Monday, September 15, 2014

VĂN HÓA XÃ HỘI VIỆT NAM

;


11 chiếc ấn rồng vàng tinh xảo của triều Nguyễn

(Dân trí) - Trong 143 năm tồn tại, triều Nguyễn có hơn 100 chiếc ấn, thường đúc bằng vàng ròng hoặc ngọc quý.
Tại chái đông điện Thái Hòa (Đại Nội Huế) vào ngày 18/5 đã diễn ra triển lãm “Phiên bản ấn vàng triều Nguyễn và văn bản hành chính”. Những chiếc ấn quý y như thật dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân đã cho người xem nhiều bất ngờ.

Trong 143 năm tồn tại, triều Nguyễn đã cho làm hơn 100 chiếc ấn, thường đúc bằng vàng, bạc (gọi là kim bảo), chế tác từ ngọc quý (gọi là ngọc tỷ). Dưới thời Nguyễn (1802-1945), thời Gia Long (1802-1820) có 12 chiếc, thời Minh Mạng (1820-1840) có đến 15 chiếc; thời Thiệu Trị (1841-1847) có 10 chiếc; thời Tự Đức (1848-1883) cũng có 15 chiếc, thời Kiến Phúc (1884) và Hàm Nghi (1885) đều chỉ có 1 chiếc; thời Đồng Khánh (1885-1888) có 5 chiếc; thời Thành Thái (1889-1907) có 10 chiếc; thời Khải Định (1916-1924) có 12 chiếc; và thời Bảo Đại (1925-1945) có 8 chiếc.


Các ấn rồng vàng phiên bản 1:1


Về cấu trúc và kiểu dáng, các bảo tỷ nói chung bao gồm 2 phần: thân ấn và quai ấn. Biểu tượng chủ yếu trên ấn là con rồng, chân có năm móng. Trong văn hoá phương Đông, đây là linh vật tượng trưng cho nhà vua, sự chính thống của ngôi vị và quyền lực.

Kim bảo, ngọc tỷ là những báu vật của quốc gia. Điều đáng tiếc là một số chiếc ấn có tính biểu tượng như chiếc ấn Hoàng đế chi bảo đã thất tán tại Cộng hòa Pháp, một số chiếc đã bị đánh cắp và tiêu hủy như chiếc ấn Nam Phương Hoàng hậu chi bảo. Nhưng hiện nay tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam vẫn còn giữ được 85 chiếc ấn bằng vàng, bằng ngọc, bằng bạc của triều Nguyễn.

Nhằm góp phần giúp du khách đến tham quan cố đô Huế ngày nay có cơ hội hình dung về một loại cổ vật đặc biệt, gắn liền với quá trình điều hành và quản lý nhà nước thời quân chủ, nghệ nhân Trần Độ từ làng gốm Bát Tràng đã bỏ công sức làm 11 phiên bản của từ các tiêu bản lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đó là 11 chiếc ấn làm bằng gốm, thếp vàng với tỷ lệ 1/1 y như thật.



Ấn Sắc mệnh chi bảo bằng vàng, nặng ~ 8,3 kg, đúc vào niên hiệu Minh Mạng thứ tám (1827). Sau khi đúc, ấn Sắc mệnh chi bảo được đóng vào các văn bản ban cấp cho văn võ, phong tặng cho thần dân.



Chiếc ấn thuộc dạng lớn nhất với con rồng rất tinh xảo và bệ vệ. Quai rồng cuộn ngồi xổm, đẩu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, chân 5 móng.


Ấn Văn lý mật sát bằng vàng 8 tuổi (nặng 6 lạng 9 phân), đúc vào niên hiệu Đồng Khánh nguyên niên (1886). Ấn này dùng để đóng dùng để đóng vào các chỉ dụ, sớ chương đã có tẩy xóa hoặc thêm vào hoặc những chỗ giáp nhau của hai tờ văn bản quan trọng.


Ấn Bảo Đại thần hàn, vàng 15 lạng, quai hình rồng bay, đầu ngẩng, há miệng, lưng cong vồng, đuôi xòe 5 dải hình ngọn lửa.


Ấn Tự Đức thần hàn bằng vàng (vàng 10 tuổi, 76 lạng, 6 tiền, 5 phân) đúc vào niên hiệu Tự Đức thứ nhất (1848). Đây là ấn của vua Tự Đức, dùng để đóng trên văn từ của vua viết bằng mực son (châu phê hoặc châu bút).Quai hình rồng chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau quỳ, đầu ngẩng, mũi cao, bờm dài, đuôi xoáy.


Ấn Từ Dũ Thái hoàng Thái hậu chi bảo đúc bằng vàng tuổi 8 năm rưỡi (nặng 86 lạng 4 tiền 8 phân), đúc vào niên hiệu Hàm Nghi nguyên niên (1885). Năm 1883, trong một di chiếu trước khi mất, vua Tự Đức đã tấn tôn Hoàng Thái hậu Từ Dũ là Thái Hoàng Thái hậu. Ấn này do vua Hàm Nghi chỉ thị đúc nhân tổ chức lễ tấn tôn cho Hoàng thái hậu Từ Dũ vào năm 1885. Ấn quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân chùn.


Ấn Từ Minh Huệ hoàng hậu chi bảo bằng bạc mạ vàng, quai hình rồng chạy, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi xòe 5 dải hình ngọn lửa, 4 chân nghiêng



Ấn Hoằng Tông Tuyên hoàng đế chi bảo bằng vàng. Quai rồng tư thế chạy, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi xoắn, sừng bờm vây lưng dài, 4 chân 5 móng tư thế đứng.



Ấn Thánh Tổ Nhân hoàng đế chi bảo bằng vàng đúc vào niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841). Ấn này do vua Thiệu Trị chỉ thị đúc, Thánh Tổ Nhân hoàng đế là miếu hiệu của vua Minh Mạng, ấn này dùng để thờ trong Thế Miếu. Làm bằng vàng 8 tuổi rưỡi, nặng 111 lạng 5 tiền 4 phân. Quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng, đuôi xoáy 6 dải nhọn, chân 5 móng.


Ấn Giản Tông Nghị hoàng đế chi bảo bằng vàng đúc vào niên hiệu Kiến Phúc nguyên niên (1883). Sau khi vua Kiến Phúc băng hà, vua Hàm Nghi chỉ thị đúc ấn này để dâng miếu hiệu, Giản Tông Nghị hoàng đế là miếu hiệu của vua Kiến Phúc, ấn này dùng để thờ trong Thế Miếu. Làm bằng vàng 8 tuổi, nặng 49 lạng 5 tiền 1 phân. Rồng đầu ngẩng, miệng ngậm ngọc, lưng cong, đuôi cuốn, 4 chân chùn.


Ấn Cảnh Tông Thuần hoàng đế chi bảo bằng vàng, đúc vào niên hiệu Thành Thái thứ nhất (1889). Ấn này do vua Thành Thái chỉ thị đúc, Cảnh Tông Thuần hoàng đế là miếu hiệu của vua Đồng Khánh, ấn này dùng để thờ trong Thế Miếu. Quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, mũi cao, sừng và râu dài, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân đứng thăng bằng.



Ấn rất quan trọng là Quốc gia tín bảo bằng vàng đúc vào niên hiệu Gia Long thứ nhất (1802). Ấn này dùng để đóng trên các văn kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh lính, trưng binh nhập ngũ cùng một số văn kiện quan trọng khác. Quai hình rồng đứng, đầu quay lại, lưng cong, đuôi cụp lại.


Chiếc ấn này có hình dáng rất đẹp


Sắc phong thời Bảo Đại được đóng bởi ấn vàng dấu đỏ


Hoa Si Viet Nam

Sept. 2014 - Trang Bia

August 2014 - Trang Bia

July 2014 - Trang Bia

Trang Bia - June 2014

May 2014 Trang Bia

April - 2014

March 2014 - Trang Bia

 

Feb 2014 trang bia

 

Jan 2014 - Trang Bia

 

Dec 2013 - Trang Bia

Trang bia - November 2013

Sep - 2013 Trang Bia

August 2013 - Trang Bia

July 2013 Trang Bia

June 2013 - Trang Bia

April 2013 - Trang Bia

March 2013 - Trang Bia

February 2013 - Trang Bia

January 2013 - Trang Bia

December 2012 - Trang Bia

Trang Bia - November 2012

Trang Bia - October 2012

Sept. 2012 Trang Bia

August 2012 - Trang Bia

Trang Bia - June 2012

Trang Bìa May - 2012

 

Trang Bia April / 2012

March - 2012 Trang Bia

Trang Bia - Feb. 15 - 2012

Trang Bia - Jan 15- 2012

Trang Bia - Dec - 15-2011

Trang bia - September 15-2011

Trang Bia - August 15-2011

Trang Bia June - 15 - 2011

Trang Bia May - 15 - 2011

Trang Bia April 15-2011

Trang Bia March - 15 - 2011

Trang Bia February - 15 - 2011

Trang Bia Januay 15-2011

Trang Bia December - 1- 2010

Trang Bia Noveber - 15- 2010

Trang Bia November - 1- 2010

Trang Bia October - 15- 2010

Trang Bia October 1-2010

Trang Bia September - 15- 2010

Trang Bia September - 1- 2010

Trang Bia August - 15 - 2010

Trang Bia August - 1- 2010

Trang Bia July - 15- 2010

Trang Bia July - 1- 2010

Trang Bia June - 15 - 2010

Trang Bia June - 1- 2010

Trang Bia May - 15- 2010

Trang Bia May - 1- 2010

Trang Bia April - 15- 2010

Trang Bia April - 1- 2010

Trang Bia March - 15- 2010

Trang Bia March - 1-2010

Trang Bia February- 15-2010

Trang Bia February- 1-2010

Trang Bia January 15-2010

Trang Bia January 1-2010

Trang Bia December 15-2009

Trang Bia December 1-2009

Trang Bia November 15-09

Trang Bia October 15-09

Trang Bia October 1-2009

Trang Bia September 15-2009

Trang Bia Sept. 1-2009

Trang Bia August 15-2009

Trang Bia August 1-2009

Trang Bia July 15-2009

Trang Bia July 1-2009

Trang Bia June 15-2009

Trang Bia June 1-2009

Trang Bia May 15-2009

Trang Bia May 1-2009

Trang Bia April 15-2009

Trang Bia April 1-2009

Trang Bia March 15-2009

Trang Bia Jan. 1-2009

Trang Bia Dec. 1-2008

Thiep Moi Trien Lam Houston Oct. 10-08

2008 - ViVi Trien Lam Tranh NUDE

Dia Chi Lien Lac

www.hoasivietnam.com
PO Box 2626
Spring Valley, CA 91979
Email: hoasivietnam@gmail.com


 Tiệm sách Phật học miễn phí ở Sài Gòn
***


3h chiều, tiệm sách Phật học của ông Nguyễn Ngọc Cần râm ran tiếng nói cười, người đến mượn, trả sách, sao chép đĩa kinh, có người ngồi bên ly trà nghe chuyện Phật pháp.

Tiệm sách nhỏ tọa lạc ở đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh, cho đọc và mượn sách Phật miễn phí, không cần giấy tờ biên nhận, không thế tiền. Nhiều khách tới tiệm thắc mắc “Chú không sợ mất hoặc người mượn cố tình không trả thì sao?”. Chủ tiệm cười rất tươi bảo : “Không sao, vô thường mà. Nhất là số sách này tôi đã chọn lọc kỹ, nếu có lỡ mất thì cũng truyền tay được nhiều người khác, tôi chỉ mong có nhiều người đọc càng tốt”.

Ông Cần năm nay 57 tuổi, quê Long An, một người mê sách, mê triết lý đạo Phật. 5 năm trước, ý tưởng lập một nhà sách chuyên sách Phật pháp nhen nhóm khi ông muốn chia sẻ nguồn sách Phật chính thống xuất phát từ thực tế: "Nhiều người muốn tu tập nhưng tìm sai nguồn dẫn đến lãng phí thời gian".


Số tiền dành dụm tuổi già được ông Cần đầu tư vào tiệm sách, săn sóc tiệm như đứa con tinh thần. Ông Cần bảo: “Tiệm sách là niềm vui tuổi già, giúp tôi gặp được nhiều người, chia sẻ được với nhiều người”.


Ông Nguyễn Ngọc Cần mở tiệm sách vì niềm đam mê dành cho sách và Phật học.
Ảnh: Hồng Vân.

Để có nguồn sách hay và quý, ông Cần chăm chỉ đi tìm và cẩn trọng chọn lựa. “Sách nhiều vô kể, khó ở khâu tỉnh táo chọn được sách tốt giữa một rừng sách bạt ngàn". Từ 5 năm nay, hễ nghe đâu có nguồn sách phù hợp, ông Cần không quản đường xa tìm đến thu thập. Vì thế, tiệm sách ngày một lớn hơn cả về số lượng và chất lượng so với những ngày đầu.

Ngoài nguồn sách Phật học, sách văn học của các tác giả uy tín, kinh điển, sách dạy kỹ năng sống được ông chọn lựa kỹ càng và bán với giá giảm 30% giá bìa. Ông giải thích: “Mình có lợi thế là mặt bằng của nhà, không thuê nên bán giá ưu đãi để nhiều người có cơ hội tiếp cận và mua được sách hay”.

Diện tích tầng trệt của căn nhà được trưng dụng làm quầy sách có diện tích khá khiêm tốn, bề ngang vỏn vẹn 3 m2, nhưng người chủ đã rất khéo đóng các kệ để xếp và trưng bày sách dọc theo cầu thang. Hơn 3.000 cuốn sách các loại được trưng bày theo đề mục, tiện lợi cho việc tìm kiếm.

Người đến mượn sách, đọc sách được mời trà và kẹo đậu phộng miễn phí bên những chiếc bàn tre kê thấp. “Bên chén trà, mọi người thoải mái trao đổi chuyện Phật pháp, ngồi thiền và chia sẻ những cuốn sách hay, thân thiết như trong một gia đình lớn”, chị Trương Thúy Hà là khách quen từ hơn một năm nay nói.

Ông Lê Anh Nguyên, 67 tuổi, quận Hóc Môn, TP HCM, vượt một quãng đường xa 30 cây số đến với tiệm sách. Đều đặn nửa tháng một lần ông nhờ con trai chở đến tiệm, mượn sách, sao đĩa về đạo Phật. Ông Nguyên nói: "Bên ngoài đường có tấp nập thế nào, bước vào tiệm sách tự nhiên rũ bỏ hết bon chen, thấy tĩnh tâm, đây là nơi chốn lý tưởng để tìm về với sách''.

Ông Cần mang pháp danh Tuệ Trung, mỗi buổi sáng đều đến công tác tại hội người mù quận Bình Thạnh. Ở trung tâm chỉ có ông sáng mắt nên công việc nơi đây bận bịu và những người khiếm thị rất cần ông. Do vậy quầy sách chỉ mở vào buổi chiều, từ 15h đến 22h mỗi ngày.



Tiệm sách là nơi gắn kết nhiều bạn đọc trong sở thích chung về đạo Phật.
Ảnh: Hồng Vân.


Mong muốn của ông Cần là phổ biến Phật pháp đến càng nhiều người, để những lời dạy của đức Phật được lan truyền rộng hơn. "Tôi mới biết đến đạo Phật 6 năm và cảm nhận triết lý Phật pháp đem đến sự nhẹ nhàng, thanh thản cho tâm hồn trong nhịp sống tất bật hôm nay".
Khánh Ly - Hồng Vân

                                                          BÁNH TRÁNG XỐT ME

Người Sài Gòn hoàn toàn có quyền tự hào về món bánh tráng xốt me bơ vì dù chỉ là thức ăn vặt, nhưng nước xốt của bánh cũng đủ tinh tế để làm say lòng người. 


 

Chúng tôi tìm đến ngôi nhà số 25, nằm nép mình trong con hẻm nhỏ ở quận 4 (TP.HCM). Trước mái hiên, tấm biển vỏn vẹn dòng chữ: “Bánh tráng cuốn - trộn dì Hồng”. Được biết, đây là quán bán bánh tráng xốt me bơ đầu tiên ở Sài Gòn. Quán mở được 5 năm, bán từ 11 giờ đến 23 giờ mỗi ngày. Khách hàng chủ yếu là học sinh, sinh viên.

Đúng với tên gọi, món ăn đặc biệt này gồm hai phần: bánh tráng cuốn và xốt me bơ. Mọi công đoạn từ việc đi chợ, chế biến nguyên liệu cho đến pha nước xốt đều do ông Tám, chủ quán thực hiện. Mỗi ngày, hai cô cháu gái sẽ phụ trách việc cuốn bánh - phần đơn giản nhất của món ăn.

Đầu tiên, bánh tráng mỏng sẽ được làm ướt bằng một tí nước. Sau đó, lần lượt các nguyên liệu: hành phi, khô bò, trứng cút, ruốc khô, đậu phộng sẽ được cho vào làm nhân. Bánh được cuốn tròn lại có kích thước lớn hơn ngón tay cái.






Nguyên liệu bên trong rất hấp dẫn - Ảnh: Hồng Trâm Cái hồn của món ăn này chính là ở nước xốt. Là người gốc Sài Gòn, ông Tám chia sẻ: “Tôi đã đi nhiều nơi, cũng đã từng nếm thử nhiều món từ bò bía, bánh tráng cuốn, bánh tráng trộn… Bởi vậy, tôi mới quyết tâm chế biến loại nước xốt đặc biệt để tạo nên vị đặc trưng cho món ăn của mình”.Không ai ngoài ông Tám được biết thành phần chính và công thức chế tạo thứ nước xốt đặc biệt này. Chỉ biết, khi khách ăn bánh, chủ quán sẽ cho nước xốt vào một hũ nhỏ để chấm kèm. Nước xốt có màu vàng óng và sánh sệt tựa như mật ong. Rồi có cả màu đỏ của ớt xay nhuyễn, hành phi màu nâu kết hợp với sắc trắng của mayonnaise. Mới chỉ nhìn thôi, thực khách cũng đã cảm thấy hấp dẫn.

Cắn vào một miếng, bao nhiêu vị chua, ngọt, cay, mặn… đọng lại ngay đầu lưỡi. Đầu tiên là vị dai của bánh tráng, vị mặn, thơm của trứng, khô bò và ruốc khô. Bạn cũng sẽ thấy mùi thơm của đậu phộng và hành phi. Đâu đó phảng phất cái cay nồng của ớt, mùi hăng tự nhiên của rau răm và vị chua dễ chịu của mayonnaise. Cuối cùng, vị thơm béo của bơ sẽ khiến bạn chỉ muốn nuốt nhanh để còn cắn thêm miếng nữa.




Nước xốt sánh vàng tựa mật ong - Ảnh: Hồng Trâm

Bấy nhiêu vị ở trên cũng đã là quá đủ để tạo nên sức hấp dẫn cho một món ăn vặt bình thường. Thế nhưng, bánh tráng xốt me bơ còn có những điều đặc biệt. Bạn có thể cảm nhận rất rõ vị chua thanh của tắc và xí muội, một chút cay nồng của gừng cộng thêm hương sả và lá chanh xay nhuyễn,… tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên một loại nước xốt tròn vị tuyệt hảo.

Ông Tám cho biết: “Để nước xốt ngon, tôi phải đặt người ta làm hành phi riêng. Còn nước xốt, quan trọng nhất là phải canh lửa thật khéo để tạo sự sánh sệt cần thiết”.

Với giá chỉ 1.500 đồng/cuốn, bánh tráng xốt me bơ làm say lòng ngay cả những thực khách khó tính nhất bởi nét tinh tế ẩn đằng sau sự giản đơn.

Hồng Trâm




CƯỚI VỢ NGƯỜI DAO

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao

Chú rể Tiberghien Frédo (tên Việt Nam là Bình), có quốc tịch Pháp, trong ngày tổ chức lễ cưới. Anh mặc trang phục người Dao và chuẩn bị tiến hành nghi lễ cưới theo phong tục dân tộc.

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Phu nhân của anh là một cô gái sinh năm 1990, người dân tộc Dao, quê ở thôn Đồng Chằm, xã Vũ Linh, huyện Yên Bình (Yên Bái).


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Tiberghien Frédo hiện sống và làm việc tại một khu sinh thái thuộc Yên Bình, nhờ đó anh đã quen và yêu cô gái người Dao tên Lý Kiều Xuân.


Đám cưới 3 ngày của ông Tây  với cô vợ trẻ người Dao

Lễ cưới truyền thống được diễn ra trong 3 ngày 2 đêm. Trước khi tổ chức cả nhà trai và nhà gái đã phải chuẩn bị lương thực, thực phẩm, đồ lễ và ông Mờ, bà Mờ…

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Frédo khi ra khỏi nhà phải đội một chiếc nón mới mang ý nghĩa che chở, bảo vệ cho chú rể trong suốt chặng đường. Khi đến nơi, đoàn nhà trai không được vào nhà gái ngay mà phải vào nghỉ tại nhà ông đi hỏi cho đến 17h chiều (theo người Dao thì đó là giờ đẹp) sau đó mới bắt đầu đi từ đó sang nhà gái.

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao


Trước khi sang nhà gái, nhà trai cử một đoàn đi đón dâu với số lượng bắt buộc là 11 người trong đó có trưởng đoàn, chủ hôn, chú rể, phù rể và các nam thanh niên trẻ, khỏe có tài hát đối đáp. y của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao"


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao


Chú rể mang sang nhà gái lễ vật gồm một vòng tay bằng bạc, trầu cau, muối, chè, bánh dày, hai bó miến, rượu, 8 con cá được cắt bằng giấy. Frédo cũng chùm lên đầu chiếc áo vàng (Gúy vằng) tượng trưng cho những cánh long, phượng che chở. Sau khi xong thủ tục, chú rể mới được bước lên nhà và phải đưa chân trái vào đầu tiên để thầy cúng làm phép rửa chân. 






Cô dâu Lý Kiều Xuân, mới 24 tuổi. Ở bản cô được coi là lấy chồng muộn. Người phụ nữ Dao này từng tốt nghiệp Cao đẳng Du lịch, trong quá trình làm việc về ngành đã quen và yêu anh chàng người Pháp hơn mình hai giáp. 


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao

Khi đoàn đón dâu đến chân cầu thang, nhà gái có các cô gái là bạn bè của cô dâu chặn lối để hát đối đáp. Ý của nhà gái nói với đoàn nhà trai là muốn lên nhà thì phải bước qua con dao (mang ý nghĩa là vượt qua mọi chông gai) và uống một ít rượu. Đây là lúc các chàng phù rể phải tìm được những câu hát thật hay để các cô gái mời lên nhà. Trên cầu thang nhà gái lúc này đã có sẵn một mâm lễ vật gồm một khăn mặt, chiếc cân và hai bát nước.

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao

Người Dao xưa có quan niệm, khi đi lấy chồng thì cô dâu không được để hở mặt ra bởi như thế sẽ mất vía và cô dâu sẽ không gặp may trong suốt cuộc đời.


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ   người Dao

Tuy nhiên, tại đám cưới của chàng trai Pháp có nhiều cởi mở hơn, lược bỏ khá nhiều phong tục cũ, cô dâu được rước về mà không phải dùng khăn phủ kín đầu và mặt.

 Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Theo phong tục của người Dao thì dù xa hay gần, khi sang đến nhà trai, đoàn nhà gái cũng phải nghỉ lại ở đâu đó rồi đến giờ hoàng đạo (thường là vào khoảng 18h chiều) cô dâu mới được lên nhà trai.

Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Về đến nhà trai, một phù rể ra cầm tay áo của cô dâu dẫn lên cầu thang bởi chú rể không được ra đón và cũng không được nhìn mặt cô dâu cho đến khi các nghi lễ lạy tạ tổ tiên được thực hiện xong.


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao


Thầy cúng đã chờ sẵn ở cửa và làm phép rửa chân cho cô dâu. Bước chân đầu tiên vào nhà chồng cô dâu phải bước chân phải. Họ cho rằng, có như vậy mới tránh được những điều rủi ro, cô dâu và chú rể mới sống hạnh phúc trăm năm.


Đám cưới 3 ngày của ông Tây với cô vợ trẻ người Dao 
Những người đến dự đều chúc mừng hạnh phúc cho cô dâu, chú rể, tạo nên không khí vui tươi của cả bản làng. Được biết, sau khi cưới vợ được ít ngày, chàng trai người Pháp này sẽ nhập quốc tịch Việt Nam và sống cùng vợ hẳn đến cuối đời tại mảnh đất Yên Bái của Việt Nam. 

Vài nét về chú rể Tiberghien Frédo:


Sinh ra ở Paris, mang trong mình hai dòng máu Pháp và Việt, khi còn trẻ, Frédo là làm nghề chăm sóc, thuần dưỡng ngựa đua và thợ mộc. Nghe mẹ kể nhiều về Việt Nam, anh luôn ấp ủ một ngày được đặt chân tới.
Và đến năm 1994, giấc mơ của anh trở thành hiện thực. Điểm đặt chân đầu tiên của Frédo là Hà Nội. Suốt những ngày lang thang ở các con ngõ tối om, sâu hun hút của phố cổ, anh thấy cuộc sống nơi đây thân thương như thể mình đã gắn bó từ lâu lắm.Trước đó, Frédo từng sống hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ ven bờ sông Seine thơ mộng nhưng bỗng trở thành kẻ mồ côi vì cha mẹ mất trong một vụ tai nạn. Từ đó, anh sống với bà ngoại và cùng bà đi chu du khắp nước Pháp.Sau những năm dài vòng quanh nước Pháp, anh cùng bà quay về sống ở một nông trại miền Tây. Hàng ngày, Frédo thường rong thuyền trên sông và thả mình vào bầu không khí trong lành, mát rượi. Nhưng tuổi thơ của anh đã trôi qua không êm đềm. Kinh tế gia đình trở nên kém đi vì dịch bệnh cướp mất đàn gia súc, nguồn thu chính của gia đình. Anh buộc phải thôi học để giúp đỡ bà ngoại cùng các anh em của mình chăm lo cuộc sống. 


Tại Hà Nội, Frédo thuê một căn phòng nhỏ nằm bên bờ sông Hồng đoạn qua quận Long Biên (Hà Nội), thêm tiền chi phí cho một khóa học tiếng Việt và tiền mua một chiếc xe máy cũ 5 triệu đồng.Anh đã đi khắp các tỉnh phía Bắc, đến những khu du lịch hoặc những nơi hoang sơ phong cảnh hữu tình... Lúc hết tiền, Frédo nghĩ đến những lần đi du lịch bụi và nảy sinh định làm du lịch để kiếm tiền sinh sống. Anh đã in những mẩu quảng cáo du lịch bụi lên một mảnh giấy và dán những nơi khách nước ngoài thường qua lại. Trong đó anh viết mấy thứ tiếng Việt, Pháp, Anh... Nếu ai có nhu cầu du lịch Việt Nam thì cứ gọi điện thoại cho anh.


Những người nước ngoài khi đến Việt Nam đọc được tờ giấy quảng cáo liền gọi cho Frédo. Mỗi chuyến chở khách du lịch phượt như vậy anh lại thu về vài trăm nghìn đồng đến vài triệu đồng.Thời gian về sau anh xin giấy phép mở một công ty du lịch mang tên Lavie Vu Linh, chuyên tổ chức những chuyến tham quan cho khách du lịch trong và ngoài nước. Năm nay đã gần 50 tuổi và 20 năm lang bạt chưa trở lại Pháp. Frédo bảo, mảnh đất này đã là máu thịt của anh. Với việc vừa cưới được cô vợ người Dao, người đàn ông 48 tuổi sẽ chuyên tâm vào làm ăn và gắn bó với cuộc sống bình yên ở vùng núi rừng Việt Nam
 

Y PHỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ



Trong số các dân tộc, người Cơ Tu có lẽ có trang phục độc đáo, nguyên thủy nhất với việc đàn ông mặc khố, hoặc tấm choàng vỏ cây.



Một bộ trang phục cổ truyền của phụ nữ H'mông gồm váy hình nón cụt, xếp nếp, phần mông bó chặt, phần thân váy xòe rộng. Áo có cổ lật ra phía sau gáy. Thắt lưng buông hai dải dài phía sau. Tấm vải che đằng trước váy. Vuông vải che ở phía mông. Khăn quấn đầu. Xà cạp và tấm áo khoác ngoài không có tay, có cổ lật ra phía sau gáy. Hầu hết các họa tiết được thêu, vẽ, chắp vải trên nền vải lanh trắng hoặc vải đỏ, có định hình sẵn là các bộ phận của áo, váy.




Phụ nữ H'mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực. Phụ nữ H'mông Trắng váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau, đội khăn rộng vành. Phụ nữ H'mông Xanh mặc váy ống, nếu đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.




Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: áo, yếm, xà cạp, cùng đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu... Trong bộ y phục của phụ nữ quan trọng nhất là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối. Cổ áo được thiết kế theo hình chữ V có thêu hoa văn. Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáo của chiếc áo là những nét hoa văn được thêu ở phần đuôi áo.



Duy nhất trong cộng đồng người Dao chỉ có người Dao Tiền là mặc váy. Người Dao Tiền rất tự hào về điều đó. Trong trang phục của người Dao Tiền, sự gắn kết giữa trang sức với áo, váy là một nguyên tắc không thể thiếu. Những hạt cườm, hay đồng bạc trắng hay kim loại dùng làm các khuy có đường kính từ 6 đến 7cm, đỉnh nổi bật ở trên áo chàm. Ước tính cả bộ trang sức có khi nặng tới vài kg nhưng không ai nề hà, ngược lại, họ rất thích thú và coi đây là nét riêng, độc đáo.



Nhìn chung người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm nên trang phục của họ màu chủ đạo là màu chàm. Phụ nữ thường chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân có thắt lưng, đeo vòng cổ, tay, chân bằng bạc. Thắt lưng của phụ nữ Tày là những tấm vải chàm hay đũi dài khoảng hai sải tay làm tăng thêm vẻ duyên dáng. Trên trang phục nam và nữ người Tày, hầu như không có hoa văn trang trí.



Từ trước tới nay, trang phục của người dân tộc Thái có lẽ được ca ngợi nhiều nhất bởi sự đơn giản, duyên dáng và tinh tế, thanh lịch. Một bộ trang phục truyền thống phụ nữ Thái gồm: áo ngắn, áo dài, váy, thắt lưng, khăn piêu, nón, xà cạp, các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích. Khăn Piêu là vật dụng không thể thiếu của các cô gái Thái mỗi khi đi ra đường hay trong các dịp hội hè. Chiếc khăn piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, thể hiện sự khéo léo của chủ nhân.



Các nhóm người Thái như Thái Đen, Thái trắng đều có nhiều điểm chung trong trang phục hằng ngày nhưng trong đó vẫn nổi bật bản sắc riêng. Phụ nữ Thái Đen thường mặc áo dài xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu kiểu dáng hơn Thái Trắng.



Bộ y phục của người Nùng được cắt may từ vải đen nhuộm chàm, phần lớn chúng không có nhiều hoa văn và đường nét. Cả nam và nữ đều mặc một loại quần cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân. Phụ nữ Nùng mặc áo năm thân màu chàm, áo ngắn đủ che mông, áo được may rất rộng cả phần thân và tay, giúp cho cử động được thoải mái. Chiếc áo của phụ nữ Nùng thông thường được trang trí bằng cách thêm miếng vải khác màu vào cổ tay áo và phía trước ngực, thông thường là vải đen đắp lên áo chàm.




Trong trang phục phụ nữ Mường, họ thường mặc áo ngắn (gọi là pắn) với váy . Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn áo cánh của người Kinh, ống tay dài. Trước kia, áo pắn chỉ có hai màu nâu và trắng nhưng nay, phong phú hơn với đủ loại màu sắc.
Váy của phụ nữ Mường là váy đen dài, đầu váy được trang trí bằng những hoa văn thổ cẩm nổi bật do người con gái Mường tự dệt nên. Chiếc váy còn rất ấn tượng khi cạp váy ôm sát thân, cạp hoa phô trước ngực, thắt lưng xanh, tấm khăn trắng đội đầu và vòng kiềng sáng lóng lánh, tạo nên sự duyên dáng và khéo léo của phụ nữ Mường.


Trong xã hội của người Chăm, mỗi tầng lớp, mỗi chức sắc đều có y phục riêng. Chính vì vậy mà y phục Chăm phong phú và đa dạng. Trong đó, đặc sắc nhất phải nói đến chiếc áo dài của phụ nữ Chăm. Nét đẹp áo dài Chăm kín đáo, kiêu sa. Chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Chăm là áo dài không xẻ tà, mặc chui đầu. Cổ áo thường có hình tròn hoặc hình trái tim. Ở hai bên hông áo có một đường mở ngay eo hông, có hàng khuy bấm hoặc nút dính, khi mặc bó sát eo hông.


Dân tộc có trang phục độc đáo nhất có lẽ phải kể đến người Cơ Tu. Đã có một thời gian rất dài trước đây, người Cơ Tu vùng núi Quảng Nam đã dùng các loại vỏ cây sẵn có trong thiên nhiên để làm vật dụng che thân như tấm choàng, váy, áo... Đến nay, những trang phục độc đáo này vẫn còn xuất hiện trong sinh hoạt hàng ngày, lễ hội của người Cơ Tu tại những xã vùng cao huyện Tây Giang (Quảng Nam)


Trang phục hiện đại của người Cơ Tu vẫn còn ẩn chứa nhiều nét hoang dã của một cư dân sống trên vùng Trường Sơn. Đàn ông hiện vẫn mặc khố. Chiếc khố của đàn ông được bố trí các hoạ tiết đường nét hoa văn thành từng mảng lớn. Với họ, trang phục là cội rễ để hình thành nên một bản sắc văn hoá riêng - Văn hoá Cơ Tu.

Chợ na Lạng Sơn

***
Hoạt động mua bán diễn ra sôi động mỗi buổi sáng tại chợ Đồng Bành (Chi Lăng, Lạng Sơn) - nơi được coi là chợ na lớn nhất miền Bắc.

Chợ Đồng Bành những ngày này tấp nập cảnh mua bán mỗi sáng.
Hàng nghìn người trồng na từ Chi Lăng, Hữu Lũng, Cai Kinh, Hòa Lộc... mang quả thu hoạch được tập trung về đây, tạo nên một khu chợ na kéo dài hơn 1 km bên Quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Chi Lăng.

Từ sáng sớm tới trưa, những chiếc xe ba gác chất đầy na từ Quốc lộ 1A liên tục rẽ vào chợ.

Người bán na tại chợ Đồng Bành đa phần là phụ nữ. Mỗi người thường gánh theo hai thúng nặng khoảng 40kg, bán trong buổi sáng.
Giá na loại thường dao động khoảng 20.000-30.000 đồng mỗi kg. Loại quả to đẹp có giá cao hơn, khoảng 40.000-50.000 đồng.

Chị Son (35 tuổi, ở thị trấn Chi Lăng) cho biết năm nay vườn na nhà chị được ít quả hơn năm ngoái, những bù lại quả to đẹp nên dễ bán.

Na Đồng Bành thơm, ngọt đậm và ít có vị chua vì được trồng trên núi đá. Người dân cho biết, năng suất mùa này thấp hơn năm trước. Nhưng do vùng trồng mở rộng nên sản lượng vẫn tăng cao, khiến giá rẻ hơn.

Quả na mà bà Nguyễn Thị Tị, 58 tuổi đang giới thiệu ở chợ Đồng Bành được gọi là na đầu, bán với giá rất cao, khoảng 70.000-80.000 đồng mỗi kg, dù vị ngon không khác biệt nhiều so với những quả na khác.

Để hái được na, người dân phải mất hàng giờ leo núi đá. Thời gian này đang là mùa mưa khiến cho việc thu hoạch càng thêm vất vả.
Sau hơn một giờ đi bộ từ nhà ở thị trấn Chi Lăng lên nương, chị Hà Thị Hiên, 36 tuổi, bắt tay vào hái na cho đến khi đầy hai sọt (khoảng 40kg) mang về nhà trước khi trời tối.

Việc gánh na xuống núi còn khó khăn hơn nhiều. Chị Đỗ Thị Nuôi (41 tuổi, ở thôn Minh Hõa, Chi Lăng) cố giữ thăng bằng, lần từng nước trên lối mòn dọc theo dốc đá dựng đứng.
Gần một tháng nay, ngày nào chị Nuôi cũng hai lần lên núi hái na để mang ra chợ bán. Trong năm, chị cũng phải vào núi chăm na, thường xuyên tới mức thuộc từng hốc đá trên lối mòn.


Na tại chợ Đồng Bành được lái buôn từ khắp các tỉnh miền Bắc về tận nơi thu mua từ từng người bán rồi mang ra điểm tập kết đóng hàng chuyển đi.

Bà Nguyễn Thị Nhị (60 tuổi, ở Từ Sơn, Bắc Ninh) đã lên Đồng Bành từ rất sớm để chọn mua được na đẹp mang về bán ở chợ gần nhà.
"Na Đồng Bành nổi tiếng thơm ngon nên mang về bán chạy. Cứ hai ngày tôi lại lên đây lấy hàng mới về bán", bác Nhị cho biết.


Na Đồng Bành được đóng vào các thùng xốp có lót lá xanh, giấy báo cẩn thận, rồi được chất lên xe tải để chuyển đi các tỉnh khắp miền Bắc.
Quả na sau khi hái chín rất nhanh, có khi chỉ vài giờ đã chín mềm, nên không thể mang đi các tỉnh quá xa.

Phút nghỉ ngơi của anh Vi Văn Hải (44 tuổi, ở thị trấn Chi Lăng) sau một buổi sáng mệt nhoài với na.
Anh dậy từ 4h sáng lên nương na trên núi hái tổng cộng 1,8 tạ quả mang xuống chợ bán. "Cũng may là bán hết nhanh, nên vất vả chút vẫn vui", anh Hải chia sẻ.

No comments: