Thursday, January 22, 2015

VĂN HÓA -XÃ HỘI VIỆT NAM

Vé xe Tết, nỗi khổ của người lao động nghèo

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-01-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Nhiều khi phải bỏ cả ngày trời đề mua được vé xe
Nhiều khi phải bỏ cả ngày trời đề mua được vé xe. (Tháng 01/2015)
RFA
Năm nào cũng giống năm nào, việc mua vé xe về quê ăn Tết luôn là nỗi lo lớn nhất của người lao động xa quê tại đất Sài Gòn, bến xe Miền Đông trở thành cái nơi mà họ phải vật vạ, chờ đợi và cầu may để mua được tấm vé, lên xe về quê. Khác với nhiều năm trước, năm nay, người lao động ít lo chuyện phải bị nhét xuống gầm xe, nằm vật vạ trong không gian chật hẹp và có thể bị chết ngạt, chết vì xóc bất cứ giờ nào. Nhưng bù vào đó, giá vé cao ngất ngưởng cùng với hàng loạt giá dịch vụ phụ khiến cho người lao động phải chóng mặt.
Giá xăng giảm nhưng nhà xe vẫn tăng giá vé
Một đại diện nhà xe tên Trúc tại bến xe Miền Đông, Sài Gòn cho biết:“Khoảng từ 24 đến 28 tháng 12 âm lịch đã hết vé, chỉ còn vé từ 23 tháng chạp trở về trước và sau ngày 29 tháng chạp. Vé xe đã có vậy rồi, không giảm, vé Tết mà!”
Theo bà Trúc, giá vé xe hiện nay vẫn chưa có gì thay đổi ngoài việc giảm từ 3% đến 5% nhưng lại tăng mức cước phí theo lịch Tết, mặc dù giá xăng đã được hạ xuống mức khá thấp. Sở dĩ có chuyện như vậy vì nhà xe tuy mới vui mừng vì giá xăng thì những chuyện khác không vui lại đến, mức phí chung chi cho cảnh sát giao thông suốt tuyến đường lại tăng gấp đôi so với trước. Như vậy, giá xăng hạ vẫn không bù được khoản chung chi nhân gấp đôi.
Tuyến đường từ Sài Gòn ra Hà Nội có đến vài ba chục trạm gác, thường thì những trạm gác chính do cảnh sát giao thông mỗi tỉnh đứng đường, rồi thỉnh thoảng có các trạm gác đột xuất do công an huyện đứng đường.
Mỗi xe muốn đi qua trạm gác đều phải chung 200 ngàn đồng, đó là con số qui ước, cứ thấy cảnh sát giao thông chỉ gậy vào xe thì liền tấp xe vào lề, kẹp 200 ngàn đồng vào giấy tờ xe, xuống chào hỏi đúng thủ tục, đưa giấy tờ cho cảnh sát giao thông. Lúc này, cảnh sát giao thông chỉ làm mỗi một việc là nhẹ nhàng kẹp tờ tiền vào giữa hai ngón tay, đưa nó vào giữa lòng bàn tay rồi nhét vào đai nịt cảnh sát.
Trước đây, mức giá chung là 100 ngàn đồng, từ ngày giá xăng giảm, mức giá tăng lên gấp đôi. Chính vì vậy mà giá cước vé xe qui định ở các bến xe luôn là nỗi ám ảnh của nhà xe, họ buộc phải tìm khách bên ngoài bến xe để thỏa thuận giá mà kiếm chút lãi, đỡ đi khoản thuế bến đỗ.
Đôi khi phải xếp hàng từ tờ mờ sáng mới hy vọng mua được vé về quê
Đôi khi phải xếp hàng từ tờ mờ sáng mới hy vọng mua được vé về quê
Cách làm của nhà xe thường tỏ ra rất nghiêm túc, cứ đến giờ là xuất bến. Nhưng thực tế, họ có riêng một đội ngũ cò mồi lân la ở các dãy ghế chờ trong bến xe, tìm hiểu khách đã chờ bao lâu và nếu thấy khách chưa có vé thì bán vé chợ đen với giá cao hoặc chỉ cho họ ra ngoài ngã ba Thủ Đức để đứng chờ, ở đó sẽ có được ghế ngồi và giá cả hợp lý vì nhà xe không cần phải đóng thuế phần trăm vé xe cho bến.
Thường thì những lao động xa quê có mang theo xe máy, nôn nóng về nhà nên nghe theo lời các tay cò, ra đứng đón ở ngã ba Thủ Đức, và đương nhiên là đúng như lời của các cò mồi, giá vé mỗi người không đắt hơn giá vé trong bến, lại có chỗ ngồi tốt vì xe còn trống lúc xuất bến. Nhưng giá dịch vụ phụ thì miễn bàn, một chiếc xe gắn máy có thể tốn cả triệu đồng vận chuyển về đến Hà Nội và sáu trăm, bảy trăm ngàn đồng về đến miền Trung. Đến nước này, không thể bỏ chiếc xe lại, đành phải phóng lao thì theo lao, chấp nhận mất tiền.
Và cũng đương nhiên, với cách làm việc này, bất kì nhà xe nào cũng cố gắng tăng thêm khách, tăn g thêm vòng chạy đua ngày giáp Tết, mức độ an toàn trên đường đi rất thấp do sức khỏe của tài xế xuống dốc bởi liên tục làm việc. Chính vì việc chạy đua này mà giao thông mùa giáp Tết hết sức nguy hiểm, mọi rủi ro luôn rình rập.
Người lao động chật vật vì vé xe
Chị Huệ, là công nhân giày da trong khu công nghiệp Tân Bình, quê ở Quảng Trị, chia sẻ: “Chỉ cần lên xe là chen lấn, Tết là họ nhét mình như nhét heo vậy. Ghế 3 người chứ nhét từ 4 đến 5 người, Họ còn để thêm ghé nhỏ chen giữa các lối đi, ở những khoảng trống nhỏ để nhét thêm khách…!”

Chỗ bán vé nào cũng phải chờ cả ngày

Chỗ bán vé nào cũng phải chờ cả ngày

Chị Huệ cho biết, năm nay, tuy giá xăng có giảm nhưng việc mua vé để về quê ăn Tết và đến mồng Mười tháng Giêng lại quay vào Sài Gòn khiến chị mất hết gần hai tháng lương. Với mức lương một công nhân xí nghiệp may công nghiệp dao động từ hai triệu rưỡi đến bốn triệu đồng, phải trả các loại chi phí chỗ thuê trọ, tiền điện, tiền nước, ăn uống, sinh hoạt… Để dư được một triệu đồng giắt lưng làm vốn mỗi tháng là một chuyện hết sức khó khăn.
Nhiều người cũng là công nhân xa quê giống như chị Huệ, có khi cả năm làm lụng vất vả không dư được 5 triệu đồng vì chi phí hằng ngày đã ngốn hết tiền lương, trong trường hợp này, cuối năm chỉ biết buồn, khóc và tiếp tục trọ lại thành phố để bảo toàn số tiền dành dụm bởi nếu về quê, số tiền này chỉ vừa đủ chi phí đi lại, mua một ít quà Tết cho gia đình, ra Giêng lại cày xới, dành dụm… Chẳng còn gì.
Chính vì khó khăn này nên chị Huệ chọn cứ hai năm lại về thăm nhà một lần vào dịp Tết, dù có tiết kiệm cách gì thì mỗi lần thăm nhà cũng tốn của chị ngót nghét một chục triệu đồng bởi tiền vé xe, tiền mua quà và lì xì Tết cho người thân. Với chị, để có số tiền này, chị phải tốn gần một năm rưỡi dành dụm.
Và đây cũng là nỗi chật vật không riêng gì của chị Huệ mà hầu hết những người lao động xa quê, đặc biệt là với những người lao động bươn bả ngoài đời như lượm ve chai, bán vé số, bán bánh kẹo, đậu phộng rang… Việc mua một tấm vé xe về quê ăn Tết có khi phải dành dụm nửa năm trời mới đủ, và để có một tấm vé khứa hồi vào lại thành phố để làm ăn, tốn cả năm trời dành dụm. Với họ, một năm dài làm lụng chỉ đủ mua vé về quê, vào lại để tiếp tục bươn bả, cày xới qua ngày đoạn tháng, chẳng có gì hơn.
Tết âm lịch sắp đến, không khí mua vé ở các bến xe Sài Gòn bắt đầu chộn rộn, tuy nhiên, giới lao động nghèo chỉ có thể xếp hàng chờ mua vé vào dịp họ chính thức nghỉ Tết, đây cũng là dịp mà các hãng xe có thể hét bất kì giá nào ở ngã ba Thủ Đức vì trong các bến xe đã chật như nêm, khó hy vọng mua được tấm vé Tết.
Và năm nào cũng như năm nào, nhà nước luôn đưa thông tin về chính sách tốt dành cho người nghèo nhưng trên thực tế, Tết, với người nghèo nói chung và người nghèo xa quê nói riêng, bao giờ cũng là dịp người ta cảm nhận được sự chạm đáy thân phận của mình.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/tet-festiv-poor-suff-01202015050150.html

Áo quần bành Trung Quốc

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-01-19
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Bán đồ bành và cả chăn màn mùa đông
Bán đồ bành và cả chăn màn mùa đông
RFA

Hằng năm, khi mùa Đông tới, những người bán áo quần bành lại mang hàng hóa ra các ngã ba đường, vỉa hè, khu chợ… để bán. Mặt hàng của họ chủ yếu là áo quần đã qua sử dụng, bán với giá rẻ bèo cho người lao động, người nghèo, người có thu nhập thấp. Chủng loại hàng hóa của họ cũng khá phong phú, từ đôi vớ đeo chân cho đến chiếc nịt, chiếc áo khoác, áo ấm, áo len, áo pull, quần jean, quần Kaki… Có thể nói, đồ bánh có gốc từ kho hàng Sida của Campuchia một thuở dù sao cũng giúp cho người nghèo có quần áo mặc mà không phải bận tâm lắm về giá cả. Thế nhưng thời gian gần đây, đồ bành trá hình có nguồn Trung Quốc đã khiến không ít người hoảng hồn.
Trứng côn trùng và những thứ độc hại
Một người từng là đại lý áo quần bành cho khu vực miền Trung, hiện sống tại thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, tên Tri, chia sẻ: “Hồi trước nó bán từng kiện bên Campuchia chở về. Bây giờ nguồn đó không còn nữa. Trước đây hồi PolPot bị thua, người Campuchia được viện trợ áo quần cũ theo từng kiện, rồi họ lấy họ bán cho mình, giờ người Campuchia họ cũng không cần đồ cũ nữa, đồ Sida cũng không còn nữa, nếu có chỉ là hàng tồn trước đây thôi. Giờ thì toàn đồ bị lỗi của Việt Nam, đồ Trung Quốc xấu, bị lỗi mang sang Việt Nam bán, giờ thứ gì họ cũng gọi là đồ Sida hết trơn.”
Trước đây, áo quần bành trên thị trường Việt Nam còn có tên là áo quần Sida, do tổ chức Sida tài trợ cho chính phủ Campuchia để phát cho dân nghèo
Ông Tri cho biết thêm là hiện tại, khái niệm áo quần bành cũng đã bị đánh tráo, nếu như trước đây, áo quần bành trên thị trường Việt Nam còn có tên là áo quần Sida, do tổ chức Sida tài trợ cho chính phủ Campuchia để phát cho dân nghèo, thay vì phân phát cho dân nghèo sau chiến tranh, chính quyền Campuchia đã ém số đồ này bán cho tư thương Việt Nam. Tư thương người Việt lại mang về bán cho người Việt Nam trên ba miền với giá vừa phải. Đương nhiên là khi mua, với một bành áo quần vài trăm chiếc chỉ tốn vài trăm ngàn đồng, mang về bán với giá vài chục ngàn một chiếc, tỉ lệ lãi có thể gấp ba bốn chục lần so với giá gốc.
Và càng về sau, kinh tế Campuchia phát triển hơn, người dân quê cũng không muốn mặc những thứ áo quần của phương Tây bỏ đi, các kho hàng từ thiện của Campuchia xả hàng loạt, tư thương mua về bán cho người dân ồ ạt. Đến những năm 2010 thì nguồn hàng này cạn kiệt, người buôn áo quần bành chuyển sang buôn bán áo quần lỗi mốt, lỗi kĩ thuật được xả bỏ ở các hãng may. Những bộ áo quần có chi tiết lỗi không lớn lắm nhưng không thể xuất hàng được tuồn ra thị trường đồ bành.
Đồ bành Sida
Đồ bành Sida
Nhưng chuyện này diễn ra không được bao lâu, kéo dài chưa đầy nửa năm thì hàng Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam, áo quần Trung Quốc có giá rẻ mạt, mẫu mã bắt mắt được trưng bán khắp các hang cùng ngõ hẻm Việt Nam. Đã có nhiều người mua loại áo quần này, sau khi ngâm nước để giặt, các loại côn trùng nở ra chi chit trong thau nước, phải mang cả thau đồ đi đổ, hôm sau, ngay vị trí đổ thau đồ này, hàng ngàn con đỉa con và những côn trùng loi nhoi hiện ra.
Không biết áo quần này người Trung Quốc đã sản xuất theo cách nào, bảo quản ra sao mà lại có nhiều trứng đỉa, trứng côn trùng ẩn náu trong đó. Điều này có phải là sự vô tình do sản xuất cẩu thả hay là một chủ trương gây hại cho quốc dân một nước láng giềng
Chuyện áo quần Trung Quốc thì thiên hình vạn trạng cái để nói. Nhưng cái điều đáng nói nhất mà theo ông Tri là hầu như thị trường áo quần hiện nay chỉ toàn đồ Trung Quốc, có nhãn mác Trung Quốc thì bán giá đắt, không có nhãn mác thì bán giá rẻ bèo và rất có thể đó là một ổ trứng đỉa, có nhiều bộ áo quần không có nhãn mác đã được dân buôn Việt Nam gắn nhãn mác sản xuất tại Việt Nam để lừa người mua. Mọi thứ hoàn toàn bị đánh tráo, ngay cả khái niệm áo quần bành cũng đã bị đánh tráo, người ta đâu có mua từng bành về bán như trước đây mà mua từng lô hàng của Trung Quốc, có số lượng và giá cả hẳn hoi nhưng lại bán với danh nghĩa đồ bành để qua mặt người tiêu dùng.
Và ông Tri cũng lấy làm khó hiểu vì không biết áo quần này người Trung Quốc đã sản xuất theo cách nào, bảo quản ra sao mà lại có nhiều trứng đỉa, trứng côn trùng ẩn náu trong đó. Điều này có phải là sự vô tình do sản xuất cẩu thả hay là một chủ trương gây hại cho quốc dân một nước láng giềng nằm trong tầm ngắm? Và ông Tri cũng lấy làm lạ khi mọi chuyện có nguy cơ cho sức khỏe người dân vẫn diễn ra hằng ngày mà nhà cầm quyền chẳng có động thái nào để ngăn chặn, mặc cho nó bùng phát!
Đồ bành hàng xả và hàng Trung quốc
Đồ bành hàng xả và hàng Trung quốc
Dở khóc dở cười vì đồ bành
Một người buôn đồ bành tên Vi, hiện đang sống ở Buôn Hồ, Đắc Lắck chia sẻ: “Giờ khó lắm, ví dụ như mình ra mình chọn mấy hàng họ để đống, mua năm ngàn, bảy ngàn về mình hô hai mươi, hai lăm ngàn đồng thì họa ra mới có lời. Giờ đâu như hồi xưa nữa, hồi xưa người ta nghèo người ta mua đại cái đồ bành về mặc cho ấm, chứ giờ hàng công ty xả đầy, cái áo sơ mi mới có hai lăm ngàn đồng. Ít ai mua đồ bành này nữa, phải đồ xịn kia họ mới mua!”
Giờ đâu như hồi xưa nữa, hồi xưa người ta nghèo người ta mua đại cái đồ bành về mặc cho ấm, chứ giờ hàng công ty xả đầy, cái áo sơ mi mới có hai lăm ngàn đồng. Ít ai mua đồ bành này nữa, phải đồ xịn kia họ mới mua!
Một người buôn đồ bành
Theo bà Vi, nghề buôn đồ bành ở Việt Nam hiện tại đã qua thời vàng son, không phải bởi người dân hết nghèo, không thèm xài đồ bành nữa, cũng không phải đời sống xã hội đã khấm khá hơn khiến cho thẩm mỹ con người phát triển, không ai mặc áo quần lỗi mốt nữa mà trên thực tế, đồ bành đã hoàn toàn mất uy tín, người ta đã bỏ nghề buôn đồ bành rất nhiều, những người bán áo quần bành khắp nơi hiện tại có đời sống rất khó khăn, họ cố vớt vát, bán nốt những lô hàng tồn kho từ mùa Đông năm trước, thậm chí nhiều năm trước.
Cũng có nhiều trường hợp vẫn tiếp tục mua đồ bành Trung Quốc về các chợ quê, vùng nghèo khó để bán, những trường hợp này thu lãi rất cao nhưng nếu tính tổng thể thì mức lãi ròng cũng chẳng là bao vì chi phí xăng cộ, đi lại, ăn uống, thuê chỗ ở trọ. Chính vì nhịp sống quay cuồng, vội vã như vậy nên những người buôn đồ bành ít ổn định, rày đây mai đó, sống cẩu thả, được chăng hay chớ và ít nghĩ đến đường dài. Một khi đầu óc con người bị thui chột bởi nhịp sống, cái lợi trước mắt sẽ che khuất mọi thứ và người ta không còn đủ thời gian để phản tĩnh, suy tư về lương tri, đạo đức nữa.
Theo bà Vi, một khi những người dân Việt Nam trở thành nạn nhân của các thứ hàng hóa độc hại của Trung Quốc, điều đáng nói không phải ở chỗ Trung Quốc thâm hiểm mà chính là phông kiến thức của người dân quá thấp, từ người buôn bán cho đến người tiêu dùng, không hề ý thức được là mình đang tiếp tay cho giặc để giết hại chính đồng bào của mình và cũng không hề ý thức được là mua hàng hóa Trung Quốc là giết chính mình, giết cả tương lai của con cái mình.

Sở dĩ xãy ra chuyện này là vì nền giáo dục, nền truyền thông Việt Nam đã hỏng từ gốc đến ngọn, điều này chỉ dẫn đến một kết cục đáng sợ là một ngày nào đó, Trung Quốc sẽ xoa đầu Việt Nam như xoa đầu một con vật nuôi trung thành và không được thông minh cho mấy!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/clothe-pack-fr-china-01192015074019.html


Sapa đắt khách nhưng đồng bào thiểu số lại buồn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-01-09
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Những người dân tộc ở chợ Sapa
Những người dân tộc ở chợ Sapa
RFA
Thị trấn Sapa có lượng khách đông đúc vượt bậc và hàng loạt khách sạn cháy phòng, du khách phải thuê sân nhà dân để căn lều trại ngủ qua đêm trong giá lạnh là một trong những thông tin vui cho ngành du lịch Lào Cai. Nhưng thông tin này lại không hề có ý nghĩa gì đối với những nông dân làm vườn cũng như người đồng bào H.Mong, Thái Trắng, Dao Đỏ ở Sapa. Nếu nhìn một cách khách quan, sự thắng lợi trong kinh doanh du lịch lại một lần nữa cứa vào vết thương chưa kịp lành của đồng bào thiểu số. Vết thương này là gì?

Mùa khốn khó bắt đầu

Một người bạn Dao Đỏ tên Miền, chia sẻ: “Người nghèo thì nhiều lắm, ba phần thì có hai phần rồi, ở đây nghèo lắm. Làm ruộng, trồng rau ăn, các thứ thì đi mua nhà nước rồi về bán, lãi một xu hai xu, một đồng hai đồng để ăn. Cứ ăn hết lại đi mua. Như các thứ đồ dệt, mình mua rồi bán lại, như mua hai mươi ngàn, bán hai lăm ngàn, lãi năm ngàn thì ăn”.
Người nghèo thì nhiều lắm, ba phần thì có hai phần rồi, ở đây nghèo lắm. Làm ruộng, trồng rau ăn, các thứ thì đi mua nhà nước rồi về bán, lãi một xu hai xu, một đồng hai đồng để ăn. Cứ ăn hết lại đi mua. Như các thứ đồ dệt, mình mua rồi bán lại, như mua hai mươi ngàn, bán hai lăm ngàn, lãi năm ngàn thì ăn.
-Bạn Miền
Với kinh nghiệm làm vườn lâu năm, chị Miền dự đoán rằng năm nay sẽ có tuyết rơi vào dịp Tết âm lịch, và đó cũng là dịp khó khăn nhất cho người nông dân. Thường thì người nông dân miền núi không có nhiều ruộng như nông dân miền xuôi, bên cạnh đó, cũng chưa bao giờ được mùa như nông dân miền xuôi. Thường mỗi gia đình có không tới hai sào ruộng bậc thang gồm nhiều thửa lẻ tẻ dọc các triền núi để trồng lúa. Và mỗi sào chỉ thu hoạch được từ hai đến ba trăm ký lúa. Nếu được mùa, bội thu thì được ba trăm ký.

Và với sáu trăm ký lúa, giã thành gạo còn lại được gần bốn trăm ký gạo nếu như được mùa, mất mùa thì số lượng gạo dùng trong vòng sáu tháng của một gia đình năm, sáu người chỉ còn chừng hai trăm ký. Trong trường hợp thức ăn giàu dinh dưỡng thì hai trăm ký gạo vẫn có thể đắp đổi được. Nhưng với nông dân miền núi, vấn đề dinh dưỡng vẫn còn rất xa tầm tay, chính vì thiếu dinh dưỡng nên thay vì ăn một bát cơm, người ta phải ăn lên hai bát, ba bát mới lấp nổi cái bụng đói.

Và cũng chính vì lẽ này, trong những ngày trời lạnh, nguy cơ thiếu ăn, đói ăn của nhiều gia đình đồng bào thiểu số là rất cao. Trong khi đó, mọi súc vật, gia cầm sẽ chết hàng loạt vào những ngày trời băng giá, thay vì bán lợn, gà, vịt, ngan để mua lương khô, mì gói, người ta phải muối thịt để ăn qua ngày nhưng cũng chẳng được mấy ngày vì thời tiết thất thường, ngày hửng nắng, đêm tuyết rơi, tủ lạnh thì chẳng gia đình nào có. Ngay cả cái ăn còn thiếu huống gì là tủ lạnh.
Hơn nữa, mùa giá rét, rau cải, từ su hào cho đến hoa hồng, thậm chí măng giang đều bị chín nhũn vì tuyết lạnh. Hầu như chẳng còn gì để bán mà tồn tại, người H.Mong, người Thái Trắng, người Dao Đỏ lại một lần nữa mang bị, mang gậy chống ra khỏi bản để bán quà lưu niệm. Nói là bán quà lưu niệm nhưng trên thực tế, những người này đi ăn xin một cách trá hình.

sapa-400.jpg
Một người mẹ Dao Đỏ ở gần chợ Sapa. RFA PHOTO.
Mặc dù rất buồn vì đồng bào của mình lại cam phận làm ăn mày trá hình nhưng chị Miền cũng ngậm ngùi thừa nhận là không còn cách nào khác, nhiều bà mẹ mới sinh con vài ngày cũng phải bồng con đi kiếm ăn, có người ăn xin, cũng có người đi lượm ve chai. Tụ điểm của họ là hai con phố sầm uất trong thị trấn Sapa, phố Fansipan và phố Cầu Mây. Ở đây, vào cuối tuần, khi các xe rác hụ còi, những đồng bào thiểu số sẽ xúm xít chờ người ta mang rác đi vứt để sục sạo tìm những vỏ hộp, những thức ăn thừa và nếu may mắn thì có nhiều thứ vỏ lon vứt đi, những thứ này kiếm được nhiều tiền hơn.
Những ngày khác trong tuần, những người mẹ lại cõng con đi lang thang khắp các nẻo phố để kiếm ăn, nếu may mắn gặp khách du lịch thươgg tình cho vài đồng, xem như ngày đó trúng đậm. Nhưng đáng ngại nhất vẫn là cái lạnh, họ ăn mặc phong phanh, người lớn xám môi, trẻ em run lập cập, riết thành quen, cái lạnh chẳng còn khiến cho người ta sợ chết mà không dám ra đường kiếm ăn nữa.

Vết thương phẩm hạnh bị tấy đau

Một người đàn ông Dao Đỏ tên A Khương, chia sẻ:“Lạnh lắm, thường thì khoảng 2 độ đến 5 độ, nhiều khi còn có 0 độ. Chuyện thiếu ăn thì có, nhiều bản xa hơn ở đây còn khó hơn nữa. Chuyện thiếu ăn là chuyện thường, chết đói thì chưa đến nối nhưng thiếu ăn thì thường xuyên. Chủ yếu thì ăn ngô với nếp, trồng được ở ruộng bậc thang. Phải dự trữ nhưng vẫn thiếu ăn. Đâu có đất đâu mà trồng nhiều.”
Chuyện thiếu ăn thì có, nhiều bản xa hơn ở đây còn khó hơn nữa. Chuyện thiếu ăn là chuyện thường, chết đói thì chưa đến nối nhưng thiếu ăn thì thường xuyên. Chủ yếu thì ăn ngô với nếp, trồng được ở ruộng bậc thang. Phải dự trữ nhưng vẫn thiếu ăn. Đâu có đất đâu mà trồng nhiều.
-A Khương
Theo ông A Khương, vấn đề đau lòng nhất của bà con dân tộc thiểu số Tây Bắc, ven những vùng du lịch không phải là chuyện thiếu đói, vì thiếu đói vốn là căn bệnh mãn tính ở đây, không cần bàn tán gì thêm nữa. Vấn đề là lương tri, bản tính hồn nhiên đã hoàn toàn mất dấu trong tâm hồn những đồng bào thiểu số quanh các khu du lịch. Đây là căn bệnh đáng sợ nhất.


Nếu như các cô gái đều mang giấc mơ học giỏi tiếng Anh để làm hướng dẫn viên và kiếm chồng Tây thì không thiếu những phụ nữ ở tuổi 40, 50 cố tình học tiếng Anh điể tiếp cận nhưng ông Tây sồn sồn mà bán dâm. Có lẽ chính vì thế mà khái niệm “chơi dân tộc”, “chơi mọi” được giới ăn chơi nhắc đến khá nhiều trong thời gian gần đây. Khái niệm gia đình không còn sâu sắc và thiêng liêng đối với nhiều phụ nữ đồng bào thiểu số nữa. Họ bắt đầu nghĩ đến những ông chồng giàu ở xứ khác và mơ những giấc mơ đổi đời bằng con đường lấy chồng xứ lạ.

Đây là vết thương mưng đau của đồng bào thiểu số, bởi suy cho cùng, với họ, thứ duy nhất khiến họ yêu quí đời sống và gắn với núi rừng thiêng liêng, bản làng thân thuộc, vượt qua mọi khổ ải chính là tính hồn nhiên, thủy chung và nếp sống chân chất, mộc mạc giữa người với người. Rất tiếc, chuyện ấy đang dần trở thành quá khứ, người thiểu số cũng bắt đầu học đòi quay cuồng theo đời sống vật dục nhưng lại không có bất kì kiến thức gì về đời sống này cũng như không có đủ những phương tiện văn hóa căn bản nhất để theo đuổi giấc mộng hão huyền của mình.

Vô hình trung, sự thành công của ngành du lịch lại đẩy những bản làng hồn nhiên trở nên phức tạp, giảo hoạt và tụt hậu, lún sâu vào những vấn đề tệ hại nhất của loài người. Và điều đó nổi trội mỗi khi lượng khách du lịch Sapa nhiều lên thất thường, mọi sự quản lý chểnh mảng, những trò rủ rê, chèo kéo khách du lịch lại diễn ra ở các bản làng.

Suy cho cùng, nếu như băng giá làm cho ngành du lịch trở nên thịnh vượng thì đôi khi, chính sự thịnh vượng này lại làm cho tâm hồn con người trở nên đóng băng, đẩy những nhóm dân tộc thiểu số vào chỗ lạnh lùng và tật nguyền vĩnh viễn. Không có gì đáng sợ hơn một sự giàu có của người này kéo theo một nỗi tật nguyền của người khác, không có lối thoát!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.



No comments: