Monday, October 27, 2014

LÊ XUÂN NHUẬN * NGÔ ĐÌNH DIỆM

 
TT Ngô Đình Diệm và canh bạc  liều lĩnh
 (Tư liệu tham khảo)
***

          Để tháo gở áp lực của Mỹ, anh em ông Diệm đã chủ quan tính sai một nước cờ lấy một quyết định liều lĩnh, dại dột nhất trong cuộc đời chính trị của mình: “Tìm cách thỏa hiệp với Hà Nội”. Quyết định nầy liều lĩnh và dại dột vì ba lý do:       
          1Mỹ đã “nặn” ra ông Diệm ở Washington, rồi “bồng” ông về nước. Sau đó, lại đổ kinh viện, quân viện và uy tín quốc gia để khai sinh và nuôi dưỡng nền Đệ Nhất Cọng hòa trong chiến lược xây dựng một tiền đồn chống Cộng cho Thế giới Tự do, thì làm sao Mỹ để cho ông qua mặt tự đi thỏa hiệp với Cộng sản phá vở vai trò “tiền đồn” trong cuộc chiến tranh lạnh được.      
          2Ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Việt Nam đã nằm gai nếm mật, hy sinh bao nhiêu xương máu trong gần 30 năm để làm hai nhiệm vụ đan bện với nhau: Dành độc lập cho dân tộc, và thiết lập chế độ Cọng sản tại Việt Nam cho Quốc tế Cộng sản. Năm 1954, họ đã thành công được một nữa: Đuổi thực dân Tây ra khỏi nước 
(cho dân tộc) và quản lý miền Bắc (cho Cộng sản Quốc tế). Vậy thì làm sao họ có thể thỏa hiệp với kẻ thù “Mỹ-Diệm” được. Cộng sản quốc tế có cho họ làm không ? Làm sao họ biện minh được với Quân dân và Đảng viên ở miền Bắc ? Họ biết ông Diệm đang mâu thuẫn với Mỹ và đang bị nhân dân miền Nam chống đối nên chỉ mưu mẹo lợi dụng động thái xin thỏa hiệp của chính phủ Diệm để làm suy yếu  thế đồng minh Mỹ-Việt mà thôi (Đọc thêm War of the Vanquished của Mieczilaw Maneli) 
          3. Nhưng quan trọng hơn hết là khi thỏa hiệp với Hà Nội, hai ông Diệm-Nhu đã phản bội lại Hiến pháp VNCH 1956 (Theo Điều 7 thì "những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với nguyên tắc ghi trong Hiến pháp"), đã vi phạm luật 10/59 (ban hành tháng 5/1959) mà ông Diệm đã dựa vào đó để đàn áp những chiến sĩ quốc gia cũng chống Cộng nhưng đối lập với ông. Thỏa hiệp với chính phủ Hồ Chí Minh, hai anh em ông Diệm-Nhu còn phản bội bao nhiêu chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu để bảo vệ miền Nam.     
          
Tưởng Mỹ không bao giờ dám từ bỏ mình vì đã can dự quá sâu vào miền Nam, tưởng chính phủ Hà Nội đánh giá cao động thái thỏa hiệp, tưởng đã khuất phục được quân dân miền Nam sau 9 năm bạo trị, …. Gia đình ông Diệm (đúng ra lúc đó ông Diệm chỉ là một bù nhìn bất lực, chính hai “tổng thống” Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân mới là kiến trúc sư để thiết kế và) đi “canh bạc chính trị” liều lĩnh và ngu dại nhất đời mình ‘tìm cách thỏa hiệp với Hà Nội để giải tỏa áp lực của Mỹ’. Nhưng “canh bạc” đó không lừa được kẻ thù, không dấu được đồng minh, và không đánh giá đúng được phản ứng của quân dân miền Nam nên, cuối cùng, Mỹ quyết định “Diệm must go!”, anh em ông đã phải lãnh hậu quả trước lịch sữ và dân tộc. Ngày 1-11-1963, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cáo chung.
Tai sao Mỹ quyết định “Diệm must go!”?
Dựng tượng Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở thủ đô Washington của Mỹ có được không?
Đọc bài báo dưới đây sẽ thấy có câu trả lời:
1)Ngày 02 tháng 11 năm 2001
       Số là vào ngày 02 tháng 11 năm 2001, một số người thuộc nhóm “tinh thần Ngô Đình Diệm”đã tổ-chức một buổi lễ cầu hồn cho cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam ở California, và quyết định mở một chiến dịch gây quỹ để xây một bức tượng của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm ngay tại thủ đô Washington.
2) Ngày 24 tháng 12 năm 2001
         Không phải tự-nhiên mà tờ tuần-báo Newsweek nổi tiếng của Hoa Kỳ vào ngày 24 tháng 12 năm 2001 bỗng đăng một bài tổng-kết tình-hình hoạt-động cuả CIA ở Đông Nam Á, và chú lên trên bức ảnh cuả cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm một câu trắng-trợn như sau:
            1963: The Kennedy administration begins to see South Vietnamese President Ngo Dinh Diem as a communist tool and decides that "Diem must go."  The CIA engineers coup attempts that eventually lead to his assassination in November.
 (“1963: Chính-quyền Kennedy bắt đầu thấy rõ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cuả Nam Việt-Nam là một công-cụ cuả cộng-sản và quyết định rằng "Diệm phải ra đi."  Cơ-quan CIA thiết kế các mưu toan đảo chánh rốt cuộc đưa đến việc ám sát ông ta trong tháng 11.")
Sau đây, trang báo Newsweek, ngày 24 tháng 12, năm 2001:
(DECEMBER 24, 2001- NEWSWEEK - PAGE 16)
3) Độc-giả tinh ý hiểu ngay đó là một cách trả lời của Mỹ đối với ý định nói trên của số người liên quan.
Tìm câu trả lời cho câu hỏi tai sao Mỹ quyết định “Diệm must go!”?
Theo Ông QUÁCH TÒNG ĐỨC
(Đổng Lý Văn Phòng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm):
            Theo tiến-sĩ Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa, trong bài “Mạn Đàm với cựu Đổng-Lý (Văn-Phòng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm) Quách Tòng Đức thì:
            <<Ông Ngô Ðình Nhu đã tìm cách thương-lượng với Bắc Việt để loại ảnh-hưởng của Hoa Kỳ.  Ông Nhu đã mời Manelli, Trưởng Phái-Đoàn Ba Lan trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đình-Chiến để nhờ liên-lạc với Hà Nội qua Ðại-Sứ Pháp là Roger Lalouette đưa đề-nghị mở cuộc tiếp-xúc giữa 2 bên.  Bắc Việt chấp-nhận ngay.  Ông Nhu giả vờ đi săn với ông Cao Xuân Vĩ ở Cao Nguyên rồi nửa đường rẻ xuống vùng Tánh Linh ở Phước Tuy để gặp đại-diện của Bắc Việt.  Cụ Cao Xuân Vĩ đã xác-nhận điều này.  Trong cuộc gặp-gỡ, 2 bên đồng ý tái-lập trước tiên về liên-lạc bưu-điện và sau đó về giao-thương để tiến tới thống-nhất đất nước trong hòa-bình.  Sau cuộc tiếp-xúc đó, ông Nhu cố ý tiết-lộ nội-dung cuộc tiếp-xúc cho báo-chí biết để ngầm thông-báo cho Washington.
            Ông Quách Tòng Đức xác-nhận là “chính ông Nhu có đề-cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng-lãnh tại Bộ Quốc-phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán-bộ xây-dựng Ấp Chiến lược khoá 13.
            Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu xử dụng trung gian cuả bốn đại sứ: Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon, để liên lạc với Hànội.  Ông QTĐ nói có nghe dư luận này nhưng không bieát rỏ chi tiết.
            Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy.
            Song song với sự tiết-lộ của ông Nhu, Tổng-Thống Pháp De Gaulle lên tiếng kêu gọi loại bỏ “ảnh-hưởng ngoại-quốc” ra khỏi VN, còn Hồ Chí Minh lên tiếng nói rằng "một cuộc ngưng bắn có thể được 2 bên thỏa-thuận.”  
            Ông Nhu đã hội kiến với Maneli lần đầu vào ngày 25/8/63 tại Bộ Ngoại giao VNCH và kế đó là vào ngày 2/9/63 tại phòng đọc sách của ông (“War of the Vanquished”, Mieczyslaw Maneli).
            Ông Quách Tòng Đức xác-nhận: một Tết Nguyên-Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng-lẫy được trưng-bày nơi phòng khánh-tiết Dinh Độc-lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tịch Nhà nước Cọng hoà Xã hội Miền Bắc”.  Ông Đức kết-luận: “hành-động độc-lập (không cho Mỹ biết) của ông Nhu đã làm Washington tức-giận hơn.  TT Kennedy bật đèn xanh cho Lodge tiến-hành cuộc đảo-chánh nhanh chóng hơn.”
            Theo một tài-liệu cho là di-chúc của Hồ Chí Minh, thì:
“Ðầu năm 1963, hồi đó tôi (Hồ Chí Minh) còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt-chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân-viên Ủy-Hội Kiểm-Soát Quốc Tế Ðình-Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.  Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam.”>>
*
            Ta thử so-sánh giữa 2 con đường, vì chỉ có 2 con đường mà thôi:
            --  Con đường thứ nhất là tạm uyển-chuyển nhường-nhịn Đồng-Minh Hoa-Kỳ để đạt thắng-lợi diệt Cộng, rồi sẽ tranh-đấu giành lại thế mạnh của mình, một việc dễ làm đối với chú Sam trong bối-cảnh khai-phóng của Thế-Giới Tự-Do.  Về điểm này, ông Hồ Chí Minh có một câu nói để đời.  Năm 1946, họ Hồ rước Pháp, đuổi Tàu; được hỏi, ông trả lời: “Tôi thà chịu ngửi cứt Tây 5 năm, còn hơn phải ăn cứt Tàu suốt đời”.  Ông giải-thích thêm: “Pháp là ngoại-bang, ở xa, sẽ cút; còn Tàu, láng-giếng, sẽ ở lại luôn”.  Vậy ta cũng có thể nói: “Mỹ là ngoại-bang, ở xa, sẽ rút; còn Cộng, nội-thù, sẽ diệt chúng ta.”
            --  Con đường thứ hai là chịu hòa-giải hòa-hợp với họ Hồ (nghĩa là nạp mạng cho địch) để rồi nếu không bị họ thảm-sát như các nhân-vật Quốc-Gia trong vụ Ôn Như Hầu (CSVN bất-thần tấn-công vào trụ-sở VN Quốc Dân Đảng ở Hà Nội trong đêm 27-6-46 thảm-sát hầu hết các lãnh-tụ các đảng-phái đối-lập) thì cũng trở thành bù-nhìn tay-sai cho họ nuốt gọn Miền Nam; nhưng đã vào tròng cộng-sản độc-tài thì khó lòng mà tháo cũi sổ lồng.
            Ông Diệm đã chọn con đường thứ hai.
             Mãi đến hôm nay, có người vẫn cho con đường thứ nhất là sai (nghĩa là bị Mỹ cướp hết, hoặc đa-số, quyền-lợi của quốc-gia mình.  Vậy thì Nhật-Bản, Tây-Đức, Nam-Hàn (ngay cả Pháp nữa)... thì sao? họ cũng bị Mỹ "chèn-ép" lúc đầu, sao họ trở nên giàu mạnh từ bao lâu nay?
            Thử hỏi: một người dân Việt miền Nam nào đó mà có lời-lẽ hoặc cử-chỉ cho là xúc-phạm đến Ngô Tổng-Thống thì người đó có yên thân hay không, huống gì tự ý hành-động (độc-lập) ra ngoài chính-sách đường-lối của gia-đình họ Ngô thì bị mất mạng là chuyện tất-nhiên.  Vậy thì, khách-quan mà nói, họ Ngô đơn-phương thương-lượng với kẻ thù chung là cộng-sản Bắc Việt mà không hội-ý với Mỹ trước (điều mà Đồng-Minh cần làm với nhau), lại với ý-đồ đầu-hàng cộng-sản, loại bỏ ảnh-hưởng của Hoa Kỳ, tức là phản bội Đồng Minh, thì có lẽ nào Hoa-Kỳ khoanh tay chịu đựng hay sao?  (Huống chi then-chốt vẫn là lòng dân miền Nam Việt-Nam).
            Phản-bội Đồng-Minh tức cũng đồng-thời phản-bội cử-tri, ân-nhân, và chí-hữu của mình.
LÊ XUÂN NHUẬN     
            Ghi chú:  Vị nào muốn tin là cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nếu không bị giết, có thể giữ vững Miền Nam; và ông Hồ Chí Minh thật lòng khen ngợi, muốn "sống chung hòa-bình" với ông Ngô Đình Diệm, cùng thành-tâm tiếc-thương khi ông Diệm chết (chuyện này do một đồ-đệ của họ Ngô bịa ra), xin mời đọc bài của Lê Chân-Nhân (một bút-danh khác của Lê Xuân Nhuận) đã được phổ-biến trên các diễn-đàn liên-mạng nhiều năm vào cuối thế-kỷ thứ 20:
A
Giã-Từ Thế-Kỷ Hai Mươi:
NGÔ ÐÌNH DIỆM MUỐN DÂNG MIỀN NAM VIỆT-NAM CHO CỘNG-SẢN BẮC-VIỆT
            Trước khi giã-từ Thế-Kỷ 20, tôi tưởng chúng ta cũng nên thử tìm giải-đáp cho một thắc-mắc vẫn còn tồn-đọng từ thập-niên '60 của Thế-Kỷ 20:
            1/  Cứ theo nhiều người (trong đó có tôi) thì chúng ta phải đặt chủ-quyền quốc-gia lên trên hết; nói cách khác, vì tinh-thần dân-tộc, chúng ta không chấp-nhận để cho ngoại-bang lấn-lướt quyền quyết-định việc nước của chúng ta.  Do đó, việc cố Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm chống lại Hoa-Kỳ trong dự-định đổ thêm nhiều quân vào VNCH (Mỹ-hoá chiến-tranh Việt-Nam) là một việc đúng.
            2/  Cứ theo một số nhân-vật Hoa-Kỳ (trong đó có cựu Bộ-Trưởng Quốc-Phòng McNamara, cựu Ngoại-Trưởng Henry Kissinger) thì Mỹ không nên tán-đồng hay nhúng tay vào việc lật đổ chế-độ Diệm, và họ rất tiếc là Hoa-Kỳ đã làm như thế.  
            3/  Một số nhân-vật Quốc-Gia thân-Diệm dựa vào các ý-kiến trên của phiá Hoa-Kỳ để khẳng-định rằng nếu không có cuộc chính-biến 1-11-1963, nghiã là nếu cố Tổng-Thống Diệm vẫn còn sống và tiếp-tục lèo-lái công-cuộc chống Cộng của quốc-dân Việt-Nam (bất-chấp thời-lượng nhiệm-kỳ, từ 1955 đến 1975 là 20 năm!), thì Việt-Nam Cộng-Hoà hẳn vẫn còn tồn-tại và phát-triển, giàu-mạnh chứ không sụp-đổ như vào Tháng Tư Đen năm 1975.
            4/  Thế nhưng, nếu ta đọc hết và đọc kỹ các ý-kiến của Mỹ chống việc chống Diệm, nghiã là ước chi Hoa-Kỳ hồi đó không gia-tăng lực-lượng và hoạt-động quân-sự mà cứ để cho ông Diệm trực-tiếp tiếp-xúc với Bắc-Việt để cả hai miền Nam Bắc cùng tự giải-quyết vấn-đề nội-bộ Việt-Nam với nhau, thì ta thấy rằng các nhân-vật Mỹ tên-tuổi kể trên đã lý-luận khác hẳn, về kết-quả của việc ông Diệm bắt tay với Bắc-Việt:  Không phải là VNCH vẫn còn đứng vững, mà là Bắc-Việt “thống-nhất Việt-Nam” (nuốt chửng Miền Nam) sớm hơn, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt sớm hơn, và, quan-trọng hơn hết là, Mỹ đã có thể tránh được thiệt-hại lớn-lao (về vật-chất là lên đến hơn năm-vạn-tám mạng ngưòi, và trăm-tư-tỷ đô-la; và về tinh-thần là ô-danh bại-trận, thay vì “được” ông Diệm yêu-cầu rút ra, rút ra trong danh-dự -- xem "PhụLục2").
            5/  Có một số người vẫn còn tin rằng: nếu để cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm toàn-quyền và tự-lực lo lấy, thì Mỹ đã khỏi tổn-thất như trên, mà Việt-Nam cũng đã thoát được các thảm-cảnh đã xảy ra, nhất là không bị cộng-sản tràn ngập.  Vấn-đề tôi xin đặt ra hôm nay là:  Về phiá cộng-sản thì họ đã có quyết-tâm và kế-hoạch thôn-tính Miền Nam (qua việc cài lại cán-bộ nằm vùng tại Miền Nam sau Hiệp-Định Geneva 1954, nhất là qua Nghị Quyết 15 đầu năm 1959 chủ-trương bạo-lực cách-mạng giải-phóng Miền Nam khiến Tổng-Thống Diệm phải ban-hành Luật 10-59, cụ-thể là việc thành-lập "Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam" từ năm 1960) với sự viện-trợ tối-đa của Khối cộng-sản quốc-tế.  Về phía Hoa-Kỳ thì họ hẳn thấy chỉ dùng chính-trị, kinh-tế, ngoại-giao... thì vẫn chưa đủ, nên phải dùng đến quân-sự (đổ thêm quân vào Việt-Nam).  Vậy thì, về phiá VNCH, nghiã là về phần cố Tổng-Thống Diệm, -- người đã tin dùng cán-bộ tình-báo chiến-lược Vũ Ngọc Nhạ của Bắc-Việt làm cố-vấn cho mình, cùng với nội-tuyến-viên Phạm Ngọc Thảo được Tổng-Giám-Mục Ngô Đình Thục nhận làm con nuôi -- “chúng ta” làm cách thế nào mà thắng cộng-sản (ít nhất thì cũng còn nguyên, không bị cộng-sản lấn chiếm) khi mà cộng-sản chắc-chắn là quyết tiến lên, Hoa-Kỳ rút ra, phủi tay, không còn phối-hợp và yểm-trợ về quân-sự, dĩ-nhiên giảm-thiểu nếu không cắt hết viện-trợ kinh-tế và các mặt khác, trong lúc chúng ta không được nước ngoài giúp đỡ (Mỹ mà rút đi thì ai mà chịu nhảy vào?), thua sút Cộng-Sản cả về dân-số, quân-số, vũ-khí, tiếp-liệu, ngoại-viện, khả-năng tự-túc, nhất là đoàn-kết và ổn-định nội-tình?
LÊ CHÂN-NHÂN     
B
            Ông Hồ Chí Minh trả lời phái-bộ ngoại giao Ấn-Độ rằng "He is a patriotic man”:  ông Ngô Đình Diệm là một người yêu nước (Cũng như sau này -- thật không? -- họ Hồ tỏ ý thương tiếc trước cái chết của họ Ngô).  Câu nói (khen) cuả họ Hồ đối với họ Ngô chỉ là một câu nói "chính trị", và "ngoại giao".
            Ông Hồ Chí Minh cần (tự) đánh bóng thêm con người cuả mình, nên phải học đòi nói-năng lịch-sự, nhất là khi nói với một nhà ngoại-giao nước ngoài.  (Ngày xưa, bên Tàu, tướng của phe này bắt được tướng của phe kia, đã công-khai khen tài-năng & tiết-tháo của kẻ thù, rồi mới ra lệnh chém đầu!)  Quan-trọng hơn hết, ông ấy còn mong thuyết-phục ông Ngô Đình Diệm chịu tổ-chức tổng-tuyển-cử, và xa hơn nữa là chịu "về" với mình, thì không lẽ chê-bai người ta để rồi mình lại sẽ ngồi chung bàn hội-nghị, ký chung văn-bản với người ta? hoặc giả mình sẽ thu-dụng người ta làm người hợp-tác với mình?
            Câu nói (khen) cuả ông Hồ Chí Minh về ông Ngô Đình Diệm thật ra là một câu nói cố ý "giết người".
            a)  Trước ông Ngô Đình Diệm: vào các năm 1945 và 1946, ông Hồ Chí Minh đã "khen" các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... nồng-nhiệt đến mức nào để các ông ấy chịu đứng chung vào "Chính-Phủ Liên Hiệp" do ông Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch; để rồi sau đó, may mà họ trốn kịp chứ không thì họ cũng đã bị giết cùng với các nạn-nhân khác trong vụ Ôn Như Hầu rồi.
            b)  Sau ông Ngô Đình Diệm: vào các năm 1973, 1974, và đầu năm 1975, ông Hồ Chí Minh (qua các lãnh-tụ Đảng thừa-kế chủ-trương đường-lối cuả mình) đã "khen" ông Dương Văn Minh ngon-ngọt đến mức nào (Hà Nội tuyên bố chỉ nói chuyện với ông DVM mà thôi, tức là công-nhận ông nầy là một "nhà yêu nước") để ông Dương Văn Minh sa vào bẫy, nhận chức Tổng-Thống miền Nam trong tình-hình đã nát bét vô-phương cứu-chữa rồi, tức là giết chết ông ấy, vì đầu-hàng tức là tự-sát (thân-bại danh-liệt, chết cả về mặt tinh-thần).
            c)  Đối với ông Ngô Đình Diệm: ông Hồ Chí Minh biết chắc là những gì đại-sứ Ấn Độ nói với, và những gì ông này nghe từ, ông Hồ Chí Minh, đều sẽ lọt vào tai CIA (Ấn Độ trung-lập nghiã là "đu dây" giữa cộng-sản và tư-bản, chứ không phải thuần-túy thân cộng-sản).  Trong trại "cải-tạo", tôi có đọc một cuốn sách dịch từ tác-phẩm của Liên-Xô, kể thành-tích Liên Xô (chỉ một mình Liên Xô mà thôi) đánh thắng Đức Quốc-Xã, và (cũng chỉ một mình) Liên Xô lôi được Đức Quốc-Xã ra Toà-Án Quốc Tế, tác-giả đã để lộ ra là hầu hết phương-tiện tổ-chức TAQT, kể cả từng chiếc xe Jeep cho các sĩ-quan Liên Xô đi, từng vật-phẩm văn-phòng, v.v... đều do Hoa Kỳ cung-cấp.  Trong chiến-tranh Việt-Nam cũng thế, sau 1954 với Ủy-Hội Quốc Tế Kiểm-Soát Đình Chiến, là 1973 với Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn gồm Ba Lan, Hung Ga Ri, Iran, và Canada (sau đó thì Indonesia thay thế) cũng như Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên rồi 2-Bên (có Cộng-Sản Bắc-Việt và MTGPMN trong đó), tất cả trụ-sở làm việc, phương-tiện di-chuyển (như tàu bay, xe hơi), tài-xế, công-nhân, thậm chí lương-thực, v.v... đều do Hoa Kỳ đài-thọ.  Dĩ-nhiên tai+mắt cuả CIA đã được gài vào (xem hồi-ký “Cảnh Sát Hóa”, Chương "Ủy-Hội Quốc-Tế", của Lê Xuân Nhuận).
            Ông Hồ Chí Minh lại còn công-khai gửi vào miền Nam biếu ông Ngô Đình Diệm một cành hoa đào để chúc Tết nữa!   
            Do đó, ông Hồ mà "khen" (và làm thân với) ông Ngô là một câu hỏi mà CIA cần tìm câu trả lời.
            Rốt cuộc, ông Ngô Đình Diệm đã mắc mưu ông Hồ Chí Minh, tìm cách lén-lút liên-lạc với đối-phương, và bị CIA biết được, nên đã đánh mất tín-nhiệm và hậu-thuẫn cuả Hoa-Kỳ, kết-quả là cái chết.
            (Về phiá nội-bộ Miền Nam, chế-độ Ngô Đình Diệm đã đánh mất lòng dân, nhiều nhất là kể từ đầu thập-niên '60, cụ-thể với vụ 18 nhà chính-trị trong đó có đến 11 Tổng-Trưởng, Bộ-Trưởng cuả chính Đệ-Nhất Cộng-Hoà họp tại nhà hàng Caravelle ra Tuyên-Ngôn đòi ông NĐD thay-đổi chính-sách vào tháng 4-1960, cuộc đảo-chính hụt ngày 11-11-1960, vụ ném bom Dinh Độc-Lập đầu năm 1962,  rồi đến việc cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật-Đản, nổ chết người tại Đài Phát-Thanh Huế tối 8-5-1963, tổng-tấn-công chuà-chiền đêm 20-8-1963, rồi Hoà-Thượng Thích Quảng-Đức (và các vị khác) tự-thiêu, Phật-Tử khắp nơi xuống đường, v.v...  Chính ông+bà Trần Văn Chương, Đại-Sứ tại Mỹ và Quan-Sát-Viên tại Liên-Hiệp-Quốc, là cha mẹ đẻ của bà Ngô Đình Nhu, thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu, Ngoại-Trưởng và là cộng-sự-viên lâu năm nhất của Tổng-Thống Diệm, mà cũng quyết-liệt chống lại chế-độ họ Ngô.  Đó là những tín-hiệu, những cảnh-báo trước, từ phía người dân Miền Nam.  Hoa-Kỳ đã thấy rõ tính-chất độc-tài hại dân của tập-đoàn họ Ngô và tinh-thần đối-kháng của sĩ-phu và quần-chúng Việt-Nam từ lâu, cũng như biết trước về dự-mưu đảo-chính cuả số tướng VNCH liên-hệ từ nhiều năm qua.  Thế nhưng mãi đến tháng 9-1963 Tổng Thống Kennedy mới trả lời báo-chí rằng muốn chiến-thắng Việt-Cộng thì phải thay-đổi chính-sách và nhân-sự cuả chính-phủ Ngô Đình Diệm, và đại-sứ Henry Cabot Lodge mới trực-tiếp đề-nghị Tổng-Thống NĐD cải-tổ (nhưng ông Diệm vẫn không nghe theo!).
            Như thế, thái độ và quyết định cuả Hoa Kỳ tùy-thuộc rất nhiều vào lòng dân Miền Nam Việt-Nam.
LÊ CHÂN-NHÂN     
Theo ông NGUYỄN VĂN CHÂU
(Cựu Chủ Tịch Quân Ủy của Đảng Cần Lao, Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý trực thuộc Bộ Quốc Phòng, cộng-tác-viên đắc-lực của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và Cố-Vấn Ngô Đình Nhu):
        <<Ít người biết rõ là trong năm 1963, Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho một thỏa ước ngầm để chấm dứt cuộc chiến anh em Bắc Nam đồng thời loại bỏ sự can dự của ngoại quốc (Hoa Kỳ...)>>
(Trích từ "Ngô Đình Diệm, nỗ lực hòa bình dang dở" luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Châu tại Đại Học Paris VII, doNguyễn Vy Khanh dịch, Xuân Thu xuất-bản năm 1989, trang 16)
 
Theo ông NGUYỄN HƯNG ĐẠT 
(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam, Moscow):
        <Phạm Ngọc Thảo liên hệ với cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cho Đặc phái viên đặc biệt, Tướng Nguyễn Tài Thứ trưởng Bộ Công An (chứ không phải Nội vụ) của chính phủ VNDCCH đến Sài Gòn.  Ông Tài là em ruột nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan. Nhân chứng Đại tá Thảo nói rõ với ông Diệm mình là người CS trước lúc môi giới thương thuyết. Tướng Huỳnh Văn Cao (trong hồi ký "Một Kiếp Người") đã viết : [Trung Tá Phạm Ngọc Thảo, hiện là sĩ quan của Miền Nam, diện hồi chánh, nhưng đã từng là bạn thân của Lê Duẩn, ngày đám cưới của Thảo tại Thiên Hộ Đồng Tháp thì Lê Duẩn đã đích thân đến dự. Khi tôi còn là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 kiêm Khu Chiến Tiền Giang thì Thảo làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Kiến Hòa, người được Tổng Thống Diệm tin cậy. Trong những giây phút thân tình, Thảo đã thỏ thẻ với tôi: "Nếu Đại Tá Tư Lệnh muốn quen biết với ông Lê Duẩn thì tôi có thể sắp xếp được." Cho nên đã có lần tôi thưa với cụ Diệm: "Sao Cụ cứ để Trung Tá Thảo làm Tỉnh Trưởng Kiến Hòa lâu vậy, Cụ không sợ Thảo rủ rê cháu theo Cộng Sản hay sao?"  Cụ Diệm đáp lại: "Ừ, để xem đứa nào rủ được đứa nào?"  Lúc ấy, tôi đã hiểu là Tổng Thống Diệm tin chắc không thể nào Thảo rủ rê tôi được, nhưng đồng thời có nghĩa là Tổng Thống Diệm biết rõ Thảo là Cộng Sản].
Ông Diệm cho ông Tài ở ngay bên cạnh mình trong Dinh Gia Long. Nhân vật mà Thiếu tướng Đỗ Mậu, Phụ trách An ninh Quân đội, viết (trong hồi ký "Làm Thế Nào Để Giết Một Vị Tổng Thống") là những nhân vật cao cấp cuả Chính phủ có thấy một người mang một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng con tem trên ve áo, chính là người này. Ông Nguyễn Tài bị bắt ngay sau Đảo chính 11.1963, bị biệt giam đến cuối tháng 4.1975, may nhờ một hạ sỹ không theo lệnh chỉ huy ném lựu đạn vào xà lim. Anh này báo với Ủy ban Quân quản đến cứu con người liệt hai chân này.
Tết Việt nam 1963, thông qua Ủy hội Quốc tế, chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mang vào tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm một cành đào. Tiếc thay,vì không thay đổi được lập trường thoả hiệp với CS mà Mỹ giết ông Diệm. Nhà độc tài Pinochett không bị giết vì không làm điều này.>>
(trong bài viết "Tiểu sử cuả Cụ Hồ Chí Minh cần phải được xem xét lại" – BBC 05-05-2005)
 
Theo ông NGÔ KỶ
(Ký-giả):
        (Tháng 9 năm 1963)
     ... Trong thời điểm này, Hoa Thịnh Đốn bất mãn việc Pháp đứng làm trung gian giải quyết chiến tranh Việt Nam.  Đại Sứ Pháp đến miền Nam Việt Nam thảo luận bí mật với Hồ Chí Minh và Tổng Thống Diệm qua trung gian của người Ba Lan tên Mieczyslaw Maneli, thành viên Polish Member of the International Control Commission, cơ quan này được thiết lập để quan sát Hiệp Định Genève. Trong suốt nhiều tháng, Maneli qua lại Sài Gòn - Hà Nội nhiều lần để tìm giải pháp thương thảo. Vào tháng 07 năm 1963, Bắc Việt đồng ý căn bản là lập chính phủ Liên Hiệp cầm đầu bởi Tổng Thống Diệm để miền Nam trở thành trung lập. Họ muốn Mỹ phải rút quân.>>
(trong bài "Khui hồ sơ "Tối Mật": Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm")
 
Theo ông VIỆT THƯỜNG
(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam):
     ... Nguyễn công Tài đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đình nhà ông Ngô Đình Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đã lựa nhân vật Mã Tuyên, người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đình ông Ngô Đình Diệm.
        Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đã tiếp xúc trực tiếp được với Mã Tuyên. Và, cái thời điểm để đưa ý kiến cho Mã Tuyên "gợi ý" với anh em ông Ngô Đình Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uý của quân đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uý Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lý do hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mã Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như "Tự Đức" và cũng có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở châu Á.
        Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông Diệm còn vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia đình trị, phải chia quyền lãnh đạo cho các đảng phái cũng như phải có chính sách bình đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ là giải pháp phòng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rõ hơn ý đồ của địch. Những điều này còn là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống tuyền đài.    
        Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đình (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng không.
        Đầu tháng 2-1963, cuộc họp "bí mật" giữa ông Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc họp vẫn còn nằm trong bí mật cho đến nay.
        Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mã Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài đến đón ra bưng biền?
        Người duy nhất còn lại là Nguyễn công Tài, sau này "tình cờ" làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền Nam đã bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đã cho giam Nguyễn Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-gòn), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi "tham quan" phố xá Sài-gòn. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đã thả Nguyễn công Tài ra...>>
 
Theo ông QUANG PHỤC
(ký giả, chủ nhiệm “Góp Gió”):
        <từ năm 1958
 khi ra lệnh cho các Tỉnh trưởng ngưng bắt các cán bộ cộng sản và thu hồi vũ khí tự động của Bảo An, Dân Vệ, thay vào đó bằng súng mousqueton và dao găm.>>  (Hồi ký “Công và Tội” của Nguyễn Trân, trang 269)
(trích từ cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 39)
 
Theo Trung Tướng HUỲNH VĂN CAO
(cựu Tư Lệnh Quân Đoàn IV):
        Đọc hồi ký Một Kiếp Người của Trung tướng Huỳnh Văn Cao, tới đây thì vấn đề ông Nhu có liên hệ với CS không cần bàn cãi nữa.  Cả tướng (Trần Văn) Đôn, tướng Huỳnh Văn Cao và Nha An Ninh Quân Đội của Đại tá Đỗ Mậu đều báo cáo (rằng)  Đại tá Phạm Ngọc Thảo là VC nằm vùng, nhưng cả 2 ông Diệm và Nhu lẫn cha Thục vẫn cứ cố ý bảo vệ cho Thảo.  Trong hồi ký Một Kiếp Người của Huỳnh Văn Cao cho biết Đ/tá Thảo còn dám cả gan “móc nối” ông Cao (lúc còn Đại tá), đòi giới thiệu để ông Cao làm quen với Tổng bí thư Lê Duẫn,  Các sĩ quan dưới quyền ông Cao rất tức giận vì biết Thảo là VC nằm vùng, đòi giết Thảo (các trang 79-80).  Ông Nhu nghe Thảo báo cáo bèn dọa “Kẻ nào đụng tới Thảo (tôi) sẽ bỏ tù rục xương” (trang 90).  Đồng thời, nơi trang 84, Tướng Huỳnh Văn Cao còn cho biết cả Đại tướng Harkins cũng nghi ngờ TT Diệm.  Bỏi vì cuộc hành quân nào của QLVNCH sắp mở ra mà báo cho Tổng Thống phủ thì VC đều biết trước!  Cho thấy người Mỹ, CIA đã biết và theo dõi bám sát ông Ngô Đình Nhu từ lâu.  Và người Mỹ nhiều lần đòi Tổng Thống Diệm loại trừ ông Nhu.  Các tướng lãnh cũng đòi loại trừ ông Nhu nhưng ông Diệm cương quyết giữ ông Nhu!>>
(trích từ hồi ký “Một Kiếp Người” của tướng Huỳnh Văn Cao - theo Quang Phục trong cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 30)
 
Theo NEW YORK TIMES và THE WASHINGTON POST
(Hồ sơ tối mật của Ngũ Giác Đài: Người Mỹ Làm Thế Nào Để Giết Tổng Thống Việt Nam?):
        Ba tác giả Lan ViHồng Hà và Dương Hùng đã sưu tầm, phiên dịch các bài báo đăng trên 2 tờ báo kể trên, trong đó có tiết lộ về những cuộc thảo luận bí mật giữa Tổng Thống Diệm và Hà Nội đằng sau lưng người Mỹ...
(trích từ cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 41)
 
Theo Trung Tướng TÔN THẤT ĐÍNH
(Cựu Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Thượng Nghị Sĩ VNCH):
 ..nhà Mã Tuyên là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.  Không phải cuộc binh biến 1-11-63 đã đưa đến cuộc thảm sát 2 ông, mà chính quyết định liều lĩnh này đã làm cho 2 ông gánh lấy thảm họa!  Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với cộng sản mà Mỹ đã biết từ lâu rồi!>>
(trích trong cuốn hồi-ký “Hai Mươi Năm Binh Nghiệp” của Tôn Thất Đính, trang 443)
 Theo Luật Sư HOÀNG DUY HÙNG
(Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt-động cộng-đồng tại Texas):
Sau Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 15 vào năm 1959, Lê Duẫn câu kết với Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn để củng cố quyền lực ở Miền Bắc.  Do đó, họ gây sức ép với Hồ Chí Minh, và kể từ năm 1965 trở đi thì quyền lực thực sự đã nằm trong tay họ.  Năm 1963, Hồ đã hai lần gửi người vào tiếp xúc với Ngô Đình Nhu.  Hồ muốn liên minh với chính phủ Diệm để chống lại áp lực của Duẫn.  Diệm và em là Nhu cũng muốn nhân cơ hội này để chống lại áp lực của Hoa Kỳ.  Ngô Đình Nhu giả vờ đi săn ở các khu rừng Tánh Linh, Khánh Hòa và Bình Long, nhưng trong thực tế là hội họp với các cán bộ cao cấp của Miền Bắc do Hồ Chí Minh phái vào.  Có một lần Phạm Hùng, người mà sau năm 1975 thì được cử làm Thủ Tướng, đã mang vào trao cho Nhu những thông điệp trực tiếp của Hồ Chí Minh.  Các cuộc thương thảo đã phải ngưng lại vì vài tháng sau thì Diệm và Nhu bị sát hại.  Vì các cuộc họp mật này mà Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ Diệm và Nhu.  Ngày 1-11-1963, các tướng QLVNCH phổ biến trên đài tin tức về các cuộc gặp mật giữa Nhu và cộng sản để mong dân chúng hậu thuẫn trong việc lật đổ chính phủ Diệm...  Nhiều năm sau đó, vào ngày 1-11-2001, tờ Newsweek đã đăng tải một bài với hình của Tổng Thống Diệm, bình luận rằng Hành Pháp Kennedy vào năm 1963 đã khám phá ra rằng Diệm và Nhu là "công cụ của cộng sản" nên kết quả là họ phải lật đổ chính phủ Diệm...>>
(trích và lược dịch từ bản thảo tác phẩm "A Common Quest for Vietnam's Future - a brief of Vietnam War, the First and Second Republic of Vietnam" của Hoàng Duy Hùng)
 
Theo ông MINH VÕ
(nhà bình luận thời sự):
        Đài Tiếng nói VNHN – Phỏng vấn Minh Võ
Người hỏi là nhà báo Hồng Phúc Lê Hồng Long, chủ nhiệm báo Thế Giới Ngày Nay. Cuộc phỏng vấn này đã được phát thanh ngày chủ nhật 07/10/2007 trên đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại.
Hỏi: Trong cuộc mạn đàm giữa ông và ông Cao Xuân Vỹ đăng trên DCVOnline mới đây, ông Cao Xuân Vỹ có nói đến cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu với... Phạm Hùng, cán bộ cao cấp của Việt Cộng.
Hỏi: Về phía nhà cầm quyền miền Bắc, phản ứng của họ ra sao, và những đìều kiện họ đưa ra là gì?
Đáp: Theo bà Hammer, tác giả cuốn A Death In November, thì khi ông Goburghun, đại sứ Ấn đi Hà Nội với tư cách chủ tịch Ủy Ban Kiểm Sóat Đình Chiến, đến gặp ông Hồ Chí Minh thì thấy ông ta chẳng những không thấy có gì ngăn cản cuộc hiệp thương với Saigon...
Khi Maneli đến Hà Nội trình bày kế hoạch theo sự hướng dẫn của các ông Lalouette và Goburghun, thì chỉ hai ngày sau Hà Nội đã có đáp ứng: Hà Nội sẵn sàng khởi sự thương thuyết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai. Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy, theo chỉ thị của chủ tịch và thủ tướng sẽ sẵn sàng trình lên một danh sách những hàng hóa có thể trao đổi giữa hai miền. Còn điều kiện, Hà Nội chỉ cần thấy Mỹ rút khỏi miền Nam, thì sẵn sàng bàn thảo về bất cứ vấn đề gì?>>
(trích từ Tài Liệu 
ĐÀN CHIM VIỆT – 30-10-2007)
 Theo Linh Mục An-Tôn TRẦN VĂN KIỆM
(bạn thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm):
    ... ông Diệm có nhờ giáo sư Bửu Hội làm trung gian mở một vài cuộc hoà đàm bí mật với đại diện ông Hồ tại Tánh Linh, khiến cho một số chính khách Mĩ đã dựa vào đó mà gỡ tội cho ông Cabot Lodge, đại sứ Tổng Thống J.F.Kennedy…
(trích từ bản thảo cuốn hồi-ký "Có phải Hoa thịnh đốn đã đưa ông Diệm về làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam?" của L.m. An-tôn Trần văn Kiệm)
 
Theo ký giả LỮ GIANG
(tức Nguyển Cần, Tú Gàn):
       ... Linh mục Nguyễn Viết Khai, lúc đó là tuyên úy cho các giáo dân ờ đồn điền Tánh Linh, thông báo cho ông Diệm biết Hà Nội muốn ngưng chiến và mở hiệp thương với VNCH. Vào Tết Qúy Mão (1963), Hồ Chí Minh đã gởi tặng Ngô Đình Diệm một cành đào. Tháng ba 1963, Hà Nội phái Tướng Trần Độ đến Dinh Gia Long gặp ông Ngô Đình Nhu. Sau đó, ông Ngô Đình Nhu đã bí mật đến Tánh Linh bàn chuyện với Phạm Hùng.
Dĩ nhiên Mỹ biết chuyện này và tìm cách phá...>>
(Trích bài “Chiến Lược Ngoại Giao” của Lữ Giang (lugiang2000@vinet.com), trên diễn đàn liên mạng Phố Nắng,Jeudi, 5 Février 2009, 19h40mn 43s)
Chicago Tribune
June 1,  1997
      ...Diem was negotiating a political compromise with Ho, who was just as troubled by his dependence on Chinese support in the North as Diem was by the growing American presence in the South.  In retrospect, the elimination of Diem destroyed the only realistic prospect for a negotiated settlement and the honorable withdrawal of the U.S. from the conflict.>>
(From “
A Fatal Mistake: Looking anew at Ngo Dinh Diem's 1963 ouster as president of South Vietnam”)
 Nguồn tài liệu (source):
Còn câu trả lời nào cho câu hỏi tai sao Mỹ quyết định “Diệm must go!”nữa không? Nếu có, xin bổ túc để trả sự thật về cho lịch sử.
Ý bổ túc:
  Canh bạc “thấu cáy”…liều lĩnh và dại dột …
          Để tháo gở và vượt thoát được cơn khủng hoảng vừa đối nội vừa đối ngoại đó, anh em ông Diệm đã chủ quan tính sai một nước cờ nên đã lấy một quyết định liều lĩnh, dại dột và phản quốc nhất trong cuộc đời chính trị của họ: Tìm cách thỏa hiệp với Hà Nội để giải tỏa áp lực của Mỹ và của đối lập chính trị tại miền Nam. Quyết định nầy liều lĩnh và dại dột vì ba lý do:
          1Mỹ đã “nặn” ra ông Diệm ở  Washington, rồi “bồng” ông về nước. Sau đó, lại đổ kinh viện, quân viện và uy tín quốc gia  để khai sinh và nuôi dưỡng nền Đệ Nhất Cọng hòa trong chiến lược xây dựng một tiền đồn chống Cộng cho Thế giới Tự do, thì làm sao họ để cho ông thỏa hiệp với Cộng sản, phá vở vai trò “tiền đồn” trong cuộc chiến tranh lạnh được. Sau nầy, khi ông bị giết, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã kết luận thật đầy đủ:  “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.”   [Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965].
          2Ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Việt Nam đã nằm gai nếm mật, hy sinh bao nhiêu xương máu trong gần 30 năm để làm hai nhiệm vụ đan bện với nhau: Dành độc lập cho dân tộc, và thiết lập chế độ Cọng sản tại Việt Nam cho Quốc tế Cọng sản. Năm 1954, họ đã thành công được một nữa: Đuổi thực dân Tây ra khỏi nước 
(cho dân tộc) và quản lý miền Bắc (cho Cộng sản Quốc tế). Vậy thì làm sao họ có thể thỏa hiệp với kẻ thù “Mỹ-Diệm” được. Cộng sản quốc tế có cho họ làm không ? Làm sao họ biện minh được với Quân dân và Đảng viên ở miền Bắc ? Họ biết ông Diệm đang mâu thuẫn với Mỹ và đang bị nhân dân miền Nam chống đối nên chỉ mưu mẹo lợi dụng động thái xin thỏa hiệp của chính phủ Diệm để làm suy yếu  thế đồng minh Mỹ-Việt mà thôi (Đọc thêm War of the Vanquished của Mieczilaw Maneli)
          3. Nhưng quan trọng hơn hết là khi thỏa hiệp với Hà Nội, hai ông Diệm-Nhu đã phản bội lại Hiến pháp VNCH 1956 (Theo Điều 7 thì "những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với nguyên tắc ghi trong Hiến pháp"), đã vi phạm luật 10/59 (ban hành tháng 5/1959) mà ông Diệm đã dựa vào đó để đàn áp những chiến sĩ quốc gia cũng chống Cộng nhưng đối lập với ông. Thỏa hiệp với chính phủ Hồ Chí Minh, hai anh em ông Diệm-Nhu còn phản bội gần 800 ngàn đồng bào Công giáo di cư từ miền Bắc vào Nam để trốn Cọng sản, và bao nhiêu chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu để bảo vệ miền Nam.      
          Tưởng Mỹ không bao giờ dám từ bỏ mình vì đã can dự quá sâu vào miền Nam, tưởng chính phủ Hà Nội đánh giá cao động thái thỏa hiệp, tưởng đã khuất phục được quân dân miền Nam sau 9 năm bạo trị, …. Gia đình ông Diệm 
(đúng ra lúc đó ông Diệm chỉ là một bù nhìn bất lực, chính hai “tổng thống” Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân mới là kiến trúc sư để thiết kế và) đi “canh bạc chính trị” nguy hiểm và ngu dại nhất đời mình. Nhưng “canh bạc” đó không lừa được kẻ thù, không dấu được đồng minh, và không đánh giá đúng được phản ứng của quân dân miền Nam nên, cuối cùng, anh em ông đã phải đền tội trước lịch sữ và dân tộc. Ngày 1-11-1963, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cáo chung.    


 TỔNG-THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
TẶNG GẠO
CHO DÂN TÂY-TẠNG TỊ-NẠN
***
I
Nguyên-Nhân
        Trong tháng 7 năm 2014, có một số người đã đăng trên nhiều diễn-đàn liên-mạng và nhà-mạng bài-viết sau đây:
Đức Dalai Lama tri ân Cố TT Ngô Đình Diệm:
câu chuyện thật cảm động
Một câu chuyện được nghe kể từ chị Hoa Lan :  

Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức
 Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động:       Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với 1 dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng ...Ngài.   Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông.
Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm.      

Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.
May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam... Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.
Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm đối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe được câu chuyện này và cũng rất xúc động. Nếu Đức Dalai Lama không kể lại, chắc câu chuyện đã theo thời gian mà chìm vào quên lãng .. Thương cụ Diệm, thương dân tộc Tây Tạng và thương sao dân tộc mình ...
II
Phản-Ứng
21.   Ngày 23-07-2014, Ông Nguyễn Kha đã đăng trên nhà-mạng Sách Hiếm một bài-viết nhan đề:
Đức Dalai Lama, Ông Ngô Đình Diệm Và Mặc Cảm Tội Lỗi Của Nhóm “Hoài Ngô”
sau khi rà khắp trên Internet, tìm được 3 nguồn tiếng Việt và tiếng Anh đăng tin về cuộc viếng-thăm của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tại Chùa Viên-Giác vào ngày 20-9-2013, nhưng trong cả 3 tài-liệu ấy đều không có một chữ Ngô Đình Diệm hay tặng gạo nào cả (Nguồn:)
  
22.   Ngày 29-7-2014, Lê Xuân Nhuận đã gửi thư đến Hòa-Thượng Thích Như Điển, Phương-Trượng Chùa Viên-Đức  Đức, để hỏi xem “chính Thầy, và/hoặc các đạo-hữu hiện-diện tại Chùa Viên Giác vào ngày 20-9-2013, có nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma kể rằng cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” hay không”.
23.   Ngày 07-8-2014, Hòa-Thượng Thích Như Điển đã trả lời Lê Xuân Nhuận bằng vi-thư như sau:
2014-08-07 16:23 GMT+02:00 Chua Vien Giac :
Nam Mô A Di Đà Phật
Thưa Qúy Đạo Hữu,     
Mấy hôm trước chúng tôi đã nhận được Mail của ĐH Vương ở Hoa Kỳ gửi và đã hỏi một vấn đề tương tự như ĐH Chân Nhân
 Lê Xuân Nhuận hỏi hôm nay. Tôi cũn g đã hướng dẫn cho ĐH Vương vào Youtube ngày 20.9.2013 vừa qua, khi Đức ĐLLM thứ 14 ghé thăm chùa Viên Giác lần thứ hai để xem và cũng đã hướng dẫn cho ĐH Vương xem tin tức ngày 18.6.1995(thay vì ngày 20.6.1995)như đã cho, lúc Đức ĐLLM viếng chùa Viên Giác tại Hannover lần thứ nhất. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa an lòng. Hôm nay có nhờ mấy người Phật Tử ở Hannover đi tìm , thì kết qủa như PDF có gửi kèm. Xin Qúy ĐH tham khảo.

Trong tài liệu Indian Parliament on the issue of Tibet   RAJYA SABHA DEBATES 1952-2005
trang thứ 71 (xin xem phần 30.4.1962) để rõ và trang 58 phần ngày 19.12.1960  cũng có ghi rõ việc nầy.   

Đây là những thông tin
 đã được tra cứu kỹ càng.

Xin gửi đến Qúy Đạo Hữu để làm tài liệu tham khảo.
Kính chúc Qúy Vị được vô lượng an lạc.    

Kính Mail     

Thích Như Điển    

Phương Trượng chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
             ---------- Forwarded message ----------    
From:
 
Date: 2014-08-07 15:02 GMT+02:00  
Subject: Reis 
To:
 chuaviengiac2012@gmail.com               
Adida Phat Meister,
die pdf ist hier zu finden:
Die Homepage ist von The Tibetan Parlament in Exile !
Alles Gute
hugo
24.   Trong thư tôi gửi Hòa-Thượng Thích Viên Giác, tôi có nêu một câu hỏi (Xem 22) nhưng HT không trả lời trong vi-thư này.
25.   Về điểm này, Ông Trần Trung Đạo, trong bài-viết đề ngày 26-8-2014, đã viết:
       
        Sau những chuyện riêng tư..., tôi bạch với Hòa Thượng Thích Như Điển [:] trong thời gian Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm chùa Viên Giác hôm 20 tháng 9, 2013, khi ngài thuyết pháp, khi ngài trò chuyện, khi ngài nói trong chương trình, khi ngài thăm hỏi ngoài chương trình, có bao giờ Đức Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc đến việc “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” không? Hòa thượng Như Điển xác định “Không”.  
và:
“... chị Hoa Lan...  Hòa thượng Phương Trượng chùa Viên Giác nhờ chị đón chúng tôi ở phi trường, đưa sang nhà ga đi Hannover và đón chúng tôi khi về lại Berlin. Khi chị đón tôi ở nhà ga Berlin, trên đường về khách sạn, tôi hỏi có phải chính chị đã nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” hay không? Chị Hoa Lan trả lời “Không”. Chị Hoa Lan cũng không biết ai đã dùng tên chị để đưa vào bài viết.
26.   Chị Hoa Lan mà Ông Trần Trung Đạo tiếp-xúc là một Phật-Tử sinh-hoạt tại đó và được Hòa-Thượng Thích Như Điển tin-cậy, là một người thật, chứ không phải là chị Hoa Lan giả tác-giả bản tin nêu trên. (Nguồn:)
27.   Như thế tức là mọi người ở đó hôm ấy đều không có ai nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma phát-biểu như kẻ nào đó đã ghi là “được nghe kể từ chị Hoa Lan” trong bài-viết liên-hệ.
III
Tôi Đi Tìm Sự Thật
31-   Tài-liệu mà Hòa-Thượng Thích Như Điển đưa ra có nhan đề là:
Indian Parliament on the issue of  Tibet
RAJYA SABHA DEBATES
1952 -2005
Quốc-Hội Ấn-Độ với vấn-đề Tây-Tạng
CÁC CUỘC THẢO-LUẬN TẠI THƯỢNG-NGHỊ-VIỆN
1952-2005
với một bài mở đầu:
FRIEDRICH-NAUMANN-STIFTUNG
&
THE TIBETAN PARLIAMENTARY AND
POLICY RESEARCH CENTRE
TỔ-CHỨC FRIEDRICH-NAUMANN-STIFTUNG
&
TRUNG-TÂM NGHIÊN-CỨU
NGHỊ-VIỆN VÀ CHÍNH-SÁCH
CỦA TÂY-TẠNG
đại-ý: Friedrich-Naumann-Stiftung (là một Tổ-Chức Quốc-Tế Bất-Vụ-Lợi Phục-Vụ Lợi-Ích Cộng-Cộng, hoạt-động tại 75 quốc-gia) phối-hợp với “Hội-Đồng các Đại-Biểu Nhân-Dân của Tây-Tạng” lập nên “Trung-Tâm Nghiên-Cứu về Nghị-Viện và Chính-Sách của Tây-Tạng”, nhằm mục-đích tăng-cường Cộng-Đồng Tây-Tạng [ở hải-ngoại] để xây-dựng một đặc-tính sinh-hoạt dân-chủ (viết tắt là TPPRC). [Tài-liệu này do Trung-Tâm ấy soạn-thảo và ấn-hành]. (Nguồn:)
         Tài-liệu này dày 116 trang, và chép đến ngày 03-03-2005.
32-   Tôi đã mở cái link ấy và đọc thấy 2 đoạn liên-hệ sau đây:  
321) Ở trang 58:
        19 December 1960 Written Answers to Questions
FOREIGN AGENCIES ENGAGED IN THE RELIEF AND REHABILITATION WORK OF TIBETAN REFUGEES
267.Shri Harihar Patel: Will the Prime Minister be pleased to state:
(a) the names of foreign countries and foreign private relief agencies engaged in the relief and rehabilitation work of
the Tibetan refugees in India; and
(b) the number and names of camps run by them in India, Sikkim and Bhutan?
The Prime Minister and Minister of External Affairs (Shri Jawaharlal Nehru):
(a) the Governments of Australia, United States of America and New Zealand have placed Rs. 10 lakhs, Rs. 4,75,000
and Rs. 2,63,920 respectively at the disposal of the Government of India for the relief and rehabilitation of Tibetan
refugees. The Government of the Republic of Vietnam donated 1,300 tons of rice.
The following private organizations (foreign and Indian) have been providing foodstuffs, clothing, medicines, etc:
1. Co-operative for American Relief Everywhere;
2. American Emergency Committee for Tibetan Refugees;
3. Catholic Relief Services in India;
4. National Christian Council of India;
5. World Veterans’ Federation;
6. Indian Red Cross Society;
7. Junior Chamber International;
8. The Buddhist Society of Thailand.
(b) No camps are run by any foreign Government or private agency in India.
        Tạm dịch: Chính-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã tặng 1,300 tấn gạo (cho việc cứu-trợ và phục-hoạt các người Tây-Tạng tị-nạn).
322) Ở trang 72 (không phải 71):
30 April 1962 Written Answers to Questions
SOUTH VIETNAM’S OFFER OF RICE FOR TIBETAN REFUGEES
*116. Shri N. Sri Rama Reddy: Will the Prime Minister be pleased to state whether it is a fact that the Government
of South Vietnam have offered 200 tons of the rice for the relief of Tibetan refuges in India?
The Minister of State in the Ministry of External Affairs (Shrimati Lakshmi Menon): Yes, Sir.
Tạm dịch: Phải chăng Chính-Phủ Nam Việt-Nam vừa mới đề-nghị/tặng 200 tấn gạo trong số gạo ấy cho việc cứu-trợ người Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ?(Quốc-Vụ-Khanh tại Bộ Ngoại-Giao trả lời:) Vâng, đúng thế.
33-   Tiếp-tục sưu-tầm, tôi đã tìm thấy một tài-liệu khác, cùng một chủ-đề, cùng người xuất-bản, cùng cách trình-bày nội-dung, chỉ khác có chữ LOK (là Hạ-Nghị-Viện), trong lúc chữ RAJYA trong tài-liệu của Chùa Viên Giác là Thượng-Nghị-Viện.
        Như thế, tài-liệu của Chùa Viên-Giác là về các buổi vấn-đáp (Written Answers to Questions, Question to be Answered, Discussion, Special Mention, v.v...)tại Thượng-Nghị-Viện Ấn-Độ, còn tài-liệu mà tôi tìm thấy là về các buổi vấn-đáp tại Hạ-Nghị-Viện Ấn-Độ.
34-   Vì trong tài-liệu ở Hạ-Nghị-Viện mà tôi tìm thấy, ngay từ đầu sách có một “Publisher's Note” (Lời Nhà Xuất-Bản), ở trang 4, nói rằng Trung-Tâm Nghiên-Cứu Về Nghị-Viện [Quốc-Hội Tây-Tạng Lưu-Vong] và Chính-Sách của Tây-Tạng sưu-tập tài-liệu về các buổi tranh-cãi, thảo-luận, và vấn-đáp tại cả 2 Viện của Quốc-Hội Ấn-Độ về vấn-đề Tây-Tạng, in thành 2 Tập; mà trong tài-liệu ở Thượng-Nghị-Viện (do Chùa Viên-Giác đưa ra) thì không có Lời Nhà Xuất-Bản, nên tôi thấy rõ:
        Tài-liệu của Chùa Viên-Giác là Tập 2 (Thượng-Nghị-Viện).
        Tài-liệu do Lê Xuân Nhuận tìm thấy là Tập 1 (Hạ-Nghị-Viện) (theo link dưới đây:)
http://www.tpprc.org/publication/lok_sabha_debates_on_tibet-2006.pdf
        Tài-liệu này dày 356 trang (có 240 trang dày hơn), và chép đến ngày 25-04-2005 (có thêm 1 tháng 23 ngày).
       
IV
Những Gì Tôi Tìm Thấy
41/   Về Tổng-Số Dân Tây-Tạng Đến Ấn-Độ để tị-nạn Cộng-Sản:
        41a. Theo Wikipedia thì suốt trong 50 năm qua đã có hơn 150,000 người Tây-Tạng đi theo Đức Đạt-Lai Lạt-Ma thứ 14 đến tị-nạn tại Ấn-Độ. Thoạt tiên Ngài ra đi vào năm 1959, sau vụ nổi dậy bị thất-bại [tại Tây-Tạng], với khoảng 80,000 người đi theo Ngài (Nguồn:)
       
        Tuy nhiên, theo tài-liệu trong 2 Tập liên-hệ, thì con-số ấy khác nhau:
        41b. Năm 1959  13,756 người (Tập 1, 14 December 1959 trang 48).
        41c. Năm 1960  427,604 người [chỉ riêng tại 2 Bang Punjab  Himachal Pradesh và chỉ riêng trong tháng 6] (Tập 1, 14 November 1960 trang 132).
        41d. Năm 1961 là vào khoảng 30,409 người (Tập 1, 5 May 1961  trang 152).   
        41e. Năm 1961  32,296 người (Tập 2, 27 November 1961 trang 67).
        41f. Năm 1962 là vào khoảng 32,300 người (Tập 1, 19 June 1962 trang 162).
        41g. Năm 1963 là vào khoảng 37,000 người (Tập 2, 19 September 1963 trang 76).
42/   Về Chính-Sách của Chính-Phủ Ấn-Độ đối với Dân Tây-Tạng tị-nạn:
        42a- Ngày 01-12-1959, được hỏi về lập-trường của Ấn-Độ đối với việc Liên-Hiệp-Quốc muốn đưa vấn-đề Tây-Tạng vào chương-trình nghị-sự, Thủ-Tướng kiêm Bộ-Trưởng Ngoại-Giao là Shri Jawaharlal Nehru trả lời, đại-ý: Lúc biểu-quyết xem có nên đưa vấn-đề đó vào nghị-trình hay không, thì Ấn-Độ không bỏ phiếu. Lúc thảo-luận Nghị-Quyết do Mã-Lai  Ái-Nhĩ-Lan bảo-trợ [về việc trên] thì Đại-Biểu Ấn-Độ bỏ phiếu trắng (Tập 2, 1 December 1959 trang 47).
        42b- Mãi đến ngày 20-09-1965, được hỏi về cách đối-xử của Ấn-Độ đối với người Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ, Bộ-Trưởng Ngoại-Giao là Shri Swaran Singhcòn trả lời, đại-ý: chính-phủ Ấn-Độ xem họ là người nước ngoài (Tập 1, 20 September 1965 trang 226).
43/   Về Chính-Sách của Chính-Phủ Ấn-Độ đối với Nước Tây-Tạng:
        Ngày 24-03-1961, Thủ-Tướng Ấn-Độ  Shri Jawaharlal Nehru báo-cáo với Quốc-Hội, đại-ý: Chính-Phủ Ấn-Độ từ lâu nay vẫn coi Tây-Tạng trong quá-khứ là một khu tự-trị của nước Trung-Hoa; nó đã có quyền tự-trị, nhưng nói về mặt quốc-tế thì hiện nay nó vẫn là một phần của Trung-Hoa; đó là lập-trường căn-bản; dù sao Tây-Tạng cũng đã là một phần của nước Trung-Hoa rộng lớn hơn; do đó, các chính-sách của Ấn-Độ vẫn dựa vào sự-kiện này (Tập 1, 24 March 1961 trang 144).
44/   Về Chính-Sách của Chính-Phủ Ấn-Độ đối với Việt-Nam:
        Ấn-Độ thiết-lập liên-hệ chặt-chẽ với Bắc-Việt Cộng-Sản, mạnh-mẽ lên án hành-động của Hoa-Kỳ trong Chiến-Tranh Việt-Nam (Nguồn:)
        http://en.wikipedia.org/wiki/India%E2%80%93Vietnam_relations. The Republic of India and the Socialist Republic of Vietnam enjoy strong bilateral relations.
45/   Về các phẩm-vật được gửi đến Ấn-Độ để cứu-trợ dân Tây-Tạng tị-nạn và dùng vào các mục-đích nhân-đạo khác:
        Ngày 7-9-1964, được hỏi về việc báo-chí ở Luân-Đôn (Anh) đăng tin là có sự mất-mát đáng báo-động về số lượng các món viện-trợ mà có đến 2/3 các chuyến hàng không đến thấu nơi nhận, Bộ-Trưởng Ngoại-Giao là Shri Swaran Singh trả lời, đại-ý: Các báo-cáo của tờ Sunday Times (Luân-Đôn) ra ngày 13thSeptember 1964  đã thổi phồng và đưa ra con số không đúng. Có sự chậm-trễ trong việc bốc hàng từ Hải-Cảng Bombay từ tháng 8-1963 đến tháng 3-1964 nhưng không có sự thất-thoát đáng kể. Tờ Sunday Times mâu-thuẫn với Ủy-Ban Cứu-Trợ Trung-Ương (của Ấn-Độ) cũng như với đa-số các cơ-quan thiện-nguyện gửi tặng cho người Tây-Tạng tị-nạn. Việc này đã được bàn-thảo với Ủy-Bản Cứu-Trợ Trung-Ương (của Ấn-Độ) là nơi điều-hợp việc tiếp-nhận và phân-phối các món viện-trợ ấy, và họ vừa mới xác-nhận rằng tường-thuật của tờ báo ấy đã quá phóng-đại, và mọi nỗ-lực đang được thực-hiện để cho các khoản cứu-trợ được tận-dụng tối-đa (Tập 1,
7 September 1964 trang 217).
46/   Về Việt-Nam Cộng-Hòa:
       
        46a/ Về sự liên-hệ giữa Việt-Nam Cộng-Hòa với Ấn-Độ thì, dù Phó Tổng-Thống Ấn-Độ qua thăm VNCH trước, rồi Tổng-Thống Ngô Đình Diệm công-duẤn-Độ, rồi  Tổng-Thống Rajendra Prasad của Ấn-Độ qua thăm VNCH để đáp lễ, vào năm 1957, nhưng giữa hai nước chưa có liên-hệ ngoại-giao, chỉ có Đại-Diện ở cấp Tổng-Lãnh-Sự mà thôi.     
        Việt-Nam Cộng-Hòa viện lý rằng vì Ấn-Độ lúc đó là Chủ-Tịch Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đình-Chiến [theo Hiệp-Định Geneva năm 1954] (Nguồn: Sáu Năm Hoạt-Động của Chánh-Phủ VNCH trang 437).
  
        46b/ Nhưng trên thực-tế thì vì:
        46b1- Ấn-Độ là nước đứng đầu Khối Không-Liên-Kết [trung-lập], lập thành Thế-Giới Thứ Ba, chen giữa Thế-Giới Tụ-Do  Thế-Giới Cộng-Sản, gây nên khó-khăn không ít cho Hoa-Kỳ [là nước bảo-trợ VNCH]. (Nguồn:)
        46ba2- Ấn-Độ công-nhận Tây-Tạng là một phần của Trung-Hoa Cộng-Sản (Xem 43).
        46ba3- Ấn-Độ không thuận đưa vấn-đề Tây-Tạng [tị-nạn] ra trước Liên-Hiệp-Quốc (Xem 42a).
        46ba4- Ấn-Độ (nói là trung-lập, nhưng lại) ủng-hộ Bắc-Việt Cộng-Sản và phản-đối Hoa-Kỳ dính-líu vào Việt-Nam Cộng-Hòa [tức là đối-nghịch với VNCH]. (Xem 44)
        
V
Kết-Luận
51)   Về việc cố TT Ngô Đình Diệm đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng:
        51a) Gửi gạo tặng người tị-nạn trong cảnh túng-thiếu, là một việc tốt, nếu không ám-muộibất-chính, thì sao lại phải “âm thầm”?
        51b) Hàng tấn gạo” nghĩa là từ 1 tấn đến 9 tấn. Nếu là từ 10 tấn trở lên thì người ta gọi là “cả chục tấn gạo, hàng chục tấn gạo”. Đằng này, người đầu tiên đưa tin [chị Hoa Lan giả] viết là hàng tấn gạo, mà 2 Tập tài-liệu dẫn trên thì viết là (1,300+200=) 1,500 tấn gạo (có thể gọi là hàng ngàn tấn gạo).
        Tại sao có sự sai-biệt quá lớn như thế? (Xem 523c)
52)   Về vụ 1,300 tấn gạo năm 1960:
        521) Tổng-số dân Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ, theo 2 tài-liệu nói trên thì:
        - vào năm 1959 là 13,756 người (Tập 1, 14 December 1959 trang 48);
        - vào năm 1961 là vào khoảng 30,409 người (Tập 1, 5 May 1961  trang 152).   
        Muốn có con-số trung-dung cho năm 1960, đáng lẽ cộng năm 1959 với năm 1961 rồi chia 2, nhưng ta hãy cho đi là năm 1960 đã có nhiều người như năm1961, và thử sử-dụng con-số cao nhất ấy, là có 30,409 người Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ vào năm 1960.
        Vậy thì, có lý nào, để cứu-trợ 30,409 người Tây-Tạng tị-nạn, trong lúc đã có nhiều quốc-gia khác và nhiều tổ-chức thiện-nguyện ngoại-quốc lẫn trong nướcẤn-Độ gửi tặng phẩm-vật rồi, mà Tổng-Thống Ngô Đình Diệm còn gửi tặng một lần đến 1,300 tấn gạo?
        522) Năm 1950 là năm bản-lề giữa lên và xuống. Nếu Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa là một cái dốc, thì từ 1954 đến 1960 là leo dốc, từ 1960 đến 1963 là tuột dốc.
        Nói chung, Tổng-Thống Diệm gặp khó-khăn dồn-dập đối với các tướng trong quân-đội của mình, các thành-viên cao-cấp trong nội-các của mình, các lãnh-tụ đối-lập trong dân-chúng, đồng-minh Hoa Kỳ, kẻ thù cộng-sản, lẫn dân-chúng Việt-Nam, nổi bật nhất là:
        - Vụ Caravelle, 11 Tổng/Bộ-Trưởng cuả chính Đệ-Nhất Cộng-Hoà từ-chức để phản-đối Diệm, Phó Tổng-Thống Nguyễn Ngọc Thơ bất-đồng, Đại-Sứ VNCHtại Mỹ là Trần Văn Chương chống-đối Diệm, quân-đội làm đảo-chánh [hụt] ngày 11-11-1960;
        - Hoa-Kỳ đòi Diệm cải-tổ và loại-bỏ Nhu, gây khó-khăn về viện-trợ và tìm người thay-thế Diệm;
        - Cộng-sản tấn+chiếm nhiều nơi và ra mắt Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng Miền Nam ngày 20-12-1960;
        - Tòa Thánh Vatican không chấp-nhận việc Diệm kỳ-thị (huống gì) đàn-áp Phật-Giáo, và Giáo-Hoàng Gioan XXIII đã móc nối với Hồ Chí Minh để thiết lậpchính phủ trung lập tại VN... (Xem bài tóm-lược).
        Để đối-phó lại, Tổng-Thống Ngô Đình Diệm tiếp tân đầu năm, tỏ vẻ thân-thiết đặc-biệt với Đại-Sứ Pháp Roger Lalouette. Ngày 9/1/60Diệm gặp riêngLalouette, câu chuyện kéo dài 2 giờ. (Pháp muốn phá Mỹ, trung-gian hoà-giải giữa Ngô và Hồ).
       
        Trong tình-hình đó, nếu quả thật TT Diệm có gửi nhiều gạo qua Ấn-Độ, thì có thể hiểu là giúp (hay là làm quà cầu-thân? với) Ấn-Độ [để nhờ trung-gian và nói giùm với CSBV?] chứ không phải là giúp người Tây-Tạng tị-nạn, vì mọi ngân-khoản/phẩm-vật cứu-trợ đều nằm trong tay và thuộc toàn-quyền sử-dụng của chính-phủ Ấn-Độ (at the disposal of the Government of India và No camps are run by any foreign Government or private agency in India) (Xem 321).     
        Như thế thì, phải chăng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và Cố-Vấn Ngô Đình Nhu đã bắt đầu thực-hiện ý-đồ bắt tay với cộng-sản (tách rời Thế-Giới Tự-Do) từ năm 1960, chứ không phải đợi đến năm 1963 (?) (Xem)
        523) Khi sao chép (không phải nhiếp-sao), hoặc ghi chép (xem phim-ảnh, nghe băng ghi-âm, mà chép thành chữ những gì nghe được), có 3 khuyết-điểm nhiều người vấp phải: saisótphịa.
        Về 2 Tập tài-liệu đang được đề-cập, ở đây tôi xin nói về Tập 2 (Thượng-Nghị-Viện Ấn-Độ, vấn-đề 1,300 tấn gạo):
        523a= SAI: Nếu Tổng-Thống Ngô Đình Diệm giấu kín việc này (VNCH không lưu hồ-sơ/văn-khố, báo-chí và dân-chúng không biết), thì không lẽ các cơ-quan tình-báo và báo-chí quốc-tế, cùng với tai+mắt của CIA khắp nơi, lại không biết gì về việc này, mãi đến ngày nay người ta mới tiết-lộ một tài-liệu ấn-hành vào năm 2006
        Ngay chính trong Tập 1, đã có ít nhất là 3 đoạn, về tổng-số người Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ:
        523a1. Năm 1959 là 13,756 người (Tập 1, 14 December 1959 trang 48).
        523a2. Năm 1960 là 427,604 người [chỉ riêng tại 2 Bang Punjab và Himachal Pradesh và chỉ riêng trong tháng 6] (Tập 1, 14 November 1960 trang 132).
        523a3. Năm 1961 là vào khoảng 30,409 người (Tập 1, 5 May 1961  trang 152). (Xem 41)
        Có lý nào, năm 1959 là 13,756 người, qua năm 1960 con-số nhảy lên đến 427,604 người (Xem 41c), rồi qua năm 1961 tụt xuống còn khoảng 30,409 người? Trong lúc đó, con-số cao nhất là 150,000 người (Xem 41) và tính đến năm 2009 thì kể cả tại Ấn-ĐộNepal, và Bhutan, con-số cũng chỉ là 150,000 người (Nguồn:)
        Rõ-ràng là họ chép sai.
        523b= SÓT: Chính Ông Penpa Tsering, Giám-Đốc Điều-Hành của Trung-Tâm Nghiên-Cứu về Nghị-Viện và Chính-Sách của Tây-Tạng, cũng đã nhìn-nhận, trong bài “Lời Nhà Xuất-Bản”: “However there may be oversight (quên, sót, sơ-xuất bỏ quên), for which we are totally responsible and we seek your valuable input to enable us to add and improve in our future publications.” (Tập 1, Publisher’s Note trang 4).
        Tức là họ đã chép sót.
        523c= PHỊASai được, Sót được, thì Phịa cũng được.
        Tại sao Việt-Nam Cộng-Hòa gửi tặng 1,300 tấn gạo mà cả thế-giới không ai trông thấy, nghe nói, biết đến, trừ phi đó là chuyện phịa?  
         Nếu có gửi tặng gạo thật, thì đó là một thành-tích đáng được tuyên-dương, đàng-hoàng hơn, chính-đáng hơn, danh chánh ngôn thuận hơn, nhưng sao không đề-cập đến, mà phải phịa chuyện Tổng-Thống Ngô Đình Diệm tặng Đức Đạt-Lai Lạt-Ma số tiền (khi thì US$10,000.00, khi thì US$15,000.00) từ giải Magsaysay“ma”?
        Về câu “the Governments of Australia, United States of America and New Zealand have placed Rs. 10 lakhs, Rs. 4,75,000
and Rs. 2,63,920 respectively at the disposal of the Government of India for the relief and rehabilitation of Tibetan refugees. The Government of the Republic of Vietnam donated 1,300 tons of rice” (Xem 321), ai đã thêm vào câu cuối ấy? và với mục-đích gì? Phải chăng là để xúy-xóa, tung hỏa-mù, đánh lạc hướng, xoa dịu công-luận về vụ án gạo Ưng Bảo Toàn [TT Ngô Đình Diệm bao che cho Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn buôn lậu, tiếp-tế hàng ngàn tấn gạo cho Việt-Cộng] ở Miền Trung? (Xem Mục 10)
        Huy-động cả nhiều vạn người, cô-lập cả nhiều khu phố tại Sài-Gòn, để diễn vở kịch và quay thành phim, vụ cố Thượng-Tọa Thích Quảng Đức tự-thiêu, theo ý đạo-diễn, rồi bảo là phim do một ký-giả người Ý Đại Lợi quay được tại chỗ vào đúng lúc đó, mà người ta còn làm được, tin được (tôi chỉ nói về kỹ-thuật mà thôi); cuốn sách “Chính Đề Việt Nam”, của cựu Thượng-Nghị-Sĩ Lê Văn Đồng, bút-danh Tùng Phong, mà người ta dám ăn cắp (đạo-văn), sửa-chữa, chớp cả bút-danh, gán cho Ông Ngô Đình Nhu là tác-giả; thì sá gì chuyện phao tin đạt giải Magsaysay, phịa chuyện tặng tiền, mua-chuộc một cá-nhân nào đó trong nhóm ghi-chép để chép thêm vào một câu như thế, mà người ta không làm được hay sao (?) Tức là phịa vậy.
        Một tài-liệu mà phạm cả 3 khuyết-điểm saisótphịa (cho dù chỉ 1 khuyết-điểm mà thôi) thì đã là vô-giá-trị rồi (“một phần sự thật không phải là Sự Thật”).
53)   Về vụ 200 tấn gạo Năm 1962:
        Trong năm 1962 ngoài những thành-quả đạt được, Tổng-Thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều khó-khăn và trở-ngại mới (Nguồn: Sách “Hai Mươi Năm Qua”của Đoàn Thêm):
        Chính-Quyền:
        - 11-1-1962 Bộ Giáo-Dục xác nhận có vụ chuyển-ngân ma, đã khám phá từ tháng 6/1961; nhiều chứng-chỉ giả đã được tìm ra tại tòa Đại-Sứ VN ở Ba-Lê... [chuyển-ngân ma tại Bộ Giáo-Dục tức trong Chính-Quyền].
        - 3-2-1962 Thiết lập Ủy-ban Trung-Ương đặc-trách Ấp Chiến-lược. Ủy-ban họp mỗi tuần một lần, do C.V. Ngô-đình-Nhu chủ tọa, gồm đa-số các Bộ-trưởng và cao-cấp quân-dân-chính... [Mãi đến năm 19628 năm sau ngày chấp-chính, chỉ hơn 1 năm trước khi sụp đổ,  TT Diệm và CV Nhu mới đem áp-dụng “quốc-sách” Ấp Chiến-Lược Xem].
        - 19-2-1962 Bộ Ngoại-giao Anh giải thích: sự thành lập phái-đoàn Thompson giúp VN, không trái với Hiệp-định Genève, vì chỉ giúp về hành-chánh và nội-an [Sir Robert Thompson là người Anh, chuyên-gia chống khuynh-đảo, đã từng chống-Cộng thành-công tại Mã-Lai].
        - 27-2-1962 Dinh Độc-Lập bị 2 phi-cơ VN ném bom và bắn phá từ 7g15 đến 7g25. Phía tay trái bị hư hại nặng. Một phi-cơ bị cao-xạ của Hải-quân bắn rớt ởNhà-Bè, lúc 7g35, phi-công Phạm-phú-Quốc bị bắt; chiếc thứ hai bay thoát sang Cao-Mên. Trong Dinh, 1 binh-sĩ và 1 chị hai bị tử-thương. Bom rơi trúng căn lầu của B.T. Nguyễn-đình-Thuầncác nơi này đều bị đổ và cháy [Đây là lần thứ 2, lần trước là vụ đảo-chánh hụt 11-11-1960].
        - 10-3-1962 Phong-Trào Cách-Mạng Quốc-Gia đề nghị lập một Phong-Trào Nhân-Dân tái thiết dinh Độc-Lập [bắt dân đóng góp. Xem các ngày 21-3-1962, 8-8-1962 và 10-10-1962].
        - 11-3-1962 Khánh thành tượng Hai Bà Trưng ở Công-trường Mê-Linh: tác-phẩm của nhà điêu-khắc Nguyễn-văn-Thế, giải đệ-nhị La-Mã [Xem dư-luận ở Mục Dân-Chúng dưới đây].
        - 21-3-1962 Thành lập Ủy-Ban Nhân-Dân tái thiết Dinh Độc-Lập, gồm một số nhân-sĩ và nhiều Dân-Biểu.
        - 31-3-1962 Chánh-phủ VN gửi thông-điệp cho 92 Quốc-gia yêu-cầu ủng-hộ VNCH chống xâm lăng Cộng-sảntố giác miền Bắc giật dây Cộng-sản miềnNam [Phải nguy-cấp lắm mới kêu-cứu thế-giới].
        - 8-8-1962 Phong-trào Nhân-Dân tái thiết dinh Độc-Lập quyên được gần 9 triệu.
        - 10-10-1962 Phong-Trào Nhân-Dân tái thiết dinh Độc-Lập quyên được hơn 19 triệu: 10 triệu sẽ dành cho Ấp Chiến-Lược.
        - 27-10-1962 Đặc-quyền của Tổng-Thống VNCH ban hành sắc-luật vì tình-trạng khẩn-cấpđược gia hạn 1 năm, kể từ 19-10-62 (Luật số 18/62) [Phải ban-hành tình-trạng khẩn-cấp].
        - 3-12-1962 Khai giảng tại Thị-Nghè, khóa 7 Huấn-luyện Cán-bộ Ấp Chiến-lược. Lần này, nhiều Dân-biểu và Tỉnh-trưởng theo học [Xem].
        - 8-12-1962 Trung-tướng Dương-văn-Minh được cử làm Cố-vấn Quân-sự Phủ Tổng-Thống, thôi giữ chức Tư-lịnh Hành-quân... [gây bất-mãn nơi viên tướng hữu-công này].
        Dân-Chúng:
        - 17-7-1962 Tượng đồng Hai Bà Trưng hôm nay được đặt lên bệ ba chân,... : theo nhiều người thì giống hệt bà Nhu và con gái là Lệ-Thủy (phí-tổn 6 triệu $VN).
        - 22-10-1962 Nhiều tỉnh Trung-Phần bị ngập lụt: Quảng-Nam, Quảng-Tín, Bình-Định, Quảng-Ngãi bị thiệt hại nhiều nhất: 2,000 nhà bị sâp; tại Khánh-Hòa,50 người chếtmùa màng bị hỏng từ 20% đến 60%; ở Phan-Rang, đường phố bị ngập sâu hơn 1 thước nước.
        Cộng-Sản:
        - Đánh phá nhiều nơi, ngay ngày 26-10-1962 [là ngày Quốc-Khánh của Đệ-Nhất Cộng-Hòa] mà tại thủ-đô Sài-GònLựu đạn ném vào khu triển-lãm chiến-lợi-phẩm của Quân-đội VNCH trước tòa Đô-Chánh7 người chết29 bị thương.
        Lân-Bang:
        - 18-1-1962 VC tiếp-tục tràn qua Lào. Phi-cơ Nga tiếp-tế cho VC và Pathet-Lào ở Tchépone mỗi ngày 10 lần.
        - 13-2-1962 Nam-Tha ở Lào vẫn bị vây hãm: số quân Bắc-Việt ước tới 10 Tiểu-đoàn.
        - 5-7-1962 Chánh-phủ VN phản kháng việc Chánh-phủ Lào thừa nhận Bắc-Việt...
        - 8-11-1962 Kể từ hôm nay, Chánh-phủ VN đóng cửa tòa Đại-sứ tại Vạn-Tượng vì Lào công nhận Bắc-Việt...
        [Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã tiên-đoán đúng trong vấn-đề này: Lào mà trung-lập, tức không chống-Cộng, thì cộng-sản Bắc-Việt dùng lãnh-thổ Lào làm đường chuyển quân vào Nam Việt-Nam.]
        Hoa-Kỳ và Quốc-Tế:
        - 11-1-1962 Hoa-Kỳ lại viện-trợ cho Lào, và giao ngân-phiếu 4 triệu Mỹ-kim.
        - 8-2-1962 Thiết lập Bộ Tư-lịnh Hoa-Kỳ tại VNMAC-V.
        - 13-2-1962 Tướng Paul D. Harkins tới Saigon nhậm chức Trưởng Phái-đoàn quân-sự Mỹ, thay tướng Lionel C. McGar.
        - 30-6-1962 Phái-đoàn giáo-sư đại-học Michigan (MSUkhông được triễn hạn, rời Saigon [Michigan State University là nơi dìu-dắt và thân chính-quyềnNgô Đình Diệm trong “Kế-Hoạch 5 năm” đầu tiên.]
        - 25-7-1962 Joseph L. Brent được cử làm Trưởng Phái-Đoàn Viện-Trợ Kinh-Tế Mỹ tại VN.
        [Hoa-Kỳ thay-đổi chính-sách, xa dần VNCH.]
        - 28-10-1962 Kennedy ca ngợi sự hiểu biết và lòng yêu chuộng hòa-bình của Kroutchev.
         
54)   Về vụ 200 tấn gạo Năm 1962 qua tay Ấn-Độ:
        Việc này đã được Ông Đoàn Thêm ghi trong sách Hai Mươi Năm Qua, trang 317.
        Người đọc suy-nghĩ:
        54a Ngày 1-2-1962Hoa-Kỳ viện-trợ cho VNCH 5,000 tấn gạo, số gạo ấy được phân phát cho các tỉnh bị lụt miền Tây Nam-phần, và Trung-phần (sđd, trang 314).
        54b Qua ngày 15-3-1962, chỉ hơn 1 tháng sau, Chánh-phủ VN đã gửi 200 tấn gạo giúp dân tị-nạn Tây-Tạng... (sđd, trang 317).
        54c Vậy thì, vấn-đề là:
        Việt-Nam Cộng-Hòa thiếu gạo để dùng trong nước (cứu giúp nạn-nhân bão+lụt), nên Hoa-Kỳ phải viện-trợ 5,000 tấn gạo để cứu lụt tại miền tây Nam-Phầnvà Trung-Phần (sđd, trang 314). Thế mà:
        Bề ngoài (về mặt tâm-lý): người ta tặng mình mà mình lại đem (dù là một phần) tặng cho kẻ khác (trong lúc Hoa-Kỳ đã có cứu-trợ cho Tây-Tạng rồi), tức là tỏ ra rằng mình dư thừalần sau ai mà sốt-sắng tặng thêm? (Bằng-chứng là ngay gần cuối năm ấy hậu-quả lụt-lội nặng hơn [có đến 50 người chết Xem 53 Dân-Chúng 22-10-62] mà Hoa-Kỳ đâu giúp món nào).
        Bề trong (về mặt chính-trị): người ta xa dần, thay vì kéo lại thì lại đẩy cho xa hơn; phải chăng là để chọc tức Hoa-Kỳ, nhất là để cụ-thể-hóa ý-đồ “đi” với Ấn-Độ [hồi đó] “trung-lập thân-Cộng” bằng cách tặng cho Ấn-Độ [vì mọi tặng-phẩm đều phải qua tay Ấn-Độ] (?)
        54d Ngoài ra, lấy một thí-dụ cụ-thể, là vụ tờ báo Sunday Times ở tận bên Anh (Xem 45) hẳn là đã có điều-tra cẩn-thận, đã đăng bài báo tố-cáo tham-nhũng, Thủ-Tướng Ấn-Độ quá tin cấp dưới, trả lời Quốc-Hội rằng đã có hỏi Ủy-Ban Cứu-Trợ Trung-Ương... và họ vừa mới xác-nhận là tường-thuật của báo ấy đã quá phóng-đại, và mọi nỗ-lực đang được thực-hiện để cho các khoản cứu-trợ được tận-dụng tối-đa (Tập 1, 7 September 1964 trang 217).
        Nói thế tức là xác-nhận đã có thất-thoát, và tự bào-chữa là không nhiều như báo ấy thổi phồng; đồng-thời, nỗ-lực sửa sai “đang được thực-hiện”, tức là trước đó chưa/không hề thực-hiện!
        54e Hơn nữa, trả lời Quốc-Hội, Quốc-Vụ-Khanh tại Bộ Ngoại-Giao xác-nhận: the Government of South Vietnam have offered 200 tons of the rice for the relief of Tibetan refuges in India (Xem 322).
        Động-từ “Offer” có nhiều nghĩa, trong đó có 2 nghĩa: hoặc là đề-nghị, hoặc là biếu/tặng.
         “200 tons of the rice” nghĩa là 200 tấn gạo trong tổng-số gạo đó, tức là Ấn-Độ đã nhận từ nhiều nơi tặng một số-lượng gạo nào đó (giả-dụ 1,000 tấn gạo), mà họ đã có báo cho Quốc-Hội lần trước rồi (hẳn vì tài-liệu chép sót điểm này - Xem 523b); nay họ báo là VNCH có đề-nghị/tặng 200 tấn gạo trong tổng-số (giả-dụ 1,000) tấn gạo ấy cho người Tây-Tạng tị-nạn. Điều đó gây sự nghi-ngờ: phải chăng người ta đã xem như con-số 200 tấn gạo của VNCH là thuộc vào tổng-số gạođã có báo lần trước rồi, còn 200 tấn gạo của VNCH vừa mới gửi tặng lần này thì nằm ngoài sổ (?).
       
55)   Tổng-Thống VNCH Ngô Đình Diệm đã có gửi tặng 200 tấn gạo cho người Tây-Tạng tị-nạn tại Ấn-Độ.
        Tuy-nhiên, vì những mù-mờ kể trên, nhất là thế nào Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng đã có đọc/biết về bài báo của Sunday Times (Luân-Đôn) ra ngày 13thSeptember 1964 (Xem 45), nên Ngài không thể biết chắc là đã nhận được của VNCH bao nhiêu tấn gạo, và vì tế-nhị hẳn Ngài không tiện hỏi thẳng người nào; do đó, Ngài không đề-cập chuyện gạo trong dịp tiếp-xúc với người Việt-Nam tại Chùa Viên Giác ở Đức.
56)   Tôi không tin là sự hao-hụt quá nhiều đến độ có kẻ phỏng-đoán là 200 tấn mà chỉ còn lại dưới mười tấn (Xem 51b) nên mới loan tin là hàng tấn gạo (?)
*
CƯỚC-CHÚ:
        Tài-liệu 2 Tập nêu trong bài này không phải là tài-liệu chính-thức của Chính-Phủ/Quốc-Hội Ấn-Độ, mà là tài-liệu do tư-nhân và ngoại-nhân (Xem 31) thực-hiện.
        Những gì liên-quan đến các nhân-vật, tổ-chức, hay hành-động nào, trong bài-viết này, đều là nói về 2 thời-điểm 1960  1962 mà thôi. Sau đó, tôi tin là đã hoàn-thiện cả rồi.
                 

No comments: