Sunday, December 21, 2014

BÙI NGỌC TẤN

 
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời
18 tháng 12 2014






 
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (bên phải) Ảnh: Xuân Bình

Tác giả 'Chuyện kể năm 2000', nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người được ví như Solzhenitsyn của Việt Nam, vừa qua đời vì ung thư phổi ở tuổi 81.
Thân hữu xác nhận ông đã qua đời sáng thứ Năm 18/12 tại nhà con trai mình ở TP Hải Phòng sau một thời gian bệnh nặng.
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 1954.
Ông từng làm báo trong vai trò phóng viên báo Tiền Phong và biên tập viên báo Hải Phòng Kiến Thiết.

Tuy nhiên ông được biết nhiều trong vai trò một nhà văn.
Năm 2012, ông được trao giải thưởng Henri Queffélec tại liên hoan 'Sách và Biển' ở Pháp cho tác phẩm "Biển và chim bói cá".
Tác phẩm này, do nhà xuất bản Hội nhà văn ở trong nước và công ty Nhã Nam ấn hành lần đầu năm 2009, tái bản năm 2010, viết dựa trên những gì ông trải nghiệm trong khi làm việc tại một xí nghiệp thủy sản.
Ông còn nhiều tác phẩm được biết đến như tập truyện Những người rách việc, Rừng xưa xanh lá, Mùa cưới, Đêm tháng 10, Nhằm thẳng quân thù mà bắn, Nguyên Hồng thời đã mất, Một thời để mất, Một ngày dài đằng đẵng...

Solzhenitsyn của Việt Nam

Tuy nhiên tác phẩm gây chấn động nhất của Bùi Ngọc Tấn là 'Chuyện kể năm 2000' viết về hệ thống lao tù XHCN ở trong nước. Các báo ở Việt Nam khi đưa tin về cái chết của ông đều không đề cập tới tác phẩm này.
Nhà văn bị tù từ 11/1968 đến 3/1973 với tội danh “Tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án "Xét lại chống Ðảng, làm tay sai cho nước ngoài”. Cùng tội danh này có các thân hữu của ông như nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà điện ảnh Huy Vân, nhà báo Vũ Huy Cương, nhà báo Kỳ Vân...
Sau khi ra tù, ông phải làm nhiều công việc để nuôi sống bản thân và gia đình.
'Chuyện kể năm 2000' được Bùi Ngọc Tấn khởi viết từ cuối năm 1990 và tiếp tục hoàn chỉnh gần 10 năm cho tới khi có cơ hội ấn hành vào đầu năm 2000 nhưng vừa in xong đã bị thu gom để hủy.
Cuốn sách một thời gian bị cấm đoán ở trong nước dù chỉ ghi lại thực tế chốn lao tù qua con mắt của một tù nhân.
 


Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời


mediaNhà văn Bùi Ngọc Tấn (DR)
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa qua đời sáng nay, 18/12/2014, tại nhà riêng của ông Hải Phòng, hưởng thọ 81 tuổi, sau một thời gian bệnh nặng.
Sinh năm 1934 tại Hải Phòng, nhà văn Bùi Ngọc Tuấn, nguyên là một nhà báo, đã được độc giả biết nhiều qua những tác phẩm, như “Biển và chim bói cá” (2009) và nhất là cuốn “ Chuyện kể năm 2000” , xuất bản vào năm 2000, gây nhiều tiếng vang trong cũng như ngoài nước (được dịch sang tiếng Anh, Pháp và Đức). Tác phẩm do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành, nhưng sau đó bộ Văn hóa-Thông tin đã ra quyết định đình chỉ, thu hồi và tiêu hủy cuốn này. 
Nội dung “Chuyện kể năm 2000” nói về một người tù cải tạo, dựa trên kinh nghiệm của chính bản thân ông, từng bị cải tạo 5 năm (1968-1973) về tội "xét lại, chống Đảng", mà không hề được xét xử. Trong suốt thời gian 20 năm sau khi ra tù, Bùi Ngọc Tấn ngừng viết và mãi đến năm 1994, mới trở lại với độc giả bằng những trang hồi ký về nhà văn Nguyên Hồng. 
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã được trao nhiều giải thưởng văn học trong nước và cũng đã được tặng Giải Henri Queffenlec (Pháp) năm 2012 cho tác phẩm “Biển và chim bói cá”. Đây là giải thưởng của Liên hoan Sách và Biển, được tổ chức hàng năm tại Pháp.
 http://vi.rfi.fr/viet-nam/20141218-nha-van-bui-ngoc-tan-qua-doi/

  Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời ở Hải Phòng

buingoctan
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
courtesy BuiNgocTan's blog
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc Bích, cho Đài Á Châu Tự Do biết:
“Nhà tôi bị bệnh khối u ở phổi bây giờ nó di căn sang xương, nó đau xương lắm. Nhà tôi mất vào lúc 6 giờ 15 sáng ngày hôm nay 18 tháng 12. Ông ấy đau đớn làm ạ, nằm không yên không ngồi được. 10 giờ sáng mai thì liệm rồi 10 giờ sáng ngày kia sẽ đưa chôn, không hỏa táng”.

Nạn nhân “Xét Lại Chống Đảng”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong những nạn nhân của vụ án “Xét Lại Chống Đảng” và phải ngồi tù 5 năm trời.
Sau khi ra tù ông đã được “tẩy oan” và sau đó xuất bản tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000.
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.

Chuyện Kể Năm 2000

“Chuyện Kể Năm 2000” là một quyển sách nổi tiếng của Bùi Ngọc Tấn đã được dịch ra các ngôn ngữ Anh, Đức và Pháp.
Trong 600 trang sách của tác phẩm này Bùi Ngọc Tấn đã mô tả một trí thức bị chính quyền trấn áp và bắt giam cho thấy bộ mặt thật của guồng máy cai trị.
Chính vì vậy Hà Nội đã lập tức ngăn chặn, tịch thu toàn bộ cuốn sách ngay sau khi nó ra mắt vài ngày tại Việt Nam.
Bùi Ngọc Tấn đã nhận được nhiều giải thưởng của các tờ báo trong nước. Bên cạnh sự nổi tiếng của “Chuyện Kể Năm 2000”, ông cũng nhận được Giải Henri Queffenlec của Pháp vào năm 2012 cho tác phẩm “Biển Và Chim Bói Cá”.

 

Anh Tấn ơi

Phạm Đình Trọng (Danlambao) - Mới ngày nào anh và chị Bích vào Sài Gòn, em đi với anh chị đến nhà con gái anh Vũ Thư Hiên để anh và anh Vũ Thư Hiên đang sống ở Paris nói chuyện và nhìn thấy nhau trên màn hình laptop.

Tác phẩm quan trọng nhất của anh, Chuyện Kể Năm 2000, dù bị tuyên giáo của đảng nhân danh nhà nước cấm xuất bản vẫn được những người dân Việt Nam trọng sự thật, yêu tự do dân chủ in đi in lại hàng chục ngàn bản. Tác phẩm của anh nói sự thật, nói nỗi đau của con người, của đạo lí, của văn hóa bị chà đạp, đày đọa, nhà nước cộng sản không xuất bản thì người Dân cần sự thật, cần đạo lí, cần văn hóa, xuất bản. Mới đầu năm nay anh vào Sài Gòn nhận sách của lần xuất bản mới nhất để tặng bầu bạn và tham dự buổi họp mặt thân tình mà trang trọng khai sinh ra Văn Đoàn Độc Lập, một tổ chức văn chương mang khát vọng của nhân dân, khát vọng tư do dân chủ, tiếp nối dòng văn chương Tự Lực Văn Đoàn mang khát vọng của cái Tôi nhỏ bé nhưng vô cùng vĩ đại trong lịch sử.

Mới cách đây hai mươi ngày, khi em đến thăm, anh vừa qua lúc cơn đau dội lên. Trên mặt anh còn lấm chấm những chấm trắng là những mẩu giấy tẩm thuốc do thầy thuốc dán vào huyệt để giảm cơn đau. Nằm một lúc cho dịu cơn đau rồi anh gượng dậy ngồi nói chuyện với em. Vì thế em có cả ảnh chụp khi anh nằm âm thầm chống chọi với cơn đau và khi anh đã vượt qua cơn đau ngồi ngay ngắn trên giường. Cũng lúc đó có người mang đến cho anh hộp thuốc đặc trị từ nước ngoài gửi về.

Nhìn sắc mặt hồng hào, vẻ mặt tươi tỉnh, nhìn hộp thuốc quí từ nước có nền y học tiên tiến nhất thế giới đến với anh và chứng kiến sự chăm sóc dịu dàng chu đáo của chị Bích, cháu Hiến dành cho anh, em cứ khấp khởi nghĩ rằng em sẽ còn được gặp anh. Ở nhà con trai, phòng anh nằm thoáng rộng, đầy đủ tiện nghi hơn cả bệnh viện cấp cao. Anh ngồi ghế lăn, con trai đẩy ghế đưa anh vào toilet, khi trở lại anh không cần sự nâng đỡ của con trai, tự leo lên giường. Cạnh đầu giường anh là chiếc bàn có máy tính nối mạng, có bức ảnh phóng to chụp khi anh tặng sách Chuyện Kể Năm 2000 cho đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh chỉ bức ảnh, hóm hỉnh nói: Bùa đấy! Rồi anh thông báo tập tự sự 500 trang của anh được một nhà xuất bản của người Việt ở nước ngoài in, khoảng tháng sau là có sách.

Không ngờ em vừa trở lại Sài Gòn thì nghe tin anh đã ra đi mãi mãi.

Anh Bùi Ngọc Tấn cũng như anh Vũ Thư Hiên là những trí thức chân chính, lương thiện, những nhà văn, nhà báo xông xáo viết về cuộc sống lam lũ, vất vả của người dân vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh chín năm khốc liệt lại phải bước vào cuộc chiến tranh bội phần khốc liệt hơn và không biết kéo dài gấp bao nhiêu lần cuộc chiến tranh chín năm trước. Đang miệt mài, hăm hở viết thì cả hai anh bị gán cho bản án chính trị vu vơ: xét lại chống đảng.

Đảng phái chỉ là tổ chức của một số người theo đuổi một lí tưởng chính trị. Trong đời sống xã hội có vô vàn lí tưởng chính trị. Có người theo đuổi lí tưởng chính trị này thì cũng có người theo đuổi lí tưởng chính trị khác là bình thường, đương nhiên, là quyền cơ bản của công dân, đâu phải tội. Hơn nữa, nhà báo Bùi Ngọc Tấn, nhà văn Vũ Thư Hiên đã mang cả năm tháng tuổi trẻ chiến đấu xây dựng, bảo vệ thể chế cộng sản này. Thể chế này là các anh. Các anh là một phần máu thịt của thể chế này. Các anh đâu có chống lại chính mình. Nhưng quyền lực độc tài cần ra uy, gieo rắc nỗi khiếp sợ cho người dân. Để độc tài cứ nghênh ngang tồn tại trên nỗi sợ hãi, run rảy, khiếp đảm của trăm họ. Cần có những tội phạm vu vơ để giáng những án tù thật khủng khiếp răn đe muôn dân. Vì vu vơ, không có căn cứ pháp luật, không bằng chứng phạm tội nên không thể xét xử, không có bản án. Quyền lực độc tài cứ tùy tiện vu tội. Nhà tù của nhà nước độc tài cứ lạnh lùng giam cầm, đày đọa người dân lương thiện. Nhà văn Vũ Thư Hiên 9 năm tù đày. Nhà báo Bùi Ngọc Tấn 5 năm ngục tối.

Những bản án giả tạo, áp đặt, oan khiên của thể chế độc tài giáng xuống số phận người dân mang nỗi bất hạnh đến cho cuộc đời người dân lương thiên nhằm vùi dập trong âm thầm khuất lấp những con người tử tế, triệt hạ vô tăm tích những nhân cách trung thực, để chỉ còn những con người dúm dó, khúm núm, quì gối, bò bốn chân như loài vật, không còn một chút phẩm chất người trong một xã hội tàn bạo, giả dối, lừa lọc. Nhưng “Người ta đến lúc hiểm nghèo / Hoặc vằng vặc sáng, hoặc leo lét tàn”. (Trần Đăng Khoa. Trường ca Mạc Thị Bưởi) Bị đẩy đến tận cùng sự khốn cùng của kiếp người, phẩm chất tiềm ẩn trong mỗi con người, hèn hạ hay bất khuất, vô tích sự hay tài năng, sẽ bộc lộ ra đầy đủ nhất, rõ ràng nhất. Tài năng và phẩm giá Người sẽ bừng sáng lên chói lọi nhất.

Là nhà báo đang hăm hở viết về đời sống xã hội, viết về những sự việc hàng ngày bỗng trở thành người tù không tội danh, không bản án, mịt mù vô tận. 5 Năm ngục tối là một hiện thực điển hình khái quát cả bản chất của một thể chế. Viết về thân phận con người trong hoàn cảnh điển hình đó để ghi vào lịch sử, khắc vào thời gian rằng trong thể chế độc tài, bất kì người dân lương thiện nào cũng có thể trở thành người tù mịt mù vô tận, nhà báo Bùi Ngọc Tấn đã trở thành người hùng bất khuất, lẫm liệt của lịch sử, trở thành nhà văn của nhân dân, của một nền văn học nhân bản, đích thực. Chuyện Kể Năm 2000 ghi lại 5 năm ngục tối của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, Đêm Giữa Ban Ngày ghi lại 9 năm tù đày của nhà văn Vũ Thư Hiên là những bản luận tội chân thực, xác đáng, đanh thép đối với thể chế độc tài chà đạp lên phẩm giá con người, coi con người chỉ là công cụ.

Những con người trung thực, khảng khái đều là nỗi đe dọa đối với thể chế độ tài tàn bạo, giả dối. Tưởng rằng những bản án giả tạo, áp đặt, oan khiên giáng xuống những người trung thực, khảng khái sẽ loại bỏ được sự đe dọa đó. Nhưng chính những bản án giả tạo, áp đặt lại là bằng chứng tội phạm của thể chế độc tài để dẫn đến bản án Chuyện Kể Năm 2000, Đêm Giữa Ban Ngày dành cho thể chế độc tài.

Thế giới đã thay đổi, Chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Đất nước đã thanh bình trở về cuộc sống đời thường của xã hội dân sự. Từ chỗ tự cô lập, tự khép kín trong thế giới cộng sản sắt máu, đến nay Việt Nam đã hội nhập với thế giới văn minh. Từ chỗ không có luật pháp, đến nay Việt Nam đã có cả một rừng luật. Nhưng bản chất thể chế không thay đổi nên trong rừng luật lại có những điều luật mơ hồ, mênh mông để có thể buộc tội bất kì người dân lương thiện nào dám nói sự thật, dám bộc lộ chính kiến trái với quyền lực như điều 79, 88, 258 luật tố tụng hình sự. Và những nhà văn, nhà báo trung thực khảng khái lại đang nối nhau vào tù để rồi sẽ lại có những Đêm Giữa Ban Ngày, Chuyện Kể Năm X, Năm Y...

Anh Tấn ơi! Tưởng như Chuyện Kể Năm 2000 của anh chỉ có trong quá khứ đau buồn của dân tộc Việt Nam nhưng vẫn đang có những nhà văn, nhà báo trung thực, dũng cảm đang phải viết tiếp Chuyện Kể Năm 2000 của anh.

danlambaovn.blogspot.com

“Người bộ tộc tà-ru” đi về vùng đất tự do...

  • 18 tháng 12 2014



Bùi Ngọc Tấn (ở giữa) cùng bạn văn. (Ảnh Xuân Bình)

15 năm trước, Tết Canh Thìn, ra Hà Nội, tôi được nhà thơ Dương Tường - "nhà phát hành bí mật" của những tác phẩm ngoài luồng thời bấy giờ, dúi cho cuốn Mộng Du (tên cũ của Chuyện kể năm 2000), khi ấy còn là một bản đánh máy.
Những Tuấn, Ngọc, Già Đô, vẻ diễm lệ của nỗi cay đắng phận người ấy đã cùng tôi đi xuyên qua đêm giao thừa tưng bừng nhất, để bước vào thiên niên kỷ mới.

Nhiều năm sau, khi những câu chữ và nhân vật đã mờ đi trong ký ức, tôi tự hỏi: Điều lớn nhất tôi nhận được từ cuốn sách ấy là gì?
Phải chăng là một niềm tin vững chắc để dấn bước vào những vùng u tối nhất của đời sống, rằng nếu hấp lực của việc viết có đẩy mình tới đâu, thì vẫn có cách đi xuyên qua nghịch cảnh mà không đánh mất phẩm giá, dẫu có phải đối diện và trở thành nạn nhân của sự u tối và tàn bạo đến thế nào, thì nhất quyết không để sự ngu dốt vô minh nuốt chửng để trở nên cay nghiệt, hằn thù.

Sau 5 năm "thực tế sáng tác' trong tù, ông đã đem đến cho tôi và những nhà văn đi sau một kinh nghiệm tuyệt vời như thế.
2001, khi cuốn sách được in và bị thu hồi ngay sau đó, tôi lại bay ra gặp ông để thực hiện một cuộc phỏng vấn. Có lẽ đó là một trong những bài phỏng vấn dài nhất mà tôi thực hiện trong đời làm báo của mình.

Đó cũng là lần đầu ông trả lời phỏng vấn. Trong căn gác nhỏ số 10 Điện Biên Phủ Hải Phòng, không gian cũ với mớ hồi ức ngồn ngộn, tất cả đống dữ liệu ấy khiến tôi bối rối, và hơn một lần cả tôi và ông đều nhầm, gọi tên ông và vợ ông theo nhân vật trong cuốn sách.
Khi ấy, tôi chợt nhận ra (một cách cay đắng) rằng dù ở phương diện nhà văn - một chứng nhân, ông cố gắng đem đến cho bạn đọc một cách kể khách quan trong vẻ diễm lệ của sự thứ tha, sự hòa giải với nghịch cảnh, nhưng trong khía cạnh nạn nhân, 5 năm "thực tế bất đắc dĩ" ấy sẽ mãi ở lại trong ông, và không bao giờ ông ra khỏi nó.
Hơn một lần tôi định hỏi ông: "Con người chào đời với đôi bàn tay nắm chặt, như thể đang quyết tâm thực hiện một nguyện ước trong đời này nhưng khi ra đi thì ai cũng duỗi thẳng đôi tay, đó là viên thành nguyện ước hay buông xuôi bỏ cuộc?". Tôi biết ông sẽ chỉ trả lời bằng một nụ cười hiền, với những nếp nhăn như bị vò nhàu trên gương mặt dường như chưa bao giờ nếm trải hạnh phúc trọn vẹn.



Có lẽ Bùi Ngọc Tấn sinh ra với một cam kết bí mật: trải nghiệm, thấu cảm để viết về nỗi đau, cho nên hạnh phúc với ông vô cùng hiếm hoi. Ngay cả những ngày tháng cuối đời, khi cánh cửa nhà tù đã ở lại đằng sau hàng chục năm, ông cũng không ra khỏi lời cam kết đó.

Sau hai cuốn tiểu thuyết, nhiều tập truyện ngắn và bút ký, một cú địa chấn trong làng văn chương Việt đầu thế kỷ 21, một giải văn chương Pháp (Henri Queffenlec 2012), ông vẫn tự giam mình vào sứ mệnh của một nhà văn thay vì hưởng thụ thành quả.
Thời Biến Đổi Gien, một tiểu thuyết - hồi ký có thể được xem là hậu "Chuyện kể năm 2000" sau nhiều lần viết đi viết lại đã ra mắt độc giả tại Đài Loan và Mỹ trong những ngày ông chiến đấu với bệnh tật.

Căn bệnh ung thư từ phổi di căn vào xương nhốt ông trong những cơn đau triền miên.
Nó đã mang ông đi lúc 6:15 sáng nay.
Hơn một lần tôi thầm ước: Ước gì ông chưa từng trải qua ngần ấy cay đắng, để văn chương ông không chỉ tích tụ thứ ánh sáng hiếm hoi của tình yêu, niềm hy vọng, sự thứ tha và lòng từ ái sau bao nhiêu nghịch cảnh cay đắng mà là thứ ánh sáng kỳ vĩ của niềm hạnh phúc tối thượng, nỗi kiêu hãnh làm người và ngùn ngụt năng lượng của một sinh linh tuyệt đối tự do.
Hè năm ngoái, gặp luật sư Lê Công Định tại Sài Gòn, ông ôm vai anh nói đùa: “Chúng ta là người của bộ tộc tà-ru.”
Có lẽ già làng của “bộ tộc tà – ru” đang đi về vùng đất tuyệt đối tự do, với sự thảnh thơi của người đã hoàn thành nhiệm vụ.
Vĩnh biệt ông, người hiền của văn chương Việt.
 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/12/141218_buingoctan_dies

No comments: