Saturday, August 9, 2014

QUAN HỆ VIỆT MỸ

 

 Thượng nghị sĩ McCain kêu gọi Mỹ nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí cho VN

Thượng nghị sĩ McCain rời buổi họp báo tại Trung tâm Hoa Kỳ ở Hà Nội, 8/8/2014.
Thượng nghị sĩ McCain rời buổi họp báo tại Trung tâm Hoa Kỳ ở Hà Nội, 8/8/2014.
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain hôm thứ Sáu phát biểu rằng đã đến lúc Mỹ nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và rằng có sự ủng hộ rất mạnh mẽ từ cả hai đảng ở Quốc hội Mỹ đối với vấn đề này.
Trả lời báo giới tại Hà Nội cùng với Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse, ông McCain nói việc nới lỏng nên được thực hiện dần dần từng bước, nhưng ông hy vọng có thể bắt đầu sớm nhất là vào tháng Chín.
"Ban đầu nên giới hạn ở khả năng phòng thủ như bảo vệ bờ biển và những hệ thống hàng hải chỉ đơn thuần phục vụ an ninh bên ngoài," ông nói.
Chính quyền Tổng thống Obama chưa công bố bất kỳ động thái nào nới lỏng lệnh cấm, dù trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng 12 năm ngoái, Ngoại trưởng John Kerry loan báo tới 18 triệu USD viện trợ để cung cấp năm tàu tuần tra cao tốc mới cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam – một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn của Mỹ nhắm giúp các nước Đông Nam Á bảo vệ vùng biển mà họ tuyên bố chủ quyền.
Chính quyền Tổng thống Bush bắt đầu cho phép bán vũ khí phi sát thương cho Việt Nam vào năm 2007. Tháng Sáu năm nay, người được Tổng thống Barack Obama để cử làm đại sứ Mỹ mới tại Việt Nam nói rằng có lẽ đã đến lúc Washington xem xét dỡ bỏ lệnh cấm bán và chuyển giao vũ khí sát thương cho nước cựu thù của Mỹ. Tuy nhiên, ông Ted Osius nói rằng Mỹ vẫn nói rõ với Việt Nam rằng không thể dỡ bỏ lệnh cấm nếu không có tiến bộ đáng kể về nhân quyền.

Thượng nghị sĩ McCain và thượng nghị sĩ bang Rhode Island rời buổi họp báo tại Trung tâm Hoa Kỳ ở Hà Nội, 8/8/2014.Thượng nghị sĩ McCain và thượng nghị sĩ bang Rhode Island rời buổi họp báo tại Trung tâm Hoa Kỳ ở Hà Nội, 8/8/2014.
Ông McCain ghi nhận một số tiến bộ mà Việt Nam đã đạt được, trong đó có việc ký kết Công ước chống tra tấn, phóng thích một số người bất đồng chính kiến và cho phép nhiều không gian hơn cho việc hành đạo. Nhưng ông cho biết mức độ mà lệnh cấm được nới lỏng sẽ "phụ thuộc rất lớn" vào việc Việt Nam cải thiện nhân quyền hơn nữa.

Các tổ chức nhân quyền vẫn mạnh mẽ chỉ trích thành tích nhân quyền của Việt Nam. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng số người bị kết án trong các vụ xét xử về chính trị ở Việt Nam tăng lên hàng năm kể từ năm 2010, và có ít nhất 63 người bị cầm tù vào năm ngoái vì bày tỏ quan điểm chính trị một cách ôn hòa.
Vị thượng nghị sĩ từng là cựu tù binh chiến tranh Việt Nam cũng cho biết lập trường của ông về việc nới lỏng lệnh cấm không liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu trong vùng biển mà Việt Nam tuyên bố thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình.
Giữa lúc căng thẳng tranh chấp lãnh hải gia tăng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng và Washington đẩy mạnh chiến lược “xoay trục” về châu Á, những động thái tăng cường quan hệ quân sự giữa Mỹ và Việt Nam có nhiều khả năng sẽ khiến Trung Quốc nổi giận.
Nga vẫn là nguồn chính cung cấp vũ khí cho Việt Nam, và Việt Nam đã chi hàng trăm triệu đô la để đóng thêm tàu và cải thiện năng lực hải quân của mình.

 John Kerry mong muốn quan hệ Mỹ-Việt phát triển hơn nữa

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh - REUTERS/Jacquelyn Martin
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh - REUTERS/Jacquelyn Martin

Anh Vũ
Tới dự hội nghị Ngoại trưởng các nước Asean và các đối tác tại Naypyidaw, hôm nay 09/08/2014, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tỏ ý mong muốn quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam phải được "phát triển mạnh mẽ" hơn nữa. Tới thủ đô Miến Điện đêm qua, hôm nay ông Kerry đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề hội nghị Ngoại trưởng Asean và các đối tác.

Theo AFP, trong cuộc gặp này, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã ca ngợi qua hệ đối tác giữa Washington và Hà Nội gần đây đang có « những tiến bộ », trên các lĩnh vực như hợp tác hạt nhân dân sự, không phổ biến vũ khí và đặc biệt trong việc phối hợp giải quyết các căng thẳng trên Biển Đông, một hồ sơ sẽ được quan tâm nhiều trong kỳ họp lần này.
Ông John Kerry nói với đồng nghiệp Việt Nam rằng : « Chúng tôi tiếp tục bàn về các vấn đề liên quan đến nhân quyền và những việc có thể thực sự giúp cho quan hệ phát triển ».
AFP nhận xét, kể từ khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao năm 1995, quan hệ thương mại giữa hai cựu thù Mỹ và Việt Nam đã được thúc đẩy đáng kể. Tuy nhiên Washington vẫn chỉ trích Hà Nội về các vấn đề nhân quyền và tự do báo chí, tôn giáo.
Từng tham chiến tại chiến trường Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1970, ông John Kerry là người có nhiều thiện cảm với Việt Nam và từ khi lên lãnh đạo ngành ngoại giao Hoa Kỳ, ông tỏ ra rất năng động trong việc thúc đẩy cải thiện quan hệ Việt –Mỹ.
Cùng lúc này, hai thượng nghị sĩ John McCain của đảng Cộng hoà và Sheldon của đảng Dân chủ đang có chuyến thăm Việt Nam. Hôm qua (08/08) trong cuộc họp tại Hà Nội, Thượng nghị sĩ John Mccain đã khẳng định đã đến lúc « Mỹ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam » và ông hy vọng việc cấm vận này có thể được gỡ bỏ từng phần ngay từ tháng 9 tới.
Trong cuộc họp báo, ông McCain cũng cho biết « Mỹ sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh, giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình ».
Tuy nhiên, Thượng nghị sĩ Mỹ cũng cho biết quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương là liên quan đến những diễn tiến tại Việt nam và ông nhấn mạnh, sẽ không có sự bảo đảm nào nếu không có những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền.
 http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140809-john-kerry-mong-muon-quan-he-my-viet-phat-trien-hon-nua

 09-08-2014

Quan hệ Việt-Mỹ: Những tín hiệu khả quan

Trần Kinh Nghị/ Bách Việt


Ảnh bên:TNS John McCain và TNS Sheldon Whitehouse trả lời phỏng vấn báo chí tai HN tối 8/8

Chỉ ít ngày sau chuyến thăm Mỹ của Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và vài ngày sau chuyến thăm VN của thượng nghị sĩ Bob Corker, thành viên cao cấp Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ là chuyến thăm của Đoàn TNS Mỹ John McCain và TNS Sheldon Whitehouse cùng các thành viên đến VN (từ 7-10/8).

Được biết, có tin Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ thăm Mỹ nay mai, và nếu đúng vậy thì đây là thời kỳ "dầy đặc" nhất của các cuộc thăm viếng qua lại giữa các quan chức cao cấp hai nước. Đáng chú ý là hiện tượng này xảy ra ngay sau vụ giàn khoan Haiyang 981.


Nếu chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị diễn ra một cách vội vã với những dấu hiệu không bình thường, và do đó đã gây tranh cãi không chỉ trong dư luận VN mà cả quốc tế, thì chuyến thăm VN của đoàn TNS Mỹ lại được đón nhận như một "làn gió mát" bất chợt trong bầu không khí mùa Hè nóng bức của VN và vùng Đông Nam Á. Có một bình luận vui rằng, chuyến thăm của Đoàn TNS Mỹ đã "cứu ông Phạm Quang Nghị một bàn thua trông thấy", vì việc ông Nghị đi Mỹ không khác nào hành động của một hậu vệ xông lên đá ở vị trí tiền đạo nhằm tìm một bàn thắng (!).


Tuy nhiên, bóng đá hoàn toàn khác với chính trị; dù sao chuyến đi của ông Nghị vẫn là một bộ phận cấu thành của toàn bộ chuỗi các sự kiện đang góp phần "nắn dòng chảy" của mối quan hệ Việt-Mỹ. Và đây là câu chuyện dài rất phức tạp mà người viết bài này chưa có đủ dữ liệu để bàn luận một cách thực sự có chiều sâu, nên chỉ xin mạo muội đề cập đôi điều trên bề mặt của nó mà thôi.


Theo những tin tức có được đến giờ phút này, đặc biệt qua cuộc trả lời phỏng vấn của hai TNS Mỹ tối qua có thể thấy toát lên mấy điểm sau:


Đây là lần đầu tiên phía Mỹ tỏ rõ quyết tâm "dấn tới" và kết thúc quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt vốn đã kéo dài gần 20 năm. Điều này thể hiện ở thành phần Đoàn gồm 2 TNS John McCain và TNS Sheldon Whitehouse là những nhân vật kỳ cựu và chủ chốt có đủ tư cách để đại diện cho 2 đảng trong QH và cho nước Mỹ nói chung trong vấn đề quan hệ Mỹ -Việt.


Ngay từ đầu chuyến thăm TNS John McCain đã tuyên bố: “Đã đến lúc Mỹ có thể nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN" và "sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự, an ninh với VN".



Cách đặt vấn đề của TNS John McCain cho thấy sự chủ động trên cơ sở có tính toán cẩn thận của phía Mỹ khi ông này đưa ra đánh giá: “Hai thập kỷ qua, Mỹ và VN đã xây dựng mối quan hệ vững mạnh dựa trên những mục tiêu chung, mối quan tâm và lợi ích chung. Hy vọng của chúng tôi là năm tới hai nước sẽ xây dựng được quan hệ đối tác chiến lược dựa trên những giá trị chung. Điều đó làm chúng ta có mối quan hệ mật thiết lâu bền”.


Trong một trả lời khác, sau khi nói “Chúng tôi sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh, giúp VN đảm bảo hợp thức chủ quyền của mình, bảo đảm bảo vệ các quyền của VN”, John McCain cũng nhấn mạnh: “Tất cả không nên xảy ra cùng lúc” hàm ý còn tùy thuộc các yếu tố chủ quan và khách quan từ hai nước và từ quốc tế, trong đó chắc là có vấn đề nhân quyền.


Bên cạnh chủ đề tháo bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, Đoàn tỏ ra rất lạc quan về khả năng VN gia nhập TPP. Có lẽ với mục đích tăng cường quan hệ được đề cao nên phía khách buộc phải hạ thấp các yêu cầu về nhân quyền vốn hay được phía Mỹ đề cao trước đây. Biểu hiện là hầu như không thấy có chương trình hoạt động thuần túy nào về nhân quyền được yêu cầu trong chương trình nghị sự. Khi có người hỏi liệu Mỹ có đặt điều kiện gì về nhân quyền đối với VN không ông John McCain nói "VN đã có những tiến bộ"..., và do đó "nhân quyền không phải là vấn đề gây trở ngại".


Xét trong khuôn khổ luật pháp Mỹ, thì hai TNS John McCain và TNS TNS Sheldon Whitehouse có đủ tư cách và thẩm quyền để thay mặt QH và Chính quyền Mỹ phát biểu về chính sách của quốc gia và không ai nghi ngờ gì về tính khả thi của chúng. Và hình như để khẳng định điều này TNS Sheldon Whitehouse (Đảng Cộng hòa) bộc bạch tại cuộc phỏng vấn: "Trong Quốc hội Mỹ, nếu có những bất đồng trong các vấn đề cũng là bình thường. Tôi không loại trừ có những bất đồng trong việc nới lỏng hay dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Ông John McCain và tôi đại diện cho 2 đảng khác nhau. Nhưng tôi tin rằng chúng tôi có thể làm việc để tạo ra hành động trong Quốc hội Mỹ, từ đó gửi tín hiệu khuyến khích nhánh hành pháp...".


Như vậy tín hiệu đèn xanh đã bật lên từ phía Mỹ. Vậy câu hỏi đặt ra là, điều gì thúc đẩy nước Mỹ "dấn bước" một cách cụ thể và rõ ràng như vậy?


Đã có vài ý kiến "đoán non đoán già" rằng trong chuyến thăm Mỹ vừa qua chắc ông Phạm Quang Nghị đã có cam kết cụ thể nào đó với Mỹ về nhân quyền(?). Đó không phải là một suy đoán tồi. Nhưng không nên loại trừ một một nhân tố khác, đó là Mỹ không muốn mất cơ hội tốt sau vụ TQ hạ đặt giàn khoan trong vùng biển của VN để đi cái bước đi mà họ rất cần trong chiến lược "xoay trục" của họ. Cách lập luận này xem ra phù hợp với đặc điểm thực dụng của người Mỹ hơn chăng(?) Điều này được thể hiện, dù thoáng qua, trong một câu trả lời phỏng vấn của TNS John McCain rằng “Chúng ta cần có một nghị trình tham vọng hơn, nhất là trong thời điểm đang có những diễn biến lo ngại trên Biển Đông. Đây là lúc Mỹ và VN cần có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới”. Ông cũng không quên "hứa" rằng "Mỹ sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự, gia tăng chuyến thăm tàu quân sự đến VN theo mức độ VN chấp nhận được". Đồng thời ông cũng có ý làm yên lòng TQ hoặc nước nào có thể lo lắng bằng câu: "Mỹ không tìm kiếm mục đích, không đặt ra yêu cầu thuê mướn căn cứ quân sự ở VN".

Ngoài ra, có một ý tứ có lẽ không không kém phần quan trọng. Nó cũng chứa đựng trong câu nói của TNS John MacCain khi trả lời phỏng vấn báo chí tối 8/8: "Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là thiết lập những quan hệ liên minh, các nước liên kết nhau để bảo vệ nền pháp quyền quốc tế. Điều này mang lại lợi ích cho tất cả các nước. Để khi nói đến bảo vệ nền pháp quyền thì chúng ta không cần phải nghĩ đến việc chọn ai và theo ai", và "Nếu tin vào tầm quan trọng của nền pháp quyền thì chúng ta phải ủng hộ điều đó và cùng tham gia, cùng toàn thế giới thực hiện điều đó sẽ không phải đắn đo, lựa chọn, cho dù khi nỗ lực bảo vệ pháp quyền chúng ta phải hy sinh một số tham vọng".

Phải chăng khi nói vậy, ông McCain đã nêu lên quan điểm của Mỹ về nguyên tắc bảo vệ pháp quyền và tính nguyên minh bạch trong quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệ Việt-Mỹ. Nói vậy cũng là để nhằm tránh sự hiểu nhầm của bên ngoài đồng thời chỉ ra sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ giữa Mỹ và Việt Nam với tư cách hai "đối tác chiến lược" trong tương lai ?

Như vậy, có thể nói tuy chuyến thăm chưa kết thúc, nhưng Đoàn Nghị sĩ Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh phát ra một thông điệp hoàn toàn rõ ràng đối với VN: Nước Mỹ đã sẵn sàng để kết thúc quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt và hai nước có thể bắt đầu một trang mới. Vấn đề còn lại là phía Việt Nam sẽ hưởng ứng như thế nào. Những ai bảo rằng cơ hội đối với VN đã hết thì có lẽ họ đã nhầm. Nhưng đối với những ai còn nghi ngờ liệu VN có sẵn sàng để đón nhận cơ hội hay không thì xem ra họ vẫn còn có lý./.
Theo blog Bách Việt 


  Thứ sáu 08 Tháng Tám 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 08 Tháng Tám 2014
Phạm Chí Dũng: Người Mỹ bắt tay giới bảo thủ Hà Nội?
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse đến American Center ở Hà Nội dự cuộc họp báo ngày 08/08/2014.
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse đến American Center ở Hà Nội dự cuộc họp báo ngày 08/08/2014.
REUTERS/Kham

Thụy My
Sự kiện hai Thượng nghị sĩ Mỹ là John McCain (đảng Cộng hòa, bang Arizona) và Sheldon Whitehouse (đảng Dân chủ, bang Rhode Island) đến thăm Việt Nam một cách khá bất ngờ, trong ba ngày kể từ 08/08/2014 đã gây chú ý trong dư luận.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhà bình luận chính trị ở Saigon về vấn đề này.
RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Là người theo dõi sát thời sự trong nước, anh có chú ý đến những chi tiết nào trong chuyến đi thăm Việt Nam của hai Thượng nghị sĩ Mỹ, đặc biệt là một chính khách tên tuổi như ông John McCain ?
Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain là người phụ trách Ủy ban quân vụ - một cơ quan được xem là quan trọng trong Quốc hội Hoa Kỳ, đương nhiên có vai trò xung yếu đối với việc “quyết định” cơ chế bỏ cấm vận vũ khí đối với một quốc gia quá nhạy cảm chính trị như Việt Nam.
Bất ngờ là chỉ một tuần sau chuyến đi không tuyên bố trước tới Hoa Kỳ của Phạm Quang Nghị - người cho tới thời điểm này đang được xem là có thể kế vị cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại đại hội Đảng lần thứ 12 vào năm 2016, vào ngày 07/08/2014 ông John McCain và đồng viện Dân chủ Sheldon Whitehouse đã đột ngột đến Hà Nội. Thông tin ban đầu của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho biết, ba hồ sơ quan trọng là an ninh khu vực, nhân quyền và thương mại sẽ được phái đoàn nghị sĩ Mỹ thảo luận với cấp lãnh đạo Việt Nam.


Một chi tiết đáng chú ý không kém là ngay trước chuyến đến Việt Nam đột ngột trên, Thượng nghị sĩ Bob Coker của Hoa Kỳ cũng vừa kết thúc một chuyến thăm viếng tại Hà Nội, với cuộc gặp hầu hết những người được xem là nguyên thủ quốc gia của Việt Nam.
Chưa đầy một tuần sau khi Thượng nghị viện Mỹ “nhất trí” về Thỏa thuận hạt nhân dân sự với Việt Nam, đến lượt Hạ nghị viện Hoa Kỳ ghé mắt một nghị quyết cho phép Mỹ bán vũ khí sát thương cho quốc gia cựu thù nhưng vẫn chưa thể “hòa giải”. Dự thảo nghị quyết này nêu về an ninh hàng hải tại Châu Á - Thái Bình Dương, đã được hai dân biểu Forbes và Hanabusa đệ trình để Hạ viện thông qua. Điểm ấn tượng nhất liên quan đến “khách thể” Việt Nam trong dự thảo là trong các khuyến cáo về mặt chính sách đối với chính quyền Mỹ, khuyến nghị thứ 13 liên quan đến quan hệ Mỹ - Việt đã bật đèn xanh cho việc bán vũ khí cho Hà Nội.


RFI : Như vậy gần đây có vẻ Quốc hội Mỹ lại quan tâm hơn đến Việt Nam, trong khi trước đây các hoạt động trao đổi chủ yếu từ phía chính quyền ?
Khác hẳn với thời gian nửa cuối năm 2013 và đầu năm 2014 với vai trò chủ đạo thuộc về Chính phủ Mỹ, những tuần lễ gần đây lại chứng kiến hình ảnh “lên ngôi” của giới nghị sĩ Hoa Kỳ.
Những dữ liệu gần đây cũng cho thấy thật khó hoài nghi rằng đã không diễn ra một chuỗi logic đàm luận và móc ráp giữa các động thái mới đây của Ủy viên Bộ chính trị Phạm Quang Nghị, sự chuẩn thuận nhanh chóng của lưỡng viện Hoa Kỳ cùng những chuyến công du Việt Nam của các nghị sĩ Mỹ. Móc xích có vẻ lộ diện nhất là chuyến thăm “đáp lễ” của John McCain đã diễn ra ngay sau cuộc “diện kiến” chính khách Mỹ của ông Phạm Quang Nghị.
Một thông tin bên lề nhưng cũng rất đáng lưu tâm khác là gia đình blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) vừa nhận giấy mời của Chi cục thi hành án dân sự quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu thay mặt cho ông Hải đóng tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm hình sự để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá”.


RFI : Thông tin bên lề này có liên quan gì, theo anh ?
Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) chính là một trong những tù nhân lương tâm kỳ cựu và có tiếng nhất ở Việt Nam, bị bắt và bị xử án đến hàng chục năm tù giam chỉ vì đấu tranh phản kháng Trung Quốc. Ông cũng nằm trong danh sách ưu tiên mà Chính phủ Mỹ thường trao cho phía Việt Nam để đòi hỏi trả tự do.
Động thái giấy mời này đã khiến rộ lên dự đoán về khả năng Điếu Cày có thể được trả tự do trong không bao lâu nữa. Ngày gửi giấy mời lại trùng với ngày mà Thượng nghị sĩ John McCain đến Việt Nam. Nếu có thể so sánh, cần nhắc lại là ngay trước và sau chuyến công du Hà Nội của nữ Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách chính trị Wendy Sherman của Hoa Kỳ đến Hà Nội vào đầu tháng 3/2014, Nhà nước Việt Nam đã phóng thích một loạt 5 tù nhân lương tâm, kể cả một người bị coi là “rất cứng đầu” như ông Cù Huy Hà Vũ.
Sự việc trên cũng dẫn tới một giả thiết là trong hoặc sau chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị, phía Việt Nam đã chấp nhận thông báo cho phía Mỹ những nhượng bộ về nhân quyền, cụ thể là thả nhiều hơn và “chất lượng hơn” tù nhân lương tâm.


RFI : Có vẻ như quan hệ Việt – Mỹ đang có những bước chuyển khá ngoạn mục, đặc biệt là từ sau vụ giàn khoan Trung Quốc ?
Bây giờ, phương trình chính trị Việt - Mỹ đã trở nên phức hợp nhưng cũng thú vị hơn. Những chủ đề an ninh, thương mại và nhân quyền mà ông John McCain, chứ không phải một quan chức cấp cao nào của Chính phủ Mỹ, mang trách nhiệm bàn thảo với giới lãnh đạo Việt Nam, dường như phát lộ dấu hiệu Quốc hội Mỹ đang đóng vai trò khá then chốt đối với tương lai quan hệ Mỹ - Việt. Rất có thể, chuyến làm việc này của John McCain sẽ mang tính “tiền trạm” để Quốc hội Mỹ quyết định về một vấn đề còn hệ trọng hơn hẳn giữa hai quốc gia: đối tác chiến lược.

Dự đoán này là có thể có cơ sở khi tại cuộc chào từ biệt với ông Trương Tấn Sang, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là David Shear đã nói bóng gió về triển vọng “đối tác chiến lược Việt - Mỹ” trong tương lai. Khác với khái niệm “đối tác toàn diện” được thỏa thuận giữa ông Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vào tháng 7/2013, từ sau vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc mà đã khiến đảo lộn không khí chính trị ngoài Biển Đông, nhu cầu về đối tác chiến lược được chính tư lệnh quân đội Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương gợi mở, còn giới lãnh đạo Việt Nam thì tất nhiên không bỏ ngoài tai lời gợi ý hấp dẫn này.

Nếu chuyến đi của John McCain tùy thuộc vào lời mời của Phạm Quang Nghị, điều có vẻ đáng ngạc nhiên là người Mỹ đang như chú tâm đến mối quan hệ với giới lãnh đạo bảo thủ bên Đảng ở Hà Nội, thay cho những đồn đoán trước đây về vai trò nổi bật của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phương Tây. Và nếu khả năng này xảy ra, Quốc hội Mỹ và sau lưng là Chính phủ Mỹ đang muốn chứng nhận việc Đảng và Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho họ vai trò gì trong bầu không khí chính trị ở Việt Nam, và lẽ dĩ nhiên bao hàm cả vị trí của Hoa Kỳ ở khu vực Biển Đông.


RFI : Nếu thực sự là phía Mỹ đang quan tâm hơn đến phe bảo thủ ở Việt Nam, thì sẽ có những thay đổi gì, theo anh ?
Logic tiếp theo là nếu chuyến công du của John McCain “thành công tốt đẹp” với những người bên đảng Cộng sản Việt Nam, thời gian tới sẽ chứng kiến những thay đổi không nhỏ về chính trị đối ngoại của Việt Nam, mối tương quan chính trị đối nội và cả về một không khí cởi mở hơn mà Nhà nước Việt Nam “đặc cách” dành cho giới hoạt động dân chủ và nhân quyền tại quốc gia này.
Nếu kịch bản phóng thích tù nhân lương tâm được lặp lại như đầu năm 2014, sắp tới sẽ có một số những cái tên đáng chú ý có thể được trả tự do như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý…


Và nếu một số tù nhân lương tâm được trả tự do trong tháng 8/2014, đây chính là một tín hiệu khá rõ ràng về khả năng sắp tới Nhà nước Việt Nam nhận được một số “đặc cách” về mua vũ khí sát thương, tham gia vào TPP và có thể cả hứa hẹn cho “đối tác chiến lược” với người Mỹ trong những năm tới.
Nhưng làm gì thì làm, giới lãnh đạo Việt Nam phải nhanh nhanh lên mới được. Vì thời gian cho họ chỉ còn đúng một quý nữa, tức nếu đến tháng 11/2014 khi Quốc hội Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ mà phía Việt Nam vẫn chưa hoàn tất thủ tục vào TPP, thì coi như sau đó sẽ chẳng còn mấy nghị sĩ Mỹ quan tâm đến những vấn đề riêng tư của lãnh đạo Việt Nam nữa.
RFI : RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng.
 http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140808-nguoi-my-bat-tay-gioi-bao-thu-ha-noi

 

Việt-Mỹ: Vũ khí đổi lại cải cách?

Cập nhật: 04:46 GMT - thứ sáu, 8 tháng 8, 2014
Quan hệ Việt-Mỹ đã được nâng lên đối tác toàn diện hồi tháng Bảy năm ngoái
Những ngày gần đây quan hệ Việt-Mỹ cũng nóng dần theo hàn thử biểu của Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Dường như hai quốc gia “cựu thù” đang cố gia tốc trong việc nâng cấp quan hệ song phương thông qua đàm phán và vận động hành lang để Hoa Kỳ sớm hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam.

Động thái này được các nhà quan sát đánh giá như một chỉ dấu quan trọng trong phát triển quan hệ Mỹ-Việt, nhưng không phải là không có hậu quả.
Tin từ Hoa Thịnh Đốn cho biết có nhiều khả năng Tòa Bạch Ốc sẽ sớm bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam nội trong năm nay.
Động thái này chắc chắn sẽ làm Trung Quốc bực tức, quốc gia sẽ xem Hoa Kỳ trong chừng mực nào đó như Hoa Kỳ đã từng xem viện trợ quân sự của Liên Xô tới Cuba trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”.

Tuy nhiên, chắc chắn không vì phản ứng của Trung Quốc mà Hoa Kỳ do dự, lý do chính đang lãng vãng đâu đó trong những “toan tính chính trị” của cả Hoa Kỳ lẫn Hà Nội.
Việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương có thể được xem như là một bước tiếp theo hợp lý trong việc thúc đẩy quan hệ Mỹ-Việt sau khi Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký kết Thỏa ước Quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam vào ngày 25 tháng 7 năm 2013 tại Tòa Bạch Ốc.
Chắc chắn, với Hoa Kỳ trong chiến lược “chuyển trục và tái cân bằng” sang châu Á-Thái Bình Dương, cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực trong đó có cả Việt Nam dường như là một bước đi cần thiết.
"Hà Nội đã từng làm thất vọng ê chề cộng đồng quốc tế bằng sự thờ ơ trong các yêu cầu cải thiện điều kiện nhân quyền"
Lập pháp Hoa Kỳ hôm 31/7 đã chính thức mở đường qua việc Hạ nghị sỹ Randy Forbes thuộc đảng Cộng hòa, Chủ tịch Tiểu ban Hải lực và Triển khai lực lượng của Hạ viện và Colleen Hanabusa thuộc đảng Dân chủ, thành viên của Ủy Ban Quân Sự Hạ viện, bày tỏ mối quan tâm chung trong việc cung cấp các thiết bị quốc phòng cho Việt Nam.

Vấn đề dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Việt Nam đã được liên tục đề cập trong thời gian gần đây, điển hình ông Ted Osius, ứng cử viên cho chức danh Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cũng cho là đã đến lúc cần ủng hộ ý tưởng “hủy bỏ lệnh cấm vận” nói trên trong buổi điều trần đề cử ông tại Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Hoa Kỳ.
Trước đó, Đại sứ đương nhiệm David Shear hồi tháng 8 năm ngoái cũng từng khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ “nghiêm túc xem xét việc bỏ cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng kèm theo một số điều kiện”.
Ngoài Quốc hội và một số viên chức ngoại giao Hoa Kỳ, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), cũng nhập cuộc với một báo cáo công bố mới nhất có tiêu đề "Xu hướng gần đây ở Biển Đông và chính sách của Mỹ," CSIS thẳng thắn đề nghị Hoa Kỳ nên triển khai một “lộ trình thích hợp để cho phép nới lỏng từng bước các hạn chế,” cho thấy phiá Mỹ dường như đã sẵn sàng cho cuộc chơi mới.
Hủy bỏ lệnh cấm vận luôn là đặc quyền của Tổng thống Hoa Kỳ nhưng tất nhiên nếu không có sự hậu thuẩn từ lập pháp và của lưỡng đảng thì thực sự điều đó rất khó có thể xảy ra như chúng ta đã từng chứng kiến sự kiện cách đây 20 năm vào ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton chính thức thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam với sự hậu thuẫn lưỡng đảng của hai Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam John McCain (Cộng hòa) và John Kerry (Dân chủ).
Liệu lịch sử có đang tái lập trong chuyến thăm Việt Nam bất ngờ ngày 7/08/2014 của Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain và người đồng viện Dân chủ Sheldon Whitehouse?
Tin mới nhất từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội cho biết phái đoàn Hoa Kỳ sẽ thảo luận với quan chức lãnh đạo Việt Nam về các vấn đề an ninh khu vực, nhân quyền và thương mại.
Cũng cần nói thêm rằng chuyến thăm của hai vị Thượng nghị sỹ này chỉ diễn ra vài ngày sau chuyến công du của Thượng nghị sĩ Bob Corker, một thành viên cao cấp thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ.
Ông Corker được tường thuật là đã "bày tỏ lạc quan rằng Hoa Thịnh Đốn sẽ dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam trong tương lai gần.”

Yêu cầu “bán vũ khí có điều kiện”


Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam vẫn là chướng 
ngại vật trong quan hệ với Hoa Kỳ
Tuy nhiên, không phải không có lý do để quan ngại nếu lệnh cấm vận này cần được bãi bỏ.
Một quyết định đơn phương của Hoa Kỳ hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam vô điều kiện là điều vô cùng thiển cận, nhất là lại tạo thêm cơ hội cho sự lạm dụng không cần thiết từ phiá Hà Nội.
Chính phủ Việt Nam đã hứa hẹn gì và quan trọng nhất là Hà Nội đã đảm bảo gì với Hoa Kỳ rằng họ sẽ không sử dụng những vũ khí này để chống lại nhân dân Việt Nam? Liệu Hà Nội có là một đối tác đáng tin cậy? Thành tích nổi bật “nhân quyền” của họ đâu phải là chuyện mới hôm qua và cả thế giới này có ai còn lạ gì luận điệu của họ!
Mặc dù các vị Nghị sỹ Forbes và Hanabusa có cho rằng việc bán vũ khí theo dự kiến của Hoa Kỳ sẽ không bao gồm các mặt hàng có thể được sử dụng để kiểm soát đám đông hoặc các mục đích nội địa, nhưng vũ khí luôn là vũ khí dù ở bất kỳ thể loại nào nó vẫn luôn có khả năng quay lại bắn vào người dân.
Một khẩu súng chỉ đơn giản là một công cụ, vấn đề là người xử dụng nó và cho mục đích gì; người đó có thể là một viên chức công an hoặc một quân nhân ngoài mặt trận mà quyết định cuối cùng của họ là dùng khẩu súng đó để bắn ai hay cái gì.
Nếu không có hành động cụ thể, lời nói đơn giản chỉ là vô nghĩa, và Hà Nội đã từng làm thất vọng ê chề cộng đồng quốc tế bằng sự thờ ơ trong các yêu cầu cải thiện điều kiện nhân quyền. Human Rights Watch, Tổ chức Ân xá Quốc tế, các quốc gia trong Liên minh châu Âu, Australia, Canada cũng như chính Hoa Kỳ đã từng lên tiếng cảnh báo nghiêm khắc các hạn chế về nhân quyền ở Việt Nam và khuyến cáo Hà Nội cần có nỗ lực mạnh mẽ nhưng tình trạng nhân quyền Việt Nam thì ngày càng trở nên xấu đi một cách tồi tệ.
"Nếu gắn liền với cải thiện nhân quyền, tháo dỡ lệnh cấm vận vũ khí sát thương là bước đầu tiên đầy hứa hẹn cho một cơ hội cải cách lớn hơn ở Việt Nam"
Nếu thật sự Tổng thống Obama và Quốc hội Hoa Kỳ quyết tâm hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam, dứt khoát Hoa Thịnh Đốn cần phải đặt điều kiện hết sức nghiêm túc cho những thương vụ đặc biệt này.
Hoa Kỳ cần làm cho Hà Nội hiểu rỏ rằng Hoa Kỳ không cần bán vũ khí cho Việt Nam và chắc chắn Việt Nam cũng không nhất thiết cần phải mua vũ khí từ Hoa Kỳ mà đây là một “lựa chọn chiến lược” phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước và quyền lợi của hai quốc gia Hoa Kỳ-Việt Nam.
Như vậy, việc cung cấp vũ khí cho Việt Nam sẽ tùy thuộc vào sự cải thiện nhân quyền cụ thể của Hà Nội theo một lộ trình đã được ấn định trước.
Ngoài ra, trong khi Hoa Kỳ chưa cung cấp công nghệ quốc phòng hiện đại nhất cho Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn phải nghiên cứu nghiêm túc khả năng rất thực tế là những vũ khí này có thể rơi vào tay Trung Quốc, một cách vô tình hay cố ý. Và tuy không kém phần quan trọng, Tổng thống Obama và Quốc hội Hoa Kỳ cũng phải quyết định xem liệu họ có thể tin tưởng vào quân đội Việt Nam để giữ cho những vũ khí này không lọt vào tay một lực lượng bất hảo nào đó.
Tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương là bước tiến lớn tiếp theo của Mỹ có thể làm trong việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Tuy nhiên, đó là một bước đi quan trọng đòi hỏi phải có tranh luận rộng rãi, minh bạch và được đánh giá nghiêm túc cả về lợi ích lẫn cạm bẫy.
Nếu gắn liền với cải thiện nhân quyền, tháo dỡ lệnh cấm vận vũ khí sát thương là bước đầu tiên đầy hứa hẹn cho một cơ hội cải cách lớn hơn ở Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu không có điều kiện nhân quyền kèm theo và Mỹ thất bại trong việc đảm bảo Việt Nam tuân thủ, việc làm này không những chẳng giúp ít được gì cho chiến lược chuyển trục của Hoa Kỳ trong khu vực mà còn là cơ hội trang bị cho lực lượng an ninh Việt Nam có thêm vũ khí chống lại nhân dân Việt Nam.
Không giống như quan hệ Mỹ-Việt, số phận của lệnh cấm vận này khá ư phức tạp.
Mặc dù có những “tiến bộ” đáng kể trong quan hệ song phương cũng như có “nhu cầu chiến lược” thực tiễn nhưng Hoa Kỳ vì quyền lợi tối thượng của nuớc Mỹ và nhân dân Mỹ dứt khoát không thể bỏ qua những khát vọng cháy bỏng yêu chuộng tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân Việt Nam.
Nếu Hoa Kỳ đảm bảo được rằng Hà Nội sẽ triệt để tuân thủ theo các quy định của Mỹ, sự nới lỏng từng bước các hạn chế của lệnh cấm vận này có thể đạt được giá trị tối ưu của nó.
Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, hiện là một luật sư tại Canada.
 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/08/140808_vn_us_weapon_reform.shtml


No comments: