Tuesday, October 14, 2014

QUAN HỆ MỸ VIỆT

 

  Lý do Mỹ nới lỏng cấm vận vũ khí với VN

  • 10 tháng 10 2014
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh thăm Hoa Kỳ
Việc Hoa Kỳ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam cho thấy một bước tiến mới trong quan hệ giữa hai nước.
Sau gần 4 thập niên kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam năm 1975, quan hệ Việt – Mỹ ngày càng được cải thiện qua các dấu mốc quan trọng
Ngày 23/04/1975, Mỹ tuyên bố kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Các quan chức quân đội và người dân Mỹ đã được lệnh di tản khỏi Sài Gòn trước đó vài ngày.
Năm 1984, Mỹ bắt đầu áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam dựa trên l‎ý do nhân quyền. Đến năm 2007, lệnh cấm đã được nới lỏng khi chính quyền cựu Tổng thống George W. Bush cho phép xuất khẩu một số mặt hàng quốc phòng phi sát thương cho Việt Nam.
Ngày 12/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tuyên bố bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Sự kiện này đánh dấu một chương mới trong quan hệ Việt – Mỹ. Nó đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác cho hai nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội và an ninh - chính trị.
Việc bình thường hóa quan hệ đã mở đường cho các chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao hai nước.
Tổng thống Bill Clinton là tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Việt Nam vào năm 2000, kể từ khi Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975. Tiếp đó, vào năm 2006, Tổng thống George W. Bush có chuyến thăm chính thức Việt Nam.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã thăm chính thức Mỹ vào năm 2005, 2007 và 2008.
Hai nước cam kết tiếp tục hỗ trợ nhau trong việc tìm kiếm tù nhân/người mất tích trong chiến tranh Việt Nam (POW/MIA).
Ngày 10/12/2001, Hiệp đinh Thương mại song phương chính thức có hiệu lực, giúp tăng cường quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. 12 năm sau khi ký hiệp định, thương mại hai chiều đã đạt 25 tỷ đôla Mỹ vào năm 2013.
Một dấu mốc quan trọng khác trong quan hệ Việt – Mỹ. Tháng 7/2013, sau cuộc gặp giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ra tuyên bố chung về quan hệ ‘’đối tác toàn diện’’.

Hiện tại và tương lai

Ngày 2/10, tuyên bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam được đưa ra sau cuộc hội đàm giữa Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại Washington.
Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết việc dỡ bỏ chỉ được áp dụng cho các mục đích an ninh hàng hải.
Bà Jen Psaki, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, nói rằng quyết định này không nhằm vào Trung Quốc. Tuy nhiên, người ta có thể nhận thấy hai l‎ý do quan trọng của Washington đằng sau việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận này.
Một là nhằm đối phó và kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông. Việc lệnh dỡ bỏ chỉ được áp dụng cho các mục đích bảo vệ an ninh trên biển cho thấy Mỹ muốn tăng cường sức mạnh hải quân của Việt Nam khi Trung Quốc ngày càng có nhiều hành động hung hăng gây hấn trên Biển Đông. Trong một động thái trước đó, trong chuyến thăm tới Việt Nam vào tháng 12/2013, ông Kerry đã tuyên bố Mỹ sẽ hỗ trợ Việt Nam 18 triệu đôla Mỹ, bao gồm 5 tàu tuần tra mới cho lực lượng tuần duyên Việt Nam và các hoạt động khác. Cả Mỹ và Việt Nam đều có lợi ích trong việc duy trì tự do hàng hải và thương mại trên Biển Đông. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khẳng định Mỹ có ‘‘lợi ích quốc gia’’ trong vấn đề tự do hàng hải trên Biển Đông, khi bà tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 tại Hà Nội tháng 7/2010.
Căng thẳng Biển Đông khiến quan hệ Việt - Mỹ gần hơn
Hai là vai trò quan trọng của Việt Nam trong bàn cờ chiến lược của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Việt Nam có dân số lớn thứ 13 thế giới và lực lượng thực hiện nghĩa vụ quân sự lớn thứ 11 đang hoạt động. Những chỉ số này cho thấy tiềm năng của Việt Nam khi được hiện đại hóa về quân sự. Trong một báo cáo về quan hệ Việt – Mỹ với tựa đề “Một kỷ nguyên mới trong quan hệ Mỹ – Việt: Làm sâu sắc quan hệ sau 2 thập niên bình thường hóa” được Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ (CSIS) đưa ra sáng 2/10, các chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á cho rằng "Mỹ coi Việt Nam là đối tác đầy hứa hẹn tại châu Á-Thái Bình Dương’’. Do đó, Việt Nam chiếm một vị trí địa chiến lược trong chính sách ‘’xoay trục’’ của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương.
Việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm cũng mang lại cho Việt Nam những lợi ích thiết thực.
- Theo Paul J. Leaf, một nhà bình luận về chính sách đối ngoại và quốc phòng, bình luận trên tờ The Diplomat ngày 18/9, Việt Nam có thể mua được những vũ khí của Mỹ với giá bán nhân nhượng hơn, và đặc biệt là những vũ khí mà Trung Quốc không có.
- Giúp tăng cường sức mạnh phòng thủ trên biển cho Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc đang gia tăng và chưa đạt được giải pháp cụ thể.
- Hợp tác về an ninh – quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng sẽ được gia tăng. Cùng với việc xuất khẩu vũ khí sát thương cho Việt Nam, Mỹ sẽ phải cử chuyên gia đào tạo cho Việt Nam cách thức sử dụng cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam để vận hành các vũ khí, theo ông Leaf.
Tuy nhiên, việc dỡ bỏ lệnh cấm vận mới chỉ đạt được một phần cho thấy vẫn còn những rào cản tồn tại trong quan hệ hai nước, đặc biệt là vấn đề nhân quyền. Trong cuộc gặp gỡ với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Susan Rice đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những ‘tiến bộ hơn nữa’ về nhân quyền ở Việt Nam.
Như vậy, để đạt được sự nới lỏng hơn về lệnh cấm vận vũ khí sát thương đòi hỏi Việt Nam phải có những cải thiện đáng kể về nhân quyền.
Dẫu sao, dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận là động thái mới nhất trong việc nối lại mối quan hệ bình thường giữa Hà Nội và Washington trong hai thập niên qua, kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995. Nó cho thấy sự xích lại gần nhau trong quan hệ hai nước, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng căng thẳng trên Biển Đông những năm gần đây.
Lê Thành Lâm là giảng viên tại Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, và hiện đang theo học tại City University London.

Quá khứ và tương lai hợp tác Việt - Mỹ

  • 12 tháng 10 2014

Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ mới đây, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã có phát biểu được giới truyền thông trích dẫn:
“Chúng ta không thể thay đổi quá khứ. Chúng ta có thể thay đổi tương lai bằng cách hợp tác với nhau.”
Quá khứ chính là lịch sử. Nhưng khi nghe một quan chức nhà nước cộng sản nói không thể thay đổi quá khứ, chúng ta cần phải quan tâm và xét lại.
Lịch sử Việt Nam thời cận đại, từ khi có Đảng Cộng sản, là lịch sử được viết lại, có thể nhiều lần, cho phù hợp với quan điểm chính thống của Đảng.
Vụ việc triển lãm về cải cách ruộng đất mới đây cho thấy cách Hà Nội muốn thay đổi lịch sử về chính sách đã giết chết nhiều vạn người và làm tan rã đời sống xã hội nông thôn trong thập niên 1950. Sau khi có nhiều người lên tiếng phê bình, cuộc triển lãm dự trù kéo dài vài tháng đã phải đóng cửa chỉ sau vài ngày mở ra.

Lịch sử là ngày mất của của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là di chúc ông để lại đã bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam sửa đổi.
Quá khứ là những tác phẩm văn học để lại cho đời. Nhưng những bài viết trên Nhân Văn, trên Giải Phẩm từng bị cấm phổ biến.
Những năm gần đây, như muốn đưa ra một dấu chỉ hòa giải với quá khứ đau thương của dân tộc sau cuộc kháng chiến chống Pháp và chiến tranh chống đế quốc Mỹ, trong nước cho in lại tác phẩm của một số tác giả trong Tự Lực Văn đoàn, vài truyện của Võ Phiến nhưng đã cắt bỏ những gì không hợp với đường lối chủ trương của Đảng.
Quá khứ lịch sử là sự kiện Đại tá Bùi Tín có mặt tại Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, là những gặp gỡ của ông với nhiều giới chức quốc tế, trước và sau cuộc chiến.
Đầu thập niên 1990 ông bỏ Đảng, bỏ nước ra đi, từ đó tên ông không còn được truyền thông trong nước nhắc đến, hình ảnh của ông bị cắt xén ra khỏi những tài liệu, những sách báo.
Như thế, khi nghe Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhắc đến quá khứ không thể thay đổi tôi phải đặt câu hỏi: quá khứ nào?

Quá khứ nào?


Lãnh đạo Đảng ở VN dường như vẫn còn có quan hệ 'ý thức hệ' với Trung Quốc.
Quá khứ lịch sử như ghi trong các văn kiện, tài liệu của ban tuyên giáo, như có trong sách báo xuất bản dưới sự chỉ đạo của Đảng. Hay quá khứ còn nằm trong những tác phẩm của Nguyễn Minh Cần, Doãn Quốc Sỹ, Bùi Tín, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Trần Đĩnh; trong những tác phẩm xuất bản mà không bị kiểm duyệt của ban văn hoá tư tưởng.
Khi Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói với người Mỹ: “Chúng ta không thể thay đổi quá khứ”, có phải đó là quá khứ chống Mỹ cứu nước, xuất cảng cách mạng, bành trướng chủ nghĩa cộng sản theo chủ trương của Liên Xô, Trung Quốc để chống lại Hoa Kỳ thời Chiến tranh Lạnh.
Nếu dùng đó làm tiền đề, để rồi nghe câu sau: “Chúng ta có thể thay đổi tương lai bằng cách hợp tác với nhau”. Như thế sau hơn nửa thế kỷ, có phải giờ đây chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hoa Kỳ đã quay ngược 180 độ?

Không hẳn như thế. Tháng trước, trong một hội thảo về tình hình biển Đông tổ chức tại Đại học Berkeley, giáo sư Vũ Tường của Đại học Oregon đưa ra so sánh giữa quan hệ Việt-Trung và quan hệ Việt-Mỹ.
Theo ông, Trung Quốc hiện có ảnh hưởng lớn đối với giới lãnh đạo Hà Nội, vì trong hai thập niên qua, từ thời Tổng thống Bill Clinton, Hoa Kỳ đã đưa tay ra muốn kết thân hơn với Việt Nam, nhưng giới lãnh đạo Hà Nội vẫn luôn e dè.
Nghe nhận định của giáo sư tôi tự hỏi quan hệ Việt-Mỹ đến nay vẫn chưa nâng lên được tầm cao hơn là vì áp lực từ Trung Quốc hay vì Hà Nội lo sợ diễn biến hòa bình?
Giáo sư Tường dẫn chứng sự việc những năm qua trong nước ít còn nhắc đến chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 và nhà nước cũng không cho phép tổ chức tưởng niệm hàng vạn bộ đội đã hy sinh trong cuộc chiến này.
Có thể bây giờ Hà Nội không còn chủ trương chính sách ngoại giao quá ‘đu dây’ và Việt Nam thực sự muốn làm đối tác chiến lược với Mỹ, sau sự kiện Trung Quốc hung hăng trên biển với ngư dân, với tàu hải giám, tàu thăm dò địa chấn, rồi ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển đặc khu kinh tế của Việt Nam.

‘Không là điều mới’


TQ dường như vẫn là một thế lực tác động vào chính sách đối ngoại của VN, theo tác giả.

Phát biểu của Phó Thủ tướng trong chuyến đi Mỹ vừa qua được truyền thông chú ý. Tưởng như mở ra một kỷ nguyên mới cho quan hệ hai nước. Tuy nhiên, câu nói “Chúng ta không thể thay đổi quá khứ” không là điều mới, vì trước đây đã có nhiều người nói thế.
Cô Phan Thị Kim Phúc, một nạn nhân của bom lửa trong thời chiến tranh, nay đã xin tị nạn và sống ở Canada, đã từng nói thế.
Năm 1996, được mời tham dự Ngày Cựu Chiến binh tại Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Thủ đô Washington, trong bài diễn văn cô nói một người không thể thay đổi quá khứ, nhưng mọi người có thể làm việc chung với nhau cho một tương lai hòa bình.
Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam sau chiến tranh là Pete Peterson, cựu phi công chiến đấu và cựu tù binh Hoả Lò, cũng đã phát biểu: “Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, chúng ta có thể cùng làm việc cho tương lai”

Nhưng muốn tương lai quan hệ trở thành đối tác chiến lược, một cách nói để chuẩn bị trở thành đồng minh giữa Mỹ và Việt Nam trong lúc này là điều không dễ thực hiện vì quá khứ lịch sử của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã bị ảnh hưởng bởi láng giềng khổng lồ cùng theo một chủ thuyết trong cách cai trị.
Chính vì thế dù muốn phát triển quan hệ gần hơn với Mỹ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cũng đã nhắc lại đường lối ngoại giao của Việt Nam là không hợp tác với nước khác để làm hại một nước thứ ba, chủ yếu khỏi làm Trung Quốc nổi giận.
Chuyến đi Mỹ vừa qua của ông Phạm Bình Minh đạt một bước tiến trong quan hệ qua việc Hoa Kỳ đồng ý nới lỏng từng phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Đây là tiến trình chậm từng bước, giống như hai thập niên trước với việc bỏ cấm vận từng phần, trước khi tiến tới thiếp lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.
Trong tương lai, Hà Nội và Washington sẽ có những chính sách hợp tác ra sao để nâng tầm quan hệ Việt-Mỹ lên mức cao hơn thì phải chờ xem.
Vì bài học lịch sử vẫn còn đó. Năm 1991, khi thân sinh của ông Phạm Bình Minh là cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch (tức Phạm Văn Cương) chỉ vì ‘qua mặt’ Trung Quốc, muốn nhanh chóng phát triển quan hệ với Mỹ, mà đã mất hết chức quyền.
Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, một nhà báo tự do đang sống ở Hoa Kỳ.

 

Việt Nam sẽ có TPP?

Các Bộ trưởng Thương mại và đại diện các nước tham dự phiên họp về Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP ở Singapore tháng 12, 2013.
Các Bộ trưởng Thương mại và đại diện các nước tham dự phiên họp về Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP ở Singapore tháng 12, 2013.
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được coi là một cơ hội tuyệt vời giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng, đặc biệt trong thời điểm này khi Việt Nam đang rất muốn thoát khỏi sự phụ thuộc quá lớn về kinh tế vào Trung Quốc. Tổng thống Barack Obama cũng muốn hoàn tất đàm phán TPP trong năm nay khi ông thực hiện chuyến công du tới châu Á vào cuối năm. Với việc Mỹ đang muốn xoay trục về châu Á, các chính sách của Mỹ đang có nhiều ưu tiên hơn đối khu vực này nhất là khi Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để bành trướng trên biển Đông. Việt Nam đang rất muốn đạt được thỏa thuận này với Mỹ - một thị trường quan trọng nhất của Việt Nam. Nhưng các chuyên gia nói rằng còn có nhiều rào cản cho tiến trình đàm phán và có nhiều thách thức cho Việt Nam khi tham gia TPP.
TPP được coi là một “hiệp định thương mại bậc nhất của thế kỷ 21 khi nó gói gọn trong đó 40% lượng GDP toàn cầu và 1/3 thương mại toàn thế giới,” theo lời phát biểu của bộ trưởng ngoại giao Mỹ John Kerry trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Đồng Doanh Nghiệp Mỹ-ASEAN (US-ABC) vừa được tổ chức tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ.
Ông  Kerry đã kêu gọi các doanh nghiệp Mỹ gây ảnh hưởng đến quốc hội để thông qua TPP:
"Chúng tôi cần các bạn giúp đỡ để đạt được TPP với quốc hội Mỹ và người dân Mỹ. Và chúng tôi cần các bạn gọi điện, tổ chức các cuộc gặp mặt để đưa quốc hội vào cuộc."
Chủ tịch US-ABC, ông Alexander Feldman, nói với VOA Việt Ngữ rằng TPP đối với Việt Nam thực sự là một sự thay đổi diện mạo và nó sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp của cả 2 bên.
Việt Nam tham gia đàm phán TPP từ cuối năm 2010. Các đối tác của hiệp định bao gồm Mỹ và 10 nước khác trung khu vực châu Á Thái Bình Dương. Theo số liệu thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, năm 2009, Mỹ đứng đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam với tổng số tiền đầu tư là 9.8 tỷ đô la. Trong 1 số năm gần đây, các công ty của Mỹ đã nằm trong số những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam.
Tuy nhiên còn có nhiều rào cản từ cả 2 phía Mỹ và Việt Nam.
Ông Murray Hiebert, phó giám đốc tổ chức nghiên cứu  Đông Nam Á Sumitro Chair thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế CSIS, nói các nhà chức trách Mỹ cho rằng Việt Nam là những nhà thương thuyết khó khăn nhất:
"Một trong những rào cản lớn nhất, theo tôi nghĩ, là Mỹ vẫn chưa cho Việt Nam một tiếp cận thị trường tốt và tôi đã nói chuyện với các nhà thương thuyết bên phía Việt Nam của bộ Công Thương, họ nói rằng nếu họ có một tiếp cận tốt vào thị trường Mỹ thì có nghĩa là thuế nhập khẩu lên hàng may mặc sẽ giảm nhiều và do đó sẽ dễ dàng giải quyết nhiều vấn đề khác."
Các vấn đề về nhân quyền trong đó có việc cải cách thể chế liên quan đến vai trò của công đoàn lao động cũng đang là những vấn đề mà Việt Nam vấp phải trong quá trình đàm phán TPP với Mỹ.
Ngoài ra các giới chức Việt Nam cũng lo ngại về các điều khoản của Mỹ yêu cầu các sản phẩm dệt may và những sản phẩm may mặc đầu vào xuất sang Mỹ phải có nguồn gốc từ Mỹ hoặc từ các nước trong khối TPP. Hiện nay các mặt hàng này của Việt Nam đang có nguồn chủ yếu từ nước láng giềng Trung Quốc không phải là thành viên của TPP.
Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam của trường Đại Học New South Wales, cảnh báo về điều này:
"Tại thời điểm này có một sự mất cân bằng thương mại vô cùng lớn và thậm chí một số mặt hàng xuất khẩu như may mặc, giày dép đang phụ thuộc vào các nguyên liệu nhập từ Trung Quốc. Khi Việt Nam gia nhập TPP có nghĩa là thuế xuất cao hơn – bởi vì TPP muốn các nước sử dụng nguyên liệu từ các nước thành viên. Do đó, Việt Nam phải tìm cách làm thế nào để thay thế các nguyên liệu nhập từ Trung Quốc bằng các nguồn từ các nước thành viên."
Khi tham gia TPP, thuế suất nhiều mặt hàng sẽ phải giảm dần đến mức % và các doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam, nhất là từ các nước không tham gia TPP, sẽ được hưởng lợi từ những quy định này. Có lẽ nhận thấy được lợi thế này, trong thời gian qua nhà đầu tư Trung Quốc tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam. Chỉ tính riêng dệt may từ năm 2013 trở lại đây đã có khoảng 90% số doanh nghiệp tham gia là của Trung Quốc.
Chuyên gia về Việt Nam, ông Jonathan London của trường Đại học Thành Thị Hồng Kông cũng có quan điểm tương tự. Ông nói rằng “TPP có một số yếu tố có thể có hại cho nền kinh tế của Việt Nam” và Việt Nam có thể sẽ mất nhiều thứ nếu không biết tận dụng nó:
TPP sẽ mở rộng cơ hội cho những công ty dù là nước ngoài ở Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ - thị trường quan trọng nhất của Việt Nam. Cũng có một nghịch lý mà theo nhiều người, một nhóm có lợi nhất nếu theo TPP ở Việt Nam có thể chính là những công ty của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam. Chúng ta chưa rõ tương lai quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc như thế nào. Nhưng nếu quan hệ Việt Nam-Trung Quốc không xấu đi một cách kinh khủng thì một nhóm sẽ ăn lợi nhất với TPP ở Việt Nam là những công ty của Trung Quốc. Tại sao? Bởi vì họ sẽ sử dụng Việt Nam như một sân khấu để xuất khẩu sản phẩm của họ sang thị trường Mỹ.
Giáo sư Thayer nói “về lâu dài Việt Nam cần phải có TPP để có được tiếp cận nhiều hơn vào thị trường Mỹ, cải thiện nền kinh tế và tạo một vị thế mạnh mẽ hơn để đương đầu với Trung Quốc về sau này.”
Do vậy mà Việt Nam đang vô cùng mong muốn tham gia khối nắm giữ 40% kinh tế thế giới này nhưng điều đó không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của Việt Nam. Ông Carl Thayer cho biết:
Obama vẫn chưa thực hiện một bước tiến nào cho thấy Mỹ sẽ thông qua TPP. Hầu như là mọi thứ sẽ xảy ra sau bầu cử giữa kỳ. Việt Nam muốn tham gia TPP, muốn có được miễn thuế. Nhưng nó không hoàn toàn phụ thuộc vào Việt Nam. Nó phụ thuộc vào tổng thống Mỹ, mà chủ yếu là vào việc đàm phán với Nhật Bản để nới lỏng tình trạng này. Và nó phụ thuộc vào ông Obama sẽ thuyết phục được quốc hội bỏ phiếu thông qua TPP hay không. Do đó nó nằm ngoài khả năng của Việt Nam.
Chủ tịch US-ABC Feldman cũng nói rằng còn có nhiều rào cản về chính trị cho quá trình này:
"Chúng tôi có bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 nên mọi việc đều đang bị dừng lại. Nhưng hy vọng rằng sau cuộc bầu cử giữa kỳ và vào kỳ họp sau bầu cử và trước khi quốc hội mới nhóm họp, chúng tôi có thể đưa TPP ra quốc hội. Có thể sau kỳ bầu cử này chúng tôi sẽ bàn bạc thực sự nghiêm túc để đưa ra những vấn đề chính còn tồn đọng."
Việt Nam được coi là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ TPP trong số các nước thành viên. Theo bản phân tích về kinh tế vĩ mô Việt Nam của HSBC, thu nhập quốc dân Việt Nam đến năm 2020 sẽ tăng khoảng 10% nếu vào được TPP. Theo một nghiên cứu đánh giá về tác động của TPP lên các nền kinh tế của các nhà kinh tế học của trường Đại học Brandeis, GDP của Việt Nam có thể tăng 35.7% trong vòng thập niên tới. Ông Thayer nói:
"Nếu không tham gia TPP sẽ là một bất lợi cho Việt Nam. Nếu Việt Nam không toàn cầu hóa, không hội nhập thì Việt Nam sẽ bị bỏ lại phía sau. Và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói rằng sự nguy hiểm lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt là bị bỏ lại phía sau."
Dù cách nào thì Việt Nam cũng có lợi nếu tham gia TPP. Nhưng chiến lược lớn hơn của Việt Nam phải là xuất hàng vào thị trường Mỹ. Như dù có TPP hay không thì theo giáo sư London Việt Nam “cần phải tập trung phát triển quan hệ toàn diện với Mỹ. Đó mới là cách để Việt Nam có một phương hướng kinh tế mới trong bối cảnh Trung Quốc đang thách thức chủ quyền.”
 http://www.voatiengviet.com/content/viet-nam-se-co-tpp/2483623.html


No comments: