được trên đó. . .

(Nỗi mình lần giở)


Thắp Tạ là nói về chuyến đi trong tương lai, là những chuẩn bị tư tưởng cho cuộc hành trình sau cùng của một kiếp người. Ý tưởng này đã có lần trình bày trong Thơ Tô Thùy Yên như bài Những thành phố mà ta khôn ghé lại, nhưng lần này đậm nét hơn. Tác giả viết:


-Thức cho xong bài thơ
Mai sớm ra đi
Cài lên cửa tặng. ( Tặng phẩm)

-Đi như đi lạc trong trời đất
Thủy tận sơn cùng xúy xóa ta.
Cõi chiều đứng lại khóc như liễu
Có thật là ta đi đã xa.( Đi xa)

-Hay là vẫn mỗi cơn mê,
Trùng trùng mây sóng đi về tụ tan?
Tới luôn vượt vượt ngỡ ngàng,
Mà coi sau phía hoang đàng có chi.
Đằng nào cũng một lần đi,
Thêm vui,bớt tẻ, thôi thì tự ta. ( Cơn mê)


Chúng ta thấy Tô Thùy Yên mang tâm trạng vội vàng ra đi vì thời gian đã kề cận:


-Trời rạng. Chuyến đi không hoãn được.
Bài thơ tâm phát dẫu chưa xong.
Xin vẫn cài hờ lên cửa tạ.( Thơ tạ)

Thắp Tạ cho ta thấy tâm hồn cô đơn của tác giả.


-Mặt trời mọc đã quá lâu
Bức bối nỗi trần thân cô độc.( Dừng bước)


-Đơn thân trồng giữa mênh mông.

(Gặp gỡ giữa đường)


Trước đây, tác giả đã nhiều lần nói lên cái cảm giác cô đơn của ông. Tác giả cô đơn vì bại trận, biến thân tự do thành đời tù nhân đày đọa, và khi trở về nhà cũ, cha me, anh em, bạn bè, thành phố, cảnh vật đã đổi thay theo chiều hướng xấu. Nay sang Mỹ, ông cảm thấy lạc lỏng vì ông phải sống lưu đày trên đất Huê Kỳ xa lạ:


Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn,
Anh không còn muốc tự liệu định
Tốc độ cao gài cố định mặc,
Đường trường lái băng đêm.,
Như tự nguyện thất dại .


. . . . . . . . .


Nhìn cuộc sống còn nửa thức nửa ngủ
Hỏi lại mình: Lòng ngất tạnh khuya
Tìm đâu một chốn ấm hơi đời?

( Đường trường đêm)


Thắp Tạ là cái nhìn trở lại về đời mình, là những cảm tưởng về bản thân, là bản tự phê khi gần kết thúc một định kỳ. Ông cho rằng đời ông là đau khổ, là gian truân:


Mãi vận nghiệt vào ta,
Nỗi bất ổn làm người. ( Vận nghiệt)
Một đời hư bỏ liều mưa nắng.
. . . . . . . .

Bây giờ ta đã lỗi thời đặc. ( Nỗi mình lần giở)


Đa số thi sĩ thành công là nhờ những bài thơ thuở niên thiếu, Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng nổi tiếng là nhờ những bản tình ca lúc bình minh cuộc đời vừa lên. Thơ trước 1975 của Tô Thùy Yên mang nhan sắc tầm thường của cô gái mười ba. Nhưng sau 1975, thơ ông như cô gái dậy thì mà nhan sắc đã làm choáng váng nhiều kẻ tình si. Có lẽ tang thương của bản thân ông và đất nước đã cho ông một cảm xúc mạnh, và thay đổi tâm tư và tài năng. Rõ là cái học của đại học Văn Khoa và những sách vở Đông phương đã ảnh hưởng nhiều đến thơ ông. Thơ ông mang ý vị cổ kính của Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Kinh Thi , Đường Thi và kinh Phật:


Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm cổ lục đã ai ghi ?( Ta về)
Than ôi! Trời đã bỏ rơi dân! ( Mùa hạn)


Rau hạnh, rau vi từ lúc có
Chưa từng nguôi biếc bãi Kinh Thi
Cửa đẩy lầm, vô lường cuộc diện
Ba ngàn thế giới đã nhà chưa? ( Thắp tạ)


-Cổ kim chung một mái trời


Kinh Thi cũng có bóng người hái rau.(Hái rau)

-Trời đất vô ngôn lại bất nhân

( Hề ta trở lại gian nhà cỏ)


Ông thiện nghệ trong việc láy đi láy lại một từ: Ta về...Ta về..

Người nhớ người mà cũng sợ người

. . . . . . . . .


Trời ơi! Những xác thây la liệt,
Con ai, chồng ai, anh em ai?

( Nhớ có lần trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)


Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu

. . . . . . . .


Ngựa thở gào hển thở hào hển
Tàu chạy mau vẫn mau vẫn mau. .

( Cánh đồng con ngựa chuyến tàu)


Cách dùng chữ của Tô Thùy Yên rất tuyệt diệu, mang một tính cách mới mẽ và mạnh bạo:


Kể từ đây thế giới cư tang .

. . . . . . . . .

Ta gắng về sâu lòng quá vãng
Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên

. . . . . . . .

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ

. . . . . . . .


Ta về như tứ thơ xiêu tán

Trong cõi hoang đường trắng lãng quên ( Ta về)


Nghệ thuật của ông rất cao, và ông thường dùng lối ẩn dụ:


Trên dốc thời gian hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô (Ta về)
-Đôi bàn tay vỗ những âm thanh
Loan báo trần gian buổi thượng trình..
Của các vương tôn miền trí tuệ

( Mòn gót chân sương nắng tháng năm)



Sau 1975, Tô Thùy Yên thiên về dùng trường ca. Bài Ta về, Tàu đêm, Mòn gót chân sương nắng tháng năm, Hái rau, Hề ta trở lại gian nhà cỏ. . . là những bài thơ hay vì lời hay ý đẹp và hình ảnh rất nổi bật:


-Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can


. . . . . . . . .


Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủơ trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta ( Ta về)


Thơ của Tô Thủy Yên lời đẹp, ý sâu là đỉnh cao của nghệ thuật tượng trưng.Tiếng thơ của Tô Thùy Yên là tiếng thơ quê hương, tiếng thơ ngục tù. Thơ của ông là những hạt ngọc trong kho tàng văn học lưu đày của người Việt hải ngoại. Cuối năm 2004, tác giả 70 tuổi vẫn còn làm thơ, xuất tiền in thơ, tình yêu thơ của Tô Thùy Yên rất lớn lao!

(Trich NGUYỄN THIÊN THỤ -VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ TOÀN THƯ,
 6 TẬP-  gần 5000 trang. Sẽ xuất bản nay mai)


No comments: