Sunday, February 2, 2014

TRẦN CÔNG * XUÂN SẮP VỀ

Trần Công

Khi ấy xuân sắp về(truyện ngắn)

Những ngày tàn thu. Đường Lý Thường Kiệt dài, heo hút. Rặng cây đã đổi màu, lá úa rơi rơi trước từng cơn gió nhẹ. Sương mù nặng trĩu trên những tấm áo bông đang cúi đầu bước run rẩy.Minh hoạ của N.Ở một góc đường, Linh đang vẽ. Người anh dong dỏng cao, mặt gầy, mắt sáng, tuy đượm vẻ buồn xa xăm nhưng vẫn có tí tinh nghịch. Da hơi xám vì lạnh và cũng vì sốt nhiều trong những năm kháng chiến. Chiếc áo khoác bằng vải bạt mua chợ giời đã bạc màu, lấm tấm bẩn những vết mực vẽ.

 Bên lề đường, Lân, người học vẽ, ngồi co rúm vì lạnh, mải ngắm những cô nữ sinh. Lân còn trẻ lắm, mắt nhỏ, ngây thơ như mắt trẻ con, tóc hơi quăn, một mảng nhỏ rớt trên trán.Xung quanh Linh, dừng lại một số người hiếu kỳ. Đây là một ông công chức vẫn hay đến sở muộn giờ. Người đeo kính trẻ tuổi kia là một ông giáo ở trường bên cạnh. Cả một anh công an. Anh hơi nhíu mày, phóng xe lại định hỏi, nhưng lại thấy một hoạ sĩ đang vẽ nên lại thôi và cũng tò mò đứng xem.Xa Việt Bắc hơn một năm nay, anh nhớ những đồi sim dại, tím ngát trong chiều hoàng hôn, những đồi sim đã vỗ về Linh sống trong những ngày gian khổ. Linh nhớ những ngưòi con gái đẹp nghèo trong xóm, chiều chiều lên đồi sim tìm củi rồi hát véo von. 


Từ khi về Hà Nội, đề tài của anh tản mạn, nhiều vướng mắc. Anh vẽ nhiều nhưng kết quả ít được như ý muốn. Rồi mùa thu về. Ngồi đếm lá vàng rụng, anh sực nhớ ra mình đã hai mươi tám. Mải mê với nghệ thuật, đâu sẽ là mảnh nắng ấm lòng để sưởi khi trời trở lạnh. Anh thèm khát nhìn theo những tà áo. Có một chiều nắng vàng, gió nhẹ lất phất những tà áo tím quất vào hồn anh lùi về dĩ vãng: màu tím hoa sim dại trên núi đồi Việt Bắc, bóng người con gái nghèo nhặt củi mỗi buổi hoàng hôn xuống.


Linh tần ngần bảo Lân:"Lân ơi, tôi sẽ vẽ một người thôn nữ trong những bông sim tím."Lân hồn nhiên:"Đúng đấy anh Linh ạ. Anh vẽ người đẹp đi, Lân thích lắm."Thế rồi, có một sáng sớm, trời lành lạnh, Linh và Lân xách giá ra góc đường ngồi vẽ. Linh muốn ngồi ngay góc ngã tư này để tìm gợi cảm hứng ở những màu áo tím của các cô nữ sinh.Đã một tuần rồi, vẽ rồi lại xoá, màu tô lại đổi. Linh ôm trong hồn hình bóng một cô thôn nữ mộc mạc mà vẽ mãi không giống lắm: “Đẹp đấy nhưng trông vẫn giống nữ sinh Hà Nội anh Linh ạ!”. Linh nghĩ: “Ồ! Mới có hơn một năm mà cuộc sống thành thị đã ám ảnh mình nặng thế ư?”. 


Anh nhẫn nại cố chữa, cố tưởng tượng trong ký ức những nét giản đơn, cái đẹp tự nhiên thanh thoát của người thiếu nữ đồi sim. Có một vài nữ sinh đi ngang, ngừng xe đạp tấm tắc khen đẹp làm Linh ngường ngượng. Linh hơi buồn về ký ức kém cỏi của mình.Nhưng, có một sáng, khi kẻng vào lớp đã kéo hết học sinh đi, khi chỉ còn sót một vài “công chúng” tí hon học buổi chiều ôm bóng đi đá thì bỗng Linh ngừng bút ngửng đầu. Anh thần người đứng nhìn: Từ trước mặt đi lại một cô hàng hoa. Cô mặc áo dài nâu, yếm trắng, chít khăn mỏ quạ, đi chân không, người cô dong dỏng cao, khuôn mặt trái xoan, mắt to mà đen, hai gánh đầy hoa: lay-ơn hồng, tím, cúc trắng, vàng, hồng nhung. Giữa những màu rực rỡ xen vài lá xanh ướt đọng ít giọt sương mai.Tưởng có cơ bán được, cô gái hàng hoa ngừng bước, nhè nhẹ đặt gánh xuống. Người hoạ sĩ đứng nhìn, đánh rơi cả bút, vui sướng thốt lên:"Đây rồi!"Đám trẻ nhìn theo cười ròn rã rồi hò nhau đi đá bóng. Thôi phải rồi! Đây mới thực là người cần cho tranh của Linh. 


Thoạt mới nhìn, anh có cảm giác là lạ. Thấy như một đêm trăng nào đó, rờn rợn như trong Liêu trai, bóng người đẹp hiện về trong thư phòng người hàn sĩ. Linh thấy như đã tìm ra thìa khoá của nghệ thuật, linh hồn của bức tranh. Bây giờ chỉ còn cách lồng nó vào giữa đám hoa vẽ xong từ bao giờ nhưng còn thiếu hồn hoa. Thì nay hồn hoa đây rồi…Linh bước lại gần người bán hoa. Anh cầm lấy một vài chùm hoa, lơ đễnh hỏi giá và chăm chú nhìn người chủ của chúng. Anh giơ lên một bó lay-ơn tím rồi tưởng tượng một cái khung vô hình mà cạnh bó hoa là khuôn mặt cô gái. 


Thấy vừa ý, anh tấm tắc: “Đẹp quá!”.Cô hàng hoa nhanh nhảu: "Ông mua đi, loại ấy hiếm lắm. Tôi chỉ có một ít thôi!"Linh vội vàng giả tiền.Và cô gái bán hoa cũng đứng dậy, thoăn thoắt rảo bước.Linh thấy như hụt mất trong tay một vật quý, định gọi với lại nhưng lại thôi. Anh đứng nhìn theo cho đến khi Lân đến vỗ vai anh, anh chợt tỉnh quay lại giá vẽ, phóng bút vẽ nên một đôi mắt rất đen....Và cứ thế, trong sương mù của những buổi sáng cuối thu, khi ánh mặt trời dậy muộn vội vã từng tia, xen qua sương mai phơn phớt vạch trên cây lá, khi sương lách tách nhẹ rớt trên lưng người hoạ sĩ đang say mê vẽ, thì cô gái hàng hoa cũng nhanh nhẹn quẩy gánh đi ngang. Người hoạ sĩ lại tươi cười dừng bút mua một chùm hoa tím, nói vài câu chuyện. Chủ hàng ý chừng đã quen tính vui vẻ hồn nhiên của ông khách lạ nên cũng thành thói quen. 


Mỗi buổi sáng đi ngang đều có dừng lại. Nhưng có một lần, thấy hoạ sĩ lúng túng móc túi mãi không đủ 300, cô ái ngại. Và nhìn lại quần áo lôi thôi cũ kỹ thì chợt hiểu nỗi nghèo của người hoạ sĩ. Thầm kín, cô hàng hoa mở bó hoa chọn một nhành hoa tím tươi nhất đưa cho Linh:"Nhà tôi còn nhiều, ông cầm lấy mà vẽ."Nói rồi quẩy hàng đi.Ở đời xét cho cùng thì nghệ thuật là cái dễ thấm hồn người nhất. Chỉ có cái là người nói ra được, người chỉ cảm thông thôi. Linh cho là những người bán hoa nhất định có người có tâm hồn đẹp như hoa và người mua hoa cũng có ngưòi hiểu hoa, quý hoa.Ngày hôm sau, như thường lệ, cô gái hàng hoa tới, lúc kẻng trường đã dồn ông giáo, học sinh vào lớp, lúc đám trẻ em đã phân tán đi chơi bóng. Lần này, Linh chưa kịp lại thì cô gái hàng hoa đã tới trao cho anh một chùm hoa tím. Linh đem cắm nó lên giá rồi hí húi vẽ. Cô hàng hoa đứng trông anh vẽ. Cô chợt hỏi Linh:"Ông vẽ ai đấy?"Linh nhìn cô:"Tôi vẽ cô đấy. Có giống không?"Cô hàng hoa ngượng ngùng:"Bao nhiêu người đẹp mà ông vẽ tôi. Tôi có ra gì."Linh nói rất nhiều, rất say mê giải thích bức tranh của anh. 



Nhưng nghe một lúc cô hàng hoa e lệ bỏ đi.Linh vẫn thấy tranh mình chưa vừa ý lắm. Thỉnh thoảng một chiếc ô tô vù bụi, khét mùi xăng rầm rộ chạy qua… Thỉnh thoảng nhiều tiếng còi, tiếng chuông, tiếng rao làm anh rộn óc. Khung cảnh ồn ào chung quanh chi phối anh, anh bực tức. Thế rồi, có một sáng, trời lạnh hơn, sương xuống nhiều hơn, anh không thấy cô hàng hoa qua đây nữa. Anh giục Lân thu xếp đồ vẽ, bỏ đi tìm.Ngoài Hà Nội. Một trại hàng hoa. Chập chờn trên các mô đất chỗ cao chỗ thấp, điểm xuyết giữa những ngôi nhà nhỏ xinh xắn là những vườn hoa rực rỡ.Đào còn lạnh gió heo may chưa buồn nảy nụ. Linh, Lân cắp giá vẽ bút đi theo con đường mòn vào làng.Ánh sáng ban mai dìu dịu. Qua một dãy rào nứa dài, Linh, Lân bước vào một mảnh vườn dài trồng toàn cúc và lay-ơn tím. Linh chợt thấy cô hàng hoa của mình đang hái hoa. Anh định rẽ hoa chạy tới nhưng sợ kinh động người hái hoa, sợ mất đi một cảnh rất quý, anh quay lại lấy bút ghi lại hình ảnh đó. Đây mới thực là bức tranh anh mong muốn. Đây mới thực là nguyên chất của sự phối hợp giữa cảnh và người. 



Cô hàng hoa giữa vườn hoa. Hồn hoa không còn lạc lõng nữa. Hồn nghệ sĩ không còn lạc lõng nữa.Một lát sau, cô hàng hoa rẽ hoa, ôm một bó lớn đi về nhà. Linh, Lân lặng lẽ ôm tranh đi theo. Đến một ngôi nhà tranh gần đó, cô hàng hoa đẩy cửa bước vào. Linh bước vào theo. Một bà cụ trên 40 bước ra hỏi:"Thưa hai ông hỏi ai ạ?"Linh lúng túng chưa biết đáp thế nào cho tiện, ấp úng:"Thưa cụ, tôi..."Thì may quá cô hàng hoa đã bước ra:"Ồ, hai ông, mời hai ông vào nhà."Và nhanh nhẩu bảo bà cụ:"Thưa đẻ, đây là hai ông hoạ sĩ vẽ tranh dưới phố, khách quen của con đấy ạ."



Gian nhà thấp nhưng sáng sủa. Giữa nhà một hương án nhỏ đã long lở sơn trên có tấm ảnh một người đàn ông khoảng 50. Một bàn gỗ tạp có bộ ấm chén cổ. Trong góc nhà một chiếc phản gỗ. Cánh liếp bên trái để hở một tấm cửa phên nhỏ vào buồng trong. Bà mẹ dáng hiền lành, gọi con:"Lan ơi, lấy nước mời hai ông."Mải ngắm gian phòng, Linh để Lân tiếp bà cụ. Anh bước ra quanh quẩn nhìn những cây hoa phong lan, lan tiêu, cái bể cạn nhỏ có mấy con cá vàng. 


Anh nghĩ: “Sao mảnh đất nhiều tình ý thế này, tĩnh mịch gợi hứng nhiều thế này, mảnh đất của hồn hoa mà đám nghệ sĩ mình ít người chịu ra đây mà sống. Và anh thấy mến cái yên tĩnh thơ mộng của trại hàng hoa, thấy sờ sợ cái ồn ào của Hà Nội. Anh thấy như ở đây mỗi thứ hoa đều có hồn riêng, có đời sống riêng, có lịch sử riêng…Đang suy nghĩ liên miên, Linh bỗng có cảm giác như có ai đang nhìn mình. Anh ngửng đầu lên, kinh ngạc thấy Lan đứng trước mặt.Lan ra mời anh vào nhà uống nước, Linh hỏi:"Này chị Lan, cây phong lan này giồng từ bao giờ?" [1]


Lan đáp:"Tôi cũng không rõ nữa. Nghe đâu từ khi thầy tôi còn sống, tôi lớn đã thấy nó rồi."Rồi Lan dẫn Linh ra phía sau nhà, chỉ vào một hàng lay-ơn tím:"Đã sáu năm nay tôi vẫn giồng lay-ơn tím ở đây. Thường tôi vẫn cho ông đấy."Linh nhìn màu tím, dịu mắt, anh thấy đời mình cần một chỗ dừng chân. Anh hoa mắt nhìn đôi mắt Lan. Người nghệ sĩ đã bước từ tình nghệ thuật vào tình yêu: Anh đã yêu Lan....Đêm hôm đó, Linh trằn trọc mãi. Ngọn đèn đêm le lói toả mờ mờ gian phòng bừa bộn của người hoạ sĩ. Lâu rồi, anh lại thấy những tác phẩm của anh không còn đủ để làm người yêu duy nhất. Cạnh nàng nghệ thuật, anh đã thấy cần một người có con tim. 


Lâu nay thắc mắc nhiều cho nghệ thuật, anh sợ nó ghen tuông, anh không dám san sẻ nó với ai cả. Ngày đêm, anh thủ thỉ tâm tình với nó và nghĩ rằng như thế là “trọn nghĩa”. Nhưng cô đơn vẫn là cô đơn. Hồn tranh đã tụ lại thành hồn người đòi anh tìm tình yêu. Hồi Linh nghĩ biết đâu được yêu lại chẳng giúp nhiều cho nghệ thuật. Biết đâu tình yêu lại chẳng là chuyện mất thì giờ như anh thường nghĩ mà là cả một đề tài lớn cho anh, mặc dầu nó có thể lại chua xót!Linh với tay cầm bông hoa tím nhổm người ngắm bức tranh một lúc rồi áp bông hoa lên ngực ngủ thiếp đi trong nụ cười trên môi.Linh không ngờ: Lan lại là gái có chồng. 

Mấy hôm sau tình yêu lại đẩy Linh lên trại hàng hoa tìm Lan. Lan chưa về. Lý, em Lan, cũng một cô hàng hoa xinh xắn, ngồi nói chuyện với Linh.Một lát sau, Lý đưa Linh chạy tung tăng quanh nhà, bứt một chùm nhiều thứ hoa cho Linh. Rồi lúc vào nhà ngồi, chợt Linh thấy trên liếp một tấm bảng “Gia đình vẻ vang”, Linh hỏi Lý:“Anh cô đi bộ đội đấy à?”Lý rí rủm:“Anh, nhưng không phải cả hai đều là anh ruột cả đâu. Một người là chồng chị Lan đấy.”Linh bàng hoàng:“Ồ! Anh cứ tưởng chị Lan chưa chồng.”Lý bưng miệng cười khúc khích:“Nhiều ông con giai cũng đều tưởng thế. Rồi lại khổ thôi.”Linh hỏi:“Sao lại khổ?”Lý đáp:“Khổ chứ còn khổ thế nào nữa. Người ta có chồng rồi thì còn lấy thế nào được nữa.”

Nhưng bỗng Lý đổi nét mặt, buồn rầu:“Nhưng mà chắc gì anh ấy về nữa. Anh ấy đi bộ đội 6 năm nay bặt tin bặt tức. Từ khi hoà bình, bao nhiêu người ta về nhà, mà anh ấy chẳng có thư từ gì cả. Người ta đồn là chết rồi. Khổ chị Lan nhỉ, chị ấy còn trẻ, mới 22 tuổi đầu."Linh nhìn tấm bảng “gia đình vẻ vang” thấy tiếc thương người bộ đội và thấy buồn lây:"Ừ mà thế đâm khổ cả đôi."Lý mở to mắt, ngơ ngác:"Chắc gì anh ấy còn sống để đủ cả đôi mà khổ."Dần dần, lòng người thiếu phụ cô quạnh, càng cô quạnh, lúc đông đang về lạnh buốt, thấy mến Linh. 

Vẫn mong chồng, vẫn quý người bộ đội, nhưng mà thấy nó xa xăm quá đỗi, hầu như tuyệt vọng. Linh hiền lành, dễ mễn, lại biết quý người, quý lao động. Thường anh đến nhà, cũng biết gánh nước tưới hoa. Anh vui vẻ nhưng lại đứng đắn, không cợt nhả bao giờ. Không riêng gì Lan, mà mẹ Lan cũng quý anh. Nhất là Lý. Lý càng nhìn Linh lại càng thương chị.Có một chiều, hoàng hôn xuống ủ lên hàng lay-ơn tím đang đổi sang màu xám đen, Linh ngồi nói chuyện với Lan trước thềm."Trước kia tôi chỉ muốn tìm ở Lan một người đẹp để vẽ vào tranh, nhưng gần đây tôi yêu Lan, tuy biết Lan đã có chồng… Thế có sai không hở Lan?"Lan cúi đầu, lặng thinh một hồi lâu. Bỗng cô ngửng đầu lên, giương to mắt ngơ ngác, sợ hãi lùi lại, giơ tay như che đỡ."Thôi anh đừng nói nữa. Tôi là gái có chồng."


Nhưng nói gì thì nói, đào đã bắt đầu chớm nụ. Tình yêu vẫn âm thầm, sôi nổi.Có một hôm, Linh đến chào gia đình Lan đi vắng một thời gian.Bà cụ hiền từ bảo Linh:"Em Lan và em Lý đều rất mến anh. Tôi cũng rất quý anh. Con rể tôi nếu không may đã mệnh hệ đi rồi thì tôi cũng không cản con tôi đi bước nữa. Tết này anh về nhà tôi chơi, cứ coi như người nhà cả thôi mà. Anh đừng ngại gì cả."Và đông đã sống những ngày cuối, tàn tạ. Từng đàn em nhỏ tung tăng theo mẹ đi may quần áo Tết. Cây cối xanh dần hứng sương mai long lanh.Vài chùm đào sớm đã nở miệng cười hàm tiếu.Lòng người đang thắm lại.Và những ngày ấy, xuân sắp về thì Lễ cũng về. Anh khập khễnh đi giữa đồng hoa, hớn hở. Nụ cười trên môi tuy còn đọng tý lạnh lẽo của đau xót, da tuy có xám, trán tuy có nếp nhưng người bộ đội đó vẫn trẻ. Anh đã thắng nổi Thần chết. 


Sau hoà bình, đơn vị anh vẫn tiếp tục đi tiễu phỉ vùng Tây Bắc. Vẫn những ngày đèo heo hút gió, nằm trời gối đất. Anh đi miên man trên những vùng Cha Pa, Phong Tổ, Bát Xát. Rồi anh bị thương nặng ở chân. Lạc đồng đội trong rừng, anh cố lê mãi ra đầu ngọn suối. Đồng bào Mèo gặp đưa anh ấy về chạy chữa. Và trên giãy núi cao ngất, trong một bản Mèo heo hút, anh đã sống 8 tháng trời. Anh bị hỏng một chân. Sau khi bắt được liên lạc với đơn vị, anh được ra ngoài phục thuốc, lắp chân giả.Và chiều nay, một chiều cuối đông, khi xuân sắp về thì Lễ về nhà.Thấy chồng về, Lan vui mừng khôn xiết. Nàng quên hết chuyện cũ, quên hoa, quên Linh, chạy ra đón Lễ. 


Người chồng trao cái túi dết cho vợ, tuột tay để rơi xuống đất. Lan vội cúi xuống nhặt, tình cờ chạm phải cái gì cưng cứng ở chân chồng mình. Nàng vén quần chồng lên thì thấy chiếc chân gỗ mới lắp, còn thơm mùi sơn. Lan bàng hoàng đau xót, nửa thương chồng, nửa tủi phận. Mẹ Lan mừng mừng tủi tủi rớt nước mắt đứng nhìn con rể. Lý ngơ ngác, người con gái mới nhớn lên này thương hay mừng cho chị?Dần dần, Lễ biết chuyện. 


 Anh không trách Lan mà thấy thương vợ. Đau khổ nhưng anh không muốn ghen tuông vì nghĩ cũng chẳng lợi ích gì. Có lúc anh nghĩ: “Giá mình chết đi thì họ đẹp đôi lắm nhỉ”. Ghen một tý thì nghĩ thế thôi nhưng anh thấy cần phải sống, cần phải xây dựng lại hạnh phúc của mình. Vì anh đã tranh đấu, đã thắng nổi cái chết, thì lúc này anh không thể mềm yếu thế được. Tuy vậy anh vẫn bình tĩnh. Thỉnh thoảng thấy vợ buồn buồn, đêm đôi khi quay đi ôm mặt khóc, anh để yên cho vợ khóc. 

Và khi Lan muốn cất bức tranh của Linh đi thì Lễ ngăn cản lại bảo cứ treo đó cho đẹp.Nhưng ngày ấy, xuân sắp về. Vài chùm đào sớm đã nở miệng cười hàm tiếu, màu đỏ dần dưới nắng ấm. Chợ họp đông dần, những bức tranh làng Hồ thắm thiết màu dân tộc trong đám cưới chuột, tranh hứng dừa, đang ngự trị dưới những túp lều mái rạ thơm phức.Và trong một ngày đó, Linh trở về nhà Lan. Cuộc gặp gỡ với Lan những tháng trước đã giúp anh dựng một câu chuyện đẹp. Nhưng còn đoạn cuối sẽ kết ra sao, bản thân anh cũng chưa rõ. 


Chỉ biết rằng dù sao thì tâm hồn anh vẫn là của nghệ thuật, yêu con người, yêu cuộc sống. Anh cũng chẳng nghĩ tới kết quả của cuộc tình duyên mà anh chỉ thấy nó đẹp lắm, trong trắng lắm.Linh tới nhà Lan. Vào nhà, anh thấy một người đang đóng khung lại bức tranh của anh. Linh hỏi:"Chị Lan đâu hở anh?"Linh vẫn ngỡ trước mặt mình là một bà con hàng xóm. Lễ mỉm cười:"Chắc anh là anh Linh phải không?"Linh ngạc nhiên:"Sao anh biết?""Từ hôm tôi ở đơn vị về, các em gái tôi vẫn nhắc tới anh luôn.""Ồ! Thế ra anh là anh ruột Lan. 


Thế chồng cô Lan có ở với anh không?"Lễ trầm ngâm chậm rãi đáp:"Tôi với Lễ ở cùng đơn vị. Lễ bị thương nặng mất một chân… nhưng nay khỏi rồi… và cũng sắp về đây."Linh bàng hoàng, nói bâng quơ:"Thế à! May quá nhỉ."Trên mảnh vườn đầy đào nở, bóng Linh đi. Anh ngắt một bông đưa lên trước mắt ngắm nghía. Có khi anh dừng bước dưới một cành đào suy nghĩ hồi lâu. Rồi lại đi.Bỗng trước mắt anh hiện lên một dãy lay-ơn tím. Màu tím đập vào mắt anh, đau xót. Anh lặng người một hồi lâu. Rồi ngửng đầu nhìn trời xanh, nhếch mép cười, nói một mình:"Âu cũng là một chuỗi ngày rất đẹp. Hồn hoa đâu, có nghe lời nghệ sĩ chăng?"Đêm 27-12-1956*

NHÂN VĂN III.  SÁCH TẾT 57

No comments: