Thursday, December 25, 2014

ĐÈN CÙ II

 

Đèn Cù tập 2: Bí ẩn cung đình đỏ và thân phận con người

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-11-25
dencu-2-622.jpg
Bích chương quảng cáo Đèn Cù tập 2 của Trần Đĩnh.
Courtesy Người Việt Books


Tác phẩm Đèn cù phần 2 của nhà văn Trần Đĩnh sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian tới đây. Những dòng tự sự về thân phận con người trong chế độ cộng sản cũng như những bí ẩn chính trị bị che dấu tiếp tục được phơi bày. Sau đây là góc nhìn của một trong những độc giả đầu tiên của Đèn cù phần hai.

Hồng cung bí sử

“Ông Lê Trọng Nghĩa xuất thân là một sinh viên khoa Luật, thông thạo nhiều thứ tiếng. Năm 23 tuổi (tức 1945) ông làm thuyết khách gặp gỡ Trần Trọng Kim, thuyết phục chỉ huy Nhật ở Trại Bảo an binh và tham gia đàm phán với Tổng chỉ huy quân đội Nhật ở Hà Nội. Chia sẻ về công việc của mình, ông nói: "Tôi theo dõi tất cả các vấn đề có quan hệ tới đối phương như Pháp, Mỹ, và các nước khác có liên quan đến cách mạng Việt Nam. Dựa vào những tin tức đó, Bộ Chính trị đưa ra chủ trương, quyết sách". Giai đoạn Cách mạng Tháng 8, ông Nghĩa đại diện chính quyền Việt Minh liên hệ với quân đội Nhật. Chủ trương lúc đó của Việt Nam là chỉ huy quân giải phóng đánh vào quân Nhật đang co cụm ở Thái Nguyên để mở đường Nam tiến.”
Đó là đoạn trích từ bài báo ngày 11/10/2014 trên báo mạng Vnexpress tại Việt nam. Bài báo này ghi nhận cảm nghĩ của ông Lê Trọng Nghĩa về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời cũng ghi vắn tắt tiểu sử của ông Nghĩa, một người từng đứng đầu ngành tình báo Việt nam và giữ vai trò quan trọng nhất trong cuộc cướp chính quyền tháng Tám năm 1945.
Điều mà báo này không nhắc đến là chuyện ông Nghĩa bị bắt, không án trong cái gọi là vụ án xét lại chống Đảng.
Sự thành công của cách mạng tháng tám không phải là sự tổ chức sắc sảo từ đầu đến cuối của đảng cộng sản Việt nam mà là một khoảng trống về quyền lực lúc ấy trên bán đảo Đông Dương.
Điều này lại được tác giả Trần Đĩnh ghi nhận rất chi tiết trong phần hai cuốn tự truyện Đèn Cù. “Nhưng thân phận cựu Đại tá tình báo Lê Trọng Nghĩa không quan trọng bằng tiết lộ của ông về cuộc cách mạng tháng tám mà Trần Đĩnh ghi lại”. Theo tiết lộ này thì trong tháng tám 1945 những người đứng đầu Việt minh, mà nòng cốt là đảng cộng sản đã ra quân lệnh số 1 tấn công quân đội Nhật bản đang chiếm đóng Đông dương lúc ấy. Trong khi đó thì bộ phận Việt minh ở Hà nội do ông Lê Trọng Nghĩa đứng đầu thương lượng thành công với quân đội Nhật để lên nắm chính quyền. Ông Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông đều không biết việc này. Và khi những đội quân Việt minh đầu tiên tiến về Hà nội từ Việt bắc vẫn phải xin phép quân đội Nhật.
“Điều này có nghĩa là sự thành công của cách mạng tháng tám không phải là sự tổ chức sắc sảo từ đầu đến cuối của đảng cộng sản Việt nam mà là một khoảng trống về quyền lực lúc ấy trên bán đảo Đông Dương.

Những tiết lộ lịch sử ấy ắt hẳn là điều mà nhiều người quan tâm đến lịch sử và chính trị Việt nam mong đợi từ quyển sách Đèn Cù tập 2 sắp xuất bản, cũng như họ đã mong đợi từ phần một quyển tự truyện này.
Một điều có lẽ cũng sẽ gây ngạc nhiên cho người đọc khi Đèn cù 2 tiết lộ rằng Lê Duẫn đã từng tiếp xúc với tình báo Mỹ, mặc dù sau đó tại đại hội trung ương đảng lần thứ 9 ông là người đứng đầu phái thân Mao chủ trương dùng bạo lực để tiến đánh miền Nam.

TranDinh-1998-250.jpg
Nhà văn nhà báo Trần Đĩnh, ảnh chụp năm 1998. Hình do ông cung cấp.
Cũng liên quan đến ông Lê Duẫn, những điều Trần Đĩnh ghi chép lại cho biết rằng sự “bất kính” của ông Duẫn đối với ông Hồ đã bắt đầu từ khi ông được huấn luyện bởi các bậc đàn anh như Trần Phú, Hà Huy Tập, những người được Quốc tế cộng sản công nhận chứ không phải là ông Hồ, một kẻ bị thất sủng, dù ông cũng là người được Đệ tam quốc tế đào tạo từ rất lâu.

Người ta cũng sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Trần Đĩnh nghi ngờ nhân vật Trần Xuân Bách khi ông này đề ra những ý tưởng cải cách chính trị cởi mở hơn cho Việt nam.
Và những câu chuyện thâm cung bí sử về những nhân vật chính trị một thời của đảng cộng sản Việt nam tiếp tục được ghi lại qua ngòi bút dí dỏm của Trần Đĩnh, người chỉ khiêm tốn đặt tên cho quyển sách đầy ắp tư liệu lịch sử của ông là “Truyện tôi”.
Những chi tiết lịch sử ấy Trần Đĩnh gọi là “Hồng cung bí sử”.

Thân phận con người

Những sự kiện lịch sử dù bị che dấu, cũng sẽ dần dần lộ ra trong thời đại thông tin toàn cầu này, “điều mà Trần Đĩnh đem đến nhiều nhất cho người đọc chính là sự mô tả thân phận con người trong và dưới chế độ cộng sản.”
Những nhân vật trong guồng máy như các ông Lê Liêm, Bùi Công Trừng, Đặng Kim Giang, Ung Văn Khiêm,… những người có công gầy dựng nên đảng cộng sản bị đối xử một cách tàn khốc khi sa cơ thất thế, bị chính các đồng chí ngày hôm qua của họ giáng xuống những bản án nặng nề. Trần Đĩnh viết:
Đất nước bị mắc phải một giống vi trùng có tên là tính đảng. Nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.
-Trần Đĩnh
“Đất nước bị mắc phải một giống vi trùng có tên là tính đảng. Nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.
Ông viết thêm là ở nước Việt nam, nhờ có đảng mà cái gì cũng là hai mặt, hai mang. Và những tư tưởng giai cấp mà đảng cộng sản đem vào Việt nam đã để lại những sự đảo điên vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt nam:
“Nó gây sốc đảo điên dân tộc, nó đem vào lập trường đấu tranh giai cấp, đi vào trong mọi quan hệ xã hội, họ hàng gia đình, bạn bè để đấu tố nhau, xin mạng nhau.
Tuy nhiên cuộc đấu đá quyền lực của những người lãnh đạo cộng sản không làm họ xao nhãng việc cai trị. Trần Đĩnh viết tiếp:
“Tôi lạ là các bộ óc đầy hằn học, nghi ngờ nhau như vậy vẫn nhất trí được với nhau trong việc trị dân.
Sự phản kháng của dân chúng trước sự toàn trị ngặt nghèo của đảng được Trần Đĩnh mô tả lại qua những buổi trò chuyện dài giữa ông và anh thanh niên vá xe đạp. Qua đó người đọc thấy sự phản ứng rất đặc biệt của người dân dưới chế độ cộng sản: Không có những cuộc biểu tình, những cuộc nổi dậy mà có sự châm biếm các giới lãnh đạo, sự biến thái của ngôn ngữ để chuyển tải những câu chuyện khôi hài đen.
Đọc Đèn cù tập 2 người ta cũng thấy một mối quan hệ đặc biệt giữa những người bất đồng chính kiến, những người bị chế độ lên án với những nhân viên an ninh theo dõi họ. Họ tồn tại song song nhau, khai thác nhau. Bộ máy an ninh dày đặt đã gieo rắc sự sợ hãi vào trong lòng dân chúng, và cả những người có cương vị trong xã hội. Trong xã hội ấy một khi người ta ngại tiếp xúc với các cơ cấu của bộ máy quyền lực chính là lúc người ta bắt đầu có biểu hiện của sự khủng hoảng tâm thần do bị đàn áp về tinh thần.  Đó là nhận xét của Trần Đĩnh về những thân phận con người xung quanh mình và ông thường xuyên tự nhắc mình rằng trong cái sợ đó “phải ứng phó làm sao cho đúng cốt cách một con Người”.
Dù biết rằng bất cứ sự so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng câu chuyện về những nhân vật cộng sản Việt nam mà Trần Đĩnh ghi lại, không khỏi gợi cho độc giả nhớ đến cuốn tiểu thuyết chính trị của nhà văn Pháp Andre Malraux mang tựa đề “Thân phận con người”, mô tả cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản tại Thượng hải, Trung quốc vào những năm 1930. Người ta thấy nhiều âm mưu, nhiều sự bội phản, nhiều sự cơ hội, và trên hết là sự ảo tưởng mà Trần Đĩnh gọi là sự Mộng tưởng. Sự mộng tưởng vào chủ nghĩa cộng sản ám ảnh tác giả lớn đến mức mà ông lập lại đến hai lần trong phần hai của tác phẩm Đèn cù:
“Mộng tưởng không trọng lượng nhưng đè sập biết bao đời người.
 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-rolling-lantern-volume-2-kh-11252014115127.html



Giới thiệu Đèn Cù 2


dcc
Đèn Cù cuốn I của Trần Đĩnh xuất hiện giữa mùa Thu năm nay đã được chiếu cố và hoan nghênh từ nước ngoài về lại trong nước. Cuốn sách, với lối văn nói, trình bày nội dung phóng khoáng, rất người và rất thực, đã thu hút người đọc với vô số chuyện xảy ra mà tác giả là vai chính hay ít ra là nhân chứng. Chuyện “cung đình” cộng sản, điều mà ai trong chúng ta, tò mò hay không tò mò, cũng đều muốn biết.

“Truyện tôi” của Trần Đĩnh kể lại với cái tôi của người viết, đương nhiên, và chỉ một người viết này mới có cái tôi như thế… “Một lối kể tếu táo của người chứng kiến, không cần đưa ra dữ liệu, ai tin thì tin, không tin thì thôi… ” như nhận xét của nhà văn Vũ Thư Hiên.
Trần Đĩnh cho biết từ ngày Đèn Cù I xuất hiện, cuộc sống (của ông) quả có gặp “khó khăn.” Các mối giao dịch xưa nay trở nên “lạ lùng, kỳ quái,” theo lời của tác giả. Cũng còn là may vì đừng quên rằng tác giả vẫn còn sống dưới chế độ “kỳ quái” được mô tả rành rọt trong cuốn sách. Vì may mắn nào mà Đèn Cù II vẫn còn được tiếp tục xuất hiện và hy vọng tới tay bạn đọc?

Không, không có gì thay đổi cả. Vẫn giọng văn ấy, vẫn “lối kể tếu táo” ấy, và với những muộn phiền ấy trong cuộc sống của chế độ mà tác giả cố gắng luồn lách qua ngày… Những điều trông thấy mà đau đớn lòng… Trải dài trên mấy trăm trang giấy, đọc mệt luôn!

Cuốn II tiếp tục tiết lộ nhiều chuyện ly kỳ… xin trưng dẫn vài chuyện:
Chuyện ông Hồ, đúng ra chuyện giả cụ Hồ. Ở nước nào, cộng sản hay không cộng sản, lãnh tụ nào cũng sợ bị ám sát, chết không kịp ngáp. Thế nên mới có chuyện nhờ người giả dạng lúc xuất hiện trước công chúng. Chuyện nghe cũng bình thường thôi và không có chi lạ. Vậy lạ ở đây là cái gì? Xin nghe tác giả thuật lại chuyện của người đã giả ông Hồ theo lời kể của Xương.
“Chuyện của Xương nói chung rất khác người. Rất bông phèng:”
“Có lần anh hỏi tôi năm 1946, lúc còn là thiếu niên tiền phong… có ra ga Hàng Cỏ đón ông Bác đi tàu thủy ở Pháp về Hải Phòng rồi lên Hà Nội bằng xe lửa. À, có đón hả?
“Xương cười nói tiếp: Thế thì cậu hoan hô với vẫy hão rồi. Hôm ấy ở xe lửa xuống, cụ lên dự cuộc đón tiếp công khai xong là có người dắt đi, bịt râu, đi tắt trong sân ga đến chỗ thằng Qua, thằng này sau là cục trưởng cục trại giam, chờ sẵn lái đưa cụ đi.

“Sợ phản động nó xơi mà. Còn Bác trên xe chính thức giễu phố là một cậu lâu ngày tớ quên tên nó mất rồi, thằng này giống ông cụ kinh khủng, nó đeo râu giả làm ông cụ, nhòm ra vẫy đồng bào. Phản động phơ thì thằng này hứng…

“Đến cải cách ruộng đất, tay hình nhân này bị đấu tố là địa chủ phản động gian ác, suýt ngỏm. Nó khóc: Tôi từng đóng thay Bác Hồ để phản động có bắn thì tôi chết thay bác, thế nhưng phản động không bắn mà nay Ðảng lại bắn tôi, ôi bác Hồ ơi, hu hu… ”
Chuyện thứ hai liên quan đến cuộc sống của công nông trong cái “thiên đường cộng sản” đó. Ly kỳ lắm vì rằng lương của họ chỉ đủ sống 10 ngày… mà vẫn sống. Lương chỉ đủ sống 10 ngảy, người nói câu đó không phải là “một tên phản động, tàn dư Mỹ ngụy… ” mà là Trường Chinh, Tổng bí thư đảng.

Trần Đĩnh viết:
“Tái xuất giang hồ, Trường Chinh có một câu quá hay: Lương của công nhân viên chức chỉ đủ để sống trong mười ngày.
“Hoàng Ước, thư ký của Trường Chinh bảo tôi là một hôm Trường Chinh nói với mấy người giúp việc rằng ta trả cho người lao động đồng lương bóc lột. Hoàng Ước bèn nói lương chúng tôi chỉ đủ sống mười ngày. Trường Chinh cau mày khó tin – bóc lột thì có nhưng sao lại có thể ác nghiệt hơn cả đế quốc đến thế?

“Hôm sau [Trường Chinh] bảo Hoàng Ước: Tôi đã hỏi nhà tôi, nhà tôi nói không có chế độ cung cấp đặc biệt thì lương ông cũng chỉ đủ cho nhà này ăn mười ngày. 
“Sau đó Trường Chinh đến nhà máy thuốc lá Thăng Long nói Phải cứu giai cấp công nhân!
“Hay thật! Ở một nước do giai cấp công nhân lãnh đạo mà đảng phải cứu giai cấp công nhân ra khỏi đồng lương bóc lột? Tôi thấy ở đó một khẩu lệnh hành động. Trường Chinh rất giỏi đề khẩu lệnh. Nhưng ông không nói cứu công nhân khỏi tay ai? Và thằng khốn nào nó bóc lột công nhân?

“Song dân biết rất rõ cái cơ chế gà què mổ lẫn nhau nó cho phép bộ máy với lương sống mười ngày vẫn cù cưa được cả tháng, tất nhiên ở mức khốn nạn… ”
Thế là xong, hết thắc mắc. Nói chung cho cả nước.
Gia đình Trần Đĩnh còn gặp khó khăn hơn với nạn đánh Hoa Kiều sau khi đương sự bị đuổi. Tại sao? Bà Trần Đĩnh là người Hoa.
“Tôi bị đuổi việc so với cái họa của Hồng Linh vợ tôi, còn sướng hơn nhiều. Một sáng, phó phòng tổ chức Nhà hát giao hưởng – hợp xướng – Nhạc vũ kịch Việt Nam gọi Linh đến bảo: 

“Chị phải đi khỏi Việt Nam. Và đi một mình, vì Trần Đĩnh không được phép đi đâu cả, còn con gái chị là người Việt Nam nên phải ở lại. Chị không đi, mai kia phòng tuyến Bắc Giang vỡ là sẽ tập trung các người Hoa như chị vào một khu vực xa lắm, khổ ra.”
Tại sao Trần Đĩnh tiếc nuối chế độ? Bị cho nghỉ việc, không lương, vợ bị trục xuất. “Trong biên bản khai cung năm 1968, tôi (tác giả) viết:
“Chân lý Mác Lê nay như một vòm pha lê vở vụn, mỗi anh nhận một mãnh và bảo đó là chân lý chung.
“Tôi nhìn đảng như một quái vật hai đầu. Một đầu của cô gái xinh đẹp là cuộc tổng khởi nghĩa và một đầu nghiệt ngã dữ dằn là đảng hiện nay. Có khi muốn đẩy cái đầu dữ đi thì đầu cô gái mà tôi mê lại khuyên ráng chịu.”
Một chế độ công an trị đang vây bủa. Một lưới trời (thiên võng) đang chụp trên đầu cả nước, chỉ có internet, họa hoằn lắm, mới qua lọt.
Vẫn từng đó người trong từng đó chức vụ, của đảng, của chính phủ, của quốc hội, của đoàn… nối tiếp nhau… Voi giấy ối a, ngựa giấy, ơi tít mù nó chạy vòng quanh…
Nhà xuất bản Người Việt (Nguồn Fb Trần Triết)

Đèn Cù Tập II – vài giai thoại

Posted by adminbasam on 22/12/2014
GS Nguyễn Văn Tuấn
21-12-2014
Hãy thú nhận! Đọc sách loại hồi kí hay bán hồi kí (như Đèn Cù của Trần Đĩnh) độc giả thường để tâm đến những … giai thoại. Tôi cũng chẳng phải là một ngoại lệ, tức là thỉnh thoảng cũng bị cuốn hút theo những câu chuyện mang tính giai thoại của tác giả. Thật ra, đối với hồi kí chính trị và trong bối cảnh giấu diếm thông tin, những giai thoại đôi khi cũng nói lên vài điều về đương sự.


Dương Thu Hương
Bà là một nhà văn có tài và rất nổi tiếng vì tính kiên trực trước bạo quyền. Trong Đèn Cù Tập II, Trần Đĩnh kể về bà Hương với nhiều chi tiết … bi hài. Năm 1994, bà Hương từ Pháp về Hà Nội thì bị công an lục soát hành lí và tịch thu hộ chiếu. Khi đại sứ quán Đức mời bà sang Đức thì họ phải lo làm hộ chiếu cho bà. Phía VN biện minh rằng không có chuyện tịch thu hộ chiếu, họ chỉ sửa hộ chiếu đục lỗ thôi. Khi bà Hương đến nhận hộ chiếu, người của Cục xuất nhập cảnh yêu cầu bà đến phường để lấy dấu và chủ kí xác nhận. Ở phường, bà Hương khai như sau:

“Tên họ: Dương Thu Hương
Đã bị bỏ tù vì chống chủ nghĩa xã hội.
Lí do ra tù: do sức ép quốc tế và sự sụp đổ của thành trì xã hội chủ nghĩa”

Mấy người công an ai cũng kiếm cớ ra nhìn cho được người khai những câu chữ đó. Khi đến nhận hộ chiếu, lại gặp rắc rối theo kiểu Việt Nam, người ta yêu cầu ghi vào biên bản nói rằng Nhà nước đã vui lòng cấp hộ chiếu cho bà Dương Thu Hương, nhưng bà thiếu thiện chí đã từ chối vì hận thù chủ nghĩa xã hội. Bà Hương xem biên bản rồi ghi bên cạnh là: “Tôi không hận thù chủ nghĩa xã hội như trong biên bản người đại diện Nhà nước ghi bởi lẽ nó chỉ là một khuynh hướng ấu trĩ của tư tưởng nhân loại. Nhưng tôi chống nó tới cùng bởi lẽ nó đem hợp thức hoá chế độ độc tài, toàn trị lên đầu nhân dân” (Trang 390). Cuối cùng Dương Thu Hương không có hộ chiếu, và bà phải fax cho đại sứ quán Đức để nói lí do.

Chuyện “Chủ tịt”
Một trong những giai thoại tôi thấy hay hay vì nó nói lên sự sùng bái cá nhân thời bao cấp. Chuyện kể rằng một lần nọ nhà in xếp chữ (thời đó còn xếp chữ in) thế nào mà chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bị xuống dòng một cách vô duyên biến thành “Chủ tịt Hồ Chí Minh”! Đụng đến dù chỉ cái tên của ông cụ là cả toà soạn nhốn nháo lên. Tất cả cán bộ nhân viên toà soạn báo, tất cả cán bộ nhân viên nhà in, binh lính, sĩ quan, v.v. phải tập hợp đứng im để cho an ninh quân đội điều tra. Dĩ nhiêu câu hỏi lởn vởn trong đầu “người ta” là tại sao có sự nhầm lẫn chết người như thế? Cố ý hay vô tình? Gián điệp cài vào? Ai là thủ phạm? Kể từ đó, tác giả cho biết ông không bao giờ viết về cụ Hồ trên sách báo nữa (trang 501).

Chuyện bắt Lê Trọng Nghĩa
Ông Lê Trọng Nghĩa thường được nhắc đến trong Đèn Cù khá nhiều lần, vì ông dính dáng vào “vụ án xét lại chống đảng”. Ở trang 545, tác giả thuật lại việc bắt Lê Trọng Nghĩa, lúc đó là Cục trưởng Cục tình báo quân đội, đậm màu Statsi. Ngày 8/1/1968, “Nghĩa họp giao ban xong, thì được Văn Tiến Dũng bảo sang bên Phạm Ngọc Mậu có việc. Nghĩa lái xe sang. Mậu nói luôn: Đồng chí bị bắt! Nghĩa vặn: Đồng chí mà bắt?”

Người ta hỏi cung ông Nghĩa rất nhiều, và đặc biệt xoáy vào vấn đề ai là người giao cho ông liên hệ với CIA để chuẩn bị đàm phán Việt – Mĩ? Chủ ý là khai thác để ông Nghĩa khai ra người giao nhiệm vụ là tướng Giáp. Nhưng ông Nghĩa thản nhiên nói: người giao nhiệm vụ là đồng chí Lê Duẩn!

Đồng chí X
Thời gian gần đây, người theo dõi thời sự VN đều nghe đến cách nói “Đồng chí X”. Tôi tưởng đó chỉ là cách nói mới của ông Chủ tịch Trương Tấn Sang, nhưng đọc Đèn Cù mới biết cách nói này đã xuất hiện từ 1971. Năm đó, trong một nghị quyết của đảng, người ta từng bêu tướng Giáp bằng tên X (trang 591).

Tàu rất ghét tướng Giáp. Họ từng trương biểu ngữ trước cửa Thiên An Môn để nói xấu tướng Giáp ngay trước mặt đoàn của Việt Nam do Lê Thanh Nghị dẫn đầu. Năm 1978, khi tướng Giáp sang Tàu cám ơn Tàu đã chi viện cho Bắc Việt Nam đánh Mĩ, thì phía Tàu cho ông ăn cơm với chén bị mẻ!

Trong Đèn Cù Tập II, tác giả cho biết rằng Mao Trạch Đông từng nói với ông Lê Duẩn rằng “Đại biểu của phái hữu ở Việt Nam đại khái như Võ Nguyên Giáp, đại biểu của phái tả đại khái như Nguyễn Chí Thanh. Cách mạng Việt Nam muốn lên thì phải hạ cánh hữu xuống” (trang 592).

Nạn nhân của thể chế
Trong một chương cuối của sách, tác giả Trần Đĩnh cho rằng ông Hồ chính là “nạn nhân trước hết của chủ nghĩa cộng sản và của đảng chính trị kiểu Lenin” (trang 619). Ngay từ đầu, Stalin đã cho đàn em huấn luyện cho các lãnh tụ cộng sản tương lai của VN như Nguyễn Ái Quốc thấm nhuần chân lí: Việt Nam phải chịu sự kiểm soát của Liên Xô và răm rắp tuân lệnh Stalin.

Nhưng sau này thì chính ông lại là nạn nhân của thể chế ông xây dựng nên. Sử gia nổi tiếng người Pháp là Pierre Brocheux viết rằng “trong vụ án xét lại chống đảng, ông Hồ Chí Minh cũng đã nhận ra bản chất của chế độ nhưng chẳng làm gì được. Hơn nữa, kể từ năm 1960, chính nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh mới thực sự là những người nắm quyền. Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời, ông Hồ bị cách li khỏi quyền lực, tức là không hề có quyền gì. Ông ấy tự biến hành một biểu tượng.” (Trang 633).

Những câu hay
Tôi đọc thấy trong Đèn Cù Tập II có nhiều câu phát ngôn đáng được trích dẫn. Đáng trích dẫn vì những câu đó tóm tắt một cách đầy đủ những vấn đề mà chúng ta quan tâm.
“Trật tự đang chế ngự tại đây là một trật tự quan liêu giết chết cá thể, đè bẹp mọi đặc thù, loại bỏ mọi thăng hoa, một trật tự không sự sống. Vâng đất nước Tiệp đang có yên bình của các bãi tha ma” (trích phát biểu của Vaclav Havel, Trang 267).
“Buồn thay cho những nhân dân mà lòng yêu nước đã bị giam cầm vì mất tự do” (trang 396).

“Càng yêu nước càng phải tôn trọng sự thật” (trang 398).
“Ngày xưa, Việt Minh luôn xoáy vào cái ‘nhục mất nước’ để kêu gọi làm cách mạng. Nay không thể xoáy vào cái nhục nghèo nàn, lạc hậu” (trang 401).
“Cộng sản mang ở trong lòng sức mạnh phá phách. Cần có quyền lực thì lãng phí xương máu nhân dân, khi có quyền lực rồi thì tham nhũng tiền của nhân dân” (Trang 503).
“Đánh cho Mĩ cút, đánh cho Hoa vào”, “Thằng Tây nó tếch, thằng Tàu nó sang” (trang 505).

“Vào đảng cộng sản là theo đuổi có hiệu quả công cuộc ăn cắp cuộc sống, ăn cắp lòng tin” (trích Nhà văn Pháp Claude Roy, cựu đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, trang 507).
“Có thể khẳng định một điều: chiến tranh ‘chống đế quốc Pháp, Mĩ’ của Việt Cộng đều chịu sự chỉ đạo của ý thức hệ cộng sản – chính quyền ra từ nòng súng, vừa ‘giải phóng dân tộc’ vừa ‘đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc’, góp phần quan trọng ‘giải phóng loài người’.” (Trang 634).
===
Thế là tôi đã đọc xong và ghi chép lại vài nội dung trong cuốn Đèn Cù Tập II. Đó là những chất liệu mà tôi nhặt được trong sách. Có thể nói tôi chỉ mới thu thập dữ liệu – data, chứ chưa phân tích và bàn luận. Tôi còn đang “tiêu hoá” nội dung cuốn sách, những chất liệu và thông tin trong sách trước khi viết ra những nhận xét của tôi.

Nhưng nói chung, cảm tưởng ban đầu là đây là một cuốn sách bổ sung rất tốt cho tập “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, “Những lời trăn trối” của Trần Đức Thảo, và “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên. Những cuốn sách này cung cấp cho chúng những phác hoạ về các nhân vật quyền lực ở miền Bắc trước đây cùng những việc làm của họ, và qua đó góp phần giải thích tại sao VN vẫn còn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và tham nhũng tràn lan như hiện nay.
Nguồn: FB Que Diêm

 

Đèn Cù II: Sơ Lược Qua Vài Mẫu Chuyện Nóng

20/12/201400:00:00(Xem: 2359)
Quyển sách thứ hai của Trần Đĩnh cũng có tựa là Đèn Cù và Đèn Củ II. Cũng đồ sộ như quyển Đèn Cù I và do Người Việt ở Cali, Huê kỳ, xuất bản. Sách phát hành hôm 21 tháng 11/2014 vừa qua.

Khác hơn kỳ trước, kỳ này Đèn Cù II dường như cho tới nay chưa thấy được dư luận đón nhận ồn ào. Phải chăng độc giả đã biết Trần Đĩnh sẽ “nói gì” nên sự hâm hở của lần trước đã giảm đi? Hay sẽ từ từ rồi đọc, gấp gáp gì?

Cỏ May nhận được sách hơn tuần sau do nhà báo Đinh Quang Anh Thái có nhả ý gởi biếu. Cỏ May quen biết Anh Đinh Quang Anh Thái nhơn dịp anh ấy qua Paris chơi. Sau đó, gặp lại nhau ở Cơ sở truyền thông Ký Con ở Cali, rồi Đài Á châu Tự do, Đài Litle Sài gòn. Nhưng từ lúc anh làm việc ở báo Người Việt thì Cỏ May chưa có dịp gặp lại. Nhắc lại chút chuyện xưa để ghi lại sự cảm ơn đối với Anh Thái.

Nhận được sách, Cỏ May vội đọc lướt qua để thấy quyển II có gì khác hơn, đáng chú ý hơn quyền I hay không? Rồi sau đó sẽ có thì giờ đọc lại kỷ hơn.

Quả thật, ở quyển II, Trần Đĩnh có tiết lộ nhiều chuyện một cách mạnh dạn hơn, mang tính tố cáo chế độ mà ông từng hiến thân phục vụ từ năm 19 tuổi và những chuyện này đóng góp thêm rỏ ràng hơn để phơi bày bản chất “dỏm” và “đễu” của chế độ công sản hiện này còn tồn tại và cai trị đất nước Việt nam.

Thế Lữ

Ít ai biết nhà văn Thế Lữ là người kết nạp đảng cho Cựu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Nhưng từ trước 1945, Thế Lữ đã ly khai khỏi đảng cộng sản và gia nhập Vìệt nam Quốc Dân Đảng!

Lúc bấy giờ, Thế Lữ đã là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà soạn kịch, nhà đạo diễn, một trong số 29 Hội viên đầu tiên và cuối cùng của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân đảng cộng sản, nên ảnh hưởng của ông rất lớn. Thế Lữ kết nạp Nguyễn văn Linh mà không biết ông đã gieo một thứ mầm cực độc trên đất nước của ông. Đó là mầm cộng sản. Và cái mầm đó bám vào mảnh đất màu mở thực dân nên chỉ ít lâu sau đã hóa thành một thứ cây đại thọ chẳng cho được bóng mát mà còn tai hại cho đất nước …Trong lúc đó, Trần Huy Liệu lại từ bỏ Việt nam Quốc dân Đảng để đổi qua theo đảng cộng sản. Sự đóng góp cho văn học của Thế Lữ quan trọng hơn sự nghiệp sử học của Trần Huy Liệu nhưng Trần Huy Liệu được cộng sản trọng vọng. Vì sử gia đã có công ngụy tạo chuyện cây đuốc sống Lê văn Tám phá hủy kho xăng của Tây ở Thị Nghè!

Lúc Tổng Khởi nghĩa, đoàn kịch Anh Vũ của Thế Lữ đang diển ở Huế thì Việt Minh lùng bắt ông để thủ tiêu vì tội đi theo Việt Quốc Duy Dét, tức Quốc Dân Đảng. Theo Hoàng Yến phụ trách công an Huế thì Việt Minh, dưới sự huy động hết mình của Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh, xứ ủy Trung kỳ, đã lùng bắt hung bạo trí thức, nhơn sĩ suốt dải đất xứ Trung kỳ. Phạm Quỳnh, Khái Hưng bị giết trong chiến dịch này. Nhất Linh may mà chạy thoát.Và rất có thể Tạ Thu Thâu bị sát hại ở Quảng Ngãi cũng do chiến dịch khủng bố của hai tên Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh. Năm 1946, nhơn Hồ Chí Minh qua Pháp thương thảo với chánh phủ Pháp về tình hình Việt nam, Ông Daniel Guérin, ký giả người Pháp, bạn thân của Tạ Thu Thâu, gặp Hồ Chí Minh và hỏi tại sao giết người tranh đấu ái quốc Tạ Thu Thâu. Hồ chí Minh, với vẻ mặt “xúc động”, trả lời “Tạ Thu Thâu là người yêu nước thật, chúng tôi rất buồn về cái chết của ông...Nhưng, với nét mặt đanh lại, Hồ chí Minh xác định chủ trương, nhưng ai không đi theo đúng con đường do tôi đưa ra đều bị tiêu diệt”. Câu trả lời của Hồ Chí Minh cho thấy rỏ chiến dịch khủng bố những ái quốc không cộng sản trong kháng chiến chống thực dân Pháp không phải do sự hăng say quá trớn của cán bộ địa phương mà là phát xuất từ Hồ chí Minh.

Năm 1975 lần đầu vào thăm mẹ anh ở Sài gòn ra, Nguyễn Đình Nghi, bạn của Trần Đĩnh, kể lại một chuyện làm cho ông rất buồn. Khi gặp mẹ, bà quắc mắt hỏi ông: “Sao anh bỏ Chúa mà theo ma quỉ? Đứa nào nó xui anh?”. Nhưng ông đã nghĩ trước tới thái độ ứng xử của mẹ nên ông đã bỏ đảng khi sắp đi gặp mẹ. Tránh phải phân giải với mẹ (trg 429_436).

Võ Nguyên Giáp chạy theo Mao chuẩn bị chiến tranh với VNCH từ tháng 3/1955.-

Gần đây cố vấn quân sự Trung quốc tung ra hồi ký nói rỏ hồi tháng 3/1955, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp đã vào tận Bến Hải nghiên cứu bờ biển để sớm đề phương án tác chiến tương lai. Tháng 9, Võ Nguyên Giáp lại sang họp với Bành Đức Hoài và tướng lãnh Trung quốc bàn thêm …

Một người bạn của Trần Đĩnh, sĩ quan Thiết giáp, năm 1983, vừa ra tù tận Lao Kai về nói chuyện về sự xâm lăng của Trung quốc với sự im lặng đồng tình của Hà nội, một cách mỉa may thắm thía vô cùng. Nhờ học tập chánh trị kỷ, ông hiểu câu nói chỉ đạo của Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”, đó là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Hoa vào”. Cũng như trước đây “Thằng Tây nó tếch, thằng Tàu nó sang” (504-505)!

Vụ tấn công bằng ngư lôi tàu Maddox của Huê kỳ ở vịnh Bắc việt

Theo Vũ Lăng kể thì tàu Maddox của Mỹ bị đánh vì theo dõi đường mòn trên biển của Hà nội. Vụ này, Vũ Lăng đã biết qua thông tin chánh thức nhưng khi nằm với Trần Quý Hai ở Khe Sanh thì mới hiểu đầy đủ. Trần Quí Hai lúc đó trực Quân ủy suốt cả hai đêm xảy ra trận chiến. Đêm đầu kỷ niệm thành lập Hải quân, Hà nội cho ba tàu phóng lôi từ Ngọc Vừng ra tấn công thình lình vào tàu Maddox. Có một ngư lôi phóng đi làm sạt boong tàu rồi hải quân trên tàu mới biết. Quốc Hội Mỹ xem lại màn hình không thấy gì, mới chửi Johnson bịa chuyện. Dân Mỹ và Âu châu chết vì đầu óc lệ thuộc bằng chứng màn hình. Đêm thứ hai, ta cho hai tàu ra nữa, nhưng Mỹ đã đề phòng nên phản ứng ngay. Trần Quý Hai trực ban xin chỉ thị và được lệnh đánh. Hai tàu của Hà nội đều bị tàu Mỹ tiêu diệt cả. Mỹ vớt được một số lính thủy của Hà nội. Rồi Mỹ tiến đánh tan ba căn cứ hải quân cộng sản ở Cát Bà, ở Lạch Trường Sông Gianh và dưới Vinh, Bến Thủy.

Được tiếng dũng cảm, anh hùng, đánh trước tàu chiến Mỹ, nhưng lại đem nướng sạch hải quân. Trung quốc bèn trang bị lại cho hoàn toàn” (trg 563).

Ba đại chiến công của Giải phóng quân Trung quốc

Trung quốc cũng kỷ niệm hoành tráng “Chiến thắng Điện Biên Phủ” làm cho không ít bộ đội Cụ Hồ ngạc nhiên. Họ chưa từng biết Trung quốc đã tung ra một cuốn sách kể trong 6 đại chiến công của Giải Phóng quân Nhân dân thì có 3 là ở Việt nam: giải phóng Đường số 4 mở thông biên giới Hoa-Việt, chiến dịch Điện Biên Phủ, và “cho một bài học” ở sáu tỉnh biên giới Bắc Việt nam.

Nhận định của Đặng Tiểu Bình về Việt nam bội bạc có vẻ vẫn còn in đậm trong tâm thức của giới lãnh đạo Trung quốc. Bà Hồ Mộ La, con gái của Hồ Học Lãm, làm ca sĩ, giảng viên nhạc, kể chuyện lại lúc bà về Vân Nam tìm mộ cha, gặp đám bạn học xưa, họ đều kêu rêu Việt nam bạc bẻo. Những người bạn này nói với Bà Hồ Mộ La “Chó nó không bao giờ cắn lại chủ”. Rất đúng. Đảng cộng sản Hà nội đang làm con chó không bao giờ cắn lại chủ!

Việt nam học cách mạng Trung quốc mà quay lại đánh Thầy của mình như thế. Họ cũng nhắc lại câu Chu Ân Lai từng nói “Ai tốt với Trung quốc một thì Trung quốc tốt lại mười. Ai xấu với Trung quốc một thì Trung quốc xấu trả lại một trăm” (trg 355). Nhân dân Việt nam đang chứng nghiệm ý nghĩa của câu nói này!

Như vậy rỏ ràng là Mỹ thua Mao ở Sàigòn, ở Nam Vang và ở Vạn Tượng mùa xuân 1975, chớ Mỹ không hề thua Lê Duẩn, Pol Pot và Kaysỏn Phạm Văn Hảng!

Cũng như trước kia, Pháp thua Mao, Vi Quốc Thanh và Trần Canh ở Điện Biên Phủ tháng 5/1954 chớ không phải Pháp thua Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp!

Đi làm cách mạng cộng sản

Năm 1964, Ngô Y Linh và Nguyễn Vũ chia tay nhau với Trần Đĩnh trước nhà Phú Gia để đi B. Mười năm sau, Y Linh và vợ con trở về lại Hà nội. Người mắc bịnh trông vô cùng thảm hại. Bụng cổ chướng to tướng, cổ teo nhỏ bằng cổ gà, người gầy nhẳng, da dẻ nhăng nheo...

Đứng giửa sân bệnh viện vắng tanh, Y Linh nắm tay Trần Đĩnh và giử lại: “Mầy nhớ hồi nào tao nói gì trước Phú Gia với mày chứ? Bây giờ ở đây chỉ có Trời Đất và tao với mày, tao nói cái này: mày đúng, đảng sai, theo Mao là bậy”.

Cũng bữa đó, Y Linh cho biết rỏ vợ anh không bị tù Phú Lợi và nhà tù không hề bị bỏ thuốc độc như dạo nào tuyên truyền của đảng tố rùm beng. Và Y Linh cũng không từng đến Trường múa Bắc Kinh lên khóc, tố các tội ác Diệm do ta hư cấu nên. Cũng như tuyên truyền xa lộ Sài Gòn mới xây lúc đó là vừa làm xa lộ, vừa làm sân bay cho máy bay quân sự Mỹ. Nhắc lại câu chuyện của vợ khi đi B, Y Linh thừa nhận bà ấy bị một cú kinh hoàng thật. Được điều ra R (Trung Ương Cục miền Nam), để đi khỏi nhà không lộ tung tích, bà ấy gom vàng bạc, kim cương vào một chiếc khăn “mù soa” rồi gửi một cô bạn cùng đi Rờ. Đến chỗ hẹn, cô bạn mất tăm”.

Thế mới biết “nghèo mới làm cách mạng chớ nay đều giàu cả rồi thì còn đi làm cách mạng gì nữa?” (trg 41-42).

Khi đọc Trần Đĩnh tới đây, người đọc nhớ lại đoạn đối thoại trong “Xe xuống, Xe lên” (Nguyễn Bình Phương, Diển Đàn Thế kỷ, Cali, Huê kỳ, 2011) giửa trùm thổ phỉ Chu Chồ -Sền nói với Tướng cộng sản Hà nội Chu văn Tấn “Chúng mày vì nghèo khổ mà đi làm cách mạng cộng sản. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Thế là giống nhau. Tướng Chu văn Tấn bảo khác nhau. Nhưng khác nhau thế nào thì lúc ấy Chu văn Tấn vá các đồng chí của ông không giải thích được”.

Nhưng ngày nay, cách mạng giải phóng Việt nam đã thành công. Đảng cộng sản Hà nội đã nắm trọn quyền một mình cai trị cả nước. Người dân học được bài học cách mạng:

“Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng,
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn.”
(Thơ Nguyễn Duy, trg 354)

Nguyễn thị Cỏ May

No comments: