Saturday, September 27, 2014

SƠN TRUNG * LIÊN XÔ, TRUNG CỘNG VÀ QUỲ HOA BẢO ĐIỂN




LIÊN XÔ, TRUNG CỘNG VÀ QUỲ HOA BẢO ĐIỂN

SƠN TRUNG

A. HOA KỲ VÀ LIÊN XÔ


Sau đệ nhị thế chiến, Liên xô và Mỹ đi vào cuộc chiến tranh lạnh. Reagan leo thang chiến tranh lạnh, tăng tốc đảo ngược chính sách "détente" (giảm thiểu căng thẳng để chung sống hòa bình) bắt đầu từ năm 1979 theo sau sự kiện Chiến tranh Xô Viết tại Afghanistan. Reagan ra lệnh tăng cường khổng lồ việc xây dựng các lực lượng quân sự Hoa Kỳ và thực hiện các chính sách mới đối đầu với Liên Xô: tái lập chương trình oanh tạc cơ B-1 Lancer mà đã bị chính phủ Carter hủy bỏ, và sản xuất tên lửa MX. Để đáp trả việc Liên Xô triển khai tên lửa SS-20, Reagan giám sát việc triển khai tên lửa Pershing của NATO tại Tây Đức.


Trong một bài diễn văn nổi tiếng ngày 8 tháng 6 năm 1982 trước Nghị viện Vương quốc Anh trong phòng triển lãm hoàng gia tại Cung điện Westminster, Reagan nói, "bước chân tiến tới của tự do và dân chủ sẽ bỏ Chủ nghĩa Marx-Lenin trên đóng tro tàn của lịch sử". Ngày 3 tháng 3 năm 1983, ông tiên đoán chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp đổ và nói rằng, "Chủ nghĩa cộng sản là một chương khác dị thường và đáng buồn trong lịch sử nhân loại mà những trang cuối của nó thậm chí hiện nay vẫn còn đang được viết." Trong một bài diễn văn trước Hội Evangelical Quốc gia ngày 8 tháng 3 năm 1983, Reagan gọi Liên Xô là "một đế quốc ma quỷ"

Năm 1989, Đông Âu sụp đổ, và cuối năm 1991, Liên Xô đột quỵ. Sự sụp đổ này có nhiều nguyên nhân.


           1. Nguyên nhân bên ngoài.


Tài liệu cộng sản cho rằng Đông Âu và Liên Xô sụp đổ là do nguyên nhân bên ngoài, nghĩa là do phe tư bản bao vây và phá hoại. Sau thế chiến thứ II, mặc dù là nước thắng trận nhưng Liên bang Xô Viết (goị tắt là Liên Xô) bị thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là vấp phải sự chống phá của các nước tư bản, đứng đầu là Mỹ, thực hiện chiến lược "toàn cầu chống XHCN" bằng những hành động cô lập kinh tế-chính trị, cũng từ đây thế giới bước vào thời kì "chiến tranh lạnh".

Tháng 6/1982, Tổng thống R.Reagan công bố quyết định áp dụng các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với tất cả các công ty và các nước sử dụng giấy phép sản xuất cũng như trang thiết bị, máy móc và vật liệu được sản xuất có ứng dụng công nghệ Mỹ nếu hợp tác với Liên Xô. Quyết định này của Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ tại Châu Âu, nhưng lần này ít có nước nào dám chống lại. Và không lâu sau đó các dự án công nghiệp Xô Viết (trước hết là dự án đường dẫn khí đốt) đối mặt với nguy cơ Phương Tây cắt giảm cung cấp các mặt hàng công nghệ cao đã được thỏa thuận từ trước.


Nếu như vào cuối những năm 70 tỷ lệ hàng hóa công nghệ cao trong xuất khẩu của Mỹ vào Liên Xô vượt 30%, thì đến năm 1982, tỷ lệ này chỉ còn 7%. Xu hướng như vậy cũng bắt đầu xuất hiện trong quan hệ kinh tế với Châu Âu. Bên cạnh đó, Mỹ thành lập "Khối Bắc Đại Tây Dương" (gọi tắt là NATO) để bao vây chính trị, tạo thế lực đồng minh chống Cộng sản.

            2. Chủ nghĩa cộng sản sai lầm, tàn ác và bất lực

Các yếu nhân cộng sản đã cố gắng cải tổ chủ nghĩa cộng sản nhưng không được, họ đành phải chôn sống nó để xây dựng một quốc gia mới.. Mục tiêu chính của Gorbachev là vực dậy nền kinh tế của Liên Xô sau thời kì trì trệ kéo dài do Leonid Ilyich Brezhnev để lại. Gorbachev sớm nhận ra rằng công việc vực dậy nền kinh tế Liên Xô sẽ là gần như bất khả thi nếu không thực hiện cải cách hệ thống chính trị và xã hội của quốc gia. Gorbachev phải đưa ra cải cách nhân sự, thi hành dân chủ, tự do hóa chính trị (Glasnost/Perestroika) và nới lỏng quyền tự chủ cho các nước cộng hòa thành viên Liên bang Xô Viết.Nhưng tất cả đều thất bại vì không thầy thuốc nào có thể làm sống lại một cái thây đã mục nát, cho nên Gorbachev đành phải đem chôn nó xuống mồ sâu.

           3. Sự sụp đổ của khối Cộng sản là điều tất yếu của lịch sử.

Trước đó các chính trị gia, kinh tế gia đã tiên đoán về sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Có nhiều dự đoán rằng Liên bang Xô viết cuối cùng sẽ bị tan rã. Các tác giả dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết bao gồm Andrei Amalrik trong cuốn Liên bang Xô viết sẽ tồn tại đến 1984? (1970), học giả người Pháp Emmanuel Todd trong La chute finale: Essais sur la décomposition de la sphère Soviétique (The Fall Final: Bài luận về sự tan rã của Liên Xô) (1976), nhà kinh tế Ravi Batra trong cuốn sách của ông là Sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và cộng sản năm 1978 và sử gia người Pháp Hélène Carrère d'Encausse. Ngoài ra, Walter Laqueur lưu ý rằng "bài báo khác nhau xuất hiện trong các tạp chí chuyên ngành về các vấn đề của cộng sản và nghiên cứu về sự phân rã và sự sụp đổ có thể có của chế độ Xô viết.

Tại Hoa Kỳ, chủ yếu là giữa những người bảo thủ, các chính trị gia nhất ghi có dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là Tổng thống Ronald Reagan. Các dự đoán được thực hiện trước 1980 về sự sụp đổ của Liên Xô đều coi sự sụp đổ là điều xảy ra trong tương lai hơn là một xác suất. Tuy nhiên, đối với một số ý tưởng (như Amalrik và Todd) được nghiên cứu thấu đáo hơn là suy nghĩ thoáng qua. Trong trường hợp của Ludwig von Mises, ông gọi là sự sụp đổ của Liên Xô là một sự chắc chắn tuyệt đối, tuy nhiên ông không đưa ra bất kỳ khoảng thời gian hợp lý để kiểm tra dự đoán của mình.

            4. Tây phương và Gorbachev

Người ta nghi ngờ Gorbachev trước đó đã bắt tay với các yếu nhân Tây phương để thực hiện dân chủ cho nước Nga. Trước hết, Gorbachev gặp bà M. Thatcher , hai bên nhìn nhau cả hàng giờ liền nhưng vì gặp đông người phía Liên Xô nên chẳng nói gì được nhiều. Trở về nhà, Gorbachev làm báo cáo gửi Bộ Chính trị với nội dung mù mờ, không dám báo cáo rõ ràng những gì mà ''bà đầm thép" đã nói, đã khuyên ông ta. Còn trong thực tế, từ đó mối quan hệ bất bình thường giữa Thatcher và Gorbachev đã trở nên bền chặt. Bà ta tuyên bố "có thể làm việc với con người này”. Có lần Thatcher thổ lộ “chúng tôi đã làm cho Gorbachev thành Tổng Bí thư”.


Hội nghị thượng đỉnh Malta bao gồm một cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ George HW Bush và nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev, diễn ra khoảng 2-3 tháng mười hai, năm 1989, chỉ một vài tuần sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, trong đó hai bên chính thức kết thúc chiến tranh lạnh, một phần là kết quả của phong trào ủng hộ dân chủ rộng lớn. Đó là cuộc họp thứ hai của họ sau một cuộc họp trong đó có Tổng thống Ronald Reagan, tại New York vào tháng Mười Hai năm 1988.

Theo thời gian, M.S.Gorbachev có nhiều cơ hội gặp gỡ lãnh đạo các nước phuơng Tây hơn. Trong mọi trường hợp Gorbachev đều muốn tiếp xúc riêng với các nhà lãnh đạo phương Tây. Năm 1991, trong chuyến thăm của Tổng thống Bush, M.S.Gorbachev đã kéo theo nhiều người tin cậy cùng nói chuyện với Bush. Tuy nhiên, trong toàn bộ cuộc nói chuyện, họ mặt nhìn mặt, cố xa lánh mọi người. Sau bữa ăn, M.S. Gorbachev mời Bush đi dạo theo lối cửa sau cùng người phiên dịch. Bước ra quảng trường Ivanov, hai người đã thiết lập được mối quan hệ tin cậy và lúc này họ đang nói chuyện công khai.

Bất chấp nguyên tắc của Đảng, người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô đã gặp trực tiếp với giáo hoàng Roma John Paul II không có phiên dịch, gặp tay đôi với Bush cha trên khoang chỉ huy cuả một tàu chiến Mỹ tại Malta không có người thứ ba dự.


Trên thế giới các cuộc gặp gỡ quan chức các nước với nhau bao giờ cũng được ghi biên bản chi tiết, người tham gia là người chính thức hay quan chức chính phủ, hai bên đưa ra những vấn đề gì, v.v. nhưng người đầu tiên vi phạm điều này là Gorbachev. Họ thường xuyên tiến hành các cuộc đàm phán mà nội dung không được ghi vào biên bản. Họ cũng không sử dụng phiên dịch người mình. Không ai ở Liên Xô biết được nội dung các cuộc trò chuyện của họ.


Sau này vào tháng 5-1993, sau khi Liên Xô sụp đổ, Gorbachev thăm Pháp đã trả lời phỏng vấn báo "Le Figaro" nội dung bài phỏng vấn có câu về hỏi về khả năng “hỗ trợ bên ngoài” trong việc xóa sổ Liên Xô, Gorbachev lần đầu tiên công nhận rằng trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Reagan tại Reykjavik, ông đã trao Liên Xô vào tay Mỹ. Về sau, trong hồi ký của mình nhắc lại sự kiện này, Reagan đã kể lại rằng ông ta đã thực sự bị sốc vì vui mừng. Thực ra ông ta đến cuộc gặp ấy mà không tin rằng tại Reykjavik, Gorbachev đã báo tin một bộ phận chống Xô viết trong giới thượng lưu Matxcova chấp thuận việc phá tan Liên Xô.


Điều này làm nhiều người nhớ lại trước đó vào tháng 6 năm 1993, dự lễ tang Tổng Bí thư Enriko Belinguer của Đảng Cộng sản Italia, M.S.Gorbachev trong bài phát biểu của mình đã nói: Enriko thân mến, chúng tôi sẽ không bao giờ quên những lời khuyên của anh về sự cần thiết dân chủ hóa đất nước chúng tôi!


Những người hâm mộ Reagan khẳng định rằng chính cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 đã làm Điện Kremlin phá sản. “Bằng cách tăng cường lực lượng phòng vệ chứ không phải tiến hành xâm lược, Ronald Reagan đã làm cho Liên Xô sụp đổ”, ông Bob Dole, một cựu thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà, ứng cử viên Tổng thống đã tuyên bố trên tờ the New York Times như thế.


Biên bản các cuộc họp của Bộ Chính trị ghi nhận nỗi lo lắng thực sự (mặc dù vô căn cứ) về việc xây dựng tên lửa phòng vệ trong chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao” và những nhà lãnh đạo sáng suốt của Liên Xô nhận thức được sự cách biệt ngày càng gia tăng về quân sự và công nghệ giữa phương Tây, nhất là Mĩ với Liên Xô.


Điều đó càng làm cho Gorbachev thêm quyết tâm loại bỏ sự thù địch của Chiến tranh Lạnh, quyết tâm tìm cách tiếp cận với hàng hoá và công nghệ của phương Tây và chuyển các nguồn lực từ lĩnh vực quân sự sang nền kinh tế phục vụ dân sinh.

                5. Chiến tranh lạnh và cuộc chạy đua vũ trang đã làm khối cộng sản kiệt quệ.

Tháng 3 năm 1983, Reagan giới thiệu Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (viết tắt theo tiếng Anh là SDI ), một dự án quốc phòng mà sẽ sử dụng các hệ thống có căn cứ trên không gian và mặt đất để bảo vệ Hoa Kỳ khỏi các cuộc tấn công bằng tên lửa hạt nhân liên lục địa chiến lược. Reagan tin rằng lá chắn quốc phòng này có thể khiến cho chiến tranh hạt nhân không thể xảy ra, nhưng không tin tưởng rằng kỹ thuật như thế có thể hoạt động.

Việc này khiến những người chống đối chương trình gán cho Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược cái tên là "Chiến tranh giữa các vì sao" và cho rằng mục tiêu kỹ thuật là không thể nắm bắt được.

Liên Xô trở nên lo lắng về hiệu quả có thể có mà SDI sẽ mang lại lợi thế cho Hoa Kỳ; nhà lãnh đạo Yuri Andropov nói rằng nó sẽ đặt "toàn thế giới trong nguy cơ chạy đua vũ trang". Vì những lý do đó, David Gergen, một cựu phụ tá của Tổng thống Reagan, sau khi gợi lại ký ức, tin rằng Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược đã giúp kết thúc chiến tranh lạnh một cách vội vã.

                 6. Gián điệp.

Trong cuộc chiến lạnh và sau đó, ngành tình báo trở thành mũi nhọn của cuộc chiến giữa hai cường quốc. Liên Xô muốn lấy cắp tài liệu của Mỹ và Mỹ cũng muốn thu lượm tin tức tình báo từ Liên xô. Cả hai rình rập nhau. Cả hai đã thành công. Khoảng 1950, Albert Einstein đã cung cấp cho Liên Xô tài liệu sản xuất vũ khí nguyên tử của Mỹ. Từ đó cho đến nay, nhiều vụ gián điệp đã bị phanh phui về cả hai phía Mỹ và Liên Xô - sau này là Nga - như các vụ sau:


Năm 1957: Rudolf Ivanovich Abel - Điệp viên cao cấp của KGB (đơn vị tiền thân của FSB ngày nay) đã bị Mỹ bắt và kết án vì âm mưu chuyển bí mật quân sự cho Liên Xô. Ông bị kết án 30 năm tù giam.

Năm 1960: Francis Gary Powers - Phi công Không quân Mỹ lái máy bay do thám U-2 đã bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không của Liên Xô khi đang tiến hành nhiệm vụ bí mật trong không phận Liên bang Xô viết. Powers đã sống sót sau khi máy bay của ông bị bắn hạ được đưa ra xét xử và bị kết tội làm gián điệp. Ông bị kết án 3 năm tù giam, tiếp theo là 7 năm cải tạo trong một trại lao động.

Năm 1962, Washington và Moscow đã đồng ý trao đổi Abel và Powers trong một thỏa thuận trao đổi tù nhân diễn ra trên một cây cầu kết nối Đông và Tây Berlin.


Năm 1988: James W. Hall III - Sĩ quan quân đội Mỹ đóng quân ở Tây Đức đã bị bắt và bị kết tội bán thiết bị nghe trộm điện tử và mật mã cho Đông Đức và Liên Xô trong vòng 6 năm. Sau khi nhận tội, Hall đã bị kết án 40 năm tù giam.

Năm 1994: Aldrich Ames - Sĩ quan phản gián trong phân bộ Liên Xô của CIA bị cáo buộc làm gián điệp cho Nga từ năm 1985. Ames bị bắt cùng với vợ mình - người đã hỗ trợ các hoạt động gián điệp của ông. Cả hai đã nhận tội tại tòa án. Ông Ames đã bị kết án tù chung thân, trong khi đó vợ ông nhận án tù 63 tháng.



Năm 1996: Harold James Nicholson - Nhân viên CIA cao cấp nhất bị bắt và kết tội làm gián điệp cho Nga. Nicholson bị cáo buộc bán danh tính của nhân viên tình báo Mỹ cho tình báo Nga. Ông bị kết án 40 năm tù giam.

Năm 1996: Earl Edwin Pitts - Nhân viên FBI bị buộc tội cung cấp thông tin mật cho Moscow trong giai đoạn từ năm 1987 đến 1992 để đổi lấy tiền. Ông bị kết án 27 năm tù giam.

Năm 2000: Edmond Pope - Doanh nhân và là sĩ quan tình báo hải quân Mỹ đã nghỉ hưu đã bị bắt tại Moscow bởi cơ quan An ninh liên bang Nga (FSB) khi đang tìm cách để có được bản kế hoạch về việc trang bị tên lửa siêu thanh cho tàu ngầm của Nga. Ông bị kết tội gián điệp và bị kết án 20 năm tù. Tuy nhiên, ông này sau đó được Tổng thống Nga Vladimir Putin ân xá và trở về Mỹ.


Năm 2001: Robert Hanssen - Nhân viên FBI - người đã phải nhận 15 tội danh làm gián điệp và âm mưu chuyển thông tin mật cho Liên Xô và sau đó là Nga trong suốt 22 năm. Ông đã bị kết án tù chung thân.

Năm 2002 - Cơ quan an ninh Nga cáo buộc các điệp viên Mỹ đã đánh thuốc mê một nhà khoa học làm việc cho Bộ Quốc phòng Nga để có được thông tin từ ông này.

Năm 2008 - Đầu tiên là vụ khám phá phần mềm gián điệp Agent BTZ, lây nhiễm cho hệ thống mạng máy tính Bộ Quốc phòng Mỹ vào năm 2008. Mỹ phải mất nhiều tháng để làm sạch mạng máy tính và cuộc tấn công này cho đến nay vẫn được coi là vụ chọc thủng hệ thống an ninh IT nghiêm trọng nhất của chính quyền Mỹ. Mặc dù, Washington chưa bao giờ chính thức lên tiếng về thủ phạm của vụ xâm nhập, nhưng một vài quan chức Mỹ giấu tên tiết lộ, tình báo Nga là nghi phạm hàng đầu.


Năm 2010: Những người Nga “bất hợp pháp” - nhà chức trách Mỹ bắt giữ 10 người Nga, trong đó có Anna Chapman - người bị cáo buộc là gián điệp nằm vùng. Tất cả họ đã nhận tội làm nhân viên cho chính phủ nước ngoài nhưng không đăng ký với chính quyền Mỹ. 10 người này đã được giao lại cho phía Nga trong một thỏa thuận trao đổi gián điệp.

Năm 2013:  Edward Snowden làm việc một cách bí mật cho Cơ quan Tình báo trung ương Mỹ (CIA) và Cơ quan An ninh quốc gia (NSA) trong vai trò “chuyên gia kỹ thuật”.Anh cũng từng làm chuyên gia đào tạo kỹ thuật cho Cơ quan Tình báo quốc phòng (DIA).

Snowden đã truy cập 1,7 triệu tài liệu trước khi rời Mỹ tới Hongkong và cung cấp khoảng 200.000 tài liệu cho các nhà báo Glenn Greenwald và Laura Poitras hồi tháng 6 năm ngoái. Ngày 23/6, theo lời khuyên Julian Assange, người sáng lập trang mạng chuyên cung cấp thông tin mật rò rỉ WikiLeaks, Snowden bay tới Moscow.


Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào thì kho kiến thức rộng lớn của Snowden về các hệ thống NSA cũng khiến cho anh ta trở nên vô cùng có giá đối với Moscow.

Kalugin, vị tướng trẻ nhất của KGB trong lịch sử, thì thẳng thừng: "Thời gian này, người Nga đang rất hài lòng với những món quà mà Edward Snowden trao cho họ" thậm chí còn đi xa tới mức nói thẳng rằng ông tin Tổng thống Putin đã có được mọi thứ Snowden sở hữu. "Những gì anh ta truy cập được trong những ngày ở NSA, tôi tin rằng anh ta đã chia sẻ hết với người Nga, và họ rất hài lòng".

Sau khi E. Snowden rời Hoa Kỳ, Putin khởi sự chiếm Crimé và đe dọa Ukraine.


B. HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG


Từ lâu các nước tây phương đều lo lắng về hiểm họa da vàng và sự nổi dậy của con sư tử Đông phương. Sự lo lắng của họ đã hiện rõ khi Nhật vùng lên bắt tay với Đức Ý lập trục phát xít. Sau đệ nhị thế chiến, Mao Trạch Đông nổi lên nuôi mộng làm bá chủ thiên hạ, và gần đây, Trung cộng vẽ bản đồ có hình lưỡi bò và tuyên bố Biển Đông là của họ thì thế giới đều lo sợ hiểm họa Trung Cộng xâm lược.


Để đánh tan Trung cộng, Tây phương đã áp dụng nhiều chiến sách. Mỹ là cường quốc trên thế giới và Thái Bình Dương cho nên Mỹ là lực lượng chủ yếu trong việc chống Trung cộng xâm lược. Để đối phó Trung cộng, Mỹ đã áp dụng nhiều chiến sách, nhưng tựu trung, người Mỹ đã theo triết lý của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh chương 36 :


將 欲 歙 之, 必 故 張 之. 將 欲 弱 之, 必 故 強 之. 將 欲 廢 之, 必 故 興 之. 將 欲 奪 之, 必 故 與 之. 是 謂 微 明, 柔 弱 勝 剛 強. 魚 不 可 脫 於 淵, 國 之 利 器, 不 可 以 示 人.

Phiên âm:

1. Tương dục hấp chi tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh, nhu nhược thắng cương cường. Ngư bất khả thoát ư uyên, quốc chi lợi khí, bất khả dĩ thị nhân.


Dịch nghĩa
Trước khi làm cho chùng, thời giương ra cho thẳng. Trước khi làm cho suy yếu, thời giúp cho mạnh thêm. Trước khi vứt bỏ đi, thời làm cho hưng vượng. Trước khi muốn cướp lấy, thời hãy cho trước. Thế gọi là hiểu lẽ vi diệu (của Trời). Mềm yếu được cứng mạnh.
Cá chẳng khá rời vực, đồ quốc bảo chẳng nên phô trương.


Triết lý này dẫn đến những chiến sách như sau:


I. MUỐN TIẾN HÃY LÙI

Mỹ cũng có suy nghĩ như Lão Tử, Khổng Minh đã theo ké sách muốn tiến hãy lùi, muốn lùi hãy tiến, muốn hòa hãy chiến...Năm 1964, Mỹ đổ quân vào Việt Nam, và năm 1973, Mỹ lui khỏi Việt Nam cũng theo kế sách này. Năm 1964, Mỹ vào Việt Nam không phải muốn xâm lược Việt Nam, mà chỉ muốn lui binh cho nên người Mỹ chỉ chiến mà không muốn thắng. Và năm 1973, Mỹ rút khỏi Việt Nam không phải vì Mỹ thua. Chỉ là một nước cờ mà Đài Loan, Nam Việt Nam là những quân tốt, con mã bị hy sinh cho đại kế tương lai.  Mỹ là nước có văn hóa  cao hơn Trung Cộng nên đã hành xử một cách từ tốn, bằng ngoại giao mềm dẻo, bằng pháp lý sau cùng mới là quân sự cho nên trong việc xoay về Biển Đông, nhiều người cho Mỹ yếu ớt. Trong khi đó, Trung Cộng, hung bạo, thô lỗ, tàn ác nên đã ra những chiêu thức hung hãn, tàn độc và trắng trợn đã làm dân Á châu ngán ngẩm.

Theo kế sách này, quân Mỹ phải rút lui khỏi Biển đông và một phần châu Á. Đó là cách dùng "không thành kế " và " đà đao kế" .Việc Mỹ rút lui khỏi Trung quốc lục địa, Việt nam và Thái bình dương là cuộc rút lui chiến thuật, chứ không phải là Trung cộng và Việt Cộng đã đánh cho " Mỹ cút, Ngụy nhào ", nhằm tạo cơ hội cho Trung cộng xâm chiếm châu Á và Thái bình dương. Sự xâm chiếm này sẽ làm cho châu Á và thế giới căm thù Trung cộng. Đây là mục tiêu của việc công tâm. Đổi lấy việc này, Mỹ, Đài loan và Nam Việt nam phải bị hy sinh và chịu nhục nhã của kẻ bại trận.



II. MUỐN LÀM SUY YẾU HÃY GIÚP CHO MẠNH, MUỐN LẤY HÃY CHO.


Để thực hiện kế sách này,Tây phương đã nêu cao thuyết "Toàn cầu hóa ", và phổ biến việc kinh doanh tại Trung quốc, Việt nam vì giá nhân công rẻ. Theo kế sách này, Tây phương cùng nhau đầu tư vào Trung Quốc, và tháo giở các hãng xưởng tại nước họ mà đem sang Trung quốc, Việt Nam, mặc cho nhân dân họ thất nghiệp, đói khổ. Việc này cũng góp phần làm cho kinh tế tư bản suy thoái, và gây ra nạn toàn cầu khủng hoảng kinh tế.


Nhờ Tây phương giúp tiền bạc, kỹ thuật, Trung Cộng thời Đặng Tiểu Bình đã phất lên, đến Hồ Cẩm Đào thì Trung Quốc ra mặt ngạo nghễ coi khinh đế quốc Mỹ và bọn tiểu quốc Thái Bình Dương. Một mặt vì tinh thần truyền thống đế quốc, một mặt vì nhu cầu thực phẩm, nguyên liệu, Trung quốc phải chiếm Thái bình Dương để sau đó xâm chiếm thế giới. Muốn cướp Thái bình dương và thế giới, Trung Cộng phải tăng cường quân sự, chạy đua vũ trang với Mỹ. Muốn hiện đại hóa quân sự, Trung Cộng phải dùng mánh buôn gian bán lận để kiếm nhiều tiền và dùng gián điệp để ăn cắp kỹ thuật tây phương. Nhiều vụ gián điệp Trung Cộng đã bị bại lộ:


Năm 2009: Dongfan bị cáo buộc đã đánh cắp 225.000 trang tài liệu có độ nhạy cảm cao về các tàu con thoi không gian, tên lửa Delta IV và máy bay vận tải quân sự C-17 của Mỹ, sau đó chuyển các bí mật đó cho các đầu mối liên lạc ở Trung Quốc.

Năm 2011: một viên Tướng Đài Loan, Lo Hsien-chi đã bị cáo buộc làm gián điệp cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sáng ngày 9 tháng 2, Quyền Giám đốc Tổng Cục Chiến tranh Chính trị, Bộ Quốc phòng Đài Loan, Wang Ming-wo, cho biết điệp viên bị nghi ngờ, Tướng Lo Hsien-che, được cho là có liên lạc với Trung cộng trong khi đóng quân tại Thái Lan vào năm 2004.

Năm 2014: Walter Liew, 56 tuổi, và nhà khoa học Robert Maegerle đã bị buộc tội đánh cắp bí mật thương mại của công ty Mỹ DuPont. Hai người này sau đó đã bán các bí mật cho Tập đoàn Pangang của Trung Quốc với giá hơn 20 triệu USD. Liew đã bị tuyên phạt 15 năm tù giam và khoản tiền phạt hơn 28 triệu USD vì tội danh làm gián điệp kinh tế.

Liew và vợ, Christin, đã thành lập công ty USA Performance Technology vào những năm 1990 và thuê một nhóm các cựu nhân viên của DuPont để đánh cắp các bí mật thương mại của công ty này.

Hai nhà khoa học khác cũng liên quan tới vụ này - một người đã tự sát và người kia thừa nhận tội thông đồng làm gián điệp kinh tế. Công ty USA Performance Technology cũng bị phạt gần 19 triệu USD, ngoài khoản tiền 28 triệu USD mà Liew bị yêu cầu trả cho Dupont.


Năm 2014. Ngày 19-5-2014, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đã công bố một cáo trạng và phát hành lịnh tầm nã đối với 5 quân nhân của quân đội Trung Cộng về tội đột nhập đánh cắp những bí mật thương mại của sáu công ty Mỹ bao gồm: Westinghouse Electric, US Steel, Alcoa Inc., Allegheny Technologies, Solar World và Liên Đoàn ngành thép Hoa Kỳ. Những cuộc đánh cắp diễn ra từ năm 2006 đến 2014.

Danh tánh năm sĩ quan được công bố trong bản truy nã của FBI gồm có: Vương Đông (Wang Dong), Tôn Khải Lượng (Sun Kai Liang), Cố Xuân Huy (Gu Chun Hui), Văn Tân Vũ (Wen Xin Yu) và Hoàng Chấn Vũ (Huang Zhen Yu).


Nhiều tài liệu cho rằng Mỹ đã cố ý bỏ ngõ các tài liệu mật cho gián điệp Liên Xô, gián điệp Nga, gián điệp Trung Cộng, gián điệp Việt nam thu lượm mục đich là đánh lừa, là giăng bẫy, hoặc có mục đich khác nữa. Nhất là họ cố ý lộ bí mật khoa học kỹ thuật cho kẻ thù sao chép với thâm ý cho kẻ thù tăng cường vũ khí làm cho tiêu hao kinh tế và bất mãn lòng dân, và sự kiện này dẫn đến sự sụp đổ của khối Cộng sản.

Không những Mỹ cố ý để hớ hênh  cho gián điệp ăn cắp tài liệu, mà Mỹ còn công khai giúp Trung cộng chế bom nguyên tử.  Báo Time  loan tin  Mỹ đã cho Tiền Học Thâm, đại tá gốc Hoa ở Bộ quốc phòng Mỹ - từng tham gia Kế hoạch Manhattan làm bom nguyên tử của Mỹ - hồi hương với hơn một tấn tư liệu khoa học. Nhiều khoa học gia Trung Cộng được đào tạo tại Mỹ. Con số này nhiều hơn các khoa học gia Trung cộng đi học ở Liên Xô.

Thuật này cũng là thuật cờ gian bạc lận. Cao thủ có quân Ach, cố ý bỏ quân King hoặc Queen vào tay đối phương để họ "hồ hỡi phấn khởi " bỏ tiền ra mà nhập trận. Thuật này cũng là âm mưu Nhậm ngã Hành cố ý truyền " Quỳ Hoa Bảo Điển " cho Đông Phương Bất Bại. Ôi, các truyện kiếm hiệp Trung Quốc đều bày tỏ hai tính chất mạnh mẽ của người Trung Quốc. Đó là tham vọng làm bá chủ quần hùng, và sự thù hận. Để thỏa mãn tham vọng làm bá chủ võ lâm,  các anh hùng hào kiệtTrung Quốc đã tìm đủ trăm phương nghìn kế để có Quỳ Hoa Bảo Điển là vũ khí tối thượng để chế ngự thiên hạ nhưng  họ không biết rằng  đi tìm Quỳ Hoa Bảo Điển là đi tìm cái chết thảm khốc. Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi đã tự thiến, là đã tự hủy hoai đời sống của mìnhtrước khi đạt đến danh vọng và uy quyền.


Chính tham vọng đế quốc xâm lược, Nga và Trung Cộng đều nhào tới việc tăng cường quân sự nhằm đánh bại Mỹ và xâm chiếm thế giới.Họ cũng như Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi vì tham vọng mà tự hại bản thân và dân tộc. Việc chạy đua vũ trang, sẽ đưa đến suy sụp kinh tế và lòng dân bất mãn. Những việc đó sẽ đưa đến sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc của Nga và Trung Cộng trong nay mai.

No comments: