Monday, September 22, 2014

TIN THẾ GIỚI

 

Ấn Độ: TQ phải chấp nhận luật toàn cầu trong tranh chấp lãnh hải

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Ahmedabad, ngày 17/9/2014.
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Ahmedabad, ngày 17/9/2014.
Thủ tướng Ấn Độ nói Trung Quốc muốn được liên kết với thế giới và vì vậy cần tin tưởng là Bắc Kinh sẽ phải chấp nhận luật lệ toàn cầu trong các tranh chấp lãnh hải với những nước láng giềng.
Trong cuộc phỏng vấn với CNN hôm 21/9 trước khi sang thăm Hoa Kỳ, ông Narendra Modi bác quan điểm so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa hai nước Ấn-Trung. Ông nhấn mạnh dân chủ là di sản của Ấn Độ và với dân chủ, phát triển kinh tế là một điều khả thi.
Đáp câu hỏi liệu Ấn Độ có thể sánh kịp tăng trưởng GDP của Bắc Kinh, ông Modi quả quyết Ấn Độ có cơ hội trỗi dậy lần nữa thành cường quốc kinh tế toàn cầu và ông có một lộ trình rõ ràng để đạt được điều đó.

Khi được hỏi phản ứng về cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông khiến một số chính phủ lo ngại, Thủ tướng Ấn Độ khẳng định Ấn Độ hoàn toàn khác. Ông Modi nói một quốc gia với 1,25 tỷ dân không thể vận hành đất nước nếu lo ngại về từng ‘chuyện nhỏ.’  
Ông Modi nói thêm rằng, tuy nhiên, Ấn Độ cũng không thể làm ngơ trước mọi vấn đề, vì trong thời đại đối tác này, tất cả các bên đều phải tìm kiếm và mở rộng sự hỗ trợ lẫn nhau.

Vẫn theo nhà lãnh đạo Ấn Độ, Trung Quốc thừa hiểu họ phải chấp nhận luật toàn cầu và phải đóng vai trò của họ trong việc hợp tác và tiến lên phía trước nếu không muốn bị cô lập.
Trước khi đặt chân tới Hoa Kỳ, ông Modi tuyên bố hai nước Ấn-Mỹ có thể phát triển mối quan hệ đồng minh chiến lược chân thành vì có rất nhiều điểm tương đồng giữa đôi bên.
Chuyến công du Mỹ của Thủ tướng Ấn Độ trong tuần này diễn ra sau khi Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, vừa rời Ấn trong chuyến thăm từ ngày 17 đến ngày 19/9.
Trước đó, nhân chuyến thăm Việt Nam (14-17/9), Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee nhấn mạnh nước ông luôn ủng hộ giải pháp hòa bình, đối thoại theo luật quốc tế, không dùng võ lực hay đe dọa trong các tranh chấp Biển Đông.

Ông Mukherjee cũng bày tỏ tin tưởng mối quan hệ đối tác chiến lược Việt-Ấn sẽ ngày càng mở rộng thêm góp phần vào sự phát triển của khu vực và thế giới.
Trong thông điệp mạnh mẽ gửi tới Trung Quốc ngay ngày Chủ tịch Tập Cận Bình tới Ấn Độ, Tổng thống Mukherjee nói hợp tác dầu khí Việt-Ấn ở Biển Đông từ 1988 tới nay hoàn toàn mang mục đích thương mại, phi chính trị.
Trung Quốc tuyên bố phản đối bất kỳ dự án dầu khí nào giữa Việt Nam với các nước tại những khu vực Bắc Kinh nói nằm dưới sự quản lý của họ ở Biển Đông.
Nguồn: IANS, Newkerala.com, India TV, Business, NDTV, IndiaTVnews, IndiaTimes

Trục Nga - Trung: Mối đe dọa cho thế giới

Việt Hà, phóng viên RFA
2014-09-22
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_DV1733871.jpg
Tổng thống Nga Vladimir Putin đến Trung Quốc tham dự lễ khai mạc cho cuộc tập trận chung tại trung tâm chỉ huy của căn cứ hải quân Wusong ở Thượng Hải vào ngày 20 tháng 5 năm 2014
AFP photo



Trung tuần tháng 9 vừa qua, tác giả Douglas Schoen, một chiến lược gia hàng đầu của đảng Dân chủ Mỹ và nhà báo Melik Kaylan, giới thiệu một cuốn sách mới có tựa ‘Trục Nga Trung’.
Cuốn sách nói đến mối nguy hiểm của một cuộc chiến tranh lạnh đang tiềm ẩn với sự hình thành của liên minh Nga Trung để đối phó với Hoa Kỳ, và mở rộng tầm ảnh hưởng của họ ra thế giới.

Phương Tây lo ngại
Để tìm hiểu thêm về sự hình thành mối liên minh Nga - Trung và sự nguy hiểm của mối liên minh này với các nước, nhất là ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, Việt Hà phỏng vấn tác giả Melik Kaylan. Trước hết, nói về các nhân tố cho thấy sự hình thành trục Nga Trung, tác giả Kaylan cho biết:
Điều mà chúng ta đã biết rất rõ ràng và hiển nhiên là Trung Quốc và Nga đã có sự hiểu biết về mặt chiến lược với nhau qua sự hình thành của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, đây là một dạng giống như cơ cấu của phương Tây. Họ vẫn đang xây dựng tổ chức này. Họ có khoảng 10 nước hoặc hơn là những nước đã tham gia hoặc là thành viên quan sát. Vấn đề bắt đầu kể từ sau khi Mỹ bắt đầu tham gia vào cuộc chiến ở Afghanistan.

Theo tôi điều này tạo ra một cú sốc với Nga và Trung Quốc vì họ không quen với việc có bất cứ ai vào sân sau của họ như vậy, tìm cách thống trị khu vực đó và sử dụng nguồn tài nguyên ở đó. Cho nên họ đưa ra sáng kiến này mà theo tôi cuối cùng là để khóa chặt khu vực đó và đồng thời để không có sự bất đồng giữa họ với nhau và cho phép họ mở rộng từ đó. Điều này là những gì họ đã làm kể từ khi Nga quay trở lại tham vọng là đế quốc của châu Âu và Trung Quốc thì tiến ra khắp châu Á và nền kinh tế của họ mở rộng ra thế giới. Khi một đế quốc mở rộng về kinh tế thì họ cũng phải tìm cách bảo vệ sự mở rộng của mình bằng quân sự. Trung Quốc đang làm điều đó rất công khai. Họ xây dựng căn cứ quân sự ở Ấn Độ Dương, ở châu Á. Mục đích của họ là để thống trị khu vực vì mục đích kinh tế thương mại. Và đó là điều chúng ta đang chứng kiến trên thế giới.
Hãy nhìn lại thời gian mà chúng ta quá bận rộn ở vùng Trung đông, và Afghanistan, Nga đã lấy lại đế quốc của mình bằng việc xâm lược Georgia, họ có thể có kế hoạch sử dụng nguồn lợi từ dầu mỏ để xây dựng quân đội.
- Melik Kaylan
Việt Hà: Tại sao nước Mỹ và phương Tây bây giờ phải lo ngại về mối nguy của trục Nga - Trung khi mà hiện tại chúng ta có những mối đe dọa khác như nhà nước Hồi giáo ISIS mà hàng ngày chúng ta vẫn đọc thấy trên báo chí và xem trên TV, hay những lo ngại về sự trì trệ của nền kinh tế?
Melik Kaylan: Theo tôi điều chúng ta phải lo lắng là những gì sẽ xảy ra trong vòng 10 hay 20 năm nữa, khi trò chơi kết thúc và chúng ta ‘khó thở’ về kinh tế và không thể bảo vệ các đồng minh của mình và giữ trật tự thế giới trong vòng nửa thế kỷ qua hoặc hơn. Vào lúc này, điều mà chúng ta nhìn thấy trên truyền hình là nhà nước Hồi Giáo – ISIS và các vấn đề về kinh tế nhưng khi chúng ta phải đối đầu với các cường quốc sở hữu vũ khí hạt nhân, bạn phải đối mặt với một vấn đề hoàn toàn khác, và đó là sự đe dọa cho toàn thế giới. Những  cường quốc đó có thể có kế hoạch dài hạn.

Hãy nhìn lại thời gian mà chúng ta quá bận rộn ở vùng Trung đông, và Afghanistan, Nga đã lấy lại đế quốc của mình bằng việc xâm lược Georgia, họ có thể có kế hoạch sử dụng nguồn lợi từ dầu mỏ để xây dựng quân đội. Họ có thể xây dựng kế hoạch dài hạn từ đó, và đã làm như vậy từ khi chúng ta bị xao nhãng. Trung Quốc cũng trở thành một cường quốc về kinh tế trên thế giới trong thời gian đó và bây giờ họ có thể tạo nguy hiểm cho các trao đổi vệ tinh của chúng ta ở phương Tây, và các nơi khác.
Chúng ta phải lo lắng về những mối đe dọa đó, vốn là những mối đe dọa có tính tổng thể hơn loại đe dọa chỉ làm chúng ta xao nhãng, những mối đe dọa không trực tiếp hướng vào chúng ta và chỉ có mang nặng kịch tính trên truyền hình.

Chiến tranh lạnh "thế hệ mới"
Việt Hà: Trong cuốn sách, ông nói đến sự tiềm ẩn của một cuộc chiến tranh lạnh thứ hai trên thế giới. Chiến tranh lạnh lần này nếu xuất hiện, sẽ khác với cuộc chiến tranh lạnh trước kia ở điểm nào?

000_DV1733888-400.jpg
Tổng thống Nga Vladimir Putin (phải) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) tham dự lễ khai mạc Hợp tác Hải quân 2014 tại căn cứ hải quân Wusong ở Thượng Hải hôm 20/5/2014. AFP photo
Melik Kaylan: Theo tôi thì chiến tranh lạnh này sẽ nguy hiểm hơn với chúng ta so với trước rất nhiều, vì trong chiến tranh lạnh trước kia, sự chia rẽ giữa các bên rất rõ. Chúng ta có những lựa chọn về tư tưởng rõ ràng và sự ảnh hưởng về kinh tế hoàn toàn tách rời nhau. Điều này bây giờ đã khác. Các đối thủ của chúng ta cũng có quan hệ phụ thuộc với chúng ta. Đức phụ thuộc Nga về đường ống dẫn khí, chúng ta phụ thuộc Trung Quốc về các khoản vay và đầu tư ...
Cho nên bây giờ sẽ khó hơn cho chúng ta khi nói rằng họ là mối đe dọa của chúng ta và chúng ta phải đối mặt với nó vì mối đe dọa đã nằm ngay trong ‘phòng máy’ của chúng ta. Nó làm cho chúng ta khó mà nhìn nhận mối nguy hiểm. Đó là một phần mục đích của cuốn sách mà chúng tôi viết. Nga và Trung Quốc biết họ là ai và họ chống lại ai. Nhưng thực sự là Mỹ và phương Tây đã từ chối nhìn vào bức tranh tổng thể đó.
Việt Hà: Mỹ có chiến lược chuyển trọng tâm về châu Á Thái Bình Dương để đối phó với một Trung Quốc đang lên, theo ông thì chiến lược này có hiệu quả hay không trong việc đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc như ông đề cập?
Điều mà chúng ta thấy là Trung Quốc đã bắt đầu thống trị khu vực về mặt kinh tế và bảo về quyền lợi của mình bằng quân sự.
- Melik Kaylan
Melik Kaylan: Chiến lược chuyển trục về châu Á là một loại kế hoạch chiến lược dài hạn mà chúng ta cần phải làm. Và nó đã mất một phần động lực vì những gì đang diễn ra tại Trung đông và ISIS và đó là lý do vì sao chúng ta cần tập trung vào chiến lược dài hạn thay vì chỉ lo lắng cho những gì ngắn hạn và có tính kịch tính, tức thời mà thực sự cuối cùng cũng không thực sự nguy hiểm.
Điều mà chúng ta thấy là Trung Quốc đã bắt đầu thống trị khu vực về mặt kinh tế và bảo về quyền lợi của mình bằng quân sự. Họ làm những điều này không bằng những sự kiện có tính gây kích động trầm trọng như những gì chúng ta thấy của nhà nước Hồi giáo ISIS. Họ làm bằng những cách khiến chúng ta không thể phản ứng một cách dữ dội. Trung Quốc không làm theo cách để khiến phương Tây phải tập trung lực lượng để đối phó với họ. Không có gì quá lớn mà họ cứ làm từng thứ nhỏ một dần dần.

Trung Quốc sẽ không xâm chiến Senkaku theo một cách rõ ràng mà họ cứ làm dần dần, họ mở rộng tầm ảnh hưởng của mình dần dần để không ai có phản ứng dữ dội với họ và cuối cùng thì những đồng minh của chúng ta ở đó sẽ bị chìm vào trong những đe dọa và ảnh hưởng của Trung Quốc đến một lúc họ không cựa quậy nổi nữa và cho đến lúc đó thì đã là quá muộn.
Việt Hà: Trong cuốn sách, ông nói rằng NATO cần phải đề cao cảnh giác trước mối đe dọa từ trục Nga Trung, nhưng NATO là ở châu Âu, còn ở châu Á thì sao, Hoa Kỳ có thể làm gì với các đồng minh của mình ở châu Á?

Melik Kaylan: Theo tôi vai trò của Mỹ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương chính là chất kết dính giữa các nước mà Trung Quốc đang đe dọa từng nước một. Trung Quốc sẽ không thể đe dọa được các nước nếu các nước đi cùng với nhau. Nhưng vấn đề là các nước ở đó thường không có sự thông cảm với nhau. Họ không có mối lợi chung với nhau để khiến họ kết dính với nhau một cách hiệu quả. Điều mà Mỹ đã làm sau chiến tranh thế giới ở châu Âu đã giúp các nước vốn là địch thủ của nhau trở nên gắn kết với nhau. Và mối đe dọa thống nhất từ Liên Xô là điều mà Mỹ có thể áp dụng tương tự như ở châu Á để giúp các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Philippines gắn kết với nhau đối đầu với một thế lực có thể gây chia rẽ trong họ và thống trị họ từng nước riêng rẽ.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.

Chưa thức tỉnh thì mãi mãi tụt hậu

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-09-22
000_Hkg8230443.jpg
Xích lô đợi khách hàng bên ngoài quán cà phê Starbucks đầu tiên tại TPHCM hôm 31/1/2013
AFP photo


Tại diễn đàn Phát triển Châu Á (ADF) tổ chức ngày 19/9/2014 tại Hà Nội, đại diện Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá Việt Nam sẽ mất 40 năm tức tới 2058 mới vượt ngưỡng thu nhập trung bình. Điều này phản ánh thực trạng kinh tế Việt Nam hay là một đánh giá quá bi quan.
Theo Ngân hàng Thế giới, một quốc gia có thu nhập trung bình có nghĩa là lợi tức bình quân đầu người ở trong khoảng 1.000 USD đến 12.000 USD một năm. Tuy vậy Việt Nam mới chỉ bước vào các nấc thang đầu tiên của nhóm các nước thu nhập trung bình, vì người Việt Nam mới chỉ đạt GDP đầu người khoảng 1.900 USD. Đây là cách tính máy móc lấy tổng sản phẩm nội địa chia cho dân số.
Để người Việt Nam tiến tới mức GDP đầu người 12.000 USD/năm thì có lẽ đã quá tầm mơ ước của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vượt qua ngưỡng này và bước vào câu lạc bộ các nước thu nhập cao vào năm 2058 được xem là một đánh giá có phần lạc quan chứ không phải bi quan.
Trả lời chúng tôi, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định rằng Việt Nam có thể bị ách tắc trong bẫy thu nhập trung bình. Ông nói:
... nếu không được giải quyết một cách quyết liệt, thì chắc chắn nền kinh tế Việt Nam sẽ còn tụt hậu, 40 năm nữa không những không thể đuổi kịp mà còn tụt hậu xa hơn nữa so với các nước trong khu vực.  
-PGS TS Ngô Trí Long
“Hoàn toàn có thể xảy ra nếu không thực hiện cải cách thể chế, cải cách quyết liệt tạo sự bình đẳng sân chơi giữa các thành phần kinh tế; coi con người là nhân tố quyết định, cốt lõi là phải tạo ra năng suất cao. Hiện nay năng suất lao động so với thế giới và khu vực thì Việt Nam đứng vào loại thấp nhất. Đây là mối nguy hiểm tạo một rào cản rất lớn cho động lực phát triển kinh tế. Cho nên nếu tất cả những thách thức, những khó khăn tồn tại bất cập hiện nay nếu không được giải quyết, không được xử lý một cách quyết liệt triệt để, thì chắc chắn nền kinh tế Việt Nam sẽ còn tụt hậu, 40 năm nữa không những không thể đuổi kịp mà còn tụt hậu xa hơn nữa so với các nước trong khu vực.”
So với láng giềng Việt Nam tụt hậu khá xa, cụ thể năm 2013 Malaysia có GDP đầu người 10.514 USD, Thái Lan 5.779 USD. Những láng giềng này cũng đang nằm trong mức thu nhập trung bình, nhưng theo OECD Malaysia sẽ là quốc gia Đông Nam Á tiến lên nước thu nhập cao vào năm 2020, Thái Lan và năm 2031. Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới có GDP đầu người 6.807 USD và có khả năng thoát ngưỡng thu nhập trung bình vào năm 2026.
Theo VnExpress, phát biểu tại Diễn đàn Phát triển Châu á tổ chức ở Hà Nội, Giáo sư Keun Lee thuộc Đại học Quốc gia Hàn Quốc, lấy kinh nghiệm phát triển thành công của quốc gia mình và lập luận: “yếu tố có thể giúp các nước vươn lên thoát bẫy thu nhập trung bình là con người và sự đổi mới sáng tạo.”
Vì đâu nên nỗi?
Phải chăng những vấn đề vừa nêu đã cản trở sự phát triển của Việt Nam. Phó Giáo sư Ngô Trí Long nhận định:
000_Hkg9412954-400.jpg
Một người buôn bán vỉa hè đang đếm tiền. Ảnh chụp ngày 27/1/2014 tại Hà Nội. AFP photo
“Đây là cách nhận định hoàn toàn đúng mà nhiều chuyên gia cũng đã có kiến nghị với các cơ quan chức năng cũng như với chính phủ. Bởi vì cho tới hiện nay nếu không có sức sáng tạo, cũng như đặc biệt về năng suất lao động mà không phát huy, không đổi mới thể chế thì chắc chắn Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và sẽ tụt hậu hơn nữa so với các nước trong khu vực. Đây là điều nhà nước Việt Nam cũng đã nhìn thấy và đang quyết tâm đẩy mạnh. Thế thì giữa quyết tâm đấy và việc có thực hiện được hay không hãy chờ xem xét ở phía trước.”

Yếu tố con người và tinh thần đổi mới sáng tạo có thể hiểu như thế nào trong hoàn cảnh Việt Nam. Gần bốn thập niên sau khi Cộng sản Việt Nam thống nhất đất nước và thiết lập thể chế một đảng toàn trị, nền kinh tế Việt Nam được Ngân hàng phát triển Châu Á đánh giá kém sáng tạo và xếp một bậc sau nước Lào. Đánh giá này có thể máy móc dựa vào một số yếu tố, chỉ tiêu và có thể không mang nhiều ý nghĩa lắm.

Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới được báo Đất Việt Online trích lời, đã đề cập đến nhược điểm của người Việt Nam là thích ăn sổi, không thích sáng tạo trong sản xuất, cho đến nay từ cây kim sợi chỉ, cái lược chải đầu cũng nhập từ Trung Quốc. Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn nhấn mạnh, chỉ số thông minh IQ của người Việt cao hơn nhiều nước khác, IQ xét về xử lý bộ não nhưng xử lý cái gì lại là chuyện khác. Theo lời vị chuyên gia Việt Nam có tiềm năng nhưng không đi vào thực tế.
Nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội nhìn nhận vấn đề theo cách riêng của mình. Ông nói:
Tư duy bao cấp, tư duy làm ăn dối trá đối phó đó của người Việt nó nặng nề lắm và bây giờ ảnh hưởng nhiều thế hệ, đặc biệt giới lãnh đạo thì nói dối kinh khủng…
- Nhà giáo Đỗ Việt Khoa
“Nguyên nhân chính là do cả cái cơ chế này ở Việt Nam, người ta sống trong một thời kỳ giả dối thời gian rất dài. Giả dối biểu hiện rõ nhất là trong thời kỳ làm ăn hợp tác xã, việc công người ta làm ẩu. Làm hợp tác xã kẻng rồi mãi bà con mới đi, đi thì làm qua quýt chưa kẻng đã thấy về nhà. Tư duy bao cấp, tư duy làm ăn dối trá đối phó đó của người Việt nó nặng nề lắm và bây giờ ảnh hưởng nhiều thế hệ, đặc biệt giới lãnh đạo thì nói dối kinh khủng…
Trong ngành giáo dục chúng tôi tỷ lệ nói dối thật khủng khiếp, thầy cô cũng nói dối, học sinh sẽ học được bệnh nói dối ngay từ sớm và như thế thì còn cái gì là sáng tạo nữa, còn cái gì là động lực trung thực nữa.”
Việc Việt Nam sập bẫy thu nhập trung bình là điều đã được dự báo từ lâu. Nhưng dự báo thẳng thắn là Việt Nam có thể mất 40 năm mới ra khỏi cái “ao” thu nhập trung bình, thì quả là một thông tin gây sốc cho người dân.
Bên cạnh sự kiện Diễn đàn Phát triển Châu Á diễn ra hôm 19/9 tại Hà Nội. Cùng ngày Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ông Takehiko Nakao có họp báo ở Thủ đô Việt Nam nhân chuyến viếng thăm hai ngày. Ông Nakao khuyến cáo Việt Nam cần thực hiện hiệu quả những luật lệ và qui định trong kinh doanh để tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn. Theo lời Chủ tịch ADB, khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy năng lực cạnh tranh của Việt Nam và tránh bẫy thu nhập trung bình.
Thế nhưng Việt Nam dường như đã bỏ lỡ một cơ hội để sửa sai thể chế kinh tế ngược đời của mình. Việt Nam kiên định với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013 vẫn minh định kinh tế Nhà nước là chủ đạo nền kinh tế.
 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-needs-40yrs-get-out-of-middle-income-trap-nn-09222014120718.html

Châu Âu bị xé nhỏ sau ví dụ Scotland?

Cập nhật: 13:25 GMT - thứ hai, 22 tháng 9, 2014

Những người đòi độc lập cho Scotland chưa có đủ phiếu sau trưng cầu dân ý
Trong những thập niên gần đây, châu Âu đang phải chứng kiến sự chia rẽ sâu sắc trong một số quốc gia.
Tại Liên bang Nga, nhiều người Chechnya và Dagestan muốn ly khai khỏi đất nước này, trong khi người Karelia tự coi họ là người Phần Lan.
Các nhóm dân tộc nói tiếng Pháp và Hà Lan trong nước Bỉ cũng có sự thù địch nhau. Gần đây nhất là việc khu tự trị Crimea của Ukraine tiến hành trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga.
Bên cạnh đó, còn có các phong trào đòi độc lập ở các quốc gia châu Âu khác.
Vùng Catalonia với thủ phủ là thành phố Barcelona, của Tây Ban Nha cũng nêu yêu cầu về một nền độc lập.
Ngày 11/9/2014, trước sự kiện Scotland sẽ trưng cầu dân ý, người dân vùng Catalan cũng xuống đường tuần hành yêu cầu tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý tương tự vào ngày 9/11.
Vào tháng 3/2014, tại miền bắc nước Ý, cư dân vùng Veneto đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý trực tuyến nhằm thành lập một nhà nước độc lập.
Kết quả đạt được là sự ủng hộ của hơn 89% người dân ở đây. Mặc dù vậy, chính phủ Ý tuyên bố không công nhận kết quả này.

Khu vực nói tiếng Hà Lan - Flemish của Bỉ, theo một cuộc khảo sát vài năm trước của tờ Het Laatste, một nửa dân số ở đây muốn độc lập với Bỉ.
Bên rìa châu Âu, ở Thổ Nhĩ Kỳ, người Kurd từ lâu cũng tuyên bố muốn độc lập.
Hai nguyên nhân chính cho phong trào đòi độc lập ở các quốc gia châu Âu trong thời gian qua.
Một là chủ nghĩa dân tộc gắn với một nền văn hóa lịch sử lâu đời của mỗi khu vực, mỗi dân tộc đã tồn tại từ lâu ở châu Âu.

Những trường hợp như Scotland, Catalonia, Veneto hay Flemish đều có di sản và ngôn ngữ riêng. Khi chủ nghĩa dân tộc sống dậy thì quyền dân tộc tự quyết về chính trị, kinh tế, tài nguyên, khu vực địa lý truyền thống và nhiều quyền khác cũng được đưa ra.
Hai là lợi ích kinh tế. Quyền tự quyết về chính sách kinh tế và khai thác nguồn tài nguyên mà không bị chia sẻ cho những nơi khác là nguyên nhân khiến các vùng này muốn độc lập.
Dù kinh tế của Scotland suy yếu nhưng của cải của vùng này, đặc biệt là dầu mỏ lại do chính quyền London kiểm soát khiến phái dân tộc chủ nghĩa nói họ 'bị bóc lột'.
Trong khi đó, nền kinh tế của Catalonia được đánh giá là một trong những vùng mạnh nhất Tây Ban Nha. Vùng này đóng góp 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Do đó, cư dân các vùng này bất bình với việc họ không có quyền quyết định với tài sản thuộc về vùng đất của họ, và việc họ đang phải chia sẻ lợi ích kinh tế cho các vùng khác thông qua các nghĩa vụ thuế.

Trường hợp Scotland

Năm 1707, khối liên hiệp được hình thành với sự hợp nhất của Anh và Scotland. Scotland trở thành một phần của Vương quốc Anh dù hai nước đã từng là kẻ thù của nhau trong lịch sử. Tuy vậy, ngày nay Scotland vẫn có sự độc lập về luật pháp, giáo dục và Giáo hội Scotland.
Ngày 18/9/2014, người dân Scotland bỏ phiếu để quyết định việc ở lại Vương quốc Anh hay tách ra thành một quốc gia độc lập. Thắng lợi của cuộc bỏ phiếu đã thuộc về phe nói ‘Không’ với việc tách khỏi Vương quốc Anh với tỉ lệ 55,30 /44,70% số phiếu bầu.
"Khi bất ổn kinh tế sau chia tách không còn là trở ngại chính cho tiến trình đòi độc lập, châu Âu sẽ cần phải làm gì để ngăn việc tự ‘xé nhỏ’ mình như đã từng xảy ra trong thế chiến."
Trên thực tế, phong trào đòi độc lập ở Scotland đã có từ lâu.
Từ những năm 1970, Scotland đã đưa ra yêu cầu về một nền độc lập. Ủy ban Hoàng gia về Hiến pháp (Royal Commission on the Constitution) đã được hình thành để cân nhắc những thay đổi về hiến pháp.
Trong cuộc trưng cầu dân ý lần đầu tiên diễn ra vào năm 1979, mặc dù giành được sự ủng hộ của 52% số cử tri đi bầu nhưng do tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu chỉ chiếm hơn 63% nên kết quả này không được chấp nhận.
Nhiều người Scotland vẫn không từ bỏ niềm hy vọng về một quốc gia độc lập.
Năm 2011, đảng dân tộc Scotland (SNP) lên nắm quyền trong Nghị viện Edinburgh và phát động chiến dịch đòi độc lập.
Tháng 10/2012, Thủ tướng Anh David Cameron và Thủ hiến Scotland Alex Salmond ký thỏa thuận Edinburg, mở đường cho việc tiến hành trưng cầu dân ý vào năm 2014.

Những hệ lụy cho châu Âu

Khu tự trị Crimea của Ukraine đã về với Nga

Châu Âu đã từng chứng kiến sự phân rã và tự cắt xén lãnh thổ của mình ra từng mảnh sau hai cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất và thứ hai.
Nhiều nước nhỏ đã ra đời từ sự phân rã của các đế quốc và sự phân chia lại lãnh thổ của các cường quốc thắng trận. Điển hình là sự sụp đổ của bốn đế quốc Nga (1917), Đức (1918), Áo-Hung (1918) và Ottoman (1923).

Giờ đây, khi phong trào đòi độc lập đang dâng cao, các nhà lãnh đạo châu Âu đang phải đối mặt với nguy cơ là nguyên tắc về những biên giới hiện hành ở châu Âu sẽ không bị thay đổi kể từ sau chiến tranh thế giới có thể bị phá vỡ.
Mặc dù Scotland chưa thành công trong lần bỏ phiếu này nhưng nó đã cho thấy sự nhượng bộ của London khi phải chấp nhận một cuộc trưng cầu dân ý.
Do đó, đây có thể sẽ là tiền đề cho những đòi hỏi của các vùng ở các quốc gia khác trong châu Âu cũng đang muốn độc lập.

Khi bất ổn kinh tế sau chia tách không còn là trở ngại chính cho tiến trình đòi độc lập, châu Âu sẽ cần phải làm gì để ngăn việc tự ‘xé nhỏ’ mình như đã từng xảy ra trong thế chiến.
Đây là một câu hỏi mà các nhà lãnh đạo châu Âu cần phải tìm lời giải đáp ngay từ lúc này.
Lê Thành Lâm là giảng viên tại Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, và hiện đang theo học tại City University London.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/09/140922_scotland_europe_question.shtml 



Interpol truy quét hàng giả khắp Châu Á

mediaThuốc giả do Trung Quốc sản xuất.Reuters

Hôm qua 22/9/2014, cơ quan Cảnh sát quốc tế (Interpol) thông báo, trong chiến dịch truy quét hàng giả tiến hành từ hồi đầu tháng 5 ở 10 nước châu Á, Interpol đã thu được một số lượng hàng giả trị giá 50 triệu đô la Mỹ và câu lưu 660 người liên quan.
Chiến dịch truy lùng hàng giả phối hợp giữa Interpol và cảnh sát các nước châu Á mang tên « Operation Real » được tiến hành từ ngày 5 đến 11 tháng 5 đã tịch thu gần một triệu sản phẩm bất hợp pháp như rượu, thuốc lá, mỹ phẩm, đồ điện tử gia dụng ở các nước Cam Bốt, Trung Quốc, đảo Fidji, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
Theo thông cáo của cơ quan Cảnh sát quốc tế, trong chiến dịch này đã có 660 người bị tạm giữ thẩm vấn để phục vụ điều tra.

Việc sản xuất và phân phối hàng giả đặc biệt phát triển tại Trung Quốc. Interpol cho biết đã phát hiện tại Trung Quốc « một nhóm tội phạm có tổ chức » lập hẳn một nhà máy chuyên sản xuất mỹ phẩm và nhãn mác giả. Tại đây các nhà điều tra đã bắt giữ 589 đối tượng, thu giữ gần 37 triệu đô la. Các xét nghiệm điều tra sau đó cho thấy các mỹ phẩm giả thu giữ có chứa hàm lượng lớn thủy ngân, nhiều chất độc hại cho sức khỏe con người.

Tại Việt Nam, riêng ở Hà Nội các nhà điều tra thu được khoảng 690 món hàng giả tại các cửa hiệu, người bán hàng rong, trong đó giá trị các đồ điện tử giả đã lên tới 3 triệu đô la. Tương tự tại Hàn Quốc, chiến dịch truy quét hàng giả đã thu được 500 nghìn quần áo giả nhãn mác.
Michael Ellis, phụ trách bộ phận chuyên chống hàng giả của Interpol nhận xét : « Chiến dịch Real một lần nữa cho thấy quy mô xuyên quốc gia của việc buôn bán bất hợp pháp hàng giả, và quy mô quốc tế của các tổ chức tội phạm trong lĩnh vực hàng giả» .
 http://vi.rfi.fr/chau-a/20140923-interpol-truy-quet-hang-gia-khap-chau-a-thu-hang-chuc-trieu-do-la/
 

1 comment:

Unknown said...

Nếu cần đọc thêm tin the gioi mới nhất - nóng nhất trong ngày,ghé thăm website của mình nhé. www.tinthegioi.net

keywords: tinthegioi | tin the gioi