Friday, September 19, 2014

TIN THẾ GIỚI

 

Scotland : Phe nói « không » với độc lập chiến thắng

media 
Phe nói "không" với độc lập vui mừng thắng lợi trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 18/09/2014REUTERS/Dylan Martinez
Theo kết quả chính thức công bố sáng nay 19/09/2014 sau khi toàn bộ phiếu bầu tại 32 đơn vị bầu cử tại Scotland được kiểm xong, phe không đòi độc lập thắng với 55,3% số phiếu trong lúc phe đòi độc lập chỉ giành được 44,70%. Scotland như vậy đã quyết định không « chia tay » với người láng giềng phía Nam Anh Quốc trong một cuộc trưng cầu dân ý với tỷ lệ tham gia đạt mức kỷ lục 84,6% trên tổng số 4 triệu cử tri.
Giới phân tích đã ghi nhận một số nét đặc biệt là các thành phố và các vùng hầu như ‘kình nhau’. Nếu tại thủ phủ Edimbourg, phe không muốn độc lập thắng với 61% số phiếu thì tại thành phố đông dân cư nhất Scotland, Glasgow, phe đòi độc lập lại thắng với 53,3%.
Tại Aberdeen, thành phố lớn thứ 3 của Sclotland thì phe ‘không’ cũng thắng với 58,6%. Thủ tướng Scotland Alex Salmond chủ trương độc lập đã không tiếc công sức vận động và đã đi bỏ phiếu tại đây vào hôm qua.
Tuy nhiên, dù bị thất vọng, nhưng phe muốn độc lập cũng được an ủi : họ đã giành được từ các đảng lớn chiếm đa số ở Nghị viện Vương Quốc Anh lời hứa dành cho Scotland quyền tự trị tài chính rộng lớn hơn. Một nhà quan sát cho là rốt cuộc thất bại của phe muốn độc lập chỉ là thất bại nửa vời, vì Scotland sẽ có được những quyền hạn mới.

Ngay sau khi kết quả được công bố Thủ tướng Anh David Cameron cho biết sẽ tăng thêm quyền hạn cho Scotland cùng 3 vùng khác của vương Quốc. Ông đã cam kết cải tổ Hiến pháp sâu rộng sau cuộc trưng cầu dân ý ở Scotland, để nhanh chóng trao thêm quyền hạn rộng lớn hơn cho cả 4 vùng của Vương Quốc Anh : Scotland, Anh, Wales và Bắc Ireland, đặc biệt là trong lãnh vực thuế, ngân sách và hệ thống bảo hiểm xã hội.

Thủ tướng Anh xác định rằng cho là ông đã « nghe thấy » nguyện vọng của người Scotland.
Phản ứng trước kết quả cuộc trưng cầu dân ý về nền độc lập của Scotland, Chủ tịch Nghị viện Châu Âu Martin Schulz cho biết là ông cảm thấy « nhẹ nhõm » và đánh giá rằng đó là một tiến trình dân chủ ở Vương Quốc Anh, cuộc trưng cầu ở Scotland đã đuợc Luân Đôn công nhận.
Theo ông Schulz, nếu Scotland được quyền tự quyết rộng lớn hơn trên các mặt kinh tế, tài chính và vẫn đứng trong Vương quốc, sự kiện đó có thể làm gương cho các vùng khác ở Châu Âu, như Tây Ban Nha chẳng hạn.
http://vi.rfi.fr/quoc-te/20140919-trung-cau-dan-y-scotland-doc-lap/

Phim ca ngợi Tướng Giáp hủy chiếu 'vì ế'

Cập nhật: 10:08 GMT - thứ sáu, 19 tháng 9, 2014

Poster phim 'Sống cùng lịch sử'
Một bộ phim được thực hiện để ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nhà nước Việt Nam đầu tư đến 21 tỷ đồng đã phải ngưng chiếu vì không bán được vé.
Bộ phim 'Sống cùng lịch sử' của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân có nội dung nói về ba thanh niên trẻ tình cờ 'mơ thấy' mình hóa thân thành những công binh kéo pháo, đào hầm của quân đội Bắc Việt trong cuộc chiến 56 ngày đêm, theo báo điện tử VnExpress.
Tuy nhiên, tại Hà Nội, hai rạp phim duy nhất công chiếu phim này từ hôm 2/9 là Trung tâm Chiếu phim Quốc gia và rạp Kim Đồng đã phải hủy các buổi chiếu vì "số lượng khán giả tới xem chỉ từ 2 đến 3 người", báo này cho biết thêm.
BBC Tiếng Việt đã liên hệ với đạo diễn Nguyễn Thanh Vân hôm 19/09, tuy nhiên ông nói chưa tiện trả lời trong thời điểm này, do cảm thấy "khá mệt mỏi".
Khi BBC yêu cầu được nói chuyện với nhà sản xuất hoặc phát ngôn viên đại diện, đạo diễn cho biết đoàn làm phim đã "tản mát" mỗi người một nơi, "rất khó gọi".
Trong một bài viết hồi tháng 6, báo Nhân Dân cho biết 'Sống cùng lịch sử' có đoàn làm phim thường trực 92 người, lúc cao điểm lên đến gần 300 người, được quay tại Hòa Bình, bản Then, dãy núi Tà Phì Láng, Phìn Hồ, và các địa điểm lịch sử khác ở thành phố Điện Biên.
Bộ phim có những cảnh tái hiện lại "những cái chết xả thân anh dũng của Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn" dù không nêu rõ tên các nhân vật này, báo này cho biết.
Cũng theo Nhân Dân, trong phim còn có cảnh "ba bạn trẻ hòa vào dòng người xếp hàng đi qua quảng trường Lăng Bác để đến ngôi nhà 30 Hoàng Diệu viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Báo này cho biết cảnh viếng tướng Giáp là "một cảnh quay thực tế" hôm 10/10 năm ngoái và "toàn bộ các cảnh khóc là diễn viên khóc thật sự, nhập vai đến mức quên mình đang diễn".

Nguyên nhân thất bại?

"Chúng ta nên cảm thấy tức giận, bởi 21 tỷ đồng ấy là thuế của chính chúng ta và sẽ không bao giờ được thu hồi lại"
Ốc Bươu Vàng, BBC Vietnamese Facebook
VnExpress hôm 19/9 dẫn lời đạo diễn Nguyễn Thanh Vân cho biết nhóm làm phim của ông đã liên lạc với các rạp nhà nước và tư nhân, nhưng "không phải rạp tư nhân nào cũng đồng ý" trình chiếu bộ phim do e ngại về "bài toán kinh doanh".
Ông cũng cho biết đợt chiếu vừa qua là để mừng lễ 2/9 chứ không phải phát hành quy mô toàn quốc.
Bên cạnh đó, VnExpress cũng cho biết đại diện của một số nhà phát hành và hệ thống rạp lớn tại Hà Nội và TP HCM đều khẳng định không nhận được bất kỳ lời đề nghị hợp tác phát hành, quảng bá hay đề xuất trình chiếu nào từ phía đoàn phim của đạo diễn Thanh Vân.
Trang Facebook quảng bá bộ phim tính đến ngày 19/9 chỉ có 102 lượt thích (likes).
Trong phần bình luận trên các báo mạng lớn trong nước, nhiều độc giả nói họ không được biết về bộ phim này cho đến khi tin về quyết định hủy chiếu được loan tải.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến trên mạng xã hội cũng nêu những lý do khác khiến họ không tiếp đón bộ phim theo như mong đợi của nhà sản xuất.
Bình luận được nhiều lượt thích nhất của độc giả nick Louis H-Navy trên trang Facebook của VnExpress viết:
"Người ta đâu có làm phim, người ta chỉ cố rút được càng nhiều tiền thuế càng tốt. Sau đó Đảng và Nhà Nước rút kinh nghiệm, Quốc Hội phê và tự phê, sau cùng dân ta tự hào đang sống trong thiên đường Xã hội Chủ nghĩa! Thế thôi."
Một nick với tên Bảo Minh chia sẻ trên Facebook: "Vấn đề không nằm ở chỗ phim nhà nước hay tư nhân sản xuất mà là: làm phim về lịch sử nếu ko trung thực với lịch sử thì sẽ tiếp tục thất bại và khán giả hờ hững."
Nick Facebook Đào Tuấn thì viết: "21 tỷ đồng tiền ông cụ được dùng để làm phim “Sống cùng lịch sử”, và đây là tiền thuế của dân ... Cả một tuần không một người dân nào đến mua dù chỉ một vé".
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/09/140919_dienbienphu_movie.shtml

TPP: cơ hội cạn dần cho Việt Nam?

Cập nhật: 07:27 GMT - thứ tư, 17 tháng 9, 2014

TPP cũng được ông John McCain nhắc đến khi đến Hà Nội vào tháng Tám
Dù “đã rút ngắn khoảng cách”, nhưng như tựa đề một cuốn tiểu thuyết ra đời ở Việt Nam sau năm 1975, chuyến viễn du đến TPP của Hà Nội vẫn còn “những khoảng cách còn lại”, sau cuộc đàm phán kéo dài suốt mười ngày đầu tháng 9/2014 tại thủ phủ “ngàn năm văn hiến”.

“Những khoảng cách còn lại”

“Những khoảng cách còn lại” vẫn luôn là cụm từ mang nghĩa bóng bẩy được một số tờ báo nhà nước ru mị người dân và cũng tự an ủi mình suốt từ quý 3 năm 2013 - khi Tổng thống Barack Obama hứa hẹn “sẽ cố gắng kết thúc sớm nhất” - cho đến nay, liên quan đến giấc mơ có một chỗ đứng trong bàn tiệc TPP để có thể tưởng tượng “tăng GDP Việt Nam đến 30%”.
Song điều oái oăm là thời và thế của ngay cả bản thân tổng thống Mỹ dường như đã thuộc về dĩ vãng. Trong khi đang phải cố gắng vật lộn với cơn suy giảm tỷ lệ ủng hộ rơi xuống ngưỡng tâm lý 50%, Tổng thống Barack Obama còn không thể tự quyết định về quy chế “fast track" (quyền đàm phán nhanh) cho TPP. Thứ quyền mặc định này hiện thời đang nằm trong tay Hạ nghị viện Hoa Kỳ, khiến cho ưu thế dẫn điểm của người đứng đầu hành pháp trước Quốc hội Hoa Kỳ đang trở nên mờ nhạt nhất kể từ thời điểm nhậm chức lần thứ nhất của ông vào đầu năm 2008.
Giờ đây, nhiều người đã hiểu ra một sự khác biệt đủ rộng giữa Quốc hội và Bộ ngoại giao Mỹ. Dù các chuyến ngoại giao con thoi của Ngoại trưởng John Kerry vào cuối năm 2013 và nữ thứ trưởng bộ này là Wendy Sherman đến Hà Nội vào tháng 3/2014 mang dụng ý muốn thúc đẩy nhanh tiến trình đàm phán TPP - nhân quyền, nhưng cú dẫn điểm gần nhất lại thuộc về một cựu chiến binh Việt Nam: ngài thượng nghị sĩ John McCain.
Chuyến công du Hà Nội đột ngột của McCain vào tháng 8/2014 đã như một hàm ý hiển hiện nhất về quyền lực nằm trong tay ai: không hẳn Chính phủ, mà chính Quốc hội Hoa Kỳ mới là nhân tố biểu quyết có tính quyết định để Nhà nước Việt Nam có được mua vũ khí sát thương và tham dự vào buổi tiệc đứng TPP hay không.

Chưa “đặc xá” nếu không “đặc cách”


Giới lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần vận động Mỹ nhanh chóng kết thúc đàm phán TPP
Hẳn khía cạnh nhân quyền - như một “nhắn nhủ” của John McCain với “tứ trụ” Việt Nam - đã trở thành nguyên cớ chính, góp một phần không nhỏ vào kết quả đàm phán mịt mùng về TPP vừa qua tại Hà Nội. Đơn giản là trong khi Trưởng đàm phán của Hoa Kỳ về TPP, bà Barbara Weisel, loan báo “có tiến bộ sau vòng đàm phán mới đây”, giới quan sát vẫn thừa sức nhận ra nhân quyền còn là một rào cản lớn đối với ngưỡng cửa TPP của Việt Nam.
Cũng đơn giản là trái ngược với tin đồn và niềm hy vọng của không ít người trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam, dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua và cho đến cả hiện thời vẫn chưa nhận ra bóng dáng một tù nhân chính trị nào được Nhà nước “đặc xá” khỏi bốn bức tường kín mít trại giam.
Cho dù tiếng nói của các cơ quan hành chính Việt Nam và Hoa Kỳ có vẻ khá đồng thanh về “những tiến bộ đáng kể” trong các nội dung quan trọng như doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng sau đàm phán TPP, nhưng nếu không có thêm các tiểu mục về tự do lập hội, công đoàn độc lập và trả tự do vô điều kiện cho các tù nhân chính trị thì TPP vẫn thuần túy là một bông hồng đầy gai sắc dành cho giới bảo thủ Hà Nội.
“TPP tới nay vẫn chưa hoàn tất các cuộc đàm phán và có nhiều điều kiện Việt Nam chưa đạt được. Đấy là lý do chính vì sao đợt 2/9 này chưa có tù nhân lương tâm nào quan trọng được nhắc đến là thả và cũng không có một công bố gì” - ông Đoàn Viết Hoạt, người được vinh danh Giải thưởng Nhân quyền Robert F. Kennedy 1995, lý giải ngắn gọn về câu chuyện lê thê trên.

Nhân quyền vẫn là một yêu cầu chủ chốt của Mỹ đối với Việt Nam trong đàm phán TPP
Nhận định của người từng bị Hà Nội tuyên án tù 20 năm vì các hoạt động cổ súy dân chủ đang tỏ ra có cơ sở và còn phần nào chắc chắn. Ít nhất đã có một tù nhân lương tâm nổi bật là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải được xác định nằm trong diện đặc xá 2/9 vừa qua. Hiện tượng ông Hải được gọi điện thoại về nhà trong 5 phút, với khá nhiều thông tin “đặc biệt nhạy cảm” mà không bị cán bộ quản giáo cắt cúp lần nào, cũng cho thấy triển vọng ông ra tù trước thời gian thụ án đến hàng chục năm không còn là điều mộng tưởng.
Danh sách những tù nhân chính trị nổi bật có thể được “đặc xá” là khoảng 20 người, được phía Mỹ chuyển cho Hà Nội với yêu cầu “trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện”.
Tuy thế, mọi chuyện ở Việt Nam không biết đâu mà lường, nhất là trong chính trị và nền “ngoại giao con tin”. Hà Nội trước nay lại quá thường bị chỉ trích về việc dùng tù nhân lương tâm để mặc cả, đổi chác quyền lợi trong các cuộc thương lượng gia nhập sân chơi quốc tế.
Nếu đàm phán TPP tại Hà Nội vào đầu tháng 9/2014 “thành công tốt đẹp” theo cách Nhà nước Việt Nam được Hoa Kỳ và các nước chủ chốt trong TPP xét “đặc cách” gia nhập hiệp định này, dù còn lâu Việt Nam mới thỏa mãn được những điều kiện quan yếu về “quy chế kinh tế thị trường”, chuyển đổi nguồn nguyên liệu nhập khẩu hay sở hữu trí tuệ…, hẳn nhiên người đời đã chứng kiến một loạt tù nhân lương tâm được trả tự do mà không cần “nhân dịp” Quốc khánh 2/9 nữa.
Nhưng rõ ràng đến giờ này, kết quả TPP cho Việt Nam vẫn tiếp tục mờ mịt như 19 vòng đàm phán trước. Lý do muôn thuở vẫn là những bất đồng giữa hai “đại gia” là Mỹ và Nhật. Nhưng điều ẩn giấu bên trong lại luôn là việc các "đại gia" này chưa nhận ra một tấm lòng “thành tâm” đáng kể nào từ phía Hà Nội, cho dù những chuyến ngoại giao và vận động con thoi đã diễn ra và cũng có thể đã tồn tại một thỏa thuận Việt - Mỹ lặng lẽ.

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn chưa được thả ra sớm như mong đợi
Tình thế trên đang dẫn đến triển vọng u tối nhất là không có gì bảo đảm rằng Hà Nội sẽ thả người, cho dù thời gian và cơ hội để lọt vào TPP chỉ còn rất ít trong quý cuối năm 2014.

Chút cơ hội cuối cùng

Tất nhiên, vào thời gian cuối năm 2014 vẫn còn một vòng đàm phán TPP nữa - cơ hội cuối cùng của Nhà nước Việt Nam. Trong thời gian từ đây đến đó, có thể diễn ra một số đàm phán riêng lẻ của các quan chức Hoa Kỳ với giới chức Hà Nội, và do đó vẫn còn cơ may cho những chính khách nào muốn thể hiện tình cảm “hồi tâm”.
Trong bối cảnh đầy thách đố ấy, sự kiện mang tính an ủi đột biến cho giới bảo thủ Hà Nội là ngày 11/9/2014, Tòa Thánh Vatican ra thông cáo cho biết họ mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, trong khuôn khổ những nỗ lực tăng cường quan hệ với châu Á.
Sự kiện trên được xem là liên quan mật thiết đến chủ đề nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Cần nhắc lại, Hà Nội đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Toà thánh vào năm 1975. Kể từ năm 2007, hai bên đã “nỗ lực làm việc để tiến tới một mối quan hệ nồng ấm hơn”.
Mọi chuyện đều có vẻ khá logic với nhau, và dường như giữa Vatican và Nhà nước Việt Nam đã có một thỏa thuận thầm kín trước công bố “tái lập bang giao” mới đây. Cách đây hai tháng, tờ Vatican Insider đã có bài viết trích dẫn phát biểu của Tổng giám mục Sài Gòn Bùi Văn Đọc tại Roma cho biết cơ cấu của một đại học Công giáo có thể sẵn sàng trong vòng một năm tới.
Cũng cần nhắc lại, mối quan hệ “nồng ấm hơn” giữa Nhà nước Việt Nam và Tòa thánh được khởi động vào đầu tháng Giêng năm 2013 với chuyến "hành hương" của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Vatican. Người đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam đã được Đức Giáo hoàng Benedict XVI tiếp đón bằng nghi thức dành cho nguyên thủ quốc gia.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ gia nhập TPP?
Thế nhưng Chính phủ Việt Nam lại thường xuyên bị các quốc gia phương Tây chỉ trích là vi phạm tự do tôn giáo. Năm 2012, Việt Nam đã mang 14 người, đa phần theo Công giáo và Tin Lành, ra xử tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Ngay cả sau chuyến công du Vatican của ông Nguyễn Phú Trọng, ở Nghệ An vẫn nổ ra vụ giáo xứ Mỹ Yên 2013 mà bị xem là xâm hại tự do tôn giáo ghê gớm.
Giờ đây, tin tức về một đại học do một tôn giáo như Công giáo tại Việt Nam được phép thành lập khiến cho nhiều người tỏ ra hy vọng như một phép thử quan trọng về sự cởi mở hơn của Hà Nội đối với tự do tôn giáo. Thế nhưng như một quy luật, ở Việt Nam không có gì được coi là nhanh gọn, trừ tham nhũng và những gì thuộc về lợi ích.
Mọi việc vẫn còn phải chờ ở phía trước, và thời gian sẽ trả lời.
Chỉ có điều, thời gian đã quá gấp gáp. Nếu đến tháng 11 năm nay mà giới bảo thủ Hà Nội không kiến tạo được một chút phảng phất trên gương mặt nhân quyền và do đó không thể “hoàn tất TPP” như mong ước của Tổng thống Mỹ, Quốc hội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, tiến tới chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016. Khi đó, đương nhiên sẽ chẳng còn mấy khuôn mặt nghị sĩ lưu tâm đến việc “đặc cách” cho Việt Nam vào TPP hay được mua vũ khí sát thương.
Chỉ còn hơn một năm rưỡi trước Đại hội Đảng 12, Bộ chính trị Việt Nam đang “tiến nhanh, tiến mạnh” và có thể cả “tiến vững chắc” đến quyết định bỏ lỡ một ít cơ hội cuối cùng để nhận được cứu cánh kinh tế.
Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do tại thành phố Hồ Chí Minh.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2014/09/140917_tpp_chance_missed.shtml


Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là 'vô lý'

Cập nhật: 13:57 GMT - thứ tư, 17 tháng 9, 2014

Trong khoảng thời gian gần đây, cộng đồng người Khmer Krom tại Campuchia đã liên tục tổ chức nhiều cuộc biểu tình trước sứ quán Việt Nam phản đối chính sách đất đai của Việt Nam.
Nguyên do của những cuộc xuống đường này là phát biểu của ông Trần Văn Thông, tham tán sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh, nói rằng miền đất Nam Bộ thuộc về Việt Nam từ lâu trước khi Pháp chuyển giao lại cho Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 09/09/2014, ông Thach Setha, Chủ tịch Cộng đồng Khmer Krom ở Campuchia, cho biết :
"Chúng tôi không đòi lại đất, mà chúng tôi muốn gửi thông điệp tới chính phủ Việt Nam, yêu cầu họ phải tôn trọng chủ quyền của chúng tôi, không được can thiệp vào công chuyện của chúng tôi.
Việt Nam không hiểu đúng về lịch sử của người Khmer, hoặc là họ cố tình muốn quên lịch sử bằng cách tuyên bố rằng đất đai Kampuchea Krom thuộc về Việt Nam từ lâu.
Đất đai Kampuchea Krom là của chúng tôi, và bị người Pháp giao cho người Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu Việt Nam tôn trọng lịch sử, tôn trọng chủ quyền của chúng tôi, công khai xin lỗi chúng tôi và không can thiệp vào chính trị của các quốc gia khác".
Với tất cả sự trân trọng và lòng kính mến, người ta thực sự không hiểu ông Thach Setha muốn nói gì.

Yêu sách của Khmer Krom

"Chúng tôi cũng kêu gọi người Campuchia tẩy chay hàng hóa Việt Nam"
Ông Thach Setha
Yêu sách của ông Thach Setha, một trong những người lãnh đạo cuộc biểu tình đồng thời là một nhà hoạt động thuộc đảng Cứu quốc của chính trị gia Sam Rainsy và cựu Thượng nghị sĩ trong Quốc hội Campuchia, gồm ba vế: đất đai và chủ quyền ; lịch sử Kampuchea Krom và yêu cầu không can thiệp vào chính trị của một quốc gia khác.
Cụ thể hơn, ông Thach Setha muốn "phía Việt Nam chính thức công khai xin lỗi người Khmer Krom và công nhận lịch sử của chúng tôi bằng văn bản" và yêu cầu : "không can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia khác của khối ASEAN".
Để làm áp lực, ông Thach Setha đe dọa:
"Nếu như không có phản hồi hay giải quyết gì từ phía Việt Nam thì đầu tháng 10 này chúng tôi sẽ có biểu tình lớn để yêu cầu chính phủ Campuchia tạm cắt đứt quan hệ với Việt Nam cho tới khi nào Việt Nam thừa nhận lịch sử của chúng tôi. Chúng tôi cũng kêu gọi người Campuchia tẩy chay hàng hóa Việt Nam".

Thấy gì qua phát biểu này?

Những yêu sách của ông Thach Setha phần lớn dựa trên tài liệu của Cộng đồng người Khmer Krom phổ biến trên mạng (https://vi-vn.KhmerKromNews), theo đó :
Về đất đai và chủ quyền, "Kampuchea Krom, nguyên là một phần của Vương quốc Kampuchea ở phía đông, hiện nay nằm dưới sự quản lý của chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam".
Về lịch sử Kampuchea Krom, "Kampuchea Krom bị Thực dân Pháp cắt khỏi lãnh thổ Kampuchea và cho xác (!) nhập vào lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý của chính quyền Việt Nam bằng văn bản số 49-733, ký ngày 04 tháng 6 năm 1949 ở Thành phố Toulon, Tỉnh Var, nước Pháp".

Lãnh đạo Campuchia thường dựa vào TQ để bài Việt Nam
Về danh xưng : "Vào thời đó, vùng đất Kampuchea Krom được gọi là Kampuchea Ngập Nước hay Kampuchea Krom (Kampuchea Hạ), và còn được gọi là Đồng bằng Châu thổ sông Mekong (Mekong Delta). Dưới thời Thực dân Pháp quản lý Đông Dương (Indochina), vùng đất Kampuchea Krom được gọi là Basse Cochinchine (Cô-săng-sin Hạ)", với 68 965 km2.
Về dân số : "Nếu căn cứ vào số liệu thống kê dân số theo từng địa phương của Mặt trân Giải phóng Kampuchea Krom tiến hành vào năm 1968 thực hiện trên 21 tỉnh - thành của Kampuchea Krom và thực hiện phương thức tính 20 năm thì cho đến tháng 1 năm 2005, dân số người Khmer ước khoảng 14 571 000 (Mười bốn triệu năm trăm bảy mươi mốt ngàn) người".

Sự thật là thế nào?

Người Khmer Krom thường viện dẫn những lý do lịch sử và văn hóa để chứng minh chủ quyền của họ trên lãnh thổ miền Nam. Cách tiếp cận này tuy hợp lý nhưng không đúng. Hợp lý vì những nhóm dân cư bản địa đầu tiên trên vùng đất này là con cháu những người Khmer trốn chạy các cuộc vây bắt nô lệ để xây dựng đền đài quanh khu vực Seam Reap và Battambang từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 14, và sau đó là những cuộc nội chiến hay tấn công của người Thái từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18.
Nhưng không đúng vì các vương triều Khmer chưa bao giờ làm chủ khu vực đồng bằng sông Cửu Long như thường tuyên bố.
"Có thể nói người Khmer chưa bao giờ làm chủ đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mặc dù đã hiện diện trước đó"
Nhắc lại, đế quốc Angkor trong thời cực thịnh nhất, từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, là một đế quốc lục địa. Các trung tâm chính trị và tôn giáo được thiết lập :
- về phía tây, quanh khu vực phía bắc hồ Tonlé Sap (Battambang, Siem Reap), sông Chao Phraya và lưu vực hai sông Menam và Irrawaddy, mà những đền đại nổi tiếng là Angkor Wat và Angkor Thom được xếp vào di dản nhân loại ;
- về phía đông, từ vùng trung lưu sông Mekong (Kompong Cham) tới khu vực phía nam hồ Tonlé Sap (Biển Hồ), Longvek, Udong, Kampong Cham và Banteay Prey Nokor (Gia Định). Sau khi đế quốc Angkor bị Xiêm La xóa tên, năm 1439 vua Ponhea Yat bỏ chạy về Wat Phnom Daun Penh (Phnom Penh) và thành lập kinh đô.
- Vùng phía nam (đồng bằng châu thổ sông Cửu Long), cho đến nay chưa tìm thấy dấu ấn cai trị của vuơng triều Khmer.

Những lý cớ chống Việt Nam

Lý cớ đầu tiên là đất đai. Tổ chức Khmer Krom không ngừng tố cáo Việt Nam chiếm vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long của người Khmer. Củng cố lý cớ này là sự hiện diện của khoảng 500 đền đài Khmer trên khắp châu thổ. Đây là vấn đề rất được bàn cãi của những chuyên viên và những nhà nghiên cứu lịch sử, vì sự thật không hẳn như vậy.


Về điểm này tưởng cũng nên nhắc lại một vài dữ kiện địa lý-lịch sử. Cách đây hơn 300 năm, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng sình lầy hoang dại, đầy muỗi mồng và rắn độc nên ít người dám đến sinh cư lập nghiệp, trừ khi bị bắt buộc như những người trốn chạy những cuộc ruồng bắt nô lệ thời đế quốc Angkor.
Những người này sống tập trung trên những vùng đất cao để tránh lụt lội, gọi là giồng, và sinh sống bằng nghề làm rẫy. Không có tư liệu nào trong Văn khố hoàng gia Khmer (Chroniques royales khmères) nhắc đến sự triều cống của những nhóm dân cư sinh sống trên đồng bằng châu thổ sông Cửu Long (Mekong).
"Bài Việt Nam có lẽ là mẫu số chung để các tổ chức chính trị tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng và tổ chức chính trị bài Việt Nam mạnh nhất là Đảng Sam Rainsy "
Trong thế kỷ 17, nội chiến và tranh chấp nội bộ giữa các vương tôn buộc những phe tranh chấp tìm sự hỗ trợ của những thế lực mạnh hơn để triệt hạ đối thủ hay để được bảo vệ. Đó là trường hợp của vua Jayajettha II (1619-1627) kết nghĩa với chúa Nguyễn để được tiếp cứu khi bị Xiêm La tấn công. Bù lại, Jayajettha II nhượng cho Sãi vương quyền khai thác lãnh thổ Prei Nokor trong vòng 5 năm để làm nơi thu mua và vận chuyển thực phẩm ra miền Trung. Sau nhiều lần đánh bật quân Xiêm ra khỏi lãnh thổ Chân Lạp trong những năm 1622-1623, việc thu hồi hai nhượng địa Prei Nokor và Kompong Trabei không còn đặt ra nữa, vì vua Khmer rất cần sự hiện diện của quân Việt trên lãnh thổ của mình.
Phải chờ đến năm 1679, khi hai vị tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên) cùng với hai phó tướng Hoàng Tiến và Trần An Bình, với hơn 3.000 quân và 50 chiến thuyền, xin tị nạn và được chúa Nguyễn cho vào khai thác những vùng đất hoang miền Đông Nam Bộ. Tại đây người Minh Hương đã cùng những di dân Việt khẩn hoang, xây nhà, lập chợ, dựng đình. Với thời gian, những khu đất mới này trở nên trù phú và thu hút đông đảo di dân khác tới, kể cả người Khmer trong nội địa. Năm 1698, vùng đất Sài Gòn - Gia Định, tức miền Tây Nam Bộ, chính thức được chúa Nguyễn xác lập chủ quyền.

Năm 1671, một quan nhân nhà Minh khác tên Mạc Cửu cùng với 400 người đổ bộ lên vùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan và xin thần phục vương triều Khmer. Năm 1681, vua Jayajettha IV cho Mạc Cửu khai thác vùng đất dọc bờ biển phía nam Campuchia ngày nay, gọi là Căn Khẩu, nhằm ngăn chặn những cuộc tấn công của hải tặc. Sau nhiều lần bị hải tặc Xiêm La đánh phá và không được vua Khmer hỗ trợ, năm 1724 Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn, vùng đất Căn Khẩu đổi tên thành Long Hồ dinh, sau này là Hà Tiên. Con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã tận tình giúp các vua Khmer đánh trả quân thù để bảo vệ ngôi báu, sau mỗi chiến công các vua Khmer trao tặng đất đai để tưởng thưởng. Năm 1759, toàn bộ lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long chính thức được sát nhập vào lành thổ nhà Nguyễn.
Những giải thích dài dòng này để nói lên một sự thật các triều vương Khmer không hề quan tâm đến vùng đất sình lầy đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, khi có cơ hội là sẵn sàng trao tặng cho những người đã giúp họ giữ được ngôi báu. Dựa vào yếu tố này, có thể nói người Khmer chưa bao giờ làm chủ đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mặc dù đã hiện diện trước đó.



'Người ta thực sự không hiểu ông Thach Setha muốn nói gì'
Lý cớ thứ hai là pháp lý. Dưới thời bảo hộ Pháp (1863-1953), các vị vua Khmer đã nhiều lần yêu cầu hay van nài Pháp giao lại lãnh thổ Nam Kỳ cho Hoàng gia Khmer (thư vua Ang Duong gởi cho hoàng đế Napoléon III ngày 25/11/1856, cuộc gặp mặt giữa vua Norodom (cha) và Toàn quyền Đông Dương, tướng de La Grandière, năm 1864). Nhưng người Pháp từ chối bởi một lý do giản dị là chính nhà Nguyễn đã giao phần đất này cho Pháp năm 1862 và sau đó năm 1874 chứ không phải các vua Khmer, hơn nữa khi ký Hiệp ước bảo hộ vương quốc Cambốt năm 1863, hoàng gia Khmer không hề đề cập tới phần lãnh thổ phía nam, mà người Pháp gọi là Cochinchine (miền Nam Việt Nam).

Văn bản pháp lý nào?

Tài liệu chủ quyền pháp lý mà Tổ chức Khmer Krom dựa vào là "Luật số 49-733 ban hành ngày 04/06/1949 về việc thay đổi quy chế vùng đất Nam Kỳ (Cochinchine) trong Liên hiệp Pháp (Union française)", theo đó lãnh thổ Nam Kỳ được sát nhập vào lãnh thổ Liên hiệp Việt Nam và không còn là lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp.
Qua luật này, tổ chức Khmer Krom trách Pháp đã không trao trả Nam Kỳ cho vua Khmer, do đó mỗi năm cứ đến ngày 04/06 họ tổ chức xuống đường biểu tình đòi Việt Nam trả lại đồng bằng châu thổ sông Cửu Long cho Campuchia. Tất cả mọi phương tiện đều được áp dụng, kể cả bạo loạn, trong mục đích tuyên truyền rằng “chính quyền Việt Nam đàn áp sư sãi và tôn giáo”.

Để gây hận thù dân tộc, tổ chức Khmer Krom còn dựng đứng những tội ác "ghê rợn" của các chính quyền Việt Nam để tố cáo trước dư luận thế giới như : thiêu sống 10.000 người Khmer năm 1945, giết rồi thả hàng ngàn xác người Khmer trôi sông từ 1976 đến 1979, tàn sát hàng ngàn người Khmer tại Trà Vinh và Vĩnh Long từ 1980 đến 1990.. với hy vọng được thế giới hỗ trợ và làm áp lực với Việt Nam trả lại miền Nam cho họ.
Lý cớ thứ ba là chính trị. Quan sát kỹ, những cuộc biểu tình chống Việt Nam chỉ mạnh lên trước những cuộc bầu cử Quốc hội. Bài Việt Nam có lẽ là mẫu số chung để các tổ chức chính trị tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng. Hiện nay, tổ chức chính trị bài Việt Nam mạnh nhất là Đảng Sam Rainsy do ông Sam Rainsy lãnh đạo. Sam Rainsy hiện nay là đối thủ chính trị chính của đương kim Thủ tướng Hun Sen.

Hai phái Sam Rainsy và Hun Sen nay đã hợp tác 

Cho đến một ngày gần đây, dưới sự kích động của đảng Sam Rainsy, chống Việt Nam hiện nay không còn là một chiêu bài tranh cử nữa mà là một chính sách kỳ thị chủng tộc rõ ràng. Để tránh bị mang tiếng thân Việt Nam, nghĩa là chư hầu, Đảng Nhân dân Campuchia của đương kim Thủ tướng Hun Sen còn đi xa hơn khi ban hành những luật lệ siết chặt nhập cư, hạn chế sự đi lại của người Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia và trục xuất những người Việt nhập cư bất hợp pháp. Một cách tiệm tiến, chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Kher đang hình thành mà đối tượng là cộng đồng người Việt sinh sống trên lãnh thổ Campuchia, an ninh của họ đang bị đe dọa.
Thêm vào đó, lãnh tụ đảng Sam Rainsy còn khơi động sự thù hận giữa Việt Nam và Trung Quốc bằng cách đề cao những hành vi ức hiếp Việt Nam của Trung Quốc trên Biển Đông và dành cho người Trung Quốc những ưu đãi về đầu tư cũng như về kinh tế tài chính để loại thương nhân Việt Nam ra khỏi thị trường Campuchia, hay đưa xuống hàng thứ yếu, nghĩa là phải dưới người Khmer.

Tại sao đi đến tình trạng này?

Có nhiều lý giải, nhưng giải thích chính vẫn là các dân tộc Đông Dương là nạn nhân của chính sách chia để trị của người Pháp trong suốt thời gian đô hộ và bảo hộ.
Chế độ thực dân Pháp là thủ phạm kích thích sự thù ghét người Việt Nam của những dân tộc khác. Đọc lại những tài liệu và sử sách viết về người Việt Nam, không một tác giả người Pháp nào không nói Việt Nam là một dân tộc bành trướng, lịch sử Việt Nam là lịch sử thôn tính những dân tộc yếu kém hơn. Họ viện dẫn kinh nghiệm mất đất và mất văn hóa của người Chăm, người Khmer Nam Bộ, người Thượng trên Tây Nguyên...
Dưới thời Pháp thuộc, Đông Dương bị chia thành 5 vùng, trong đó Việt Nam bị cắt ra làm ba miền (Bắc Trung Nam) để hạn chế người miền này tiếp xúc với người miền kia, và họ đã phần nào thành công. Sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, sự hợp tác giữa các dân tộc Đông Dương đã rất khó khăn và phải trải qua nhiều cuộc chiến đẫm máu để giải quyết sự thống nhất. Vấn đề tồn đọng còn lại là xây dựng niềm tin giữa các dân tộc và giữa người Việt Nam với nhau.
Nếu chịu khó quan sát, tâm lý bài Việt Nam thường xuất phát từ những cấp lãnh đạo hay trí thức do Pháp đào tạo : Sihanouk, Pol Pot, Sam Rainsy, Sarin Chhak...


Campuchia viện dẫn ra các tài liệu của Pháp để nêu yêu sách lãnh thổ

Đầu tàu của chính sách bài Việt là quốc vương Norodom Sihanouk, đứa con tinh thần của chế độ thực dân Pháp. Từ lúc còn tấm bé ông đã được người Pháp nuôi dưỡng và đã hấp thụ tất cả những gì mà người Pháp muốn truyền bá : chống Việt Nam. Trong suốt thời gian trị vì, không hiểu vì lý do gì nhà vua Sihanouk đã liên tục chống phá trực tiếp hay gián tiếp các chính quyền miền Nam Việt Nam, và chính quyền cộng sản Việt Nam sau 1975. Nhà vua sẵn sàng liên minh hay ủng hộ với mọi phe phái, kể cả Khmer Đỏ, để chống Việt Nam.

Sihanouk còn đào tạo ra được một thế hệ bài Việt tiếp nối, đặc biệt là Sarin Chhak, tác giả "Những vùng biên giới của Cambodge" năm 1965. Dựa theo tài liệu này, đầu năm 1967, Sihanouk chính thức công bố khu vực biên giới Campuchia-Việt Nam, theo đó tỉnh Đắc Lắc, toàn khu hữu ngạn sông Bé đến Thủ Dầu Một, toàn bộ tỉnh Tây Ninh và Long An và vùng đất phía tây thị xã Hà Tiên thuộc Campuchia. Những phe nhóm Khmer chống Việt Nam khác cũng đã sử dụng bản đồ này để tố cáo chính quyền Hun Sen ký những hiệp định về vùng nước lịch sử ký với Việt Nam năm 1982 và hiệp ước biên giới đất liền tháng 10/1985 bất lợi cho nhân dân Campuchia.

Nội dung những văn bản bản này thật ra không khác gì với những văn bản đã ký với Pháp trước đó: vùng biên giới đất liền ghi lại tỉ mỉ hơn làn ranh đã có dưới thời Pháp thuộc; trên biển hai bên giữ nguyên làn ranh Brévié đã có từ năm 1939. Thật ra vấn đề không phải được hay mất đất và biển mà chỉ giản dị là tâm lý bài Việt Nam đang lên cao trong sinh hoạt của những tổ chức chính trị đối lập với chính quyền Hun Sen. Cũng nên lưu ý trong những văn bản này, Điều cuối cùng ghi: "Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Pháp được lấy làm căn cứ".

Giải thích thứ hai là sự trù phú của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Nếu đồng bằng này là một vùng đất nghèo nàn như dãy Cardamones phía tây, chắc không người Khmer nào muốn đòi lại. Ước muốn sở hữu vùng đất trù phú là lẽ thường tình của người đời, nhưng sự phát triển và giàu có của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long không phải tự nhiên mà có. Đó là công lao của người Minh Hương và di dân Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 đến nay. Trong suốt thời gian đó, cộng đồng người Khmer vui hưởng cuộc sống bình yên, những chùa chiền lớn, "wat" theo văn hóa Xiêm La. Trong những sinh hoạt khác, cộng đồng người Khmer đứng bên lề những tranh chấp và sinh hoạt chính trị.
"Chính người Thái đã tiêu diệt các triều vương Angkor"
Có một điều khó hiểu là dân số người Khmer sinh sống tại Việt Nam hiện nay khoảng 1,4 triệu người (2011), nhưng tài liệu của Khmer Krom cho biết là trên 14 triệu người (2005), nghĩa là gấp 10 lần và ngang bằng tổng dân số Campuchia (15,14 triệu người năm 2013). Thật ra dựa vào yếu tố lịch sử để đòi lại đất chỉ là lý cớ, sự giàu có của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mới là động cơ chính. Tổ chức Khmer Krom không phải là người trồng cây ăn trái nhưng muốn thu tóm mọi hoa lợi vào tay mình, chỉ giản dị là vậy.

Giải thích thứ ba là yếu tố văn hóa. Tại sao người Khmer dễ ghét người Việt Nam hơn người Thái, mặc dù tất cả những tai họa chính của dân tộc Khmer đều do người Thái gây ra? Chính người Thái đã tiêu diệt các triều vương Angkor. Chính sách cai trị của người Thái chắc chắn phải rất hung bạo để ký ức về triều đại Angkor bị xóa hẳn trong tâm trí người Khmer trong suốt hơn 400 năm (1431-1861).
Chính người Thái đã góp phần làm hao kiệt di sản văn hóa của người Khmer, phần lớn những di tích của nền văn minh Angkor được giới buôn lậu đưa qua Thái bán. Cho tới một ngày gần đây, người Thái còn muốn chiếm di tích Preah Vihear của người Khmer. Trong Thế chiến II, quân Pháp đã rất phải cực nhọc mới xua đuổi quân Thái ra khỏi Battambang và Seam Reap. Cũng chính người Thái đã cho Khmer Đỏ lập căn cứ trên lãnh thổ của mình để chống lại chính quyền Phnom Penh từ 1979 đến 1989. Có điều lạ là không người Khmer nào tỏ ra thù ghét người Thái.

Người mang ơn thường quay ngược khí giới chống lại Việt Nam

Với người Việt Nam thì ngược lại, làm ơn đôi khi còn mang họa. Mỗi khi bị đe dọa, người Khmer nhờ cậy người Việt Nam vào giúp đỡ. Khi kẻ thù bị đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ, những người mang ơn thường quay ngược khí giới chống lại Việt Nam. Có cái gì không bình thường trong cách cư xử này.
Có lẽ người Khmer thuộc văn hóa Ấn Độ nên chỉ thích giao lưu với người cùng văn hóa (cũng như Việt Nam với Trung Quốc), Việt Nam thuộc văn hóa Trung Hoa nên rất khó hiểu nhau và hợp tác. Nắm được lý giải này mới hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam đã bỏ mạng để bảo vệ người Khmer, nhưng công lao này thường hay quên lãng và đôi khi còn bị hiểu lầm. Khi rút quân khỏi Campuchia, hài cốt nhưng người lính Việt Nam đều được mang về nước vì sợ bị phá hoại. Hành trình thông cảm lẫn nhau có lẽ còn khá dài.

Nhưng cho dù có thế nào đi nữa, hai dân tộc Campuchia và Việt Nam buộc phải đi với nhau suốt đoạn đường dài còn lại. Không quốc gia nào chọn láng giềng, chúng ta phải tìm cách sống chung với nhau trong khôn ngoan và hòa bình. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chính sách bài Việt Nam có thể thỏa mãn kết quả của những cuộc tranh cử nhưng chỉ mang lại tiêu cực và không giải quyết được quan hệ giữa hai dân tộc.
Người ta chỉ gặt những gì được gieo trồng, do đó phải cẩn thận. Giải pháp hay nhất để hóa giải tâm lý hận thù là tìm cách đối thoại với nhau trong tinh thần tương kính, và nhất là tránh không bị chi phối bởi những định kiến.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tiến sỹ Nguyễn Văn Huy từ Paris, Pháp.Diễn đàn BBC Tiếng Việt mong nhận được các ý kiến khác nhau về chủ đề này, gồm cả các quan điểm phản bác lại tác giả đã đăng.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao VN Phạm Bình Minh sắp thăm Hoa Kỳ

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bắt tay với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong chuyến thăm Việt Nam của ông Kerry tháng 12 năm 2013.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bắt tay với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong chuyến thăm Việt Nam của ông Kerry tháng 12 năm 2013.
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sẽ đi thăm Washington vào đầu tháng 10 sắp tới để tham khảo ý kiến với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry.
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS) nói các cuộc họp giữa hai vị Ngoại trưởng là một diễn đàn để đề ra những bước cụ thể và đào sâu hơn quan hệ đối tác toàn diện đã được loan báo khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến thăm Tòa Bạch Ốc vào tháng Bảy năm 2013.

Trong một bài viết đăng trên trang web của CSIS hôm 18 tháng 9, ông Ernest Bower, một chuyên gia về các vấn đề Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS), nói rằng ngày nay, các nhà làm chính sách Mỹ coi Việt Nam là một đối tác có tiềm năng trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông cho rằng trong một khu vực rất năng động và đang thay đổi nhanh chóng, các lợi ích của Washington và Hà Nội đang ngày càng hội tụ về một điểm, trong bối cảnh hai nước chia chung một số lợi ích địa chính trị, và lợi ích kinh tế. Những hành động gây hấn của Trung Quốc là một yếu tố góp phần trong những tính toán của Việt Nam về liệu nước này có nên xích lại gần Hoa Kỳ, và xích lại nước cựu thù này theo tốc độ như thế nào.

Năm tới, 2015, hai nước sẽ kỷ niệm 20 năm từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhau hồi năm 1995, sau một cuộc chiến tranh kéo dài và nhiều cay đắng. CSIS cho rằng các điều kiện hiện nay đã chín muồi để lãnh đạo hai nước đề ra những bước cụ thể để hoàn toàn bình thường hóa các quan hệ song phương, dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế đề nghị hai nước hãy đề ra những bước cụ thể, để tạo điều kiện cho một chuyến đi của Tổng Thống Barack Obama tới thăm Việt Nam trong năm tới, để đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhau, có lẽ vào dịp hội nghị thượng đỉnh an ninh và kinh tế thường niên sẽ được tổ chức ở Malaysia và Philippines vào tháng 11, 2015.

http://www.voatiengviet.com/content/pho-thu-tuong-bo-truong-ngoai-giao-pham-binh-minh-sap-tham-hoa-ky/2456168.html

No comments: