Wednesday, June 11, 2014

BÌNH LUẬN

 


  Giải pháp cho Đảng nhân vụ giàn khoan
Cập nhật: 11:28 GMT - thứ ba, 10 tháng 6, 2014
Vụ giàn khoan Hải Dương 981 là cơ hội cho Việt Nam?

Hành động Trung Quốc cắm giàn khoan trên vùng biển do Việt Nam quản lý đang làm sao nhãng sự quan tâm của dân chúng đến việc triển khai thi thành Hiến pháp sửa đổi.
Giàn khoan và Hiến pháp đều là những vấn đề ảnh hưởng to lớn đến sự đi lên của đất nước.
Tuy không mấy liên quan nhưng việc diễn giải triển khai Hiến pháp theo hướng nào sẽ tạo động lực hoặc kìm hãm đất nước phát triển, từ đó mà có được hay không lời giải lối ra cho những vụ giàn khoan về sau.

Bộ máy nhà nước

Chúng ta biết rằng Hiến pháp quy định về tổ chức bộ máy nhà nước. Tổ chức như thế nào, các thiết chế quan hệ với nhau ra sao, đều đã được nghiên cứu kỹ lưỡng hòng tìm ra một cơ chế hoạt động sao cho hiệu quả nhất.
Đặc thù ở Việt Nam là một đảng lãnh đạo đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên tổ chức bộ máy nhà nước bên cạnh những điểm tương đồng thì cũng có điểm khác với mô hình chính quyền của các quốc gia dân chủ đa đảng.
Trong nhiều năm trở lại đây, vì vấn đề hiệu quả và để tạo sức bật cho đất nước phát triển, Đảng cộng sản đã phải tìm cách tổ chức thiết kế bộ máy nhà nước sao cho tiệm cận với mô hình tổ chức chính quyền của các quốc gia dân chủ.
Cụ thể: Hiến pháp năm 1992 chỉ có duy nhất một từ lập pháp trong câu Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, và không có từ hành pháp hay tư pháp. Người nước ngoài chắc sẽ khó tưởng tượng một hiến pháp lại thiếu đi những từ này.
Đến năm 2001 Quốc hội đã ban hành nghị quyết bổ sung vào Hiến pháp nội dung tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp."
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 thì đưa thêm vào từ “kiểm soát” sau từ “phối hợp” và tiến thêm một bước khi quy định cụ thể Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, chính phủ thực hiện quyền hành pháp, tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Như thế mô hình nhà nước đã có dáng hình gần gũi với hệ thống tổ chức tam quyền phân lập hoat động theo nguyên lý cân bằng kiểm soát của chính quyền dân chủ.

Những sự thay đổi cho thấy vì quyền lợi của chính mình Đảng cộng sản chẳng thể nào bỏ qua được tinh hoa tri thức nhân loại đã được đúc rút kiểm chứng qua mấy trăm năm lịch sử kể từ khi ra đời Hiến pháp Mỹ.
Thực tế ở Việt Nam, bộ máy nhà nước không chỉ được vận hành theo Hiến pháp mà nó còn thường xuyên chịu tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng.


Tác giả nói bộ máy nhà nước thường xuyên chịu 
tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng Các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều là thành viên trong các cơ quan ban bệ của Đảng, những người này không chỉ hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật mà trước nhất và trên hết họ hoạt động theo các Nghị quyết của Đảng.
Khi đó các thiết chế bộ máy nhà nước đã không vận hành theo các nguyên lý đã được tính toán, thiết kế, bố trí ở Hiến pháp. Phần mềm khoa học đã được lập trình cho bộ máy nhà nước lại bị vứt bỏ.
Thế khi các thiết chế bộ máy nhà nước hoạt động theo các nguyên lý của Đảng thay vì theo Hiến pháp thì có đảm bảo hiệu năng cho bộ máy không?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có dung hợp được với các nguyên lý tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước không?


Đảng là tổ chức của những con người hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phục tùng chấp hành, trong khi bộ máy Nhà nước là tổ chức của các thiết chế vận hành với nguyên tắc phân công phối hợp hoặc cân bằng kiểm soát, như thế làm sao có thể dung hợp?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có thể cũng mang tính khoa học nhưng mục tiêu của tổ chức đảng là chiếm lĩnh và duy trì quyền lãnh đạo, khác với mục tiêu của các thiết chế bộ máy nhà nước là thực hiện cho thật tốt chức năng nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định theo Hiến pháp.
Nếu Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối chính sách với các mục tiêu dài hạn thì xem ra cũng ổn.
Nhưng thực tế Đảng lại hoạt động với những mục tiêu ngắn hạn và thường xuyên chỉ đạo cụ thể với từng vấn đề của đời sống đất nước phát sinh hàng ngày.

Giải pháp cho Đảng

Đảng muốn giữ quyền lãnh đạo đất nước và hẳn Đảng cũng muốn đất nước phát triển, nhưng thực tế Đảng mới chỉ thực hiện được vế thứ nhất, vế thứ hai thì chưa làm được.
Để làm được thực sự cũng không khó gì, Đảng chỉ cần mạnh dạn, tiến đến gần, chọn lấy và sử dụng các thành tựu của nhân loại, vận dụng một cách khôn ngoan hợp lý hơn.


Thực ra thì nhiều việc Đảng cũng đã làm rồi, ví như chủ trương bỏ đi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, xã, phường.
Nước Mỹ và hầu hết các nước dân chủ tiến bộ họ chỉ tổ chức hai cơ quan dân cử là Nghị viện liên bang và nghị viện bang, tương ứng với Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam.
Nhưng thay đổi như đó chưa đủ để đất nước phát triển. Để đất nước phát triển Đảng cần tiết giảm các hoạt động thường xuyên can thiệp vào bộ máy nhà nước, Đảng không làm thay cho nhà nước và hãy thay thế tư cách giải quyết vấn đề.


Cùng một vấn đề phải giải quyết, Đảng nên xử lý bằng tư cách các thiết chế bộ máy nhà nước thay vì tư cách Đảng. Để ra một chính sách thay vì cơ quan Đảng ra nghị quyết hãy để cho Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ quốc hội thực hiện.
Như thế sẽ không trái với Hiến pháp, giúp cho bộ máy nhà nước được vận hành theo đúng các nguyên lý khoa học đã thiết kế, tiệm cận với mô thức hoạt động của các chính quyền dân chủ tiến bộ.
Trong định hướng xây dựng quốc gia pháp quyền, Đảng cần thay thế tư cách giải quyết vấn đề để hợp lực được với sức mạnh của tính hợp hiến và hợp pháp.
Để Đảng không mất quyền lãnh đạo thì điều hợp lý cần làm hợp nhất Tổng bí thư và Bộ chính trị với Chủ tịch quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội. Khi đó Đảng lãnh đạo bằng đường lối chính sách cũng tương hợp với Quốc hội ban hành luật.

Lối ra thoát Trung

Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung.
Quốc hội có thể dành 100 ghế cho những người ngoài Đảng lâu nay vẫn có những quan điểm ý kiến khác với Đảng trên nhiều vấn đề.
Đó là những người vẫn quy kết Đảng độc quyền lãnh đạo, mất dân chủ và nhiều người trong số họ đã được quốc tế biết đến.
"Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung."
Số 100 ghế đại biểu Quốc hội có thể lấy từ các thành viên thuộc khối cơ quan hành pháp và tư pháp.
Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp sửa đổi đã phân định Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp còn Tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Nếu làm được hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế sẽ thay đổi, thế giới khi thấy Việt Nam vận động theo hướng dân chủ, sẽ ủng hộ giúp đỡ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.
Không chỉ thế, khi Việt Nam dân chủ hóa sẽ thu hút làn sóng đầu tư mới từ quốc tế giúp cho nền kinh tế thoát khỏi tình trạng bi đát, dân nghèo có cơ may đổi đời.


Trong mối tương quan với Trung Quốc, một nước Việt Nam dân chủ hóa sẽ như nhát đốt của con ong lên cơ thể con thú Trung Quốc, sẽ khiến nó lồng lên mà bỏ chạy đi nơi khác.
Đó là giải pháp toàn vẹn vừa duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng, vừa nâng cao dân chủ, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời lại giải quyết được các vấn đề đất nước như vụ giàn khoan và đạt được yêu cầu thoát Trung.
BBài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự ở thành phố Nam Định.
 
 Bộ Chính trị định đoạt về Biển Đông?
Cập nhật: 08:59 GMT - thứ ba, 10 tháng 6, 2014
Tường thuật của ngư dân và clip về việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bao vây, đuổi và đâm chìm làm tôi nhớ lại một chuyện thời sinh viên.
Hôm đó, tôi thấy trong một thư viện của đại học một quyển sách với một chuỗi hình chụp từ máy bay. Những hình này chụp lại cảnh một chiếc thuyền cuả người Việt tỵ nạn trong thập niên 1980 bị nhiều thuyền hải tặc bao vây. Thuyền hải tặc dùng bạt che số hiệu và đâm húc cho đến khi chiếc thuyền xấu số chìm. Không biết bao nhiêu sinh mạng đã bị dập tắt trong lòng biển. Lần này may mắn là các nạn nhân được cứu.
Từ năm 2009, Trung Quốc đã đâm húc tàu thuyền ngư dân Việt Nam, bắn họ, đánh đập họ, bắt họ, đòi tiên chuộc, cướp phá hoại tài sản của họ biết bao nhiêu lần. Hoàng Sa thì từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, họ khăng khăng là không có tranh chấp, không có gì để đàm phán. Trong cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981, họ đã đâm hư hại 24 tàu của cơ quan nhà nước Việt Nam, coi nhà nước Việt Nam không ra gì.

Với thực tế đó, còn có gì để nấn ná với khái niệm “kiên trì đàm phán” nữa? Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không nhượng bộ gì về chủ quyền đối với các đảo. Về vùng đặc quyền kinh tế có thể có chung quanh các đảo nói chung và vấn đề giàn khoan HD-981 nói riêng, nếu Trung Quốc có nhượng bộ, chắc chắn là họ sẽ ra giá. Giá đó có thể là công nhận “chủ quyền Trung Quốc” trên quần đảo và trong vùng nội thủy và lãnh hải mà họ tuyên bố, hay là để cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn. Thậm chí, cũng có thể một trong những mục đích chính của Trung Quốc trong việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là để gây áp lực buộc Việt Nam cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn.

Như vậy, thực chất của biện pháp “kiên trì đàm phán” chính là vì “đại cục” mà hy sinh Hoàng Sa, và vùng biển Hoàng Sa có thể có. Biện pháp thứ nhì, đối đầu trên thực địa, là không thể thiếu được, nhưng là một cuộc chiến không cân sức cho Việt Nam. Việt Nam phải bổ xung bên cạnh lòng dũng cảm, sự chịu đựng và hy sinh của cảnh sát biển Việt Nam, kiểm ngư và ngư dân với biện pháp thứ ba: biện pháp pháp lý.

Ngày 23/5, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời phóng viên Reuters, “Cá nhân tôi là một luật gia, tôi luôn luôn hỏi mình khi nào là thời điểm để sử dụng biện pháp pháp lý. Tuy nhiên, chúng ta phải chờ đợi quyết định của Chính phủ.” Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Chính trị sẽ quyết định “thời điểm nào hợp lý” cho việc kiện. Tuy không phải là luật gia, tôi cũng tự hỏi, “Bao giờ Bộ Chính trị Việt Nam mới quyết định xử dụng biện pháp pháp lý, một biện pháp hòa bình, văn minh, và là biện pháp duy nhất trong đó Việt Nam có thể chiến đấu một cách bình đẳng với Trung Quốc?”
Dường như có điều gì đó làm họ chần chừ. Có phải là họ ngại trả đũa kinh tế từ Trung Quốc chăng?

Hệ quả?

Ngày xưa, khi trả lời câu hỏi “Hòa hay chiến?”, có lẽ lãnh đạo và người dân Đại Việt cũng đã nghĩ tới những hệ quả xấu cho nông nghiệp từ vó ngựa Mông Cổ. Có lẽ họ cũng đã nghĩ đến chiến lược đồng không nhà trống có thể ảnh hưởng đến kinh tế thế nào. Và họ còn phải nghĩ sẽ sinh bao nhiêu xương máu trước quân đội thiện chiến nhất thế giới lúc đó. Nhưng trả lời của họ vẫn là trả lời mãi có tiếng thơm trong lịch sử.
Ngày nay, câu hỏi không khắc nghiệt bằng “Hòa hay chiến?”, nó là “Kiện hay không kiện?” (Kiện ở đây là kiện Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, không phải là kiện để đòi lại Hoàng Sa, vì không có tòa nào có thẩm quyền để thụ lý vụ kiện kiện để đòi lại Hoàng Sa).

Việt Nam tổ chức họp báo lên án Trung Quốc

Ngày nay, việc ra tòa để giải quyết tranh chấp là một phương tiện văn minh. Hàng chục nước trên thế giới đã ra tòa để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, trong đó có cả Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Singapore và Indonesia. Philippines cũng đã phải hỏi câu hỏi “Kiện hay không kiện?”, và họ đã có một trả lời không bị cột vào nỗi sợ Trung Quốc sẽ trả đũa kinh tế, hay nỗi sợ nào đó khác.
Trả lời của Bộ chính trị cho câu hỏi “Kiện hay không?” sẽ trả lời những câu hỏi, “Lãnh đạo Việt Nam có dùng tất cả các biện pháp hòa bình không? Có dùng tất cả những biện pháp cần thiết không? Có dùng tất cả những biện pháp trong đó Việt Nam có thể đấu tranh một cách bình đẳng không?”.
"Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. "
Trả lời cho những câu hỏi đó sẽ là những chỉ số quan trọng về lãnh đạo Việt Nam đối phó với Trung Quốc thế nào trong cuộc tranh chấp có tính sống còn cho Việt Nam, có thể giúp chúng ta dự đoán về tương lai, và có thể giúp Trung Quốc đánh giá về ý chí trên thực tế của lãnh đạo Việt Nam.
Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. Nếu Trung Quốc cho rằng lãnh đạo Việt Nam sợ trả đũa kinh tế, hay sợ điều gì khác, cho nên không dám kiện, họ sẽ lấn tới và làm cho tình hình của Việt Nam nguy khốn hơn.
Hiện nay, cảnh sát biển và kiểm ngư đang dũng cảm thi hành nhiệm vụ của họ, ngư dân Việt Nam đang kiên trì bám biển dưới mũi tàu sắt Trung Quốc, lòng dân đang bức xúc, nhưng chưa biết Bộ chính trị sẽ thi hành nhiệm vụ của họ thế nào.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.
  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/06/140607_bo_chinh_tri_bien_dong.shtml

VN không có nhiều lựa chọn trong vụ tranh cãi về biển với TQ

Tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam bằng vòi ròng 4/5/14
Tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam bằng vòi ròng 4/5/14

CỠ CHỮ
Việt Nam đã ngăn chặn các cuộc biểu tình bạo động chống Trung Quốc tràn ra khắp nước sau khi một giàn khoan dầu của Trung Quốc bắt đầu hoạt động trong vùng biển có tranh chấp. Nhưng giới hữu trách chưa từ bỏ sự chống đối nhắm vào hoạt động của Trung Quốc, và đã phái tàu đến quấy nhiễu công tác khoan dầu, cứu xét việc kiện trước tòa án quốc tế đòi giải quyết vụ tranh chấp và ve vãn các đồng minh trong khu vực như Philippin. Từ Hà Nội, thông tín viên Marianne Brown ghi nhận chi tiết về chính sách ngoại giao nhiều rủi ro đằng sau nỗ lực này.

Trung Quốc đã làm khó Việt Nam trong tuần này qua việc gửi một “văn thư xác định lập trường” cho Liên Hiệp Quốc về hoạt động của giàn khoan dầu trị giá 1 tỷ đôla trong một phần của Biển Ðông mà Việt Nam cũng đòi chủ quyền.

Trung Quốc tố cáo Việt Nam là đâm vào tàu thuyền của họ, cử người nhái và “các điệp viên dưới nước” vào vùng hải phận mà họ nói không thể tranh cãi được là của Trung Quốc. 

Giáo sư Carl ThayerGiáo sư Carl Thayer

Trung Quốc luôn chống lại sự can thiệp của bên thứ ba vào các vụ tranh chấp giữa các nước cùng đòi chủ quyền vùng Biển Ðông, nhưng biến chuyển này có thể đặt Việt Nam vào thế khó xử, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Australia. Giáo sư Thayer nhận định:

“Phải chăng Trung Quốc tìm cách khiêu khích một cuộc tranh luận ở đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, khiến các nước phải đưa ra quyết định hoặc có hành động hoặc giữ im lặng? Tìm cách cô lập hóa Việt Nam thông qua việc buộc các nước quan tâm hơn về Trung Quốc phải im lặng bởi vì họ không muốn bị coi là đẩy ra chỗ công khai, như Brunei, chỉ tìm cách tránh né hay lẩn trốn.”

Việt Nam không thể cạnh tranh với sức mạnh của Trung Quốc và vẫn còn lệ thuộc nặng vào Bắc Kinh về giao thương. Việt Nam được cho là đang cứu xét đưa vụ việc ra trước tòa về vùng biển có tranh chấp, nhưng có thể phải mất nhiều năm để đưa vụ kiện ra trước một tòa án quốc tế.

Theo giáo sư Thayer, một chọn lựa có thể là lợi dụng sự thách thức của Philippines về tính hợp pháp của những khẳng định chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc tại một tòa án quốc tế ở La Haye. Ông nói tiếp:

“Ðường lối tốt nhất về mặt chính trị, nếu không thể hàn gắn được bang giao với Trung Quốc, là cùng với Philippines tìm cách tăng thêm sự khẳng định trong tư cách là một nước bạn của Philippines.”

Liên minh của Việt Nam với Philippines đã thể hiện một cách nhẹ nhàng hôm thứ hai khi nước này mở các cuộc đấu bóng đá, bóng chuyền và kéo co với thủy thủ trên một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa. 


Trước đây, hai chính phủ sẽ e ngại tổ chức một sự kiện như thế, vì sợ rằng sẽ có vẻ như “câu kết” với nhau chống lại Trung Quốc, theo nhận định của ông Alexander Vuving, một chuyên gia phân tích về an ninh ở Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á Thái Bình Dương tại Hawaii.

Tuy nhiên, mọi sự nay đã đi tới một điểm mà cả hai nước có thể tăng cường và bày tỏ tình đoàn kết.

Ông Vuving nói Việt Nam cũng có thể trông đợi sự ủng hộ từ bên ngoài khu vực:

“Ấn Ðộ ở cách xa nhưng cũng đã tỏ ý ủng hộ Việt Nam vì thế nhìn vào lợi ích cốt lõi của cả hai nước, tôi cho rằng các đồng minh vô tình này, nếu muốn dùng từ ấy, sẽ là Philippines, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Ấn Ðộ.”

Việt Nam đã tiến gần hơn về phía Hoa  Kỳ ngay cả trước khi xảy ra vụ khủng hoảng về giàn khoan trong một “đường lối hòa giải liên tục để đối lại với sự trỗi dậy của Trung Quốc,” theo nhận định của ông Vuving.

Nhưng bộ chính trị Việt Nam cũng chia rẽ về mức độ thân cận mà họ tiếp xúc với Washington. Một số không muốn cải cách chính trị, và một số khác đã đầu tư quyền lợi vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Ông nhận định:

“Tôi nghĩ về cơ bản, nhưng người chủ trương cách tân muốn lại gần Hoa Kỳ hơn, không phải chỉ để bảo vệ lãnh thổ mà còn để cải cách kinh tế nữa. Nhưng ngay lúc này, thì phe này không có đại diện nhiều trong bộ chính trị.”

Trong khi đó, ngay trong nước Việt Nam đang chuẩn bị về lâu về dài. Hôm thứ hai, Quốc Hội đã thông qua một kế hoạch dự chi 760 triệu đôla để hỗ trợ cho ngư dân và đội tuần duyên.

Ngân khoản sẽ được dùng để mua thiết bị tuần tra và xây dựng tàu đánh cá ngoài khơi cho Ðội Tuần Duyên Việt Nam, cho Lực lượng Kiểm ngư Việt Nam và ngư phủ.

Khoản này bao gồm việc xây dựng 3 ngàn tàu đánh cá bọc thép, theo ông Trần Cao Mưu, Tổng thư ký Hội Ngư nghiệp Việt Nam. Ðội tàu hiện nay khoảng 100 ngàn chiếc là tàu gỗ.

Ông Mưu nói các chính sách khai thác tài nguyên trong hải phận Việt Nam không phải là mới, nhưng vấn đề đã trở nên “nóng hơn” sau các hành động khiêu khích của Trung Quốc ngoài biển.

Việt Nam đã tố cáo Trung Quốc là đâm vào tàu của họ trên 1 ngàn 400 lần, một lần khiến một tàu đánh cá bị chìm.

Bất chấp các mối nguy hiểm ngày càng nhiều, ông Mưu nói các tàu đánh cá Việt Nam đang hoạt động bình thường trên biển.
  http://www.voatiengviet.com/content/vn-khong-co-nhieu-lua-chon-trong-vu-tranh-cai-ve-bien-voi-tq/1934586.html

Thoát Trung hay thoát Cộng?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-06-09
000_Hkg8563547-600.jpg
Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân (T) bắt tay với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường trong một cuộc họp tại Nam Hải, Bắc Kinh vào ngày 10 Tháng 5 năm 2013
AFP photo


Cuộc hội thảo làm thế nào để thoát Trung được một số trí thức trong nước tổ chức tại Hà nội vào đầu tháng sáu năm 2014, mặc dù không được báo chí trong nước đưa tin nhưng cũng gây được sự chú ý nơi công luận. Có nhiều ý kiến cho rằng khuôn khổ của hội thảo đã rất bị hạn chế.


Thoát Á và Thoát Trung
Giữa thế kỷ 19, Hoàng đế Minh Trị của Nhật Bản khởi động phong trào Duy tân canh tân nước Nhật theo mô hình phương Tây. Nền tảng của công cuộc Duy Tân này chính là những suy nghĩ, biện giải, tìm tòi của các trí thức Nhật bản trong buổi giao thời ở Châu Á khi chứng kiến sức mạnh của các cường quốc phương Tây. Những suy nghĩ, biện giải này đã cho ra đời một học thuyết nổi tiếng gọi là Thoát Á luận (Good bye Asia) của Nhật Bản, theo đó, nước Nhật từ bỏ những cản trở có nguồn gốc từ truyền thống Á châu trên con đường tương lai của mình.
Nước Nhật hiện nay là một cường quốc trên thế giới với một xã hội tôn trọng dân chủ và nhân quyền.
Cảm hứng từ nước Nhật cũng không ít thì nhiều gợi nên ý tưởng duy tân cho nhiều người Việt Nam trong quá khứ. Và những toan tính duy tân trong thế kỷ 20 đều thất bại.
Một học thuyết không phải là Thoát Á lại đến Việt Nam từ phương Tây tên gọi là Cộng sản. Và trớ trêu thay nó lại là cơ sở tư trưởng chung cho hai quốc gia có hàng ngàn năm lấn cấn với nhau đó là Việt Nam và Trung Quốc, nước láng giềng khổng lồ phương Bắc. Cả hai quốc gia đều không “thoát Á” như Nhật Bản mà lại du nhập thêm những ý tưởng toàn trị như chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp,…

Những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 người ta chứng kiến sự xung đột giữa hai quốc gia cộng sản Việt Nam và Trung Quốc ngày càng tăng, mà trong đó ưu thế có vẻ nghiêng về cường quốc Trung Hoa.
Đối diện với sự kềm chế của nước Trung Hoa cộng sản, nhiều người Việt Nam nghĩ cách thoát ra khỏi nó. Từ đó mà những ý nghĩ về Thoát Trung tức là thoát khỏi Trung Quốc đã nhen nhóm trong mấy năm nay, và nó đã chính thức ra mắt vào một ngày đầu tháng sáu 2014 tại Hà Nội trong một cuộc hội thảo tên là Làm thế nào để thoát Trung.


Văn Hóa hay Chính trị?
Trong buổi hội thảo nhiều diễn giả lên tiếng nói rằng thoát Trung ở đây không phải là bài Trung Quốc, mà là chống lại tư tưởng bá quyền của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện tại. Một điểm quan trọng nữa mà nhiều người tham dự hội thảo cũng nêu lên là muốn thoát khỏi Trung Quốc thì phải tự chủ tự cường về nhiều mặt.
Một nhà bất đồng chính kiến hiện sống ở Việt Nam là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đồng ý rằng thoát Trung không phải là chống lại văn hóa Trung Hoa mà hàng ngàn năm nay nước Việt Nam chịu ảnh hưởng.
Trong những dân tộc mà giống Việt Nam thì Trung Quốc giống Việt Nam nhất. Thậm chí hai cái nước bên cạnh mình là Lào và Cam Pu Chia cũng không giống mình bằng người Tàu đâu. Tôi nghĩ là văn hóa là tri thức, đó là một nền văn hóa cao của nhân loại, thì mình tiếp thu cũng giống như tiếp thu văn hóa Hy Lạp hay châu Âu vậy.”
Muốn thoát Trung được thì phải thoát Cộng được. Cái gì là trở lực, nó hạn chế nó ngăn cản cái việc thoát Trung? Thì chính là cái việc mình chung ý thức hệ.
- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu
Về vấn đề văn hóa này thì cũng có nhiều người nói rằng cũng phải thoát ra khỏi sự ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa. Ông Nguyễn Gia Kiểng, một trí thức Việt nam tại Pháp, người sáng lập Tập hợp dân chủ đa nguyên đấu tranh cho một nền dân chủ tương lai của Việt Nam nói:
Cái điều đó theo tôi là cái điều quan trọng nhất là mình phải thoát khỏi cái văn hóa của Trung Quốc. Đó là cái văn hóa Khổng giáo. Cái văn hóa đó nó tha hóa người trí thức, nó không nhìn nhận sự suy nghĩ và hành động độc lập của cá nhân như là một giá trị. Trái lại nó coi cái chữ trung, là trung thành với nhà cầm quyền như một giá trị cơ bản.
Nhưng vấn đề bây giờ không phải như vậy. Hiện nay khi người ta nói đến chữ Thoát Trung là người ta nói đến sự thoát khỏi ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc.”


Thoát Trung hay Thoát Cộng?
Sự thoát ra khỏi ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc cũng chính là việc chống lại tư tưởng bá quyền của Trung Quốc như những người tham dự hội thảo nêu lên. Và khi đề cập đến vấn đề này Tiến sĩ Hà Sĩ Phu cho rằng hội thảo đã không nêu lên được một điểm quan trọng:
Muốn thoát Trung được thì phải thoát Cộng được. Cái gì là trở lực, nó hạn chế nó ngăn cản cái việc thoát Trung? Thì chính là cái việc mình chung ý thức hệ.”
Cái từ Cộng ở đây được Tiến sĩ Hà Sĩ Phu nêu ra chính là ý thức hệ Cộng sản mà cả hai quốc gia Việt nam và Trung quốc đều lấy làm nền tảng tư tưởng cho mình.
Không giống như ý tưởng Thoát Á của những người Nhật bản cách đây gần hai trăm năm là thoát ra khỏi những thói quen cũ kỹ ràng buộc, cản trở xã hội đi lên của chính người châu Á, nay sự thoát Cộng mà Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đề ra lại là thoát khỏi những sự trói buộc của một giáo điều nhập về từ phương Tây, và những giáo điều ấy cũng không được chính phương Tây chấp nhận sau sự sụp đổ của khối cộng sản Liên Xô và Đông Âu bắt đầu cách đây 25 năm.

Với ý kiến cho rằng cuộc hội thảo Thoát Trung mang ý nghĩa chính trị, ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng nó không phù hợp với các tổ chức dân sự như những người đứng ra tổ chức hội thảo. Hơn nữa ông còn trích lời ông Chu Hảo nói rằng cuộc hội thảo lại không bàn đến chính sách. Mà theo ông Kiểng thì chính trị không có chính sách thì không có ý nghĩa. Ông cũng nói thêm là dường như các trí thức trong nước thiên về việc ủng hộ những phe phái mà họ coi là chống lại Trung Quốc.

Những người lãnh đạo cộng sản Việt nam họ có thể chống nhau, xung khắc nhau về quyền lợi, về chỗ đứng cá nhân nhưng mà họ đều đồng ý với nhau về một điểm là phải lệ thuộc vào Trung Quốc, phải gắn bó với Trung Quốc để giữ cái chổ đứng, sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam.”
Như vậy ở đây ông Nguyễn Gia Kiểng lại có đồng quan điểm với Tiến sĩ Hà Sĩ Phu rằng muốn thoát khỏi Trung quốc trong trạng huống hiện nay là thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản.
Cũng trong những ngày đầu tháng sáu năm 2014 này, thế giới chứng kiến chính quyền cộng sản Bắc kinh sử dụng nhiều biện pháp nghiêm ngặt để ngăn cấm việc kỷ niệm 25 năm ngày phong trào đòi dân chủ Thiên An Môn bị đàn áp một cái đẫm máu.


Tiến sĩ Hà Sĩ Phu nói:
“Tôi nói là cả hai dân tộc đều có một kẻ thù chung, cản trở tiến bộ, cản trở dân chủ, thậm chí cản trở cả tình hữu nghị giữa hai dân tộc nữa là chủ nghĩa cộng sản.”
Như vậy thuật ngữ Thóat Trung được đề ra trong cuộc hội thảo cũng đã gây không ít nhiều tranh cãi. Mà tranh cãi lớn nhất có lẽ là theo như mô tả của một người đến tham dự hội thảo rằng trong hội trường số 53 Phố Nguyễn Du, Hà nội, nơi tổ chức hội thảo, dòng chữ Làm thế nào để thoát Trung lại đứng bên dưới khẩu hiệu lớn nhất là Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm, bên cạnh cờ đỏ búa liềm.

 

 Bầu Kiên - con chó và kẻ đi săn 

Phó Ngoáy (Danlambao) - Hôm nay, sự kiện bầu Kiên cùng đồng bọn bị tòa án "nhân dân" tuyên án 30 năm tù giam và phạt tới 75 tỉ đồng với 4 tội danh - trốn thuế, làm trái qui định nhà nước, kinh doanh trái phép và lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân - là đề tài được báo chí và dư luận đặc biệt chú ý, không phải tại thời điểm này, mà nó diễn ra trong suốt thời gian bầu Kiên bị bắt tạm giam, cho tới ngày nghị án.
Việc bầu Kiên có chống án lên tòa phúc thẩm hay không, còn phải chờ xem, nhưng ẩn chưa đằng sau vụ án này có rất nhiều điều khiến mọi người quan tâm đến thời cuộc, phải bận tâm suy nghĩ.

Luật pháp hay luật đảng
Thật vậy, sau hơn 10 ngày xét xử, với những tình tiết và chứng cứ phạm tội, ngoài luật sư của bị cáo, những người am hiểu pháp luật đều thừa nhận những cáo buộc với 4 tội danh gán cho bầu Kiên là vô căn cứ. 
Thứ nhất là tội "làm trái qui định nhà nước" trong việc ủy thác tiền gửi mà trước đó, ngày 6/8/2012 thống đốc NHNN đã khẳng định là được phép và không vi phạm qui định của NHNN. 
Thứ hai là tội kinh doanh trái phép cổ phiếu, cổ phần, thì người ta thấy không có bất kỳ cơ quan cấp phép nào trên lãnh thổ VN cấp phép cho bất cứ tổ chức cá nhân nào được kinh doanh cổ phần cổ phiếu. Công dân, tổ chức được phép làm những gì luật pháp không cấm, hoặc nếu bầu Kiên bị khép vào tội đó thì có hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn tổ chức cá nhân cũng dính vào tội danh trên.

Thứ 3 là tội trốn thuế. Với một thứ luật pháp lỏng lẻo như VN thì bất kỳ ai cũng có thể chế biến các khoản thu chi để trốn thuế một cách dễ dàng, cũng như luật đã nêu rõ, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, từ 2-3 năm đầu cho các doanh nghiệp mới thành lập để khấu trừ đầu tư và tái đầu tư cơ sở hạ tầng, thì việc bầu Kiên bằng cách này hay cách khác, chế biến số tiền lãi là điều đương nhiên. Dưới chế độ XHCN tươi đẹp này, chỉ có thằng cực ngu mới ngoan ngoãn, thật thà nộp cái thuế TNDN "trên trời" cho ông nhà nước.

Cuối cùng là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, một loại tội phải có yếu tố người bị hại. Mà người bị hại ở đây là bạn thân (Trần Đình Long) của bị cáo và không hề có đơn tố cáo, nhưng ở đây nhà nước pháp quyền XHCNVN đã quá tốt, sốt sắng kiện hộ nạn nhân. Nhưng lạ một điều là trước tòa, nạn nhân lại khẳng định không hề bị thiệt hại. Ô là là, tuy không bị thiệt hại nhưng người ta xử hành vi (quá lố bịch, tội này nếu khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại còn được xem xét tình tiết giảm nhẹ) lừa đảo, còn bị thiệt hại hay không người ta không thèm quan tâm.
Qua những so sánh và phân tích tội danh của bầu Kiên trên, người ta thấy cái gọi là "nhân danh" nhà nước CHXHCNVN, căn cứ vào luật rừng, hay nhận chỉ thị từ luật đảng, để khép tội cho bầu Kiên thì đúng hơn.

Luật đảng là luật gì?
Trước hết luật đảng phải dựa trên tính giai cấp. Trong xã hội VN hiện nay đang hình thành và đã hình thành hai thành phần, hai giai cấp. Đó là thành phần bóc lột và thành phần bị bóc lột và giai cấp cai trị và giai cấp bị trị. Vậy đâu là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Điều hết sức đơn gian lý giải điều này, đó là những người hưởng tiền ngân sách, hay còn gọi là viên chức nhà nước được coi là thành phần bóc lột, là giai cấp cai trị và phía bên kia, những kẻ bị bóc lột, phải đóng thuế, hay những kẻ không có ân huệ hưởng kho lẫm của chùa là giai cấp bị trị. Một điều không may cho Kiên, là Kiên lại nằm trong thành phần bị trị (không hưởng lương ngân sách) và đương nhiên luật đảng phải xử nghiêm minh thành phần không phải "bần cố nông".

Bầu kiên thật sự bị tội gì!
Một câu hỏi đặt ra khiến mọi người phải suy ngẫm, sau khi lắng nghe 40 phút nói lời sau cùng của ông bầu nổi tiếng một thời. Rằng thành tích của ông ta cũng thuộc loại đáng kình nể đấy chứ! Theo lời ông ta kể thì đầu những năm 90 sau khi nhà nước Liên Xô tan rã, ông ta đã được lãnh đạo đảng, nhà nước nhờ cậy dàn xếp với Nga Xô để xóa nợ, để mua vũ khí và ông ta còn có công đưa được 4 tổ máy của thủy điện sông Đà về VN. Đáng lẽ ra với những thành tích như vậy ông ta phải là loại người được sủng ái chứ đâu phải đến nỗi bị thất sủng và bị trừng phạt như ngày nay. Nhưng than ôi! Bầu Kiên giỏi về làm kinh tế, giỏi biện luận những lại rất ngây thơ khờ dại về chính trị. "Nhờn chó, chó liếm mặt" đã là thân phận con chó thì đừng bao giờ dám nhờn liếm mặt chủ, tuy rằng nó chỉ hạn hẹp trong cái sân chơi giải trí thể thao, nhưng nó lại dám giương vây, lên cơn khuỳnh, dám vượt mặt, thách thức cả đảng, để cho ra đời cái tổ chức bóng đá gọi là VPF. Thế là toi đời rồi, giờ G đã điểm và thằng này đáng lên thớt. Nếu không xử nó ngay thì đây sẽ là tiền lệ nguy hiểm cho một chế độ toàn trị, hậu quả do nó gây lên sẽ là khôn lường.

Huống chi đây là thời điểm vở kịch "con chó và người đi săn" đã đến hồi kết. Không để nó khinh lờn, không để nó lấn sân và "vỗ nó như vậy là béo rồi đã đến lúc làm thịt nó thôi" Đó là bài ca muôn thủa của đảng ta đã từng vặt lông cắt tiết những con vịt béo như Nguyễn Văn Mười Hai, hay Tân Trường Sanh. Khánh Trắng, Năm Cam cũng là những nạn nhân tương tự của đảng và việc bới tội nó hay bất kỳ thằng nào trên cái đất nước "Ngoạc mồm khóc than" này có khó gì đâu. Ti tỉ tội, phương châm của đảng ta là "Không có tội, biến nó thành có tội. Tội ít biến nó thành tội nhiều. Tội hôm qua sẽ thành tội hôm nay" xét xử nó đàng hoàng, đừng thủ tiêu nó mà mang tiếng.

Kết luận: 
Vì vậy phải chỉ đích danh tội trạng của bầu Kiên là tội "Khuỳnh" mới là đúng tội và đây cũng là bài học cho những ai còn mơ màng, mụ mị chưa tỉnh giấc. Hôm qua là tên gian thương, tên địa chủ, hào phú, tên tư sản bóc lột, bị mang ra đấu tố, bị phỉ nhổ, bị lên án v.v... Hôm nay đảng lại trìu mến, vỗ về thân ái gọi là những doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu, yêu nước, sáng tạo v.v... và rồi một lúc nào đó con thú đã hết, thì đến lượt con chó sẽ làm mồi cho ông chủ CS là điều đương nhiên. Hãy cứ cúc cung tận tụy, phục vụ ông chủ đi, cố gắng tiếp cận, cố gắng làm thân, cố gắng luồn cúi để được nâng đỡ, để được che ô, che dù đi, hãy cố gắng làm một doanh nhân giỏi thành đạt đi hỡi các nhà doanh nghiệp, để rồi không biết ai trong các vị sẽ là vật tế thần như Nguyễn Văn Mười Hai trước đây và bầu Kiên hôm nay. Bài học này xin hãy tỉnh ngộ hỡi các doanh nhân VN.
Hà Nội, 9/6/2014

Nước chưa mất... mà nhuệ khí đã chẳng còn


(Đối thoại tháng 6)
Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - “Có thể nói chưa bao giờ đề tài dữ dội “Liệu chúng ta có mất nước không?” và “Sẽ mất nước theo kịch bản như thế nào?” và “Chúng ta sẽ sống như thế nào khi không còn đất nước?”... lại đến với nhiều người dân đất Việt ở trong cũng như ngoài nước một cách bất ngờ và đau xót đến vậy. Lẽ nào lời tiên tri cách đây hơn 24 năm về trước của cố Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch thốt ra lúc hội nghị Thành Đô 1990 kết thúc: 

Vậy là một thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu!” 

…lại đang trở thành hiện thực!

Ghi chép này là ghi chép thể hiện quan điểm riêng của tôi trước những câu hỏi mà lâu nay, bạn bè tôi đã trao gửi tới tôi, tất cả không ngoài khát vọng được cùng nhau chia sẻ.” (NTL).
Câu hỏi: “Khi giàn khoan HD 981 của Trung Quốc bất ngờ hạ đặt sâu vào vùng biển chủ quyền 200 Hải Lý của Việt Nam, một số lãnh đạo đảng và nhà nước, có người đã về hưu, có người còn đang đương nhiệm đã lên tiếng, ông bình luận gì về những phát biểu của họ?”.

Trả lời: Tôi nghĩ rằng, ngay khi giàn khoan HD 981 chễm chệ đứng giữa biển của chúng ta, người dân nào cũng nghĩ, người phải lên tiếng sớm nhất, rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất, dứt khoát nhất... phải là tiếng nói của TBT Nguyễn Phú Trọng. Nhưng, ông Trọng đã không làm được việc này. Một vài câu liên hệ lấy lệ với tình hình Biển Đông của ông trong diễn văn bế mạc HNTW 9 diễn ra cùng lúc đó không làm an lòng được ai.

Việc ông muốn được Tập Cận Bình tiếp mà không được họ Tập đáp ứng, từ đó đến nay ông giữ thái độ im lặng đến khó hiểu, đã làm vốn liếng chính trị của ông, uy tín chính trị của ông trong dân chúng tụt thấp đến thê thảm. Một vài câu nói của ông Trương Tấn Sang với cử tri ở nơi này nơi nọ... cũng chỉ có tác dụng giảm bức xúc nhất thời cho người dân và không xứng tầm một nguyên thủ quốc gia. Có lẽ chỉ có Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là người gây chú ý mạnh nhất khi ông phát biểu tại Hội Nghị Đông á ở Philippin 21/5/2014 rằng:
“Việt Nam hôm nay muốn có hoà bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hoà bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”


...Với thông điệp đó, người ta đã nghĩ tới một viễn cảnh không xa Việt Nam sẽ thay đổi thể chế chính trị! Việt Nam sắp có một Enxin thời hậu cộng sản, thậm chí sẽ có một Tổng Thống là ông Nguyễn Tấn Dũng, một cựu công an, người cũng có cặp mắt gườm gườm như tay Trung Tá KGB Putin ngày nào Nga Xô cộng sản tan rã...
Nhưng, thật tiếc... liên tưởng quá sớm đó chỉ có ở những người mơ mộng mà thôi. Khi cuộc biểu tình yêu nước của nhân dân Việt Nam phản đối giàn khoan HD 981 của Trung Quốc dự định sẽ đồng loạt nổ ra vào ngày 18.5.2014 tại hàng loạt các thành phố lớn bị chặn đứng, mà công đầu lại thuộc về ông Nguyễn Tấn Dũng, người đã gây nên cơn bão tin nhắn có nội dung đánh đồng biểu tình yêu nước với biểu tình trái phép... trên tất cả các thuê bao di động đã làm ông Dũng mất đi không ít điểm số ủng hộ.

Ngược dòng thời gian, ai mà chẳng biết ông Dũng đang sở hữu những thất bại ê chề trên địa hạt kinh tế cũng như trên trận chiến chống tham nhũng cùng những thất hứa, thất hẹn khác của ông trong suốt 2 nhiệm kỳ đứng đầu chính phủ, nhưng công bằng mà nói, trong đội ngũ các vua tập thể hiện nay, ông Dũng vẫn là sở hữu chủ của những xuất ngôn cứng rắn nhất, nhiều “Lửa” nhất trên trận tuyến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo của Việt Nam trước tham vọng của Trung Quốc. Và những ngày tháng này, lúc mà người Trung Quốc đang coi Biển Đông là ao nhà của họ thì thông điệp không đánh đổi điều thiêng liêng nhất lấy hữu nghị viển vông của ông Dũng vẫn đáng để hy vọng, để trân trọng ít nhiều, vì “Tổ Quốc” đã được ông Dũng đặt lên trên hết... dù cũng chỉ là một thời khắc ngắn ngủi..
Cũng trong những ngày này, lúc vận mệnh sống còn của đất nước như ngàn cân treo sợi tóc, người dân Việt Nam lại phải nghe những tiếng ú ớ của những người bị Bóng Đè, và đây là vài tiếng ú ớ tiêu biểu nhất của những người vì bị bóng Trung Hoa đè quá nặng mà trở nên lú lẫn, lạc lõng không còn một chút Lửa:
- … “Xoá đi những gì không đúng với quan điểm, đường lối của 2 Đảng và của quá trình đoàn kết thống nhất 2 nước(!?)”. (Phạm Thế Duyệt – Dân Trí 15 – 5 - 2014)
- “Chúng ta cần nói với nhân dân thế nào về phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt trong quan hệ đối ngoại 2 nước. Tôi cho rằng, 16 chữ ấy có lúc không đạt được nhưng nó vẫn là cái mong muốn muôn thuở”. ( Vũ Mão – Bên lề kỳ họp QH 21.5.2014).
- “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi” và “Quan hệ giữa Việt Nam và nước láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng”. (Phùng Quang Thanh - Đối Thoại Shangri La 2014).
... thử hỏi, dân tộc Việt Nam đã bị tổn hao nội lực đến thế nào trước những xuất ngôn như vậy?
Xin hỏi ông Phạm Thế Duyệt, vậy ra đang có quá trình hối hả thống nhất 2 nước thành 1 nước hay sao? Vậy nước đó sẽ lấy tên là gì? Thủ đô ở đâu? Quốc ca, Quốc kỳ thế nào? Và đấy có phải là chủ trương lớn của ĐCS Việt Nam không?
Xin nhắc ông Vũ Mão: Tôi tin chắc cái điều “Muôn Thuở” mà ông nói không phải là “Thập lục kim tự” (16 chữ vàng) và “Tứ Hảo” (4 tốt) đâu, mà lại là “Điều 4 hiến pháp” đấy! Đấy chính là điều mà ông và cả các đồng chí của ông không dám nói thật ra lúc này.

Xin nhắc ông Phùng Quang Thanh rằng, nếu vẫn còn muốn nói với thế giới văn minh rằng “Dân tộc tôi là một dân tộc giầu lòng tự trọng!” thì không thể vận dụng quan hệ gia đình ra để lý giải các vấn đề giữa quốc gia này với quốc gia khác được. Trong thế giới của những bạo tàn, lọc lừa và tráo trở này… các quốc gia nhỏ yếu muốn tồn tại được, muốn sống sót được, ngoài sự sung mãn những tố chất thiên bẩm của riêng mình, không thể không nhắc đến một tư thế bình đẳng tối thiểu phải có trước các gã khổng lồ nhưng đầy dã tâm.

Nếu coi những ngày qua là những ngày diễn ra cuộc chiến ngôn luân... thì nói theo ngôn ngữ bóng đá, ông Nguyễn Tấn Dũng vừa mới đưa một đường bóng sắc bén bay sửa lưng toàn bộ hàng hậu vệ của những thế lực hắc ám đang vây bủa Biển Đông của đất nước... trong khi đó những xuất ngôn của 3 ông trên, đã đặt ông Dũng vào thế lỡ trớn và ông Dũng đã ngã nhào vào chiếc bẫy việt vị của đối thủ trong cuộc quyết đấu ở Biển Đông rất không cân sức.

Ông Vũ Mão và ông Nguyễn Phú Trọng bên lề cuộc họp QH 21 – 5 – 2014.

Khi phải nghe những gì mà ông Vũ Mão đã tỉ tê cùng ông Nguyễn Phú Trọng bên lề cuộc họp QH vừa qua ông Hạ Đình Nguyên đã nổi giận:
Trong bối cảnh này, tôi thực sự ca ngợi cái dũng của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Còn ông, (Vũ Mão - NTL) tôi nghĩ ông nên biến đi - Nhất biến, vạn biến gì cũng được - hoặc là im đi thì hơn.” (Hạ Đình Nguyên). 
Tôi tin là ông Hạ Đình Nguyên đã nói rất thật và ông đã nói hộ cho nhiều người, trong đó có tôi. Xin cám ơn ông Hạ Đình Nguyên.

Câu hỏi: ...Vậy ra còn quá nhiều người Việt Nam đến lúc này mà vẫn còn mơ hồ mà tin vào “16 chữ vàng” và “4 tốt” trong quan hệ bất bình đẳng giữa Việt Nam - Trung Quốc?
Trả lời: Qua quan sát nhiều năm nay, đặc biệt là qua những phát biểu gần đây của một số lãnh đạo đảng và nhà nước như phần trên đã nói..., tôi thấy quả đúng là não trạng của nhiều vị vẫn còn rất mơ hồ trước các tín điều giả trá của lãnh đạo Trung Quốc thông qua chiêu bài “16 chữ vàng” và “4 Tốt”. Theo tôi những người này có thể phân ra thành 2 loại:
Loại từ lâu đã chấp nhận là những “Lê Chiêu Thống”, là “Trần Ích Tắc”. Những người này đã bị Trung Quốc cài bẫy, mua chuộc, khống chế bằng mọi cách, nên tay họ đã nhúng chàm không còn đường lùi nữa.

Loại thừa biết “16 chữ vàng” và “4 Tốt” chỉ là những tín điều giả trá... nhưng vì quyền lợi vị kỷ, cá nhân, vì lợi ích của phe nhóm, bè đảng... mà vẫn giả tảng ngậm bồ hòn làm ngọt. Những người này là đại diện đắt giá cho thái độ sống cơ hội, đặt quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm bè đảng lên trên quyền lợi Tổ Quốc, quyền lợi Dân Tộc.
Đó là nói về giới chức lãnh đạo, một bộ phận người dân cũng rơi vào tình trạng mơ hồ tương tự trước “16 chữ vàng” và “4 tốt”. Người dân có được lợi lộc gì đâu mà cũng rơi vào tình trạng như vậy? Theo tôi là vì 3 lý do sau đây”:

- Đó là những người suốt cả đời chỉ được tiếp cận với thông tin 1 chiều núp bóng là thông tin chính thức. Những gì khác với chính thống dù có đúng, có hay đến đâu cũng bị họ coi là chẳng ra gì.
- Đó là những người suốt đời bị ám ảnh, ám ảnh tới mức thành cố tật... bởi những thần tượng ảo, những giá trị ảo như “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!”, như “Việt Nam - Trung Quốc như răng với môi!” "Bên ni biên giới là nhà, bên tê biên giới cũng là quê hương" (Tố Hữu), “Tình hữu ái vô sản là bất diệt!”, “Chủ Nghĩa cộng sản là thiên đường hạ giới!”, “Tư bản chủ nghĩa là xấu xa!”... “Trung Quốc 1979 tuy đánh ta nhưng vẫn là tình anh em cộng sản!”, “Việt Nam là em, Trung Quốc là anh, em đánh lại anh là người em hư hỏng !” (Thích Chân Quang)

- Những người vì bị khống chế toàn diện và kéo dài... nên bị thui chột cá tính, tê liệt khả năng phản kháng, phản biện, luôn sống u uẩn với mặc cảm tự ti là dân nước nhỏ... để được tồn tại một cách an toàn, họ chủ động lún sâu vào hội chứng Stockholm, hội chứng phát sinh tình cảm với chính những thế lực hắc ám chủ động hành hạ họ.
Câu hỏi: “Vậy làm thế nào để thoát khỏi trạng thái như bị bỏ bùa như vậy?”

Biểu tượng của Hội Thảo Thoát Trung 5 – 6 – 2014.


Trả lời: Gần đây, công luận lề phải, đặc biệt là Lề Dân... người ta nói nhiều đến thuật ngữ “Thoát Trung”, “Thoát Hán”... và ngày 5.6 vừa qua tôi đã tìm đến với Hội Thảo “Thoát Trung” do một nhóm trí thức gạo cội của “Quỹ Phan Châu Trinh” đứng ra tổ chức tại 53 Nguyễn Du Hà Nội. Khi len vào được khán phòng chặt chội nóng như thiêu như đốt, chỉ sau một cái nhìn bao quát, tôi dám chắc “Thoát Trung” chỉ là một câu chuyện dông dài mà thôi. Cả buổi chiều hôm đó, ấn tượng nhất đối với tôi là ý kiến của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A khi ông không muốn hội thảo diễn ra dưới những biểu tượng mà ông cho là không đồng pha với tinh thần của hội thảo và ý kiến của một cháu nữ sinh viên rất trẻ rằng: “Các bác cho cháu hỏi: Nếu nhân dân đồng lòng muốn thoát Trung, mà lãnh đạo đảng và nhà nước không muốn thì thế nào ạ?”

Theo thiển ý của tôi, lúc này đặt vấn đề “Thoát Trung” là quá xa vời, có lẽ vừa sức nhất là dần dần “Thoát khỏi mặc cảm nhược tiểu, hèn yếu trước Trung Quốc, mà trước tiên là phải thoát khỏi trạng thái mơ màng trước những giải bùa ma quái “Thập Lục Kim Tự” (16 chữ vàng: Láng giềng hữu hảo - Hợp tác toàn diện - Ổn định lâu dài - Hướng tới tương lai) và “Tứ Hảo” (4 Tốt: Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt) bằng cách: Trước mắt...
Với giới lãnh đạo: Sớm chỉ ra những ai đã là Lê Chiêu Thống, là Trần Ích Tắc trước Trung Quốc bằng những chứng cớ không thể chối cãi. Đồng thời khơi gợi lòng tự trọng, thức tỉnh thái độ sống có trách nhiệm với dân với nước, giúp họ khôi phục lại thái độ đặt “TỔ QUỐC TRÊN HẾT - DÂN TỘC TRÊN HẾT”.
Với những người dân vẫn còn đang mơ hồ trước “16 chữ” và “4 Tốt” dởm của Trung Quốc:

Vòng ngoài Hội Thảo Thoát Trung 5 – 6 – 2014.

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân được tiếp cận với thông tin đa chiều qua các kênh nghe, nhìn, đọc, mạng Internet.
- Bằng mọi cách để người dân biết được nội dung của “Tuyên Ngôn Nhân Quyền”, nội dung của “Các quyền tự do chính trị xã hội” mà chính phủ Việt Nam đã long trọng cam kết trước quốc tế.
- Bằng mọi cách để người dân được biết Hiến Pháp, các Bộ Luật của đất nước đã quy định người dân có những quyền gì.
- Khơi gợi, thức tỉnh khát vọng được hiểu biết, được tự do tìm kiếm thông tin, được tự do ngôn luận, được tham gia phản biện xã hội.
- Tôn vinh, cổ xuý thái độ sống có trách nhiệm với cộng đồng theo tiêu chí “TỔ QUỐC TRÊN HẾT - DÂN TỘC TRÊN HẾT”.
- Nghiêm khắc lên án thái độ sống vô trách nhiệm, cơ hội, vị kỷ... làm sống lại truyền thống quật cường của dân tộc đã được đúc rút sau nhiều nghìn năm phải chống trọi với nguy cơ bị Hán hoá bởi người Phương Bắc./.
Hà Đông, tháng 6 - 2014
Nguyễn Thượng Long.
- Nơi ở: Đường Văn La - Phường Phú La - Hà Đông - Hà Nội.
- ĐT: 0433521066 & 01652323836.
101 Comments
 

 Giải pháp cho Đảng nhân vụ giàn khoan

Vụ giàn khoan Hải Dương 981 là cơ hội cho Việt Nam?

Hành động Trung Quốc cắm giàn khoan trên vùng biển do Việt Nam quản lý đang làm sao nhãng sự quan tâm của dân chúng đến việc triển khai thi thành Hiến pháp sửa đổi.
Giàn khoan và Hiến pháp đều là những vấn đề ảnh hưởng to lớn đến sự đi lên của đất nước.
Tuy không mấy liên quan nhưng việc diễn giải triển khai Hiến pháp theo hướng nào sẽ tạo động lực hoặc kìm hãm đất nước phát triển, từ đó mà có được hay không lời giải lối ra cho những vụ giàn khoan về sau.

Bộ máy nhà nước

Chúng ta biết rằng Hiến pháp quy định về tổ chức bộ máy nhà nước. Tổ chức như thế nào, các thiết chế quan hệ với nhau ra sao, đều đã được nghiên cứu kỹ lưỡng hòng tìm ra một cơ chế hoạt động sao cho hiệu quả nhất.
Đặc thù ở Việt Nam là một đảng lãnh đạo đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên tổ chức bộ máy nhà nước bên cạnh những điểm tương đồng thì cũng có điểm khác với mô hình chính quyền của các quốc gia dân chủ đa đảng.
Trong nhiều năm trở lại đây, vì vấn đề hiệu quả và để tạo sức bật cho đất nước phát triển, Đảng cộng sản đã phải tìm cách tổ chức thiết kế bộ máy nhà nước sao cho tiệm cận với mô hình tổ chức chính quyền của các quốc gia dân chủ.

Cụ thể: Hiến pháp năm 1992 chỉ có duy nhất một từ lập pháp trong câu Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, và không có từ hành pháp hay tư pháp. Người nước ngoài chắc sẽ khó tưởng tượng một hiến pháp lại thiếu đi những từ này.
Đến năm 2001 Quốc hội đã ban hành nghị quyết bổ sung vào Hiến pháp nội dung tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp."
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 thì đưa thêm vào từ “kiểm soát” sau từ “phối hợp” và tiến thêm một bước khi quy định cụ thể Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, chính phủ thực hiện quyền hành pháp, tòa án thực hiện quyền tư pháp.

Như thế mô hình nhà nước đã có dáng hình gần gũi với hệ thống tổ chức tam quyền phân lập hoat động theo nguyên lý cân bằng kiểm soát của chính quyền dân chủ.
Những sự thay đổi cho thấy vì quyền lợi của chính mình Đảng cộng sản chẳng thể nào bỏ qua được tinh hoa tri thức nhân loại đã được đúc rút kiểm chứng qua mấy trăm năm lịch sử kể từ khi ra đời Hiến pháp Mỹ.
Thực tế ở Việt Nam, bộ máy nhà nước không chỉ được vận hành theo Hiến pháp mà nó còn thường xuyên chịu tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng.


Tác giả nói bộ máy nhà nước thường xuyên chịu
 tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng
Các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều là thành viên trong các cơ quan ban bệ của Đảng, những người này không chỉ hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật mà trước nhất và trên hết họ hoạt động theo các Nghị quyết của Đảng.
Khi đó các thiết chế bộ máy nhà nước đã không vận hành theo các nguyên lý đã được tính toán, thiết kế, bố trí ở Hiến pháp. Phần mềm khoa học đã được lập trình cho bộ máy nhà nước lại bị vứt bỏ.


Thế khi các thiết chế bộ máy nhà nước hoạt động theo các nguyên lý của Đảng thay vì theo Hiến pháp thì có đảm bảo hiệu năng cho bộ máy không?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có dung hợp được với các nguyên lý tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước không?
Đảng là tổ chức của những con người hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phục tùng chấp hành, trong khi bộ máy Nhà nước là tổ chức của các thiết chế vận hành với nguyên tắc phân công phối hợp hoặc cân bằng kiểm soát, như thế làm sao có thể dung hợp?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có thể cũng mang tính khoa học nhưng mục tiêu của tổ chức đảng là chiếm lĩnh và duy trì quyền lãnh đạo, khác với mục tiêu của các thiết chế bộ máy nhà nước là thực hiện cho thật tốt chức năng nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định theo Hiến pháp.
Nếu Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối chính sách với các mục tiêu dài hạn thì xem ra cũng ổn.
Nhưng thực tế Đảng lại hoạt động với những mục tiêu ngắn hạn và thường xuyên chỉ đạo cụ thể với từng vấn đề của đời sống đất nước phát sinh hàng ngày.

Giải pháp cho Đảng

Đảng muốn giữ quyền lãnh đạo đất nước và hẳn Đảng cũng muốn đất nước phát triển, nhưng thực tế Đảng mới chỉ thực hiện được vế thứ nhất, vế thứ hai thì chưa làm được.
Để làm được thực sự cũng không khó gì, Đảng chỉ cần mạnh dạn, tiến đến gần, chọn lấy và sử dụng các thành tựu của nhân loại, vận dụng một cách khôn ngoan hợp lý hơn.
Thực ra thì nhiều việc Đảng cũng đã làm rồi, ví như chủ trương bỏ đi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, xã, phường.
Nước Mỹ và hầu hết các nước dân chủ tiến bộ họ chỉ tổ chức hai cơ quan dân cử là Nghị viện liên bang và nghị viện bang, tương ứng với Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam.
Nhưng thay đổi như đó chưa đủ để đất nước phát triển. Để đất nước phát triển Đảng cần tiết giảm các hoạt động thường xuyên can thiệp vào bộ máy nhà nước, Đảng không làm thay cho nhà nước và hãy thay thế tư cách giải quyết vấn đề.

Cùng một vấn đề phải giải quyết, Đảng nên xử lý bằng tư cách các thiết chế bộ máy nhà nước thay vì tư cách Đảng. Để ra một chính sách thay vì cơ quan Đảng ra nghị quyết hãy để cho Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ quốc hội thực hiện.
Như thế sẽ không trái với Hiến pháp, giúp cho bộ máy nhà nước được vận hành theo đúng các nguyên lý khoa học đã thiết kế, tiệm cận với mô thức hoạt động của các chính quyền dân chủ tiến bộ.
Trong định hướng xây dựng quốc gia pháp quyền, Đảng cần thay thế tư cách giải quyết vấn đề để hợp lực được với sức mạnh của tính hợp hiến và hợp pháp.
Để Đảng không mất quyền lãnh đạo thì điều hợp lý cần làm hợp nhất Tổng bí thư và Bộ chính trị với Chủ tịch quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội. Khi đó Đảng lãnh đạo bằng đường lối chính sách cũng tương hợp với Quốc hội ban hành luật.

Lối ra thoát Trung

Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung.
Quốc hội có thể dành 100 ghế cho những người ngoài Đảng lâu nay vẫn có những quan điểm ý kiến khác với Đảng trên nhiều vấn đề.
Đó là những người vẫn quy kết Đảng độc quyền lãnh đạo, mất dân chủ và nhiều người trong số họ đã được quốc tế biết đến.
"Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung."
Số 100 ghế đại biểu Quốc hội có thể lấy từ các thành viên thuộc khối cơ quan hành pháp và tư pháp.
Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp sửa đổi đã phân định Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp còn Tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Nếu làm được hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế sẽ thay đổi, thế giới khi thấy Việt Nam vận động theo hướng dân chủ, sẽ ủng hộ giúp đỡ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.
Không chỉ thế, khi Việt Nam dân chủ hóa sẽ thu hút làn sóng đầu tư mới từ quốc tế giúp cho nền kinh tế thoát khỏi tình trạng bi đát, dân nghèo có cơ may đổi đời.

Trong mối tương quan với Trung Quốc, một nước Việt Nam dân chủ hóa sẽ như nhát đốt của con ong lên cơ thể con thú Trung Quốc, sẽ khiến nó lồng lên mà bỏ chạy đi nơi khác.
Đó là giải pháp toàn vẹn vừa duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng, vừa nâng cao dân chủ, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời lại giải quyết được các vấn đề đất nước như vụ giàn khoan và đạt được yêu cầu thoát Trung.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự ở thành phố Nam Định.
 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/06/140609_vn_party_state_solution.shtml

 

Bộ Chính trị định đoạt về Biển Đông?

Cập nhật: 08:59 GMT - thứ ba, 10 tháng 6, 2014
Tường thuật của ngư dân và clip về việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bao vây, đuổi và đâm chìm làm tôi nhớ lại một chuyện thời sinh viên.
Hôm đó, tôi thấy trong một thư viện của đại học một quyển sách với một chuỗi hình chụp từ máy bay. Những hình này chụp lại cảnh một chiếc thuyền cuả người Việt tỵ nạn trong thập niên 1980 bị nhiều thuyền hải tặc bao vây. Thuyền hải tặc dùng bạt che số hiệu và đâm húc cho đến khi chiếc thuyền xấu số chìm. Không biết bao nhiêu sinh mạng đã bị dập tắt trong lòng biển. Lần này may mắn là các nạn nhân được cứu.
Từ năm 2009, Trung Quốc đã đâm húc tàu thuyền ngư dân Việt Nam, bắn họ, đánh đập họ, bắt họ, đòi tiên chuộc, cướp phá hoại tài sản của họ biết bao nhiêu lần. Hoàng Sa thì từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, họ khăng khăng là không có tranh chấp, không có gì để đàm phán. Trong cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981, họ đã đâm hư hại 24 tàu của cơ quan nhà nước Việt Nam, coi nhà nước Việt Nam không ra gì.

Trung Quốc không nhượng bộ

Với thực tế đó, còn có gì để nấn ná với khái niệm “kiên trì đàm phán” nữa? Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không nhượng bộ gì về chủ quyền đối với các đảo. Về vùng đặc quyền kinh tế có thể có chung quanh các đảo nói chung và vấn đề giàn khoan HD-981 nói riêng, nếu Trung Quốc có nhượng bộ, chắc chắn là họ sẽ ra giá. Giá đó có thể là công nhận “chủ quyền Trung Quốc” trên quần đảo và trong vùng nội thủy và lãnh hải mà họ tuyên bố, hay là để cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn. Thậm chí, cũng có thể một trong những mục đích chính của Trung Quốc trong việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là để gây áp lực buộc Việt Nam cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn.


Như vậy, thực chất của biện pháp “kiên trì đàm phán” chính là vì “đại cục” mà hy sinh Hoàng Sa, và vùng biển Hoàng Sa có thể có. Biện pháp thứ nhì, đối đầu trên thực địa, là không thể thiếu được, nhưng là một cuộc chiến không cân sức cho Việt Nam. Việt Nam phải bổ xung bên cạnh lòng dũng cảm, sự chịu đựng và hy sinh của cảnh sát biển Việt Nam, kiểm ngư và ngư dân với biện pháp thứ ba: biện pháp pháp lý.


Ngày 23/5, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời phóng viên Reuters, “Cá nhân tôi là một luật gia, tôi luôn luôn hỏi mình khi nào là thời điểm để sử dụng biện pháp pháp lý. Tuy nhiên, chúng ta phải chờ đợi quyết định của Chính phủ.” Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Chính trị sẽ quyết định “thời điểm nào hợp lý” cho việc kiện. Tuy không phải là luật gia, tôi cũng tự hỏi, “Bao giờ Bộ Chính trị Việt Nam mới quyết định xử dụng biện pháp pháp lý, một biện pháp hòa bình, văn minh, và là biện pháp duy nhất trong đó Việt Nam có thể chiến đấu một cách bình đẳng với Trung Quốc?”
Dường như có điều gì đó làm họ chần chừ. Có phải là họ ngại trả đũa kinh tế từ Trung Quốc chăng?

Hệ quả?

Ngày xưa, khi trả lời câu hỏi “Hòa hay chiến?”, có lẽ lãnh đạo và người dân Đại Việt cũng đã nghĩ tới những hệ quả xấu cho nông nghiệp từ vó ngựa Mông Cổ. Có lẽ họ cũng đã nghĩ đến chiến lược đồng không nhà trống có thể ảnh hưởng đến kinh tế thế nào. Và họ còn phải nghĩ sẽ sinh bao nhiêu xương máu trước quân đội thiện chiến nhất thế giới lúc đó. Nhưng trả lời của họ vẫn là trả lời mãi có tiếng thơm trong lịch sử.

Ngày nay, câu hỏi không khắc nghiệt bằng “Hòa hay chiến?”, nó là “Kiện hay không kiện?” (Kiện ở đây là kiện Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, không phải là kiện để đòi lại Hoàng Sa, vì không có tòa nào có thẩm quyền để thụ lý vụ kiện kiện để đòi lại Hoàng Sa).


Việt Nam tổ chức họp báo lên án Trung Quốc

Ngày nay, việc ra tòa để giải quyết tranh chấp là một phương tiện văn minh. Hàng chục nước trên thế giới đã ra tòa để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, trong đó có cả Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Singapore và Indonesia. Philippines cũng đã phải hỏi câu hỏi “Kiện hay không kiện?”, và họ đã có một trả lời không bị cột vào nỗi sợ Trung Quốc sẽ trả đũa kinh tế, hay nỗi sợ nào đó khác.
Trả lời của Bộ chính trị cho câu hỏi “Kiện hay không?” sẽ trả lời những câu hỏi, “Lãnh đạo Việt Nam có dùng tất cả các biện pháp hòa bình không? Có dùng tất cả những biện pháp cần thiết không? Có dùng tất cả những biện pháp trong đó Việt Nam có thể đấu tranh một cách bình đẳng không?”.
"Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. "
Trả lời cho những câu hỏi đó sẽ là những chỉ số quan trọng về lãnh đạo Việt Nam đối phó với Trung Quốc thế nào trong cuộc tranh chấp có tính sống còn cho Việt Nam, có thể giúp chúng ta dự đoán về tương lai, và có thể giúp Trung Quốc đánh giá về ý chí trên thực tế của lãnh đạo Việt Nam.
Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. Nếu Trung Quốc cho rằng lãnh đạo Việt Nam sợ trả đũa kinh tế, hay sợ điều gì khác, cho nên không dám kiện, họ sẽ lấn tới và làm cho tình hình của Việt Nam nguy khốn hơn.

Hiện nay, cảnh sát biển và kiểm ngư đang dũng cảm thi hành nhiệm vụ của họ, ngư dân Việt Nam đang kiên trì bám biển dưới mũi tàu sắt Trung Quốc, lòng dân đang bức xúc, nhưng chưa biết Bộ chính trị sẽ thi hành nhiệm vụ của họ thế nào.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.



 Thân phận kẻ chư hầu (Muốn thoát Trung, phải giải Cộng)
Đại Nghĩa (Danlambao) - Ai đã từng đọc qua lịch sử Việt Nam cũng đều thấy được mộng bá quyền của đế quốc Tàu đã có từ ngàn xưa. Dân tộc Việt Nam đã từng bị chúng đô hộ trên một ngàn năm nhưng ông cha ta đã giữ vững được san hà cho đến ngày hôm nay, cho thấy rằng nhân dân ta đã anh dũng và quật cường đến chừng nào. Ông cha giặc Tàu đã đổ nhiều xương máu để đánh chiếm nhưng vẫn không làm khuất phục được nhân dân ta, do đó mà chúng rút kinh nghiệm tìm kẻ nội ứng, làm tay sai “rước voi dày mả tổ” để chúng dễ dàng thôn tính hơn.
Và giờ đây ý nguyện chúng sắp thành, một tập đoàn Việt gian tình nguyện làm tay sai nội ứng nối giáo cho giặc mang tên là đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên mở đường rước giặc Tàu vào nước ta qua tình hữu nghị, đồng chí, đồng đảng...
Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) kể lại cho chúng ta nghe sự lệ thuộc của nước ta với cái thiên triều ở Bắc kinh như thế nào:
“Mùa hè năm 1952 Mao Trạch ĐôngStalin gọi bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ...

“Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung quốc và Liên Xô về, bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định CCRĐ. Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó Bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua CCRĐ để chỉnh đốn lại đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành CCRĐ đến lúc dừng là 3 năm”. (Đàn Chim Việt online ngày 4-7-2010)
Trong 3 năm nghiêm chỉnh cúi đầu thi hành lệnh thiên triều, HCM đã tiến hành chiến dịch CCRĐ diệt chủng đẫm máu nhân dân ta như thế nào, theo tài liệu chính thức thì đã giết hại trên 170.000 ngàn người dân vô tội. Tài liệu không chính thức thì con số còn cao gấp hai lần như thế. Đau đớn nhứt, và nhục nhã nhứt là HCM đã cam lòng cho xử bắn bà Nguyễn Thị Năm tự Cát Thành Long, là người mà đảng cộng sản mang ơn sâu nghĩa nặng. Chỉ đơn thuần một việc như thế chúng ta đã thấy được sự lệ thuộc của một chư hầu, ngoài ra HCM còn để cho Phạm Văn Đồng, ký công hàm ngày 14-9-1958 cống nạp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ Quốc ta cho thiên triều. Chẳng những thế mà còn lệ thuộc dài dài cho mãi đến ngày hôm nay vẫn còn lệ thuộc.
Qua thời của ông Hồ rồi thì tới thời Lê Duẫn, sự lệ thuộc của ta và âm mưu bành trướng của Thiên triều thấy rõ. Lê Duẫn cũng phải cúi đầu tuân lệnh nhưng phân trần qua bài phát biểu năm 1979:
Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội (Trung quốc) đến giúp chúng ta xây dựng đường sá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác. Chúng tôi biết rõ mưu đồ này, nhưng phải cho phép họ (Sự xâm nhập của quân đội Trung quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gởi người, nhưng quân lính của họ đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này. (Đàn Chim Việt online ngày 14-6-2011)
Trước đây CSVN luôn rêu rao giải phóng miền Nam, chống Mỹ cứu nước, nhưng thực chất là không phải vậy, chính TBT cộng sản Lê Duẫn đã nói rõ quân cộng sản Bắc Việt chỉ làm nhiệm vụ của một tên xung kích, làm tay sai cho Tàu:
“Trong số các tài liệu được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc hợp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẫn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẫn đã nói: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch... Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”. (RFA online ngày 29-4-2011)
Sang đến đời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, người có vẻ đổi mới, nhân dân thấy cũng mừng và trong lòng cũng có phần mến mộ, tuy nhiên trong những ngày gần đây, Wikileaks đã leak một cái tin động trời, không ai ngờ đến nỗi, mới nghe tưởng chừng như đã nghe lầm, nhưng:
“Tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt Nam. Đó là biên bản hợp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh TBT đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía VN và ông Giang Trạch Dân TBT và ông Lý Bằng Thủ tướng chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3 và 4-9-1990 tại Thành Đô.

“Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt Nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà Nội và thành phố HCM của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt Nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ:

“…Vì sự tồn tại của sự nghiệp thành công CNCS, đảng CSVN và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt Nam bày tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt Nam được hưởng quy chế KHU TỰ TRỊ TRỰC THUỘC CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯƠNG TẠI BẮC KINH như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”. (Đất Việt online ngày 20-6-2011)
Cùng một nội dung như trên, Hồi ký Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao CSVN, trong chương 10 “Thuốc đắng nhưng không dã được tật” cho thấy Nguyễn Văn Linh lúc bấy giờ thấy sự sụp đổ của các nước cộng sản Đông Âu nên ông ta đã vội vã “quỳ xuống” cầu xin sự bảo bọc của Trung cộng.
“Ngày 5-6-90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến nhà khách Trung ương đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson). Nguyễn Văn Linh nói:

“Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung quốc để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu CNXH... chúng âm mưu diễn biến hòa bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên xô thành trì XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ CNXH... Tôi sẵn sàng sang Trung quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung quốc cần nêu cao ngọn cờ CNXH, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”. (Hồi ký Trần Quang Cơ, chương 10)
Sơ qua những tài liệu vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy được hành động bán nước của tập đoàn CSVN nở cam tâm đưa đất nước làm nô lệ cho bọn đế quốc luôn có mưu đồ thống trị nước mình. Ngày 4-10-2009, Bộ Ngoại giao CSVN công bố một tập tài liệu mang tên “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung quốc trong 30 năm qua” (1949-1979) cho thấy rõ âm mưu của tên bành trướng Bắc kinh ra sao:
Chính sách của những người lãnh đạo Trung quốc muốn thôn tính Việt Nam trong chính sách chung của họ đối với các nước Đông Nam Á cũng như đối với các nước láng giềng khác...

“Trung quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

“Chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, biến thành một chư hầu của Trung quốc”. (trang 10) - (Đối Thoại online ngày 24-7-2009)
Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, đã ngậm ngùi làm đơn ra khỏi đảng, cái đảng mà ông đã phục vụ ngót 40 năm, nay nó đã biến thái khiến ông phải kêu lên:
Nguy cơ chính trị đưa đất nước trở về thời ngàn năm Bắc thuộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào thân phận nô lệ tủi nhục. Chính trị đồng hóa dân tộc Việt Nam về ý thức hệ với Đại Hán, mở đường cho Đại Hán thực hiện tham vọng thôn tính Việt Nam. Nguy cơ mất nước đến từ bên ngoài, nạn ngoại xâm…

“Đặt giai cấp lên trên dân tộc, coi lợi ích của đảng Cộng sản, đảng của giai cấp vô sản lớn hơn lợi ích dân tộc, coi sự sống còn của đảng Cộng sản cần thiết hơn sự sống còn của dân tộc Việt Nam, dịp này 20 năm trước, lãnh đạo đảng CS

Việt Nam đã bẽ bàng sang Thành Đô, Đại Hán cầu xin sự nhìn nhận của Đại Hán, cầu xin được làm thân phận chư hầu để được liên kết thực chất là núp bóng Cộng sản Đại Hán…

“Từ cuộc gặp ô nhục ở Thành Đô, những người Cộng sản khư khư ôm giữ lý thuyết Cộng sản sai lầm và tội lỗi đã thực sự đặt cái gông Bắc thuộc lên đầu, lên cổ dân tộc Việt Nam”. (Đàn Chim Việt online ngày 6-9-2012) 
Rõ ràng đảng CSVN, từ người lãnh đạo nầy tới lãnh đạo khác thay phiên nhau làm thân tôi mọi thần phục thiên triều, tự cúi lòn để mưu cầu danh lợi cá nhân và sự tồn vong của đảng phái bất chấp sự nô lệ của cả một dân tộc đã hàng ngàn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã đau lòng lên tiếng:
“…sao lại chấp nhận “hợp tác chiến lược” với Trung quốc, tức hợp tác với chính kẻ xâm lược? Chính vì có mối liên kết chiến lược với Trung quốc nên Trung quốc mới tuyên bố “Ai xâm phạm Việt Nam tức là xâm phạm Trung quốc, Trung quốc có nghĩa vụ can thiệp”! Sao lại gửi trứng cho ác thế?… Tại sao cứ tìm chính kẻ xâm lược để trao thân gởi phận? Đã tự gài nước mình vào thế kẹt đó thì có tuyên bố mạnh mẽ nghìn lần cũng vứt đi”. (Bauxite Việt Nam online ngày 14-6-2011)
Thế thì Việt Nam thời cộng sản này là một nước chư hầu của Trung cộng rồi còn gì! Theo dòng thời gian, chúng ta thấy những tổng bí thư CS kế tiếp như tên Lê Khả Phiêu (cũng là con cháu của Lê Chiêu Thống) đã ký hai hiệp ước nhường đất biên giới và nhường biển vịnh Bắc bộ cho thiên triều, rồi tới Nông Đức Mạnh cứ một mực thực hiện chủ trương lớn của đảng cúi đầu rước giặc Tàu vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên vùng hiểm địa của Tổ quốc...
Tiếp theo, tên thái thú đương kiêm là Nguyễn Phú Trọng, vừa lên ngôi thì đã cho người sang thiên triều bái mạng, giữ thân phận chư hầu...
“Theo bản tin từ TTXVN phát đi cho biết chiều ngày 18-2, tại đại lễ đường Nhân Dân Bắc kinh, chủ tịch Hồ Cẩm Đào tiếp ông Hoàng Bình Quân, đặc phái viên của TBT Nguyễn Phú Trọng, - Ủy viên Trung ương đảng, trưởng ban Đối ngoại Trung ương sang Bắc kinh để thông báo kết quả đại hội XI của đảng CSVN”. (RFA online ngày 24-2-2011)
Qua việc làm nhu nhược của Trọng, những cán bộ cộng sản lão thành đã thấy là nhục nên phải lên tiếng như cựu đại sứ Việt Nam tại Trung cộng Nguyễn Trọng Vĩnh để thấy rằng tên Trọng “lú” này có óc thần phục thiên triều đến mức nào:
“Tôi làm 13 năm ở bên ấy. Tôi là đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Chức vụ của tôi là thế... Trước kia thì không có đâu. Theo ý tôi thì việc nội bộ của ta chả cần thông báo cũng được”. (RFA online ngày 24-2-2011)
Đảng CSVN dưới triều đại của Nguyễn Phú Trọng đã làm một điện chúc mừng gửi cho kẻ xâm lược nói lên thân phận của kẻ chư hầu cũng không kém phần ô nhục và trầm trọng như công hàm của Phạm Văn Đồng khi xưa công nhận Hoàng Sa là của “đồng chí Tàu khựa” theo như đài BBC đưa tin:
“Theo trang web của chính phủ Việt Nam, nhân dịp lần thứ 63 Quốc khánh Trung Quốc (1-10-1949 - 1-10-2012), lãnh đạo đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã gửi điện mừng tới lãnh đạo Trung Quốc.

“Điện mừng của TBT Nguyễn Phú Trọng, TT Nguyễn Tấn Dũng, CT Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đã được gửi từ hôm 30-9 tới Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các lãnh đạo khác như ông Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo.

“Một ngày sau đó, báo chí Trung Quốc đưa tin lễ mừng Quốc Khánh nước này tổ chức cho quân và dân trước cơ quan hành chánh mới là Tam Sa trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) thuộc quần đảo Tây Sa mà Việt Nam gọi là đảo Hoàng Sa”. (BBC online ngày 5-10-2012)
Hành động phản quốc của đảng CSVN khiến giáo sư Tương Lai, một đảng viên lão thành nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội VN bức xúc phải lên tiếng:
“Đúng lúc Hội nghị trung ương 6 khai mạc thì chúng nó tổ chức mừng quốc khánh nước CHNDTH tại thành phố Tam Sa. Lúc chúng làm như thế không biết bộ Ngoại giao ta có biết không mà ém nhẹm đi để vẫn có một lời chúc mừng thắm thiết thì tôi thấy đấy là một xúc phạm ghê gớm đối với lòng tự tôn dân tộc... Chúng nó kéo cờ quốc khánh của chúng nó trên lãnh thổ của chúng ta. Trên cái thành phố mà nó lập ra ở Hoàng Sa trong đó có cả Trường Sa nữa để chúng nó mừng quốc khánh mà chúng ta vẫn gửi thư chúc mừng lời lẽ không có một cái gì khác, thì đấy là một nỗi nhục mà những người trí thức nào còn một chút nhân phẩm và lương tri không thể không phẫn nộ và lên án. (RFA online ngày 16-10-2012) 
Tập đoàn CS bán nước, tự làm thân phận của một tên nô lệ với tư cách của một chính phủ “thuộc địa bù nhìn” chỉ biết phục tùng vâng dạ, cúi đầu cúc cung tận tụy, hèn với giặc, ác với dân.
Vì tuân theo lệnh Tàu cộng mà đảng CSVN đã giết biết bao nhiêu người dân oan trong CCRĐ; làm hủy diệt những tài năng và nền văn hóa dân tộc trong phong trào Nhân văn Giai phẩm; thanh trừng những người đồng chí trung kiên trong phong trào chống chủ nghĩa xét lại... Những tháng năm gần đây bọn bá quyền Tàu cộng đã hoành hành cướp của, đâm chìm tàu của ngư dân mình, đòi nộp tiền chuộc như cướp biển Somalia. Thế mà nhà cầm quyền tay sai Việt Nam chẳng dám hở môi, mà có nói chăng lại bảo là “tàu lạ” chớ không dám nói đích danh đó là của thổ phỉ thiên triều, luật sư Lê Trần Luật đã can đảm nói thẳng ra rằng:
Nhà nước Việt Nam lệ thuộc quá nhiều vào Trung quốc, chính quyền Việt Nam tỏ ra sợ hãi trước áp lực lớn như Trung quốc, cơ bản lệ thuộc về mặt chính trị, bởi vì khối XHCN còn lại thì đa số phụ thuộc vào Trung quốc và chế độ CSVN muốn tồn tại, thì không cách nào không lệ thuộc Trung quốc”. (RFA online ngày 29-5-2011)
Luật gia Trần Công Trực, nguyên trưởng Ban Biên giới chính phủ, với kinh nghiệm trong nhiệm vụ, ông khuyên chính quyền CSVN hãy vượt qua cái thân phận chư hầu của mình để phản đối những việc đàn áp, lấn chiếm của Trung cộng và phải cương quyết hành động như sau:
“Theo thông lệ quốc tế, Việt Nam có thể gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc về việc này để có giá trị lưu chiểu và đưa việc này ra trọng tài Luật biển quốc tế của LHQ. Đồng thời cần có hành động bảo vệ chủ quyền như kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn... như Malaysia và Philippines đã hành động.

Nếu chúng ta không đấu tranh cương quyết, sẽ làm cho hành động của Trung quốc tiếp tục leo thang”. (Tuổi Trẻ online ngày 30-5-2011)
Lê Đức Dục, tác giả bài “Ngọn sóng biển Đông trong lòng người Việt” cho giới cầm quyền CSVN biết là nhân dân Việt Nam không cam tâm cúi đầu khuất phục trước kẻ xâm lược:
“Chủ quyền Tổ Quốc, trong tâm thức người Việt Nam, luôn lớn hơn sinh mạng chính mình. Và chính vì thế, cho dù biển Đông thân yêu của chúng ta hôm nay có đối đầu với bao âm mưu thôn tính, rình rập nhưng chắc chắn không một ai có thể khuất phục được tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam”. (Tuổi Trẻ online ngày 29-5-2011)
Trong khi mọi tầng lớp nhân dân đều một lòng chống giặc ngoại xâm, thì lúc đó nhà cầm quyền đã không làm được như thế mà còn đàn áp, bắt bớ những người công dân có nhiệt tình với đất nước. Nhà cầm quyền CSVN đã làm một việc nối giáo cho giặc, giữ thân phận của một kẻ chư hầu để bảo vệ cái đảng mà ông Hồ đã bán sự độc lập tự chủ cho bọn “tàu khựa” từ lâu.
Tệ hại hơn nữa là sự vô tâm đến nỗi một tờ báo điện tử của Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN lại viết bài ca ngợi tướng giặc Hứa Thế Hữu, tư lệnh cuộc chiến xâm lược biên giới năm 1979, rồi mới đây tên phó thủ tướng CSVN:
“Ngày 2-6, trên trang web của chính phủ đã đưa tin phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ thị cho UBND TP Hà Nội phải nhanh chóng hoàn tất thủ tục về đất đai để sớm triển khai xây dựng Cung hữu nghị Việt-Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội”. (RFA online ngày 6-6-2011)
Không gì tệ hại hơn chính mình mang hổ vào nhà là việc lập một Chinatown giữa lòng thành phố. Chúng ta hãy nghe Trần Minh Quân trong bài “Khi người Việt Nam xây phố dành riêng cho người Hoa?”:
“Hiện nay nhiều khu đất canh tác truyền thống thuộc dạng “bờ xôi, ruộng mật” đang dần nhường chỗ cho các dự án khác như khu công nghệ, sân golf… Người Việt Nam đang đối diện vơi nguy cơ thiếu đất canh tác và đất ở nghiêm trọng. Nếu phải gồng mình chia sẻ tài nguyên đất đai vốn dĩ hạn hẹp với người nhập cư ồ ạt đến từ Trung quốc thì không biết trong vài chục năm nữa, người dân Việt Nam sẽ đi về đâu?...

“Khi đó, liệu người Việt Nam có bị đẩy lùi ra khỏi khu trung tâm của những thành phố mới trong tương lai? Và, khi bắt tay xây dựng những khu phố “dành riêng” khác tương tự liệu các nhà đầu tư Việt Nam có khi nào nghĩ đến một tương lai không xa, người Việt Nam sẽ không còn được làm chủ trên chính mảnh đất của mình? (Tuần ViệtNamNet online ngày 29-6-2011)
Nhà cầm quyền CSVN ngày càng tỏ ra nhu nhược, ngày càng hèn với giặc, ác với dân nhất là mới vừa đây nhà cầm quyền đã bỏ tù hai sinh viên yêu nước Nguyễn Phương UyênĐinh Nguyên Kha khiến cho lòng dân sôi sục thể hiện qua bài của giáo sư Tương Lai, nguyên Cố vấn hai đời thủ tướng CSVN viết về “Những bàn chân nổi giận” đăng trên tờ New York Times ngày 6-6-2013:
“Họ lại quyết liệt đàn áp những người yêu nước, bóp nghẹt dân chủ, bưng bít thông tin và khủng bố tư tưởng công dân mình. Đầu tuần này, công an Hà Nội đã đàn áp một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bắt nhiều người, hành hung, đánh đập họ, trong đó có cả phụ nữ...

“Vì thế, “những bàn chân nổi giận” đã rầm rập xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Cùng với những cuộc biểu tình ấy, những khiếu kiện tập thể của nông dân cũng bùng lên...

“Sự nổi giận của người Việt Nam lại càng tăng lên khi một số những người lãnh đạo lùi bước trước những hành động tội ác của Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhưng lại quyết liệt đàn áp người yêu nước đấu tranh đòi dân chủ và tự do...

“Chính vì một số nhà lãnh đạo Việt Nam bị “cái mũ kim cô” của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán siết chặt nên đã đẩy đất nước ra khỏi quỹ đạo dân chủ để gánh chịu lạc hậu và lạc điệu so với thế giới văn minh…

“Những ngôn từ đạo đức giả được đưa ra, rồi mười sáu chữ bịp bợm về “láng giềng hữu nghị” được tung hứng chỉ là trò khôi hài”. (VOA online ngày 7-6-2013)
Hành động khiếp nhược của đảng CSVN được tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, từ Hà Nội thay tiếng nói chung của Toàn Dân Việt Nam cực lực lên án:
“Tôi nghĩ rằng Việt Nam nên thân Trung quốc nhưng tôi chống kịch liệt bọn nào thần phục Trung quốc. Lú lẫn sẵn sàng đem Việt Nam thành tên lính lệ của Trung quốc để đi phục dịch cho họ, cho âm mưu của họ...

“Bây giờ tiếp tục tỏ ra thần phục Trung quốc, sẵn sàng dựa vào Trung quốc, bất cứ lý luận Mác-Lênin, rồi là bảo vệ cái ghế của mình thì đều là tội đồ của dân tộc thì dứt khoát họ sẽ bị lên án”. (RFA online ngày 24-2-2011)
Vừa rồi đây, nhân chuyến triều kiến Thiên triều, ngày 21-6-2013 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã “cúi đầu rất sâu”, ký với Chủ tịch Tập Cận Bình một bản Tuyên bố chung theo nhà báo cựu Đại tá QĐND Bùi Tín cho là một “Văn kiện đầu hàng” ông viết như sau:

“Bản Tuyên bố chung hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Đại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến Nhà nước Việt Nam Cộng sản thành một chư hầu của Trung quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo Cộng sản bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực”. (VOA online ngày 2-7-2013)
Và sự nhận định của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của Việt Nam tại Bắc kinh như sau:
“Rõ ràng là bản “Tuyên bố chung” hoàn toàn có lợi cho Trung quốc còn phía ta lại bị ràng buộc bởi nhiều điểm trong các mục...

“Tôi có cảm tưởng bản “Tuyên bố chung Việt-Trung” do phía Trung quốc soạn thảo, chủ yếu lợi cho họ.

“Ngay đầu mục 2, người ta nêu ngay bài bản lừa phỉnh cũ: “Phương châm 16 chữ, tinh thần 4 tốt, tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báo của hai nước”...

“Từ trước đến nay, có bao giờ Trung quốc thực hiện các “phương châm” và “tinh thần” đó đâu? Ngược lại, hoạt động của họ từ lâu nay chỉ nhằm thực hiện mưu đồ hiểm ác khống chế chúng ta, thực tế họ đã khống chế chúng ta về cả quân sự, chính trị, kinh tế”. (Bauxite Việt Nam online ngày 11-7-2013)
Giờ đây mọi việc trắng đen đã rõ, quân giặc Tàu không còn dấu diếm gì nữa, mộng cướp nước ta lộ ra qua việc ngang nhiên đưa giàn khoan và tàu chiến sang hoạt động trên vùng biển nước ta và càng lộ rõ hơn là việc xây trên đảo Gạc Ma (Trường Sa) chiếm của ta qua một cuộc hải chiến đổ máu năm 1988, một căn cứ quân sự có cả đường bay mà sự tiếp tay là đồng chí 16 chữ vàng và 4 tốt: Cộng Sản Việt Nam. Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã thẳng thừng nói rõ là cần phải giải cộng:
“Toàn bộ kế hoạch ‘đô hộ kiểu mới’ mấy chục năm nay của Trung cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng Sản, giữ cái nền cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.

Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng...” (Boxitvn online ngày 3-6-2014)
Có thể ngày mai máu người Việt Nam sẽ đổ ra trên biển để bảo vệ Tổ quốc, không thể chần chờ được nữa, không thể ngồi bàn chuyện “thoát Trung” bằng cách thoát văn hóa, thoát tư tưởng, thoát kinh tế... mà phải thoát chính trị ngay từ bây giờ, nghĩa là phải “giải cộng”. 

Tổ quốc lâm nguy, muốn thoát Trung thì phải giải cộng, vì chỉ có giải cộng mới có thể thoát Trung.
Giải cộng ở đây là giải tán đảng CSVN. Như vậy chúng ta sẽ đặt vấn đề giải tán bằng cách nào? dể hay khó ra sao? Nên nhớ khó chớ không phải không làm được, người dân Âu châu đã giải cộng từ lâu. Còn cách thì ông Lê Kiến Thành, con trai của cố TBT đảng CSVN Lê Duẫn đã chỉ theo lời của cụ Nguyễn Trải ngày xưa: “Chèo thuyền cũng là Dân, lật thuyền cũng là Dân”.
“Bộ chính trị, các thành viên hiểu rằng đảng, hoặc sẽ phải tự chuyễn đổi hoặc sẽ bị chuyễn đổi chính người dân. Bên Liên Xô đã mạnh mẽ hơn CSVN nhưng chúng ta biết nó đã bị đào thải”. (DanLuan online ngày 7-10-2011)
Để nói rõ sự cam tâm làm nô lệ với thân phận của kẻ bán nước của đảng CSVN, tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang ngậm ngùi trích đăng thư “Kính gửi Hội nghị Trung ương 7 đảng CSVN” mấy vần thơ của tiến sỹ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi trong bài trường ca dài 1020 câu mang tiêu đề “Nghĩ về Quốc hội, Đảng và... thời cuộc”.

“Đất nước một trăm năm nhìn lại,
Bao giờ khốn khổ thế này chăng?
Loạn xã hội, nội xâm, ngoại gián,
Từ cội nguồn “đảng chủ” lai căng!...
...
“Từ ngày “đảng chủ” thay quân chủ,
Mở kỷ nguyên quốc nhược dân bần!...
...
“Đảng chủ” đuổi sói ra cổng trước,
Rước voi giày mả tổ vườn sau!”...
(Đàn Chim Việt online ngày 30-4-2013)


Từ nạn độc tài đến họa xâm lăng và thử thách của phong trào dân chủ

I. Bản chất của chế độ CSVN
Cho dù được tô điểm bởi bất kỳ mỹ từ nào chăng nữa, chế độ CSVN là một chế độ độc tài kể từ khi đảng này cướp chính quyền và cai trị cho đến nay.
Sự ra đời của đảng CSVN gắn liền với Hồ Chí Minh, là một người ngay từ đầu cho đến lúc chết vẫn luôn luôn thuần phục Tàu cộng. Yếu tố sống còn và khả năng độc quyền cai trị của đảng CSVN lệ thuộc vào Tàu cộng. Lệ thuộc từ đường lối chính trị, phương thức cai trị cho đến tài lực, vật lực lẫn kiến năng. Lệ thuộc từ trong khói lửa chiến tranh như Điện Biên Phủ, xâm lược VNCH sang đến những cuộc chiến mà kẻ thù là nhân dân như Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm... Tất cả, từ lãnh đạo cho đến mọi hoạt động, đều mang dấu ấn made in China.
Do đó, chế độ CSVN không chỉ là một chế độ độc tài. Nó là một thể chế vừa độc tài vừa nô lệ ngoại bang trong suốt chiều dài cuộc sống của nó.
Với bản chất độc tài và nô lệ, điều gì đã xảy đến với chủ quyền lãnh thổ Việt Nam?
Nếu sau thế chiến thứ 2, Hồng quân Nga tiến vào Đông Âu và thiết lập những nhà nước cộng sản bù nhìn thì sau khi Liên bang Sô viết sụp đổ, mỗi quốc gia Đông Âu đều có thể tranh đấu để khôi phục chủ quyền cho những vùng đất nếu vẫn còn bị Nga chiếm đóng. Những thể chế độc tài cộng sản còn sót lại như Bắc Triều Tiên, Cu Ba dù tồi tệ đến bao nhiêu vẫn chưa để một tấc đất của tổ quốc họ rơi vào tay ngoại bang.
Ngược lại, đối với Việt Nam, điều tệ hại là những mất mát không phải vì bị cướp, hoặc vì hết lòng chiến đấu mà không đủ sức bảo vệ. Tổ quốc Việt Nam bị mất đất, mất biển là do chính đảng CSVN ký kết nhường, đổi chác, bán. Những ngòi bút ký của lãnh đạo đảng CSVN vào Công hàm 1958, Hiệp định Biên Giới Việt Trung, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, Tuyên bố chung về Boxit Tây Nguyên... và còn nhiều văn bản khác vẫn nằm trong vòng bí mật đã công nhận nhiều phần lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam thuộc về Tàu cộng. Những chữ ký "đại diện quốc gia" này đã trao cho Tàu cộng một sức mạnh gấp ngàn lần xe tăng, đại pháo, sư đoàn trong cuộc bành trướng của đại Hán: "thu tóm mà không cần phải xâm lăng". Những chữ ký này sẽ làm cho dân tộc Việt Nam gặp khó khăn gấp trăm lần khi phải tranh đấu để lấy lại những gì bị mất vì chính phủ ký kết xác nhận nó thuộc về ngoại bang, so với nỗ lực đứng lên giành lại những gì bị mất vì hành vi xâm lược.
Do đó, chế độ CSVN không chỉ là một chế độ vừa là độc tài vừa nô lệ cho ngoại bang. Chính xác hơn, nó là một chế độ độc-tài-bán-nước. Đây là bản chất, là căn cước của cộng sản Việt Nam. Và thực chất của tình trạng mất đất, mất biển đã không đến từ xâm lăng mà đến từ một cuộc buôn bán đổi chác dài hạn. Thủ phạm chính không phải là người mua, kẻ nhận mà chính là kẻ bán, người dâng.
II. Độc-tài nuôi bán-nước và bán-nước nuôi độc-tài
Độc-tài nuôi bán-nước: Nếu Việt Nam là một nước dân chủ, đa đảng, tam quyền phân lập thì đã không có Công hàm bán nước 1958, Hiệp định Biên giới, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ và nhiều ký kết khác. Sẽ không có Tổng bí thư một đảng cùng với mười mấy tên trong Bộ Chính trị toàn quyền quyết định tương lai của dân tộc và tùy tiện sắp xếp biên giới của quốc gia với ngoại bang. Sẽ không có những văn kiện với chữ ký của 2 tổng bí thư của 2 đảng, là những người không được dân bầu, nhưng lại toàn quyền quyết định những vấn đề có tầm ảnh hưởng lên cả quốc gia. Sẽ không có một Quốc hội bù nhìn toàn là đảng viên cộng sản ngồi đọc và chỉ biết được nội dung sau khi văn kiện đã được ký. Sẽ không có tình trạng cả nước không biết rõ toàn bộ nội dung những hiệp định được ký kết, không nắm chắc đất nước đã bị mất những gì, mất bao nhiêu. Do đó độc tài dẫn đến mất nước vì độc tài cai trị đã nắm vị trí độc quyền bán nước.
Bán-nước nuôi độc-tài: Đảng CSVN sẽ không thể độc tài cai trị cho đến ngày nay nếu trong suốt nhiều thập niên liền không sống bằng những hỗ trợ trên mọi phương diện từ Tàu cộng. Đảng không tồn tại nếu không mang căn cước bán-nước bên cạnh tờ khai sinh độc-tài. Để độc tài, cộng sản Việt Nam phải bán nước. Lý do:
Một guồng máy độc tài với những lãnh đạo, cán bộ không có thực tài, thiếu khả năng, đầy bằng cấp giả, cộng thêm tham nhũng, hối lộ thì không thể nào tự họ làm cho đất nước hưng thịnh. Do đó, đảng CSVN sẽ không đủ khả năng để ngăn chận sự nổi loạn của quần chúng nếu không bắt tay với Tàu cộng để người dân có miếng ăn, có áo mặt, có điện, có xăng, có xe, có mọi thứ mặt hàng gia dụng... Các lãnh đạo và cán bộ đảng sẽ không thể nào đi từ vô sản không bằng cấp thành tiến sĩ tư bản đỏ bằng con đường với sức mình sỏi đá cũng thành cơm. Bài toán giải quyết và kết quả là một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào Tàu cộng - từ công trình xây dựng, nhiên liệu, điện lực đến giao thông, hàng hóa, thực phẩm... Do đó, bành trướng Bắc Kinh không cần phải được thực hiện bởi những sư đoàn tinh nhuệ vượt biên giới Việt Tàu mà là những công trình, công nhân Tàu giàn trải khắp Việt Nam. Phương tiện xâm lược của Tàu cộng không cần phải là AK47, chiến đấu cơ Chengdu J-20, tên lửa DF-31A mà là những cú phôn, những quyết định bằng lời có thể dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, cúp điện cả nước và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đi vào hỗn loạn. Nếu nói rằng cai trị là nắm quyền quyết định hay ảnh hưởng lên vận mạng của một quốc gia thì đảng CS Việt đã từng bước trao cho đảng CS Tàu quyền cai trị Việt Nam. Bắc Kinh không cần phải có một chính phủ người Tàu đóng đô ở Ba Đình để thống trị nước ta. 
Đem giao cả nền kinh tế và biến nó thành một nền kinh tế nô lệ cho Tàu cộng vẫn chưa đủ. Đảng CSVN đã "hòa tan" những hoạt động của quốc gia với Tàu cộng trên mọi lãnh vực. Từ lãnh vực quân sự với đường dây nóng, với các khóa đào tạo sĩ quan, sang đến lãnh vực tình báo, pháp luật, an ninh xã hội, tòa án, hành chính... Tất cả đều có bóng dáng chỉ đạo của đảng cộng sản Tàu. Việt Nam đã và đang bị cai trị bởi Bắc Kinh - chỉ có điều là ở mức độ nào? 50%, 70%...? - không ai có thể biết chính xác. 
III. Xâm lược HD981: cơ hội cho độc tài
Ở một nước "độc tài bình thường" nguy cơ ngoại bang tấn công hay xâm lược là cơ hội cho những nhà độc tài "kết hợp lòng dân", kêu gọi quần chúng "đồng lòng cùng chính phủ" và gạt qua những bất đồng chính trị để đoàn kết chống ngoại xâm. Điều đó đã xảy ra ở Serbia vào năm 1999 khi NATO thả bom Serbia vì độc tài Slobodan Milosevic từ chối triệt thoái quân ra khỏi Kosovo.
Nếu những quả bom của NATO rải thảm thủ đô Belgrade vào năm 1999 là một món quà cho Milosevic thì giàn khoan HD981 của Tàu cộng là một món quà cho những nhà độc tài CSVN. Khác với Serbia, nơi mà Slobodan Milosevic là một nhà độc tài nhưng không bán nước, tại nước "độc tài bất bình thường" Việt Nam, đảng cầm quyền đã nhiều đời mang căn cước độc-tài + bán-nước. Vì thế, HD981 là cơ hội để những nhà độc tài bán nước CSVN đeo mặt nạ yêu nước và làm người ta có thể quên đi "hành trình bán nước từ lúc mới ra đời" của họ. Đối với quảng đại quần chúng, chiêu bài độc lập dân tộc được tung ra. Hình ảnh một lãnh tụ "sáng giá" phun châu nhả ngọc chống ngoại xâm được tung hô. Một chiến dịch dân vận để trình chiếu bộ phim trong đó mọi bộ phận, cơ chế của nhà nước cùng đồng lòng, nhân dân cả nước cùng đồng lòng. Một chiến dịch đồng lòng khắp hang cùng ngỏ hẻm đã được khua chiên, gõ mỏ, cho dù phải đem ngư dân ra để làm "tài tử" chính cho bộ phim "đảng, nhà nước và nhân dân đồng hành cùng ngư dân bám biển, bảo vệ tổ quốc".
Dàn khoan HD981 là cơ hội cho độc tài giả dạng "yêu nước" và cũng là thời cơ để độc tài chụp lên đầu những ai chống lại lãnh đạo "yêu nước" là thành phần phản quốc.
IV. Những thử thách của phong trào dân chủ
Trong "cơn sốt sơn hà nguy biến", những nỗ lực tranh đấu chống độc tài hình như trở thành lạc quẻ. Những công việc tranh đấu của phong trào dân chủ trước đó bây giờ hình như trở nên nhỏ lẻ và vô nghĩa. Chuyện tranh đấu tự do cho blogger Anhbasam, Lê Thị Phương Anh, đấu tranh chống lại Điều 258 hình như đang giống như chuyện đi nhặt rác trong một căn nhà đang cháy. Nhiều người choáng ngợp đến bất động vì hiểm họa ngoại xâm và có cảm giác cá nhân mình quá nhỏ bé, vô vọng trước tình hình thời cuộc.
Trong "cơn sốt sơn hà nguy biến" cộng với thủ đoạn mị dân của những nhà độc tài chụp bắt cơ hội, lực lượng dân chủ cũng bắt đầu phân tán vì những khuynh hướng khác nhau - giữa khuynh hướng đồng lòng cùng chính phủ, kỳ vọng vào những lời tuyên bố của một nhà độc tài mang mặt nạ yêu nước và khuynh hướng vừa chống độc tài vừa cứu nước.
Đó là tình trạng của phong trào dân chủ trong những ngày qua kể từ hôm 18.5.2014 khi cuộc biểu tình yêu nước bị Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh ngăn cản, cấm đoán và bắt giam một số người.
Nếu trước đây, phong trào dân chủ có một phương hướng chung trên con đường độc đạo là đấu tranh dẹp bỏ độc tài, xây dựng dân chủ, bảo vệ và phát triển nhân quyền thì "cơn sốt sơn hà nguy biến" đã bật ra 3 ngả rẽ:
1. Kỳ vọng vào đảng độc tài thoát khỏi vòng nô lệ của Tàu cộng. Tên thời thượng là Thoát Trung.
2. Kỳ vọng vào một lãnh đạo "sáng giá nhất" của đảng đứng lên lãnh đạo một cuộc cách mạng nhung để thoát ách nô lệ Tàu cộng và hy vọng người này đứng về phía nhân dân để cởi trói độc tài.
3. Kiên trì tranh đấu để chấm dứt độc tài và xây dựng dân chủ và xem đó là điều kiện nền tảng để có được sức mạnh toàn dân nhằm bảo vệ tổ quốc.
Chọn lựa thứ nhất dành cho những người không thấy được toàn bộ bản chất cốt lõi độc-tài-bán-nước của đảng CSVN, không nhớ hay không muốn nhớ đảng này là thủ phạm dẫn đến tình trạng đất nước ngày hôm nay như đã trình bày ở trên. Chọn lựa này cũng dành cho những người chấp nhận kết quả rút khỏi biển Đông của giàn khoan HD981 nhưng đảng CSVN vẫn tiếp tục "sứ mạng" độc-tài để bán-nước và bán-nước để tiếp tục độc-tài.
Chọn lựa thứ hai thuộc về những người xem việc người dân Việt Nam có thể tự làm nên một cuộc cách mạng là vô vọng. Do đó họ phải đánh cược số phận của đất nước vào niềm tin dành cho một người đang nằm trong bộ máy độc tài, người mà: (1) từ trước đến giờ thành tích nói và không bao giờ làm đã không thua bất kỳ ai; (2) sự nghiệp chính trị và vị trí lãnh đạo bị lệ thuộc vào tập đoàn tay chân mà những mất mát về quyền lợi, cũng như phải đối diện với những đe dọa nếu chống Tàu sẽ quay sang chống lại thủ lĩnh của họ; (3) cá nhân vẫn nằm trong sự chi phối của một cơ chế tập thể lâu đời mà thành phần thân Tàu đang chiếm đa số. 
Chọn lựa thứ 3 là chọn lựa khó khăn nhất. Nếu 2 chọn lựa đầu chỉ phải chống ngoại xâm và được sự hỗ trợ hay ít ra được yên thân bởi đảng độc tài thì chọn lựa thứ ba là phải chống nội xâm lẫn ngoại xâm. Chọn lựa thứ ba này đối diện với nhiều phản biện:
- Lực lượng dân chủ còn quá yếu, sẽ bị tiêu diệt từ trứng nước.
- Sẽ không được sự ủng hộ nồng nhiệt từ quần chúng vì tâm lý sợ hãi lâu đời và họ đang có chọn lựa an toàn với cá nhân của họ hơn. Đó là đứng cùng với đảng (chọn lựa 1), hay ủng hộ một lãnh đạo "sáng giá" của đảng độc tài (chọn lựa 2).

- Đấu tranh chống độc tài bây giờ sẽ giúp cho Tàu cộng thêm cơ hội tràn qua xâm chiếm Việt Nam.

Hai điều ban đầu đã hiện hữu mà không cần phải chờ đến biến cố HD981 mới có. Nó cũng là thử thách của mọi đất nước bị độc tài cai trị cho đến ngày cách mạng thành công.

Điều thứ ba là ngụy biện của đảng và những người chọn lựa thái độ đồng lòng hay mong đợi ở đảng. Trên thực tế: Tàu cộng không cần xâm lăng VN. Tàu cộng không thể lấy một lý do gì để tràn qua chiếm trọn VN trong thời đại này. Và sự xâm lăng cho dù có đi nữa sẽ không có hiệu quả bằng sự chấp nhận ký kết sang nhượng chủ quyền của tập đoàn tay sai như đã trình bày ở trên. Xin đọc thêm bài "Trung cộng: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!!!???"

Tuy nhiên, khi độc tài chụp lấy cơ hội "kết hợp lòng dân" và những thành phần quan tâm đến vận mạng đất nước đi vào 3 ngả rẽ thì phong trào dân chủ phải đối diện với những thử thách mới, chồng chất lên những thử thách vốn đã có.
Làm thế nào để vượt qua?
Chúng ta cần phải nhìn lại toàn bộ những nỗ lực vừa qua, lượng giá tình hình chủ quan và khách quan để từ đó có một hướng chiến lược tổng thể phù hợp với tình hình mới đang rất là đen tối. 
Đây cần là một nỗ lực chung của nhiều người và xin hẹn các bạn trong một loạt bài kế tiếp.

No comments: