Saturday, August 15, 2015

NGUYỄN THIÊN THỤ * VÕ PHƯỚC HIẾU





VÕ PHƯỚC HIẾU
NGUYỄN THIÊN THỤ

Võ Phước Hiếu lúc nhỏ tên là Võ Văn Thọ, còn có bút hiệu là Võ Đức Trung, sinh năm 1933 ( quý dậu) tại làng Thanh Hà, quận Châu Thành, tỉnh Chợ Lớn, sau Chợ Lớn thuộc đô thành Sàigòn- Chợ Lớn, quận này trở thành quận Bến Lức, tỉnh Long An. Võ Phuớc Hiếu thuộc gia đình giáo chức, cha và mẹ đều là giáo viên tỉnh Chợ Lớn.


Ông làm công chức thời đệ nhất cộng hòa, đến thời đệ nhị cộng hòa chuyển qua sinh sống với nghề tự do: ấn loát và xuất bản. Ông cũng đã từng làm báo, viết văn trước 1975. Ông cùng gia đình vượt biên tháng 6-1979 và đến Nam Dương. Tị nạn chánh trị tại Pháp từ tháng 11-1979 đến nay. Khi ra hải ngoại, ông chuyên về sáng tác thơ và truyện ngắn.


Tác phẩm:THƠ: Le Chemin vers La Mer. Présence Vietnamienne, 1988; Coeur de Mère. Présence Vietnamienne, 1989; Thắp Sáng Hoàng Hôn. Cửu Long, 1989. TẬP TRUYỆN: Phá Sơn Lâm Đâm Hà Bá. Làng Văn, Canada.2000; Hùm Chết Để Da . Làng Văn, Canada, 2001;Như Nước Trong Nguồn . Hương Cau, Paris. 2004; Bên Đục Bên Trong ( viết với Hiếu Đệ). Hương Cau, Paris, 2004; Niềm Đau Bạc Tóc ( viết với Hiếu Đệ), Hương Cau, Pháp, 2005; Ngàn Sao Lầp Lánh. ( chung với Hiếu Đệ). Hương Cau, Paris, 2008.
TUYỂN TẬP THƠ:
Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt Nam Hải Ngoại I, II, III, IV, VI, VI, VII (1975-2007). Văn Hóa Pháp Việt, 2002, 2007.


Đọc Võ Phước Hiếu, chúng ta thấy rõ sáu tập truyện phần lớn chú trọng về đồng quê miền Nam và thực trạng Việt Nam. 



Ông sinh trưởng ở tỉnh Chợ Lớn ngày xưa mà nay là Bến Lức thuộc tỉnh Long An. Tâm hồn ông đã gắn liền với quê hương và dân tộc. Bây giờ, ông cũng như bao triệu người Việt sau biến cố 1975 phải rời bỏ quê hương với bao niềm khổ đau và thương nhớ. Trong các tác phẩm của ông, chúng ta nhận thấy có hai miền Nam: Một miền Nam thanh bình và một miền Nam tang thương.


Như Nước Trong Nguồn dày 190 trang, mang sắc thái chung là quê hương miền Nam. Tác giả đã phác họa vài nét đơn sơ về quê hương của ông: Tôi sinh trưởng và lớn lên nơi làng Thanh Hà hẻo lánh quê mùa, đèo heo hút gió. Một làng nhỏ nhắn nên thơ với âm hưởng đặc trưng của vùng sông nước bạt ngàn phương Nam, nguyên sơ và kỳ bí. Nhà cửa vốn lưa thưa, không được bao nhiêu tộc họ quây quần trong nếp sống gia đình truyền thống 'tứ đại đồng đường', mấy thế hệ sum hợp, chung lưng đâu cật vui vẻ và hạnh phúc dưới một mái ấm duy nhất (21-22).


Nơi chôn nhau cắt rốn của Võ Phước Hiếu là nơi thôn dã, đầy vẻ hoang vu nhưng có nhiều màu sắc tươi đẹp của một thiên nhiên phong phú cảnh sắc. Võ Phước Hiếu đã đưa ta trở về khoảng hai trăm năm trước, khi miền Nam mới được khai phá. Võ Phước Hiếu viết về xóm Rạch Rít của ông: Cái xóm Rạch Rít nơi ông bà tôi an phận tuổi già được thành lập không lâu. Các hàng bô lão thuộc hàng thổ công đoan chắc chỉ ngót nghét một hai trăm năm là cùng. . . Xóm gồm trên dưới vài chục sinh mạng quanh năm dạn dày sương nắng, gió mưa (30).


Phá Sơn Lâm Đâm Hà Bá dày 238 trang, gồm bảy bút ký: Vét ao ăn tết, Trâu già chẳng nệ dao phay, Con quỷ Gò bướm quê tôi, Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá, Đồ quân ăn cướp, Văng vằng tiếng chuông, Đám cháy đầu xuân..


Tập truyện này đã trình bày nhiều sắc thái của đồng quê miền Nam. Võ Phước Hiếu đã tô vẽ hai cảnh Việt Nam khác biệt nhau. Đó là miền Nam trước 1945, là một miền Nam thanh bình với lúa xanh, mây trắng và miền Nam sau 1945, 1954 và sau 1975 là một miền Nam tràn ngập áo đen cờ đỏ. Một số truyện của Võ Phước Hiếu nói lên tình người ở nơi thôn quê miền Nam.Vét ao ăn tết viết về cuộc sống bình an ở nơi thôn quê Việt Nam trước 1945. Trong gia đình nghèo, như gia đình Bảy Sô, vợ chồng già thương yêu nhau, vui buồn có nhau, đúng theo nghĩa ''tương kính như tân''. Xóm làng dù có những mâu thuẫn , người này nói xấu người kia nhưng khi cần hợp tác để làm việc công ích lại đoàn kết với nhau, tích cực lao động như việc vét ao.


Trâu già chẳng nệ dao phay đề cao tình yêu quê hương. Chú Năm Nghê từng đi lính bên Tây, hết hạn đăng lính, chú không ở lại Pháp như một số người mà trở về Việt Nam bởi vì Chú thương cái xóm Rạch Rít. Chú nhớ quê hương, bà con lối xóm (64).


Võ Phước Hiếu đã đưa ta trở về cuộc sống êm đềm và thú vị của thời trước 1945. Đó là những cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của lao động. Người Việt Nam ta đi đến đâu, việc đầu tiên là lập một cảnh chùa, dù chỉ là vách lá đơn sơ. Cái niềm tin Phật giáo đã có từ ngàn xưa, thể hiện ở cái chùa làng của Võ Phước Hiếu. Chùa là trái tim của nhân dân và cũng là cảnh trí của đất nước, quê hương: Chùa làng tôi cổ lắm. Mái ngói cũ kỹ, rong rêu đóng dày cộm, xám sậm ẩm i. Chùa được xây cất lâu đời, khoảng thế kỷ trước trên ngôi đất ven rạch, tiện lợi cho khách thập phương và bổn đạo đến viếng vào thời buổi vàng son thịnh hành của ghe xuồng, sông nước. .( Phá Sơn Lâm Đâm Hà Bá, 180- 181).


Ngoài ra, trong Như Nước Trong Nguồn, Võ Phước Hiếu cũng cho ta biết những nếp sống và phong tục của quê ông như tôn sư trọng đạo, việc giáo dục ở thôn quê, việc trồng thuốc lá và hút thuốc lá, tục uống trà, tục xem phong thủy, tục nấu rượu và tệ nạn cờ bạc ở thôn quê trước 1945, nhất là cuộc sống thiếu phương tiện y tế ( bà mụ đỡ đẻ).


Võ Phước Hiếu chưa quên quá khứ thì làm sao ông quên hiện tại, một hiện tại nay đang biến thành quá khứ đã và đang vây phủ bao người Việt xa xứ? Chính cái biến cố 1945, 1954, và gần hơn, biến cố 1975 đã làm cho miền Nam điêu tàn, tang tóc. Cứ mỗi bút ký là một vài nét chấm phá về lịch sử Việt Nam hiện đại. Như thằng Ba La trong 1945 chết oan vì Việt Minh hành quyết về tội Việt gian :Phong trào bắt Việt gian làm nhiều người chết oan ức. Tám Thôi chưa kịp hoàn hồn sau vụ bắt cụ Bùi ở chùa Giác Hải bỗng nghe lũ trẻ la ó bắt được Việt gian sắp dẫn ngang nhà. . . Thì ra thằng Ba La, bạn chí thân của anh, bị trói thúc ké. (Như Nước Trong Nguồn, 140-141). Đó là cuộc đời của Tám Thôi. Sau 1945, thấy Sài Gòn đầy cảnh máu tanh, Tám Thôi lui về quê, dùng số tiền cần kiệm khi làm việc cho nhà thuốc Ông Tiên để cưới vợ và mua ruộng đất. Tám Thôi có hai đứa con lớn, sau 1975 phải đi ngồi tù, hai đứa con dâu phải về nương náu nhà ông. Tám Thôi phải quay về nghề câu tôm câu cá để nuôi sống gia đình. Cảnh khổ của ông cũng là cảnh khổ của đa số dân chúng xóm Rạch Rít khi cộng sản xâm chiếm miền Nam. Và con sông quê ông cũng mang số phận đau thương của dân tộc: Bây giờ trong xóm ai cũng đổ bung ra sông ra rạch chăn ví, săn đuổi cá tôm, tranh nhau đắp đổi qua ngày. Tôm cá bây giờ càng hiếm hoi. Cuộc sống thêm vất vả buồn nôn (Như Nước Trong Nguồn, 148). Đó là cuộc đời của chú Năm Nghê con người vui vẻ nhưng sau 1975 bị ''ghép vào thành phần phản động chống chế độ'', họ cấm dân chúng tụ họp cho nên nhà chú không còn ai dám lai vãng, chú bệnh và chết trong cô đơn và nghèo khổ (73) .


Rồi bao biến cố xảy ra cho đất nước Việt Nam mà xóm Rạch Rít của Võ Phước Hiếu cũng không thoát khỏi cơn đại hồng thủy. Nào là học tập cải tạo, nào là sản xuất tập thể hóa nông nghiệp (146-147), .Hai ông giáo trong Như Nước Trong Nguồn là những con người bất khuất, có quá khứ chống Pháp , ông thầy Huế chết già, còn ông giáo Sử bị Việt Minh giết vì ông yêu tự do, không chịu khuất phục đảng vô sản, đảng của thiểu số người ngông cuồng không tưởng, rắp tâm muốn áp đặt bằng võ lực và hận thù (75).


Trong Hùm Chết Để Da và Như Nước Trong Nguồn, tác giả đã nói về cuộc đời của tác giả và các bạn bè vì chịu không thấu khổ ách cộng sản phải bỏ nước mà đi: Tháng 6 năm 1979, sau thời gian mấy năm bị vùi dập trong những '' chiến dịch cải tạo'' , '' đánh tư sản mại bản'', '' kiểm kê công thương nghiệp'' và ''bài trừ văn hóa đồi trụy''. . . . tôi lặng lẽ cúi đầu tủi nhục, thấm thía bước xuống chiếc tàu cây định mệnh (Như Nước Trong Nguồn, 77).


Tác phẩm của Võ Phước Hiếu là bức tranh lụa về đất nước mieền Nam thanh bình, thịnh vượngh nhưng đã biến thành địa ngục dưới ach cộng sản. Tác phẩm của Võ Phước Hiếu là một phần của lịch sử Việt Nam hiện đại.


(Trich VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ ĐẠI CƯƠNG của NGUYỄN THIÊN THỤ sắp xuất bản)
\


No comments: