Sunday, July 12, 2015

VỀ 36 TRÍ THỨC

Vài suy nghĩ rời về “Thư Ngỏ” của nhóm Trí Thức hải ngoại gửi Nhà Nước CSVN

Posted by adminbasam on 12/09/2011
Đôi lời: Tối qua BS có đăng bài Nhân một bài viết của Ông Trần Phong Vũ-Bàn thêm về “Thư Ngỏ” của 36 trí thức hải ngoại của GS Lê Xuân Khoa. Cuối thư có để đường dẫn tới bài viết liên quan của ông Trần Phong Vũ trên DCVO. Sáng nay, BS nhận được email (có lẽ) của ông Trần Phong Vũ với đề nghị đăng lại toàn bộ bài viết của ông. Nhận thấy đó là yêu cầu hợp lẽ, BS xin được đăng lại bài viết này.
Kính gửi Ban Biên Tập website Ba Sàm,
Tôi vừa đọc được trên Website của quý BBT bài viết của Giáo sư Lê Xuân Khoa trả lời bài viết của tôi giãi bày vài suy nghĩ rời sau khi đọc Thư Ngỏ của 34 nhân sĩ, trí thức VN hải ngoại gửi các chức vị trong đảng và nhà nước CSVN.
Dù GS LXK đã cẩn thận tóm tắt nội dung bài viết của tôi, nhưng để độc giả hiểu được trọn vẹn những gì tôi viết, xin quý vị vui lòng cho đăng lại nguyên văn bài này trên mạng của quý vị.
Xin quý vị mở att kèm đây.
Để đề phòng att bị trục trắc không mở được, tôi xin paste nguyên văn bài viết dưới đây.
(Khi đọc thấy con số 34 , thay vì 36 trong thư này -cũng như trong bài viết của tôi- có thể quý vị nghĩ rằng tôi đếm sai. Bạn bè tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi xin nói rõ: Như trong mấy lời nói đầu bài, tôi đã công khai bày tỏ lòng kính trọng đối với hai vị ký tên trong Thư Ngỏ là GS Doãn Quốc Sỹ và GS Vũ Quốc Thúc nên từ trong vô thức tôi vẫn đinh ninh là chỉ có 34 vị thôi. Vì thề, tôi vẫn muốn giữ nguyên cho số 34.)
Đa tạ,
Trần Phong Vũ
Email: tphongvu@yahoo.com
ĐT: (949) 232 – 8660 (cell)

Vài suy nghĩ rời về

Thư Ngỏ của nhóm Trí Thức hải ngoại gửi Nhà Nước CSVN

Trần Phong Vũ
Đôi lời thưa trước:
Lá Thư Ngỏ của một nhóm trí thức hải ngoại gửi giới lãnh đạo trong nước hiện đang được phổ biến rộng rãi ở trong cũng như ngoài nước qua các mạng lưới điện toán. Mấy ngày gần đây, cá nhân chúng tôi cũng nhận được một bản trong hộp thư.
Nhiều ý kiến thuận nghịch đã được tung ra tạo nên một cuộc tranh luận khá sôi nổi giữa các công dân mạng. Người ta vừa được đọc bằng mắt trên các trang web, vừa được nghe những lời tán thưởng, hoặc bài bác trên các “Rooms” của hệ thống Paltalk, một dạng thái truyền thông hiện đại, khá phổ biến trong tập thể người Việt hải ngoại mấy năm gần đây.
Qua Email và điện thoại, khá nhiều bằng hữu tỏ ý muốn tôi bày tỏ quan điểm về Thư Ngỏ này. Nhưng tôi đã từ chối. Không phải vì tôi không có ý kiến riêng. Nhưng xét thấy đây là một vấn đề hệ trọng, không thể trả lời “Yes” hay “No” qua mấy câu trao đổi trên điện thoại hoặc ít giòng ngắn ngủi trên điện thư. Thêm nữa, nhìn vào danh tính 34 vị trí thức khoa bảng, trong số có những khuôn mặt đáng kính như Giáo sư Vũ Quốc Thúc, nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc sĩ, tôi ngại sẽ bị coi là khiếm lễ nếu câu trả lời quá giản lược dễ gây hiểu lầm!
Đấy là lý do thúc đẩy tôi viết bài này. Nếu không nói hết thì ít nhất cũng bày tỏ được phần nào những suy nghĩ chân thật và thành khẩn của tôi trong tinh thần tương kính và xây dựng.
I.- Nội dung Thư Ngỏ:
Sau khi bày tỏ thái độ “ủng hộ bản ‘Tuyên cáo’ ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” “hưởng ứng bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung,…”, các vị ký tên trong Thư Ngỏ tóm tắt một số những nhận định bổ túc, gồm những vấn đề sau đây: * Hiểm Họa ngoại bang. * Sức mạnh dân tộc. * Vị thế chính quyền. * Những việc cần làm
Trong “Những việc cần làm”, Thư Ngỏ nêu lên 4 điểm: 1- Đối với Trung Quốc. 2- Đối với ASEAN và các nước khác. 3. Đối với nhân dân trong nước. 4. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
II.- Đối tượng Thư Ngỏ:
Thư Ngỏ được gừi tới “các nhà lãnh đạo Việt Nam” trong đó bao gồm”
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam[1]
III.- Vài suy nghĩ của người viết
Trước hết về nội dung, chúng tôi đồng thuận một số quan điểm của các thức giả được trình bày trong Thư Ngỏ. Từ sự đồng tình ủng hộ bản ‘Tuyên cáo’ ngày 25-6-2011 của 25 nhân sĩ, trí thức trong nước, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”…“hưởng ứng bản ‘Kiến nghị’ ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung,…” …tới nhận định vể hiểm họa Trung Cộng từng được báo Sự Thật công khai xác nhận ý đồ xâm lược của Bắc kinh qua câu: “Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính”. Những phân tích về sức mạnh dân tộc trong đó bao gồm tiềm năng và triển vọng của khối 3 triệu người Việt hải ngoại và những lời phê phán về sự “lúng túng, mâu thuẫn” trong chính sách đối nội, đối ngoại của giới cầm quyền trong nước dẫn tới hệ quả tai hại là “hiển nhiên làm suy yếu sức mạnh dân tộc”… cũng phản ánh được phần nào quan điểm chung của tập thể tị nạn, trong đó có cá nhân người viết những giòng này.
Đi sâu vào khía cạnh ngôn từ, cung cách đạo đạt ý kiến, quan điểm trong “Những việc cần làm” gói ghém vào bốn chủ điểm: “Đối với Trung Quốc”; “Đối với Asean và các nước khác”; “Đối với nhân dân trong nước”; “Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”, nhất là khi đọc lại địa chỉ để nhận ra đối tượng Thư Ngỏ, quả thật chúng tôi không khỏi bận tâm.
Về đối tượng Thư Ngỏ:
Phía trên tiêu đề Thư Ngỏ ghi: THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM. Sau đó liệt kê chức danh của hầu hết những thành phần chóp bu của chế độ như Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc Hội, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Thủ tướng chính phủ đi kèm với danh xưng nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.
Đáng chú ý hơn cả là đối tượng sau chót được Thư Ngỏ gửi tới: Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam[2]
Đọc qua những trao đổi của công luận, nhất là các nhân sĩ, trí thức trên các điện thư, các diễn đàn Paltalk cũng như những lời tâm sự qua điện thoại liên quan tới Thư Ngỏ, tôi thấy nhiều ý kiến tỏ ra hết sức bất bình, nếu không muốn nói là bất mãn –bất mãn đến độ phải thốt ra những lời lẽ được coi là nặng nề! Theo nhận định của riêng chúng tôi, điều bất bình lớn và quan trọng nhất của công luận đối với Thư Ngỏ là sự lựa chọn đối tượng.
Có hai căn do biểu thị cho sự bất bình này:
1.- Phần đông, nếu không là tất cả 34 nhân sĩ, trí thức minh danh ký tên trong Thư Ngỏ đều là những người “tị nạn chính trị”. Cũng như hơn 3 triệu đồng bào,kẻ trước người sau quý vị đã phải bỏ nước ra đi tìm tự do vì không thể sống dưới chế độ cộng sản. (Trường hợp có vị nào không thuộc thành phần tị nạn chính trị xin minh danh cho biết để người viết có lời xin lỗi). Như thế cậu hỏi do công luận đặt ra là quý vị đã đứng trên cơ sở, vị trí nào để gửi thư cho những tay đầu sỏ trong dảng và nhà nước CSVN? Phải chăng đây là một cách của những người sớm quên căn cước “tị nạn chính trị” của mình để công khai nhìn nhận tính chính đáng của một thứ nhà nước đang bị toàn dân coi là “bè lũ cướp ngày”?!
2.- Căn do thứ hai được gói vào những câu hỏi: * thực chất cái gọi là “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” sau hơn 36 năm thử nghiệm trên toàn đất nước là gì? * Cung cách lì lợm, ngao mạn (Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ gọi là thói “Kiêu ngạo cộng sản”) mà chế độ này đối xử với các nhân sĩ trí thức trong nước ra sao? * Số phận của những loại “Kiến Nghị”, “Thỉnh Nguyện Thư”, “Thư Ngỏ” kể cả những “Góp Ý Xây Dựng” trong những kỳ bầu cử Quốc hội, Đại hội Đảng như thế nào? Câu trả lời xét thấy không cần nhắc lại vì mọi người đều đã biết.
Quả thật, dù nể nang, e ngại đụng chạm, hoặc vì muốn tránh né, cá nhân chúng tôi không thể không chia sẻ những bất bình này.
Là một tín hữu Công giáo, từ lâu chúng tôi không ngần ngại lên tiếng phê phán chủ trương gọi là “hợp tác”, “đối thoại” với chế độ của một vài vị trong hàng Giáo phẩm của chúng tôi ở trong nước. Chúng tôi quen gọi chủ trương “hợp tác”, “đối thoại” ấy là kiểu “hợp tác”, “đối thoại’, một chiếu! bất cân xứng!
Tại sao gọi là “Hợp tác một chiều, bất cân xứng”? Vì chỉ có một bên, -mà vì thiện chí, vì tình bác ái-, lăn xả vào xin hợp tác với kẻ có quyền, có thế để mong xoa dịu phần nào những vết thương lở lói trong xã hội, trong khi bên kia (nói rtrắng là đảng và nhà nước CSVN) chỉ biết lợi dụng để trốn trách nhiệm, để tiếp tục làm “kẻ cướp ngày” mà hệ quả là ngày càng làm cho vết thương xã hội thối rữa thêm. Chỉ cần nhìn vào lãnh vực giáo dục, vốn là lãnh vực GHCG có thẩm quyền nhất, thế mà cho đến nay khi nhân loại đã bước qua thập niên đầu của thiên niên thứ ba, các nhà giáo dục chân chính của Giáo hội Công giáo Việt nam “thời cộng sản” mới chỉ chính thức mon men tới cấp mẫu giáo!!! Thế thì đâu là kết quả của chủ trương “hợp tác”?
Còn “đối thoại”? “Đối thoại” với ai? Người ta có muốn nghe hay không mà “đối thoại”?
Cho nên, tôi không thể không cảm thông với một thức giả nào đó trong nước đã mệnh danh những cuộc “đối thoại” giữa cá nhân hoặc nhóm này nhóm khác với các ông trong đảng và nhà nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” hiện nay là những cuộc “đối thoại với những người điếc”!
Cũng với tư cách một tín hữu đang trực tiếp làm công tác truyền thông, văn hóa Công giáo Việt Nam ở hải ngoại, chúng tôi xin chia sẻ thêm với quý độc giả rằng: chúng tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm đau đớn xuyên qua những thiện chí và nỗ lực để “đối thoại” với đảng và nhà nước CSVN.
Xin nhớ lại những lời đối thoại thẳng thắn đầy tinh thần xây dựng của Đức cha Ngô Quang Kiệt, nguyên TGM Hànội cách đây vài năm và những hệ quả khốc hại xảy đến cho ngài, nói chung cho GHCGVN hiện nay ra sao, quý độc giả sẽ hiểu được điều tôi muốn gửi gấm.
Trong thư, 34 trí thức có đề cập bản ‘Tuyên cáo’ ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức và  bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ trí thức khác. Quý vị cũng nhắc tới danh xưng của “Viện Nghiên cứu Phát triển IDS” do TS Nguyễn Quang A đứng đầu. Hơn ai hết, hẳn các tác giả Thư Ngỏ cũng đã rõ về số phần của những thứ gọi là “tuyên cáo”, “Kiến nghị” và “Viện Nghiên cứu  Phát triển IDS” ra sao rồi!
Người viết những giòng này cũng chưa quên cuộc “đi đêm” giữa thứ trưởng ngoại giáo CSVN Hồ Xuân Sơn với các đồng nhiệm Trung cộng của ông ta ngày 25-6-11. Khi về nước, trong khi HXS và bộ Ngoại giao im tiếng thì chính TTX Trung cộng công khai cho biết về những cam kết “nhục nhã” của Hànội với Bắc Kinh, không ngoài ý đồ dấn sâu vào con đường bán nước! Và trí thức trong nước đã tức thời phản ứng. Ngày 02-7-2011, 18 vị trong số có những khuôn mặt quen thuộc như TS Nguyễn Quang A, GS Nguyễn Huệ Chi, cựu tướng Lê Trọng Vĩnh v.v… đã viết một Kiến nghị (lại Kiến nghị!) đòi Bộ Ngoại Giao phải bạch hóa chuyến đi đêm của Hồ Xuân Sơn. Kết quả của thiện chí này đã bị Bộ Ngoại Giao cư xử “đẹp” ra sao, mời độc giả tìm đọc bài viết của GS Nguyễn Huệ Chi tựa đề “Chúng Tôi Đi Gặp Bộ Ngoại Giao” trên các trang mạng hoặc trên các báo Việt ngữ trong cộng đồng Việt tị nạn ở hải ngoại, gần đây. Riêng nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, bài viết của GS Chi đã được đăng tải trên số 117 phát hành tháng 8-2011 trang 37. Hơn ai hết, chắc chắn 34 vị trí thức ký tên trong Thư Ngỏ đã rõ.
Vài mẩu chuyện thời sự
Những thực chứng rất thời sự đang diễn ra từng ngày từng giờ ngay lúc này trên đất nước cũng là những bằng cớ cụ thể cho người viết những giòng này cảm thông với tâm trạng bất bình của công luận trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại khi đọc Thư Ngỏ của một nhóm trí thức Việt Nam hải ngoại gửi các lãnh đạo CSVN.
Mẩu chuyện thứ nhất:
Sáng Thứ Năm 31-8-2011, tôi đọc được trên mạng basamnews on 31.08.2011 lá Thư Ngỏ của nhà văn Nguyễn Ngọc với nội dung nguyên văn như sau:
Thư của Nhà văn Nguyên Ngọc gửi Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị
Posted by basamnews on 31.08.2011
Đây là bức thư của tôi gửi ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, chiều 25-8-2011.
Định là thư ngỏ, nhưng tôi chưa công bố ngay, mà gửi trước cho vài người bạn qua email để tham khảo ý kiến.
Không biết qua đường nào, ông Phạm Quang Nghị đã biết được thư này và tối 25-8 đã đến nhà tôi, trong khi tôi đi vắng. Sáng 26-8 ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, nói rằng có thể Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Nội “đã non nớt” trong khi phát phóng sự (về những người biểu tình).
Từ đó đến nay, tôi chưa công bố bức thư này để chờ xem Đài PT-TH Hà Nội trả lời ra sao về việc làm sai trái của họ.
Nay đã có trả lời phủi tay và vô liêm sỉ của ông Trần Gia Thái, tôi quyết định đưa bức thư ra trước công luận.
Nguyên Ngọc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngày 25-8-2011

Kính gửi ông Phạm Quang Nghị,
Bí thư Thành ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hà Nội,
Tôi viết thư này cho ông vì ông là Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam của thành phố Hà Nội, là người lãnh đạo cao nhất của thành phố này, đương nhiên chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của các tổ chức và cơ quan dưới quyền lãnh đạo của ông, không chỉ là tổ chức Đảng mà cả tổ chức và cơ quan chính quyền theo cơ chế ở nước ta hiện nay.
Tối ngày 22 tháng 8 năm 2011, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình thời sự hằng ngày của mình từ 18 giờ 30 đến 19 giờ, đã cho phát một phóng sự về những cuộc biểu tình và những người biểu tình ở Hà Nội trong thời gian vừa qua, mà chính ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an thành phố, đã trịnh trọng tuyên bố trong một cuộc họp báo trước đó là biểu tình yêu nước chống Trung Quốc gây hấn, đe dọa nghiêm trọng nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam. Vậy mà đến tối 22 tháng 8, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội đã quay ngược hoàn toàn, coi các cuộc biểu tình và những người biểu tình ấy là phản động, và trong khi nói như vậy đã đồng thời đưa rõ hình ảnh ba người là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải và tôi.
Thưa ông,
Tôi năm nay đã 80 tuổi. Cho đến nay, trong suốt cuộc đời 80 năm qua của tôi, chưa có ai dám vu khống và xúc phạm tôi nặng nề như đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, một cơ quan đặt dưới dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông. Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ.
Đài này còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể ông cũng từng được biết, vào thời cải cách ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là đại biểu của “quần chúng nhân dân” lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và Chính quyền Hà Nội.
Tôi xin hỏi:
1 – Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông, có chủ trương và chỉ đạo việc thực hiện chương trình sai pháp luật và cực kỳ vô văn hóa này của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội không?
2 – Nếu không có chủ trương và chỉ đạo đó, mà đây chỉ là hành động “tự phát” của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, thì ai chịu trách nhiệm về việc làm sai trái nghiêm trọng này?
Thành ủy Hà Nội sẽ xử lý những người đó như thế nào?
Bởi vì sự xúc phạm của đài Hà Nội là công khai, với toàn dân, với cả nước, cả thế giới, nên bức thư này của tôi là thư ngỏ, và tôi yêu cầu câu trả lời của ông cũng phải công khai.
Tôi và tất cả những người có lương tri yêu cầu và chờ đợi câu trả lời đó.
Trân trọng,
Nguyên Ngọc
Mẩu chuyện thứ hai:
Cũng trên mạng basamnews trước đó một ngày, nhà văn Nguyên Ngọc đã công bố bài viết ngắn sau đây:
Thôi nhé, hiểu rõ quá rồi!
Xin đọc một mẩu văn chương thánh thót của nữ nhà văn Hoàng Thu Vân trên báo Hà Nội Mới * ngày 29-8-2011 sau đây:
“Sáng chủ nhật 28-8, Hà Nội thật thanh bình, yên ả. Chớm thu, nắng và gió nhè nhẹ trải quanh hồ Hoàn Kiếm. Không còn những cuộc tuần hành, biểu tình tự phát, không còn những đám người tụ tập gây huyên náo…
 Người già chậm rãi thả bước dạo quanh hồ, trẻ em tung tăng nô đùa ở sân trước tượng đài Lý Thái Tổ, còn những đôi uyên ương thì tranh thủ chụp hình ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ bên Hồ Gươm khi mùa cưới đã về. Hơn hai tháng qua, nhiều người dân ở khu vực này nói riêng và hơn 7 triệu người Hà Nội cùng gần 90 triệu người dân Việt Nam nói chung luôn mong muốn được chứng kiến những hình ảnh bình dị như vậy về một thành phố được UNESCO trao tặng danh hiệu Thành phố Vì hòa bình, đại diện cho sự phát triển ổn định của một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ…”
Rồi hôm nay, 30-8-2011, đọc mẩu tin này trích từ bài viết về việc tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa sang hội đàm với tướng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên **:
“Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn”.
À ra là vậy, ông tướng Vịnh vất vả lặn lội sang tận Bắc Kinh, trịnh trọng hứa với ông tướng Tàu “sẽ kiên quyết” (tất nhiên là với nhân dân của mình) chỉ là để cho “Hà Nội thật thanh bình, yên ả. Chớm thu, nắng và gió nhè nhẹ trải quanh hồ Hoàn Kiếm …” thôi mà!
Có vậy mà các vị nhân sĩ trí thức ta cứ phản đối, kiến nghị này nọ um sùm. Thật là chẳng hiểu biết gì cả!
Thôi nhé, nay thì đã hiểu rõ quá rồi!
Nguyên Ngoc


Suy nghĩ chót:
Cũng sáng nay (Thứ Năm 31-8-11) tôi đọc được trong bài phỏng vấn của đài RFA những câu trả lời của giáo sư Lê Xuân Khoa, một trong những vị ký tên trong Thư Ngỏ. Tôi không có điều gì để thưa với GS Khoa. Chỉ xin GS và mọi người đọc kỹ lại lá thư gửi Phạm Quang Nghị và bài viết ngắn trên đây của nhà văn, nhà báo Nguyên Ngọc.
Xin lưu ý GS một chi tiết đáng suy nghĩ về nội dung lời “đoan hứa” của tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng CSVN sau cuộc mật đàm với tướng Mã Hiểu Thiên của Trung cộng được nhà văn Nguyên Ngọc trích trong bài viết của ông. Lời “đoan hứa” không phải công bố năm trước hay tháng trước. Nó còn nóng hổi vì mới được công bố hôm qua, 30-8-2011.
Sau khi lập lại chi tiết này, nhà văn Nguyên Ngọc đã phát hiện điều gì khác lạ đánh động ông khi cay đắng kết thúc bài viết:
“Có vậy mà các vị nhân sĩ trí thức ta cứ phản đối, kiến nghị này nọ um sùm. Thật là chẳng hiểu biết gì cả!
Thôi nhé, nay thì đã hiểu rõ quá rồi!”
Bây giờ đến lượt những người Việt “tị nạn chính trị” chúng ta ở hải ngoại, dĩ nhiên bao gồm cả 34 tác giả Thư Ngỏ gửi lãnh đạo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Liệu chúng ta có cần xét lại xem mình đã thật sự sáng mắt, sáng lòng để nhận chân được những sự thật trên quê hương chưa?
IV.- Một gợi ý chợt đến
Sau khi bài viết được gửi đi để chia sẻ với vài người bạn, một suy tư bất chợt đến với tôi qua câu hỏi: liệu các nhân sĩ, trí thức Việt Nam ở hải ngoại có cần phải có một bản Bản Lên Tiếng chính thức về tình hình đất nước trong lúc này không? Nếu cần thì nội dung và đối tượng của văn kiện này sẽ ra sao?
Thiết nghĩ sự kiện 34 nhân sĩ, trí thức vừa công bố Thư Ngỏ là một dấu chỉ cụ thể cho thấy đây quả là một nhu cầu cấp bách khi mà hiểm họa xâm lăng của kẻ thù phương Bắc ngày càng trở nên rõ rệt, đòi buộc mọi người, mọi giới phải quan tâm. Như thế vấn đề còn lại là xác định đối tượng và nội dung cho Bản Lên Tiếng.
Đối tượng:
Theo thiển kiến, đối tượng của Bản Lên Tiếng sẽ là toàn thể đồng bào trong và ngoài đất nước, bao gồm tất cả mọi thành phần trẻ, già, trai, gái, giàu nghèo, thuộc mọi giai tầng xã hội, kề cả đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Nội dung
Trình bày cô đọng nhưng đầy đủ và trung thực, không thiên kiến về tình hình đất nước hiện nay trên cả hai mặt nội trị (chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội) và ngoại giao. Đặc biêt nhấn mạnh tới những hình thái xâm lược tinh vi và sâu độc của Trung quốc nhắm vào Việt Nam gần đây. Đưa ra những gợi ý cụ thể về những biện pháp cấp thời phải có cùng với hướng nhìn vào tương lai… giúp mở ra một vận hội mới cho dân tộc (Hẳn sẽ có thắc mắc đặt ra khi đối tượng Bản Lên Tiếng mở rộng cho cả đảng và nhà nước CSVN. Tôi thành thực nghĩ rằng vấn nạn này sẽ được giải tỏa qua nội dung văn kiện này).
Câu hỏi chót được đặt ra:
Ai, tập thể nào sẽ đứng ra đảm nhiệm việc phác thảo nội dung Bản Lên Tiếng? Về điểm này, tôi chân thành chờ đợi những đóng góp ý kiến rộng rãi của các thức giả trong cộng đồng người Việt hải ngoại, kể cà những vị đã có thiện ý ký tên trong Thư Ngỏ vừa qua.

Nam California, Thứ Tư ngày cuối cùng tháng 8 –hoàn chỉnh ngày 01-9- 2011.
Trần Phong Vũ

 

  Ý kiến về “Thư Ngỏ” của ông Lê Xuân Khoa với sự ủng hộ của nhà báo Trần Bình Nam

Khương Tử Dân
Sau khi đọc bài viết của tác giả Trần Bình Nam, tôi xin mạn phép có một số ý kiến về bài viết này liên quan đến thư ngỏ của 36 nhân vật có khoa bảng, học vị đã ký tên trong thư ngỏ gửi cho các nhân vật tai to mặt lớn đang độc quyền cai trị ở Việt Nam cộng sản, từ hơn 80 năm qua. Dưới thời Việt Minh và đảng cộng sản VN, không biết bao nhiêu trí thức đã bị gông cùm, ngục tù và bị thủ tiêu, bị biến mất một cách mờ ám, đen tối.

Trước hết phải xác định rõ là thư ngỏ này do ông Lê Xuân Khoa soạn, còn có bao nhiêu người ký tên thì không ai rõ, chỉ biết là có tất cả 36 người. Điều chắc chắn là nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã lên tiếng là đã không biết gì về thư ngỏ, và cũng không hề ký tên vào thư ngỏ đã gửi đi. Như vậy là có sự trí trá trong đó, ít hay nhiều. Dù ít hay nhiều, tính chất, giá trị của nó chỉ còn là một con số không to lớn. Thư ngỏ do ông Lê Xuân Khoa soạn ra, hay phịa ra như một tô phở bột Ajinomoto đã bị ô nhiễm…. Đấy là một trò gian dối, nói một đàng làm một nẻo, mượn danh của người khác để mua danh, mua lợi cho mình.

Điều thứ hai, khi ông Lê Xuân Khoa trong một bài viết tiếp theo thư ngỏ và từ bài viết của tác giả Trần Phong Vũ, ông Lê Xuân Khoa bèn giải thích:”Chúng ta cũng cần phân biệt “Thư Ngỏ” không phải là “Kiến nghị”. Đúng như tên của nó, Thư ngỏ không gửi riêng cho đối tượng mà được mở cho toàn thể mọi người, trong và ngoài nước. Điều này hoàn toàn khác biệt với thực tế là thư ngỏ do ông Lê Xuân Khoa soạn ra đã gửi cho các quan chức bạo quyền như sau:
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chủ tịch và Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Lời nói của ông Lê Xuân Khoa đã tự mâu thuẩu với nhau trong một thời gian quá ngắn.Thư ngỏ gửi đi với sự giải thích, có hai màu sắc khác biệt, có sự ô nhiễm, thiếu trong sạch, thiếu ánh sáng, thiếu quang minh chính đại, thiếu trung thực, thiếu thành tín, thiếu sự tín nhiệm, thiếu tin cậy đối với một người lãnh đạo có học thức, có khoa bảng, và nhất là đối với một nhà giáo ở cấp bậc hậu đại học. Hơn nữa, ông Lê Xuân Khoa là người có tuổi, cao niên, lời nói đúng ra phải có trọng lượng ngàn cân, như đinh đóng cột, như một người quân tử, nhất ngôn, tứ mã nan truy. Ông Lê Xuân Khoa đã được làm lễ thượng thọ, chắc chắn phải trên 80 tuổi.

Điều thứ ba, tác giả Trần Bình Nam đưa ra hai thí dụ nói về bà ngoại trưởng C. Rice thời TT. Bush và thủ tướng Tony Blair đã tiếp kiến, đón nhận nhà độc tài, bạo chúa Gaddafi của Libya, đúng theo nghi lễ để chứng minh là:”chúng ta không thể phủ nhận rằng chính quyền Hà Nội là một chính quyền được thừa nhận theo công pháp quốc tế.  Xin lỗi ông Trần Bình Nam nhé, từ ngữ “chúng ta” ông sử dụng ở trong bài viết của ông, được nêu trên là muốn nói đến nhóm 36 người đã ký vào “thư ngỏ tào lao” hay để chỉ cộng đồng người Việt tỵ nạn CS VN ở hải ngoại? Dù là nhóm thư ngỏ 36 người, hay cả cộng người Việt tỵ nạn CSVN Hà nội cũng đều vô nghĩa, vì sự thừa nhận hay phủ nhận hoàn toàn do mỗi cá nhân, không thể tuyệt đối là phải thừa nhận chính quyền CSVN, vì tất cả 36 vị có tên trong thư ngỏ, chỉ là những cá thể riêng biệt, độc lập, có tự do, không đại diện cho một chính quyền nào cả. Nói cách khác họ là dân thường, mang quốc tịch My/, Pháp,/ Anh,/ Úc,/ Canada,/ Thụy sĩ….Họ không có quan hệ ngoại giao với nhà cầm quyền Hà nội. Thí dụ như chính quyền TT. Bush khi tiếp TT. Dũng/ Chủ tịch Nguỹên Minh Triết ở toà Bạch Ốc, Chính phủ Bush phải treo cờ máu một sao ở phòng hợp ở tòa Bách Ốc, nhưng cộng đồng người Việt tỵ nạn bên ngoài tòa Bạch ốc, vẫn tự do cầm cờ vàng ba sọc đỏ dàn chào TT. Dũng/ chủ tịch Triết và hô to khẩu hiệu: “đã đảo VC”, Việt cộng, VC go home”. Như chính TT. Bush đã có lần nói, đó là tự do, dân chủ ở Mỹ. Điều ông Trần Bình Nam viết là có chỗ chẳng thuyết phục được ai cả. Nói cách khác những gì ông Lê Xuân Khoa viết, qua sự cò mồi của giáo sư Vũ Quốc Thúc, tiếp theo bài viết của tác giả Trần Phong Vũ không thuyết phục được đa số, nếu có chăng là thuyết phục được tác giả Trần Bình Nam, và một thiểu số trí thức khoa bảng vịt kiều đã được đảng và nhà nước kết nạp và đón tiếp bằng xe công an có còi hụ như ls. vịt kìu Nguỹên Hữu Liêm đã tự sướng kể lại. Điều ông Lê Xuân Khoa không biết tới là rất nhiều thành phố của nhiều tiểu bang Mỹ chỉ công nhận là cờ vàng ba sọc đỏ của cộng đồng người việt tỵ nạn CSVN hà nội ở Mỹ, mà không công nhận lá cở máu của Việt cộng.

Trước đây cũng khá lâu, có thể vào năm 2004, không biết ông Trần Bình Nam có còn nhớ đến sự kiện đại sứ Việt cộng tên Nguyên Tâm Chiến, viết một bức thư phản đối nghị sĩ Pam Roach, bang Washington  về vụ người Việt tỵ nạn CSVN Hà nội đã xây một tượng đài kỹ niệm thuyền nhân và những chiến sĩ vô danh. Đại sứ VC, Nguỹên Tâm Chiến đã viện dẫn là hai nước đã có ban giao quốc tế nầy nọ, thì chuyện xây dựng tượng đài chỉ có tính cách ôm giữ quá khứ, là không đúng tư cách pháp lý giao ước ngoại giao, làm hai nước mất đi tình hữu nghị, mà nên dẹp bỏ. Đại sứ Việt cộng Nguỹên Tâm Chiến đã bị phản hồi nhục nhã, bị dạy cho một bài học về nhân quyền, về tự do… và còn bị bang Washington từ chối vinh danh cờ máu, chỉ vinh danh cờ vàng. Đấy là một điều quốc nhục cho đảng, cho nhà nước CSVN. Vì bang Washington đã chính thức vinh danh cở vàng ba sọc đỏ, màu cở của VNCH và ủng hộ, hậu thuẩn cho cộng đồng người Việt tỵ nạn CSVN Hà nội thuộc bang Washington xây tượng đài theo dự án. Ông Terrell A. Minarcin chỉ nhân danh là công dân bang Washington trả lời đại sứ VC Nguyên Tâm Chiến. Đấy là văn thư đã làm cho đại sứ VC ở Washington phải xấu hổ, tủi nhục vì đã không học được bài học ngoại giao chính thống. Vấn đề này cũng tương tự như nhiều thành phố ở Mỹ, Canada đã thừa nhận là cở quốc gia của cộng đồng người Việt ty CSVN Hà nội, mà không công nhận cờ máu, một sao có mười sáu chữ vàng y organic. Những định nghĩa về từ ngữ chính danh do Gs. Vũ Quốc Thúc bỏ vào mồm ông Lê Xuân Khoa, giải thích tíếp theo bài viết của tác giả Trần Phong Vũ, chẳng thuyết phục được bao nhiêu người. Ông Lê Xuân Khoa đã lấp liếm trong vụ chữ ký, ngưgời đứng tên, về việc ngôn từ chính danh, về thư ngỏ… nào là không gửi cho đối tượng. Thứ Thư ngỏ đã viết gửi cho ai, lại có tên, chức vụ tùm lum ta la. Ông Lê xuân Khoa đã thiếu thành tín, nói ngược nói xuôi, nói hai lời, tiền hậu bất nhất….

Điều thứ tư, ông Trần Bình Nam đã viết:” Chỉ trích xây dựng thì ít, chỉ trích để có tiếng nói thì nhiều”. Tôi nghĩ câu nói này ông đã viết ra không đúng đối tượng lắm, mà nên viết cho ông Lê Xuân Khoa và 35 trí thức vịt kiều khoa bảng có tên trong “Thư ngỏ” thì đúng hơn. Vì nội dung của “Thư ngỏ” toàn là chuyện tào lao, báo chí toàn cầu, các bloggers trong nước đã phải vào tù, bị gông cùm là vì một số điểm mà người dân Việt trong và ngoài nước đã và đang đấu tranh. Ông Lê xuân Khoa và nhóm trí thức vịt kìu khoa bảng, tự họ đã muốn gây tiếng vang, vừa đánh trống thổi kèn, vừa tự kiêu, tự sướng với những điểm chẳng có gì gọi là tuyệt chiêu, chỉ toàn là các thế võ trói gà, như có người đã nói, là họ đang muốn đảng và nhà nước bíết rõ là họ hiện hữu.  Nếu ông Trần Bình Nam tự nghĩ là nếu có 36K người ký tên sẽ làm thay đổi được tình thế dưới sự lãnh đạo của ”vịt kìu yêu nước” Lê Xuân Khoa? Điều này có thể sẽ là một ảo tưởng, và có thể còn là một ác mộng, vì ông Trần Bình Nam đã nói là chưa hề quen biết với ông Lê Xuân Khoa. Ông Trần Bình Nam quả thật đã có nhiều can đảm vì đã hậu thuẩn, ủng hộ, đồng thuận với một người mà ông Trần Bình Nam, chưa hề quen biết. Hay cũng có thể ông Trần Bình Nam chỉ nhìn vào người có tên sau cùng là giáo sư Vũ Quốc Thúc mà lên giọng áp đảo mọi người. Chỉ tiếc là giáo sư Vũ Quốc Thúc hiện tại hoàn toàn khác biết với Gs.Vũ Quốc Thúc nửa thế kỹ trước. Chính một người cháu của giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng đã bật mí trên mạng như vậy. Bất cứ sự vật gì sau hơn nửa thế kỹ, đều bị soi mòn, hay đã biến mất. Chắc ông Trần Bình Nam đã thừa biết điều đó. Kiến thức khoa học, sự nghiên cứu, học hỏi sau nửa thế kỹ không biết bao nhiêu là sự thay đổi, cứ thử nhìn lại bản thân, và các nước Nhật, Mỹ, Đức… so với nửa thế kỹ trước. Có nhiều sự kiện, dữ liệu liên hệ đến khoa học chỉ một vài tháng trước sau, đã có nghiệm chứng, sai lệch. Sự sai lệch, chệch hướng thường xuyên xảy ra trong nghị trường chính trị nhiều hơn tất cả.

Điều thứ năm, ông Lê Xuân Khoa, tuy học về văn chương, triết học, nhưng đã dính líu vào sự nghiệp chính trị từ lâu, nhất là về vấn đề hòa giải, hòa hợp. Ông Lê Xuân Khoa cũng đã nhiều lần từ chối chào cở trong các buổi ra mắt sách của ông ta, và làm nhiều người bất bình. Cộng đồng người Việt tỵ nạn đã quá quen mặt với ông Lê Xuân Khoa, qua nhiều bài viết, nhiều cuộc tiếp kiến không mấy thiện cảm cho lắm trong mấy lần ông Lê Xuân Khoa ra mắt sách. Cá nhân tôi nghĩ là đa số người chỉ trích, công kích ông Lê Xuân Khoa vì sự thiếu thành tín, thiếu quang minh chính đại của ông ta, ông Lê Xuân Khoa không phải là người trọng chữ tín, mà là người hai lời, thích móc nối, đi đêm. Làm chính trị thời đại ngày nay mà nhị tâm, hai ba đầu, tráo trở, lấp liếm nhập nhằng thì phải tự coi như đã tự thiêu, tự hũy hoại mình, sau khi cộng đồng đã biết rõ sự thật, vì̀ đã mất tín nhiệm, mất sự tín cẩn. Điển hình như trường hợp của anh em nhà họ Hoàng Cơ Minh, của đảng Việt Tân. Ông Trần Bình Nam có sự tín nhiệm, tin cậy vào ông Lê Xuân Khoa là quyền tự do cá nhân của ông, nhưng ông không thể áp đặt cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản Hà nội phải đặt tín nhiệm vào những người đã có sự lem nhem chưa được ánh sáng chiếu rọi, là một điều thất sách có ảnh hưởng tai hại cả cho uy tín của ông. Xin quí vị nhìn vào hình dưới đây cho thấy ông Lê Xuân Khoa, móc nối đi đêm với VC lâu rồi. Ông Lê Xuân Khoa mang chức vụ gì trong đảng cầm quyền Hà nội, mà lại được huy hiệu cờ đỏ, sao vàng cài trên cổ áo “coat” khi đi dự dạ tiệc? Nếu so với các đảng ủy trung ương BCT, sẽ thấy rõ hơn.

“Nhà “giáo” Lê Xuân Khoa đeo biểu tượng cờ đỏ sao vàng trên cổ áo “coat”, được Trần Khuê đón tiếp.
http://vietvungvinh.com/2011/images/stories/2011-07/297-6.jpg

Thư ngỏ của ông Lê Xuân Khoa đã gửi cho 5 tham quan, bốn quan chóp bu đã có hình ảnh, tên họ gi trên. Tất cả các tham quan trong BCT đều có mang phủ hiệu, biểu tượng cở máu, sao vàng, y chang như cái phù hiệu trên c̀ổ áo của ông trí thức vịt kìu yêu H2O Lê Xuân Khoa.
http://files.myopera.com/nguyenphucbaoan/blog/TU%20TRU%20SANG%20TRONG%20HUNG%20DUNG.jpg

Điều thứ sáu, ông Trần Bình Nam cho rằng:” khi đất nước đang trong hoàn cảnh “chỉ mành treo chuông” không có tính “hòa giải hòa hợp”  là sự việc quá khôi hài, nếu không muốn nói là tiếu lâm. Ông Trần Bình Nam, dường như đang ngủ mê, không nghe biết gì cà̉về những gì các quan tổng bí thư, thủ tướng CSVN đã nói. Ông Trần Bình Nam chắc cũng chưa bao giờ nghe hai quan đại tướng, trung tướng tổng trưởng, phó tổng trưởng quốc phòng đã tuyên bố. Trên thực tế Việt cộng với Tầu cộng vẫn là anh em trong tình hữu nghị có cùng chung lý tưởng, quyền lợi, nghĩa vụ như sông liền sông, núi liền núi như ông Đái Bỉnh Quốc đã tuyên bố khi  tham quan CSVNXHCN… Mối tình hữu nghị, thân giao nầy đã bắt đầu tử thời Mao Hồ. Những sự việc ông Trần Bình Nam viết ra, nào là “chỉ mành cheo chuông”, “cứu nước như cứu lửa” là hoàn toàn sai lầm, nếu không muốn nói là chỉ có tính hù dọa, rung cây nhát khỉ, diễn trò kịch bản cho vui thôi. Thử hỏi có bao nhiều người tin vào lời nói của ông Trần Bình Nam so với thực trạng chính trị giưã hai nước Tàu Việt cộng đang diễn ra từ nhiều thập niên qua.

Những nhận định của ông Lê Xuân Khoa và 35 trí thức khoa bảng vịt kìu yêu nước trong “Thư ngỏ” quá hèn nhát. Họ không dám nói lên thực trạng tham nhũng, về công hàm án nước của Phạm văn Đồng năm 1958, thực trạng chia năm, sẻ bẩy trong đảng CSVN, và hiện tình kinh tế, lạm phát, tiền tệ mất giá, nhất là về các tập đoàn kinh tế, quốc doanh của đảng và nhà nước đã làm đất nước ngày càng tụt hậu. Làm kẻ sĩ mà hèn nhát, thiếu thẳng thắn, thiếu quang minh chính đại, thiếu khí khái, thiếu cả trái tim và cái đầu như thủ tướng Putin đã khẳng định thì còn có giá trị gì? Với tình trạng bất ổn, suy thoái, xã hội băng hoại như vậy, thử hỏi còn được quần chúng tín nhịêm, ủng hộ, hậu thuẩn sao? Làm kẻ sĩ chân chính là phải đứng về phía dân, đấu tranh cho quyền lợi, tự do, dân chủ của nhân dân, chứ không phải đứng về phía bạo quyền để cò mồi cho bạo chúa làm chuyện này chuyện kia. Đó là những chuyện tào lao có ý đồ của kẻ nịnh hót để kiếm chút lợi danh, bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi….

Nhiều cuộc họp mặt song phương đã diễn ra ở Hà Nội, và ở Bắc Kinh, cho cả hai bên, hai phía anh em cộng sản Tầu Việt cộng đã nhất trí đồng thuận từ trong ra ngoài qua cách trang điểm, phục sức giữa ông Đái Bỉnh Quốc và Nguỹên Tấn Dũng, giưã các tướng lãnh, và nhất là tổng bí thư Nguỹên Trọng Phú, được dân Hà nội gọi là Trọng Lú. Như vậy thế nầy là thế nào, ông Trần Bình Nam lại khẳng định là đất nước đang ở trong tình trạng “chỉ mành treo chuông”, hay “cứu nước như cứu lửa, có phải là nghịch lý, trái chiều không? (Điều làm tôi ngạc nhiên là ông Trần Bình Nam là nhà bình luận chính trị có uy tín, không hiều sao lại bình luận về vụ “Thư ngỏ” của ông Lê Xuân Khoa thiếu thẳng thắn, thiếu trung thực, thiếu sâu sắc, thiếu sáng suốt, thiếu đại chúng… Có thể tác giả Trần Bình Nam chỉ dưạ vào học vị tiến sĩ, và cái danh xưng giáo sư đại học ở Johns Hopkins mà có tư duy lệch lạc…)

Điều sau cùng tôi muốn nói nhỏ riêng với ông Trần Bình Nam là, môi trường chính trị, diễn đàn chính trị hoàn toàn không giống với môi trường, diễn đàn học thuật, nghiên cứu chỉ thuần tính triết học, văn hóa, nghệ thuật và khoa học như ở các đại học đã có truyền thống. Môi trường chính trị, và diễn đàn chính trị ngoài xã hội tập họp đủ mọi thành phần có trình độ văn hóa, kiến thức quá khác biệt và cũng là vùng đất đấm đá, tranh giành  tiền bạc, lợi nhuận, đủ màu sắc tư lợi, đen đỏ có thể đi đến hành động thủ tiêu, làm cho đối phương phải biến mất. Nếu đòi hỏi phải có lời lẽ nhã nhặng, lịch sự, khiêm nhường theo phép xã giao, nghi thức truyền thống như ở các đại giảng đường đại học, thì chỉ là một ảo tưởng. Mà ngay trong môi trường đại học ở Viêtnam XHCN hiện tại, cũng không còn có truyển thống văn hóa, học thuật triết học của thời đại hơn nửa thế kỹ trước, vì bản chất, truyền thống đại học đã bị thay đổi theo cơ chế XHCN. Nhưng đó cũng là cái nghiệp của những người làm chính trị, họ phải đối diện với các cơ quan ngôn luận, báo chí về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí đã được luật pháp hậu thuẩn. Người làm chính trị phải biết rõ thời cơ để tiến thối, quy ẩn, nếu không sẽ bị chửi thậm tệ, bị nhạo báng, bị phỉ nhổ, dù họ có minh chứng giải trình minh bạch hay không. Điển hình như các vụ Watergate, thổi sáo vườn hồng, hay vụ phục quốc của Hoàng cơ Minh qua phim ảnh chẳng hạn.

Bạo quyền CSVN trước sau gì cũng sụp đổ, không phải do cộng đồng người Việt tỵ nạn CS Hà nội ở hải ngoại, mà chính do người dân trong nước nổi dậy, một phần do tự họ suy thoái trong nội bộ đấm đá với nhau. Có một sự việc, mà cộng đồng có thể làm được mà cộng đồng đã không làm là chấm dứt nạn gửi tiền về thiên đàng mù và dứt khoát không về CSVN. Nếu thực hiện được hai điều đó, CSVN đã sụp đổ từ lâu.

Nếu “Thư ngỏ” của ông Lê Xuân Khoa được xác định trong giới hạn trí thức khoa bảng ‘vịt kiều yêu nước” ở hải ngoại, có thể đã không bị phản đối, chỉ trích thậm tệ như vậy.

DTK

 https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2011/09/16/y-ki%E1%BA%BFn-v%E1%BB%81-th%C6%B0-ng%E1%BB%8F-c%E1%BB%A7a-ong-le-xuan-khoa-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BB%B1-%E1%BB%A7ng-h%E1%BB%99-c%E1%BB%A7a-nha-bao-tr%E1%BA%A7n-binh-nam-kh%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%AD-da/

 

Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Thư Ngỏ của


36 trí thức gửi lãnh đạo Việt Nam


Xuân Khoa
18-09-2011
Trên trang blog AnhBaSàm ở trong nước ngày 12 tháng Chín, đề mục số 348, phản hồi số 13, một độc giả ở San Jose là Lê Hoàng, sau khi tán thành nội dung của “Thư Ngỏ”, đã có một lời nhắn nhủ rất đặc biệt đối với những người ký tên trên thư : “Nếu những nhà trí thức hải ngoại có bị những người cầm quyền Việt Nam và những người không hiểu họ chà đạp bức Thư Ngỏ này, thì những người ký tên chỉ nên mỉm cười và nói: ‘Thế à.’ như một thiền sư Nhật Bản.” Nhưng ngay sau đó, độc giả Lê Hoàng nêu lên với tôi một sự việc cần phải làm cho rõ, đó là: “nhà văn Doãn Quốc Sỹ có ký tên vào Thư Ngỏ này hay không.”
Trong câu trả lời ông Lê Hoàng qua trang blog ABS, tôi viết: “Tôi vẫn biết rằng có nhiều áp lực của một số người với nhà văn Doãn Quốc Sỹ và gia đình để yêu cầu ông rút tên hay đính chính, trong lúc gia đình ông Sỹ đang đau đớn, bối rối về sự ra đi của bà Doãn Quốc Sỹ. Tôi thấy cần phải chia sẻ và kính trọng nỗi đau của gia đình một người bạn thân từ 60 năm nay, nên quyết định giữ im lặng cho đến sau ngày tang lễ cho người quá cố. Sự thật và lẽ phải luôn luôn còn đó. Tôi nghĩ rằng ông Lê Hoàng sẽ đồng ý với tôi là cần kính trọng nỗi đau đớn của tang gia trong lúc này, và chờ thêm một vài ngày nữa.”
Thật ra, trong một lần điện thoại với gia đình giáo sư/nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi bà Sỹ chưa mất, tôi đã được biết là có một số người quen đã hối thúc ông Sỹ rút tên ra khỏi Thư Ngỏ, với lý do là ông đang bị lôi cuốn vào những hoạt động chính trị phe nhóm trong cộng đồng, nhất là tên của ông lại được đưa lên đầu danh sách. Để tránh cho ông khỏi bị phiền nhiễu trong lúc đang yếu và buồn, các con ông đã không để cho ông trả lời điện thoại và nói với những người gọi đến rằng “đây là chuyện giữa hai người bạn thân là bố Sỹ và bác Khoa. Bố Sỹ đang cần được yên tĩnh, vậy xin cứ hỏi bác Khoa.” Quả thật, gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ có bị dao động và có sự thắc mắc chính đáng là tên tuổi ông có thể bị dùng vào mục đích chính tri hay không. Sau khi được tôi trấn an, một người con ông Sỹ vẫn hỏi tôi xem có thể đưa tên ông Sỹ xuống dưới trong danh sách hay không.
Tôi không thấy ai liên lạc với tôi để hỏi han về chuyện này mà chỉ thấy tiếp tục phổ biến những bài chỉ trích tôi bằng những lời lẽ nặng nề về những chuyện hoàn toàn vu khống. Ngay cả Giáo sư Vũ Quốc Thúc, 92 tuổi, một bậc thày đáng kính của nhiều thế hệ, cũng đang bị phỉ báng vì ông cũng được yêu cầu rút tên nhưng ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của Thư Ngỏ. Luật sư Đoàn Thanh Liêm, một cựu tù cải tạo, cũng bị một cựu học sinh Hội Cựu học sinh Chu Văn An yêu cầu ông rút tên khỏi Thư Ngỏ, nếu không thì phải rút lui khòi Hội đồng Quản trị của Hội CVA, mặc dù ông ký tên với danh nghĩa cá nhân chứ không dưới danh nghĩa Hội.
Sau ngày tang lễ cho bà Doãn Quốc Sỹ, tôi viết cho trưởng nam của ông bà là Doãn Quốc Thái để cùng ôn lại sự việc, và báo cho Thái hay là tôi cần phải nói lên sự thật vì trách nhiệm của tôi đối với những người cùng ký tên trên Thư Ngỏ và với tất cả những người vẫn tin cậy ở lề lối làm việc nghiêm chỉnh của tôi. Trong email trả lời, Thái nhắc lại sự mong muốn mọi người để cho gia đình được yên tĩnh và xác nhận với tôi một lần nữa là “cháu đã xác định với họ là bác rất thân với bố cháu nên mọi việc thắc mắc xin hỏi bác thay vì gọi phone cho bố cháu.”
Tôi đã bỏ ra thêm vài ngày tĩnh tâm để có thể trình bày sự việc một cách bình thản, không do xúc cảm. Việc nhà văn Doãn Quốc Sỹ ký tên trên Thư Ngỏ là một chuyện rất bình thường, giản dị, không khác gì trường hợp của 35 người khác cùng ký tên. Sự việc được diễn ra như sau:
1. Ngày 17 tháng Tám, tôi gửi thư mời nhà văn Doãn Quốc Sỹ ký tên trên Thư Ngỏ. Thư mời này được gửi qua địa chỉ email của Doãn Quốc Thái như thường lệ, vì ông Sỹ không có địa chỉ email riêng.
2. Cũng trong ngày 17, Thái trả lời tôi: ”Thưa bác, Cháu đã đưa bố cháu xem, bố cháu nhận lời ký tên trong danh sách.”  
3. Khuya hôm đó, tôi hồi âm cám ơn ông Sỹ và Thái, nhân thể  nói về việc Thư Ngỏ cần được gửi đi trong vài ngày tới. Sáng sớm hôm sau, Thái trả lời, đồng ý rằng “Chuyện này cần phải làm gấp.”    
Vấn  đề chỉ trở thành phức tạp khi có người ngoài, vì ngộ nhận hay vì ác ý, đã tiếp xúc với ông Sỹ và gia đình để diễn giải việc ông Sỹ ký tên trên Thư Ngỏ như sự tham gia vô tình vào một mưu đồ chính trị nhằm công nhận chính quyền cộng sản Việt Nam. Cũng theo cách diễn giải này, tôi và nhóm soạn Thư Ngỏ đã lợi dụng tên tuổi nhà văn Doãn Quốc Sỹ ông khi đưa tên ông đứng đầu danh sách như một nhà lãnh đạo.
Trước hết, việc đưa tên ông Sỹ lên đầu danh sách hoàn toàn là tình cờ do phương pháp thông thường là xếp thứ tự tên theo vần mẫu tự của tên họ (family name). Nhà văn họ Doãn, vần D, đứng đàu danh sách vì không có người nào cùng ký tên có họ vần C, B hay A. Cũng theo thứ tự ấy, giáo sư Vũ Quốc Thúc họ Vũ, vần V, phải được xếp ở cuối danh sách. Cách xếp tên theo vần mẫu tự thể hiện tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa những cá nhân độc lập, khác với cách xếp thứ tự tên theo chức vụ trong một tổ chức.
Việc giải thích những người soạn Thư Ngỏ có mưu đồ chính trị và ông Sỹ đã bị lợi dụng khiến cho ông có thể bị mất hết thanh danh là một giải thích hoàn toàn sai lầm và có dụng ý xấu. Thư mời là một lá thư mẫu (form letter) được viết chung cho mọi người, chỉ đổi tên cá nhân người nhận trên đầu thư. Như vậy không có một sự mời mọc đặc biệt hay vận động riêng tư với bất cứ ai. Thành phần ký Thư Ngỏ điển hình cho những lớp tuổi, giới tính, nghề nghiệp, khuynh hướng tử một số quốc gia khác nhau, chỉ có chung một mục đích, như đã được nói rõ trong Thư Ngỏ, là ủng hộ tiếng nói dũng cảm của trí thức trong nước về vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước trước hiểm họa Trung Quốc cũng như về nhu cầu thay đổi hệ thống chính trị và tôn trọng các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tất cả 36 người ký tên đều nhân danh cá nhân, không ai đại diện cho một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào. Tất cả 36 người đều đã có sự nghiệp thành công, không có nhu cầu tìm kiếm chức vụ hay làm giàu, nhất là phần đông đều đã quá tuổi “cổ lai hy”.
Tôi xin chấm dứt bài minh xác này bằng một điều mong ước là mọi sự chống đối tôi và những người ký tên trên Thư Ngỏ sẽ chấm dứt. Tôi sẽ hiểu những lời chỉ trích đã qua đều do ngộ nhận. Quan trọng hơn hết trong lúc này là tôn trọng sự yên tĩnh của gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Ngày 18 tháng Chín, 2011
 https://anhbasam.wordpress.com/2011/09/20/gs-doan-quoc-sy-va-thu-ngo-cua-36-tri-thuc-hai-ngoa/


THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM

VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC

Kính gửi:
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chủ tịch và Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tổng Bí thư và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Thưa quý vị,
Chúng tôi, một số trí thức sinh sống tại nước ngoài, gửi đến quý vị lá thư ngỏ này để phát biểu những suy nghĩ thẳng thắn và xây dựng trước tình hình nghiêm trọng của Việt Nam hiện nay.
Trước hết, chúng tôi muốn bày tỏ sự ủng hộ bản “Tuyên cáo” ngày 25 tháng 6, 2011 của 95 nhân sĩ, trí thức, tố cáo và lên án nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chúng tôi đồng thời hưởng ứng bản “Kiến nghị” ngày 10 tháng 7, 2011 của 20 nhân sĩ, trí thức, kêu gọi Quốc hội và Bộ Chính trị công khai hoá thực trạng quan hệ Việt-Trung, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước.
Cả hai bản Tuyên cáo và Kiến nghị đại diện những tiếng nói can đảm, trung thực của giới trí thức yêu nước mà chúng tôi có cơ hội tiếp xúc, trực tiếp hay gián tiếp, trong nhiều năm qua. Dù xa quê hương đã lâu, dù còn mang quốc tịch Việt Nam hay đã trở thành công dân nước ngoài, chúng tôi vẫn luôn quan tâm đến các khó khăn và thuận lợi của đất nước. Do đó chúng tôi ủng hộ những ý kiến chính đáng của nhân sĩ, trí thức trong nước và chỉ trình bày ngắn gọn một số nhận định bổ túc sau đây.
Hiểm hoạ ngoại bang
Sau chiến tranh biên giới cực Bắc năm 1979, nguồn tư liệu do Nhà nước bạch hoá về quan hệ Việt-Trung cho thấy mối quan hệ giữa hai nước không tốt đẹp như nhiều người lầm tưởng. Do hơn 30% dân số Việt Nam hiện sử dụng internet, thông tin ngày nay không còn là độc quyền của riêng ai. Kết hợp các nguồn tư liệu khác nhau cũng cho thấy rằng đối với Trung Quốc, “Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính” (“Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, nxb Sự thật, 1979, trang 8).
Quan điểm trên được thể hiện rõ nét qua một chiến lược nhất quán của Trung Quốc trong gần 60 năm nay tuy chiến thuật tùy lúc, tùy thời có khác nhau: phản bội Việt Nam ở Hội nghị Geneva năm 1954, ngăn cản Việt Nam thương lượng với Mỹ năm 1968, dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động chiến tranh biên giới năm 1979, dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa năm 1988; và sau khi quan hệ giữa hai nước đã bình thường hoá năm 1991, từng bước lũng đoạn kinh tế, thu vét tài nguyên, thực hiện mưu đồ đồng hoá, xâm phạm chủ quyền và đối xử tàn bạo đối với ngư dân Việt Nam trên Biển Đông.
Sức mạnh dân tộc
Việt Nam có lịch sử chống ngoại xâm, phần lớn là từ phương Bắc, trong nhiều thế kỷ. Việt Nam cũng có nhiều tài nguyên thiên nhiên, với non 20 triệu héc-ta rừng, và hơn 3.200km đường biển. Trong dân số gần 90 triệu, hơn 3 triệu người có trình độ đại học trở lên. Do biến chuyển thời cuộc, hiện có hơn 3 triệu người gốc Việt sinh sống tại nước ngoài, trong đó có hơn 300.000 người có trình độ đại học trở lên và nhiều người là chuyên gia, giáo sư ở những công ty, trường đại học hàng đầu của thế giới.
Vị thế chính quyền
Sau hơn 35 năm lãnh đạo một đất nước thống nhất, các nhà cầm quyền chắc biết rõ hơn ai hết toan tính thâm độc của Trung Quốc và tình thế nguy nan của Việt Nam. Nhưng trong thời gian qua những chính sách và biện pháp đối nội và đối ngoại được thực thi đã tỏ ra lúng túng và mâu thuẫn, trái với sự mong đợi của toàn dân. Tình trạng này hiển nhiên làm suy yếu sức mạnh dân tộc, đòi hỏi chính quyền cần phải có những thay đổi toàn diện về cơ chế và chính sách mới có thể bảo vệ được chủ quyền và phát triển đất nước.
Những việc cần làm
Khác với các cuộc xâm lăng trong quá khứ, Trung Quốc trong thế kỷ XXI có nhiều lý do cần thiết hơn và nhiều điều kiện thuận lợi hơn để “khuất phục và thôn tính” Việt Nam mà không cần sử dụng vũ khí hay tổn thất nhân mạng. Mặc dù yếu kém hơn Trung Quốc về kinh tế và quân sự, Việt Nam có một lợi thế lớn chưa từng có trong lịch sử: không một nước tự do, dân chủ nào muốn thấy một nước độc tài chuyên chế như Trung Quốc xâm phạm quyền lợi hay quyền tự quyết của một nước khác, đe dọa tình trạng ổn định trong khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, cũng sẽ không có quốc gia hay liên minh nào có thể hỗ trợ Việt Nam nếu, trước hết, chính phủ Việt Nam không chứng tỏ là có ý chí và khả năng bảo vệ dân tộc và đất nước của mình.
Một lần nữa, chúng tôi khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ các ý kiến chính đáng vừa qua của nhân sĩ, trí thức trong nước. Chúng tôi hi vọng quý vị lãnh đạo tiếp thu đóng góp quan trọng ấy và sớm thiết lập một lộ trình cải cách cụ thể để được nhân dân tin tưởng và ủng hộ. Chúng tôi đề nghị những điểm chính dưới đây cần được chú trọng khi quyết định lộ trình:
1- Đối với Trung Quốc: Cần xác định công khai và rõ ràng lập trường của Việt Nam đối với chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông: mọi tranh chấp phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần xét lại toàn bộ quan hệ Việt-Trung và chỉnh sửa những quyết định sai lầm trước đây khiến Việt Nam mất cân bằng, lệ thuộc vào mối quan hệ này trên các lãnh vực khác nhau. Cần nhấn mạnh truyền thống hiếu hòa của Việt Nam với nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là trí thức tiến bộ, để tranh thủ sự ủng hộ của họ trong việc cùng tranh đấu cho công bằng và quan hệ bình đẳng giữa hai nước.
2- Đối với ASEAN và các nước khác: Cần tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với thành viên ASEAN cũng như những nước then chốt khác. Cần đồng thuận trong việc bác bỏ đòi hỏi trên 80% chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc và trong lập trường đàm phán đa phương với Trung Quốc về Trường Sa. Cần tranh thủ sự ủng hộ của ASEAN và quốc tế cho một giải pháp về Hoàng Sa trên cơ sở luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử. Cần thúc đẩy sự đồng thuận của ASEAN trong việc đổi tên Biển Đông thành Biển Đông Nam Á để góp phần vô hiệu hóa đòi hỏi chủ quyền phi lý của Trung Quốc, và để tránh ngộ nhận về các tên gọi khác nhau cho một vùng biển chung.
3. Đối với nhân dân trong nước: Cần sửa đổi Hiến pháp để đẩy mạnh quá trình dân chủ hoá với ba cơ chế hoàn toàn độc lập: Quốc hội và cơ chế đại diện ở cấp thấp hơn, cơ chế toà án và cơ chế chính quyền. Cần thực hiện tự do bầu cử và ứng cử. Cần tôn trọng các quyền tự do công dân quy định bởi Hiến pháp Việt Nam và những công ước quốc tế mà Việt Nam cam kết tôn trọng, cụ thể như quyền tự do biểu tình và tự do phát biểu nhằm phản đối hành động hung hãn của Trung Quốc trên Biển Đông. Cần trả lại tự do cho những công dân bị giam giữ vì tranh đấu ôn hòa cho tự do, dân chủ, cho chủ quyền quốc gia, để đoàn kết toàn dân. Cần cải tổ hệ thống luật pháp, kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế, v.v. để đẩy lùi tham nhũng, giảm thiểu bất công, gia tăng năng lực, bảo vệ tài nguyên. Cần tham khảo với những nhóm nghiên cứu độc lập (như Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã phải tự giải thể năm 2009) trong quá trình hình thành các chính sách có tầm vóc quốc gia và quốc tế.
4. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: Cần tạo bước đột phá để cải thiện sự hợp tác của cộng đồng vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Cần cho tái thiết Nghĩa trang Biên Hoà vô điều kiện, giúp đỡ chương trình tìm kiếm hài cốt những người đã bỏ mình trong trại tù cải tạo, không can thiệp vào việc xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở các nước Đông Nam Á. Đây là bước cần thiết bắt đầu một quá trình nghiêm túc thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc.
Mặc dù chính quyền kêu gọi trong nhiều năm, sự đóng góp về trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn quá nhỏ bé: số chuyên gia, trí thức hàng năm về nước “chuyển giao công nghệ” chỉ trong vòng 500 lượt người trên con số hơn 300.000 trí thức.
Có hai nguyên nhân chính: (1) cơ chế chính quyền hiện hữu không những đánh mất niềm tin của người dân trong nước mà còn là cản trở lớn cho trí thức ở nước ngoài muốn đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” do chính Nhà nước đề ra;  (2) sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng vào thiện chí của trí thức còn phổ biến trong một bộ phận không nhỏ của lãnh đạo.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn có điều kiện nghiên cứu và vận động tìm kiếm những giải pháp thuận lợi cho Việt Nam, như tranh thủ sự ủng hộ của các chính phủ và dư luận quốc tế cho quan điểm của Việt Nam. Thực tế là một số chuyên gia trong và ngoài nước từng hợp tác với nhau trong các hoạt động theo chiều hướng này và công cuộc vận động đã đạt được một số kết quả tích cực về vấn đề Biển Đông và sông Mekong.
Trước chiến lược trước sau như một của Trung Quốc đối với Việt Nam và trước tham vọng bành trướng, bá quyền ngày càng lộ rõ của Trung Quốc, đất nước và nhân dân đòi hỏi quý vị phát huy sức mạnh dân tộc, đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước trong giai đoạn cực kỳ hiểm nguy cho Việt Nam. Chúng tôi mong quý vị dũng cảm nắm lấy thời cơ duy nhất để thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ toàn diện, xây dựng một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân, nhằm đưa Việt Nam lên vị thế xứng đáng với các nước trong khu vực và cộng đồng thế giới.
Trân trọng kính chào,
Ngày 21 tháng 8 năm 2011
Đồng ký tên:





image

image






image


image





image








image



image








No comments: