Saturday, February 14, 2015

KIM CÚC * NGƯỜI TÌNH CỦA HÀN MẶC TỬ

 
 Đây thôn Vỹ

Cô Gái Huế Thời Tiền Chiến      
                                                                                                       *Phan Thanh Tâm

Huế đâu chỉ có sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền mà còn có Thôn Vỹ. Thôn này có bóng dáng một cô gái Huế thời tiền chiến: Cô Hoàng Thị Kim Cúc(1913-1989), người tình trong mộng của thi sĩ Hàn Mạc Tử. Cô còn là “Chị Cả” của tất cả anh chị em gia đình Phật tử  ba miền đất nước và Cô còn để lại một di sản văn hóa cho thế hệ mai sau: hai bộ sách nổi tiếng Những Món Ăn Nấu Lối Huế & Cách Nấu Chay.Bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ, được Hàn Mạc Tử viết từ năm 1939, đã đưa địa danh Vỹ Dạ và mối tình đầu của một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh yểu vào văn họcsử. 


 Image result for cô gái huế

Đó là một kỷ niệm của một mối tình trong trắng, thanh cao và bất diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo.  Cô Hoàng Thị Kim Cúc, người đẹp trong cuộc, đã xác nhận như vậy. Tuy thế, vẫn có nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuồi trong hơn nửa thế kỷ qua đã viết về chuyện tình Hàn Mạc Tử + Kim Cúc không trung thực, “có khuynh hướng liêu trai hóa”.   Vì vậy, gần đây mới có cuốn Lá  TrChe Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi ra đời ở HuếTác gỉả Hoàng Thị Quỳnh Hoa, cựu Giáo sư Anh Văn trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn trước 1975, hiện định cư ở Maryland , năm 2013 đã cho xuất bản cuốn sách dày 198 trang nhân 100 năm sinh nhật của cô mình, để phảnbác các sai trái.  Sách còn cho thấy chân dung của cô Kim Cúc. 

 Image result for cô gái huế

Tác gỉả Quỳnh Hoa đã mất 10 năm tra cứu tài liệu sách báo; đã về Huế nhiều lần để tham khảothư từ mà cô mình để lại. Cô Kim Cúc bị hôn mê sau một tai nạn giao thông ở Saigon và qua đời ở Thôn Vỹ. Đám tang của cô ở Huế, ngày 15 tháng 2 năm 1989, được xem như  một trong vài đám tang lớn nhất từ trước tới nay.Vì là người trong gia đình mà cũng theo ý nguyện của người quá cố muốn đưara những sự thật, tác gỉả Quỳnh Hoa, trong phần III và phụ lục của tập sách, ngoài việc cho in thủ bút của Hàn Mạc Tử; thủ bút của cô KC và những vần thơ, bài hát của anh chị em trong Gia Đình Phật tử viết về cô; còn có cho in nguyên văn các bài văn xuôi và thơ của cô Kim Cúc cùng bài viết của các tác giả đã - như lời của nhà thơ Chế Lan Viên - “viết thêm quá nhiều, viết bớt quá nhiều, viết bậy…”  về chuyện tình của nhà thơ. 

 Đặc biệt có thủ bút của Hàn Mạc Tử trong hai bài Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và Sao Vàng Sao. Hầu như người Huế nào cũng có nghe nói đến tên Kim Cúc, vì cô “công, dung, ngôn hạnh gom đầy đủ” .  Cái dáng người thấp nhỏ, lúc nào cũng ân cần, vui vẻmột cách chừng mực nhưng không kém phần nghiêm trang và dịu dàng là hình ảnh quen thuộc của cô giáo dạy bộ môn nữ công gia chánh cho nhiều thế hệ nữ sinh trường Đồng Khánh. Và chiếc áo lam luôn theo người “Chị Cả” có pháp danh Tâm Chánh từ năm 1948 cũng đã để lại bao kỹ niệm kính thương cho anh chị em trong Gia Đình Phật Tử.  

Cô Hoàng thị Kim Cúc được mô tả như là điểnhình cho một cô gái Huế trí thức thời bấy giờ: mẫu mực, dịu hiền và đạo hạnh.Những bài Phật pháp đã mở rộng tâm trí tôi; đã vạch cho tôi một con đường ngay chính đáng; đã un đúc cho tôi một tâm hồn Phật tử.  Tôi không còn buồn khổ nữa vì tôi không còn sống hẹp hòi, ích kỳ, tối tăm. Tôi đã biết đem lòng thiện của một Phật tử cố gắng giúp ích, làm cho những người chung quanh được an vui sung sướng.  Đó là ý nguyện của cư sĩ Kim Cúc. 

Những dòng này cô viết trong bài văn xuôi Một Năm Qua vào năm 1949. Thỉnh thoảng cô có làm thơ ký bút hiệu Hoàng Hoa, Hoàng Hoa thôn nữ, và H.H.  Nhưng thật ra, văn giới nhắc nhiều đến tên Hoàng Thị Kim Cúc là vì bài thơ dưới đây:Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠSao anh không về chơi thôn VỹNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọ

ngay chính đáng; đã un đúc cho tôi một tâm hồn Phật tử.  Tôi không còn buồn khổ nữa vì tôi không còn sống hẹp hòi, ích kỳ, tối tăm. Tôi đã biết đem lòng thiện của một Phật tử cố gắng giúp ích, làm cho những người chung quanh được an vui sung sướng.  Đó là ý nguyện của cư sĩ Kim Cúc. Những dòng này cô viết trong bài văn xuôi Một Năm Qua vào năm 1949. Thỉnh thoảng cô có làm thơ ký bút hiệu Hoàng Hoa, Hoàng Hoa thôn nữ, và H.H.  Nhưng thật ra, văn giới nhắc nhiều đến tên Hoàng Thị Kim Cúc là vì bài thơ dưới đây:Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠSao anh không về chơi thôn VỹNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọ

Image result for cô gái huế

Ai biết tình ai có đậm đà?Đấy là bài Hàn Mạc Tử gửi tặng Hoàng thị Kim Cúc năm 1939, được xem là bài nổi nhất trong mấy trăm bài thơ của thi sĩ.  Ông tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22/9/1912 trong một gia đình công giáo. Ông rất sùng đạo. Ông đã góp phần lớn trong việc chuyển hướng từ thơ Đường sang thơ mới. Ông qua đời khi chưa tới30 tuổi ở Qui Nhơn ngày 11/11/1940 vì bệnh phung. 


Ông có nhiều bút hiệu nhưng ông thích bút hiệu Hàn Mạc Tử, có nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo,trống trải. Ông có nhiều mối tình. Hình bóng ghi đậm nhất là với Hoàng thị Kim Cúc, một cô gái đất Thần Kinh.  Bài thơ Thôn Vỹ về sau được xếp vào tập thơ ĐauThương, sau này còn có tên Thơ Điên. Ông có nhiều bài thơ được phổ nhạc.  Chínthành phố ở Việt Nam có đường mang tên Hàn Mạc Tử. Câu mở đầu Sao anh không về chơi thôn Vỹ và hai câu: Lá trúc che ngang mặt chữđiền; áo em trắng quá nhìn không ra đã tạo ra nhiều huyền thoại về mối tình thứ nhất của thi sĩ. Ba câu đó chỉ là cảm hứng của thi nhân viết ra. Câu đầu có vcó vẻ như một câu hỏi nhưng đã gói ghém một ước mơ. Bài thơ đã là đề tài cho nhiều sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ sau này. Họ đã thêu dệt, vẻ vời thành tiểu thuyết, tuồng cải lương, kịch ảnh vô tuyến truyền hình với nhiều tình tiết không tưởng, ly kỳ và phi lý đã khiến cho cô Kim Cúc  “phiền lòng hết sức.”  


Trong thư gửi Chế Lan Viên ngày 10/9/1987 cô yêu cầu là đừng có ai nhắc đến cô “qua lời các người khác.”   Tác gỉả quyển sách cho biết không có việc Cô Kim Cúc gửi tặng Hàn Mạc Tử ảnh của mình chụp ở Thôn Vỹ. Phiến ảnh chỉ là một bức phong cảnh.  Chính cô Kim Cúc cũng đã nói rõ “trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang, với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống mặt nước, với lời thăm hỏi sức khỏe Tử viết sau tấm ảnh mà không ký tên.”  Môt người bạn của nhà thơ báo tin cho Cô biết là Hàn Mạc Tử đau nặng và xin Cô gửi thư thăm hỏi. Vài tháng sau, người bạn gởi về cho Cô bài thơ “Ở Đây Thôn Vỹ Giạ”; với mấy dòng thăm hỏi trong đó có hai câu: mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ

thật đầy đủ. Và mong rằng một mùa xuân nào được gặp lại túc hạ mới phỉ tình cho. Trong sách có trích lời Cô Kim Cúc kể lại chuyện xưa “Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về.  Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng khuâng

với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ.  Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư...  Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn!  Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau lại, không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả,” Giáo sư Quynh Hoa đã bác bỏ sự dàn dựng của nhà thơ Quách Tấn về chuyện gia đình của cô Kim Cúc chê gia thế Hán Mạc Tử là không xứng mặt đồng sàng khiến Hàn Mạc Tử phải  “đi Saigon để lập chí”. Sự thật, giữa Hàn và Kim Cúc chưa hề có lời chê khen, chưa hề có thái độ thân sơ, khinh trọng

Giáo sư Quỳnh Hoa cũng cho rằng  một tác gỉa khác, Kiêm Đạt, đã phóng đại khi ông viết cô Hoàng thị Kim Cúc đã có “những ngày yêu thương vô cùng cuồng nhiệt” với thi sĩ. Thư đề ngày 11/5/1988 gởi người anh cả ở Mỹ, Cô cho biết, sau khi thi sĩ qua đời năm 1940, Cômới hay nỗi lòng của nhà thơ qua người bạn thân của thi sĩ: Hoàng Tùng Ngâm.  Ngâm cũng là người em thúc bá của Cô.Hoàng Tùng Ngâm còn giao cho Cô tất cả thơ văn của Hàn Mạc Tử có nói đến Cô. Cô “hết sức cảm kích và ngậm ngùi.”   Theo sách của tác gỉả Quỳnh Hoa thì “Chỉ khi Hàn Mạc Tử không còn nữa, Cô mới cảm thấy đau lòng và ân hận là đã quá lạnh lùng với chàng; không những ân hận mà còn thấy mình có tội với người quá cố.” Nhân ngày húy nhật của thi sĩ năm 1942, Cô đã viết một bài văn xuôi, “để kính viếng vong hồn một người tài hoa bạc phận, có một tâm hồn t

 một bài văn xuôi, “để kính viếng vong hồn một người tài hoa bạc phận, có một tâm hồn tha thiết yêu đương, một lòng mê say cao quí và một cuộc đời vô cùng đau khổ.”  Trước đó, năm1941, Cô cũng có bài thơ cảm tác Ở Đây Thôn Vỹ Dạ:  Bao năm Hoa sống nơi thôn VỹThầm giữ trong lòng một ý thơVẫn biết cách xa ngoài vạn dặm.Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ!Một mình một cõi với nước mâyVới cả đau thương với hận nàyAnh khéo lột hết tài nghệ sĩLẫy lừng danh tiếng kể từ


đây.Hồn anh lẫn khuất tận mô xa,Hoa biết cùng ai thổ lộ raTuy sống giữa đời phức tạp ấyAi biết tình ai vẫn đậm đà !H.H. thôn nữCô Hoàng thị Kim Cúc được mọi người kính nể như một hành giả tu tại gia. Tuy một thân một mình và lương tiền không bao nhiêu nhưng Cô đã có gần một tá con nuôi. Cô nuôi con của bà con nghèo, nuôi em, nuôi cháu, nuôi trẻ mồ côi, giúp đỡ những ai đến với Cô. Trong phần “Lời Nói Đầu” của cuốn sách Cách Nấu Chay, côKim Cúc tâm sự rằng xuất bản được cuốn này là Cô đã hoàn thành được một công

tác Phật sự.  Lòng chị như bể rộng bao la. Tình chị tròn đức hạnh vị tha. Lời ca trong bài hát Hướng về chị Cả của Hầng Vang đã nói lên niềm thâm`cảm tri âm cuả Gia đình Phật tử đối với Cô Hoàng Thị Kim Cúc: nửa thế kỷ màu áo lam không phai; suốt cuộc đòi trí giới hạnh trường trai. Người con gái Việt Nam thuở đầu thế kỷ 20 thường không được học nhiếu. 


Cô Hoàng Thị Kim Cúc thì may mắn hơn. Trừ thời gian học chữ nghĩa ở trường, Cô lúc rảnh tập làm đủ thứ. Ngoài việc học với ông nội chữ nho, nhiều tay thợ rành nghề được mời về nhà chỉ bày cho cô may vá, làm bánh, nấu đồ ăn Tây, làm hoa.  Một thầy đàn tranh cũng được mmời về nhà dạy cho cô. Tuy mới học có nửa tháng mà mà cô đã thuộc đủ bảy bài: Kim tiền, Lưu thủy, Hành Vân, Tứ Đại Cảnh, Cổ Bàn, Nam Ai, Nam Bình. Tiếng đàn của cô đã khiến nhà thơ si tình HàHàn Mạc Tử phải điên cuồng rình trước thềm nhà để nghe. Đêm nay ta lại phải điên cuồngQuên cả hổ ngươi cả thẹn thuồngĐứng mãi trước thềm nghe ngóng mãiTiếng đàn the thé ở bên trong

Theo tác giả cuôn Lá Trúc Che Ngang  khi được hỏi  Cô có “cảm” thi sĩ Hàn Mạc Tử  không thì Cô chỉ tủm tỉm cười mà không nói năng chi. Cô rất trân trọng mối chân tình của thi sĩ. Đoạn kết của quyển sách còn cho biết nhánh cây cỏ mà một người quen nhặt trên mộ của Hàn ở Gành Ráng đem về tặng đụơc Cô cất rất kỹ. Ngoài ra, Cô còn dựa theo lời tâm tình trong thơ gởi cho bạn của Hàn Mạc Tử mà phóng tác một bài tự truyện với nhan đề Thi sĩ Hàn Mạc Tử với người gái quê. Cô đã ghi lại hầu như nguyên văn nhiều câu chữ của Hàn Mạc Tử trong bài  này. Qua đó, người ta thấy Hàn Mạc Tử đã viết: quyết quăng mình đi trên đường gió bụi, rượt nà theo những nguyện vọng cao xa, phải chăng là do sức mạnh của ái

tình? Tuy là một người có tâm hồn ủy mị, nhưng vì thuộc con nhà nề nếp, trọng thanh danh gia đình hơn tất cả mọi sự, và lại sống trong một xã hội thời trước 1945 - một người con gái con nhà khuê các không được tự do chọn bạn, không được nói chuyện với người khác phái ở ngoài đường  - nên Cô Hoàng Thị Kim Cúc đã có vẻ rụt rè, phong kín, bí mật, hờ hững khi gặp Hàn Mạc Tử. Điều này càng khiến cho nhà thơ bao giờ cũng kính cẩn, giữ gìn đứng xa mà chiêm ngưỡng, mà tôn thờ cô thiếu nũ. Dù vậy,trong thư  gủi bạn,Hàn Mạc Tử vẫn: quyết lòng đeo đuổi, âm thầm theo dõi bóng cô ta. Cô gái đó có khuôn mặt chữ điền; mái tóc quăn; mũi cao,thẳng như đầm; dáng người thấp nhỏ và đôi mắt đen nháy. Chính “Đôi măt đen nháy đầy thi vị”của Cô, mà nhà thơ chợt thấy ở chợ phiên do Toà Sứ thành phố Qui Nhơn tổ chức năm 1932 khi ông 20 tuồi và người đẹp 19

tuồi, đã tạo nên sự nghiệp văn chương của Hàn Mạc Tử. Và cái dáng vẻ nết na, thùy mị, đoan trang của Cô đã un đúc Hàn Mạc Tử có một tâm hồn thi sĩ. Trong thư gửi người bạn, thi sĩ còn thú nhận Kim Cúc  “là người mà tôi thường gửi linh hồn một bên dầu cách xa ngàn vạn dặm”. Quyển sách Lá Trúc Che Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi của Giáo Sư Hoàng Thị Quỳnh Hoa là một đóng góp lớn để không còn ai có thể viết bậy nữa.PhanThanh TâmSaint Paul, 2/2015
có thể viết bậy nữa.PhanThanh TâmSaint Paul, 2/2015



Nhìn lại tình sử giữa
thi sĩ Hàn Mạc Tử và bà Hoàng Thị Kim Cúc
Qua cuốnLá Trúc Che Ngang: chuyện tình của cô tôi
Ca Hoàng Qunh Hoa

                 Trần Bình Nam

LTCNQHoa1Hàn Mạc Tử là một thi sĩ có tài. Ông sinh năm 1912, lớn lên bị bệnh nan y và qua đời năm 1940 khi người Pháp còn đô hộ Việt Nam. Thơ văn và những mối tình lớn nhỏ của ông tạo thành một biến cố văn học tại Việt Nam sau khi ông chết. 

Cả một thế hệ cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940 bừng dậy vì những vần thơ trữ tình đầy nước mắt của ông. Nhất là những vần thơ thi sĩ dành cho bà Hoàng Thị Kim Cúc, người yêu trong mộng của ông.

Năm 1939 thế giới chiến tranh bùng nổ. Năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp kéo theo cuộc cách mạng chống Pháp giành độc lập. Đất nước chia cắt. Sau đó là cuộc nội chiến khốc liệt, Nam Bắc thống nhất, dân tình phân ly, chia rẽ. Thế nhưng hiện tượng văn học Hàn Mạc Tử hình như không bị ảnh hưởng bởi những xáo trộn chính trị tại Việt Nam. 

Trước chiến tranh, trong chiến tranh, và sau khi thống nhất, ở trong Nam cũng như ngoài Bắc, trong nước cũng như hải ngoại giới văn học vẫn viết về Hàn Mạc Tử mà không hề bị ảnh hưởng bởi cuộc tranh chấp Quốc-Cộng.

 Trong đó có các nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Trần Thanh Mại, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Võ Long Tê và Nguyễn Đình Niên, Nguyễn Bá Tín …

Và mới đây cuối năm 2013, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà Kim Cúc, người cháu gọi bà Cúc bằng cô ruột là bà Hoàng thị Quỳnh Hoa cho xuất bản cuốn “Lá Trúc Che Ngang: 

chuyện tình của cô tôi” (nhà xuất bản Đà Nẵng – Hiệu sách Tường Tâm, Huế phát hành). Cuốn “Lá Trúc Che Ngang” tiết lộ nhiều tư liệu liên quan đến mối tình Hàn Mạc Tử - Kim Cúc trước đây chưa được công bố do bà Kim Cúc chuyển lại cho bà Quỳnh Hoa trước khi qua đời. Bà mất tại Huế năm 1988, sáu tháng sau một tai nạn lưu thông tại Sài gòn . 
LTCNHinhBiaTheo cuốn “Lá Trúc Che Ngang” thì sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, qua thơ văn được phổ biến, bà Kim Cúc biết tình cảm sâu đậm nhà thơ dành cho mình, nên bà đã thu thập và lưu giữ mọi tư liệu liên quan đến Hàn Mạc Tử. 

Bà Kim Cúc rất buồn phiền vì đa số sách hay các bài viết về mối tình của Hàn Mạc Tử đối với bà đều sai sự thật. Bà nghĩ những gì chung quanh Hàn Mạc Tử là chuyện văn học cần được đính chính, chưa nói đến cần được đính chính để giữ gìn uy tín của gia đình bà . 

Cá nhân bà từ năm 1971 từng biên thư cho các nhà văn nhà thơ viết không đúng về Hàn Mạc Tử. Và mấy chục năm sau bà nhờ giáo sư Võ Long Tê, ông Nguyễn Đình Niên, một giáo sư cùng dạy trường Đồng Khánh Huế, và cô cháu Quỳnh Hoa viết sách đính chính.   

Ông Võ Long Tê (1) là người nhận được nhiều tư liệu do bà Kim Cúc gởi đến, nhưng vì một lý do nào đó sách ông hứa viết vẫn chưa ra đời. 

Ông Nguyễn Đình Niên thì bận việc dạy học và dịch kinh sách không có điều kiện để viết. Cuối cùng bà Quỳnh Hoa – như đã nói – đã thực hiện lời yêu cầu của người cô xấu số bỏ công nghiên cứu, viết và in cuốn “Lá Trúc Che Ngang: chuyện tình của cô tôi - LTCN. 
Nhà thơ Hàn Mạc Tử có tên là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình, lớn lên cùng bố mẹ vào sống và lập nghiệp tại làng Thanh Tân, Thừa Thiên. 

Đầu thập niên 1930 ông là một công chức chập chững vào đời làm việc tại ty Đạt Điền Quy Nhơn. Năm 1932, cụ tham tá Hoàng Phùng, thân sinh cô Kim Cúc cũng được đổi từ Huế vào Ty Điền Địa Quy Nhơn. Cô Kim Cúc, một thiếu nữ  xinh đẹp năm đó vừa tròn 19 tuổi đi theo thân phụ.  

Chàng thanh niên Nguyễn Trọng Trí gặp cô Kim Cúc  tại một hội chợ do chính quyền bảo hộ tổ chức hằng năm tại Quy Nhơn.  Bị tiếng sét ái tình,  Trí tìm cách tiếp xúc với cô, nhưng cô Kim Cúc, vốn thuộc gia đình giáo dục khắt khe, cô luôn tìm cách tránh né.

 Nhân Trí làm việc cùng sở với Hòang Tùng Ngâm, em con chú con bác với cô Kim Cúc nên đã thổ lộ tâm sự với bạn và nhờ bạn làm cánh nhạn đưa thơ. 

Nể bạn Ngâm nhận thơ nhưng không chuyển, nghĩ là không thích hợp với gia phong, và khuyên Trí nếu yêu cô Kim Cúc thì nên nhờ mai mối đi hỏi chính thức.
Có ít nhất hai lần Hàn Mạc Tử tìm cách đón gặp cô Kim Cúc trên đường phố định ý đưa thư, nhưng cô Kim Cúc né tránh không tiếp chuyện, cũng không nhận thư. 

Về mai mối thì văn học không ghi lại gì khác hơn là năm 1987 trong một lá thư bà Kim Cúc viết cho Nguyễn Bá Tín, em ruột của Hàn Mạc Tử, bà cho biết đầu năm 1936 Hàn Mạc Tử nhờ một người cậu đến nhà thăm ông cụ của cô dọ ý, và khi ra về ông để quên một bức thư Hàn Mạc Tử viết cho bạn kể lể sự thầm yêu trộm nhớ Kim Cúc của mình (LTCN – trang 62). 

Thế nhưng trước đó 20 năm do lời đồn đãi, ông Quách Tấn đã viết trong số 73 báo Văn rằng “gia đình Kim Cúc đã từ chối lời cầu hôn của  Hàn Mạc Tử với lý do không môn đăng hộ đối  (LTCN – trang 28).


 Image result for cô gái huế
Sự thật là, cô Kim Cúc theo đúng gia phong đất thần kinh của thời đại, nghiêm cấm phụ nữ tiếp xúc với phái nam nên cô không có một tình ý gì với Hàn Mặc Tử qua những cố gắng tiếp xúc làm quen và chuyện mai mối của người thi sĩ.
Dư luận cho rằng Hàn Mạc Tử thất tình nên năm 1934 đã bỏ Quy Nhơn vào Sài gòn lập sự nghiệp. Đầu năm 1936 Hàn Mạc Tử trở lại Quy Nhơn, và mấy tháng sau thì cô Kim Cúc theo thân sinh trở về Huế. Nổi thất vọng của Hàn Mạc Tử trở nên chất chứa. 

Năm 1937 Hàn Mạc Tử bị bệnh cùi, một chứng bệnh nan y. 

Ông đau khổ vì mối tình ôm ấp không được đáp lại, lại đau đớn vì cơn bệnh hành hạ thể xác, nhưng ông dấu bố mẹ vào nằm điều trị tại trại cùi Quy Nhơn và chỉ biết thổ lộ nổi lòng với người bạn thiết là Hoàng Tùng Ngâm. 

Bệnh càng nặng mối tình của Hàn Mạc Tử càng nóng bỏng và thơ của ông càng rung động lòng người đã giúp đưa Hàn Mạc Tử vào bầu trời vinh quang của văn học Việt Nam sau khi ông qua đời .

Thương bạn, năm 1939 Hoàng Tùng Ngâm viết thư cho chị Kim Cúc yêu cầu cô viết thư thăm hỏi Hàn Mạc Tử. Và cô Kim Cúc đã gởi một tấm bưu thiếp (carte postale) cô mua tại tiệm ảnh Tăng Vinh in hình một thiếu nữ chèo đò trên sông Hương với vài lời thăm hỏi, không đề ngày, không ký tên. Cảm động,  Hàn Mạc Tử đáp lễ với bài thơ viết tay:

Ở đây thôn Vỹ Giạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt qua xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây;
Giòng nước buồn thiu, hoa bắp lay .
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó ?
Có chở trăng về kịp tối nay ?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?

Đầu thơ Hàn Mạc Tử viết mấy lời:
Túc hạ,
Có nhận được bức ảnh Bến Vỹ Dạ lúc hừng đông, hay là một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gởi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến nghĩa  năm xưa thì phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy đủ. Và mong rằng một mùa xuân nào đó được gặp lại túc hạ mới phỉ tình cho .
Thăm túc hạ bình an và vui vẻ .
Hàn Mạc Tử (ký) –
(Xem bút tự của Hàn Mạc Tử - LTCN - trang 88 & 89)

Ngày 11-11-1940 Hàn Mạc Tử qua đời tại trại cùi Quy Nhơn và chuyện tình của ông qua những bài thơ đẫm nước mắt, chứa đầy máu và trăng trở thành một đề tài lớn trong giới văn học khắp ba kỳ.
Tuy không có quan hệ tình cảm qua lại gì trước với Hàn Mạc Tử, danh tiếng, thơ văn và mối tình thầm kín đậm đà của Hàn Mạc Tử đã làm cho quả tim Kim Cúc rung động.
         Đáp lễ bài thơ “Ở đây thôn Vỹ Giạ” (sau này giới văn học tự động viết lại chữ “Dạ” cho đúng chính tả) bà Kim Cúc chép lại bài thơ của Hàn Mạc Tử và viết một bài cảm tác cùng tên bên cạnh, với lời nhập đề: 

Ngày đầu Xuân đề tặng hương hồn anh H. M. Tử, người tài hoa bạc phận, một tâm hồn tha thiết yêu đương, và một cuộc  đời vô cùng đau khổ. (LTCN – trang 91)

Bao năm Hoa sống nơi thôn Vỹ
Thầm giữ trong lòng một ý thơ
Vẫn biết cách xa ngoài vạn dặm .
Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ !

Một mình một cõi với nước mây
Với cả đau thương với hận này
Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ
Lẫy lừng danh tiếng kể từ đây.

Hồn anh lẫn khuất tận mô xa,
Hoa biết cùng ai thổ lộ ra
Tuy sống giữa đời phức tạp ấy
Ai biết tình ai vẫn đậm đà !
H.H. thôn nữ

H. H. là Hoàng Hoa, một bút hiệu khác của bà Kim Cúc.

Sau đây là thủ bút của bà Kim Cúc (LTCN – trang 91)
LTCNThuButKC
        
Tháng 11 năm 1942 nhân lễ giỗ lần thứ hai của Hàn Mạc Tử, bà Kim Cúc đã viết một bài văn xuôi ca ngợi thành tích văn học của Hàn Mạc Tử  trong đó bà cho rằng mộng thành danh của Hàn Mạc Tử đã thành:
        
Âm dương đôi ngã làm sao nhắn
Sự nghiệp trăm năm chí đã thành
        
Trong bài văn xuôi này Kim Cúc tự cho là người thân của Hàn Mạc Tử cám ơn ông Quách Tấn đã hết lòng sốt sắng đối với Hàn Mạc Tử và ước mong rằng ông Quách Tấn sẽ nổ lực thu góp xuất bản thơ của Hàn Mạc Tử nhiều hơn nữa (LTCN – trang 104)
Một năm sau cũng nhân lễ giỗ lần thứ ba của Hàn Mạc Tử  bà Kim Cúc viết một tự truyện nhan đề: “Thi sĩ Hàn Mạc Tử với người gái quê”(LTCN – trang 107). Tự truyện được phóng tác dựa vào những tâm tình của Hàn Mạc Tử  đối với cô Kim Cúc gởi cho bạn năm 1936.
Người “Gái Quê” trong tự truyện chính là cô và cũng là nhan đề của tập thơ “Gái Quê” in năm 1936 của Hàn Mạc Tử trong đó chan chứa mối tình kín đáo của Hàn Mạc Tử dành cho cô.
Lời văn của tự truyện ướt át không giấu dấu sự đáp ứng ân tình muộn màng của bà Kim Cúc dành cho Hàn Mạc Tử.  Bà trích dẫn từng câu từng ý trong tập thơ “Gái Quê” để diễn lại cơn sóng lòng của Hàn Mạc Tử trong từng giai đoạn yêu đương của Tử mà bà không hề biết.
        
·      Chàng thơ thẩn vì yêu:

“Tứ gió xuân đi gió hạ về
Anh thường gởi gắm mối tình quê
Bên em mỗi lúc trên đường cái
Hóng mát cho lòng được thỏa thuê”

Em có ngờ đâu trong những đêm,
Trăng ngà giải bóng mặt hồ êm,
Anh đi thơ thẩn như ngây dại
Hứng lấy hương nồng trong áo em
(Trích “Âm thầm” – Gái Quê)

·      Chàng thất vọng quyết bỏ xứ “Quy Nhơn”  vào miền Nam “xa ngút ngàn” để xây đắp sự nghiệp.

Nước non muôn dặm tình đương nặng
Sự nghiệp trăm năm chí chửa thành

·      Chàng trở về cũng để chỉ:

…. Nép mình trong cánh cửa
Hé nhìn dáng điệu của người yêu
Bước đi ngượng nghịu trên đường cái
Mỗi lúc ngang qua trước mặt lều.
(Trích “Tôi không muốn gặp” – Gái Quê)

·      Chàng từng điên cuồng không kềm chế được khi nghe tiếng đàn trong nhà Kim Cúc vọng ra:

Đêm nay ta lại phát điên cuồng
Quên cả hổ ngươi cả thẹn thuồng
Đứng rũ trước thềm nghe ngóng mãi
Tiếng đàn the thé ở bên trong
(Trích “Tình thu” – Gái Quê)

Qua tự truyện “Thi sĩ Hàn Mạc Tử với người gái quê” Kim Cúc viết  về sau lâu lắm có lẽ những nén hương tâm chàng đốt chân thành quá nên đã kinh động đến lòng người  thiếu nữ vô sự kia …. Nhưng mà đáng buồn cho thi sĩ, thiếu nữ vẫn không thể làm thỏa lòng chàng được…”. 

Cô Kim Cúc không giải thích tại sao tim cô đã kinh động mà cô không thể đáp trả. Phải chăng gia đình cô không thuận như tin đồn và năm 1988 khi xuất bản cuốn “Đôi nét về Hàn Mạc Tử” ông Quách Tấn vẫn giữ nguyên đoạn ông viết trong báo Văn số 73 năm 1967, mặc dù  năm 1971 cô Kim Cúc đã biên thư yêu cầu ông đính chính và ông đã hứa sẽ đính chính  (LTCN - trang 28).
         Theo “Lá Trúc Che Ngang”, trong những điều chuyện thêu dệt chung quanh mối tình Hàn Mạc Tử - Kim Cúc, bài viết “Ba mối tình của Hàn Mạc Tử” của ông Kiêm Đạt đăng trong một tờ Phụ Nữ Diễn  Đàn năm 1985 tại Nam California là có tính thêu dệt nhất (LTCN - trang 181).      
Ba mối tình ông Kiêm Đạt nói đến là ba mối tình với Mộng Cầm, Thương Thương và Kim Cúc. Theo bà Quỳnh Hoa, nội dung bài viết của ông Kiêm Đạt hoàn toàn không đúng sự thật, nhất là khi ông viết rằng giữa Hàn Mạc Tử và bà Kim Cúc đã có “những ngày yêu thương cuồng nhiệt”.
Cuốn“Lá Trúc Che Ngang” có một đặc điểm. Nó không làm cho “chuyện tình của cô tôi” thêm hoang đường mà chỉ có mục đích trả lại sự thật cho văn học. Sự thật đó là: 

Có một mối tình giữa nhà thơ Hàn Mạc Tử và bà Kim Cúc. Nhưng nó không ướt át hai chiều như các cây bút nổi tiếng thời đó và sau này tô vẽ. Nó là mối tình của Hàn Mạc Tử đối với một người thiếu nữ xuân sắc đang tuổi dậy thì trong khung cảnh thơ mộng của thành phố biển Quy Nhơn. 


Nàng biết, nhưng lễ nghi ràng buộc không cho phép nàng đáp lại. Rồi để nó đi qua như nước chảy qua cầu, cho đến khi nhà thơ  yểu mệnh năm 28 tuổi. Và cơn bão văn học sau đó đã làm động lòng người thiếu nữ một thời chưa dám yêu .
Cuốn “Lá Trúc Che Ngang: chuyện tình của cô tôi”của bà Quỳnh Hoa là một đóng góp cho văn học. Nó cho thấy trước khi  Hàn Mạc Tử chết đó là mối tình một chiều. Bà Kim Cúc chỉ viết một tấm thiệp nhỏ an ủi người bệnh và thi sĩ đáp lễ bằng một bài thơ. Ngoài ra hai người chưa từng trao đổi một lời qua lại. Cuốn “Lá Trúc Che Ngang” giúp cho những ai viết về Hàn Mạc Tử sau này có những tư liệu chính xác .
Nhưng còn một câu hỏi cuốn “Lá Trúc Che Ngang” không có câu kết luận:  Bà Kim Cúc không lấy chồng, tu tại gia, sống một cuộc đời ăn chay niệm Phật có phải vì cô đã yêu và sống vậy để đáp ân tình người đã khuất không?
Bài thơ cảm tác đáp bài “Ở đây thôn Vỹ Dạ” và trong tự truyện “Thi sĩ Hàn Mạc Tử với người gái quê” tình yêu muộn màng của bà Kim Cúc đối với Hàn Mạc Tử đã thể hiện rõ nét. Trong cái khung văn hóa của đất thần kinh thập niên 1940, một người con gái chưa chồng đặt bút xuống với nội dung và cách hành văn đó là một nhìn nhận “công khai và minh bạch” quả tim mình đã có chủ bởi một người đã khuất. Cho nên nếu bà Kim Cúc ở vậy cũng không phải là một điều ngạc nhiên.
Nhờ  bà Kim Cúc kho tàng thi văn Việt Nam thêm phong phú nếu chỉ nói đến bài thơ “Ở đây thônVỹ Dạ” và tập “Gái Quê”. Cuộc đời ở vậy của bà Kim Cúc đã làm cho văn học sử Việt Nam có thêm một thiên tình sử cực đẹp. Và cuốn “Lá Trúc Che Ngang: chuyện tình của cô tôi” đã giúp làm nổi bật nét đẹp hiếm có này./.

               Trần Bình Nam
                 March 14, 2014
                 binhnam@sbcglobal.net
                 www.tranbinhnam.com

(1)                       Hiện ở Hoa Kỳ  (google)


No comments: