Sunday, September 28, 2014

TRẦN ĐỨC THẢO

 

Blog / Bùi Tín

Một cuốn sách rất cần tìm đọc

Cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một nhà báo sống Pháp được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành hơn 1 tháng nay. Sách in đẹp, dày 428 trang, gồm16 phần, thêm phụ lục.
Tôi đã đọc cuốn sách này một mạch trong 2 ngày. Rồi đọc lại 1 lần nữa, để rồi suốt 1 tuần lễ ngẫm nghĩ về nội dung của nó.
Trần Đức Thảo (1917 – 1993), con một nhà tư sản Phố Cổ đất Hà Thành, là một trí thức được đào tạo tại Pháp và cũng là một triết gia trẻ uyên bác khá nổi tiếng, từng tranh luận tay đôi với nhà triết học Jean Paul Sartre.

Năm 1951, khi 34 tuổi, Trần Đức Thảo tự nguyện về nước qua con đường Moscow với thiện chí “mang hiểu biết của mình về góp phần xây dựng đất nước”. Nhưng tai họa đã sớm đến với ông. Lãnh đạo VN, từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng lúc bấy giờ) đều tỏ ý không cần đến “một anh trí thức mọt sách do đế quốc đào tạo”, còn coi ông là một kẻ reo rắc tư tưởng phản động nguy hiểm. Ông suýt chết 2 lần, một lần khi tham gia đội cải cách ruộng đất ở Chiêm Hóa đã nói lên nhận xét là tòa án nhân dân trong xét xử địa chủ là không ổn, mang tính cưỡng bức phi pháp, làm cho cố vấn Trung Quốc phật lòng và ông suýt toi mạng về chuyện này; hai là khi Hà Nội được giải phóng, ông tham gia bằng 2 bài viết trên báo Nhân Văn cùng Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, bị coi là “tên đầu sỏ nguy hiểm”. Từ đó ông bị giám sát, bỏ rơi trong cuộc sống, mất việc, mất vợ, sống lay lắt, lập dị, đi đôi guốc mộc, nói, khóc và cười một mình, cưỡi chiếc xe đạp trẻ con mang nhãn hiệu nước Nga giữa phố phường Hà Nội.
Đến nay, khi cuốn sách ra rồi, mọi bí ẩn, đồn đoán nhiều khi sai lạc về con người ông mới được giải mã khá là đầy đủ.


Thì ra sau khi bị đe dọa, trù úm, cô lập, đầy ải về cả tinh thần và vật chất, triết gia sinh bất phùng thời này quyết sống một cuộc sống 2 mặt, một mình mình biết một mình mình hay, cảnh giác cao, và nhiều khi phải đóng kịch với mọi người để tồn tại. Cái con người mà thiên hạ cho là lẩn thẩn, có khi như mất trí ấy thật ra vẫn cực kỳ minh mẫn, ghi nhớ, nghiền ngẫm, suy tư, với chủ tâm sẽ có ngày được phơi bày mọi sự ra ánh sáng, khi bản thân được tự do.
Và cái ngày tự do ấy đã đến, khi người ta muốn đuổi ông già 74 tuổi vô tích sự - và có thể là vô hại cho họ - ấy đi xa cho khỏi vướng víu. Tháng 3 năm 1991, ông được cấp một vé máy bay một đi không trở lại để sống nốt những ngày cuối đời trên đất Pháp.
Năm đầu trên đất Pháp, ông sống trong cơ sở của sứ quán đầy công an, an ninh, mật vụ CS, nên vẫn phải mang “mặt nạ”, cả khi họ cho phép ông nói chuyện về triết học, về phép biện chứng duy vật, về chủ nghĩa Mác. Để giữ mạng sống, ông vẫn phải đóng kịch, như một anh trí thức sơ cấp mụ mị, dở hơi, làm cho những anh chị em trí thức chờ đợi ở ông những phản biện sâu sắc đều ngỡ ngàng thất vọng, trong đó có chính người viết bài này (vào tháng 6/1992).


Một điều may mắn là anh Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, vốn có cảm tình với triết gia Trần Đức Thảo, đã cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh thăm dò được mong muốn thầm kín của ông, và được ông cho biết ý định viết một cuốn sách trong vòng 6 tháng nhằm trình bày tất cả những suy nghĩ chân thực của ông suốt 40 năm qua để cống hiến cho nhân dân VN đau khổ, lầm than. Khi ông đột ngột qua đời ngày 23 tháng 4 năm 1993 trong nhà khách sứ quán CS, cuốn sách tâm huyết ông chưa viết xong, mới chỉ là những ghi chép, phác thảo, dàn bài, ý vụt đến… đã bị an ninh sứ quán thu lượm sạch. Nhưng họ đã bỏ sót một kho tư liệu quan trọng: những cuốn băng ghi âm của ông Thảo.

Suốt trong gần 6 tháng, cứ đến cuối tuần, khi an ninh và viên chức sứ quán lo vui gia đình, hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh lại lặng lẽ đón ông Thảo đến một quán cà phê kín đáo, đặt ra những câu hỏi và ghi âm những câu trả lời của ông. Ngay sau khi ông Thảo đột ngột từ trần - một cái chết vẫn còn nhiều nghi vấn – hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh đã bỏ công ghi lại thành 16 đoạn trên máy điện toán, rồi biên soạn lại thành cuốn sách Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối.
Cuốn sách đã giải mã đầy đủ con người và nhân cách Trần Đức Thảo. Cho đến khi gần vĩnh biệt chúng ta ông đã dùng tư duy bén nhạy của một học giả và triết gia để soi sáng một đoạn hệ trọng của lịch sử dân tộc, thay thế cho những trang lịch sử chính thống trong đó con người và sự kiện đã bị xuyên tạc, bóp méo.


Trong sách, Trần Đức Thảo có nhắc đến ông Hồ vài chục lần, kể từ cuộc gặp ở Pháp, đến cuộc gặp ở chiến khu Việt Bắc, khi quy định phải đứng xa Bác 3 mét, khi được hỏi mới được nói, phải gọi ông Hồ là Bác và nhiều lần gặp sau ở Hà Nội, khi ông chỉ còn là một bóng người vật vờ, tồn tại mà như không tồn tại.

Xin mời bạn đọc thưởng thức vài đoạn ngắn trong cuốn sách nói đến “ông Cụ”, để thấy nhà triết học vẫn minh mẫn sâu sắc tinh anh đến mức nào.
… “ Đáng chú ý là từ khi tự đổi tên là Tất Thành(1911) (với khát vọng khiêm tốn là sẽ là kẻ thành đạt…) rồi cho đến sau này bỏ hẳn họ Nguyễn, lấy lại họ gốc là họ Hồ, và chọn cái tên cực kỳ kiêu sa, coi mình là bậc CHÍ MINH (1945)… Nói chung tên giả thường là rất tiêu biểu
tâm thức như thế đã phản ánh chân thực những bước chuyển biến trong đầu óc của ‘ông Cụ’. Mỗi lần thay tên đổi họ là một bước có ý nghĩa trong hành trình vươn lên, đi tới để trở thành lãnh tụ. Đây là quá trình diễn biến của sự hình thành một cuồng vọng. Phải phân tích cặn kẽ từng cái biệt danh ấy như là một dấu hiệu tâm lý chính trị, từ lúc chi mong có cơ hội thành đạt, cho tới lúc quyết tâm, bằng mọi giá, mọi cách để đạt tới tột đỉnh của quyền lực như là một ông vua (Vương), là một người yêu nước chân chính (‘Ái Quốc’), là một lãnh tụ thông minh bậc nhất trong thiên hạ (CHÍ MINH)! Một nhà túc nho, một người trí thức có đầu óc tỉnh táo, có liêm sỷ, một bộ não minh triết không bao giờ tự ý xưng mình là ‘Vương’, là ‘Ái Quốc’, là ‘CHÍ MINH’ như thế…”.

Và đây là một đọan trích nữa nhận định tổng hợp về “ông Cụ” của triết gia họ Trần:
“Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đấy là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực đê đạt tới mục tiêu của mình… Vì thế ông Cụ không chấp nhận một ai trong đám chung quanh là ngang mình. Vì thế mà không cần trợ lý, cố vấn, vì thế không lắng nghe một ai. Bởi lãnh tụ chỉ chăm chú tìm chiến thắng vinh quang, của giấc mơ thế giới đại đồng, chứ không cảm nhận được nỗi đau đầy máu và nước mắt của dân trong thực tại. Một con người chỉ nghĩ và sống với khát vọng chiến thắng, chứ không muốn sống bình thường như mọi người. Riêng đối với tôi, cái nhìn đầu tiên của lãnh tụ là để đánh giá tôi trong tương quan chiến thắng ấy, và cách đánh giá ấy là một bản án không nơi kháng cáo. Vì thế tôi đã suy nghĩ nhiều về nhân vật lịch sử này! Bởi Người là một cái bóng ma quyền lực đã đè nặng lên thân phận tôi.

“Những điều tôi nói đây không phải để oán trách ‘ông Cụ’, bởi tôi biết đây là một nhân vật bi thảm, luôn bị chi phối bởi nhiều thế lực trong và ngoài. Nào là cuồng vọng của một lãnh tụ chính trị, nào là sức ép của Mao, nào là những ý đồ phức tạp trong Bộ Chính trị với nhiều phe phái kình chống nhau. Những sức ép ấy đã tiêu diệt hết tình cảm của con người bình thường nơi ‘ông Cụ’ và ‘ông Cụ’ bị đưa vào thế phải chấp nhận sống cô đơn, phải thủ vai ông thánh, ông thần, giữa bao thế lực quỷ quái, quá khích, lúc tả khuynh, lúc hữu khuynh… để đạt tới, để nắm vững đỉnh cao quyền lực…”. 


Còn có rất nhiều đoạn lý thú độc đáo khác nói về “Hà Nội giải phóng” năm 1955 và “Miền Nam giải phóng” năm 1975, về những buổi dự “hát cô đầu” cùng nhà văn Nguyễn Tuân, nhận xét về lực lượng Công an là bạn dân ra sao dưới một chế độ CS cảnh sát trị.Trong đọan kết, triết gia Trần Đức Thảo bộc bạch rằng vào lúc cuối đời ông đã nhận rõ chủ nghĩa Mác là một học thuyết sai lầm từ gốc, chứ không phải là nó đúng nhưng đã bị vận dụng sai, và nó sai cả về vũ trụ quan lẫn nhân sinh quan do cổ vũ đấu tranh giai cấp, bạo lực, chiến tranh, sai cả về phương pháp luận lô gích biện chứng duy vật - hiện tượng học. Theo ông, Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đều là nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa Mác. Rất tiếc là ông đang say mê lý giải thì tai họa ập đến. Người ta thoáng biết ý định thâm sâu của ông cùng bè bạn thân thiết, và ông đã bị họ bịt mồm khi đang thổ lộ tâm tình thầm kín nhất. Dù sao ông đã mãn nguyện phần lớn khi đã trút gần hết bầu tâm sự giữ kín 40 năm ròng.


Chính do những lẽ ấy mà cuốn Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối là cuốn sách quý, rất nên tìm đọc, phổ biến rộng và bàn luận để tăng thêm hiểu biết về lịch sử và những nhân vật nước ta. Tuy tác phẩm này đã ra đời chậm hơn 20 năm, nhưng dù sao nó vẫn là một cuốn sách rất có giá trị với thời cuộc hiện tại.
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.http://www.voatiengviet.com/content/blog/1949529.html


  Đọc sách: Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối

Phan Thanh Tâm

Hồ Chí Minh: con khủng long ba đầu, chín đuôi
Ðã có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Ðức Thảo Những Lời Trăng Trối là cuốn rất đặc biệt vì sách đã “phân tích sư thật về những hành động khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới.” Năm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; đã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất đã khẳng định, Marx đã gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông còn nói, chính “cuồng vọng lãnh tụ” đã khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của đạo lý.” Theo ông, đây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời” và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi.”
Hình bìa tác phẩm 'trần đức thảo những lời trăng trối'
Hình bìa tác phẩm "Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối" do Tổ Hợp Xuất Bản Miền đông Hoa Kỳ thực hiện.
Lời trối trăng của nhà triết học Trần Ðức Thảo cho biết, “nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ,” không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta.” Theo ông, quá khứ cách mạng của Việt Nam đã tích tụ quá nặng đầy những di sản xấu. Quyển sách dày 427 trang là những lời tâm sự sống động của một nhà tư tưởng giúp độc giả hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch đang bao phủ lên thân phận dân tộc, lên đất nước ta. Ông cảnh báo xã hội Việt Nam “đang bị ung thối bởi căn bệnh xảo trá, căn bệnh thủ đoạn của đảng.” Ông bị tống đi ra khỏi quê hương vĩnh viễn với cái vé đi một chiều, bị đuổi khỏi Sài Gòn, buộc phải đi Pháp, không được trở về Hà Nội.

Trong cuốn sách, nhà triết học Trần Ðức Thảo (1917-1993) đã vạch ra rằng, về lâu về dài, càng thấy ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử với đất nước và dân tộc, đã để lại di sản vô cùng trầm trọng: “chọn chủ nghĩa xã hội của Marx để xây dựng chế độ, chọn chiến tranh xóa hiệp định hòa bình để bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và Ðảng Cộng Sản Trung Quốc làm đồng minh, đồng chí.” Sách có 16 chương, một chương chỉ để giải mã lãnh tụ; nhưng ở chương nào HCM cũng được đề cập tới. Ông xác nhận, hễ nói tới thảm kịch Việt Nam thì “không thể không nhắc tới ông cụ.” Cố giáo sư quả quyết, ‘phải nói thẳng ra là Mao đã trực tiếp bẻ lái “ông cụ”; và “Trung Quốc muốn nhuộm đỏ Việt Nam theo đúng màu đỏ đậm của Trung Quốc.” 

Ðãi ngộ hay bạc đãi

Triết gia Trần Ðức Thảo (TÐT), nổi tiếng về hiện tượng luận, từng tranh cãi với Jean-Paul Sartre được đảng Cộng Sản Pháp vận động để được cho về xứ nhằm phục vụ cách mạng vì “tôi có những nghiên cứu sâu rộng cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga và có vốn hiểu biết vững chắc tư tưởng của Karl Marx.” Khi về tới quê hương “tôi bị vỡ mặt và vỡ mộng”; bị nghi là “siêu gián điệp trí thức.” Tên tuổi ông, một thời danh tiếng trời Âu chìm hẳn. Năm 1991 ông “bị đẩy trở lại Paris.” Thế nhưng, sau khi qua đời ngày 24 tháng 4, 1993, nhà cầm quyền Hà nội lại truy tặng ông huy chương Ðộc Lập; ca tụng ông là nhà triết học lớn của thế kỷ. Họ còn cho rằng “tư tưởng HCM” đã có ảnh hưởng với nhà triết học số một Việt Nam và lúc sinh thời đảng, nhà nước rất mực trọng đãi ông.

Có thật thế không? Trong chương Ðãi Ngộ Hay Bạc Ðãi, ông nói, những chức vị mà người ta ban cho, “che giấu một đối xử nghiệt ngã và tồi tệ.” Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nhìn đứng giữa ruộng dưa.” Sự thật “họ chỉ để cho sống; cho tôi khỏi chết đói; chỉ toàn là bạc đãi.” Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi đầu tuyệt đối vâng, nghe lời đảng.”

Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám đốc trường Ðại Học Văn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề được tham dự bàn bạc gì vào việc tổ chức, điều khiển, ngay cả ý kiến giảng dạy cũng không hề có.” Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay đi theo các phái đoàn thanh tra là chỉ để “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng.”

Những điều nói đó phù hợp với bài báo của nhà thơ Phùng Quán Chuyện vui về triết gia Trần Ðức Thảo đăng trên báo Tiền Phong ngày 11 tháng 5, 1993: nhờ cái chết của nhà tư tưởng lớn này qua các báo mà rất nhiều người trong nước được biết rằng đất nước chúng ta đã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Khi sống ở trong nước thì lôi thôi nhếch nhác hơn cả mấy anh công nhân móc cống.

Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người.”
Mưu thần chước quỷ
Nhiều người tự hỏi bị đối xử cay đắng như vậy sao “bác Thảo lại hay có lúc bật cười như điên”; và bị chung quanh chê bai, chế giễu “bác là người khùng”? TÐT cho hay, ông bắt đầu “hết cười rồi lại khóc” sau khi tham gia đợt thì hành cải cách ruộng đất ở huyện Chuyên Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 1953. Lương tri trỗi dậy khi thấy lãnh đạo “chọn con đường hành động nặng tính cuồng tín, dã man.” Ông nói, “chẳng thà là thằng khùng hơn làm thằng đểu, thằng ác, thằng lưu manh.” Về giai thoại TÐT đi chăn bò, theo ông, đó là một sự xấu hổ cho cả nước. Làm nhục một trí thức là lối hành xử của một chính quyền man rợ, bị ảnh hưởng Trung Quốc, buộc họ phải học thuộc lòng câu “trí thức không bằng cục phân” của Mao.

Nhà tư tưởng họ Trần nhận xét, Cộng Sản Việt Nam rất sùng bái Trung Quốc, “cứ như là con đẻ của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc.” Là một nhà triết học, có thói quen tìm hiểu, đánh giá lại, ông thấy “nước ta trồng cây tư tưởng của Marx, cho tới nay cây đó chỉ cho toàn quả đắng.” Chính “cái thực tại tàn nhẫn khi chứng kiến sự đau khổ của con người bị kềm kẹp bởi ý thức hệ” khiến ông muốn “đặt lại vấn đề từ học thuyết.” Triết gia TÐT nói, nhiều lãnh tụ “từ lầu đài tư tưởng Marx bước ra đã trở thành những ác quỉ.” Theo ông, “quỉ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp”; là thứ “vi rut” tư tưởng độc hại vô cùng; nó phá hoại xã hội, nó thúc đẩy con người đam mê tìm thắng lợi, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng.

Theo nhà triết học số một của Việt Nam, “ông cụ” là một nhà ảo thuật chính trị đại tài: lúc thì biến có thành không, lúc thì biến không thành có. Ðúng là “mưu thần chước quỉ” chuyên hành động muôn hướng, muôn mặt, “trí trá còn hơn huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” Bác Hồ đánh lừa dư luận Âu Mỹ, khi chép lời nói đầu bản tuyên bố độc lập của Mỹ; đánh lừa các đảng trong nước khi thành lập chính phủ đại đoàn kết và mời cựu hoàng Bảo Ðại làm cố vấn. Vài tháng sau, Võ Nguyên Giáp dẹp bỏ; coi họ là phản động; đẩy Bảo Ðại sang Côn Minh. “Ông cụ” còn được triết gia TÐT gọi là một nhà chính trị “thần sầu quỉ khốc” khi “ông cụ” khôn khéo mưu tìm sự tiến cử của Mao để được đưa về xứ làm lãnh đạo duy nhất phong trào cách mạng Việt Nam.

Cố Giáo sư TÐT kể lại rằng, biết mình bị Ðệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại đuổi khéo về Viễn Ðông và biết Mao là thủ lãnh các phong trào cộng sản ở Châu Á, “ông cụ” vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc; được Mao rất ưu ái. Nhờ vậy, “ông cụ” từng bước loại bỏ tất cả đối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn văn Cừ... để rồi vươn lên làm Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nước năm 1945. Dù sự tấn phong “ông cụ” ở các đại hội Ma Cao và Hồng Kông bị phản ứng của các khu ủy, xử ủy và của “Ðệ Tam” nhưng nhờ Mao dàn xếp nên đã qua mặt những sự phản đối này vì họ là những kẻ đã từng nhận được sự nâng đỡ của cộng sản Trung Quốc. Triết gia họ Trần nói thêm, “ông cụ” luôn luôn là người biết chụp bắt cơ hội.” 

Huyền thoại “bác Hồ”

Vẫn theo nhà tư tưởng TÐT, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về HCM họ bị chói lòa bởi những huyền thoại về “ông cụ” của bộ máy tuyên truyền; họ sử dụng sản phẩm chính thống của đảng thì làm sao họ hiểu hết được mặt thật của họ Hồ. Ông nói, có một thứ tư liệu rất chính gốc, bộc lộ rõ cái cuồng vọng lãnh tụ của “ông cụ”; nó chi phối từ nội tâm. Ðó là những tên giả chính “cụ Hồ” đã tự đặt cho mình. Muốn tìm hiểu cặn kẽ, phải phân tách những chuyện biến tư tưởng qua từng giai đoạn đổi tên, đổi họ; từ những cái tên “Tất Thành,” rồi “Vương,” rồi là “Ái Quốc,” chót hết là “Chí Minh.” Ðấy là những biểu hiện của một thứ bệnh tâm thần, khao khát danh vọng. HCM chỉ thành lãnh tụ cách mạng sau khi không được cho vào học Trường Thuộc Ðịa để ra là quan.

Nhà triết học nói thêm rằng, một người tự viết sách đề cao mình, như cuốn “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ chủ tịch” và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” thì không thể là một người vì nước vì dân được. “Ông cụ” đã tạo ra một thời chính trị điên đảo. Ngoài ra, đám quần thần chung quanh “ông cụ,” không tha thứ cho ai dám tỏ ra ngang hàng với “Người.” Họ tôn vinh “ông cụ” làm bác, làm cha dân tộc. Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói “ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi.” TÐT cho biết, năm 1946 gặp “ông cụ” trong một buổi chiêu đãi ở Paris, ông đã bất ngờ trước lời khước từ: “cách mạng chưa cần tới chú đâu” của HCM; khi ông tự ý nắm tay “ông cụ” ngỏ lời: “Tôi muốn về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương.”

Dù thế, triết gia vẫn nhờ bạn bè phương tây giúp ông được về nước tham gia kháng chiến. Nhờ vậy, ông có cơ hội quan sát một Hà nội và Sài Gòn đang bị lột xác theo sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Một giai cấp thống trị mới đang hình thành. Càng quan sát nhà tư tưởng TÐT càng thấy huyền thoại về “bác Hồ” là tác phẩm của “cả một công trình nghệ thuật hóa trang cao độ.” Cái gì có giá trị là của bác, của đảng. Họ công kênh “ông cụ” lên làm bậc thần, bậc thánh. Theo TÐT, “phải hít thở cái không khí” thờ kính, phục tùng lãnh tụ mới có thể hiểu phần nào những “phương pháp tâm lý tinh vi” tôn sùng HCM. Ông nhấn mạnh, “bác Hồ” chỉ có thể coi như mẫu mực thành đạt về chính trị; “không thể nào là mẫu mực về mặt đạo đức”; vì cách sống muôn mặt của bác đâu phải là gương sáng.

Nhà triết học bị kết tội “cầm đầu âm mưu chống đảng” vì hai bài viết trên Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP), do một số anh em văn nghệ trẻ chủ xướng. Ông cho biết, nếu không có mấy nhà trí thức Pháp đứng đầu là Sartre “tận tình quan tâm, chăm sóc” đến ông thì với mấy tội: tự ý nắm tay bác năm 1946 đòi cùng về nước làm cách mạng; từ chối lên án bố mẹ khi khai lý lịch; muốn đấu lý với cố vấn Trung Quốc lúc làm đội viên cải cách ruộng đất và vụ NVGP, ông có thể “dễ chết như chơi.” Năm 1952 triết gia được dẫn đi chào “Bác.” Ban lễ tân dặn ông bốn điều cần nhớ: phải đứng xa “Người” ba mét, chỉ lại gần khi “Người” ra lệnh; không được nói leo, chỉ trả lời câu hỏi; không được chào trước; không được nói tôi phải xưng bằng cháu, gọi “Người” bằng “bác.
Chư hầu ngoan ngoãn
Theo sự chiêm nghiệm của triết gia TÐT thì HCM chưa đọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy xổi nên chưa tiêu hóa được”; nhưng lại “đọc thuộc lòng cuốn “Le Prince” của Machiavel,” cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ để người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lý trí đến vô cảm; không thiết tha với gia đình; không có bạn hữu thân tình. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong vòng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học được “ông cụ” đào tạo để phục tùng; rồi sau đề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị,” là để “ca ngợi mình” và “hô hào quyết chiến.” Nhà triết học này còn cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó đè. Ðó là “ bóng ma đế quốc bành trướng vô cùng độc đoán, lấn át của Mao.”

Vẫn theo TÐT, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chỉ là một phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu với cái tên đẹp “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em” nhưng thực chất là một đế quốc đỏ; nó kềm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó. Ðó “chỉ là thứ liên minh ma quái, quỉ quyệt, giả dối”; muốn biến “nước ta thành một chư hầu ngoan ngoãn.” “Ông cụ” vì tham vọng quyền lực từ ý chí muốn học ra làm quan nhưng không được nên đã lấy học thuyết “giai cấp đấu tranh” làm kim chỉ nam để tạo cơ hội thành danh, thành lãnh tụ. Nhà triết học nói, để nắm vững quyền lực “ông cụ” phải thủ vai ông thánh, ông thần,” từ bỏ cả vợ con, mất đi tính người, thẳng tay tiêu diệt những kẻ có tài. Lại thêm, Mao đã cài chung quanh “ông cụ” một đám cực kỳ cuồng tín.

Trong chương “Hai chuyến di chuyển đổi đời” của cuốn sách, nhà triết học họ Trần cho biết, ông được rời cảnh “sống như bị giam lỏng ở Hà nội” để vào Sài Gòn ở là nhờ sự vận động của một số đồng chí trí thức Nam Bộ. “Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng tới cùng cực. Khang trang và hiện đại; đâu có đói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp. Miền Nam đã có một mức độ dân chủ rõ rệt. Miền bắc bị tư tưởng Mac-Lenine làm nảy sinh những chính sách đầy sai lầm. Sĩ quan của “bộ đội cụ Hồ” đã có “thái độ thô bạo, ứng xử thô bỉ” khi nhục mạ, gọi Dương văn Minh là mày, và bắt cả nhóm phải đứng cúi đầu.” Ðấy là những lời thố lộ của TDT mà nhà văn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê đã viết lại qua các cuốn băng thu những điều ông tâm sự với một số bạn trong sáu tháng cuối đời ông ở Paris.

Nhà triết học còn thú nhận Trần Dần và Trịnh Công Sơn là hai người đã thúc đẩy ông phải thoát khỏi thái độ hèn nhát đã ngự trị trong đầu óc trí thức và văn nghệ sĩ Hà nội; giới này đã ứng xử đồng lõa với tội ác của cách mạng. Người thứ nhất là Trần Dần lúc ông ta mời viết cho NVGP. Người thứ hai là các bài hát của họ Trịnh. Ngoài ra, những ai từng sống ở Sài Gòn sau 1975, nếu đọc chương “Vẫn chưa được giải phóng” đều nhận thấy những mô tả của triết gia về Hà nội năm 1954 rất giống Sài Gòn sau 30 tháng 4, 1975: “cả con người và xã hội ở đây đã không hề được giải phóng” và thật là “vô lý và nhục nhã” khi so sánh với chế độ cũ.

Ông nhận xét: tư hữu kiểu cũ do làm cần cù, tích lũy mà có được; tư hữu kiểu mới do chiếm đoạt bằng chữ ký và quyền lực.
Cao vọng hơn “bác Hồ”
Ðược gợi hứng bởi môi trường miền Nam, trong vòng 10 ngày TÐT hoàn thành một tập sách nhỏ “Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người.” Ðây là văn bản phản bác giáo điều, được đón nhận như một bông hoa lạ. Chẳng bao lâu sách bị cấm phổ biến. Giới cựu kháng chiến và nhiều trí thức khác còn ở lại trong nước tấp nập tới làm quen với nhà triết học để nghe những “lời tiên tri” là “cách mạng đã biến chất để tư bản man rợ tràn ngập.” Trung ương thấy số người “phức tạp” đến gặp “bác Thảo” càng ngày càng đông, nên Ðảng đã quyết định “anh phải ra đi.” Nhà triết học than “thôi thì đành mang thân xác ra xứ người.” Qua Pháp, tuy đã một thời vang danh ở Paris, ông vẫn “lâm cảnh sống nay lo mai,” và còn bị Tòa đại sứ theo dõi kiểm soát chặt chẽ.

Trong cái xui có cái may. Nhà văn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê nhờ những lúc nhà triết học bán chữ để kiếm sống qua các buổi thuyết trình ở kinh đô ánh sáng mà đã làm quen thân với ông, được nghe ông tâm sự. Quyển sách ghi lại nỗi hối hận đã thiêu đốt ông vào lúc hoàng hôn của cuộc đời. Nhà văn cho hay ông “sẵn sàng trao mấy cuốn băng cho những ai muốn nghiên cứu về TÐT.” Trong sách nhà triết học có lần đã khẳng định: “Tôi có tham vọng cao hơn của ‘bác Hồ’ nhiều lắm.” Ðấy là xây dựng “một lâu đài tư tưởng trong đó toàn thể nhân loại đều thể hiện rõ quyền sống của mình, quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình.” Nhưng mộng đó không thành, triết gia lừng danh một thời trời Âu bị đột tử. Chúng ta mất đi “một kho tàng trải nghiệm về chiến tranh, về cách mạng.”

Người chủ trương Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết việc tái bản cuốn sách là để phục hồi danh dự một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Trong lời bạt ông viết, “cuộc đời TÐT xem như cuộc đời tan nát vì “cách mạng” mà ông chọn phục vụ vào năm 1951 nên mọi sự trở nên vỡ lở.

Cuộc đời đó có thể xem như một bài học -“an object lesson”- với những ai để cho tình cảm, lý tưởng che mờ đi lý trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có đời sống gia đình, không có tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương đất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.” Sách được xuất bản lần đầu với số lượng ít; tên gốc là Nỗi hối hận lúc hoàng hôn chỉ để thăm dò ý kiến thân hữu.

Những ai yêu “bác Hồ,” những ai coi HCM là tên tội đồ hay các nhà khoa bảng, các học giả, các ông bà phản chiến và những ai còn nghĩ đến nước Việt nên đọc cuốn này. Cho tới nay chưa có tác giả nào trên thế giới - ngoại trừ triết gia TÐT- nêu ra được, thật sáng tỏ, những điều vô cùng bi thảm trong thời cách mạng; vì ông đã trải nghiệm 40 năm trong cuộc. Ngoài ra, ông bà nào giỏi tiếng Tây tiếng Mỹ nên dịch sách ra cho thế giới biết thêm về HCM, kẻ đã lừa mọi người từ Âu sang Á; khiến nhà tư tưởng số một Việt Nam TÐT phải nói thẳng rằng, Napoléon, Hitler cũng có tâm thức tự cao tự đại nhưng “không gian trá đến mức tinh quái” để có những “hành động muôn hướng, muôn mặt, trí trá còn hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!”
Saint Paul, tháng 6, 2014
Nguồn: Người Việt, www.nguoi-viet.com

Tiểu sử Trần Đức Thảo:

Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917, tại làng Thái Bình, mất ngày 24/4/1993 tại Paris, Quê quán tạ
i làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường École normale supérieure (Paris). Ông đậu thủ khoa bằng Thạc sĩ triết học (Agrégation de Philosophie, tại Pháp, đây là một học vị chuyên môn trên tiến sĩ, dành cho những tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học), ngang điểm với Jules Vuillemin) tại Pháp lúc mới 26 tuổi (1942).
Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn đối với đất nước vừa giành được độc lập hồi tháng 8 năm 1945. Lá thư được in trên tờ Cờ giải phóng, cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.

Sau 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo kết hôn với Tiến sỹ Nguyễn Thị Nhứt, đến ngày 5 tháng 1 năm 1967, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhứt hai ông bà đã thuận tình ly hôn[1].

Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

Ông bị quy tội dính líu đến phong trào Nhân văn Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, bị mất chức Phó Giám đốc trường ĐHSP Hà Nội, chức Trưởng khoa Lịch sử chung cho cả ĐHSP và ĐHTH Hà Nội, Trần Đức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn. Ông bị chặt đứt mọi liên hệ với thế giới, bị cô lập ngay giữa đồng bào của mình[2].

Thái Vũ kể: "việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn."[3].

Trong quyển sách hồi ký nguyên văn bằng tiếng Pháp là Mémoire d'un Vietcong (Hồi ký của một Việt Cộng), Trương Như Tảng có nhắc tới thạc sĩ Trần Đức Thảo (tr.300):

" Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man."

Françoise Corrèze, người bạn thân của Trần Đức Thảo có hay tới thăm ông ở căn phòng khu tập thể Kim Liên, nhưng chỉ bút đàm, vì phòng bị thu âm[4].

Năm 1985, sau khi đi Cộng hòa dân chủ Đức vừa chữa bệnh, vừa làm việc với Viện hàn lâm khoa học của CHDC Đức, ông có sang làm việc với Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.

Năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh kết hợp với "nghiên cứu khoa học, do Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử" (theo TS. Cù Huy Chử) và mất tại Paris vào năm sau. Theo những anh chị em có dịp tiếp cận, Trần Đức Thảo cho biết ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Ban bí thư cử sang Pháp để "giải độc trí thức Việt Kiều" khỏi những ảnh hưởng xấu. [4] Di hài ông được nhà nước đưa về an táng tại Khu A Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.
Theo Wikipedia, ngày 23 tháng 6 năm 2014.
http://www.geocities.ws/xoathantuong/ptt_docsachtranducthao.htm 

   Xin Mời Đọc: Trần Đức Thảo – Những lời trăng trối Bài Bằng Tiếng Việt   
                             
 HO CHI MINH: A MONSTER OF THREE HEADS AND NINE TAILS. 
                                                      
                                                                          tdthaos         
Much has been written about the character Ho Chi Minh.  This latest book, Tran Duc Thao, Words of His Final Days, by Tri Vu Phan Ngoc Khue, is unique in the sense that it provided an analysis about the truth of Ho’s horrid actions, as observed by Tran Duc Thao, an internationally renowned Vietnamese philosopher.  He left Paris and moved back to Vietnam in 1951 and spent the next 40 years of his life there, weathering through the horrible hardship of the socialist revolution and the bloody scenes of the civil war.  Standing near death’s door, his final words were a simple yet strong condemnation:  Marx’s doctrine was not only philosophically wrong but also criminally flawed.  And as far as Ho is concerned, it was an infatuated ambition of attaining the glory of leadership that had driven him into an “extremely egoistic person, one who pays no regard to moral virtues and principles, a Cao Cao* of utmost cunning and deceitful personality of all time, a maleficent monster having three heads and nine tails.”  
 
Tran Duc Thao’s last message to us was straightforward: “If we have not the courage to face Ho’s historical wrongs, to shed lights on Marx’s criminally flawed errors, never will we be able to free ourselves from the disastrous political rift that keeps wreaking havoc on our nation.”  In his view, the
past of the Vietnam socialist revolution was replete with wrongful and evil deeds.  This book of 427 pages is the heart-opening and moving words of a scholarly thinker, explaining the roots of the dark, polluted blanket which still smothers the nation’s fate.  He warned that the society’s fabric was “being gnawed by a cancerous disease that was caused by the ruthless and cunning wiles of the ruling authorities.”   
He further pointed out that it eventually became clear that Ho, or ‘the elderly one’, had committed three fatally wrong choices.  Not only had these mistakes vitally harmed the nation, but their residual effects continued to wound and threaten the nation’s future:  (i) the choice of subscribing to Marx’s socialism, (ii) of pursuing war as a means to expand communism, and (iii) of aligning with Mao and the Chinese Communist party as his sponsors.  Of the book’s 16 chapters, one was set aside to focus on demystifying Ho’s legends, yet Ho’s name kept re-appearing on most pages.  One cannot speak of the tragedy in Vietnam “without mentioning that Ho was directly manipulated by Mao in his desire to occupy and translate Vietnam into a red vassal of the Great Red China Empire.” 
   
(*) Cao Cao (155-220) or Tsao Tsao: a powerful warlord of the Later Han dynasty, known for his treacherous acts.  He was the prime minister during the Han’s waning years, and later usurped the throne to proclaim himself as King of Wei.
ESTEEMED OR DISDAINED
 
Professor Tran Duc Thao (TDT) was known in Europe for his distinguished works in the field of phenomenology, and for his famous debates with Jean-Paul Sartre.  The French Communist Party, in recognizing “my in-depth study of the Russian
October Revolution, and my sound understanding of Marx’s theory”, had lobbied for him for a role in the revolution to take place in Vietnam.  Soon as TDT made it back to his country, “my disposition and my dreams immediately shattered.” He was classified as a suspicious “super spying intellectual”.  His name, once celebrated in the West began to dwindle in oblivion.  Finally, in 1991, he was expelled to Paris.  Yet, after his death on April 24, 1993, the government in Hanoi endowed him with the ‘Independent medal’, and praised him as the great philosopher of the century, claiming that “Ho Chi Minh’s thoughts” had influenced the thinking of this premier philosopher; and that they have always treated him with respect and magnanimity.  
Nothing can be further from the truth!  According to TDT, the lofty titles given to him actually were to “conceal a strict and ill treatment.”  His presence was merely that of “a scarecrow in a melon field.”  They simply “let me stay alive, treated me with bare necessities to avert dying from malnutrition.”  They obliged him to learn from the people on how to sincerely and absolutely obey the government.   Though he held the title of Vice Dean of the Faculty of Pedagogies and Literary, he “never had the opportunity to take part in the school’s organizing or managing, or the drafting of curricula or teaching methods.”  His attending in different meetings, or escorting of different delegations, was merely to boast that “we have a famous doctorate philosopher who has returned from France to support the revolution.”
 
These stories fit well with a funny article written by the poet Phung Quan on the May 11, 1993 issue of the Tien Phong (Avant-Guard) magazine:  “Thanks to the death of this giant thinker, many people in the nation now are aware that this country has ever sprouted a philosopher of international caliber.  He went all the way to France just to die there.  And while living here among us, he was more bedraggled than those sewage cleaners.
Winters saw him covered in a bulky overcoat, summers in an all faded brown shirt, on top a lopsided trouser, one leg long, one short, wearing a pair of rubber flip flops with broken straps down on his feet, and an oversized straw hat up on his head, riding an old Peugeot bicycle that even scrap metal vendors would discount.  What a funny picture of a circus clown, pedaling his bike with his face parallel to the horizon and his mouth timidly blowing smiles to the sky. Wasn’t that a half-witted fool, or was it?”
DIABOLIC WILES
 
Once asked that being so mistreated by the government, why “did you at times break into burst of laughs?” Why lowered his image to that of a “derided, crazy fool?”  His answer was ironic, that after seeing the cruelty of the human comedy pushed forward by the party in the land reform at the province Tuyen Quang in 1953, all he could do to keep his sanity was “laughing then crying”, and all he could be was “an idiot, rather than a scoundrel, a demon, or a thief.”  His onetime assignment to tend oxen, he said, was a shameful act to the entire nation.  Insulting intellectuals is an act of barbaric governments like that of Mao.  It was Mao, he reminded us, who said “Intellectual is worth less than a lump of feces.” 
The Communist Party of Vietnam, TDT observed, ‘worshipped’ their communist counterparts in China as if they had been their offspring.  In the philosopher’s methodical observation, frequently re-examining and re-assessing its object, “the planting of Marx’s doctrine in our country has borne but bitter and noxious fruits.”  It was from realizing the pain suffered by those caught under Marxism’s oppression that Tran had questioned Marx’s ideology as a whole.   What he concluded 
 
was that the leadership “who subscribed to Marxism have become devils themselves.”   The concept of class struggle has become a deadly virus, one that carried hideous toxins, and threatened to destroy our society.  It made people lusting for winning by whichever means, no matter how evil that might be, in order to establish and fortify their totalitarian ruling.
According to this world class philosopher, “The elderly one was a clever and skillful magician, one who seemed to be able to make nothing into solids, and solids into nothing”, one whose sorcery was so wily that the historical treacherous Cao Cao of China barely compared to.  He fooled the West by reciting parts of the US Declaration of Independence in his self-inaugurated speech.  He misled members of the opposing political parties by announcing a plan to form a united government in which he invited the ousted Prince Bao Dai to serve as an advisor, only to call them reactionaries months later.  He then directed his top commander Vo Nguyen Giap to abolish them, and exiled Bao Dai to the city of Kunming in China.  TDT also disclosed that Ho masterminded a clever scheme to secure Mao’s support in his quest of becoming the top ringleader of the communist revolution in Vietnam. 
According to TDT, Ho sensed that the Soviet Comintern, also known as the Third International organization, wanted to rid him off to the Far East.  A shrewd politician as he was, Ho recognized that Mao was the powerful leader of the Communist movement in Asia.  He soon joined the Eight Route Army, as well as took membership in the Chinese Communist Party and worked hard to gain Mao’s confidence.  Consequently, he was able to defeat his rivals, namely Tran Phu, Le Hong Phong, Ha Huy Tap, Nguyen Van Cu…  He rose to the role of General Secretary of the Vietnamese Communist Party, and, concurrently, president of the country in 1945, against oppositions from regional leaders in Macao, Hong Kong, and from the Soviet Third
 International organization, on the account of favors Mao had done for them.  The elderly, according to TDT, never failed to seize opportunities.
MYTH OF THE LEGENDARY UNCLE HO
 
Foreign writers who wrote about Ho were usually dazzled by the myth popularized by his people, and, consequently, would paint false images of him.  One needs to direct his attention, the philosopher advised, to nowhere but Ho’s numerous alias names, in order to see the ambitious faces of this leader.  These names, which he had chosen for himself, reflected the inner thoughts at different junctions of his life.  From ‘Tat Thanh’, literally means ‘Surely Succeed’ in his younger days, to ‘Ai Quoc’, the ‘Patriot’, in his revolutionary years, to ‘Vuong’, or ‘King’, and ‘Chi Minh’, or ‘Utmost Brilliant’, when he has gained power.  They are manifestations of a schizophrenic mind, always lusting for glory.  It was only after being rejected from the French Colonial Institution that he chose to pursue the revolution path.   
A person who hid under phantom names to write stories that glorified himself, such as ‘Tales of Activities in The Life of Chairman Ho’, or ‘Stories Told On The Revolutionary Path’, that person, the philosopher pointed out, was in no circumstances a person committed to the well-off of the people?  ‘The elderly one’ has but created a time of political turmoil in his life.  His court would excuse no one who dared to compare with ‘the master’.  He was revered as the ‘god father of the people’.  One of the leaders of the Fourth International organization, Ta Thu Thau, was annihilated simply because of having said to Ho: ”In the North, there exist your elderly honor, and the South, I.’  TDT also recalled a story that in a gala in Paris in 1946, when he held Ho’s hand and expressed to Ho his wish to take part in building a beautiful model of democracy in Vietnam, he was encountered with a rejection:  “The revolution is yet in need of someone like you.”    
 
Nevertheless, professor TDT mobilized his Westerner friends to obtain for him an opportunity to serve in the revolutionary government.  It was during this experience that Tran witnessed the horrific socialism transformation imposed on Hanoi and, some 20 years later, on Saigon.  A new ruling class was erected.  Whatever was of values, it was the work of this class, of Ho and his party.   A “painstaking and sophisticated” campaign to deify Ho took place.  One must “breathe” in the “leader-worshipping” air to be able to visualize the extraordinary psychological method that was used to mythify Ho.  Nevertheless, TDT emphasized, while Ho may be regarded as an example of political success, he was the opposite of “a model of goodness and moral”, a tricky man of multiple personae and faces. 
TDT was accused of “leading a plot against the Party” because of his two articles in the Nhan Van Giai Pham (Humanity) magazine, along with other offences of “chose to hold Uncle Ho’s hand in Paris in 1946 and proposed to work with the Uncle to organize the revolution”, or “refused to denounce parents when he wrote his background statements”, or “attempted to reason with the Chinese advisors in the Land Reform troop.”   He easily could have lost his life for these ‘crimes’ if not for the intervene by Sartre and other French celebrities.  In 1952, before TDT was to appear in front of Ho, he was instructed to “stand at least 3 meters away, only move closer when asked by Uncle Ho, speak only to answer Uncle’s questions and must do so briefly, do not extend greeting first, do not refer to oneself as I, but as ‘this nephew’, and address ‘the master’ as ‘My Uncle’”. 
A DOCILE VASSAL
Professor TDT believed that Ho himself did not read Marx’s theory diligently, thus did not truly ‘digest’ it, but perused a book by Machiavelli instead, Le Prince, about multiple techniques to sweep off reverence from others.  ‘The elderly one’ is a cold calculating personality who had no feeling.  He cared not for family nor personal friendship. He disliked learned people, and surrounded himself with uneducated aides.  He wrote poems to serve his political ambitions, to praise him, and to exhort for war.  Yet, Professor TDT pointed out, pressing down on the fate of this sociopathic man was the shadow of another wicked one, a frightful, demoniac monster who set out to conquer the world, the shadow of Mao.  
He also said that socialism was employed merely as a means to control other nations, under the heading “Bloc of brotherhood of socialist countries.”  In reality, this was but an empire of Red domination.  It’s an alliance of a mischievous, evil, and deceiving nature.  It sought to contain and take over neighboring countries and make them their docile vassals.  ‘The elderly one’, coveting for power, and having failed to secure a career as a mandarin, chose to rely on this alliance to build a name for himself.   And to strengthen his stronghold of people's minds, Ho had to assume a role of a god disclaiming his own wives and children.  Having lost all humanity, he was prepared to destroy all other talents who stood in his way.  Moreover, Mao had planted a group of fanatics around Ho.  
TDT also recalled the feeling he had when he left the prison-like atmosphere of Hanoi, and, with the help of his friends in the South, came to visit Saigon.  He was stunned to see a prosperous and modern city, contrary to the image he had had of a city of poverty, being exploited by the American and its puppet government.  The South indeed had established a definite level of democracy, while the North was observing Marxist-Leninist’s false policies.  The leaders of the army troop that stormed the presidential palace in Saigon conducted themselves as barbarians.  They insulted Duong van Minh, the president of the South at the time, with scurrilous and demeaning words, ordered him and his staff to stand in front of them with their heads bowed down.   The author Tri Vu Phan Ngoc Khue based these stories on the taped conversations that TDT confided to his friends in Paris in the last six months of his life.
TDT also mentioned the names of two men who had inspired him to free himself from the fearful coward attitude common among intellectuals and artist in Hanoi: Tran Dan, editor of the Humanity magazine, and Trinh Cong Son, with his songs. It was interesting to hear TDT’s observation of the similarity between the Hanoi of 1954 and Saigon of post-April 30, 1975: “None was liberated.” The newly implemented systems in both cities were absurd and shamefully the same.  Comparing with the ones they replaced, he noted: “The old way to build one’s fortune used to be by reaping the fruits of one’s hard works, whereas the new way of obtaining ownership is simply by one’s signatures and his influence.”
 
 established a definite level of democracy, while the North was observing Marxist-Leninist’s false policies.  The leaders of the army troop that stormed the presidential palace in Saigon conducted themselves as barbarians.  They insulted Duong van Minh, the president of the South at the time, with scurrilous and demeaning words, ordered him and his staff to stand in front of them with their heads bowed down.   The author Tri Vu Phan Ngoc Khue based these stories on the taped conversations that TDT confided to his friends in Paris in the last six months of his life.
 
TDT also mentioned the names of two men who had inspired him to free himself from the fearful coward attitude common among intellectuals and artist in Hanoi: Tran Dan, editor of the Humanity magazine, and Trinh Cong Son, with his songs. It was interesting to hear TDT’s observation of the similarity between the Hanoi of 1954 and Saigon st-of poApril 30, 1975: “None was liberated.” The newly implemented systems in both cities were absurd and shamefully the same.  Comparing with the ones they replaced, he noted: “The old way to build one’s fortune used to be by reaping the fruits of one’s hard works, whereas the new way of obtaining ownership is simply by one’s signatures and his influence.”
HIGHER IDEAL THAN HO’s HIMSELF
 
Inspired by what he saw in the South, Tran wrote in 10 days a small book: Men And The Ism Of Denying Men.  This is a manifesto that counter-attacked the established doctrine, and was received as a novel idea.  Soon after its publication, the book was recalled, but not before it had made Tran influential among other intellectuals.  His message that “the revolution has degenerated, making way for the ‘cruel’ capitalism” had attracted a growing group of followers that the government decided to expatriate him to Paris, and put him under the strict surveillance   of the Vietnamese   Embassy there,
where he spent the remainder of his life in dire straits. 
 
However, every cloud has a silver lining.  While he lived there, Tran occasionally gave talks to supplement his means of living.  It was at these meetings that the author Tri Vu Phan Ngoc Khue made his acquaintance and later became his confidant.  TDT’s last words reflected the feelings of remorse that flared up in his heart near the end of his life.  The tapes recorded these conversations are available from the book’s author to those who want to study TDT themselves.  TDT also spoke of his dream, a dream which he said was of a much higher calling than what Ho was capable of.  It was a dream of building a systematic structure of ideals and thoughts, in which mankind can truly realize their right of existence, as well as the right to cast the votes of their choices.  Such a dream never came true. A talented mind once eminent on the West horizon has extinguished.   We have lost “a wealth of insight into the tragedies of mankind, in war and revolution alike.” 
According to the publisher, Professor Nguyen Ngoc Bich of the Eastern Consortium Publishing Co, the reprint of this book was to restore the name of a great philosophical thinker of Vietnam.  In the Foreword he wrote: “The life of Tran Duc Thao was a broken one because of the choice he made in 1951 to serve the revolution.  His ruined life should serve as an ‘object lesson’ for those who let their reason and wisdom be clouded by emotional and idealistic feelings.  Not only that he has lost his wife, his chance of a family life, but also a chance to work at ease, in freedom and by his own will, to better and advance his country.  His lifetime achievement in philosophy is one that remains unfinished.”  The first printing of this book was in limited quantity, under its original title “Repentance as Night Falls”, and was distributed among friends merely for commentary feedback.
 
 Those who admire Ho, and those who detest him, as well as those scholars, and those anti-war activists, if you cared about this nation called Vietnam, you should read this book.  No one in the world - but the philosopher TDT - has described in such clear perspective the tragedy of the socialist revolution in Vietnam.  The writer of this review wishes to see this book translated into other languages, so that the real face of Ho Chi Minh, the swindler who has deceived people from Asia to Europe to America, is known the world over.   The renowned philosopher stated it best when he pointed out that the lives of dictators like Napoleon and Hitler, though they were no less ambitious, “are no matches to Ho’s in light of his sly and cunning acts.  And the most treacherous Cao Cao of China history, in his grave, and to Ho himself, would have to tip his hat.”
 
Phan Thanh Tam (Translation by Kieu Ngan)
Saint Paul, June, 2014. 
 
© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
 


 

  Điểm sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối ” của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê

Posted: 14/07/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Hoàng Nhất Phương
Hoàng Nhất Phương
bia_tdt
Mặc dù chỉ là quyển sách ghi chép lại từ những cuộc đàm thoại được thu âm, nhưng “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” được xem là tài liệu đặc biệt của Giáo Sư Trần Đức Thảo nói về con người của Hồ Chí Minh “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời,” [1] và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi.” [1] Giáo Sư Trần Đức Thảo khẳng định:
Nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của ‘ông cụ,’ không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta.” [1]

Dưới cái nhìn của Giáo Sư Trần Đức Thảo, Mao Trạch Đông và Trung Cộng trực tiếp điều khiển “ông cụ” [2] vì muốn nhuộm đỏ Việt Nam. Cộng Sản Việt Nam tôn sùng Trung Quốc, chọn lý thuyết của Marx xây dựng chế độ, chọn chiến tranh xóa hiệp định hòa bình, để phát triển xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước. Khi bị Đệ Tam Quốc Tế là Liên Xô đuổi về Viễn Đông, “ông cụ” đã vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập đảng Cộng Sản Trung Quốc, được Mao Trạch Đông ưu ái. “Ông cụ” dùng mọi thủ đoạn loại bỏ các đối thủ như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ…, trở thành Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước vào năm 1945.

Theo đánh giá của Giáo Sư Trần Đức Thảo, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về Hồ Chí Minh đã bị hào quang huyền thoại của bộ máy tuyên truyền làm chói mắt, không thể nhận biết mặt thật của ông ta. “Chương 12: Giải Mã Lãnh Tụ” [từ trang 258 đến trang 328] trong quyển sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” ghi chép lại ba lần Giáo Sư Trần Đức Thảo trực tiếp gặp “ông cụ.” Những lần gặp gỡ này giúp Giáo Sư Trần Đức Thảo nhận biết “ông cụ” là người có “cuồng vọng làm lãnh tụ.” [1] Di chuyển và sinh sống khắp mọi nơi ở hải ngoại, “ông cụ” có hàng trăm tên và bí danh khác nhau. Đây chính là điểm then chốt để nhận ra tham vọng của “ông cụ” – người không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào, miễn là đạt được mục đích riêng.


Giáo Sư Trần Đức Thảo nhận xét:
“Ông cụ” là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối… “Ông cụ” còn có tính đa nghi như Tào Tháo ấy… Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người,” từng tỏ ra ngang hàng với “Người,” thì sau đều đã vĩnh viễn bị loại ra khỏi tầm nhìn của “Người.” Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy…Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng: Tạ Thu Thâu đã chết mất xác vì câu nói : “Ngoài Bắc có Cụ, trong Nam có… tôi” …!” [3]

Vì thần phục thiên triều phương Bắc,”ông cụ” sao y bổn chánh chủ trương khủng bố tàn bạo của Trung Cộng vào Việt Nam, điển hình là chiến dịch Chỉnh Huấn, Cải Cách Ruộng Đất…Đảng Cộng Sản Việt Nam của “ông cụ” đã có rất nhiều hành động sai lầm. Lỗi lầm kinh hoàng đẫm máu nhất là cuộc Cải Cách Ruộng Đất; đây không không chỉ là cuộc thảm sát hàng chục ngàn người dân vô tội, mà còn khiến luân thường đạo lý trong xã hội sụp đổ, bởi vì Việt Cộng dùng chính sách đấu tố buộc người thân quen phải đứng ra chỉ chứng, vu cáo những người vô tội trong thân tộc, trong xóm làng.
Giáo Sư Trần Đức Thảo tìm cách thuyết phục giới lãnh đạo cộng sản “không nên chọn chiến tranh, mà phải dồn mọi năng lực vào việc xây dựng hòa bình…,” [3] nhưng không thành, bởi vì từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh, Lê Duẫn…đều hiếu chiến, khát máu. Chính vì thế họ đã phát động chiến dịch xâm chiếm Miền Nam, không hề nghĩ đến cái giá phải trả. Hậu quả trước mắt cho thấy, dù chiến tranh đã kết thúc, xã hội Việt Nam vẫn không thể nào khôi phục được truyền thống đạo đức và nhân bản của tiền nhân – những giá trị tinh thần này đã bị vùi chôn trong biển lửa, trong màu cờ đỏ nhuộm máu hằng muôn ngàn người vô tội.
tin_thac_si_tran_duc_thao
Giáo Sư Triết Học Trần Đức Thảo [1997 – 1993] đậu Thủ Khoa bằng Thạc Sĩ Triết Học (Arégation de Philosopie) tại Pháp năm 1942 lúc mới 26 tuổi. Ông từng thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học tại Pháp viết thư gửi về Tổ Quốc, bày tỏ tình yêu nước khi Việt Nam giành độc lập vào tháng 8 năm 1945.
- Năm 1952: Trần Đức Thảo về chiến khu Việt Bắc. Tham gia kháng chiến chống Pháp năm1952.
- Năm 1955: Trần Đức Thảo trở thành Giáo Sư Triết Học, và là Phó Giám Đốc Đại Học Sư Phạm Văn Khoa, Chủ Nhiệm Khoa Lịch Sử Đại Học Tổng Hợp Hà Nội – nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn.

Giáo Sư Trần Đức Thảo bị kết tội dính líu đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm khi công bố hai bài báo liên quan đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị mất chức Phó Giám Đốc Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, bị cấm giảng dạy, bị chặt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài, bị cô lập ngay giữa đồng bào của ông. Giáo Sư Trần Đức Thảo phải dịch thuật để mưu sinh, phải bán những bộ tự điển để có tiền chi dùng, cuộc sống vô cùng khốn khó. Năm 1991 ông sang Pháp chữa bệnh, qua đời tại Paris. Thi hài được đưa về nước, an táng tại Nghĩa Trang Văn Điển, Hà Nội.

Khác với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường – tác giả quyển hồi ký viết bằng Tiếng Pháp “UnExcommunie,” bản dịch Việt Ngữ “Kẻ Bị Khai Trừ” của Nguyễn Quốc Vĩ, do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương phát hành năm 2011 – Giáo Sư Trần Đức Thảo không để lại một quyển sách nào kể lại cuộc đời đau khổ đầy sóng gió của ông, trong suốt 40 năm sống dưới chế độ Cộng Sản. Quyển sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” dày 427 trang gồm 16 phần, và một phần Phụ Lục, do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành năm 2014, là công trình ghi chép của ký giả Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, từ những cuốn băng ghi âm lời nói chuyện của Giáo Sư Trần Đức Thảo với những người bạn thân, trong thời gian ông ở Pháp năm 1991. “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” là tiếng nói duy nhất của Giáo Sư Trần Đức Thảo, nhờ đó người đọc có thể hiểu và cảm thương quãng đời bị cô lập của ông. “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” còn là di ngôn trung thực của người trí thức Trần Đức Thảo kể về “ông cụ,” – một kẻ đầy tham vọng làm lãnh tụ, hiếu chiến, khát máu, đáng bị lịch sử lên án.
Hoàng Nhất Phương
8:24pm Chủ Nhật ngày 6 tháng 7 năm 2014
[1] Trích từ “Trần Đức Thảo – Những Trời Trăng Trối.”
[2] Chữ dùng của Giáo Sư Trần Đức Thảo.
[3] Chương 12: Giải Mã Lãnh Tụ.
Nguồn: Dân Luận


Ðoàn Thanh Liêm -

 Giải mã Lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo

Thứ Tư, ngày 25 tháng 6 năm 2014

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm
Tài liệu tham khảo chính yếu : Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối
Tác giả : Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê
Do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ ấn hành năm 2014
Sách dày 428 trang – giấy trắng, khổ chữ 12 – bìa giấy màu vàng.


Ở nước ta, thì có rất nhiều vị giáo sư dậy môn Triết học từ cấp trung học lên đến cấp đại học, trong đó đặc biệt là ở miền Nam, thì có một số vị được nhiều môn sinh quý trọng vì sự uyên bác với sở học vững vàng. Nhưng chỉ duy nhất có một mình ông Trần Đức Thảo (1917 – 1993) thì mới là người được gọi là triết gia – mà lại gây được sự chú ý và nể trọng trong giới học thuật riêng tại nước Pháp.




Từ thời còn trẻ lúc theo học tại trung học Albert Sarraut ở Hà nội, ông Thảo đã là một học sinh xuất sắc, rồi được học bổng qua học tại Pháp. Tại đây, ông lại thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm (École Normale Supérieure ENS) là một trong những cơ sở giáo dục có danh tiếng hàng đầu của nước Pháp. Và chỉ ít năm sau đó, ông Thảo đã có bằng Thạc sĩ vào lúc chưa đày 30 tuổi. Cũng như nhiều trí thức khác ở Âu châu trong thập niên 1940 – 50, ông Thảo say mê với chủ thuyết Mác xít và coi đó là một thứ kim chỉ nam cho công cuộc cách mạng xã hội ở thế kỷ XX.


Vào năm 1949 – 50, ông Thảo đã có cuộc tranh luận trên báo chí với Jean Paul Sartre là một triết gia rất nổi tiếng thời ấy. Nhưng vào năm 1951, ông Thảo đã tìm cách đi qua ngả Liên Xô, Trung Quốc để về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Và thảm thương thay, kể từ đó là bắt đầu một cuộc đời bi đát đen tối vì ông bị đày đọa, nghi kỵ theo dõi kềm kẹp liên tục cho đến lúc chết ở Paris năm 1993.


Năm 1991, vào tuổi 74 ông Thảo mơi lại có dịp trở lại Paris và suốt trong 6 tháng cuối đời, ông mới kịp thổ lộ tâm sự thầm kín với vài người vốn có lòng quý trọng đối với triết gia. Và nhà báo Tri Vũ ở bên Pháp đã rất công phu nghe lại các cuốn băng ghi âm về các cuộc nói chuyện đó - để viết thành cuốn sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” mà vừa được ra mắt công chúng vào tháng 5/2014.


Khác với trường hợp của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là người đã viết cuốn Hồi ký bằng tiếng Pháp nhan đề là “Un Excommunié” (Kẻ bị khai trừ, đã có bản dịch ra Việt ngữ) – ông Thảo thì không để lại một cuốn sách nào kể lại cuộc đời đày dãy những truân chuyên sóng gió của mình trong suốt 40 năm sống dưới chế độ cộng sản. Nên ta có thể coi cuốn sách này như là một sự gửi gấm cho hậu thế biết về cuộc đời nhiều cay đắng éo le của ông vậy.


Vì lý do cuốn sách này vừa được nhà báo Phan Thanh Tâm ở Minnesota viết bài giới thiệu với rất nhiều chi tiết và phổ biến vào giữa tháng 6 mới đây, nên tôi thấy không cần phải trình bày dài dòng gì thêm nữa. Mà tôi chỉ xin tập trung về một khía cạnh rất quan trọng được ghi trong Chương 12 nhan đề “Giải mã Lãnh tụ” trải dài đến 70 trang (từ trang 258 đến 328).


Tôi coi đây là một đóng góp rất quan trọng của ông Trần Đức Thảo trong việc góp phần “Giải trừ Huyền thọai Hồ Chí Minh” - mà mới do Nhóm của quý vị Trần Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Lễ phát động trong vòng 7 - 8 năm nay. Xin được trình bày vấn đề dưới các mục sau đây :


I – Gặp mặt lãnh tụ.


1 – Ba lần gặp gỡ trực tiếp với vị Lãnh tụ hàng đầu Hồ Chí Minh.


Ông Thảo thuật lại có đến tất cả 3 lần ông trực tiếp gặp gỡ và nói chuyện với “Ông Cụ”. Còn rất nhiều lần khác, thì ông Thảo chỉ được bố trí cho có mặt “để làm cảnh” mà thôi – do đó mà không có gì đáng nói về chuyện này.


Lần thứ nhất, ông Thảo gặp gỡ và nói chuyện với ông Hồ là vào tháng 6 năm 1946 tại Pháp. Lúc đó, ông Thảo là đại diện cho khối người Đông Dương sinh sống tại Pháp.


Lần thứ hai là vào cuối năm 1952, ông được bố trí để gặp lãnh tụ trong ít phút thật ngắn ngủi tại một nơi trong An Tòan Khu (ATK) ở vùng Việt Bắc.


Lần thứ ba là vào năm 1964, ông được chỉ định trình bày quan điểm về chiến tranh và hòa bình trước giới lãnh đạo cao cấp tại văn phòng Phủ Chủ Tịch. Ngay sau buổi thuyết trình đó, ông Hồ có nói vài câu có phần lơ là miễn cưỡng, mà không hề bày tỏ sự nhiệt tình thân mật gì đối với ông Thảo cả. Ông thuật lại là vào mấy phút cuối bài thuyết trình của ông, thì ông cụ tỏ vẻ mặt cau có vì không đồng ý với quan điểm của thuyết trình viên đã “không theo đúng với sách lược chủ chiến” của giới lãnh đạo đảng cộng sản thời ấy.


Qua 3 lần trực tiếp gặp mặt và nói chuyện với “Cụ Hồ” và qua sự quan sát về sinh họat của lãnh tụ hàng đầu này trong nhiều năm, cũng như nhờ thâu thập thêm được nhiều thông tin từ những nhân vật gần gũi thân tín với “ông cụ” - mà ông Thảo đã có những nhận xét thật là chính xác, sâu sắc về ông Hồ Chí Minh – mà tôi sẽ xin ghi lại chi tiết hơn trong mục II tiếp liền sau mục I này.


2 – Những lần gặp gỡ với các lãnh tụ Trường Chinh và Lê Duẫn.


Ông Thảo cũng còn thuật lại những lần gặp gỡ trao đổi với các nhà lãnh đạo cộng sản cao cấp khác nữa, đặc biệt là các ông Trường Chinh và Lê Duẫn.


Vào cuối năm 1955, ông đã có dịp trao đổi chuyện trò khá lâu với ông Trường Chinh, ông Thảo cũng thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình về khía cạnh nhân bản, nhân ái của cuộc cách mạng lý tưởng – điều này khác biệt hẳn với chủ trương xúi giục hận thù giữa các tầng lớp nhân dân như trong Cải cách Ruộng đất hiện đang diễn ra thời ấy. Ông Trường Chinh trả lời hụych tọet thế này : “…Nhân lọai có tiến bộ là nhờ có chiến tranh… Vì cách mạng luôn luôn phải là ở trong vị thế của thời chiến tranh, cách mạng phải luôn luôn cần thấy rõ thù trong, giặc ngòai để mà chiến đấu!”…


Với ông Lê Duẫn, lại càng tệ hại hơn nữa. Ông Thảo kể lại : “Sau này cánh Lê Đức Thọ, Lê Duẫn thì rất gờm tôi, vì biết tôi muốn ngăn cản mở lại chiến tranh. Còn một lần gặp riêng ông Lê Duẫn, thì rồi ông ấy cũng không ưa tôi, vì lúc ấy, trong cương vị Tổng bí thư, ông ta muốn tôi chấp bút viết Hồi ký cho ông ấy. Nhưng sau khi ngồi cả tiếng đồng hồ để nghe ông ta giảng giải tư tưởng của ông, tôi đành trả lời thẳng là tôi nghe ông nói mà không hiểu gì cả! Vì thế mà sau này ông ấy cũng cay ghét tôi…”


II – Giải mã Lãnh tụ.


Thật ra những điều ông Thảo bộc bệch tâm sự như được ghi lại trong rất nhiều trang, đặc biệt là trong Chương 12 của cuốn sách này, thì cho đến nay cũng đã có nhiều người nói đến rồi. Nhưng cái lối phân tích cặn kẽ sâu sắc của vị triết gia đã “trải nghiệm, quan sát và nghiền ngẫm trong suốt 40 năm sống trong lòng chế độ cộng sản”, thì phải coi là rất có giá trị và có sức thuyết phục rất cao đối với phần đông người Việt chúng ta. Có thể tóm tắt lại trong mấy điểm như sau đây.


1 – Ông Hồ là một người có “cuồng vọng làm lãnh tụ”.


Theo dõi hành tung “xuất quỷ nhập thần” của “ông cụ” trong mấy chục năm tại khắp nơi ở hải ngọai với hàng trăm tên và bí danh khác nhau, ta dễ có thể nhận ra được cái tham vọng của một con người đa mưu túc trí, lúc nào cũng sẵn sàng làm bất kể việc gì miễn sao đạt được mục đích của riêng mình. Rõ ràng là ông nằm lòng cái lối mưu lược bá đạo của Machiavel, chứ không hề có chủ trương vương đạo theo truyền thống luân lý nhân bản của cha ông ta. Ngay cái tên ông chọn cho mình như “Ái Quốc”, “Vương”, “Chí Minh” cũng đủ nói lên cái tham vọng vượt mức của một con người làm chính trị rồi.


Xin trích một số đọan ngắn như sau : “Ông cụ” là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối… “Ông cụ” còn có tính đa nghi như Tào Tháo ấy…Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người”, từng tỏ ra ngang hàng với “Người”, thì sau đều đã vĩnh viễn bị lọai ra khỏi tầm nhìn của “Người”. Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy… Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng : Tạ Thu Thâu đã chết mất xác vì câu nói : “Ngòai Bắc có Cụ, trong Nam có… tôi” …!


2 – Cái “Bóng Ma Mao Trạch Đông”.


Vào cuối thập niên 1920, khi bị Comintern gán cho tội theo chủ trương “quốc gia chủ nghĩa hẹp hòi” và bị gạt ra rìa, thì “ông cụ” tìm cách “ôm chân Mao Trạch Đông” bằng cách tuyên thệ làm đảng viên đảng cộng sản Trung quốc và gia nhập hàng ngũ Bát Lộ Quân thuộc Giải Phóng Quân Trung Quốc. Nhờ thế, mà sau ít lâu, “ông cụ” đã trở thành một lãnh tụ vượt lên trên tất cả các cán bộ nòng cốt được đào tạo chính quy bài bản ở Liên Xô như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ v.v…


Mà cũng vì thế cho nên “ông cụ” mới du nhập vào nước ta bao nhiêu tai họa phát sinh từ chủ trương sắt máu bạo ngược của cộng sản Trung quốc điển hình như các chiến dịch Chỉnh Huấn, Cải Cách Ruộng Đất v.v…


Và sau này, với chuyện hôi họp lén lút ở Thành Đô vào năm 1990, các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười… đã ươn hèn quy phục giới lãnh đạo ở Bắc Kinh để mà “bán đất, nhượng biển cho Trung quốc” hầu cứu vớt đảng cộng sản đang lâm nguy của tập đòan họ. Làm như vậy, chính là họ tiếp nối cái chuyện bán nước của Hồ Chí Minh từ xưa vậy.


3 – Từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh, Lê Duẫn …, tất cả đều rất mực hiếu sát, hiếu chiến.


Trong suốt cuốn sách, ông Thảo nhắc lại đến cả mấy chục lần về việc ông tìm cách thuyết phục giới lãnh đạo cộng sản là :”Không nên chọn chiến tranh, mà phải dồn mọi năng lực vào việc xây dựng hòa bình”. Nhưng rõ ràng là tất cả các ông lãnh tụ này đều một mực hiếu chiến, nên đã phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam bằng mọi giá, bất kể đến tổn thất kinh hòang về nhân mạng, hay phải trả cái giá quá đắt là lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc và Liên Xô. Và ngày nay, dù cuộc chiến đã chấm dứt từ lâu mà xã hội chúng ta vẫn chưa làm sao có thể phục hồi lại được cái truyền thống nhân bản và nhân ái của cha ông mình.


Cũng vì chủ trương nhân bản hòa ái như vậy, mà ông Thảo bị họ liệt vào “lọai có vấn đề” để mà bị theo dõi, kiềm chế và trù dập rất gắt gao – đến nỗi mà ông đã phải giả vờ như người khùng, người hề, người mất trí để tránh khỏi bị ám hại.


Và cuối cùng, thì ông Thảo đã phải đanh thép kết luận rằng : Tất cả những sự tệ hại tàn ác xảy ra cho đất nước và dân tộc chúng ta, thì đều do cái học thuyết “đấu tranh giai cấp” mà ra. Và người thủ phạm gốc của tệ nạn này, đó chính là ông tổ sư Karl Marx đấy! Lời xác nhận này rất quan trọng, vì nó phát xuất từ một người trí thức có tên tuổi mà hồi còn trẻ đã có sự say mê tin tưởng vào chủ thuyết Marxist và đã dám có sự can đảm hy sinh từ bỏ cả sự nghiệp và tương lai đày hứa hẹn trên đất Pháp để về tham gia công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ năm 1951 lúc mới có 34 tuổi. Mà rồi sau đó 40 năm với bao điều chính bản thân mình đã tai nghe mất thấy – ông Thảo đã chứng nghiệm được sự sai lầm tột độ của lý thuyết dựa trên lòng hận thù bạo ngược của chính người khởi xướng là Karl Marx. Và ông đã có sự can đảm và lòng thành thật để công khai nói lên điều đó.


Từ ngày qua Pháp, ông Thảo đã cố gắng viết cho xong một cuốn sách thật nghiêm túc để nêu lên sự sai lầm tai hại của chủ thuyết Marxist - với lý luận chặt chẽ dựa trên những trải nghiệm bi đát của bản thân trong hơn 40 năm sinh sống ở Việt nam. Ông phải làm việc rất thận trọng nhằm hòan thành được một cuốn sách cho thật xứng đáng với tầm vóc của một triết gia. Nhưng tiếc thay, ông đã phải ra đi ở tuổi 76 mà chưa kịp hòan thành tác phẩm quan trọng này.

Vì thế mà tác giả Tri Vũ Phan Ngọc Khuê mới lấy nhan đề cho cuốn sách ghi lại những thổ lộ tâm sự uất nén đã bao nhiêu năm của ông Thảo là :
“Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối”


Cuốn sách chứa đựng nhiều thông tin thật quý báu để minh họa cho lập trường nhân bản, nhân ái và tính cương trực can đảm của vị triết gia có tên tuổi trong hàng ngũ trí thức ở nước ta cũng như tại nhiều nơi trên thế giới.

Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách thật sự có giá trị này.


Hơn nữa, sự Giải mã Lãnh tụ (Deciphering) được trình bày với nhiều chi tiết xác thực trong cuốn sách sẽ giúp ích rất nhiều cho công cuộc “Giải trừ Huyền thoại Hồ chí Minh” (Demystifying) đã được phát động từ 7 – 8 năm nay.

Và cuối cùng người viết cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tác giả Tri Vũ Phan Ngọc Khuê cũng như đến Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông vì sự cống hiến thật đáng ca ngợi này.

San Clemente California ngày 24 tháng Sáu năm 2014
Đoàn Thanh Liêm
http://vulep-books-links.blogspot.ca/2014/06/nhung-loi-trang-troi.html

 

Nguyễn Văn Tuấn 

 Những Lời Trăng Trối của Gs Trần Đức Thảo


Nguyễn Văn Tuấn
Theo FB Nguyễn Văn Tuấn Ở nước ngoài cư dân mạng đang truyền nhau những bài điểm sách cuốn “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” của tác giả Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê (xuất bản ở Mĩ, 2014). Sở dĩ người ta chú ý đến cuốn sách này là vì ông Trần Đức Thảo viết khá nhiều về ông Hồ Chí Minh.
Hình như ai cũng công nhận ông TĐT là người học rất giỏi và rất thông minh. Ông được xem là triết gia thực thụ. Ngay cả Giáo sư Trần Văn Giàu cũng nhận xét rằng Việt Nam có những người nghiên cứu và giảng dạy triết học, nhưng chỉ có TĐT là người duy nhất được xem là triết gia. Còn các vị triết gia XHCN ngoài đó thì xem như là vứt đi.
Như các trí thức khác do ông HCM thuyết phục về VN, ông Trần Đức Thảo có một cuộc đời gian truân dưới chế độ XHCN ngoài Bắc. Ông TĐT về VN năm 1952. Năm 1955 được bổ nhiệm giáo sư tại trường Đại học Sư phạm và Văn khoa, và chủ nhiệm khoa sử của ĐH Tổng Hợp Hà Nội. Tưởng rằng ông được trọng dụng, nhưng sai be bét! Ông bị chụp mũ có dính dáng đến phong trào Nhân văn Giai Phẩm, và những người hung hăn nhất tấn công ông thời đó có cả giáo sư Nguyễn Lân! Và, thế là ông bị giam tù tại gia cho đến ngay ông xin đi Pháp chữa bệnh năm 1991, và qua đời ở Pháp vào năm 1993.
Ông Trương Như Tảng viết về thời gian bị nhà cầm quyền giam lỏng như sau: "Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man." Quả là dã man! Nhưng cách hành xử đó cũng chẳng khác gì cách nhà cầm quyền đàn áp và đày đọa các nhà trí thức bất đồng chính kiến hiện nay.
Trong thời gian ở Pháp, ông TĐT có trò chuyện với nhà báo Tri Vũ, và những buổi trò chuyện được ghi âm. Cuốn sách “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” được viết lại theo những kí âm đó. Trong sách, TĐT kể lại 3 lần gặp ông HCM. Ông có những nhận xét không mấy tốt về ông HCM. Chẳng hạn như ông phân tích mấy bút danh và bí danh của ông cụ (như “Ái Quốc”, “Vương”, “Chí Minh”) để nói rằng ông có mộng bá vương chứ không đơn thuần chỉ làm chính trị. Nghe nói ông Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu vì dám nói “Ngòai Bắc có Cụ, trong Nam có… tôi”! Ông TĐT nhận xét rằng ông HCM phải dựa vào Mao Trạch Đông và hình như gia nhập đảng cộng sản China và tham gia Bát Lộ Quân của Tàu. Đó chính là nguồn gốc của những chỉnh huấn, và cải cách ruộng đất.
Theo như các bài điểm sách thì ông TĐT còn có những nhận xét động trời khác, nhưng có lẽ không nên viết ra ở đây. Các bài điểm sách này được viết theo một văn phong mà người đọc có cảm giác không phân biệt được câu nào là của ông TĐT, câu nào là của tác giả, và câu nào là tác giả suy luận. Cái vấn nạn của nhiều người viết báo là họ quên phân biệt fact và opinion. Nhưng có lẽ cuốn sách này cùng với cuốn của Gs Nguyễn Mạnh Tường sẽ cung cấp cho những người không sống trong xã hội ngoài Bắc thời trước có thêm những thông tin có ích về cuộc sống và đau khổ của những người trí thức chân chính.

No comments: