Saturday, May 24, 2014

ÂM MƯU TRUNG QUỐC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

Trung Quốc và những âm mưu đã “lộ tẩy” về Biển Đông

Việt Nam có đầy đủ chứng lý và căn cứ pháp luật để chứng minh chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Chiến lược biển của Trung Quốc
Thứ nhất, mục tiêu của Trung Quốc là phấn đấu đến năm 2050 vươn lên trở thành siêu cường thế giới ngang hàng với Mỹ trên cơ sở ‘cải cách, mở cửa’ và ‘trỗi dậy hòa bình’. Trung Quốc cho rằng thời gian từ nay đến năm 2020 là cơ hội tốt nhất cho Trung Quốc phát triển. Vì vậy, xu thế chính trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong những năm tới là cố gắng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài một cách hài hòa, tránh các biện pháp cực đoan, không đối đầu với Mỹ, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng, duy trì môi trường hòa bình, hòa dịu.

Mặt khác, sau một thời gian dài dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế, Trung Quốc đã trở thành một nước lớn trên thế giới. Năm 2005, nền kinh tế Trung Quốc với tổng thu nhập quốc dân (GDP) vượt 2.200 tỷ USD, đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới. Do kinh tế phát triển nhanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng trong nước có hạn nên Trung Quốc đã trở thành "con rồng đói" về nguyên, nhiên liệu. Từ năm 2003, Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Trung Quốc đã và đang vươn ra khắp thế giới để tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng để bảo đảm nhu cầu phát triển và an ninh năng lượng của mình, trong đó biển được coi là nguồn cung cấp quan trọng. Đồng thời, để có thể chuyên chở, nhập khẩu nguyên nhiên liệu và xuất nhập khẩu hàng hóa, Trung Quốc ngày càng coi trọng quyền tự do hàng hải và an toàn thương mại hàng hải. Với khoảng 70% lượng dầu khí nhập khẩu đi qua Biển Đông, Trung Quốc coi Biển Đông là ‘con đường sinh mệnh’ của mình.

Trung Quốc và những âm mưu đã “lộ tẩy” về Biển Đông - Bài 5
Giàn khoan "khủng" của Trung Quốc

Thứ 2, Trung Quốc là nước có yêu sách tham vọng lớn nhất trên biển, sau thời gian dài ‘bế quan tỏa cảng’, từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu dòm ngó và tranh chấp Biển Đông, bước đầu là khu vực biển đảo phía Bắc, đến giữa thế kỷ hình thành yêu sách trên toàn bộ Biển Đông với các mốc chủ yếu sau: năm 1909 ra Hoàng Sa; năm 1946 vẽ yêu sách "lưỡi bò" (chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông nhưng chỉ đến tháng 5/2009 mới chính thức đưa ra yêu sách này) đồng thời ra chiếm nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình của quần đảo Trường Sa; năm 1956 Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đóng giữ phần phía Đông của Hoàng Sa, Đài Loan tái chiếm giữ đảo Ba Bình ở Trường Sa; năm 1958 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố chính thức yêu sách chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm 1974 chiếm một phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa; năm 1988 đánh chiếm một số điểm trên quần đảo Trường Sa; năm 1995 đánh chiếm thêm Vành Khăn, phía Nam quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, coi quần đảo Hoàng Sa và vùng biển kế cận là thuộc chủ quyền lãnh thổ đương nhiên và không thể tranh cãi của Trung Quốc; toàn bộ quần đảo Trường Sa (và vùng biển kế cận) nhưng thừa nhận có tranh chấp, chủ trương ‘chủ quyền Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác’.

Thứ 3, từ những năm 1990, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế, Trung Quốc bắt đầu xây dựng và triển khai chiến lược biển mới, đẩy mạnh sự kiểm soát và khai thác các vùng biển gần và vươn ra các đại dương. Năm 1995, Trung Quốc đưa ra "Chiến lược khai thác biển" với mục tiêu biến Trung Quốc trở thành một cường quốc thế giới về biển; có khả năng kiểm soát và khống chế đường biển, khai thác tài nguyên biển. Trung Quốc cho rằng không thể trở thành cường quốc toàn diện nếu không phải là cường quốc biển. Về khai thác tài nguyên, Trung Quốc chủ trương "khai thác biển xa trước, biển gần sau,biển có tranh chấp trước, biển thuộc chủ quyền Trung Quốc sau", "ngoại giao đi trước, hải quân đi sau", "văn công, vũ vệ"; phân hóa, chia rẽ ASEAN, tranh thủ và hạn chế Mỹ, Nhật. Về phương thức hợp tác, Trung Quốc chủ trương lấy song phương là chính, đa phương khi Trung Quốc giữ vai trò chủ đạo. Hướng ra Biển Đông, nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, các nước lớn không còn căn cứ quân sự và các nước nhỏ liên quan đều yếu về quân sự.

Và những chiêu bài đã “lộ tẩy”
Để thực hiện chiến lược biển của mình, trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã ráo riết triển khai nhiều biện pháp đối nội và đối ngoại, trên bàn đàm phán và trên thực địa để khẳng định chủ quyền của mình.
Thứ nhất, Trung quốc chính thức đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” vào tháng 5/2009 bằng cách đính kèm một bản đồ vẽ đường yêu sách này kèm theo công hàm gửi Liên Hợp quốc phản đối Báo cáo của Việt Nam và Báo cáo chung Việt Nam- Malaysia về ranh giới thềm lục địa được vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, theo đó đòi hỏi chủ quyền 2 quần đảo gọi là “Tây Sa” (Hoàng Sa) và “Nam Sa” (Trường Sa) và “vùng đặc quyền kinh tế" và "thềm lục địa" riêng của 2 quần đảo này. Trung Quốc vận dụng quy chế quốc gia quần đảo cho Hoàng Sa, tuyên bố sẽ vạch tiếp cho Trường Sa, để từ đó đòi 2 quần đảo này cũng có vùng "đặc quyền kinh tế" và "thềm lục địa" riêng, tạo bộ mặt pháp lý hợp thức hơn cho yêu sách chủ quyền. Tuy nhiên việc quy định "đường cơ sở quần đảo" và yêu sách vùng biển này trái với các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 cho nên nhìn chung các nước đều không công nhận yêu sách này của Trung Quốc.


Trung Quốc và những âm mưu đã “lộ tẩy” về Biển Đông - Bài 5
Yêu sách đường lưỡi bò tham lam và vô lý của Trung Quốc bao gồm 80% Biển Đông

Thứ 2, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, giáo giục ý thức “quốc gia đại dương”, khẳng định các yêu sách chủ quyền biển. Báo chí Trung Quốc đăng tải một cách có hệ thống các bài viết kích động dư luận, vu cáo các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, chiếm đoạt tài nguyên biển của Trung Quốc.
Thứ 3, ráo riết tiến hành công tác xây dựng Pháp luật về biển để làm cơ sở pháp lý triển khai chiến lược biển. Quốc hội Trung Quốc đã lần lượt thông qua Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp (năm 1992); Luật đường cơ sở (1996); Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc (1998) (...) đang xây dựng Luật về quản lý sử dụng hải đảo. Trung Quốc đã thành lập cơ quan chuyên trách quản lý biển là Cục Hải dương, tổ chức từ Trung ương đến cấp huyện.

Thứ 4, ra sức tăng cường xây dựng tiềm lực quốc phòng, đặc biệt là không quân và hải quân (tàu sân bay, tàu ngầm, tàu khu trục tên lửa, máy bay SU 27, SU 30, tiếp dầu trên không, tổ chức tập trận hải quân). Dự kiến năm 2015, Trung Quốc sẽ trở thành “siêu cường quân sự thế giới” có khả năng tác chiến biển xa. Thực tế cho thấy Trung Quốc không ngần ngại sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng. Trên Biển Đông, Trung Quốc cũng đã 3 lần sử dụng vũ lực để chiếm thêm các đảo mới.
Thứ 5, củng cố và mở rộng các vị trí đã chiếm đóng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Trung Quốc và những âm mưu đã “lộ tẩy” về Biển Đông - Bài 5
Trung Quốc đặt các căn cứ, xây dựng nhiều công trình trái phép trên đảo Hoàng Sa của Việt Nam

Thứ 6, thực hiện chính sách vừa lôi kéo vừa chia rẽ các nước ASEAN, dùng nước này ép nước kia; hạn chế vai trò và ảnh hưởng của các nước lớn khác như Mỹ, Nhật; tập trung sức mạnh mũi nhọn sức ép vào Việt Nam, cho Việt Nam là đối tượng chính, áp dụng thủ thuật "ngoại giao cấp cao", "đại cục quan hệ", "trả đũa mạnh" để hạn chế đấu tranh của Việt Nam. Khi buộc phải ký và tham gia vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) với ASEAN, Trung Quốc đã cố gắng đưa vào các bổ sung để bảo đảm không gây cản trở đến việc thực hiện ý đồ "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc, không để ASEAN co cụm với nhau trong diễn đàn DOC và quá trình xây dựng quy tắc ứng xử, tìm cách gạt bỏ chủ đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của ARF, phong trào không liên kết và đặc biệt Trung Quốc kiên quyết phản đối phương thức đàm phán đa phương, chỉ muốn tiến hành đàm phán song phương, mặc dù tranh chấp có liên quan đến nhiều bên.
Thứ 7, thúc ép mạnh mẽ các nước trong khu vực thực hiện chủ trương “Gác tranh chấp, cùng khai thác” (…). 

Thực chất, ngoài khu vực Trường Sa, các khu vực Trung Quốc muốn “cùng khai thác” với các nước liên quan đều là các khu vực nằm trong phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa của các nước có tiềm năng dầu khí. Do vậy, đề xuất “Gác tranh chấp, cùng khai thác” này của Trung Quốc không thể chấp nhận được trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước khác theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, học giả quốc tế thì chính sách của Trung Quốc là nguồn gốc cơ bản gây ra tình hình bất ổn định trên Biển Đông. Tuy nhiên, trong 5-10 năm tới, Trung Quốc cũng rất cần môi trường quốc tế hòa bình ổn định để thực hiện chiến lược “trỗi dậy hòa bình”, “chấn hưng Trung Hoa”. Trung Quốc phải cân nhắc, tính toán đến lợi ích và phản ứng của các cường quốc có liên quan, đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ…
HỒNG CHUYÊN // Theo InfoNet
 http://www.tinbiendong.com/nd5/detail/kho-tu-lieu-ho-so-bien-dong/trung-quoc-va-nhung-am-muu-da-lo-tay-ve-bien-dong/904.010002.html

 

Vạch rõ âm mưu độc chiếm biển Đông của Trung Quốc

SGGP - 13/05/2014 02:30 

Bế mạc hội nghị cấp cao ASEAN 24, lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á đã ra tuyên bố báo động về tranh chấp trên biển Đông, thể hiện lập trường cứng rắn và sự đồng thuận của khối ASEAN. Dư luận quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia quân sự cũng liên tiếp đưa ra những lập luận thuyết phục chỉ rõ tham vọng nguy hiểm, sai trái của Trung Quốc khi đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Rất nhiều người dân Trung Quốc cũng kêu gọi lãnh đạo nước mình ngừng gây hấn với các quốc gia trong khu vực.


Hình ảnh tàu Trung Quốc dùng vòi rồng tấn công tàu bảo vệ bờ biển của Việt Nam được nhiều hãng truyền thông quốc tế khai thác.

ASEAN đồng thuận cao
Tuyên bố của các nhà lãnh đạo các quốc gia ASEAN nhấn mạnh: “Chúng tôi bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến đang xảy ra trên biển Đông”. ASEAN kêu gọi tất cả các bên liên quan “kiềm chế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực và giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, tuân theo những quy định đã được công nhận rộng rãi trong luật pháp quốc tế”.

Trước đó, trả lời phỏng vấn báo chí, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long khẳng định rằng ASEAN cần phải có quan điểm về tình hình hiện nay ở biển Đông vì an ninh và ổn định của khu vực phụ thuộc vào những gì xảy ra tại vùng biển này. Thủ tướng Lý Hiển Long cũng bác bỏ quan điểm của phía Trung Quốc cho rằng các vụ xung đột trên biển Đông là vấn đề của riêng Trung Quốc và các nước liên quan. Giới quan sát đánh giá lần này, ASEAN đã thể hiện sự đồng thuận và gắn kết chặt chẽ.
Theo Japan Times, tại cuộc họp báo ngày 12-5, Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga nói: “Chúng tôi hy vọng các nước liên quan sẽ không thực hiện những hành động đơn phương làm leo thang căng thẳng và hành động kiềm chế phù hợp với luật pháp quốc tế liên quan”. Ông Yoshihide Suga cũng đã chỉ trích hành động đơn phương của Trung Quốc những ngày qua.
Trả lời TTXVN, Tướng Daniel Schaeffer, nguyên tùy viên quân sự Pháp tại Việt Nam và Trung Quốc, nguyên cố vấn của Bộ Quốc phòng Pháp và là một nhà nghiên cứu về biển Đông có uy tín đã nhắc đến âm mưu độc chiếm biển Đông của Trung Quốc.

Theo Tướng Daniel Schaeffer, Trung Quốc đã vượt quá các quyền của mình, đồng thời vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam. Hành động này là một bước đi mới của Trung Quốc nhằm độc chiếm biển Đông bằng đường 9 đoạn mà nước này đã đưa ra trước đó. Trước hành động vi phạm quyền chủ quyền một nước như vậy, nếu cộng đồng quốc tế không làm gì để phản đối âm mưu này, Trung Quốc sẽ được hưởng lợi bởi những va chạm nhỏ ban đầu sẽ dần dần lấn lướt dựa trên sự đã rồi.
Theo Tướng Daniel Schaeffer, Trung Quốc nói rằng họ sẽ thăm dò tại vùng biển này trong thời gian từ ngày 4-5 đến 15-8, nhưng nói vậy không có nghĩa rằng sau ngày 15-8 họ sẽ rút. Mục tiêu tổng thể của Trung Quốc là hợp thức hóa đường 9 đoạn nhằm vạch ra những không gian biển mà họ tuyên bố là có chủ quyền. 

Đi ngược lại tuyên bố hợp tác, hữu nghị
Theo ông Anton Svetov, chuyên viên Hội đồng đối ngoại Nga, Bắc Kinh muốn thăm dò phản ứng và kiểm tra ngưỡng chịu đựng của các nước trong khu vực, kể cả Mỹ, mặc dù giữa Việt Nam và Mỹ không có thỏa thuận hợp tác quân sự. Trong đó có cả mục đích kiểm tra cấu trúc an ninh khu vực được xây dựng trên hệ thống quan hệ của Mỹ với các đồng minh và các thiết chế đa phương khác trong ASEAN.
Ông Dmitry Mosyakov, chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu phương Đông, đánh giá hành động của Trung Quốc hết sức nguy hiểm. Các kế hoạch của Trung Quốc còn nguy hại ở chỗ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thể mối quan hệ với Việt Nam nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng. 

Còn theo ông Vladimir Kolotov, Trưởng bộ môn lịch sử các nước phương Đông, thuộc Đại học Tổng hợp quốc gia Saint Petersburg, sự bành trướng của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa làm tổn hại lòng tin và khiến các quốc gia liên quan phải lao vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Hành động của Trung Quốc không chỉ gây căng thẳng mà còn phá vỡ các nỗ lực và kế hoạch đã tuyên bố về việc xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị.
Tiến sĩ Gerhard Will, chuyên gia về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP) nêu rõ, hành động lần này của Trung Quốc là sự thụt lùi nghiêm trọng cho những nỗ lực nhằm giảm thiểu xung đột trên biển Đông. Nó chống lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) đã được các nước thuộc ASEAN và Trung Quốc ký kết cũng như vi phạm các quy định trong Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Ông cho rằng hành động của Trung Quốc không nhằm thăm dò hay khai thác dầu mà chủ yếu để thực hiện yêu sách tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển này.

Người dân Trung Quốc phản đối
Những ngày qua, trên các trang mạng xã hội ở Trung Quốc, rất nhiều người dân nước này không ngừng chia sẻ ý kiến về việc Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép tại vùng biển Việt Nam. Phần lớn ý kiến đều cho rằng, lãnh đạo Trung Quốc đã có những bước đi sai lầm. Theo họ, điều quan trọng nhất lúc này là chính quyền Bắc Kinh cần sớm chấm dứt những động thái gây hấn để ưu tiên giải quyết, dàn xếp bất ổn an ninh trong nước cũng như các vấn đề dân sinh cấp bách.
Các trang mạng như Sohu, Sina cũng lần lượt đăng tải các bình luận của người dân Trung Quốc đã thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình và phê phán thái độ của nhà nước Trung Quốc. Thành viên Shangzi chia sẻ: “Có lẽ chính quyền Trung Quốc nghĩ rằng chỉ có lợi ích quốc gia vĩnh viễn chứ không có bạn bè vĩnh viễn. Gạt bỏ sự tôn trọng đối với lợi ích quốc gia khác là điều không nên”.

Còn thành viên Zhiyuzhishan cho rằng: “Chúng ta cần tuân thủ luật pháp quốc tế”. Có thành viên thừa nhận xấu hổ với cách hành xử của Trung Quốc đối với các nước láng giềng, phản đối cách mà Trung Quốc đã sử dụng vòi rồng như truyền thông quốc tế đã đưa những ngày qua.
NHƯ QUỲNH (tổng hợp)
- Lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển Việt Nam: Quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc
- Đội ngũ trí thức Việt Nam phản đối hành động sai trái của Trung Quốc
- Tiến tới Đại hội Đại biểu MTTQ Việt Nam TPHCM lần thứ X (2014 - 2019): Đoàn kết vì tuyến đầu Tổ quốc
- Sở Ngoại vụ TPHCM mời Tổng Lãnh sự Trung Quốc để phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép tại biển Đông
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Hòa bình, ổn định ở Biển Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng
- Tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc xâm phạm thềm lục địa Việt Nam
http://www.baomoi.com/Vach-ro-am-muu-doc-chiem-bien-Dong-cua-Trung-Quoc/119/13790437.epi


Giàn khoan 981 – âm mưu chiếm Biển Đông của Trung Quốc

- Chuyên mục
Sự Kiện : Tình hình biển Đông
Có thể bạn quan tâm
Dành cho quảng cáo
(Tinmoi.vn) Khi đưa giàn khoan dầu đến khu vực ngoài khơi bờ biển của Việt Nam tại Biển Đông, Trung Quốc đã có một chiến lược cẩn thận chứ không phải là sai lầm.
 Sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) tại vùng biển của Việt Nam, quan hệ Việt-Trung ngày càng căng thẳng. Một số nhà phân tích cho rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm chiến lược. Mặc dù người ta có thể tranh luận về thời gian và phương pháp triển khai của Trung Quốc nhưng nếu nói đây là chiến lược sai lầm thì không chính xác.
Đầu tiên, hãy nhìn vào thời gian. Việc Trung Quốc triển khai Hải Dương 981 vào lúc này khiến nhiều người khó hiểu bởi mối quan hệ Việt-Trung trong những năm gần đây được cả 2 nước duy trì khá tốt. Năm 2013, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đến thăm Việt Nam, hai bên còn nhất trí tăng cường hợp tác trong một số lĩnh vực. 

Mặt khác, quyết định triển khai giàn khoan 981của Trung Quốc không có gì đáng ngạc nhiên sau khi nước này dành nhiều thời gian và tiền bạc để phát triển một giàn khoan có thể hoạt động trong vùng biển sâu. Rõ ràng, ai cũng có thể thấy một ngày nào đó, Trung Quốc sẽ cho triển khai nó gần vùng biển sâu và chắc chắn sẽ là vùng biển đang tranh chấp với nước khác.
Theo Holly Morrow, một chuyên gia năng lượng châu Á thì sẽ không bao giờ có thời điểm thích hợp để Trung Quốc làm việc này. "Thực tế thì việc triển khai giàn khoan mất rất nhiều thời gian, cần một kế hoạch tỉ mỉ trong khi Biển Đông chỉ có một vài điểm là không có bão. Tôi nghĩ từ tất cả các yếu tố trên thì thời điểm hiện tại là phù hợp nhất để người Trung Quốc triển khai giàn khoan và thực tế thì họ đã làm vậy giữa chuyến thăm của ông Obama đến châu Á và Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tôi nghĩ đây có lẽ là sự trùng hợp thiếu may mắn chứ không phải họ chủ định làm như vậy”. Như vậy, câu hỏi về thời gian rất thú vị, nhưng nó không quan trọng.

Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đặt trái phép tại vùng biển Việt Nam
Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đặt trái phép tại vùng biển Việt Nam

Tuy nhiên, có ít nhất 2 lý do khiến Trung Quốc có thể phạm sai lầm trong sự việc lần này. Thứ nhất, hình ảnh quốc tế của Trung Quốc có thể sẽ bị ảnh hưởng và họ sẽ mất đi cơ hội để chiếm được tình cảm của người Việt Nam. Các nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á sẽ nhìn Trung Quốc như một kẻ bắt nạt lớn xác tại Biển Đông. Điều này sẽ làm tổn hại đến mục tiêu thúc đẩy hòa bình và ổn định tại khu vực – mục tiêu trọng tâm mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã đưa ra trong cuộc họp ngoại giao trong khu vực vào năm 2013. Một số học giả Trung Quốc tin rằng TQ đã không khôn ngoan khi cùng một lúc xung đột với cả 3 nước là Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Lo lắng này không thừa khi mà hình ảnh quốc tế của Trung Quốc chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng sau vụ việc lần này. Tuy nhiên, giống như bất kỳ quốc gia nào khác, khi buộc phải lựa chọn giữa lợi ích cốt lõi quốc gia và hình ảnh quốc tế, Trung Quốc vẫn sẽ chọn điều đầu tiên. Có thể nhận thấy Trung Quốc không thể một chiếc bánh lại càng không được ăn nó. Họ sẽ đặt lợi ích quốc gia lên trên hình ảnh của mình. Trong sự việc lần này, có thiệt hại nhưng không lớn.

Thứ hai, động thái hiện nay củaTrung Quốc đang đẩy Việt Nam xích lại gần Mỹ nên có khả năng sẽ tạo ra liên minh chống Trung Quốc tại Đông Á gồm Nhật Bản, Philippines và một số quốc gia khác. Điều này có thể xảy ra. Tuy nhiên, Việt Nam không muốn trở thành đồng minh của Mỹ để chống lại Trung Quốc bởi TQ vẫn là một thị trường và một nhà đầu tư lớn thúc đẩy phát triển cho VN.
Năm 2013, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 28% tổng sản phẩm nhập khẩu. Theo lẽ thường, Việt Nam sẽ không làm tổn hại mối quan hệ thương mại quan trọng này.

Một trong nhiều lý do mà Trung Quốc không bị ảnh hưởng nhiều sau những căng thẳng thời gian qua đó là Việt Nam có rất ít lựa chọn. Việc người dân Việt Nam xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc không ảnh hưởng nhiều tới Trung Quốc mà sẽ làm tình hình Việt Nam rối ren hơn.
Trong thời gian ngắn có thể Trung Quốc không đạt được gì nhiều từ việc triển khai giàn khoan tại vùng biển Việt Nam nhưng chắc chắn đây không phải là một sai lầm chiến lược. Hiện nay Việt Nam không có quá nhiều “quân bài” để đáp lại các động thái của Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc sẽ phải nỗ lực để ổn định lại quan hệ Việt-Trung.
Bảo Linh (Theo thediplomat)
Nguồn : Tin Mới / Nguoiduatin.vn
 

Trung Quốc - Tham vọng bá quyền Biển Đông: Bài 2: Lộ rõ âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới

Lịch sử Trung Quốc và thế giới minh chứng rõ ràng lãnh thổ của Trung Quốc về phía Nam chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam là hết. Thế nhưng, với tham vọng bá quyền độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc đã không ngần ngại tiến hành những bước đi hết sức phi lý mang tính hệ thống - hòng đạt mục tiêu xâm lấn bành trướng lãnh thổ. Mục tiêu phi pháp và trái đạo lý ấy của Trung Quốc dĩ nhiên phải gắn liền với âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới, xâm phạm chủ quyền hợp pháp của các quốc gia khác trong khu vực.


Tàu của cảnh sát biển Việt Nam

Bất chấp luật pháp quốc tế, bôi xóa lịch sử

Cho đến gần đây, Trung Quốc bắt đầu tuyên bố yêu sách chủ quyền vô lý đối với gần như toàn bộ Biển Đông và liên tục có những hành động gây hấn sai trái. Tình hình bất thường đó khiến không ít tổ chức, cá nhân kể cả phía Trung Quốc và cộng đồng thế giới lo ngại. Đã có nhiều sự quan tâm ở khắp nơi, tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những sự thật lịch sử cho thấy sự phủ nhận hoàn toàn yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc, đồng thời khẳng định chủ quyền hợp pháp không thể chối cãi của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử chỉ có một, mọi ngụy biện của Trung Quốc không thể bôi xóa, xuyên tạc hay bóp méo vì mục đích bành trướng lãnh thổ hiện nay.

Sự thật là hàng trăm bản đồ cổ của Trung Quốc và bản đồ quốc tế đều cùng chỉ rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Cho đến tận năm 1904, bản đồ "Hoàng Triều Trực Tỉnh Địa Dư Toàn Đồ” thời nhà Thanh vẫn còn ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nhiều tài liệu lịch sử của Trung Quốc, trong đó có cả bản đồ Trung Hoa Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ phát hành vào năm 1894 và quyển "Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư” (trang 241) phát hành năm 1906, tất cả đều khẳng định lãnh thổ Trung Quốc phía Nam chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Bởi vậy, ngày 28-3-2014, tại Berlin, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Angela Merkel đã công khai tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tấm bản đồ China Proper (Trung Quốc đích thực) do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ dựa trên các cuộc khảo sát địa lý mà các nhà truyền giáo Dòng Tên thực hiện trước đó, được một nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735. Trên tấm bản đồ này cho thấy rõ lãnh thổ Trung Quốc không hề có Hoàng Sa và Trường Sa, vì hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đó là một trong rất nhiều dẫn chứng thể hiện rằng lịch sử thế giới luôn ghi nhận đúng sự thật Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, hai quần đảo này không liên quan gì đến chủ quyền của Trung Quốc. Và mới đây nhất, lại vừa thêm một bằng chứng lịch sử đặc biệt có giá trị pháp lý được công bố, tố cáo yêu sách chủ quyền bất chấp lịch sử của Trung Quốc. Ngày 13-5-2014, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam vừa tiếp nhận bản đồ Atlas Thế giới xuất bản năm 1827 khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Là một quốc gia đã tham gia ký kết, công nhận Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Trung Quốc thừa hiểu rằng theo luật pháp quốc tế, một quốc gia muốn xác lập chủ quyền lãnh thổ trên biển và hải đảo phải hội đủ 3 điều kiện, đó là: phải có sự thực thi chủ quyền của Nhà nước; thực thi chủ quyền một cách liên tục, lâu dài, hòa bình; và được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải – đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện. Theo luật pháp quốc tế, ngày nay tất cả các cuộc xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực như Trung Quốc đã và đang tiến hành đều bị coi là bất hợp pháp nên không có giá trị pháp lý để xác lập chủ quyền lãnh thổ. Vậy nhưng, nhằm phục vụ cho mưu đồ đòi hỏi chủ quyền một cách vô lý trên Biển Đông, gần đây Trung Quốc đã cố tình dựa vào các tài liệu mơ hồ của các nhà du hành, thám hiểm để mạo nhận về chủ quyền của họ. Đơn cử như việc có một đoàn thuyền của một nhân vật có tên là Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua Biển Đông để hướng về Ấn Độ Dương, không hề ghé lại các đảo hay quần đảo của Việt Nam, nhưng nay Trung Quốc vẫn sẵn sàng vin vào đó làm cơ sở rêu rao một cách méo mó rằng họ đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ XV. Các bản đồ mà Trung Quốc trưng ra cho cái gọi là "bằng chứng lịch sử” của họ không phải là bản đồ chính thức của các triều địa phong kiến Trung Quốc. Và dĩ nhiên, theo công pháp quốc tế, những tư liệu đánh tráo bản chất lịch sử như vậy của Trung Quốc không thể là căn cứ để chứng minh chủ quyền và sự kiểm soát chính thức của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử cho đến đầu thế kỷ XX, tài liệu chính sử Trung Quốc chưa bao giờ cho thấy chủ quyền của quốc gia này đối với các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Tất nhiên, càng không bao giờ có cái gọi là "vùng nước lịch sử” bao chiếm gần trọn Biển Đông mà gần đây Trung Quốc bỗng nhiên tùy tiện tuyên bố như "ao nhà” của họ. Đến giữa thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu bộc lộ tham vọng trỗi dậy bành trướng lãnh thổ vô độ trên biển, liên tục đòi hỏi chủ quyền phi lý không chỉ đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà còn âm mưu độc chiếm Biển Đông (họ gọi là Biển Hoa Nam). Thế nhưng, Trung Quốc lại không thể đưa ra được cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào đáng tin cậy.



Yêu sách chủ quyền "đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông cùng những hành động nguy hiểm có hệ thống, Trung Quốc đã lộ rõ âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới - bá quyền ở Biển Đông

Dùng bạo lực để thay đổi hiện trạng

Do kinh tế phát triển nhanh trong mấy thập kỷ qua, nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng có hạn khiến Trung Quốc chẳng khác nào trở thành "con rồng đói” khát dầu, thiếu nguyên nhiên liệu, trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ đứng thứ 2 thế giới. Trung Quốc đang vươn ra khắp nơi để tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản, năng lượng để bảo đảm nhu cầu phát triển. Biển Đông là nơi có khoảng 70% lượng dầu khí nhập khẩu đi qua, Trung Quốc coi đây là "con đường sinh mệnh”. Năm 1995, Trung Quốc đưa ra "Chiến lược khai thác biển” với mục tiêu trở thành một cường quốc về biển có khả năng kiểm soát và khống chế đường biển, khai thác tài nguyên biển. Thực tế cho thấy Trung Quốc đã lộ rõ những biểu hiện "ngoại giao đi trước, hải quân đi sau” để hướng ra Biển Đông - nơi giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng các nước lớn không còn căn cứ quân sự trong khi các quốc gia liên quan đều là nước nhỏ. Với tham vọng vươn lên thành siêu cường số một thế giới trong vài ba thập kỷ tới, Trung Quốc đồng thời cho thấy những biểu hiện xâm lấn bành trướng lãnh thổ đầy nguy hiểm một cách có hệ thống. Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là quốc gia đã chiếm cứ, quản lý, khai thác công khai, liên tục, lâu dài và hòa bình ít nhất từ thế kỷ XVII cho đến nay, nên theo luật pháp quốc tế, Việt Nam có đủ điều kiện xác lập và hành xử chủ quyền của mình trên hai quần đảo này – nhưng bất chấp, Trung Quốc tiếp tục "kế thừa, phát triển” sự cưỡng đoạt chiếm đóng bất hợp pháp bằng biện pháp dùng vũ lực của mình.

Từ chỗ bắt đầu "dòm ngó” Biển Đông mới chỉ vào đầu thế kỷ XX, đến nay Trung Quốc thô bạo dùng sức mạnh từng bước xâm chiếm và tiến tới áp đặt nhằm hiện thực hóa yêu sách trên toàn bộ vùng biển này, tạo dựng tranh chấp với một loạt quốc gia trong khu vực. Có thể xâu chuỗi lại những bước xâm chiếm lãnh thổ mà Trung Quốc đã thực hiện trên Biển Đông. Năm 1909 Trung Quốc chỉ mới ra "thám thính” Hoàng Sa; năm 1948 Trung Quốc bắt đầu tùy tiện vẽ và lưu hành nội bộ bản đồ "đường lưỡi bò” chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông; năm 1956 Trung Quốc chiếm đóng trái phép phần phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố "nhập nhằng” bắt đầu âm mưu yêu sách hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm 1988 Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam; năm 1995 Trung Quốc thôn tính thêm đảo Vành Khăn phía Nam quần đảo Trường Sa của Việt Nam; năm 2009 Trung Quốc bắt đầu chính thức nêu yêu sách chủ quyền phi lý "đường lưỡi bò” (còn gọi là đường 9 đoạn) hòng độc chiếm Biển Đông. Năm 2012, Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough (Philippines gọi là Panatag, Trung Quốc gọi là Hoàng Nham) nằm cách xa bờ biển Trung Quốc và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Các tàu Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường xuyên tại Bãi đá ngầm Second Thomas Shoal (Việt Nam gọi là bãi Cỏ Mây) đang tranh chấp tại quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng cố gắng hợp thức hóa chủ quyền đối với các bãi như James Shoal và Luconia Shoal, nằm sát vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia. Trung Quốc tìm cách kiểm soát một khu vực lãnh hải chiến lược rộng lớn trải dài từ phía đông tới phía nam nước này, cũng như các nguồn tài nguyên biển, nhất là khoáng sản. Trung Quốc đã tùy tiện đơn phương ban hành một vùng cấm đánh bắt cá đối với tất cả các tàu thuyền nước ngoài trên Biển Đông, xem hầu hết Biển Đông thuộc về họ. Trung Quốc công nhiên tuyên bố gộp cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào cái gọi là "Thành phố Tam Sa”.

Để thực hiện âm mưu từng bước làm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông nhằm "vẽ lại bản đồ” khu vực và thế giới, nhiều năm qua, Trung Quốc ráo riết triển khai các biện pháp đối nội và đối ngoại trên bàn đàm phán và trên thực địa để khẳng định chủ quyền vô lý của mình. Trung Quốc chính thức đưa ra yêu sách "đường lưỡi bò” bất chấp luật pháp quốc tế, đồng thời cố tình vận dụng sai quy chế quốc gia quần đảo cho Hoàng Sa, tuyên bố sẽ vạch tiếp đến Trường Sa, để từ đó đòi hỏi "vùng đặc quyền kinh tế” và "thềm lục địa” kỳ lạ của riêng mình. Trung Quốc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển có hệ thống với các thông tin sai trái, vu cáo trắng trợn các nước trong khu vực chiếm đoạt tài nguyên biển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng ráo riết ban bố các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến biển đảo để tăng cường cái gọi là "hoạt động chấp pháp” sai trái trên Biển Đông, như đơn phương ban bố lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông; bắt giữ trái phép ngư dân các nước trong khu vực đang mưu sinh hợp pháp chính đáng; ngang nhiên mời thầu khai thác dầu khí ngay trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc cũng ra sức tăng cường tiềm lực quốc phòng hướng đến năng lực tác chiến xâm chiếm ở biển đảo xa xôi. Trung Quốc củng cố và mở rộng các vị trí đã chiếm đóng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, Trung Quốc thực hiện chính sách lôi kéo chia rẽ, hạn chế vai trò và ảnh hưởng của các nước lớn, né tránh đàm phán đa phương để lạm dụng sức mạnh nước lớn của mình trong quan hệ song phương với các nước trong khu vực. Trung Quốc từng bước cố tình "dựng chuyện” ở các vùng biển không tranh chấp của quốc gia khác thành vùng tranh chấp với Trung Quốc, rồi quay sang thúc ép "gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Rõ ràng, sự thật về tham vọng bá quyền Biển Đông của Trung Quốc đã được phơi bày một cách có hệ thống. Cam kết một đằng nhưng cố tình làm một nẻo, Trung Quốc đã và đang liên tục vi phạm pháp luật quốc tế, dùng sức mạnh "cơ bắp” xâm phạm thô bạo chủ quyền của các nước trong khu vực, gia tăng gây hấn, khiêu khích trên Biển Đông, và đỉnh điểm trong thời gian này là đưa giàn khoan khổng lồ cùng đoàn quân ngót trăm chiếc tàu ngạo nghễ tràn vào xâm chiếm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Những hành động của Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ vô cùng nguy hiểm đang tiếp tục thách thức luật pháp và dư luận quốc tế, làm gia tăng căng thẳng chính trị, gây bất ổn cho nền hòa bình khu vực và thế giới. Những hành động ngang ngược ấy đã bộc lộ rõ âm mưu, thủ đoạn từng bước làm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông để lấn tới vẽ lại bản đồ khu vực và thế giới theo mục tiêu xâm chiếm bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam của Trung Quốc.

Chu Ninh
 http://www.baomoi.com/Trung-Quoc--Tham-vong-ba-quyen-Bien-Dong-Bai-2-Lo-ro-am-muu-ve-lai-ban-do-the-gioi/119/13819896.epi


Âm mưu biển Đông của Trung Quốc: Những nguồn lợi ngoài dầu khí

Biển Đông của Việt Nam là một vùng biển quan trọng, có vị thế chiến lược với toàn thế giới. Tham vọng trên biển Đông của Trung Quốc xét dưới góc độ kinh tế không đơn thuần là câu chuyện giàn khoan và dầu khí.

Chính điều này đã đánh động toàn thế giới qua những xung đột trên biển Đông vừa qua.
Đọc những thông tin kinh tế - tài chính mới nhất trên FICA:

* Quân đội Thái yêu cầu bà Yingluck, các cựu bộ trưởng ra trình diện 

Luồng hàng hải và năng lượng tương lai

Thông tin mới nhất cho thấy, Trung Quốc lại áp lệnh cấm đánh bắt cá đối với các tàu cá trong nước và nước ngoài tại một số khu vực trên biển Đông, bao gồm cả quần đảo Trường Sa của Việt Nam, trong vòng 2 tháng rưỡi bắt đầu từ 15/5.

Đây là hành động tiếp theo sau hàng loạt những động thái không thể chấp nhận trên Biển Đông bắt đầu từ việc di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi đầu tháng 5 vừa qua.

Bên cạnh giàn khoan khổng lồ nặng hàng chục nghìn tấn đưa vào vùng biển của Việt Nam, Trung Quốc cũng đang nâng dần số lượng các loại tàu các loại từ con số 80 lên trên 130 tàu, bao quanh khu vực mà Hải Dương 981 đang neo đậu.

Tuy nhiên, đây dường như chỉ là bước đi đầu tiên trong âm mưu lâu dài của Trung Quốc là chiếm Biển Đông với một tham vọng đã được vạch ra từ trước đó với một cái tên gọi là "đường lưỡi bò", 'liếm' 2/3 diện tích Biển Đông.

Nhìn vào vị trí đặt Hải Dương 981, những nhà hàng hải có kinh nghiệm trên thế giới cho biết, đây là cổ họng của một trong 2 tuyến đường huyết mạch trên Biển Đông hướng Bắc-Nam mà tàu bè quốc tế buộc phải đi qua nếu muốn tới các nước trong khu vực hoặc giao thương, vận chuyển dầu mỏ trên thế giới.

Trung Quốc đặt giàn khoan khổng lồ nặng hàng chục nghìn tấn đưa vào vùng biển của Việt Nam
Trung Quốc đặt giàn khoan khổng lồ nặng hàng chục nghìn tấn đưa vào vùng biển của Việt Nam

Trên Biển Đông không phải chỗ nào cũng đi được. Ở giữa là đá ngầm do vậy hàng hải quốc tế qua khu vực buộc phải theo 2 hướng, một là men dọc theo bờ biển Việt Nam, hai là tuyến gần sát với Phillippines. Trung Quốc đã đặt Hải Dương981 nằm giữa tuyến qua vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

"Thời điểm đặt Hải Dương 981 cũng đã được lựa chọn rất kỹ không chỉ dựa trên biến động chính trị, những thay đổi tương quan lực lượng trên trên thế giới mà còn bởi vào thời gian từ tháng 4-7, tàu thuyền xuất phát từ phía Bắc xuống phía Nam có thể chọn tuyến gần sát Philippines thay thế tuyến men dọc theo bờ biển Việt Nam bởi cường độ dòng hải lưu chảy từ Nam lên phía Bắc ở đó thấp hơn. Khoảng tháng 8 trở đi, số lượng tàu hàng từ phía Bắc xuống Ấn Độ Dương trên tuyến này nhiều hơn, và do đó những căng thẳng có thể sẽ khiến giao thương của hàng hóa bị ảnh hưởng".

Không chỉ "tìm đường ra biển", một trong những mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là "đốt cháy" Biển Đông chuẩn bị cho cơn khát năng lượng vốn đã rập rình từ lâu.

Theo đánh giá của Mỹ, trữ lượng dầu ở Biển Đông khá thấp khoảng nhưng Trung Quốc cho rằng trữ lượng tại đây lớn hơn nhiều. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng băng cháy (khí hydrat metan đóng băng). Trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần.

Đánh động thế giới

Nỗi ám ảnh rất lớn và thường trực của Trung Quốc trong hàng chục năm qua là cơn khát dầu khí và nỗi lo tìm đường ra biển. Tuyên bố xoay trục sang châu Á của Tổng thống Mỹ Obama khiến nỗi lo của Trung Quốc trở thành hiện thực.

Trung Quốc đặt giàn khoan khổng lồ nặng hàng chục nghìn tấn đưa vào vùng biển của Việt Nam
Tham vọng trên biển Đông của Trung Quốc xét dưới góc độ kinh tế không đơn thuần là câu chuyện giàn khoan và dầu khí

Tiềm năng dầu khí, năng lượng chưa được khai thác và vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông hàng hải quốc tế được coi là nhân tố quyết định khiến tham vọng chiếm Biển Đông của Trung Quốc lớn hơn bao giờ hết.

Xét kỹ hơn về khía cạnh hàng hải, có thể thấy, 2 tuyến nói trên là đường vận chuyển dầu mỏ chính từ Trung Đông về Đông Bắc Á và nhất là về Trung Quốc. Đây cũng là huyết mạch hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương.

Gần đây, Trung Quốc đã triển khai chính sách đa dạng hóa nguồn cung nhiên liệu, trong đó có tuyến đường ống dẫn dầu qua Myanmar. Tuy nhiên, tuyến đường này cũng có nhiều vấn đề và việc thay thế tuyến vận chuyển trên biển gần như không thể. Lượng dầu thô nhập khẩu trên tuyến đường hàng hải qua các eo biển Malaca và Singapore chiếm tỷ trọng rất lớn trong thời gian gần đây.

Những kế hoạch đẩy mạnh hợp tác với Nga với chuyên viếng thăm lịch sử của Tổng thống Nga Putin hôm 20/5, trong đó có thỏa thuận mua bán dầu khí có lẽ cũng nằm trong chính sách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.

Có thể thấy, Trung Quốc đang chớp thời cơ trật tự thế giới đang có sự thay đổi để đánh động thế giới về tham vọng khống chế và tiến tới độc chiếm một trong những tuyến đường biển quan trọng nhất trên thế giới và sống còn đối với Trung Quốc.

Có lẽ cũng nằm trong kế hoạch "làm chủ" tuyến hàng hải này, Trung Quốc gần đây cũng tuyên bố sẽ xây kênh đào nhân tạo lớn nhất châu Á với tên tạm gọi là kênh Kra, qua eo đất Kra ở Nam Thái Lan dài 100km, nối liền Ấn Độ Dương và vịnh Thái Lan.

Nếu kênh Kra thành hiện thực trao đổi thương mại giữa ASEAN, Trung Quốc với các nước trên thế giới sẽ không thông qua vịnh Malacca và Singapore nữa, mà thay vào đó là qua kênh Kra với tuyến hành trình được rút ngắn khoảng 1-2 ngày, tiết kiệm cho mỗi tàu 5.000-50.000 USD/chuyến.

Theo Văn Minh
VEF
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/am-muu-bien-dong-cua-trung-quoc-nhung-nguon-loi-ngoai-dau-khi-878293.htm

No comments: