Tuesday, April 29, 2014

NHỮNG VẦN THƠ ĐẮNG THÁNG TƯ BUỒN

 


Thư Không Niêm Gửi Bạn...Những 'chiếnhữu" mau quên....."áo gấm về làng", tủi nhục đồng đội.
                          

(Thay lời một vị thương phế binh VNCH đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa
đã vượt biên nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi) 

Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.

Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến Quê Hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo "từ thiện" tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.

Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.
Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mày biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về "cứu viện",
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.

Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?

Mày so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã "vinh quy" đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn "từ thiện",
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.
Trần Văn Lương 

                                                          

Chùm thơ Quốc Nam số 6.

Đưa Mẹ Về Quê Hương.

  Bao năm ta ngồi chân trời xa lạ,
Với linh hồn mang tuổi lớn đau thương.
Trời tháng tư mây đen phủ trong lòng,
Tin "kháng chiến" cho ta bừng tin tưởng.
Hãy hiên ngang như cây rừng đứng thẳng,

Đốn ngã giặc thù giành đất quê hương.
Tuổi trẻ Việt làm chiến công thần thánh,
Lòng dân ta là sức mạnh khôn cùng...
Bao năm qua ta âm thầm dấn bước,

Giữa đồng hoang của phấn đấu không tàn.
Kiếp lưu đày kéo rời rã tâm can,
Nuôi ước vọng một mai về phục quốc.
Hỡi anh Kháng Chiến trên đường đất nước,

Hôn giùm ta mảnh đất cũ sân trường,
Hàng giậu tre và bóng nắng ven sông,
Tiếng cá động chao lục bình xuôi ngược...


Mẹ ở đây gọi tên ta thức giấc,
Chốn quê người Mẹ mãi mãi ước mơ...
Về lại làng xưa đèn nến hương thờ,
Tổ Tiên đã hàng trăm năm khổ nhục.

Mẹ ở Hoa Kỳ như cây rã mục,
Ta đứng bên trời thương Mẹ vô biên.
Lòng Mẹ héo hon, thở nhọc từng đêm,
Rồi nằm xuống cho thiên thu uất nghẹn.

Mộ của Mẹ giờ xanh màu thánh thiện,
Nắm xương tàn đã gởi gấm trời Tây.
Ta xin thề trên mộ Mẹ hôm nay
Quyết đưa Mẹ về bên mồ Tiên Tổ.

Ta gọi tên Mẹ nhiều đêm tuyết đổ,
Nước mắt lưu vong ray rứt lòng nhau.
Đời thi nhân vấn tang trắng cúi đầu
Vắt máu tim thành thơ dâng Tổ Quốc.

QUỐC NAM

Kẻ Đào Ngũ Của Quê Hương Khổ Đau.

Tôi xin làm mây xanhTrên cánh đồng cố xứ
Ôm giấc mộng thanh bình
Quên một thời nhục nhã.

Tôi nhục nhã trong tôi
Kẻ bỏ nước ra đi
Bỏ anh em ở lại
Bỏ đồng đội gian nguy.

Tôi thành kẻ đào ngũ
Một thân phận quá hèn
Đâu bóng vang ngày cũ
Tay súng chiều lênh đênh.

Tôi thèm chết trong tôi
Một đời trai buồn tủi
Tôi ngơ ngác nghẹn lời
Xin cúi đầu nhận tội.

Ngày xưa tôi can trường
Sao bây giờ yếu đuối
Tôi xúc động dễ dàng
Nước mắt tuôn thành suối

Khi nghe chuyện quê hương
Triệu hồn linh tức tưởi!

Hỡi những người tuổi trẻ
Hãy nghe tiếng tim tôi
Hãy giúp tôi trở lại
Việt Nam - Quê hương ơi!

Giữa khung trời hải ngoại
Giữa rừng người hương hoa
Tôi làm thân tội lỗi
Xin Mẹ Việt thứ tha

Xin anh em, đồng đội
Viết Thiên Anh Hùng Ca
"Dựng người và cứu nước".
Xin cho tôi được chết

Nơi quê hương Việt Nam
Máu chúng tôi sẽ kết
Trang sử mới huy hoàng
Trong lòng dân tộc Việt.

QUỐC NAM

Cho Con, Quê Hương Sẽ Lớn.


Viết cho con lời trần tình thống khổ,
Tháng tư chào đời con biết gì không?
Bố xuôi tay buông súng bỏ quê hương,
Ngàn nỗi hận dồn trái tim rướm máu.

Đã bao năm bố quên đời hưởng thụ,
Bốn chục tuổi đầu tóc bỗng điểm sương.
Nhìn con trai trong êm ấm nôi hồng,
Bố muốn thét cho niềm vui òa vỡ.

Con lớn lên chia ước mơ cùng bố:
Một ngày nao quét sạch lũ Cộng Nô...
Việt Nam ơi! Thương biết đến bao giờ,
Bố con ta về dựng người cứu nước.


Con ra đời giữa tháng tư tưởng niệm,
Nước mắt đong đầy ghi dấu trăm năm.
Linh hồn bố lang thang loài chim biển,
Triệu người lưu vong gọi mãi Việt Nam.
Nhưng quê ta ngày mai rồi lớn dậy,
Khúc hát thanh bình rộn rã không gian.


QUỐC NAM


(Tháng 4/1984)
Giữ Lửa Quê Hương.

Đã mấy năm qua ta hỏi em:
Mùa xuân hờ hững đến bên thềm.
Hay trời xứ lạ lòng ta buốt?
Có sóng trùng dương trong mắt đêm.
 Dừng bước năm năm Seattle, 
Tâm tư chùng lắng mỗi hoàng hôn.
Ta mơ một sớm về quê mẹ,
Quên những đêm dài lệ héo hon.

Ta vẫn yêu em như mới gặp,
Tưởng như nước Mỹ cõi thiên đường.
Hôn em giữa gối chăn nhung lụa,
Mà thấy dâng cao nỗi tủi buồn.


Ta tủi thân trai nợ áo cơm,
Anh em đồng đội chết dần mòn
Trong lò lửa đỏ quê hương đó,
Em hãy cùng ta đốt lửa hồng.


Giữ lửa cho nhau em hỡi em,
Để ta yêu mãi dáng ngoan hiền.
Hỡi người tình trẻ xuân kiều diễm,
Tiếng hát em vang dậy khắp miền.

Lòng ta một góc trời u tối,
Có bóng chim côi lượn cuối đời.
Ta mỏi mòn đi tìm nắng mới,
Xuân hồng kết nụ... hỡi quê ơi!



Chỉ là giấc mộng đêm vần vũ,
Đôi mắt quê hương đẹp lạ thường.
Em nhé cất lời ca ngọt dịu,
Cho bằng hữu ta cõi tù chung.

Đã mấy năm qua ta hỏi em:
Tết này ai lạnh lẽo bưng biền...
Giúp ta một buổi đăng trình sớm,
Cắm lại Cờ Vàng trên đất thiêng.

QUỐC NAM
(Seattle, Tết Quí Hợi 1983)

Nói Với Cha.




Con thưa Cha bao năm rồi xa xứ,
Đời còn gì cho một kiếp lưu vong.
Con giam thân trong vạn nỗi tủi buồn,
Quê hương đó, xa nửa vòng trái đất.
Cha ở đây ngày mỏi mòn héo hắt,
Đêm nghe mưa gõ nhịp buốt linh hồn.
Cha thở dài trong nỗi nhớ mênh mông,
Từng khuôn mặt cháu/con, thành máu đỏ.
Lửa đốt cháy bao giấc mơ động vỡ,
Tiếng anh con từ một góc ngục tù:
"Cha mẹ ơi!" rồi tắt lịm thiên thu.
Cha kể lại, với mắt thù hiển hiện.
Ngày con bé, Cha rào làng kháng chiến,
Đồn Thủy Nhai (1) thành tuyến máu Cộng quân.
Cha làm anh hùng ngang dọc một vùng,
Giữ làng xóm yên vui đồng lúa chín.
Con lớn lên lao mình vào cuộc chiến
Tiếp nối nghiệp Cha cơ cực trăm đường.
Máu của con đã nhuộm thắm cánh đồng,
Và chung cuộc là một đời đen đắng.
Con thương cha nhiều, tuổi già cô quạnh,
Mẹ héo gầy ngồi trên chiếc xe lăn.
Đền ơn Cha con đã quyết dấn thân,
Đáp nghĩa Mẹ con theo cờ “Đại Nghĩa”.
Bao năm lưu vong xứ người xa lạ,
Con của Mẹ Cha đời vẫn trắng tay,
Nhưng trong tim yêu thương vẫn ứa đầy,
Riêng Dân Tộc và quê hương nghiệt ngã.
Vui sao được, hàng triệu người giãy giụa,
Trong gông cùm loài Quỷ Đỏ gian manh.
Cha nhìn con như gởi gấm ý thành:
Trời Hà Nội... tung bay cờ Phục Quốc.
Ngày phải đến, thưa Cha, lâu sao được,
Huế - Saigon - Hà Nội, nối liền tay.
Con sẽ đưa Mẹ Cha về cố quốc, Nước Mắt thanh bình rực rỡ
Hỡi Việt Nam, hãy chờ ngày giải phóng,
Trường Sơn ơi, hãy chận bước quân thù.
Cờ Tự Do tung bay mùa đại thắng.
Tuổi trẻ Việt, thưa Cha, sẽ dựng cờ...
Máu chúng con quyết xoay vần lịch sử.
QUỐC NAM
(Seattle 30/4/1980)
(1) Thuỷ  Nhai là  một làng kháng chiến chống Việt Cộng nổi tiếng ở Xuân Trường tỉnh Nam Định suốt 8 năm trước ngày chia đôi đất nước (1954)
(2) Cha mẹ già của tác giả từ lâu đã yên giấc ngàn thu tại Seattle tiểu bang Washington.
THĂM MỒ BẠN CŨ

NGUYỄN THANH KHIẾT
 
Ảnh của Nam Viet.
Tao rót cho my na ly thôi
đ na kia tế cáo đt tri
t
ế thiên h, tế người cùng ging...
t
ế tao, tế my, tế núi sông



tao nh cái ngày ta thua trn
gi
c đui sau lưng, pháo n by
m
t cái poncho gói my gia núi
đt đp vi vàng l c thây



ngày ny năm đó my chết trn
n
ăm đó ngày ny - tao k thua
nát áo v
thành - thành đã mt
nh
c ra làm dơ my cnh chùa



Ung đi my ung na ly thôi
chia v
i tao nhng đng cay ny
m
y mươi năm - cái đi cơm áo
tao s
ng còn - na tnh na say



ch ti thân my nm đây
m
lch m xiêu đã bao ngày
t
m bia vn vn hai cây chéo
n
nước thù nhà tr hai tay



Thì c nm đây như lúc xưa
m
c núi, mc rng, mc gió mưa
m
c nước, mc non thay tên ch
m
c cho trăm h sng như tha



tao rót thêm my na ly sau
r
i na ly nói vi núi rng
b
ên m người tr - xưa chết trn
b
n cũ v thăm dòng l rưng



Mai mt ny nếu có cơ may
tao
đưa my lên chỗ gn mây
c
ó bin xanh gió lùa vách đá
m
t tri lên rc r ngày ngày



my s thy bên kia phía bin
đông lm bn bè b x đi
đa ging con hoang - xin giữa ch
th
ng như chc - chng ra gì



thôi k - nm đây giữ dùm tao
m
t cái giang sơn thm máu đào
m
t lá c vàng ba sc đ
m
y đi vì nó - my đi đau

NTK

No comments: