Friday, September 19, 2014

NGÔ VĂN TAO * KARL MARX


NGÔ VĂN TAO


Ngô Văn Tao
Nguồn: Gió-O


Something is rotten in the state of Danmark
The time is out of joint. O cursed spite
That ever I was born to set it right

(Shakespeare “Hamlet”)

Vương quốc này có gì thối nát
Thời bất ổn. Ôi! nghiệt ngã và oan trái
Tôi phải sống và lập chính đạo


Tháng 4 năm 1993, ở một đại học Hoa Kỳ có cuộc hội thảo với đề tài: Chủ nghĩa Marxit đi về đâu? (Whither Marxism?). Jacques Derrida (1930-2004) trình bày trong hai buổi một thuyết trình: Những bóng ma của Marx (Spectres de Marx, edit. Galilée-Paris 1993).



“Những bóng ma của Marx” là một thảo luận chứ không phải là một văn bản luận đề học thuyết có hệ thống chặt chẽ. Mà thật, J.Derrida là triết gia nhưng là triết gia theo truyền thống Heidegger. Vấn đề của tư tưởng gia, theo Heidegger, không phải là đưa ra một thuyết lý hay một giáo điều mà xác định nhân sinh là “thử tại” (Dasein=Being), “trong cõi hiện hữu với bốn chân trời luôn luôn di động”. Tỉ như đối với nhà thơ Bùi Giáng, cái cõi đó là vũ trụ thi ca và ngôn từ.
 
 Còn đối với J.Derrida, nổi danh với ý niệm giải cấu (déconstruction), trong thế giới hiện hữu mà ở đó ta thử tại, không có gì là một tổng thể cố định, chúng ta phải biết cảm nhận tất cả là những tổng thể bản chất hỗn hợp (brownien) mà chúng ta luôn luôn giải thể và với ý thức tái cấu tạo. Và như thế ngay khi ta suy tư trên một vấn đề hiện sinh nào đó, nên những văn bản của J.Derrida đều là những ý tưởng tạp hợp đột phá, buộc người đọc phải tự tạo một hệ thống suy luận để không rơi vào mê đồ, cái mê đồ của thế giới tư duy nhân sinh thực tại.

Những bóng ma? Bóng ma Liễu Trai, bóng ma linh hồn người đã chết? Cuộc hội thảo nói trên với đề tài: Chủ nghĩa Marxit đi về đâu?, thật hàm ý, sau cuộc đổ vỡ ở Đông Âu, sự cáo chung của Xã Hội Chủ Nghĩa; J.Derrida thấy cần phải nói tới bản Tuyên Ngôn Của Cộng Sản (le manifeste du communisme), Cộng Sản Đệ Nhất Quốc Tế, mà Friedrich Engels và Karl Marx soạn năm 1848, trong đó có câu: “Trên Lục Địa Âu Châu này, một bóng ma đã tới phủ đầy, bóng ma Cộng Sản!” (Ein Gespent geht um in Europa – das Gespent des Kommunismus!). Vậy bóng ma đây là một sự ám ảnh, một linh tính khắc khoải chờ đợi, dù rằng mỗi khi ta nói tới bóng ma là ta nghĩ tới một cái gì quá cố trở về vật vờ trước nhãn quan, trong tiềm thức.

J.Derrida nói đến bóng ma, không phải để bàn luận về “những ám ảnh áp chế”, như trong phân tâm học freudian, mà trước hết nhìn lại khái niệm thời gian, sự liên tục quá khứ, hiện tại, tương lai. Đặc biệt hiện tại đang sống (le présent vivant), sự liên đới giữa quá khứ và tương lai, hàm chứa trong cái bây giờ những gì đã qua, bóng ma của những hiện tượng, cùng với những gì sẽ đến, không biết nội dung ra sao nhưng hiện đấy.

Nhưng có thể nói trong nhân sinh văn hóa của con người hiện đại, cái “bây giờ” chỉ là “ngày mai”, ngày mai của đồng tiền, của tiện nghi, ngày mai triển khai cơ giới, súng đạn tân tiến…ngày mai của những cái biết. Con người hiện đại không cần đến quá khứ, chỉ cần đến trí nhớ của những bộ óc điện tử (computers). Chúng ta không nghĩ về quá khứ, chúng ta biết rất nhiều, ghi nhớ tất cả với bộ óc điện tử, tưởng lúc nào cần cũng có thể lôi ra những tư liệu để thiết kế tối ưu những công trình cho ngày mai, ngày mai này con người sống lâu hơn, điều kiện vật chất luôn luôn cải tiến, không ưu phiền thiếu thốn…Với sự khống chế của khoa học và kỹ thuật, con người hầu như chỉ biết sống với siêu hình học, siêu hình học của cái biết khoa học, của khả năng kỹ thuật. Tâm thức toàn khối là hướng về ngày mai, ngày mai huy hoàng mà loài người sẽ đi chinh phục những vì sao, chúa tể cả vũ trụ…


Siêu hình học “ngày mai huy hoàng” thâm nhập vào tư duy của đại chúng, trong chính trị cũng như trong cuộc sống mỗi ngày. Nhưng đó chỉ có thể là sự phiến diện của tâm linh trí tuệ, một sự kiện của “thời gian trật bản lề”(the time is out of joint), với cái “bây giờ” là một cánh cửa gẫy chỉ cho phép đi về tương lai. Thời gian thật phải là giòng sông, con người trôi theo giòng nhưng luôn luôn bồng bềnh giữa xoáy lốc, long đong xuôi ngược giữa tương lai và ý niệm của những gì minh đã sống. Tất cả những gì mà người ta làm được cho sự hiện thành của con người, phải là những nhớ nhung, những hồi tưởng quá khứ, cùng một lúc hướng về tương lai phủ đầy bởi những khắc khoải, những nghi vấn và mang mang những hứa hẹn, những hoài bão không cùng vô định.

J.Derrida nghĩ làm người phải là con người tổng thể trong giòng thời gian, tổng thể như “người trí thức Âu Châu”, người trí thức mà Paul Valéry xác định: “người trí thức Âu Châu có Kant đến trước Hegel, có Hegel đến trước Marx, có Marx đến trước bản thân”. Vậy con người tổng thể phải là con người lịch sử, lịch sử của một dân tộc, của một nền văn học, của một giòng tư tưởng. “Người trí thức Âu Châu” , giòng văn học tư tưởng Âu Châu, mang mãi gia tài thừa kế, những suy tư của Kant, ý niệm “vật tự thân, Tự do, Đạo đức”, những luận trình của Hegel, phạm trù khái niệm và biện chứng pháp, “sự thật chỉ là một cuộc truy hoan mà các tân khách đều say mềm không đứng vững”…Còn Karl Marx? Đó là đề tài J.Derrida thấy cần phải thuyết trình.


Tuy nhiên, J.Derrida không luận trình theo kiểu kinh viện trường quy rằng ta phải thừa hưởng thế nào gia tài để lại của Karl Marx. Bản thuyết trình của J.Derrida là gồm những ý tưởng phức tạp đột phá, rối ren đan kết. Đặc biệt nói tới những bóng ma của Marx, bản thuyết trình của J.Derrida trước hết là một cái nhìn lịch sử, thời gian hiện tại và tương lai đang sống, và cả tương lai xa xôi với những lời hứa và mệnh lệnh. Một phần nào là cái nhìn luận chiến vào thời cuộc thế giới, đưa ra một lập trường chính trị nhân sinh.

Cuộc hội thảo: “Chủ nghĩa Marxit đi về đâu?”, tháng 4/1993, là để cùng nhận định sự xụp đổ của những chính thể chuyên chế xã hội chủ nghĩa Liên Xô và ở Đông Âu, sự cáo chung của xã hội chủ nghĩa Marxit, nền móng của những chính thể đó, và rằng nếu xã hội chủ nghĩa Marxit còn độc tôn ở những nước như Trung Hoa hay Việt Nam thì chỉ là một thứ xã hội chủ nghĩa Marxit đã bị “giải tỏa” (perestoika) hay đã bị tha hóa trong “đổi mới”. Nhưng không phải vì thế, J.Derrida vội nhấn mạnh, mà chúng ta có thể theo Francis Fukuyama (tác giả của quyển xã luận văn: The end of history and the last man”) kết luận rằng chúng ta đương đi đến sự cáo chung của lịch sử, trong cái nghĩa nhân loại, con người xã hội chung cục, chỉ còn biết đi tới “xã hội tự do dân chủ”(?); tiến tới xã hội tự do dân chủ âu tây, như tiến tới “miền đất hứa của thời hậu thế của chúa Cứu Thế”.


Tự do dân chủ, ngọn cờ chiêu bài của những nước tư bản Âu Mỹ, người dân phải có quyền bằng lá phiếu tự chọn những người thay mặt mình điều khiển đời sống xã hội, tổng thống, thủ tướng, quốc hội, hội đồng nhân dân xã và huyện…Nhưng cái quyền tự do có thật được thực hành trên thế gian? Không nói gì ở Trung Quốc hay ở Việt nam, có quốc hội, có hội đồng nhân dân, nhưng công khai dưới độc tài đảng trị cộng với những hỏa đầu bè phái, mà ngay ở Mỹ Quốc, mệnh danh tiền phong dân chủ, chúng ta không thể quên sức mạnh đen tối của hệ thống máy móc truyền thông, những guồng máy nằm trong tay những tập đoàn tài phiệt, công ty sản xuất vũ khí, những chủ dầu mỏ ở Trung Đông…Những bè phái, những guồng máy nhũng loạn, gian lận méo mó ước vọng chân chính của người dân. Nguyên nhân bất tận hung triệu của thời bất ổn trong những cái tương lai hiện tại.

J.Derrida luận chứng lời phản biện trên. J.Derrida thấy cần phải xác định chúng ta đã thừa hưởng gì, những bóng ma của Marx để chúng ta có thể trung trực phê phán và giải cấu thực tại xã hội, thế giới và lịch sử. Năm 1993, có sự cáo chung của Xã hội Chủ nghĩa Marxit, thì là sự cáo chung của chủ nghĩa giáo điều tập đoàn bè phái đảng trị chuyên chế đã xụp đổ ở Đông Âu. Cái chủ nghĩa khô cứng phi nhân tính, mà chắc chắn Marx phủ nhận, mang thảm họa cho nhân loại với Staline tàn bạo, với Pol Pot điên rồ giết hại dân tộc của chính mình, với Mao Trạch Đông thần thánh hóa hung bạo của phong trào “quyển sách đỏ”. Karl Marx không phải là Marx của chủ nghĩa đó. Karl Marx là nền tảng triết lý đưa chúng ta nhìn ra cái “hố thẳm của xã hội con người” (cf. Michel Henry, triết gia người Pháp). J.Derrida nói lên những bóng ma, những bóng ma mà theo Marx nằm ngay cả trong xã hội dân chủ tư bản: bóng ma của đồng tiền, bóng ma của hàng hóa thị trường, bóng ma của những nhu cầu nhân gian càng ngày càng lớn phủ đầy xã hội tư bản và làm điên đảo lịch sử.


Karl Marx (1818-1883) đã không sống để thấy cái hưng thịnh của xã hội tư bản, cùng những thành tựu hầu như bất tận của khoa học kỹ thuật. Chắc chắn K.Marx có những nhận định lỗi thời về xã hội và thế giới – sự đấu tranh giai cấp trong bối cảnh kinh tế hiện tại không còn là động cơ lịch sử. Nhưng J.Derrida nhấn mạnh, tinh thần của Marx –“cái hồn ma triết lý”- vẫn ở bên chúng ta để cùng biết triệt để giải cấu hay phản biện. Đi theo bóng của K.Marx, ta luôn luôn có ý niệm hiển nhiên, mọi sự đều mang sẵn mầm ung độc, tha hóa và suy đồi, không bao giờ có sự cáo chung của lịch sử, con ma cách mạng tuyệt nhiên ẩn chìm đâu đó sẵn sàng đột phát giải tỏa những mâu thuẫn của thực tại (cơn xoay lốc của Hegel trong phạm trù của khái niệm và biện chứng pháp). Và ta nên ghi nhớ rằng K.Marx không ngừng tuyên dương tinh thần khoa học của khoa học, can đảm phản biện đến tận cùng, không dùng những sáo ngữ nhàm chán, những mặt nạ, những bóng che vĩ nhân giấy bồi, để che đậy những sai lầm, những phản bội, những mâu thuẫn, đẩy tất cả vào tủ kín đồ thải dù vẫn biết rằng những tội lỗi, những phản bội, những tội ác sẽ không tan biến, rồi sẽ trở về cho sự diệt vong (lịch sử) của chính mình và của bè đảng mình.
 
J.Derrida xác định phải là một tín đồ của một Phúc âm mới, che dấu một siêu hình học thần bí Do-Thái-Cơ-Đốc đạo kín nào để tin rằng trong thế kỷ thứ 21 này, thế giới sẽ hòa đồng đi tới xã hội tư bản toàn thịnh, hội nhập tự do kinh tế toàn cầu, chia chung một dân chủ chủ nghĩa, một nhân bản chủ nghĩa khoa học kỹ thuật máy móc cơ giới.. Đó là sự mù quáng phủ nhận “những bóng ma của Marx” và điên loạn chìm trong những áp chế của tiềm thức, không nhìn nhận ra sự tao loạn của lịch sử hiện tại (“Chủ nghĩa khủng bố” . Chiến tranh tôn giáo. Nhà nước Do Thái ở Palestine và Đế quốc kỳ thị chủng tộc…) Phải làm sao, có thể nghĩ rằng chúng ta tới sự cáo chung của lịch sử, tới thời con người chung cục với những nhu cầu tăng tiến và đồng đều thỏa mãn?


J.Derrida nghĩ rằng cuộc hội thảo tháng 4 năm 1993 đúng ra phải có đề tài: “Thế giới đi về đâu?” , “Nhân loại đi về đâu?”. Thế giới đang đi tới thời xao động, cục diện địa lý đổi thay, xác nhận lại thế nào là nhân quyền và thế nào là chính nghĩa. Hay là chúng ta tất cả cùng đi vào thế giới hư vô của những người Anh Cả (the Big Brothers), đầu óc máy móc điện tử nắm trong tay hệ thống tuyên truyền thông tin đại chúng chỉ đạo từng giây từng phút tư duy của mỗi người. Đặt câu hỏi và suy luận, cũng là trở về suy ngẫm trên gia tài mà chúng ta thừa kế từ Karl Marx: những bóng ma của Marx! Vấn đề không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa Marxit, mà là bây giờ hơn bao giờ hết trước sự phá sản của giáo điều chính trị mệnh danh Marxit, những triết gia, những nhà nghiên cứu học giả phải đọc lại Marx, đúng theo ý niệm praxis của Marx , giải cấu với ngôn ngữ thích ứng với thời hiện đại…”Triết gia tìm hiểu xã hội, vấn đề chính yếu cũng là vạch ra những lệch lạc bất tất của xã hội xung quanh…Thuốc phiện làm ngu muội người dân, chính là những giáo điều khô cứng, đường lối chinh trị độc tài phiến diện một chiều”
 
Tháng 3/2012

N.V.T.
__________


[*] Bài thảo luận của J.Derrida :Spectres de Marx, Nhà xuât bản Chinh Trị Quốc Gia, Tổng Cục II Bộ Quốc Phòng-Việt Nam đã phát hành bản dịch ra tiếng Việt, năm 1994. Tiện dịp, cũng có những cuộc hội thảo (của Đảng Cộng sản Việt Nam) dưới nhan đề: Chống diễn biến hòa binh!, tiếp thu từ J.Derrida duy nhất một câu: “Không có tương lai nếu không có Marx, không có di sản của Marx” .


Bài tản văn trên côt yếu trích lược từ bài tản văn “Những bóng ma của Marx” ký tên Cao Tôn đã đưa lên mạng Talawas.org vào năm 2005.


Bài tản văn này mong có phần II, tương đối trường quy hơn, chủ trương nêu được rõ thêm nên tìm hiểu Marx sao trong hiện thành lịch sử xã hội hiện tại.


Những bóng ma của Marx II
http://www.gio-o.com/NgoVanTao/NgoVanTaoBongMaMarx.htm


Trong năm 2011, nhật báo thời sự văn học và chính trị Le Monde (Paris-France) xuât bản đặc san “Hors Série-Le Monde: Karl Marx”. Tuy chỉ là một đặc san hơn một trăm trang giấy, nhưng xác định một cái nhìn tổng quát và rât hiện đại, lược trình cuộc đời của Karl Marx (1818-1883), trích lược nguyên văn những ý tưởng cốt yếu duy vật khoa học lịch sử biện chứng và chủ động cách mạng xã hội cộng sản của K.Marx. Đặc biệt nhất cùng với những lời phản biện và thảo luận của Jean Jaurès (1859-1914), lãnh tụ công đoàn và đảng xã hội Pháp (parti socialiste), của François Holland, ứng cử viên sáng giá của đảng xã hội cho cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2012, cùng những lời bàn của nhiều tư tưởng, triết gia nhân văn xã hội như Louis Althuser (1918-1990), Jacques Derrida (1930-2004), Cornelius Castoriadis (1922-1997)……Những tư tưởng, triết gia đã chìm đắm trong những xã luận của Marx, nhưng phản biện thích ứng sao trong sự hiện thành lịch sử thế giới hiện đại.

Bài tản mạn dưới đây của tôi là những lời riêng tư “thông diễn giải” qua đặc san này.

“Lao động vô sản thế giới hãy đoàn kết!”. Cho một cuộc cách mạng không biên giới, phá vỡ ách thống trị tàn bạo hút máu của thực dân tư bản thuộc địa, đập tan chế độ tư bản tha hóa sức lao động của con người. Thanh niên vô sản lao động mồ hôi nước mắt, đặc biệt như ở Việt Nam còn lầm than nhục nhằn với thực dân đế quốc Pháp, tất nhiên rung động trước lời kêu gọi đó, lời kêu gọi của Đệ Tam Quốc Tế (đảng cộng sản quốc tế chủ nghĩa Marxit-Leninit-Stalinit circa 1917-1950), của những đảng cộng sản thế giới. Lời kêu gọi với lời hứa hẹn một ngày mai sán lạng, ngày mai của xã hội cộng sản, “không một ai bị trói buộc lao động, mọi người đều hoạt động đóng góp sản xuât theo sở thích; xã hội sẽ tự động phân phối sự thu hoặc của mọi người để cho ta mỗi người có thể hôm nay làm việc này ngày mai làm việc khác, đi săn buổi sáng, đi câu buổi trưa, chăn nuôi buổi chiều, tối về sau bữa cơm nhàn rỗi ngồi bàn luận chuyện trời đất, không một ai bắt buộc phải làm thợ săn, ngư dân, mục đồng hay nhà văn cạo giấy.” (K.Marx – (Tư tưởng lý thuyết của dân Đức) Idéologie Allemande , Edit. Gallimard 1994, page 318-321)

Lời kêu gọi cùng cái ngày mai sán lạng không tưởng đó vang vọng đến từ K.Marx, tư tưởng gia của Đệ Nhất Quốc Tế Cộng Sản Đảng ( với Engels là tác giả bản Tuyên ngôn “Le manifeste du communisme – Marx & Engels, 1848” ). Để chứng thực cho cuộc cách mạng hoàn vũ cộng sản chủ nghĩa tương lai, K.Marx tận tụy cả đời tìm đặt ra lý thuyết cơ bản xã hội và nhân sinh dẫn dắt tầng lớp lao động vô sản của thế giới tranh đấu thoát khỏi hố thẳm đen tối của chế độ chính trị kinh tế tư bản.

K.Marx trước hết là triết gia, đã từng là “thanh niên Hegel-ian” (Les jeunes Hegeliens), theo lý thuyết khoa học biện chứng của Hegel nhưng không chấp nhận khía cạnh duy tâm trong tư tưởng của Hegel, trọng thị sự hiện thành của con người với lý tính siêu thoát, có tôn giáo, có hoài bão nghệ thuật. Quan niệm nhân sinh của K.Marx chủ yếu là duy vật. Con người có tư duy, bản chất trước hết là con người của xã hội, của đời sống cộng đồng. Sự hiện thành của con người là hiện thành trong điều kiện vật chất, lao động để giải đáp những nhu cầu vật chất sinh lý tồn tại, hiện thành trong khuôn khổ tập quán và hệ thống trật tự của xã hội mình. Chính tôn giáo thịnh hành cũng chỉ là một hệ thống điều chỉnh nếp sống của mọi người, cho ta cái cảm giác bình đẳng thân ái trong xã hội (ai ai cũng là con chiên trước Thượng Đế). Tuy nhiên, xã hội của con người luôn luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn, những lệch lạc bất tất, người hại người, người bóc lột người. Nên K.Marx nói lên tiêu chỉ nổi tiếng: “triết gia xưa nay chỉ lo diễn giải thế giới, nhưng vấn đề của chúng ta là phải luôn luôn cải thiện xã hội mình”.

Chính tiêu chỉ này đã ám ảnh nhiều nghệ sĩ và tư tưởng gia thế giới vào nửa đầu thế kỷ thứ hai mươi khi theo K.Marx còn tin tưởng ở lý thuyết có sức lôi cuốn mang công lý tới cho xã hội. K.Marx, trong thời ông, vào nửa cuối thế kỷ thứ mười chín, thì nhận ra chế độ tư bản, phát triển kỹ nghệ, tiềm ẩn lệch lạc, tha hóa bản chất con người. Lý thuyết của K.Marx là vạch ra ở những xí nghiệp lan tràn, người công nhân chỉ còn là một phần trong hệ thống cơ giới sản xuất, sự lao động của họ bị tha hóa mất bản chất nhân tính ( tư liệu sản suất có lợi gì trực tiếp cho bản thân, cho người quen?), chỉ còn là một động cơ với giá trị thương mại, thực tại vật chất mang lại lợi nhuận (la plus-value) cho chủ xí nghiệp. 
Và ngay cả những người tư bản, những ông chủ của cơ sở sản xuất, cũng tha hóa, họ cốt yếu bận tâm duy nhất một điều là tìm lợi nhuận, sản xuất thật nhiều hàng hóa để tung bán ra trong thị trường. Một chế độ tha hóa con người, tiềm ẩn mâu thuẫn giữa công nhân và tư bản, mâu thuẫn ngay trong nội bộ tầng lớp tư bản đưa đến phá giá thị trường với sự sản xuất tham lam quá độ. Chế độ tư bản rồi đây bắt buộc phải suy thoái. Giai cấp công nhân vô sản càng ngày càng đông, càng bị bóc lột sẽ là sức mạnh để cách mạng cải tổ cái chế độ xã hội hủ lậu này. Giai cấp công nhân vô sản lớn mạnh sẽ đứng lên, công cộng hóa mọi cơ sở sản xuất, tổ chức lại xã hội sao cho chúng ta tới ước mơ lãng mạn, “một xã hội mà mọi người sẽ lao động đóng góp tùy theo bản năng, tiếp thu đầy đủ cho nhu cầu vật chất tất yếu của mình”.

Đệ nhất quốc tế cộng sản đảng, mà Marx-Engels viết bản tuyên ngôn, chính là đảng muốn cùng giai cấp lao động vô sản đảm nhận sứ mạng. Một cuộc cách mạng với sự hiện thành của giai cấp lao động vô sản đa số trong quần chúng và chính tầng lớp tư bản tự nó cùng chế độ của họ tiềm ẩn sự suy thoái. Tuy nhiên, K.Marx thừa biết sự lệch lạc bất tất trong đời sống, nên K.Marx nhắc nhở praxis, hành động và trưởng thành thực tiễn mà chúng ta phải có trong cách mạng để thích ứng với hiện tượng xã hội tức thời. K.Marx nhân đó cũng biết khó mà có thể quy định xã hội cộng sản tổ chức sao để cho chúng ta đạt tới ước mơ lãng mạn.

 Tổ chức sao cái xã hội cộng sản của ngày mai? K. Marx chỉ có thể mơ hồ nuối tiếc và nhắc tới Công Xã Paris (1871), cách mạng tồn tại không đầy hai tháng mà bị tiêu diệt ngay trong máu lửa, “một công xã có hội đồng nhân dân, được toàn dân chọn lọc nhưng có thể bị quần chúng sa thải, để tổ chức công xã, vừa lập pháp và vừa hành chính…Chức vụ công an là chức vụ phi chính trị, trách nhiệm duy nhất trước hội đồng nhân dân…

Tât cả những ai trong hội đồng hay được trao trách nhiệm hành chính nào sẽ được chọn lọc hữu hạn với lương bổng như một công nhân lao động…K.Marx thừa biết con đường chính trị cách mạng cộng sản không là con đường cái được vạch rõ ra cho xã hội. Hàng ngàn trang sách của K.Marx, xã hội học, kinh tế học, nhân sinh lý thuyết, cốt yếu là những trang chính trị đấu tranh, với những quy định hữu hạn (theo thuyết duy tâm của Hegel!!), tự nó có mâu thuẫn, có giá trị chỉ tức thời, không tránh được những kẻ khác thi nhau diễn giải với những lập trường đối nghịch, phản bội ngay cả chính ông; K.Marx đã từng thổ lộ với Engels một câu nổi tiếng: “họ thi nhau bình luận; nhưng tôi biết tôi không là marxit “ (không phải là marxit trong sự diễn giải lý thuyết của mọi người- nvt).

Có lời đàm luận nguyên văn sau đây của triết gia Cornelius Castoriadus (1922-1997), năm 1975 trong đêm cùng phá sản của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Marxit-Leninit-Stalinit (với sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa ở những nước Đông Âu):


“Chúng ta đang sống đây, sau bình minh hứa hẹn để tới ngày chỉ đầy khó khăn nghi vấn! Những công đoàn ( của giai cấp công nhân vô sản) khắp nơi trên thế giới trở nên hành chánh quan liêu (bureaucratisé) không một chút gì triển vọng đóng góp cho xã hội của con người ngày mai…Một hành chánh quan liêu ngay ở những nước mệnh danh xã hội chủ nghĩa Maxit-Leninit, mang chủ nghĩa Marxit ra làm bình phong cho những chính thể “giáo điều vụ giai cấp lao động trên giấy tờ” nhưng thật sự tàn bạo ức hiếp và sự tha hóa con người vẫn nguyên đó…Chủ nghĩa xã hội Marxit đã chết rồi, như một động cơ chính trị xã hội không còn ý nghĩa gì bởi quá nhiều lý lẽ”.

“Tôi không là marxit!”, lời nói đó của K.Marx như tiên đoán lý thuyết của ông sẽ tha hóa trong giòng lịch sử. Theo C.Castoriadus, sự tha hóa tai hại nhất chính là các tư tưởng gia chính quy cộng sản (những đảng viên) chỉ biết nghĩ theo K.Marx một cách giáo điều sơ cứng “biện chứng duy vật lịch sử”, từ cái nhìn phản biện chế độ tư bản xưa của K.Marx đưa ra quan niệm sơ đồ chính trị, kinh tế lịch sử như một hiện tượng khoa học vật chất trong sự hiện thành của nó, phát triển theo những quy luật kỹ thuật khách quan.

Chính quan niệm này coi như là tuyệt đối chính xác, đưa đến sự hiện thành một đội ngũ lãnh đạo quan liêu, tự nhận mình là chuyên gia bác học chính trị kinh tế xã hội, thực hành những quy luật của xã hội, những quy luật tât yếu và duy nhất ôm mang chính nghĩa và lẽ phải.. Một đội ngũ tự đại, tự kiêu, không còn nhân tính, phủ nhận sự hữu hạn của chính mình, chính mình trong cái phận làm người. Một đội ngũ không chấp nhận có thể nhầm lẫn, trở nên giả dối, giả dối với cả chính mình; chỉ biết giáo điều không chấp nhận phản biện, trở nên độc tài tàn bạo (Staline, Pol Pot, “phong trào quyển sách đỏ của Mao Trạch Đông”, “thảm họa cải cách ruộng đất và vụ án nhân văn giai phẩm ở Việt Nam” ).

Những hiện tượng lệch lạc bất tất đó, chính nó đã làm xã hội chủ nghĩa Đông Âu xụp đổ, xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và ở Việt Nam phải thay hình đổi dạng, đổi mới nền kinh tế lạc hậu sơ cứng “bao cấp xã hội chủ nghĩa’’ ( phủ nhận sự tự do tối thiểu của con người, điều hòa nhu cầu và tư liệu vật chất như mang nải chuối ra chợ bán, mang áo cũ ra mời mua) và gia nhập nền kinh tế thị trường tự do tư bản, nhưng tiếc rằng dưới sự quản trị của tập đoàn xã hội quan cũ bè phái hỏa đầu.

Sư thật là “biện chứng pháp duy vật khoa học lịch sử” của K.Marx, tự nó không có ý nghĩa! Lịch sử chuyển biến không phải hoàn toàn qua những đòi hỏi kinh tế, qua những mâu thuẫn đấu tranh quyền lợi vật chất. Nó cũng là sự chuyển biến qua những lệch lạc bất tất duy tâm, lý tính của con người, chiến tranh thế giới thứ hai bắt nguồn từ ảo vọng tàn bạo dã man của tập đoàn phát xit Hitler, sự xung đột ở Trung Đông hiện nay bắt nguồn một phần từ chủ nghĩa toàn thống Do Thái (le fondamentalisme juif)….


Xã luận đấu tranh chính trị của K.Marx, lý thuyết khoa học duy vật biện chứng Marxit, đã viết ra trong tình trạng xã hội kinh tế của Âu Châu, với sự triển khai kỹ nghệ hóa ở nửa cuối thế kỷ thứ 19. Hơn một thế kỷ sau, tình trạng hoàn toàn thay đổi, kinh tế đột phá với khoa học kỹ thuật ngoài sự tiên đoán của K.Marx. Ở Âu Mỹ, những nước tiền phong kỹ thuật, giai cấp lao động cũng theo đà trở nên trung lưu tiểu tư sản (bourgeois!). Không còn lao động dây chuyền mồ hôi nước mắt mà là công nhân kỹ thuật, là nhân viên dịch vụ, trọng thị quyền tư hữu (the american dream!), như là bản chất ngàn xưa của con người. Trọng thị sự tự do sáng tạo của mỗi người, dù có thể chỉ trong cái thế giới hiện sinh nhỏ bé của riêng mình, cái tự do sáng tạo ngoài ra chính là động cơ cho sự đột phá khoa học và kỹ thuật. Ở những nước tiền phong đó, tư bản chủ nghĩa trở nên là lẽ sống, Ai cũng có sổ tiết kiệm, quỹ hưu bổng đầu tư trong chứng khoán của những công ty kỹ nghệ hay tài chính. Giai cấp vô sản, trong cái nghĩa Marxit, không còn là tập thể cốt yếu, nếu có, trong xã hội. Hiện tượng đấu tranh giai cấp không còn có trong xã hội.


Lịch sử không bao giờ vào chung cục! Luôn luôn có những xung đột ngay trong tình trạng vĩ mô giữa người và người, bè phái tài phiệt nhũng loạn thế giới, tham ô chức quyền (những lãnh tụ độc tài tàn bạo) đưa đến nội loạn quốc gia, những lệch lạc bất tất nhân sinh của bản chất làm người trong xã hội..…Hội đồng quốc tế (Organisation des Nations Unies) là một tiến bộ văn minh, nhưng không sao xóa bỏ được sự chênh lệch giữa nước giàu và nghèo (những nước nghèo vẫn là hậu cần để đóng góp tài nguyên, lao động hạ tầng). Hơn nữa văn minh dân chủ tự do thương mại và tài chính kỹ thuật đến đâu vẫn tiềm tàng mâu thuẫn, như sự khống chế của tập đoàn tài phiệt do thái, sự thành lập nước do thái Israel cùng chủ nghĩa toàn thống do thái, gián tiếp làm bàn đạp để tuy trì mỏ dầu ở Trung Đông, hợp với quyền lợi của những công ty tư bản Âu Mỹ.

 Sự hưng thịnh bá quyền đó bắt buộc phải mang đến sự phản kháng, chủ nghĩa khủng bố với chủ nghĩa toàn thống hồi giáo (le terrorisme et le fondamentalisme musulman). Sự phản kháng nhất định phải có, như Marx có thể nhận định qua lý thuyết biện chứng pháp. Cũng như sự hưng thịnh giàu sang tư liệu vât chất càng ngày càng phải tăng tiến (la surproduction commerciale) với sự đột phá không ngừng của khoa học và kỹ thuật, mang theo nguy cơ thảm họa môi trường (cùng những trái bom nguyên tử, trong nghĩa bóng và nghĩa đen lủng lẳng trên đầu nhân loại), mang đến những thiên tai ngoài tầm dự đoán. Tất cả rồi đây sẽ tan hoang, đưa nhân loại trở về thời tiền sử chăng?


Lý thuyết Marxit, xã hội học và kinh tế luận, không còn ý nghĩa tức thời. Thật ra càng ngày chúng ta càng nhận ra sự hữu hạn của mọi lý thuyết nhân sinh xã hội; “hậu hiện đại” và “hiện tượng học” là tư duy của thời hiện đại, không chấp nhận “đại ngôn tự sự lý thuyết” (la fin des grands récits théoriques). Nhưng giấc mơ lãng mạn của Marx vẫn còn đó; dù cái xã hội hoàn mỹ “mọi người đóng góp theo bản năng và đồng đều hưởng thụ” chỉ là một viễn cảnh không bao giờ tới.

Xã hội chủ nghĩa Marxit đã viết lên những trang sử, một thời hăng say lãng mạn một thời tàn bạo đen tối đẫm máu, và dưới một hình thức mơ hồ nào đó còn là giáo điều ý thức hệ của hai ba quốc gia trên thế giới, nên vẫn phải là một lý thuyết cần diễn giải hay đúng hơn giải cấu (J.Derrida), Đặc biệt nhất, K.Marx là nhân vật điển hình, triết gia tận tụi cả đời tìm những lý lẽ để tranh đấu cải thiện xã hội. Hoàn thiện xã hội để không một tập đoàn tham ô nào lợi dụng người dân, để trong xã hội giá trị con người là chính, sự bình đằng và sự tương hữu xã hội trong cộng đồng nhân loại là cứu cánh. K.Marx sẽ luôn luôn là thần tượng nhắc nhở nhân loại phải hòa đồng, chung sức cho loài người vượt qua những thảm họa thiên tai (sự phá hoại môi trường), những lệch lạc bất tất của lịch sử ( nguy cơ lệch lạc chính trị đưa đến nghèo nàn đói khát, nguy cơ chiến tranh với những sự mù quáng bá quyền).


Tháng 4/2012

Ngô Văn Tao

ttp://www.gio-o.com/NgoVanTao.html

No comments: